Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO vào tháng 11 năm 2006 đã đánh dấu một bước ngoặt đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, điều đó mở ra muôn vàn cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp trong nước trong việc khẳng định vị thế của mình trên thương trường, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Là một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, Công ty cổ phần hợp tác kinh tế Việt- Lào trong những năm kể từ khi mới thành lập đã luôn nỗ lực không ngừng để có thể tồn tại và không ngừng phát triển. Để làm được điều đó VILACO cần phải tạo cho mình một thương hiệu riêng, tiếng nói riêng và giữ chữ tín trên thị trường trong nước và quốc tế. Một trong những nhân tố quyết định tới uy tín của doanh nghiệp đó là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.. Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải có những hoạt động nhất định nhằm quản lý tốt nhất hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là thường xuyên tiến hành công tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này, trên cơ sở đó, định hướng cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Việc phân tích tài chính sẽ giúp Công ty xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của Công ty Cổ Phần Đầu Tư và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính của Công ty, sau một thời gian thực tập tại phòng Kế toán – Tài vụ, được sự giúp đỡ của Ban giám đốc và các cô chú trong phòng cùng thầy hướng dẫn ThS.Phạm Hữu Nghị em đã quyết định chọn đề tài:“Phân tích tài chính Công ty Cổ Phần Đầu Tư và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, chuyên đề của em bao gồm: Chương I: Khái quát chung về hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Chương II: Công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Hợp tác Kinh tế Việt – Lào Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Đầu tư và Hợp tác Kinh tế Việt – Lào. Em xin chân thành cảm ơn ThS. Phan Hữu Nghị và các cô chú trong Công ty Cổ Phần Đầu Tư và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
Trang 1Là một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, Công ty cổ phần hợptác kinh tế Việt- Lào trong những năm kể từ khi mới thành lập đã luôn nỗ lựckhông ngừng để có thể tồn tại và không ngừng phát triển.
Để làm được điều đó VILACO cần phải tạo cho mình một thương hiệuriêng, tiếng nói riêng và giữ chữ tín trên thị trường trong nước và quốc tế.Một trong những nhân tố quyết định tới uy tín của doanh nghiệp đó là kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải cónhững hoạt động nhất định nhằm quản lý tốt nhất hoạt động kinh doanh xuấtnhập khẩu
Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là thường xuyên tiến hànhcông tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này, trên cơ
sở đó, định hướng cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc phân tích tài chính
sẽ giúp Công ty xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnhhưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của Công ty Cổ Phần Đầu Tư
và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính của
Trang 2Công ty, sau một thời gian thực tập tại phòng Kế toán – Tài vụ, được sựgiúp đỡ của Ban giám đốc và các cô chú trong phòng cùng thầy hướng dẫn
ThS.Phạm Hữu Nghị em đã quyết định chọn đề tài:“Phân tích tài chính Công ty Cổ Phần Đầu Tư và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào” làm đề tài cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, chuyên đề của em bao gồm:
Chương I: Khái quát chung về hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Hợp tác Kinh tế Việt – Lào
Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Đầu tư và Hợp tác Kinh tế Việt – Lào.
Em xin chân thành cảm ơn ThS Phan Hữu Nghị và các cô chú trong Công
ty Cổ Phần Đầu Tư và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào đã giúp em hoàn thànhchuyên đề thực tập này
Sinh viên
Phạm Thị Kim Thu
Trang 3CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP1.1 Cơ sở lý luận và mục tiêu của phân tích tài chính trong doanh
1.1.1.2 Tài chính doanh nghiệp là gì?
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanhnghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Việc quản lý tài chính luôn giữ một
vị thế trọng yếu trong hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, nóquyết định tính độc lập, sự thành bại của một doanh nghiệp trong quá trìnhkinh doanh, đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiệncạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chìnhcàng trở nên quan trong hơn bao giờ hết
Trang 41.1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp là gì?
Nghiên cứu phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quản lýdoanh nghiệp Phân tích tài chính được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuốithế ký XIX Từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích tài chính thực sự được pháttriển và được chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp cóhiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sựphát triển của tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãi công nghệthông tin
“ Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.”
Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý vàđiều hành tài chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên các báo cáo tài chínhđồng thời đánh giá những gì làm được, dự kiến những gì xảy ra, trên cơ sở đókiến nghị những biện pháp để tận dụng triệt để các điểm mạnh, khắc phục cácđiểm yếu
Tóm lại, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là làm sao cho cáccon số trên báo cáo tài chính “biết nói” để những người sử dụng chúng có thểhiểu rõ tình hình tài chính doanh nghiệp và các mục tiêu, các phương pháphành động của những người quản lý doanh nghiệp đó
1.1.2 Mục tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Do đó, tất cả các hoạt động kinh doanh đều cóảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: năng suất lao động,chất lượng sản phẩm, sản phẩm có được thị trường chấp nhận hay không…
Trang 5ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính Ngược lại, tình hình tài chính tốthay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuấtkinh doanh Hoạt động tài chính có vai trò quan trọng và có ý nghĩa quantrọng trong việc hình thành, tồn tại và phát triển doanh nghiệp, trong việcthiết lập các dự án đầu tư ban đầu Vì thế chúng ta phải thường xuyên kiểmtra tình hình tài chính của doanh nghiệp để có những đánh giá đầy đủ và toàndiện tình hình phân phối, sử dụng và quản lý vốn, vạch rõ khả năng tiềm tànggiúp cho doanh nghiệp đạt đến cấu trúc tài chính lý tưởng.
Tóm lại, phân tích tài chính giúp cho ban quản trị uốn nắn kip thờinhững sai sót, lệch lạc trong công tác tài chính và có những quyết định tàichính đúng đắn Đồng thời giúp cơ quan nhà nước, ngân hàng nắm được thựctrạng của doanh nghiệp cũng cố tốt hơn hoạt động tài chính của mình
Phân tích tài chính có thể được hiểu như là quá trình kiểm tra, xem xétcác số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mục đích đánh giá dự tínhcác rủi ro tiềm ẩn trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính củadoanh nghiệp Mặt khác, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp đểđáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của nhiều đối tượng quan tâm đến nhữngkhía cạnh khác nhau về tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đíchcủa mình
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Phân tích tài chính cung cấp các
thông tin về toàn bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp mình từ đó:
Đánh giá tình hình sử dụng vốn và làm cơ sở cho các dự báo tài chính,các quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận
Đánh giá tình hình công nợ, tìm kiếm cách thức thu hồi nợ và trả nợ
Trang 6- Đối với nhà đầu tư: Họ quan tâm đến hai mặt; lợi tức cổ phần họ nhận
được hàng năm và giá trị thi trường của cổ phiếu Qua phân tích tài chính, họ
sẽ biết khả năng sinh lời cũng như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp
- Đối với các nhà cho vay: Như ngân hàng, công ty tài chính, các trái chủ,
mối quan tâm của các nhà cho vay là doanh nghiệp có khả năng trả nợ vayhay không Vì thế họ muốn biết khả năng thanh toán và khả năng sinh lời củadoanh nghiệp
- Đối với các cơ quan nhà nước: Như cơ quan thuế, tài chính, cơ quan chủ
quản, qua phân tích tài chính, họ thấy thực trạng về tài chính của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, cơ quan thuế sẽ tính toán chính xác mức thuế mà công
ty phải nộp, các cơ quan tài chính, chủ quản sẽ có biện pháp quản lý hiệuquả hơn
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với người được hưởng
lương trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luậtsư… Dù họ công tác ở các lĩnh vực khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết
về hoạt động của doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ
Như vậy, quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá
khả năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó
là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động cũng nhưkhả năng sinh lãi của doanh nghiệp.Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chínhtiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung
và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Hay, phân tíchtài chính là cơ sở để dự đoán tài chính
Trang 71.2.Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Quy trình phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh, vì vậy cần phải được tổ chức thực hiện theo một quy trìnhhoàn thiện, được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị cho công tác phân tích
- Xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích, từ đó lập ra các kế hoạch chitiết về nguồn thông tin sử dụng, thời gian tiến hành phân tích…
- Lập kế hoạch phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình phân tích
- Lựa chọn các phương pháp và nội dung phân tích nhằm hoàn thànhmục tiêu đề ra
- Thu thập và xử lý sơ bộ các nguồn thông tin bên trong và bên ngoàidoanh nghiệp
Bước 2: Tiến hành phân tích
- Tính toán các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu tài chính cần thiết, trên cơ sở đó,tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà sẽ đi sâu vào phân tích các nộidung liêm quan
- Lập bảng biểu để so sánh, phân tích các chỉ tiêu tính toán, nhằm tìm
ra nguyên nhân gây ra thực trạng tình hình tài chính
Bước 3: Báo cáo kết quả phân tích tài chính
- Đưa ra nhận xét đánh giá về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Dựa vào đó, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy nhữngthành công và khắc phục những hạn chế
Trang 8- Lập kế hoạch, dự báo tài chính cho năm tới.
+ Thông tin kế toán nội bộ
+ Thông tin khác từ bên ngoài
Áp dụng các công cụ phân tích + Xử lý thông tin kế toán + Tính các chỉ số
- Năng lực hoạt động tài chính
- Cơ cấu vốn và chi phí vốn
- Cơ cấu đầu tư và doanh lợi
Phân tích thuyết minh
- Nguyên nhân khó khăn
- Nguyên nhân thành công
Tổng hợp quan sát
Trang 91.2.2 Thu thập và xử lý thông tin
1.2.2.1 Thu thập thông tin
Thu thập thông tin trong tài chính là bước đầu tiên có ý nghĩa xuyênsuốt quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp Căn cứ vào mục đích củacông tác phân tích tài chính, nhà phân tích sẽ lựa chọn thông tin cho phù hợp
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọinguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tinbên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Nhữngthông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, kếtluận tinh tế và thích đáng
* Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
- Các thông tin chung: Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế cótác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của các yếu tốđầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, các chính sáchthuế như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…có ảnh hưởng lớn đếncác quyết định tài trợ và sản xuất của doanh nghiệp Bên cạnh đó, sự ổn địnhchính trị, xã hội….cũng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
- Các thông tin theo ngành kinh tế
+ Tầm quan trọng của ngành nghiên cứu trong nền kinh tế
+ Các sản phẩm và hoạt động khác nhau của ngành
Trang 10+ Quy trình công nghệ
+ Các khoản đầu tư
+ Cơ cầu ngành (mức độ tập trung hoá, các tập đoàn chủ yếu…)
+ Độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển
* Thông tin trong nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, cóthể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồnthông tin quan trọng bậc nhất Các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ cung cấpnhững thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán Phântích tài chính được thực hiện trên cơ sơ các báo cáo tài chính được hình thànhthông qua việc xử lý các báo cáo kế toán
- Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng của mộtdoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó, được trinh bày dưới dạngbảng cân đối số dư tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản, một bên phảnánh nguồn vốn của doanh nghiệp
Số liệu bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có củadoanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thànhtài sản đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán ta có thể nhận xét, đánh giá kháiquát tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,cũng như cho phép đánh giá năng lực và trình độ sử dụng tài sản, đánh giátriển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
Thành phần bảng cân đối kế toán bao gồm:
Trang 11Bên tài sản: phản ánh giá trị toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lậpbáo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp đó là: tài sản cốđịnh, tài sản lưu động.
Bên nguồn vốn: phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản củadoanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo đó là: Vốn chủ sở hữu và các khoảnnợ
Mẫu bảng cân đối kế toán
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
II Các khoản đầu tư TC ngắn hạn
III Các khoản phải thu
II Các khoản ĐTTC dài hạn
III Chi phí xây dựng cơ bản
IV Các khoản kí cược ngắn hạn
Trang 12- Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánhkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của doanh nghiệp Nó chobiết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tươnglai Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tìnhhình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động kỹ thuật vàkinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp
Kết cấu bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm:
Phần I: Lãi, lỗ
Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt dộng khác Tất cả các chỉ tiêutrong phần này đều trình bày số liệu của kỳ trước (để so sánh), tổng số phátsinh trong kỳ báo cáo và số luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước
Trang 13Phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và cáckhoản phải nộp khác.
Mẫu báo cáo kết quả kinh doanh
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Phàn I : Lãi, lỗChỉ tiêu Mãsố Quý trước Quý này Luỹ kế từđầu năm
+ Thuế xuất khẩu phải nộp
1 Doanh thu thuần
2 Giá vốn hàng bán
3 Lợi tức gộp
4 Chi phí bán hàng
Trang 145 Chi phí quản lý doanh nghiệp
6 Lợi tức từ hoạt động kinh
doanh
7 Lợi tức hoạt động tài chính
8 Lợi tức bất thường
9 Tổng lợi tức trước thuế
10 Thuế lợi tức phải nộp
11 Lợi tức sau thuế
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước
Chỉ tiêu
Số còn phảinộp kỳtrước
Số phảinộp kỳnày
Số đãnộp trongkỳ
Số cònphải nộp
Trang 15Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cầntìm hiểu tình hình Ngân quỹ của doanh nghiệp Ngân quỹ thường được xácđịnh cho thời hạn ngắn (thường là từng tháng)
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ bao gồm: dòng tiềnnhập quỹ từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư tàichính, dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường
Xác định hoặc dự báp dòng tiền thực xuất quỹ bao gồm: dòng tiền xuấtquỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, thực hiện hoạt động đầu tư, tài chính, haythực hiện hoạt động bất thường
Trên cơ sở đó, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ so với số dưngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lậpmức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảochi trả
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhàphân tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó, họ nhânbiết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mụctiêu phân tích của họ
1.2.2.2 Xử lý thông tin
Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêunhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhâncủa các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.Tuynhiên phân tích tài chính không có ý nghĩa khi chỉ đơn thuần là công việctổng hợp và sắp xếp số liệu trong khi các đối tượng tài chính cần nghiên cứulại luôn luôn biến động về số lượng và trạng thái tồn tại Cho nên ở bước này,các nhà phân tích tài chính phải biết đặt một đối tượng tài chính này trong
Trang 16mối quan hệ biện chứng với các đối tượng khác và trong mối liên hệ với cáctiêu chuẩn, các định mức tài chính và kinh tế.
1.2.2.3 Dự đoán và ra quyết định
Thu thập xử lí thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cầnthiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định tàichính Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tàichính Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyếtđịnh liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, pháttriển, tối đa hoá giá trị xí nghiệp Đối với người cho vay và đầu tư vào xínghiệp là đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư, đối với cấp trên củadoanh nghiệp đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp …
1.2.3 Lựa chon phương pháp phân tích
Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản củacông tác phân tích tài chính doanh nghiệp, là chìa khoá để cung cấp thông tincho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau.Về lý thuyết có nhiều phươngpháp phân tích tài chính doanh nghiệp nhưng trên thực tế người ta thường sửdụng :
1.2.3.1 Phương pháp tỷ số
Phương pháp tỷ số là phương pháp truyền thống được áp dụng trong đócác tỷ số được sử dụng để phân tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉtiêu này so với chỉ tiêu khác Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mựccủa các tỷ số của đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính Sự biến đổi các
tỷ số phản ánh sự biến đổi của các đại lượng tài chính
Phương pháp này có tính thực hiện cao với các điều kiện áp dụng ngàycàng được bổ sung và hoàn thiện Bởi lẽ:
Trang 17- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được cung cấpđầy đủ hơn, là cơ sở để hinh thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việcđánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
- Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩynhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
- Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quảnhững số liệu và phân tích một hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gianliên tục hoặc theo từng giai đoạn
Phương pháp tỷ số yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các tỷ sốtham chiếu Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần sosánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu Vì vây, để nâng caohiệu quả phân tích tài chính, phương pháp tỷ số được sử dụng kết hợp với
phương pháp so sánh.
1.2.3.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến và quan trọng
vì tính đơn giản, dễ thực hiện lại đánh giá được rất nhiều các chỉ tiêu kinh tế.Nội dung so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng haythụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấucủa doanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình củangành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được
Trang 18- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so vớitổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả
về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kếtoán liên tiếp
1.2.3.3 Phương pháp Dupont
Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp thành tíchcủa một chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phépphân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần với tỷ sổ tổng hợp Vớiphương pháp này, các nhà phân tích có thể nhận ra những nguyên nhân dẫnđến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp
Phương pháp DUPONT rất có hiệu quả trong phân tích, tuy nhiên nóchỉ áp dụng cho các công ty lớn, có đội ngũ cán bộ phân tích chuyên trách, cótrình độ vì phương pháp này không chỉ đòi hỏi đánh giá sự tác động của chỉtiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp mà còn sử dụng kinh tế lượng để đánhgiá mức độ tác động của các chỉ tiêu thành phần với nhau
1.2.4 Nội dung phân tích
1.2.4.1 Phân tích khái quát hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Việc phân tích được tiến hành ở ba nội dung chính sau:
- Về tài sản: So sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ về số tuyệt đối và tỷtrọng, so sánh tỷ trọng từng khoản mục bên tài sản với tổng số tài sản hiện có
để thấy xu hướng biến động của chúng qua các năm
- Về nguồn vốn: Cũng so sánh tương tự như phần tài sản nhằm rút ranhững kết luận chung nhất về khả năng mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh, về khả năng tài trợ cho các tài sản
Trang 19- Về kết quả kinh doanh: Xem xét sự thay đổi của doanh thu thuần, lợinhuận thuần cũng như tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng doanh thu (giávốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý) để đánh giá xu hướng thayđổi của từng chỉ tiêu và đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.4.2 Diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổi củacác chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán kế toán về nguồnvốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp Để tiến hành phân tích diễnbiến nguồn vốn và sử dụng vốn, trước tiến nhà phân tích tiến hành lập bảng
kê nguồn vốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ) Nó giúp nhà quản lý xác định rõcác nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó
1.2.4.3 Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản baogồm: Tài sản lưu động, và đầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Để hình thành hai loại tài sản này phải có các nguồn tài trợ tương ứng baogồm nguồn vôn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
- Nguồn vốn ngắn hạn: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trongkhoảng thời gian dưới một năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm:
Nợ ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác
Chênh lệch giữa vốn dài hạn với TSCĐ hay giữa vốn ngắn hạn vớiTSLĐ được gọi là lưu động thường xuyên (hay còn gọi là lưu động ròng)
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ
hoặc:
Vốn lưu động thường xuyên = TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạn
Trang 20Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưuđộng thường xuyên Khi vốn lưu động thường xuyên < 0, nguồn vốn dài hạnkhông đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn ngắn hạn đểđầu tư một phần TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầuthanh toán nợ ngắn hạn đến hạn Nếu vốn lưu động thường xuyên > 0, nguồnvốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, phần dư thừa đầu tư vàoTSLĐ, đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn do vậy, khả năng thanh toántốt.
Vốn lưu động thường xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn đủ tàitrợ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tìnhhình tài chính như vậy là lành mạnh
Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng đểđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có đủkhả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và TSCĐ của doanhnghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không
Ngoài vốn lưu động thường xuyên, người ta còn sử dụng các chỉ tiêunhư nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và vốn bằng tiền
Nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên = Hàng tồn kho +
Các khoảnphải thu
- Nợ phảitrả
Vốn bằng tiền = Vốn lưu động
thường xuyên
-Nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 tức là tồn kho và các khoảnphải thu > nợ ngắn hạn, tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớnhơn các nguồn vốn ngắn hạn, doanh nghiệp phải dùng vốn dài hạn để tài trợ
Trang 21cho phần chênh lệch Ngược lại, nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn,doanh nghiệp không cần vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh.
Vốn bằng tiền < 0 xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắnhạn và dài hạn hoặc mất cân đối trong đầu tư dài hạn
Như vậy, để đảm bảo nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh đảm bảo
sự lành mạnh về tài chính doanh nghiệp, trước tiên phải có vốn lưu độngthường xuyên > 0 Nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 phải tìm cáchlàm giảm hàng tồn kho, tăng thu từ các khoản phải thu, nếu nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên < 0, phải hạn chế vay ngắn hạn từ bên ngoài
1.2.4.4 Các chỉ tiêu tài chính trung gian
Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian nhằm đánh giá chi tiết tìnhhình tài chính và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp baogồm:
Lãi gộp = Doanh thu - Giá vốn hàngbánThu nhập trước
khấu hao và lãi
- Khấu hao
Thu nhập trước
Thu nhập trướcthuế và lãi vay - Lãi vay
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trướcthuế - Thuế thu nhậpdoanh nghiệp
Trang 221.2.4.5 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính
Có 4 nhóm chỉ tiêu chủ yếu là tỷ số về khả năng thanh toán, tỷ số vềkhả năng cân đối vốn, tỷ số về khả năng hoạt động, tỷ số về khả năng sinh lời.Tuỳ theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng nhiều hơnnhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.
Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm:
- Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanhtoán hiện hành =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạnTài sản lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễchuyển nhượng ( tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho),còn nợ ngắn hạn thường bao gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thươngmại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoảnphải trả phải nộp khác…Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạnnhất định - tới 1 năm Tỷ số thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanhtoán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của cácchủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiềntrong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó
Khi xác định tỷ số thanh toán ngắn hạn, chúng ta đã tính cả hàng tồnkho trong giá trị tài sản lưu động đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trênthực tế, hàng tồn kho kém thanh khoản hơn vì phải mất thời gian và chi phí để
Trang 23tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền Để tránh được nhược điểm này, tỷ sốthanh toán nhanh nên được sử dụng.
- Tỷ số thanh toán nhanh
dễ bị lỗ nhất nếu được bán Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biếtkhả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán cáctài sản lưu động trừ phần dự trữ ( tồn kho) và được xác định bằng cách lấy tàisản lưu động trừ phần dự trữ (tồn kho) chia cho nợ ngắn hạn
- Tỷ số dự trữ (tồn kho) trên vốn lưu động ròng
Tỷ số này cho biết dự trữ chiếm bao nhiêu phần trăm vốn lưu độngròng Điều này liên quan tới cơ cấu vốn, cơ cấu tài trợ cũng như cơ cấu tài sảnlưu động của doanh nghiệp Nó được tính bằng cách chia dự trữ (tồn kho) chovốn lưu động ròng
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối nguồn vốn
Nhóm chỉ tiêu này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sởhữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và
có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính, phản ánh mức độ ổn định và
tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp Nếuchủ doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro xảy
Trang 24ra trong sản xuất – kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu Mặt khác,bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyềnkiểm soát và điều hành doanh nghiệp Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu đượclợi nhuận từ tiền vay thì lợi nhuận dành cho các chủ doanh nghiệp sẽ gia tăngđáng kể.
Trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp thì các nhà quản lýthường mong muốn đạt tới cơ cấu vốn và nguồn vốn tối ưu để sử dụng vốn vànguồn vốn có hiệu quả nhất Việc nghiên cứu về khả năng cân đối nguồn vốncủa doanh nghiệp sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà quản lý để từ
- Hệ số tự tài trợ:
Hệ số tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữuTổng nguồn vốn
Hệ số này phản ánh, trong nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng thì sốvốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng là bao nhiêu, thể hiện mức độ hoạt động độc
Trang 25lập về tài chính của doanh nghiệp hay mức độ tài trợ của chủ doanh nghiệpđối với nguồn vốn kinh doanh của mình Các chủ nợ thường quan tâm đến hệ
số này khi quyết định cho vay, vì nó thể hiện mức độ đảm bảo cho các khoản
nợ của doanh nghiệp
- Hệ số cơ cấu tài sản
Hệ số cơ cấu tài sản = TSLĐ (TSCĐ)
Tổng tài sản
Tỷ số này phản ánh cơ cấu đầu tư vào các loại tài sản của doanhnghiệp Phân tích chỉ tiêu này cho phép xây dựng và điều chỉnh cơ cấu tài sảnphù hợp với môi trường kinh doanh của từng doanh nghiệp, tuy nhiên nó caohay thấp chưa phản ánh được hiệu quả đầu tư vào tài sản nếu không căn cứvào loại hình và lĩnh vực sản xuất kinh doanh
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các tỷ số về khả năng hoạt động được sử dụng để đanh giá hiệu quả sửdụng tài sản của doanh nghiệp Thông thường, các hệ số hoạt động sau đâyđược sử dụng:
kỳ kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho Nếu vòng quay
Trang 26hàng tồn kho thấp, doanh nghiệp đã dự trữ quá mức cần thiết dẫn đến lượngvật tư hàng hoá bị ứ đọng và tiêu thụ chậm Từ đó, có thể dẫn đến dòng tiềnvào doanh nghiệp bị giảm đi và đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn vềtài chính.
- Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngàyTrong đó: Doanh thu bình quân ngày = Doanh thu trong năm / 360 Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánhgiá khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các thanh toán phải thu vàdoanh thu bình quân một ngày Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vàochính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Doanh thu thuầnTSCĐChỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêuđồng doanh thu trong một năm
Tài sản cố định ở đây được xác định theo giá trị còn lại tính đến thờiđiểm hiện tại (thời điểm lập báo cáo)
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Trang 27Chỉ tiêu này được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ
số giữa doanh thu và tổng tài sản, và cho biết một đồng tài sản đem lại baonhiêu đồng doanh thu
*Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi
Nếu như các nhóm trên phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệtcủa doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệuquả sản xuất – kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp
- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Thu nhập sau thuế
Doanh thuChỉ tiêu này phản ánh trong số lợi nhuận sau thuế có trong một trămđồng doanh thu, đánh giá hoạt động kinh doanh của cả doanh nghiệp, nhìnchung, tỷ số này càng cao càng tốt
- Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE =
Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữuChỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và đượccác nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanhnghiệp
- Doanh lợi tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản
Trang 28hoặc
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sảnĐây là chỉ tiêu tổng hợp được dùng để đánh giá khả năng sinh lời củamột đồng vốn đầu tư Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp đượcphân tích và phạm vi so sánh, mà lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi vayhoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản
Như vậy phân tích tài chính doanh nghiệp là một đòi hỏi không thểthiếu trong hoạt động quản trị kinh doanh của một doanh nghiệp Thông quaviệc phân tích tình hình tài chính để tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu củadoanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó, có thể đưa ranhững giải pháp nhằm cải thiện tình hình của doanh nghiệp ở thời điểm hiệntại và trong tương lai
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phân tích tài chính doanh
nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, và hoạtđộng kinh doanh đó lại mang những đặc thù riêng, do đó mà ảnh hưởng rấtlớn đến phân tích tài chính của doanh nghiệp, cụ thể:
- Trình độ đáp ứng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng: Đối với hầu hết các
doanh nghiệp để hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có những cơ sở vậtchất kỹ thuật ban đầu, việc đáp ứng đầy đủ hay không có ảnh hưởng đến cơcấu tài sản và tỷ trọng của tài sản cố định trong phân tích tài chính, mặt kháctrong hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cần có các chỉ tiêu đánh giá hiệuquả sử dụng tài sản cố định trên nhiều góc độ để phù hợp với quy mô và trình
độ sản xuất của mỗi doanh nghiệp, nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt
Trang 29động kinh doanh của doanh nghiệp Khía cạnh phân tích này sẽ giúp cho BanGiám đốc định hướng các quyết định đầu tư vào cơ sở vật chất.
Bên cạnh đó, nó còn ảnh hưởng đến việc vay nợ để đầu tư mua sắmmới hoặc thuê tài chính làm ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn Do đó màphân tích tài chính cần quan tâm đến các chỉ tiêu phản ánh mức độ tự tài trợ
và rủi ro về mặt tài chính để giúp Ban Giám Đốc có các định hướng về huyđộng các nguồn vốn một cách phù hợp
Mặt khác, đặc điểm trên cũng có ảnh hưởng đến cơ cấu chi phí củaDoanh nghiệp, ảnh hưởng đến chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí tàichính, tỷ trọng của chúng trong tổng chi phí, đồng thời tác động đến lợi nhuậntrực tiếp từ các dịch vụ khác nữa Đây là đặc biểm mà phân tích tài chính cầnchú trọng xem xét chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp
- Phạm vi hoạt động của Doanh nghiệp: đặc điểm này nhằm đánh giá
mối tương quan so sánh giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng lĩnhvực, doanh nghiệp có phạm vi hoạt động càng rộng lớn, thi trường càng lớn,chứng tỏ hiệu quả hoạt động kinh doanh càng hiệu quả Và để thuận lợi choviệc so sánh tương quan này, phân tích tài chính cần có những chỉ tiêu thôngdụng hoặc có thể dung riêng cho ngành để đánh giá Việc tham khảo các chỉtiêu của hiệp hội là cần thiết để có thể đánh giá mức độ hiệu quả hoạt độngcủa Doanh nghiệp so với các thành viên khác
Đồng thời, phạm huy hoạt động cũng ít nhiều ảnh hưởng tới phân tíchtài chính Nếu phạm vi hoạt động lớn, cần phải phân tích chi tiết cho từng địabàn, khu vực riêng rẽ đê xác định được hiệu quả của từng bộ phận, để cóphương án phân cấp, tổ chức hoạt động một cách hợp lý để đáp ứng được yêucầu công việc cũng như thông tin chính xác, kịp thời cho phân tích tài chính
Trang 30- Tính chất của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp
hoạt động trong nhiều lĩnh vực, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần có cácchỉ tiêu đa dạng để có thể phản ánh hiệu quả của nhiều hoạt động kinh doanh,nhiều lĩnh vực khác nhau
- Đặc điểm riêng của ngành: Mỗi một ngành hàng sản xuất kinh doanh
đều có những đặc điểm cụ thể riêng (dịch vụ, hàng tiêu dùng, nông sản, vậntải… ) do đó mà doanh thu cũng như chi phí kinh doanh cũng có những đặcthù riêng, đặc điểm đa dạng và phức tạp về doanh thu và chi phí của mỗingành đòi hỏi bộ máy kế toán phải được tổ chức hoạt động với hiệu quả caonhằm ghi nhận chính xác và kịp thời số liệu cung cấp cho phân tích tài chính.Mặt khác, đặc điểm này các đặc điểm khác nhau đòi hỏi phân tích tài chínhcần có các chỉ tiêu đa dạng, phân tích chi tiét các loại doanh thu, chi phí để từ
đó có thể phản ánh được hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpmột cách hợp lý
Hoạt động phân tích tài chính còn bị ảnh hưởng bởi nhiều rủi ro khácnhau, trong đó có rủi ro về tỷ giá Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiềuhoạt động khác nhau của doanh nghiệp, trong đó có :
+ Rủi ro trong hoạt động đầu tư: Rủi ro tỷ giá thường phát sinh với cácCông ty đa quốc gia hay đối với các nhà đầu tư có danh mục đầu tư đa dạnghoá Đối với một nhà đầu tư, nếu như mọi chi phí phát sinh bằng ngoại tệ,trong khi doanh thu lại bằng đồng nội tệ thì nhà đầu tư này thường xuyên phảiđối mặt với rủi ro tỷ giá Điều này có thể khiến cho chi phí sản xuất tăng haygiảm ngoài dự kiến, trong chừng mực nào đó làm cho lợi nhuận bị thay đổi,nhưng nghiêm trọng hơn là làm đảo lộn kết quả kinh doanh
Bên cạnh những ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trực tiếp, rủi ro tỷ giácũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư gián tiếp, tức là đầu tư trên thị
Trang 31trường tài chính, đặc biệt là hoạt động tài chính xuyên quốc gia, hoạt độngtrên thị trường chứng khoán Trong trường hợp đó, nhà đầu tư cũng khônglường trước được các rủi ro về tỷ giá, có thể dẫn đến tổn thất và ảnh hưởngđến kết quả kinh doanh của nhà đầu tư, do đó mà ảnh hưởng trực tiếp tới hoạtđộng phân tích tài chính.
+ Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu: Đây là hoạt động có
biểu hiện rõ nhất về rủi ro tỷ giá Hoạt động xuất nhập khẩu thường kéo dàitrong một thời gian cụ thể, trong khi tỷ giá biến đối liên tục, do đó, ảnh hưởngcủa tỷ giá đến thanh toán trong hợp đồng xuất nhập khẩu là không thể tránhkhỏi, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và chi phí sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hoạt động phân tích tàichính từ đó mà có những ảnh hưởng đáng kể
Trang 32CHƯƠNG II CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ HỢP TÁC KINH TẾ
VIỆT – LÀO2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Đầu Tư Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trong xu thế toàn cầu hoá để hội nhập với nền kinh tế thế giới, Đảng vànhà nước đã chủ trương mở rộng kinh tế đối ngoại Vào năm 1997, trong báocáo của chính phủ tại kỳ họp thứ II Quốc hội khoá X đã đề ra nhiệm vụ “Cầntập trung phát triển hàng xuất khẩu có chất lượng cao, tổ chức xuất khẩu cao
và mạnh Duy tri củng cố và phát triển thị trường hiện có, đồng thời xúc tiếnviệc nghiên cứu khảo sát và tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu mới, đặcbiệt là hàng nông sản và hàng công nghiệp chế biến Các ngành, và các tỉnh,thành phố phải đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản”
Nghệ An là tỉnh có vị trí thuận lợi (có ga tàu, sân bay, cảng biển, cửakhẩu xuyên quốc gia, quốc tế, quốc lộ 1A), nguồn hàng nông sản xuất khẩulớn lại có chung đường biên giới với Lào, hàng hóa của nước bạn quá cảnhViệt Nam Đây là những điều kiện cơ bản để Nghệ An mở rộng hợp tác kinh
tế với nước bạn Lào trong chiến lược hợp tác toàn diện đặc biệt là của Đảng
và Nhà nước Việt Nam chúng ta đối với nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân DânLào
Trên cơ sở đó, ngày 25/09/1998, Xí nghiệp đầu tư hợp tác kinh tế vớiCHDCND Lào được thành lập theo quyết định số 3514/QĐ – UB của UBNDTỉnh Nghệ An Ngày 11/11/1999, theo quyết định số 3893/QĐ – UB xí nghiệpđổi tên thành : Công Ty Đầu Tư và Hợp Tác Kinh Tế Việt – Lào trên cơ sở sát
Trang 33nhập một số đơn vị trực thuộc Công ty Thương mại Tổng hợp và Dịch vụ tỉnhNghệ An để tiếp tục thực hiện dự án “Phát triển kinh tế hợp tác với nướcCNDCND Lào” Trực thuộc sở Thương Mại tỉnh Nghệ An quản lý
Thực hiện quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ số 73/2003/QĐ – TTgngày 29/04/2003 phê duyệt “Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệpNhà nước thuộc UBND Tỉnh Nghệ An đến năm 2005, Công ty đã thực hiệncác thủ tục để sang đầu năm 2006 tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp với trị
giá cổ phần bán ra là 80% Nay Công ty có tên gọi mới là “Công ty Cổ Phần Đầu Tư và Hợp Tác Kinh tế Việt – Lào”.
Tên giao dịch quốc tế : Viet – Laos Investment and EconomicCooperation Company Viết tắt là : VILACO, có trụ sở chính tại: Số 01,đường Phan Bội Châu, TP Vinh, Tỉnh Nghệ An
Các đơn vị trực thuộc:
- Cửa hàng thương mại
- Xí nghiệp kinh doanh cửa hàng vật liệu xây dựng
- Khách sạn Việt – Lào
- Nhà hàng sinh thái Việt – Lào
2.1.2 Chức năng và cơ cấu tổ chức
2.1.2.1 Chức năng của Công ty
VILACO là 1 doanh nghiệp thương mại nên chức năng chính là lưuthông hàng hoá thông qua trao đổi mua bán Cụ thể là Công ty chuyên kinhdoanh xuất khẩu nên có thể hiểu chức năng chính là lưu thông hàng hoá, traođổi mua bán Xuất nhập khẩu giữa Công ty với các đối tác trong và ngoàinước Công ty có các chức năng cụ thể sau:
Trang 34+ Chức năng chuyên môn kỹ thuật: Là công ty kinh doanh thương mại
nhập khẩu nên các hoạt động của Công ty có liên quan đến các đối tác, kháchhàng và nhà cung ứng trong và ngoài nước Công ty tổ chức vận động lưuthông hàng hoá từ nhà cung cấp trong nước hoặc nước ngoài đưa vào thamgia kinh doanh xuất nhập khẩu trên phạm vi nhiều nước để đến với đối tác,khách hàng ở trong nước và ngoài nước
+ Chức năng thương mại: VILACO thực hiện giá trị hàng hoá bằng
cách mua hàng hoá từ nhà sản xuất và xuất khẩu, sau đó bán cho người tiêudùng Hàng hoá tham gia quá trình kinh doanh đã thể hiện được giá trị cũngnhư giá trị sử dụng của nó Công ty thực hiện chức năng thương mại các hoạtđộng xuất nhập khẩu lưu thông hàng hoá
+ Chức năng tài chính: Đây là chức năng quan trọng đối với bất kỳ một
công ty nào, với VILACO là một doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩunên chức năng tài chính là thước đo đánh giá hiệu quả kinh doanh Tình hìnhtài chính trong Công ty được phân bổ hợp lý từ công tác phân bổ vốn, nguồnvốn trong đó cụ thể là tình hình phân bổ tiền mặt, các khoản phải thu, phải trảmột cách hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh
+ Chức năng quản trị: Tình hình quản trị của Công ty được phân cấp
cụ thể, đơn giản, hiệu quả, không chồng chéo trong quản lý cũng như trongviệc ra quyết định Bộ phận quản trị phối hợp nhịp nhàng với các bộ phậnkhác để nâng cao hiệu quả quản lý công việc, làm cho các hoạt động củadoanh nghiệp được phối hợp ăn khớp và đi theo đúng mục tiêu đề ra
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh đặc thù của mình, Công ty VILACOtrong những năm qua đã không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức nhằm nângcao năng lực quản lý của mình Công ty đã tìm hiểu và bố trí tương đối hợp lý
Trang 35mô hình tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh theo hình thức trực tuyến chứcnăng từ Công ty đến các đơn vị trực thuộc theo tuyến kết hợp với các phòngban chức năng để phù hợp với điều kiện sản xuất của doanh nghiệp.
Trong cơ cấu này, các phòng ban đã phát huy được hết năng lực chuyênsâu của mình
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty
* Đại hội cổ đông: Bắt đầu ra ban kiểm soát hội đồng quản trị, quyết
định thực hiện nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu kinh doanh, xây dựng cácbản quyết toán, bổ nhiệm giám đốc và chụ trách nhiệm trước pháp luật
* Ban kiểm soát: Kiểm chứng xem việc thực hiên theo kế hoạch vạch
ra có đúng với chỉ thị, nguyên tắc đã được ấn định hay ko để tìm ra nhữngkhuyết điểm, sai lầm, sửa chữa và ngăn chặn kịp thời, ngăn ngừa tái phạm
* Giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị: Tổ chức các cuộc họp
của HĐQT, phụ trách chung mọi hoạt động kinh doanh của Công ty và chịutrách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Cộng ty
* Phó giám đốc: Chịu trách nhiệm trước giám đốc về nhiệm vụ được
phân công và thực hiện
* Phòng kế toán – tài vụ: Gồm 7 người giúp giám đốc quản lý tài
chính và thực hiện toàn bộ công tác kế toán, tài chính, ghi nhận, xử lý và cungcấp thông tin về mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở Công ty Thôngqua đó, kiểm tra, kiểm soát được tất cả các hoạt động kinh tế tài chính ở Công
ty nhằm giúp cho bộ máy quản lý kiểm tra được các biện pháp quản lý đang
Đại hội cổ đông
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị
Giám đốc kiêm chủ tịch Hội Đồng Quản trị
Phó giám đốc Các phòng ban doanh
nghiệp
Các đơn vị trực thuộc
Cửa hàng thương mại
XN kinh doanh vật liệu XD
Khách sạn Việt-Lào
Nhà hàng sinh thái Việt-Lào
Trang 36thực hiện, đề xuất những quyết định kinh tế, những biện pháp kinh tế tàichính hữu hiệu.
* Phòng nghiệp vụ: Chức năng của các phòng nghiệp vụ XNK chính
là chức năng chung của Công ty Phòng gồm 20 người được chia thành 3phòng, thực hiện các nhiệm vụ: Tìm kiếm đối tác kinh doanh, kinh doanh theođúng pháp luật trong nước và quốc tế, lập phương án kinh doanh trình TổngGiám đốc trước khi thực hiện hợp đồng, sau mỗi nghiệp vụ kinh doanh đềuphải thực hiện hạch toán song song với phòng kế hoạch, thực hiện thanh toánhợp đồng kịp thời
* Phòng kế hoạch – tài chính: Gồm 6 người có nhiệm vụ nghiên cứu
thị trường, xúc tiến các mối quan hệ đối ngoại nhằm cung cấp đầy đủ cácthông tin về khách hàng, nghiên cứu thị trường cho các hàng bán, tạo nguồnhàng và lập kế hoạch, đề ra phương án sản xuất kinh doanh cho toàn Công ty.Đồng thời thực hiến chế độ hạch toán kế toán tập trung Mọi vấn đề liên quantới tài chính dưới bất kỳ hình thức nào đều phải qua phòng kế hoạch trước khitrình lên lãnh đạo phê duyệt Như vậy, phòng KH – TC có nhiệm vụ đảm bảoghi chép phản ánh chính xác, kịp thời các nghiệp vụ kinh doanh, đôn đốc cácđơn vị thanh toán hợp đồng đúng thời hạn cam kết, hạch toán kế toán kịp thờiđầy đủ đối với từng phương án, giám sát tình hình vốn, tham mưu cho Tổnggiám đốc về kế hoạch cân đối vốn, tăng nhanh quay vòng vốn, lập và nộp cácbáo cáo tài chính cho các cơ quan chủ quản đúng về thời gian và chất lượng,lập kế hoạch tài chính cho toàn bộ doanh nghiệp thực hiện đánh giá phân tíchtài chính doanh nghiệp
* Phòng tổ chức hành chính: Gồm 12 người có chức năng tham mưu
cho Giám đốc quản lý hành chính nhân sự trong Công ty, xây dựng và hoànthiện bộ máy Công ty cho phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ (quản lý cán