Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực ngày càng tăng lên một cách mạnh mẽ của cạnh tranh, của một nền kinh tế dư thừa hàng hoá thì bán hàng giống như: “Một bước nhảy nguy hiểm chết người” sẽ trở nên phức tạp hơn với độ rủi ro cao hơn. Để tiêu thụ được hàng hóa trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng bán các sản phẩm tương tự đòi hỏi doanh nghiệp phải kinh doanh những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chất lượng tốt, và giá cả cạnh tranh. Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy mọi nỗ lực của doanh nghiệp suy cho cùng đều hướng tới mục tiêu sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ ngày một tốt hơn trên thị trường. Tiêu thụ sản phẩm quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh, chỉ khi bán được sản phẩm thì mới có thể giải quyết hàng loạt các vấn đề khác trong kinh doanh. Chính vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm tuy không phải là vấn đề mới đối với doanh nghiệp nhưng nó vẫn nhận sự quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng trở nên khó khăn hơn, các doanh nghiệp vì đó mà càng quan tâm đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm hơn. Trước tầm quan trọng có tính quyết định của hoạt động tiêu thụ sản phẩm, em đã chọn đề tài cho chuyên đề của mình là: “Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt”. Thông qua đề tài này em muốn củng cố và hoàn thiện kiến thức về hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói chung và tìm được ra những giải pháp để khắc phục và nâng cao hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề bao gồm: Một số lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm và toàn bộ hoạt động trong quá trình tiêu thụ sản phẩm tại công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt. Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu được kết cấu thành 3 chương: Chương I: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chương II: Thực trạng về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt Chương III: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2
1.1.1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm và phân loại tiêu thụ sản phẩm 2
1.1.1.1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm 2
1.1.1.2.Các hình thức tiêu thụ sản phẩm 3
1.1.2.Sự cần thiết và ý nghĩa của của hoạt động đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm 3 1.2.CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM 5
1.2.1 Nghiên cứu thị trường 5
1.2.2 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm 7
1.2.3 Chuẩn bị hàng hóa để xuất bán 9
1.2.4 Xây dựng các kênh phân phối 9
1.2.5 Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho công tác bán hàng 11
1.2.6 Tổ chức hoạt động bán hàng 11
1.2.7.Phân tích đánh giá hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm 12
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 13
1.3.1.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty 13
1.3.1.1.Khối lượng và doanh mục sản phẩm 13
1.3.1.2.Doanh thu tiêu thụ sản phẩm 13
1.3.1.3.Chí phí tiêu thụ sản phẩm 13
1.3.1.4.Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm 14
Trang 21.3.1.5.Thị trường tiêu thụ sản phẩm 14
Trang 31.3.1.6.Khách hàng tiêu thụ chủ yếu 141.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp .141.3.2.1.Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp (các nhân tố khách quan) 141.3.2.2 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp 17
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC
HÀ VIỆT 19 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THƯC HÀ VIỆT 19
2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty kinh doanh và chế biến lương thực HàViệt 192.1.1.1 Sơ lược vài nét về công ty 192.1.1.2.Sự ra đời và phát triển của công ty 192.1.2.Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban của công tykinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt 212.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty kinh doanh và chế biến lươngthực Hà Việt 212.1.2.2.Bộ máy tổ chức quản lý 222.1.3 Thực trạng của Công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt 242.1.3.1.Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh 242.1.3.2.Thực trạng kết quả kinh doanh của công ty kinh doanh và chế biếnlương thực Hà Việt 272.1.3.3 Tiền lương của công nhân viên 302.1.3.4 Đánh giá tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh của công ty kinhdoanh và chế biến lương thực Hà Việt 312.1.4 Phương hướng hoạt động của Công ty kinh doanh và chế biến lươngthực Hà Việt 322.1.4.1.Chiến lược kinh doanh của công ty đến năm 2012 32
Trang 42.1.4.2.Những giải pháp trong thời gian tới 32
Trang 52.1.4.2.Những giải pháp trong thời gian tới 33
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT.34 2.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường 34
2.2.2 Thực trạng về kênh phân phối 35
2.2.3 Thực trạng các chính sách và biện pháp tiêu thụ sản phẩm của Công ty .37
2.2.3.1 Chính sách sản phẩm của nhà máy 37
2.2.3.2 Công tác định giá tiêu thụ sản phẩm 38
2.2.4 Thực trạng của công tác quảng cáo và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm 40
2.2.5 Thực trạng của công tác tổ chức hoạt động bán hàng 41
2.2.6.Thực trạng hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của Công ty 42
2.2.6.1 Kết quả tiêu thụ theo nhóm sản phẩm 42
2.2.6.2 Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Công ty theo khu vực thị trường 47
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY 48
2.3.1 Những thành tựu đạt được 48
2.3.2 Những nhược điểm còn tồn tại và nguyên nhân trong công tác tiêu thụ sản phẩm 49
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT 50
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM TỚI 50
3.1.1 Định hướng chung của Công ty 50
3.1.2 Định hướng cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm 50
3.1.3 Mục tiêu của Công ty 51
Trang 63.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC
HÀ VIỆT 51
3.2.1 Nhóm giải pháp về sản phẩm 51
3.2.1.1 Đa dạng hóa sản phẩm 51
3.2.1.2 Cải tiến quy trình thiết kế sản phẩm mới 52
3.2.2 Nhóm giải pháp về phát triển mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, phân phối sản phẩm 53
3.2.3 Tăng cường các biện pháp xúc tiến hỗ trợ cho công tác tiêu thụ sản phẩm 55
3.2.3.1 Quảng cáo 55
3.2.3.2 Khuyến mại 57
3.2.3.3 Hội chợ, triển lãm: 57
3.2.4 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 58
3.2.5 Hoàn thiện trong hoạt động nghiên cứu thị trường 60
3.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP TRÊN 61
3.3.1 Về phía nhà nước 61
3.3.2 Về phía Công ty 61
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Các kênh tiêu thụ sản phẩm 9
Sơ đồ 2: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được mô tả qua sơ đồ sau: 22
Sơ đồ 3: Quy trình sản xuất Mỳ ăn liền 25
Sơ đồ 4 : Các kênh tiêu thụ sản phẩm của công ty 35
Bảng 1: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006, 2007 28
Bảng 2: Bảng lương của cán bộ công nhân viên tháng 12 năm 2007 30
Bảng 3: Giá của đối thủ cạnh tranh 39
Bảng 4: Kết quả tiêu thụ theo doanh thu 45
Bảng 5: Kết quả tiêu thụ theo số lượng 46
Bảng 6: Phân vùng thị trường tại miền Bắc 47
Bảng 7: Kết quả tiêu thụ theo khu vực thị trường 48
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực ngày càng tăng lên một cách mạnh
mẽ của cạnh tranh, của một nền kinh tế dư thừa hàng hoá thì bán hàng giống như:
“Một bước nhảy nguy hiểm chết người” sẽ trở nên phức tạp hơn với độ rủi ro caohơn Để tiêu thụ được hàng hóa trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng bán cácsản phẩm tương tự đòi hỏi doanh nghiệp phải kinh doanh những sản phẩm phù hợpvới nhu cầu của khách hàng, chất lượng tốt, và giá cả cạnh tranh
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng và không thể thiếu được trong quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy mọi nỗ lực của doanh nghiệpsuy cho cùng đều hướng tới mục tiêu sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụngày một tốt hơn trên thị trường Tiêu thụ sản phẩm quyết định đến sự thành bạitrong kinh doanh, chỉ khi bán được sản phẩm thì mới có thể giải quyết hàng loạt cácvấn đề khác trong kinh doanh Chính vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm tuy khôngphải là vấn đề mới đối với doanh nghiệp nhưng nó vẫn nhận sự quan tâm hàng đầucủa các doanh nghiệp Đặc biệt trong điều kiện hiện nay thì hoạt động tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp ngày càng trở nên khó khăn hơn, các doanh nghiệp vì đó
mà càng quan tâm đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm hơn
Trước tầm quan trọng có tính quyết định của hoạt động tiêu thụ sản phẩm, em
đã chọn đề tài cho chuyên đề của mình là: “Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩmtại công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt” Thông qua đề tài này emmuốn củng cố và hoàn thiện kiến thức về hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói chung vàtìm được ra những giải pháp để khắc phục và nâng cao hoạt động tiêu thụ sản phẩmtrong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Phạm vi nghiên cứu của chuyên
đề bao gồm: Một số lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm và toàn bộ hoạt động trong quátrình tiêu thụ sản phẩm tại công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt.Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu được kếtcấu thành 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty kinh doanh
và chế biến lương thực Hà Việt
Chương III: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty kinhdoanh và chế biến lương thực Hà Việt
Trang 9CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm và phân loại tiêu thụ sản phẩm
1.1.1.1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Đặc trưng sản xuất hàng hóa là sản xuất ra những vật phẩm, những dịch vụkhông phải để cho người sản xuất trực tiếp tiêu dùng mà để trao đổi, để bán nhằmthực hiện mục tiêu đã định của doanh nghiệp Do đó tiêu thụ sản phẩm là một khâuquan trọng của quá trình tái sản xuất xã hội, là khâu lưu thông hàng hóa, đóng vaitrò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng.Hiện nay có nhiều khái niệm
về tiêu thụ sản phẩm cùng tồn tại nhưng đều tập trung nhấn mạnh vai trò của tiêuthụ, coi tiêu thụ sản phẩm là một nội dung quan trọng trong tổ chức hoạt độngthương mại doanh nghiệp, đồng thời là khâu then chốt trong hoạt động kinh doanh.Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ (bán hàng) hàng hóa, lao vụ, dịch vụ là việc chuyểndịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàngđồng thời thu được tiền bán hàng hóa hoặc quyền thu tiền bán hàng
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiềukhâu từ nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng, tổ chức sảnxuất đến thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng, chăm sóc kháchhàng… nhằm mục đích thu được hiệu quả cao nhất
Theo quan niệm thứ nhất (nghĩa hẹp) đã chỉ coi hoạt động tiêu thụ sản phẩm làmột khâu, là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Nhưng trênthực tế em cho rằng khái niệm tiêu thụ theo nghĩa rộng là đầy đủ nhất bởi nó đãcung cấp tất cả các yếu tố cần thiết cho tiêu thụ sản phẩm và những nghiệp vụ cụthể của tiêu thụ sản phẩm
Do vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm bao gồm nhiều hành vi tiêu thụ sảnphẩm, liên quan mật thiết đến hai loại quá trình: các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và
Trang 10các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và kế hoạch hóa tiêu thụ Đối với doanh nghiệp, việcthực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất trong tiêu thụ sản phẩm là hoạt động tiếptục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông Các nghiệp vụ ,hành vi của hoạt độngtiêu thụ liên quan chặt chẽ với nhau, nghiệp vụ này có ảnh hưởng tới kết quả củaquá trình kia.
*) Đối với doanh nghiệp:
Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được vậnđộng qua các giai đoạn T-H, H-T’ Vì vậy nếu nếu xét trên toàn bộ quá trình sảnxuất kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm là công việc quan trọng nhất để thực hiệnđược những mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp
Chỉ khi sản phẩm được tiêu thụ thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn đểthực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng Làm tốt công tác tiêu thụ sảnphẩm là động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển Tiêu thụ sản phẩm là một khâuquan trọng nhất ảnh hưởng tới vòng quay của vốn, nếu tiêu thụ sản phẩm đượcnhanh thì việc thu hồi vốn nhanh tức là tốc độ vòng quay của vốn lớn, chu kỳ kinhdoanh được rút ngắn và hiệu quả sử dụng vốn cao Trong nền kinh tế thị trường,hoạt động tiêu thụ sản phẩm phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, nó là thước đo để phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là nghiệp vụ cơ bản thực hiện mục đích kinh doanh củadoanh nghiệp vì lợi nhuận, vì vậy nó quyết định và chi phối các hoạt động nghiệp
Trang 11vụ khác của doanh nghiệp như: nghiên cứu thị trường, tạo nguồn mua hàng, dịch
vụ, dự trữ
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được thực hiện theo chiến lược và kế hoạch kinhdoanh đã vạch ra, hàng hóa của doanh nghiệp được khách hàng chấp nhận, uy tíncủa đơn vị được giữ vững và củng cố ở trên thương trường Tiêu thụ sản phẩm làkhâu hoạt động có quan hệ mật thiết với khách hàng, ảnh hưởng đến niềm tin, uy tín
va sự tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng Do vậy, đó cũng là vũ khí cạnh tranhmạnh mẽ của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh Khối lượng sản phẩm đượctiêu thụ thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng vớinhu cầu của người tiêu dung và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ Nói cáchkhác tiêu thụ sản phẩm phản ánh sự đúng đắn của mục tiêu chiến lược của kinhdoanh, phản ánh sự nỗ lực cố gắng của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời thểhiện trình độ tổ chức, chức năng điều hành, tỏ rõ thế và lực của doanh nghiệp trênthương trường
Hoạt động tiêu thụ gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp nhà sảnxuất hiểu thêm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, nắm bắt được nhu cầu thịtrường, am hiểu hơn về thị hiếu của khách hàng từ đó có kế hoạch tổ chức sản xuất
ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng ngày một tốthơn
Thị trường luôn luôn biến động, thay đổi không ngừng, vì thế tiêu thụ sảnphẩm không còn là vấn đề mới mẻ nhưng nó luôn mang tính thời sự cấp bách, và làmối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
*) Về phương diện xã hội:
Đối với nền kinh tế quốc dân hoạt động tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa sảnxuất và tiêu dùng, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu góp phần đảm bảo cân đối giữasản xuất với tiêu dùng, cân đối giữa cung và cầu, bình ổn giá cả và đời sống củanhân dân Tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Đối với các cơquan nhà nước hoạch định chiến lược và Chính sách thông qua nhịp điệu mua bántrên thị trường có thể dự đoán chính xác hơn nhu cầu xã hội từ đó đề ra quyết sáchthích hợp để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 12Sản phẩm của doanh nghiệp được bán ra có nghĩa là xã hội đã thừa nhận kếtquả lao động của doanh nghiệp Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp sẽ giảiquyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người lao động đồng thời đóng góp vàongân sách nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ xã hội.
1.2 CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình giải quyết ba vấn
đề kinh tế cơ bản của sản xuất kinh doanh Việc tiêu thụ sản phẩm không đơn thuần
là bán những cái đã sản xuất ra mà nó phải hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể các biệnpháp về mặt tổ chức, kinh tế, kế hoạch nhằm thực hiện nghiên cứu và nắm bắt nhucầu của thị trường, tổ chức sản xuất và bán theo nhu cầu khách hàng nhằm thu đượclợi nhận cao nhất Vậy để bán được nhanh, nhiều hàng hóa thu được lợi nhuận caothì cần phải thực hiện tốt các nghiệp vụ sau:
1.2.1 Nghiên cứu thị trường
Quá trình hoạt động kinh doanh thị trường đóng một vai trò quan trọng quyếtđịnh sự thành công trong kinh doanh, thị trường luôn luôn giúp và đòi hỏi doanhnghiệp phải giải đáp câu hỏi bán cái gì? Bán cho ai và bán bằng cách nào Vì vậynghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên đối với doanh nghiệp bắt đầukinh doanh, đang kinh doanh hoặc muốn mở rộng và phát triển kinh doanh Mụcđích của nghiên cứu thị trường là nhằm xác định khả năng bán một loại hàng hóanào đó, để lựa chọn cơ cấu hàng bán, đề ra chiến lược tiêu thụ sản phẩm và tạothuận lợi cho người tiêu dùng đồng thời thực hiện phương châm kinh doanh: chỉbán những thứ mà thị trường có nhu cầu chứ không phải bán những gì doanh nghiệpđang có
Nội dung chủ yếu của việc nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khả năng thâmnhập thị trường và mở rộng thị trường của doanh nghiệp Nghiên cứu thị trườnggồm 3 bước:
Bước1: Thu thập thông tin về thị trường
Doanh nghiệp cần thu thập thông tin về cả 4 vấn đề cơ bản của thị trường làcung, cầu, giá cả và tình hình cạnh tranh trên thị trường
Trang 13+ Nghiên cứu về cung hàng hóa: để xác định khả năng cung cấp cho thịtrường, tỷ lệ cung của doanh nghiệp trên thị trường.
+ Nghiên cứu về cầu hàng hóa: nhằm xác định nhu cầu thực sự của thị trường
về hàng hóa, xu hướng biến động nhu cầu trong từng giai đoạn, thời kỳ, từng khuvực thị trường từ đó có thể thấy được đâu là thị trường trọng điểm của doanh nghiệp
và đặc điểm của nhu cầu ở từng khu vực thị trường đó ra sao
+ Nghiên cứu về tình hình giá cả trên thị trường: bao gồm sự hình thành giá,các nhân tố tác động và dự đoán những biến động của giá thị trường, giá của đối thủcạnh tranh
+ Nghiên cứu về tình hình cạnh tranh trên thị trường: nhằm tìm hiểu rõ về cácđối thủ cạnh tranh của mình ở hiện tại và tương lai Để có những thông tin về đốithủ cạnh tranh, các doanh nghiệp khi kinh doanh cần chú ý tới việc nghiên cứu cácđối thủ cạnh ranh của mình về số lượng, khả năng cung ứng, sức mạnh tài chinh,các kế hoạch sản xuất kinh doanh… đặc biệt là chính sách tiêu thụ của đối thủ cạnhtranh như chính sách giá cả, phương pháp quảng cáo, mạng lưới tiêu thụ… Nghiêncứu về tình hình cạnh tranh phải làm rõ khả năng phản ứng của các đối thủ trướccác biện pháp về giá cả, quảng cáo…của doanh nghiệp Việc quan sát không chỉdừng lại ở việc nghiên cứu của các đối thủ cạnh tranh trong ngành mà còn phải quantâm đến các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thay thế
Kết quả của quá trình thu thập thông tin là những thông tin thu thập được đảmbảo về số lượng, chất lượng, nội dung.,…
Bước 2: Xử lý thông tin
Sau khi đã thu thập các thông tin, doanh nghiệp có thể tiến hành sử lý thôngtin để loại bỏ những thông tin không quan trọng, chưa chính xác hoặc không có tínhthuyết phục, trên cơ sở đó xây dựng các phương án kinh doanh có tính khả thi cao.Việc xử lý thông tin tức là chọn ra những thông tin có giá trị, có ảnh hưởng tới hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó xác định cho mình thị trường mụctiêu, chuẩn bị cho việc thiết lập các chính sách tiêu thụ sản phẩm thích ứng với thịtrường Có thể phân chia những thông tin thu thập được thành từng nhóm, từng loại
cụ thể để dễ dàng cho việc ra quyết định Công việc này có thể sử dụng các nhân
Trang 14viên nghiên cứu thị trường hoặc nhờ tới các Công ty chuyên cung cấp các dịch vụnghiên cứu thị trường.
Bước3: Xây dựng các phương án và lựa chọn ra quyết định
Trên cơ sở các thông tin thu thập được, đồng thời đánh giá khả năng và tiềmnăng của bản thân, doanh nghiệp đưa ra các phương án và tiến hành đánh giá lựachọn để đưa ra phương án có hiệu quả nhất Phương án hiệu quả nhất chính làphương án phù hợp nhất với điều kiện thực tế của doanh nghiệp
1.2.2 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Kế hoạch tiêu thụ là một bộ phận rất quan trọng trong kế hoạch sản xuất – kỹthuật – tài chính của doanh nghiệp Nó giúp cho doanh nghiệp chủ động trong hoạtđộng tiêu thụ Kế hoạch tiêu thụ bao gồm các chỉ tiêu về tiêu thụ sản phẩm trong kỳnhư khối lượng tiêu thụ sản phẩm về hiện vật và giá trị có phân theo hình thức tiêuthụ, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường và giá cả tiêu thụ Như vậy, kế hoạch tiêuthụ quyết định đến việc lập kế hoạch tổng thể trong toàn doanh nghiệp
*) Xác đinh chính sách sản phẩm:
Tromg cơ chế thị trường, các doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược kinhdoanh chuyên môn hóa kết hợp với đa dạng hóa Vì vậy, việc lựa chọn chính sáchsản phẩm kinh doanh là hết sức quan trọng Doanh nghiệp cần xác định cho mìnhmột chính sách sản phẩm hợp lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạn chếrủi ro đến mức thấp nhất Để có chính sách sản phẩm đúng đắn, các doanh nghiệpcần nghiên cứu chu kỳ sống sản phẩm Đây là công việc hết sức cần thiết để ápdụng các chính sách sản phẩm phù hợp, hạn chế rủi ro trong kinh doanh Doanhnghiệp cần có kế hoạch nghiên cứu sản phẩm mới để đảm bảo cho hoạt động sảnxuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục
Trang 15Mục tiêu định giá phải bắt nguồn từ những mục tiêu chung cũng như vị trí củadoanh nghiệp trên thị trường, có các mục tiêu định giá cơ bản:
+ Định giá nhằm đảm bảo mức thu nhập định trước
+ Định giá nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
+ Định giá nhằm mục tiêu doanh số bán hàng
+ Định giá nhằm mục tiêu phát triển các phân đoạn thị trường
+ Định giá nhằm mục tiêu cạnh tranh đối đầu
+ Định giá nhằm mục tiêu cạnh tranh không mang tính giá cả
Tuy nhiên, việc xây dựng các chính sách giá không chỉ dựa vào mục tiêu đượcđặt ra mà còn bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác như: định giá cho sản phẩm phảiđược xác định trên cơ sở chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm kết hợp với
sự nhạy cảm của nhà quản lý; giá cả còn chịu ảnh hưởng bời mức cầu về sản phẩmtrong mối liên hệ giữa giá cả và cầu hàng hóa; hay các chính sách giá của Nhà nướctrong việc quy định mức giá cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc định giá củadoanh nghiệp
Căn cứ vào mục tiêu và sự tác động của các nhân tố đến hoạt động sản xuấtkinh doanh, chính sách giá của doanh nghiệp có thể hướng tới các cách sau:
Thứ nhất: Chính sách giá hướng tới chi phí, từ đó đặt ra một mức giá bán đủ
để bù đắp chi phí và có lãi Với chính sách này đòi hỏi giá thành đơn vị sản phẩmcủa doanh nghiệp phải thấp hơn giá cả thị trường
Thứ hai: Chính sách giá hướng tới nhu cầu thị trường, nghĩa là khi cầu trên thịtrường về loại hàng hóa đó tăng lên thì doanh nghiệp sẽ tăng giá để có thêm lợinhuận Tuy nhiên, với chính sách giá này đòi hỏi doanh nghiệp phải biết được chínhxác những thông tin về hoạt động của đối thủ cạnh tranh, vì khi doanh nghiệp tănggiá bán mà đối thủ cạnh tranh vẫn giữ nguyên giá thì khách hàng sẽ tìm đến nhữngsản phẩm thay thế khác có giá thấp hơn
Thứ ba: Chính sách giá hướng tới cạnh tranh, tức là khi nhu cầu thị trường vềloại sản phẩm của doanh nghiệp tăng, doanh nghiệp vẫn giữ nguyên mức giá cũnhằm tăng thêm thị phần, giữ được khách hàng cũ và lôi kéo khách hàng của đối thủcạnh tranh
Trang 161.2.3 Chuẩn bị hàng hóa để xuất bán
Chuẩn bị hàng hóa để xuất bán cho khách hàng là hoạt động tiếp tục quá trìnhsản xuất kinh doanh trong khâu lưu thông Muốn cho quá trình lưu thông hàng hóađược liên tục, không bị gián đoạn thì các doanh nghiệp phải chú trọng đến cácnghiệp vụ sản xuất ở kho như: Tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, baogói, sắp xếp hàng hóa ở kho, bảo quản và ghép đồng bộ để xuất bán cho kháchhàng Tiếp nhận đầy đủ về số lượng và chất lượng hàng hóa từ các nguồn nhập khotheo đúng mặt hàng quy cách, chủng loại hàng hóa Thông thường, kho hàng hóacủa doanh nghiệp đặt gần nơi sản xuất sản phẩm Nếu kho hàng đặt xa nơi sản xuất( có thể gần nơi thiêu thụ) thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt việc tiếp nhận hàng hóabảo đảm kịp thời, nhanh chóng, góp phần giải phóng nhanh phương tiện vận tải, bốcxếp, an toàn sản phẩm, tiết kiệm chi phí lưu thông
1.2.4. Xây dựng các kênh phân phối
Từ sản xuất đến tiêu dùng, hàng hóa có thể được mua qua các kênh phân phốikhác nhau do phụ thuộc vào những yếu tố như đặc điểm, tính chất của sản phẩm vàcác điều kiện vận chuyển, bảo quản sử dụng…
Sơ đồ 1: Các kênh tiêu thụ sản phẩm
Kênh 1: Mua tiêu thụ sản phẩm hóa trực tiếp giữa người sản xuất với người
Bán lẻ
Trang 17tiêu dùng - tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho cá nhân Kênh phân phối nàybảo đảm cho hàng hóa lưu chuyển nhanh, giảm được chi phí lưu thông, quan hệgiao dịch mua bán đơn giản, thuận tiện.
Tùy theo đặc điểm tính chất của từng loại sản phẩm, mục đích sử dụng chúng,khối lượng mua bán nhiều hay ít, điều kiện giao nhận, vận chuyển giao hàng hóagiữa người mua và người bán mà lựa chọn kênh phân phối này hay kênh phân phốikhác Điều này hoàn toàn do người mua và người bán thỏa thuận với nhau, tôntrọng lợi ích của nhau phù hợp với luật pháp, chính sách và thông lệ của thị trường.Kênh 2: Việc lưu thông hàng hóa phải qua khâu trung gian – người bán lẻ Đó
là loại kênh ngắn thuận tiện cho người tiêu dùng, hàng hóa được lưu chuyển nhanh,người sản xuất hay được giải phóng khỏi chức năng bán lẻ Kênh này thích hợp vớinhững doanh nghiệp bán lẻ lớn (các siêu thị, cửa hàng lớn) có quan hệ trực tiếp vớingười sản xuất, thuận tiện giao nhận và vận chuyển
Kênh 3: Việc mua tiêu thụ sản phẩm hóa phải qua nhiều khâu trung gian – bánbuôn và bán lẻ Kênh này thuộc loại kênh dài, từng khâu của quá trình sản xuất vàlưu thông được chuyên môn hóa, tạo điều kiện để phát triển sản xuất, mở rộng thịtrường, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và tiền vốn Kênh này tuy có thời gianlưu chuyển và chi phí lưu thông lớn hơn các kênh trước, nhưng thích hợp với điềukiện sản xuất và lưu thông nhiều loại sản phẩm, phù hợp với quan hệ mua bán củanhiều loại doanh nghiệp Vì vậy hàng hóa lưu thông qua kênh này chiếm tỷ trọnglớn trong toàn bộ khối lượng hàng hóa lưu chuyển của nền kinh tế quốc dân Cácdoanh nghiệp này tùy theo điều kiện sản xuất và kinh doanh mà xác định các mặthàng, tỷ trọng hàng hóa mua bán qua các khâu của kênh này
Kênh 4: Sự vận động của hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng như kênh
3, nhưng trong quan hệ giao dịch mua bán xuất hiện nhiều khâu môi giới trung gian.Người môi giới mua bán cần thiết khi xuất hiện cung hoặc cầu về loại hàng hóa nào
đó, mà người tiêu thụ sản phẩm hoặc người mua thiếu các kênh thông tin hoặc khókhăn về tiếp cận, giao dịch mua bán.Trong kênh này người môi giới hoạt động rấtnăng động giữa kẻ bán, người mua khi vai trò của họ được chấp nhận và đem lạihiệu quả cho các bên tham gia
Trang 18Để mở rộng thị trường, giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, kiểm soát được hànghóa và kênh bán , khi lựa chọn kênh bán cần lựa chọn những căn cứ sau:
Căn cứ vào bản chất của sản phẩm là hàng hóa thông thường hay hàng hóa cótính chất thương phẩm đặc biệt, hay vào tốc độ phổ biến của chu kỳ sống sản phẩmđang trải qua
Căn cứ vào tình hình thị trường: số lượng khách hàng, quy mô mua sắm vàchu kỳ mua sắm của khách hàng.Chiến lược phân phối hàng hóa và giai đoạn pháttriển của doanh nghiệp
1.2.5.Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho công tác bán hàng.
Quảng cáo hàng hóa là một trong các hình thức truyền tin thương mại nhằmđem đến cho người nhận thông tin những hiểu biết cần thiết về sản phẩm và doanhnghiệp bằng những phương tiện thông tin đại chúng để lôi cuốn người mua
Còn xúc tiến tiêu thụ sản phẩm là một tập hợp kỹ thuật tạo ra sự bán nhanhchóng bằng cung cấp một lợi ích vật chất cho người mua Những kỹ thuật xúc tiếnthường được áp dụng trong kinh doanh thương mại:
Bán có thưởng
Thực hiện giảm giá
Tổ chức cuộc thi, trò chơi có thưởng
Khuyến khích mua thử và các quà biếu khác
Như vậy quảng cáo và xúc tiến là hoạt động của người bán để tác động vàotâm lý khách hàng tạo sự thu hút chú ý của khách hàng tới sản phẩm làm cho nó hấpdẫn hơn Vì vậy quảng cáo và xúc tiến hàng hóa vừa là công cụ, vừa là phương tiệndẫn dắt khách hàng, nó là động lực của buôn bán
1.2.6 Tổ chức hoạt động bán hàng.
Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh.
Hoạt động bán hàng là hoạt động mang tính nghệ thuật, tác động đến tâm lý ngườimua nhằm đạt mục tiêu bán được hàng
Người bán phải đặc biệt quan tâm đến quá trình tác động vào tâm lý của kháchhàng vì những bước tiến triển về tinh thần, tâm lý, tính chủ quan và khách quan diễn
ra rất nhanh chóng trong khách hàng Sự diễn biến tâm lý của khách hàng thường
Trang 19trải qua 4 giai đoạn: Sự chú ý -> quan tâm hứng thú -> nguyện vọng mua -> quyếtđịnh mua Vì vậy, sự tác động của người bán đến người mua cũng phải theo trình tự
có tính quy luật đó Nghệ thuật của người bán hàng là làm chủ quá trình bán hàng
về tâm lý, để điều khiển có ý thức quá trình bán hàng
Để bán được nhiều hàng các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu của kháchhàng như: Chất lượng, mẫu mã, giá cả… và phải biết lựa chọn các hình thức bánhàng phù hợp Thực tế có rất nhiều hình thức bán hàng như: Bán hàng trực tiếp, bánhàng hông qua mạng lưới đại lý, bán theo hợp đồng, bán thanh thoán ngay, bánhàng trả góp và bán chịu, bán buôn, bán lẻ, bán qua hệ thống thương mại điện tử…
1.2.7. Phân tích đánh giá hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Việc phân tích và đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệpcung cấp một cái nhìn tổng thể về tình hình tiêu thụ, giúp doanh nghiệp biết đượctrong kỳ kinh doanh vừa qua doanh nghiệp có đạt được mục tiêu hay không, làm cơ
sở cho việc đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, tìm ra các yếu tố, nguyên nhânảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm, từ đó đề ra phương hướng cho hoạtđộng tiêu thụ sản phẩm trong chu kỳ tiếp theo
Phân tích và đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gồm có:Phân tích và đánh giá quy trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và phân tíchđánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm
Phân tích và đánh giá quy trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp theo một
số tiêu thức sau: Toàn bộ quá trình thực hiện hoạt động tiêu thụ sản phẩm thực tếcủa doanh nghiệp có được thực hiện một cách tuần tự theo kế hoạch đã vạch ra haykhông? Mức độ và sự tuân thủ từng khâu từng bước? Việc quyết định và xây dựngquy trình như vậy đã đầy đủ và khoa học chưa? Quy trình tiêu thụ sản phẩm đó cónhững yêu nhược điểm gì? Những điều cần bổ sung ở mỗi khâu, mỗi bước? Bổsung như thế nào? Bổ sung như vậy có tạo thêm điểm mạnh gì và có làm xuất hiệnđiểm yếu gì thêm? Viếc sửa đổi, bổ sung có lợi hay có hại nhiều hơn?
Khi phân tích đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp thường sửdụng một số chỉ tiêu: Khối lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế, khối lượng sản phẩmtiêu thụ thực tế so với kế hoạch, khối lượng tiêu thụ theo khách hàng; khối lượng
Trang 20tiêu thụ theo khu vực địa lý, khối lượng tiêu thụ theo kế hoạch và khối lượng tiêuthụ bất thường, thị phần của doanh nghiệp, tốc độ tăng thị phần, tỷ lệ hoàn thành kếhoạch… Các chỉ tiêu chung sẽ cho cái nhìn tổng quát về hoạt động tiêu thụ sảnphẩm, chiều hướng tăng hay giảm, tình hình tiêu thụ sản phẩm tốt hay xấu Còn cácchỉ tiêu cụ thể sẽ cho thấy nguyên nhân của việc tăng hay giảm khối lượng hàngbán, từ đó tìm ra cách giải quyết hợp lý.
Trong công tác đánh giá, các phương pháp chủ yếu thường được sử dụng làphương pháp thống kê và phương pháp so sánh Thông qua kết quả thống kê và sosánh để doanh nghiệp đưa ra các kết luận về tiêu thụ sản phẩm
Các doanh nghiệp thường đánh già hoạt động tiêu thụ sản phẩm theo hai hìnhthức là tự đánh giá tức là mỗi người, mỗi bộ phận tự đánh giá về mình và đánh giákhách quan tức là đánh giá của các bên có liên quan về bên được đánh giá Tronghai hình thức đánh giá này thì hình thức đánh giá khách quan thường có vai trò quantrọng hơn, thường mang tính quyết định
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty 1.3.1.1 Khối lượng và doanh mục sản phẩm
Chỉ tiêu này cho thấy cầu thị trường hướng vào doanh nghiêp, là chỉ tiêu phảnánh trực tiếp và trực quan nhất về hoạt động tiêu thụ sản phẩm, cũng như xu hướngphát triển của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp
1.3.1.2 Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Doanh thu = Khối lượng sản phẩm bán được x Đơn giá
1.3.1.3 Chí phí tiêu thụ sản phẩm
Bao gồm tất cả các chi phí có liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm như:chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí quảng cáo, chi phí vận chuyển, chi phí bến bãi,…Các doanh nghiệp đều cố gắng giảm chi phí vận chuyển, bến bãi, … nhưng các chiphí như tiêu thụ sản phẩm, quảng cáo,… thì tùy từng giai đoạn phát triển của sảnphẩm Không phải lúc nào chỉ tiêu chi phí tiêu thụ sản phẩm thấp cũng là tốt đối với
Trang 21hoạt động tiêu thụ sản phẩm Phải xem xét chi phí tiêu thụ sản phẩm trong tươngquan với khối lượng hàng bán được.
1.3.1.4 Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Đây là chỉ tiêu mà tất cả các doanh nghiệp đều quan tâm, là mục tiêu đối vớimọi doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì lợi nhuận từ hoạt độngtiêu thụ sản phẩm là lợi nhuận chủ yếu Doanh thu bao gồm toàn bộ doanh thu từhoạt động tiêu thụ sản phẩm Chi phí bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sảnphẩm
1.3.1.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Bao gồm toàn bộ khách hàng và nhu cầu của họ đối với sản phẩm của công ty.Thị trường hàng bán của công ty có thể bị thu hẹp hoặc mở rộng Thị trường củacông ty được mở rộng là dấu hiệu tốt đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công
ty và ngược lại
1.3.1.6 Khách hàng tiêu thụ chủ yếu
Là một bộ phận khách hàng hiện tại của công ty, có nhu cầu lớn và khá ổnđịnh đối với sản phẩm của công ty Số lượng khách hàng tiêu thụ chủ yếu khôngnhiều (chỉ khoảng 20% tổng số khách hàng) nhưng tiêu dùng khối lượng sản phẩmlớn (khoảng 80% tổng khối lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty) Chinh phục vàgiữ chân khách hàng lớn thường là nhiệm vụ thường xuyên liên tục có ảnh hưởngquyết định đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
Trang 22động đơn thuần như là giao nhận hàng hóa và thanh toán Vì vậy nó làm cho cácdoanh nghiệp bị động trong quá trình sản xuất, không phát huy được tính năng độngsáng tạo trong sản xuất, lợi ích không phát triển, dẫn đến doanh nghiệp làm ănkhông hiệu quả Khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vaitrò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm được xem như là sách lược của công ty và từ đóthu lợi nhuận đem lại sự phát triển cho công ty.
b.Khoa học công nghệ
Ngày nay, các yếu tố khoa học công nghệ là các yếu tố có ảnh hưởng quantrọng và trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khoa họccông nghệ phát triển mạnh mẽ là yếu tố quan trọng quyết định đến cách thức màdoanh nghiệp sẽ sử dụng và khai thác tiềm năng của mình Khoa học kỹ thuật ảnhhưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở chỗ:
+ Nếu quy trình sản xuất kinh doanh ở trình độ khoa học kỹ thuật cao thì sảnphẩm được bán ra sẽ có chất lượng tốt, độ bền cao, mẫu mã đẹp…
+ Khoa học công nghệ hiện đại tạo tiền đề cho quá trình mua bán nhanh gọn,thanh toán thuận lợi, vốn quay vòng nhanh và điệu điều kiện thuận lợi cho quá trìnhtái sản xuất
+ Nhu cầu của khách hàng sẽ càng ngày càng thỏa mãn với nhiều chủng loạisản phẩm đa dạng về công dụng và mẫu mã khi mà khoa học công nghệ cao sẽ tạođiều kiện cho việc thử nghiệm và chế tạo những loại sản phẩm mới trong thời gianngắn, do đó sẽ giúp cho quá trình tiêu thụ sản phẩm được nhanh hơn
c Yếu tố văn hóa xã hội
Các yếu tố văn hóa ảnh nhưởng tới tâm lý tiêu dùng, tâm lý mua sắm và gâyảnh hưởng đến cầu hàng hóa Nó bao gồm các yếu tố như: Đạo đức, quan niệmsống; dân số , xu hướng vận động của dân số, tỷ lệ tăng dân số; các hộ gia đình, xuhướng vân động, việc làm, dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý…
Trang 23sản phẩm của khách hàng thực hiện hành vi mua hàng
+ Khi một doanh nghiệp đưa sản phẩm vào bất kỳ một thị trường nào thìdoanh nghiệp cũng phải tìm hiểu về đặc điểm và tâm lý tiêu dùng của khách hàng,điều đó giúp doanh nghiệp hiểu được nhu cầu của khách hàng và có những bước điphù hợp
sẽ cho phép các doanh nghiệp yên tâm đầu tư phát triển cũng như việc đưa ra cácphương pháp, điều kiện kinh doanh và mở rộng mạng lưới tiêu thụ để có hiệu quảcao nhất Nắm chắc pháp luật sẽ giúp doanh nghiệp đi đúng “hành lang” của Nhànước cho phép để từ đó phát huy các khả năng và hạn chế các sai sót của mình
e Nhân tố cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ các doanh nghiệp cùng sảnxuất và kinh doanh loại hàng hóa và dịch vụ có thể thay thế nhau cho một nhu cầunào đó của người tiêu dùng Có hai loại đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp cầnquan tâm, đó là: Đối thủ cạnh tranh hiện hữu và Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩ
Kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệpphải quan tâm đến đối thủ cạnh tranh và các yếu tố cạnh tranh, bởi vì cạnh tranh ảnhhưởng rất lớn đến khả năng khai thác cơ hội kinh doanh Việc lựa chọn chiến lượccạnh tranh và các công cụ điều khiển tác động đến khách hàng được xem là tham sốquan trọng cần xác định trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 24thông tin về khách hàng và nhu cầu của họ từ đó phân tích, dự bào nhu cầu cũngnhư xu hướng của cầu.
Các doanh nghiệp cần phải quan hệ với các nhà cung ứng khác nhau về hànghóa và dịch vụ Đó là các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Đối với các doanhnghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất nói riêng vấn đề nguồn cung ứng làrất quan trọng Nó quyết định đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm từ đó ảnhhưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Các nhà cung ứng củadoanh nghiệp cũng đồng thời là các nhà kinh doanh trên thị trường, tìm kiếm vàtheo đuổi lợi nhuận vì thế các doanh nghiệp phải hiểu rõ đặc điểm của nguồn cungứng để có cách ứng xử phù hợp với các nhà cung ứng
1.3.2.2 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp có một tiềm năng riêng nhất định, nó phản ánh thế lựccủa doanh nghiệp trong quá trình xây dựng các chiến lược, kế hoạch tiêu thụ sảnphẩm, cần phải đánh giá tiềm năng đó một cách chính xác để phục vụ cho việc khaithác thời cơ Một chiến lược không được xây dựng trên cơ sở tiềm năng đã đánh giáthì sẽ bị thất bại và kéo theo đó là các chi phí vô ích Để công tác tiêu thụ sản phẩm
có hiệu quả, doanh nghiệp không những phải chú ý đến các nhân tố bên ngoài củadoanh nghiệp mà còn phải chú ý đến các nhân tố bên trong của doanh nghiệp baogồm
a Sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
Lựa chọn sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh cần được cân nhắc kỹ trước mộtquá trình kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn luônnghiên cứu nhu cầu của thị trường để biết xem sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh củadoanh nghiệp có phù hợp với nhu cầu của thị trường hay không? Từ đó có nhữngchính sách về đổi mới sản phẩm, đổi mới mặt hàng kinh doanh cho phù hợp để thuđược lợi nhuận Cũng cần nắm vững đặc thù của sản phẩm, bởi đây là cơ sở để tổchức sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng chính sách giá, cạnh tranh từ đó xácđịnh được phương án tiêu thụ thích hợp
b Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Yếu tố con người luôn có vai trò quyết định đến thàn công trong hoạt động
Trang 25kinh doanh của doanh nghiệp Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều do con ngườithực hiện Con người cung cấp số liệu đầu vào, thị trường, để hoạch định chiếnlược, kế hoạch và mục tiêu; con người thực hiện phân tích bối cảnh môi trường vàlựa chọn phương pháp và nghệ thuật kinh doanh Cho dù quan điểm, chiến lược, kếhoạch của doanh nghiệp có đề ra một cách đúng đắn, khả thi, nó cũng không thểđưa lại kết quả và hiệu quả nếu không có những con người làm việc cụ thể thànhthạo công việc, mẫn cán, trung thành và chủ động, tự giác làm việc Đặc biệt lànhân viên tiêu thụ sản phẩm, họ là cầu nối trực tiếp giữa doanh nghiệp với kháchhàng Họ là người tiếp xúc nhiều nhất với khách hàng, là người đem lại nhiều thôngtin nhất cho doanh nghiệp và là lực lượng quan trọng nhất để thực hiện các mụctiêu, các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Hoạt động marketing: người tiêu dùng biết đến các sản phẩm của doanhnghiệp thông qua các hoạt động marketing nên hoạt động này sẽ ảnh hưởng trựctiếp, rất lớn đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp
+ Uy tín của doanh nghiệp:Đây là tài sản vô hình, nó không dễ gì mà có trongthời gian ngắn Vì vậy các doanh nghiệp phải có sự cố gắng lớn trong sản xuất kinhdoanh để củng cố uy tín của mình Uy tín của doanh nghiệp mà tốt, khách hàng sẽtin tưởng vào sản phẩm thông qua hình ảnh của doanh nghiệp Sản phẩm đã có tínnhiệm thì chỉ cần nghe nói đến nhãn hiệu của nó, người tiêu dùng đã yên tâm tintưởng bỏ tiền ra mua Cho nên tín nhiệm của sản phẩm trên thị trường chính là hiệuquả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh và xét cho cùng thì đó chính là lợinhuận của doanh nghiệp
+ Ngoài ra còn một số nhân tố khác như: Hệ thống thông tin của doanhnghiệp, quản trị tài chính – kế toán, công tác tạo nguồn hàng, nề nếp văn hóa của tổchức, hay hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường…
CHƯƠNG II
Trang 26PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THƯC HÀ VIỆT
2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt
2.1.1.1 Sơ lược vài nét về công ty
Tên công ty: Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt
Tên quốc tế: Haviet food processing & trading company
Địa chỉ: Km9, Quốc lộ 1A, Pháp Vân, Hoàng Mai, Hà Nội
ĐT:84(04)38613584; Fax: 84(04)36810381; Email:sinhvh@fpt.vn
MST:0100429466
2.1.1.2.Sự ra đời và phát triển của công ty
Công ty kinh doanh và chế biến Lương thực Hà Việt là một doanh nghiệp tưnhân, được tổ chức sản xuất kinh doanh hoạch toán kinh tế độc lập, có tư cách phápnhân đầy đủ, có con dấu riêng, được phép mở tài khoản tại Ngân hàng, có quyềnquyết định các vấn đề trong quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty trong khuônkhổ của pháp luật Việt Nam
Công ty KD & CB Lương thực Hà Việt được thành lập ngày 08/09/1996 theoquyết định số 035876 của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Công ty với thươnghiệu HAVICO – VIAMI, chỉ sau một thời gian thành lập và phát triển Công ty đãngày càng lớn mạnh và tự hào là nhà cung cấp mì hàng đầu của Việt Nam, với hơn
40 loại sản phẩm, đa dạng hương vị phục vụ các nhu cầu tiêu dùng như Mì Gà nấmVIAMI, mì Tôm chanh VIAMI, mì Bò rau thơm, mì Gà quay VIAMI…
Từ một xưởng sản xuất nhỏ, dây truyền đơn giản với gần 50 công nhân đếnnay Công ty đã có 3 nhà máy lớn, khang trang, hiện đại ở Miền Bắc với số lượnggần 2000 cán bộ, công nhân viên
- Trụ sở giao dịch và nhà máy tại Hà Nội: Km 9, Quốc lộ 1A, Pháp Vân,Hoàng Mai, Hà nội
- Nhà máy tại Ninh Bình: Khu công nghiệp Gián Khẩu – Gia Viễn – Ninh
Trang 27Ban đầu việc đi vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, lực lượng cán bộ côngnhân viên chỉ có 40 – 50 người, sản xuất trên dây chuyền công suất 150 tấn/tháng.Công ty phải thuê mặt bằng tại khu vực nước sạch nông thôn thuộc quận Cầu Giấy.Nhưng với sự nỗ lực không ngừng của ban giám đốc cũng như toàn thể công nhânviên trong công ty TNHH kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt ngày càngphát triển và lớn mạnh.
Năm 1997, do nhu cầu phát triển của thị trường mỳ ăn liền ngày càng tăng,Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt đã thuê thêm mặt bằng tại công
ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu – Bộ Thương mại nằm trên Km9 – Quốc lộ 1A– Pháp Vân – Hoàng Mai – Hà Nội và khu công nghiệp Gián Khẩu – Gia Viễn –Ninh Bình, công ty đã lắp đặt thêm 3 dây truyền sản xuất mỳ ăn liền với công suất
450 tấn/ tháng, số công nhân lên tới 200 người
Năm 2004 – 2005 sau khi đã đi vào sản xuất ổn định với việc áp dụng côngnghệ mới vào quá trình sản xuất, các mặt hàng của công ty từ 10 loại nay đã lên tới
30 loại Sản phẩm của công ty đã có mặt trên thị trường nội địa và xuất khẩu vớidoanh số bán ra khoảng 70 tỷ đồng( tăng 20% so với năm trước) Đặc biệt sản phẩm
mỳ ăn liền VIAMI của công ty đã có mặt trên 30 tỉnh thành trong cả nước
Năm 2005 – 2006 trong điều kiện thuận lợi công ty đã lắp ráp thêm 2 dâychuyền sản xuất hiện đại của Đài Loan và Nhật Bản với tổng tài sản hơn 15 tỷ đồng,nâng năng suất lên từ 700 đến 1000 tấn/ tháng, góp phần tạo công ăn việc làm chomột lực lượng lao động lớm Số công nhân đã có 400 – 500 người làm việc
Năm 2006 – 2008 công ty đã mở rộng quy mô sản xuất bằng cách nhập khẩuthêm 5 dây chuyền sản xuất mới, đem lại doanh thu cho công ty lên tới hơn 130 tỷđồng Công ty đã cho ra nhiều sản phẩm đa dạng, chất lượng cao và ổn định với sản
Trang 28lượng bình quân 60.000 tấn/ năm (tương đương 70 triệu gói/tháng) Sản phẩm củaHAVICO đã được cấp chứng chỉ ISO 9001 – 2000 liên tục dành được thứ hạng caonhư cúp vàng cho thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng ( Hội chợ công nghệthực phẩm chất lượng hợp chuẩn) Huy chương vàng Hội chợ hàng hóa người tiêudùng ưa thích, huy chương vàng triển lãm hàng Việt nam chất lượng cao… Khẳngđịnh vững vàng vị thế trong nước và tạo được thương hiệu của mình trên trườngQuốc tế như: Nga, Tiệp khắc, Đức, Ma Rốc, Nam Phi, Chi Lê, Acghentina… Cóđược những điều này là do đóng góp rất lớn của 2000 cán bộ, công nhân viên vàban lãnh đạo công ty.
2.1.2.Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban của công
ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt.
- Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt là một doanh nghiệp vừa
và nhỏ, hoạch toán kinh tế độc lập Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của công ty là sảnxuất ra các lợi mỳ ăn liền Ngoài ra công ty còn sản xuất một số mặt hàng khác nhưphở, cháo ăn liền Do đặc điểm chủ yếu của công ty là sản xuất các loại mì ăn liềnnên hoạt động sản xuất kinh xuất kinh doanh của Công ty là sản xuất theo hình thứctập trung Công ty thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh từ đầu vào đếnsản xuất tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng ở trong nước và xuất khẩu.Hiện nay công ty có mạng lưới tiêu thụ sản phẩm ở khắp các tỉnh thành trong nướcthông qua các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, các đại lý tiêu thụ sản phẩm
Để đáp ứng được yêu cầu về sản xuất kinh doanh của công ty trong cơ chế thịtrường, công ty đã tập trung đầu tư phát triển theo chiều sâu kết hợp với đầu tư mởrộng và đầu tư mới nhằm kiện toàn bộ máy quản lý và sản xuất, đổi mới dây chuyềncông nghệ, thực hiện các chiến lược sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ Doanhthu của công ty ngày càng tăng, đời sống của nhân viên không ngừng được cảithiện, hàng năm công ty thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Ngân sách củaNhà nước
2.1.2.2.Bộ máy tổ chức quản lý
Trang 29a.Mô hình tổ chức bộ máy quản lý hoạt động
Sơ đồ 2: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được mô tả qua sơ đồ sau:
b Nhiệm vụ, chức năng cụ thể của các bộ phận.
Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt là một doanh nghiệp vừa
và nhỏ nên đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty là điều hành trực tuyến(từgiám đốc phân xưởng đến các phòng ban)
- Tổng giám đốc: Là người có quyền hạn cao nhất trong công ty, điều hành sảnxuất, kinh doanh và chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.Giao dịch, ký kết hợp đồng và chấp hành đúng chủ trương chính sách của nhà nướctrong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty
- Giám đốc: Giúp tổng giám đốc giải quyết các công việc, điều hành các côngviệc ở xí nghiệp, phân xưởng, mỗi giám đốc chịu trách nhiệm một lĩnh vực riêng đãđược phân công Bao gồm có: một giám đốc về sản xuất, ba giám đốc phụ tráchkinh doanh theo khu vực
Tổng Giám Đốc
Phòng
kinh doanh
Phòng hành chính
Phòng vật tư
Dàn thổi nguội
Phân xưởng
sx nêm dầu
Trang 30+ Phòng Tài chính - kế toán: Tổ chức công tác kế toán và xây dựng bộ máy kếtoán phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty Nhiệm vụ chủ yếu là: Thực hiện các công việc quản lý về tài chính chung cho toàn Công ty nhưtình hình về tài sản, chi phí, thuế, lương, thanh toán…
Lập kế hoạch tài chính (Ngắn hạn, trung hạn, dài hạn)
Kế hoạch bảo toàn và phát triển vốn được giao
Kế hoạch góp vốn, huy động vốn, quản lý vốn Doanh nghiệp
Kế hoạch về thu chi, trang bị, mua sắm khấu hao
Kế hoạch về lập quỹ và trích quỹ
Kế hoạch thực hiện thuế và các loại hình thu nộp
+ Phòng kế hoạch vật tư: Chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra và giám sát việcxuất nhập vật tư trong công ty, có trách nhiệm cung ứng vật liệu, thiết bị phục vụsản xuất kinh doanh
+ Phòng kinh doanh: Có trách nhiệm lên kế hoạch các phương án kinh doanhmới phù hợp với điều kiện của công ty, của thị trường, nhanh chóng đáp ứng đượcthị hiếu của người tiêu dùng; thực hiện các công việc thương mại nhằm tiêu thụ tối
đa số lượng sản phẩm của công ty; Thực hiện công tác nghiên cứu thị trường và đề
ra các chiến lược kinh doanh của Công ty; Phối hợp với các đơn vị của công ty để
Trang 31hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty; Tổ chức điều phối, nghiêncứu thị trường, đề xuất các mẫu mã được khách hàng ưa chuộng, kết hợp với phòng
kỹ thuật tạo ra các mẫu mã và thực hiện dịch vụ sau tiêu thụ sản phẩm; Thiết lập vàquản lý mạng lưới đại lý, đề xuất các phương án, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, cáchình thức quảng các, khuyến mại,… nhằm đẩy mạnh tiêu thụ
+ Phòng hành chính ( văn phòng của công ty): Bao gồm ban đời sống, ban tổchức hành chính, ban quản lý công, ban y tế… Bên cạnh việc quản trị, thực hiệntoàn bộ công tác hành chính trong Công ty theo quy định chung về pháp lý hànhchính hiện hành của nhà nước, nhiệm vụ chung của phòng này là giải quyết việc chichính sách đối với người lao động, phụ trách việc tiếp tân, thực hiện giao dịch đốinội, đối ngoại và tổ chức công tác bảo vệ, tài sản, hàng hóa, vật tư, thiết bị
+ Phân xưởng sản xuất mì: Lập kế hoạch sản xuất, lập kế hoạch cung ứng dựtrữ vật tư, nguyên liệu , cung cấp đầy đủ, kịp thời đúng số lượng, chất lượng theo kếhoạch sản xuất của Công ty; Lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, theo dõi giámsát việc thực hiện xây dựng cơ bản, công tác sửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị,nhà xưởng, nhà làm việc và các công trình khác trong Công ty; Phân tích, đánh giá
và lập báo cáo sản xuất hàng ngày cho ban Giám đốc và báo cáo định kỳ việc thựchiện kế hoạch sản xuất, kế hoạch cung ứng vật tư nguyên liệu, tình hình sản xuấtcủa Công ty cho ban Giám đốc Công ty
+ Phân xưởng sản xuất nêm dầu: Có nhiệm vụ pha trộn mùi vị của các loại mì.Vậy với sơ đồ quản lý như hiện nay của công ty đã đảm bào được tính gọnnhẹ, chặt chẽ và khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Cácphòng ban được phân công rõ ràng nên tránh được việc chồng chéo, đảm bảo tínhchủ động và khả năng thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3 Thực trạng của Công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt.
2.1.3.1.Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
Quy trình sản xuất mì là quy trình sản xuất đơn giản liên tục, sản xuất nhiềusản phẩm Nguyên liệu chủ yếu là bột mì, các loại dầu và phụ gia khác Quy trìnhbao gồm những bước sau:
Trang 32Sơ đồ 3: Quy trình sản xuất Mỳ ăn liền
(đường, muối, bột ngọt)
Hệ thống cối trộn bột tự động
Hệ thống lô cán thô đến mịn
Hệ thống cắt tạo sợi
Buồng hấp chín, hệ thống cắt định lượng và thẩm thấu hương liệu
E và C…Dầu chiên
Buồng thổi nguội
Phân loại sản phẩm
Đóng góiCác gói gia vị
Kiểm tra chất lượng SP (KCS)Bảo quản (nhập kho)
Trang 33- Bột mì: Chọn loại Bột mì tốt có mùi thơm đặc trưng của Bột mì Đặc biệtđảm bảo Glutein cao đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng
- Tinh bột biến tính: Là loại tinh bột để trộn với Bột mì nhằm làm tăng độ dẻo,dai và mềm khi tạo sợi mì
- Nước trộn: Để bổ sung chất dinh dưỡng vào mì ăn liền như là: Đường, Bộtngọt, Muối tinh, súp Gà hay Bò, Tôm, Nấm, Heo…( tùy theo loại mì) Chúng đượckhấy đều để hòa tan và trộn đều với bột mì đạt yêu cầu để cán Bên cạnh đó cũngtùy loại mì mà nước trộn có thể được bổ sung thêm nguyên tố vi lượng
- Cán tạo sợi: Bột sau khi trộn được đưa qua hệ thống lô cán thô đến tinhnhằm tạo thành dải bột phẳng và mịn rồi đi qua hệ thống máng cắt tạo sợi mì Tùytheo yêu cầu sản xuất mà cắt thành sợi nhỏ, sợi to, hay dẹp…
- Hấp chín và cắt định lượng: Sau khi tạo sợi, mì theo băng chuyền qua buồnghấp chín bằng hơi rồi qua cụm dao cắt định lượng cắt thành nắm mì (vắt mì) theoyêu cầu có trọng lượng: 50g, 55g, 60g, 65g, 70g, 75g, 80g, 85g, 90g…
- Thẩm thấu hương liệu: Để mì thơm ngon, trước khi chiên bổ sung thêmhương liệu vào sợi mì tùy theo chủng loại như: hành, tiêu, tỏi, ớt, hương Gà, hương
Bò, hương Nấm, hương Heo…
- Chiên mì: Mì đã thẩm thấu hương liệu được mang vào chiên trong dầushortening chất lượng cao đã được bổ sung Vitamin E, C ở nhiệt độ 150°C táchnước ra khỏi sợi mì làm cho mì chín và khô thuận tiện cho việc bảo quản
- Làm nguội và đóng gói: Mì chiên xong được chạy qua hệ thống quạt để làm nguội Sau đó chúng được phân loại và đưa vào đóng gói (tùy theo chủng loại hay yêu cầu sản xuất mà được đóng gói trong bao bì OPP hay bát, cốc…) đảm bảo nghiêm ngặt các quy định về an toàn thực phẩm, hạn sử dụng… qua hệ thống KCS trước khi xếp vào hộp carton
- Bảo quản: Sản phẩm nên được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát Tránh để tiếp xúc trực tiếp với nền đất ẩm ướt Trong điều kiện bình thường, sản phẩm có thểbảo quản được từ 6 tháng đến 8 tháng
Công ty THHH kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt có chức năngnhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các loại mỳ ăn liền, sản phẩm chính của công ty là các
Trang 34loại mì bình dân và mì cao cấp Với 4 tiêu chuẩn chất lượng của sợi mì: sợi mì tròn,sợi mì có độ dai, vàng sợi và bóng, sợi mì nở đều, Các sản phẩm của công ty đềucung cấp năng lượng vừa đủ cho sinh hoạt và làm việc bình thường của con ngườiđồng thời phù hợp với túi tiền của mọi tầng lớp dân cư trong cộng đồng Hiện tạicông ty có hơn 40 loại sản phẩm mì, trong đó các sản phẩm bán chạy nhất phải tínhđến:
Bên cạnh nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm mì, công ty còn có nhiệm vụ tiêuthụ các sản phẩm trên Hiện nay để phù hợp với nhu cầu thị trường công ty đã đưa
ra một sản phẩm mới mang nhãn hiệu mì ăn liền “ VIAMI bình dân” rất phù hợpvới thị hiếu người tiêu dùng và đây là sản phẩm bán chạy nhất của công ty
Do đặc điểm của sản phẩm là sản phẩm lương thực chế biến nên đòi hỏi quátrình sản xuất phải mang tình liên tục nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm Nếutrong quá trình sản xuất, dây chuyền sản xuất bị ngừng lại do bất kỳ nguyên nhânnào sẽ làm cho sản phẩm bị hỏng hoàn toàn từ đó sẽ gây nhiều thiệt hại cho công ty
về chi phí cũng như làm chậm quá trình sản xuất sản phẩm Do vậy không thể cósản phẩm làm dở
Một số yêu cầu quan trọng nữa là công ty phải đảm bảo vệ sinh công nghiệptốt nhất cho sản phẩm theo chế độ quy định của nhà nước như:
- Khi vào phân xưởng, toàn bộ công nhân phải mặc quần áo bảo hộ lao động
- Hàng năm, công ty tổ chức khám sức khỏe cho công nhân định kỳ một lần đểđảm bảo không có bệnh truyền nhiễm cho công nhân khi sản xuất chế biến mì ănliền
2.1.3.2.Thực trạng kết quả kinh doanh của công ty kinh doanh và chế biến lương thực Hà Việt.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi bắt đầu kinh doanh đều vì mục tiêu hiệu quả
và lợi nhuận Từ khi đi vào hoạt động kinh doanh cho đến nay công ty đã có những
Trang 35đóng góp to lớn, các sản phẩm mì của Viami đã có mặt trên tất cả các tỉnh thànhmiền Bắc và miền Trung.
Bảng 1: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006, 2007
-3- Doanh thu thuần về tiêu thụ sản
chính
8- Chi phí quản lý kinh doanh 24 2,987,892,865 3,146,954,680 3,758,654,389 9- Lợi nhuận thuần từ hoạt động
Nhìn vào bảng kết quả hoạt động kinh doanh của năm 2006, năm 2007, năm
2008 ta thấy hoạt động kinh doanh của công ty là lãi Nhưng trong năm 2007 do giánguyên vật liệu và chi phí cho lao động, tài chính tăng lên nên làm cho lợi nhuậnthu được của năm 2007 thấp hơn so với năm 2006 Còn trong năm 2008 do mở rộngmạng lưới tiêu thụ bán hàng thêm được 10 tỉnh khu vực phía bắc nên doanh thu bánhàng năm 2008 tăng lên 19% so với năm 2007 và 48,7% so với năm 2006, đây là
Trang 36một con số đáng kinh ngạc bởi trong năm 2008, do ảnh hưởng của nền kinh tế thếgiới bị khủng hoảng, rất nhiều các doanh nghiệp kinh doanh của Việt Nam khôngthoát khỏi vòng quay đó, hoặc là doanh thu giảm hoặc là phá sản thì Hà Việt lạiđứng vững và tự chủ hơn trong năm này Đây là một dấu hiệu tốt, cho thấy sảnphẩm mà Hà Việt kinh doanh luôn luôn phù hợp với nhu cầu của thị trường.
B- Tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước năm 2007
Đơn vị tính: Đồng
TRƯỚC
SỐ PHẢI NỘP KỲ NÀY
SỐ ĐÃ NỘP PHẢI NỘP SỐ CÒN
TRONG KỲ
I – Thuế 50,234,457 118,798,566 200,234,457 (31,201,434)1- Thuế GTGT hàng bán nội
địa
-2- Thuế GTGT hàng bán
-5- Thuế thu nhập của doanh
2.1.3.3 Tiền lương của công nhân viên.
Trong năm 2008 thì tiền lương của toàn bộ công nhân viên tăng lên 5% so vớinăm 2007 Đó là do hiệu quả hoạt động kinh doanh ngày càng tăng lên nên mức thunhập bình quân của người lao động cũng tăng lên đáng kể Đời sống của cán bộ