1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng phiếu học tập để tổ chức học sinh học theo nhóm hợp tác” (vận dụng phần 6 và 7 từ bài 32 đến hết bài 66, sách giáo khoa thí điểm sinh học 12 chương trình thí điểm sinh học phổ thông ban khoa học tự nhiên bộ 1 và 2

147 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 741,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng cá nhân tôi, khi thực hiện đề tài “Xây dựng phiếu học tập để tổ chức học sinh học theo nhóm hợp tác”, tôi đã gặp không ít khó khăn do chưa có đủ kinh nghiệm trong việc đặt câu hỏi

Trang 1

Lời cảm tạ

Nhận xét của giáo viên hướng dẫn

Nhận xét của giáo viên phản biện

Mục lục

Tóm tắt

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1 CÁC ĐỊNH HƯỚNG TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC TÍCH CỰC 3

1.1 Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về học tập 3

1.2 Định hướng 2: Thu nhận và tổng hợp kiến thức 3

1.3 Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức 4

1.4 Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả 4

1.5 Định hướng 5: Thói quen tư duy 4

2 DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ 6

2.1 Bản chất dạy học nêu vấn đề 6

2.2 Cấu trúc dạy học nêu vấn đề 6

2.3 Việc sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề .7

3 DẠY HỌC KHÁM PHÁ THEO NHÓM HỢP TÁC 7

3.1 Định nghĩa 7

3.2 Ưu điểm của dạy học khám phá theo nhóm hợp tác 7

3.3 Cấu trúc DHKP 8

3.4 Mối liên hệ giữa DHKP và DHNVĐ 8

Trang 2

HỌC SINH HỌC 10

4.1 Khái niệm phiếu học tập (PHT) 10

4.2 Cấu trúc PHT 11

4.3 Yêu cầu sư phạm của PHT 11

4.4 Xây dựng PHT 11

4.5 Sử dụng PHT trong dạy học 12

5 SỬ DỤNG CÂU HỎI BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12

5.1 Khái niệm về câu hỏi-bài tập 12

5.2 Vai trò của câu hỏi, bài tập trong học tập 13

5.3 Cấu trúc câu hỏi, bài tập 13

5.4 Qui trình và kỹ thuật thiết kế câu hỏi, bài tập sinh học 13

5.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi cho từng bài trong chương trình sinh học phổ thông 14

5.6 Yêu cầu sư phạm của câu hỏi, bài tập 14

5.7 Phân loại câu hỏi, bài tập sinh học: 15

5.8 Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học ở trường THPT 15

5.9 Ví dụ về sử dụng Phiếu học tập trong dạy học Sinh học phổ thông 15

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN 18

1 PHƯƠNG PHÁP 18

2 PHƯƠNG TIỆN 18

PHẦN IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19

PHÂN TÍCH CÁC LỆNH Ở HAI BỘ SÁCH 20

Trang 3

1 KẾT LUẬN 75

2 ĐỀ NGHỊ 75

Trang 4

hợp tác” (vận dụng phần 6 và 7 từ bài 32 đến hết bài 66, sách giáo khoa thí điểm sinh học 12 - Chương trình thí điểm sinh học phổ thông - Ban khoa học tự nhiên - Bộ 1 và 2), tôi đã xây dựng được 47 phiếu học tập và 47 phiếu đáp án.

Nội dung quyển luận văn gồm 5 phần chính:

- Phần I Đặt vấn đề: nêu lên cơ sở thực hiện, tính thiết thực của việc xây dựng phiếu học tập để tổ chức dạy học khám phá trong nhà trường phổ thông.

- Phần II Lược khảo tài liệu: cơ sở lý thuyết của các phương pháp dạy học tích cực, cấu trúc và chức năng phiếu học tập.

Trang 5

- Phần IV Kết quả thảo luận

+ Sơ lược các lệnh trong sách giáo khoa ở hai bộ sách, phân tích từng lệnh.

+ Mục tiêu và cách vận dụng các phiếu học tập.

- Phần V Kết luận và đề nghị

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục: phiếu học tập và phiếu đáp án.

Trang 6

Trang 7

Trang 8

khăn hàng đầu do còn non trẻ về kinh nghiệm cũng như chưa vững chắc về kỹ

năng Riêng cá nhân tôi, khi thực hiện đề tài “Xây dựng phiếu học tập để tổ chức

học sinh học theo nhóm hợp tác”, tôi đã gặp không ít khó khăn do chưa có đủ

kinh nghiệm trong việc đặt câu hỏi để tổ chức các nhóm học sinh thảo luận theophương pháp tích cực nhằm phát huy tính độc lập, tự chủ Chính vì thế, đề tài của

tôi sẽ khó thành công nếu không có sự chỉ dẫn tận tình của thầy Đào Đại

Thắng-một giảng viên đầy kinh nghiệm về lĩnh vực phương pháp Dưới sự hướng dẫn củathầy, tôi không những học tập được nhiều về chuyên môn mà cả cách làm việckhoa học, làm việc độc lập và có phương pháp

Tôi xin chân thành cảm ơn:

-Thầy Đào Đại Thắng- giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài.-Thầy Lê Phước Lộc-Trưởng khoa Sư phạm trường Đại học Cần Thơ; côPhan Thị Mai Khuê-Trưởng Bộ môn Sinh; cô Nguyễn Mỹ Tín-Phó trưởng Bộ mônSinh; cô Huỳnh Thị Thúy Diễm-giảng viên tổ phương pháp, cố vấn học tập lớp SPSinh K28; thầy Đỗ Trọng Hồng Phúc, cán bộ giảng dạy bộ môn

-Các bạn cùng lớp và những người thân của tôi đã quan tâm, động viên, giúp

đỡ tôi vượt qua nhiều khó khăn để thực hiện đề tài

Mặc dù được sự quan tâm giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và nhiều thầy côkhác, quyển luận văn của tôi có lẽ cũng sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót Kínhmong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cũng như bạn bè để quyển luận văn nàyđược hoàn thiện hơn

Cần Thơ, ngày 12, tháng 6, năm 2006

Trang 9

- Vũ Văn Vụ và ctv 2002 Sinh học 12 (Sách giáo khoa thí điểm-Ban KHTN-Bộ

- Lê Phước Lộc 2002 Lý luận dạy học Tủ sách ĐHCT.

- Phan Thị Mai Khuê 1999 Nhiệm vụ của người giáo viên sinh học Tủ sách

ĐHCT

- Đào Đại Thắng 1999 Chuyên đề dạy học giải quyết vấn đề Tủ sách ĐHCT.

- Đào Đại Thắng 2005 Chuyên đề sử dụng câu hỏi, bài tập và phiếu học tập trong

dạy học sinh học ở trường trung học phổ thông Tủ sách ĐHCT.

- Phan Thị Mai Khuê và ctv 2001 Học hợp tác và chiến lược hòa nhập Tủ sách

ĐHCT

- Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành 2003 Lý luận dạy học sinh học.

NXBGD

- Claude A Villee 1963 Biology W B Sauders company.

- Ban từ điển bách khoa sinh học 2003 Từ điển bách khoa sinh học Nhà xuất bản

khoa học và kỹ thuật

- Luận văn tốt nghiệp các sinh viên khóa trước

Trang 10

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tậptrung sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sựquản lý của nhà nước Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001- 2010 đã nêu rõ:

“để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự pháttriển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo một bướcchuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục”

Muốn thực hiện mục tiêu giáo dục hiện đại thì giáo dục cũng phải cóphương pháp hiện đại, nghĩa là phải làm sao đổi mới quan điểm lấy người dạy làmtrung tâm sang lấy người học làm trung tâm, chuyển từ phương pháp dạy họctruyền thống sang phương pháp dạy học tích cực Tolstoy có nói: “điều quý báucần biết không phải là quả đất tròn mà làm thế nào để đi đến kết luận ấy”, đã đến

Trang 11

đổi mới chứ không còn chỉ là những hình thức hô hào suông…

Chủ tịch Phạm Văn Đồng đã từng nêu: “…trong nhà trường, điều chủ yếukhông phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức

là cần thiết Điều chủ yếu là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phươngpháp suy luận, phương pháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương

pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề…”( Hãy tiến trên mặt trận Khoa học

& Kỹ thuật”, NXB Sự thật, 1969).

Định hướng chung của phương pháp dạy học tích cực là phải rèn luyện, bồidưỡng thói quen tư duy của học sinh, tăng cường công tác độc lập, tự chủ và hoànthiện nhân cách học sinh Trong những phương pháp dạy học hiện nay, phươngpháp dạy học nêu vấn đề, dạy học khám phá đang được khuyến cáo sử dụng

Ở phương pháp dạy học khám phá, người giáo viên có thể định hướng hoạtđộng tư duy của học sinh Hơn nữa, qua đánh giá hoạt động của học sinh, giáo viên

có thể điều chỉnh phương pháp dạy cho phù hợp Thông qua hoạt động trongnhóm, học sinh có thể tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn kiến thức của bản thân - cơ sở

để hình thành phương pháp tự học Học trong nhóm, thảo luận trong nhóm, hànhđộng vì lợi ích chung của nhóm cũng chính là nền tảng để học sinh đúc kết kinhnghiệm và quan điểm sống trong thời đại mới, trong xã hội Việt Nam hiện đại: tiếpthu cái mới có chọn lọc và sáng tạo, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước tiến bộtrên thế giới trên cơ sở hòa bình, tự chủ và độc lập

Để cuốn hút HS vào hoạt động tập thể, tạo bầu không khí học tập sôi nổi,người giáo viên cũng cần phải có phương tiện dạy học Phương tiện dạy học phongphú kết hợp phương pháp và nội dung thích hợp sẽ góp phần đưa đến sự thànhcông của người giáo viên Ngay cả những nhà khoa học giỏi cũng cần có nhữngdụng cụ để sử dụng, Galilê sẽ không thể nhìn thấy mặt trăng và sao mộc nếu không

có kính viễn vọng, Pasteur đã không thể thành công với các công trình của mìnhnếu không có kính hiển vi…Nói cách khác, phương tiện dạy học chính là vũ khí

Trang 12

Đối với môn Sinh học, một môn khoa học tự nhiên nhưng lại vô cùng sinh

động và gần gũi với đời sống thực tế, việc sử dụng các phương tiện trực quan vớicác hình ảnh minh họa sống động sẽ hỗ trợ người giáo viên rất nhiều trong việcđiều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Một trong các phương tiện dạy học

được sử dụng để triển khai phương pháp dạy học khám phá tốt nhất là Phiếu học

tập Phiếu học tập được thiết kế với những trang giấy có nội dung hấp dẫn, yêu cầu

học sinh làm việc trong một thời gian ngắn tại lớp kèm theo những hình ảnh và sơ

đồ minh họa sẽ hình thành cho học sinh khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề,củng cố nội dung đã học, bồi dưỡng cho các em thói quen tự làm việc và hợp táctích cực để đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, tôi nhận thấy rằng sử dụng phương tiệndạy học bằng cách xây dựng phiếu học tập để tổ chức học sinh học theo nhóm hợptác là một chủ đề vô cùng lý thú và thiết thực đối với bản thân, đặc biệt là trongviệc làm quen với nội dung và định hướng phương pháp dạy học tích cực nội dungsách sinh học phổ thông theo chương trình cải cách năm học trong những năm sắp

tới Hơn nữa, với đề tài “Xây dựng phiếu học tập để tổ chức học sinh học theo

nhóm hợp tác” (vận dụng phần 6 và 7 từ bài 32 đến hết bài 66, sách giáo khoa thí điểm sinh học 12 - Chương trình thí điểm sinh học phổ thông - Ban khoa học tự nhiên - Bộ 1 và 2), tôi hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo thiết thực cho

các bạn sinh viên cùng khóa cũng như các sinh viên khóa sau trong việc tìm kiếmgiải pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục, góp phần thực hiệnmục tiêu phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, trước hết là cải biến thực trạng giáodục ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 13

(Extending and refining knowledge)

Mục tiêu cần đạt được của quá trình dạy học là phải làm sao để HS biến kiến

thức giáo khoa thành tri thức của mình, các em có thể phát biểu kiến thức ấy bằng

ngôn ngữ riêng và có thể sử dụng nó như công cụ của mình Để làm được việc đó,

HS phải vận dụng nhiều Thông qua vận dụng, HS mới có thể sử dụng và phát triển

tổng hợp các quá trình tư duy và suy luận, bao gồm: so sánh, phân loại, qui nạp,

suy diễn, phân tích lỗi, xây dựng sự ủng hộ, trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân

tích quan điểm

Để mở rộng và tinh lọc kiến thức, cần lưu ý 2 vấn đề cơ bản sau:

+ Xác định nội dung cụ thể cần mở rộng và tinh lọc

+ Quyết định sử dụng hoạt động gì (so sánh, phân loại, qui nạp…) để mở

rộng và tinh lọc kiến thức

1.4 Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả

( Using knowledge meaningfully )

Mục đích của việc mở rộng và tinh lọc kiến thức là để vận dụng kiến thức đó

một cách có ý nghĩa Trong định hướng 4, HS được GV cung cấp những cơ hội rõ

ràng để áp dụng kiến thức một cách có hiệu quả Định hướng 4 là yếu tố then chốt

của 5 định hướng Hiệu quả của định hướng 4 phụ thuộc vào việc xây dựng kế

hoạch của GV và sự hợp tác của HS

1.5 Định hướng 5: Thói quen tư duy

( Habits of mind )

Trang 14

phát triển tư duy cho HS để các em có thể tự học tốt hơn, học tiếp tục và học suốt

đời Đó chính là nột dung của Định hướng 5

* Việc sử dụng các định hướng cho quá trình dạy học

Khi chuẩn bị các bài dạy theo 5 định hướng của Marzano, cần chú ý trả lời

các câu hỏi sau:

Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về học tập

1 Cần làm gì để tạo ra bầu không khí học tập vui tươi, thoải mái để HS có thể bắt

đầu một giờ học tích cực

- Bầu không khí vật lý: ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, không gian…

- Bầu không khí tâm lý : bình đẳng, an tâm, hợp tác, sự quan tâm lẫn nhau…

Trang 15

2 Cần làm gì để HS có thái độ tích cực và sẵn sàng nhập cuộc?

- HS thấy thích thú với chủ đề học

- HS thấy lợi ích của bài học

- HS tham gia vào sự hợp tác giữa thầy - trò, trò - trò trong việc giải quyết nội

dung bài học

Định hướng 2: Thu nhận và tổng hợp kiến thức

Kiến thức thông báo:

1 Bài học có những thông tin cơ bản nào?

2 Những kinh nghiệm, ví dụ nào ngoài bài giảng có thể sử dụng vào xây dựng sự

hiểu biết những thông tin của bài giảng này?

3 Có thể sử dụng kiến thức có sẵn hay kinh nghiệm của HS để các em có thể tham

gia vào bài giảng (kiến thức đã học, thực tế, sử dụng sơ đồ, cách ghi nhớ…)

4 Cần làm gì để sắp xếp, hệ thống lại kiến thức cho HS?

5 Cách ghi nhớ?

Kiến thức quy trình:

1 Kỹ năng nào HS đã có, kỹ năng nào cần rèn luyện?

2 Quy trình có mấy bước?

3 Bước nào cần luyện tập trên lớp và luyện tập như thế nào?

4 Hướng dẫn tự luyện tập ở nhà như thế nào?

Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức

1 Kiến thức nào cần mở rộng, mở rộng như thế nào?

2 Sử dụng hoạt động tư duy nào để mở rộng kiến thức?

3 Sử dụng hoạt động tư duy nào để tinh lọc kiến thức?

Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả

Trang 16

quyết tình huống sáng tạo…) như thế nào?

2 Sản phẩm của việc sử dụng kiến thức là gì?

3 Hình thức hoạt động của HS (nhóm, cá nhân, ngoài lớp…) ?

Định hướng 5: Thói quen tư duy

1 Thói quen tư duy nào cần lưu ý trong bài?

2 Rèn luyện quá trình tư duy như thế nào?

GV cần lưu ý không phải cả 5 định hướng đều có thể áp dụng trong nội dung

một bài học, do đó cần phải lựa chọn định hướng sao cho phù hợp với nội dung

Tất nhiên, Định hướng 1 bao giờ cũng cần thiết được sử dụng để “mở màn” cho

một quá trình dạy học tích cực Khi soạn giáo án, GV cần ghi rõ ứng với nội dung

nào, sử dụng định hướng nào

HÌNH Sử dụng 5 định hướng của Marzano

Trang 17

2 DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ

2.1 Bản chất dạy học nêu vấn đề

2.1.1 Kiểu dạy học nêu vấn đề ( DHNVĐ )

Kiểu DHNVĐ là tập hợp nhiều phương pháp dạy học cụ thể nhằm tổ chức

hoạt động nhận thức của HS theo con đường hình thành và giải quyết vấn đề

[Thắng, 2002].Trong phương pháp DHNVĐ, mọi hoạt động của thầy đều hướng

vào một mục đích là kích thích hỗ trợ để HS tìm kiếm lời giải của bài toán, thầy

giữ vai trò chỉ đạo trên cơ sở lấy HS làm trung tâm

Vấn đề được xây dựng dựa trên một phương pháp dạy học cụ thể nào đó như

diễn giảng đàm thoại, đàm thoại, thí nghiệm,… Khi đó, phương pháp này được gọi

là diễn giảng NVĐ, thí nghiệm NVĐ…

2.1.2 Tình huống có vấn đề

2.1.2.1 Tình huống ( TH )

Trong giao tiếp và thông tin liên lạc, có những thông tin không chỉ thuần túy

là để biết mà còn làm cho các đối tác phải suy nghĩ, thậm chí phải tư duy tích cực

Cái gì đã làm cho họ phải suy nghĩ? Đó là những mâu thuẫn ẩn chứa bên trong

những thông tin ấy Mâu thuẫn giữa các sự việc có thể diễn ra bình thường với điều

Trang 18

với cái phi logic.

2.1.2.2 Tình huống có vấn đề (THCVĐ)

TH chỉ có thể thật sự trở thành THCVĐ khi được chủ thể chấp nhận giải

quyết một cách tự nhiên, không bị ép buộc Khi đó, những chủ thể chấp nhận TH

như trên đã ở trong trạng thái tâm lý đặc biệt, trạng thái tâm lý ấy được gọi là

THCVĐ [Lộc, 2002]

Trong quá trình dạy học, khi quá trình nhận thức vốn tri thức chung của nhân

loại của chủ thể đã vấp phải TH giữa vốn hiểu biết của bản thân với nội dung một

khái niệm, một quy luật mới nào đó thì sẽ xuất hiện vấn đề, vấn đề đó là vấn đề

+ Bài tập, câu hỏi thực tiễn

+ Tạo tình huống có vấn đề mới

2.3 Việc sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề [Lộc, 2002]

DHNVĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong dạy học hiện đại Về mặt lý

luận dạy học, kiểu phương pháp này đạt đồng thời các mục tiêu như: thu hút sự chú

Trang 19

chỉ đạo của thầy và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trò… Đặc biệt, có thể

thấy ngay “hiệu ứng” của phương pháp: HS nêu được giả thyết, HS biết vạch kế

hoạch

Tuy nhiên, không phải bài học nào cũng có thể áp dụng phương pháp

DHNVĐ bởi lẽ để có một bài dạy theo kiểu NVĐ, người GV cần phải có sự đầu tư

nghiên cứu sâu sắc, phải thuần thục các kỹ năng thao tác hoạt động trên lớp, phải

nắm vững trình độ tư duy của HS để tiến hành can thiệp vào các khâu của quá trình

nêu vấn đề, giải quyết vấn đề

3 DẠY HỌC KHÁM PHÁ THEO NHÓM HỢP TÁC

Dạy học hiện đại - dạy học tích cực hóa hoạt động học tập của HS dựa trên

nguyên tắc GV giúp HS tự khám phá trên cơ sở tự giác và được tự do suy nghĩ,

tranh luận, đề xuất giải quyết vấn đề GV trở thành người hướng dẫn, HS trở thành

người khám phá, người thực hiện và cao hơn nữa là nhà nghiên cứu

Vậy dạy học khám phá là gì? Nó được tiến hành như thế nào trong quá trình

dạy học?

3.1 Định nghĩa

3.1.1 Khái niệm dạy học khám phá (DHKP)

DHKP là GV tổ chức HS học theo nhóm nhằm phát huy năng lực giải quyết

vấn đề và tự học cho HS

DHKP đòi hỏi người GV phải gia công rất nhiều để chỉ đạo hoạt động nhận

thức của HS Hoạt động của người GV bao gồm định hướng phát triển tư duy cho

HS, tổ chức HS thảo luận, lựa chọn phương tiện hỗ trợ thích hợp… GV phải làm

thế nào để đảm bảo các thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận tích

cực Đó là một nhiệm vụ không mấy dễ dàng, đòi hỏi sự nổ lực đầu tư rất lớn của

người GV vào nội dung bài dạy

3.1.2 Học hợp tác là gì?

Trang 20

việc để mở rộng tối đa việc học của họ và của cả các thành viên khác trong nhóm

[Chi, 2002]

- Trong việc học hợp tác, HS phải tự lực, học là cái HS làm chứ không phải

là cái người khác làm cho họ Nó đòi hỏi sự tham gia trực tiếp và tích cực của HS

3.2 Ưu điểm của dạy học khám phá theo nhóm hợp tác

Hợp tác là cách giảng dạy ít sử dụng nhất nhưng lại là cách giảng dạy hiệu

quả nhất nhằm giúp cho HS nâng cao thành tích, kích thích sự phát triển tư duy,

phát huy lòng tự trọng và yêu thích trường lớp

DHKP là phương pháp dạy học ưu việt bởi nó có một số ưu điểm nổi bật:

- Phát huy được nội lực của HS, tư duy tích cực - độc lập - sáng tạo trong

quá trình học tập

- Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp lòng

ham mê học tập của HS – Đó chính là động lực của quá trình dạy học

- Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri

thức của bản thân, là cơ sở hình thành phương pháp tự học - Đó chính là động lực

thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống

- Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của HS được tổ chức thường xuyên là

phương thức để HS tiếp cận phương pháp nêu và giải quyến vấn đề

- Đối thoại thầy - trò, trò - trò đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, và góp

phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội

Trang 21

Thực chất DHKP là một phương pháp hoạt động thống nhất giữa thầy với

trò để giải quyết vấn đề học tập phát sinh trong nội dung của tiết học

3.4 Mối liên hệ giữa DHKP và DHNVĐ

Đặc trưng của DHKP là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ của các nhóm học

tập, là tiền đề để giải quyết các vấn đề lớn với nội dung rộng trong DHNVĐ Vì

thế, DHKP có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài trong khi

DHNVĐ chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một vấn đề lớn, có mối liên

quan logic với nội dung kiến thức cũ Tuy thế, DHKP có thể thực hiện lồng ghép

trong khâu giải quyến vấn đề của DHNVĐ, nếu áp dụng thường xuyên sẽ là điều

kiện thuận lợi cho việc vận dụng DHNVĐ

3.5 Tổ chức DHKP theo nhóm hợp tác

3.5.1 Hoạt động của GV

3.5.1.1 Xác định mục đích

-Về nội dung:

+ Vấn đề học tập chứa đựng nội dung kiến thức mới

+ Tại sao lựa chọn vấn đề này mà không chọn vấn đề khác có trong bài

giảng?

+ Vấn đề đã lựa chọn liệu khả năng HS có thể tự khám phá được

không?

- Về phát triển tư duy:

Trong quá trình giải quyết vấn đề, hoạt động tư duy đặc trưng nào được định

hướng để phát triển cho HS? Đây chính là điểm ưu việt của DHKP so với các

phương pháp dạy học khác

3.5.1.2 Vấn đề học tập

Trang 22

lựa chọn vấn đề quan trọng trong nội dung bài học Khi lựa chọn vấn đề học tập

cần chú ý một số điều kiện sau đây:

+ Vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới

+ Vấn đề thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ (thời gian

làm việc từ 5-10 ph)

+ Vấn đề học tập phải vừa sức của HS và tương ứng với thời gian làm

việc

3.5.1.3 Vai trò cần thiết của phương tiện trực quan trong DHKP

Các đồ dùng dạy học và phương tiện kỹ thuật dạy học có ý nghĩa to lớn

trong quá trình dạy học:

+ Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn

+ Giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập môn

học, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học

+ Giúp phát triển năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là năng lực quan

sát, năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra các kết luận có độ

tin cậy)

+ Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp và điều khiển hoạt động

nhận thức của HS, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS cũng thuận lợi

Trang 23

Vd: bố trí chỗ ngồi theo hình chữ O, chữ U, hình vuông…

Khi bố trí chỗ ngồi, cần lưu ý:

+ Thành viên trong nhóm phải ngồi gần vào nhau (“mắt chạm mắt”, “gối

chạm gối”) để trao đổi ý kiến với nhau

+ Tất cả HS có thể nhìn bạn đứng trước lớp mà không phải xoay ghế

hoặc không thoải mái

+ Các nhóm phải cách xa nhau để không gây trở ngại cho việc học của

nhau và có chừa lối đi để GV có thể dễ dàng đi đến từng nhóm

+ Việc sắp xếp và quản lý lớp có tạo điều kiện cơ động cho HS di

chuyển giữa các nhóm một cách có trật tự không?

- Số lượng HS trong nhóm tuỳ thuộc vào mục tiêu bài học, độ tuổi HS và

kinh nghiệm làm việc trong nhóm, chương trình tài liệu và dụng cụ hiện có, lượng

thời gian giới hạn cho mỗi bài học

- Khi quyết định số lượng HS trong nhóm cần nhớ:

+ Số lượng HS trong nhóm càng cao, kiến thức chuyên môn và kỹ năng,

số lượng đầu óc để tiếp thu và xử lý thông tin cũng cao

+ Trong một đôi, HS chỉ kiểm soát 2 tác động qua lại với nhau, nhóm 3

người có đến 6 tác động qua lại, nhóm 4 người có đến 12 tác động qua lại…

+ Nhóm càng đông, sự liên hệ chặt chẽ giữa các thành viên càng giảm

và tinh thần trách nhiệm cá nhân cũng giảm

+ Thời gian ít, số lượng HS/ nhóm càng nên ít

+ Nhóm càng ít, HS càng có tinh thần tự lập

+ Nhóm càng ít, GV càng dễ tìm ra những khó khăn HS có thể gặp phải

khi cùng nhau làm việc

- Chú ý khả năng nhận thức của các HS trong mỗi nhóm để đảm bảo sự hợp

tác mang lại hiệu quả

Trang 24

khó giải quyết vấn đề đưa ra.

- Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường: để thuận tiện cho việc di chuyển,

mỗi lớp nên chỉ có từ 25- 30 HS

Trong điều kiện thực tế hiện nay, chúng ta có thể khắc phục bằng cách cho

các HS ngồi cùng bàn là một nhóm hoặc là HS ngồi bàn trước quay lại với HS

ngồi bàn sau làm thành một nhóm, do đó sự hợp tác giữa các HS trong học tập

- Sự hợp tác trong từng nhóm : đó là sự tranh luận trao đổi ý kiến giữa các

thành viên trong một nhóm để tìm ra quan điểm chung trong tiến trình khám phá

vấn đề

- Sự hợp tác giữa các nhóm :

+ Mỗi nhóm trình bày tóm tắt nội dung kết quả khám phá vấn đề của

mình dưới sự chỉ đạo của GV GV sẽ lựa chọn những phán đoán, kết luận đúng của

các nhóm để hình thành kiến thức mới (thông thường do giới hạn thời gian GV chỉ

cần cho 1-3 nhóm trình bày)

Trang 25

GV không cần thiết phân tích những kết luận sai, chưa chính xác mà chỉ nêu

kết luận đúng của từng nhóm, từ đó mỗi HS sẽ tự đánh giá, tự điều chỉnh nội dung

vấn đề

Tùy theo từng vấn đề học tập dễ hay khó mà GV có thể vận dụng hoặc cả

hai hình thức học tập nói trên

- Hoạt động hợp tác học tập tích cực của HS thể hiện qua các yếu tố :

+ Mỗi HS, mỗi nhóm tích cực phát biểu và tranh luận

+ Đa số các nhóm đều phát hiện được nội dung bản chất của vấn đề, tuy

nhiên có thể ở vài nhóm sự khái quát chưa đầy đủ và chính xác

+ GV thu nhận được thông tin về quá trình tư duy của HS trong quá

trình giải quyết vấn đề Đó chính là mối liên hệ nghịch cần thiết để GV tự điều

Phiếu học tập (PHT) là những trang giấy có nội dung hướng dẫn yêu cầu HS

làm việc trong một thời gian ngắn tại lớp học

Những vấn đề yêu cầu HS làm việc tại lớp thường là những nội dung nhỏ

trong bài học, như tìm tòi phát hiện kiến thức mới qua hình ảnh, sơ đồ, phân tích

sơ đồ, biểu đồ, số liệu thống kê để rút ra những kết luận cần thiết, lập bảng so sánh,

hệ thống kiến thức, vận dụng và giải quyết những vấn đề nhỏ phát sinh trong học

tập, cuộc sống…

4.1.2 Vai trò PHT trong dạy học

PHT là một phương tiện để tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS nhằm

lĩnh hội hoặc củng cố kiến thức Qua việc giải quyết vấn đề học tập trong PHT, HS

Trang 26

- Khả năng tự học

- Tư duy mềm dẻo linh hoạt trước những tình huống, yêu cầu khách quan

- Thói quen tự làm việc và hợp tác tích cực trong nhóm để đạt hiệu quả cao

trong học tập và cuộc sống

PHT còn là phương tiện hữu hiệu để tạo tâm lý học tập tích cực, tạo sự hưng

phấn của HS khi tham gia hoạt động nhóm

4.1.3 Phân loại PHT

Căn cứ vào mục đích của hoạt động tổ chức dạy học, PHT được chia làm hai

loại:

- PHT hình thành kiến thức mới

PHT loại này thường có những yêu cầu sau: từ những hiện tượng riêng lẻ

quy nạp thành các khái niệm cụ thể, quan sát các phương tiện trực quan, phân tích

các sơ đồ, biểu đồ để rút ra kết luận chung khái quát, dựa vào kiến thức cũ phát

hiện từng phần nội dung kiến thức mới

Thường vấn đề học tập đề cập đến trong loại PHT này là những vấn đề nhỏ

nhưng trọng tâm, những kiến thức toàn phần để HS khái quát hoá thành dấu hiệu

chung, bản chất

- PHT củng cố, hệ thống kiến thức

Với mục tiêu khắc sâu kiến thức trọng tâm và vận dụng kiến thức mới PHT

loại này thường có những yêu cầu như: giải thích một hiện tượng, tính chất nào đó,

phân tích mối liên quan giữa các khái niệm qua sơ đồ khái niệm, lập bảng so sánh

các khái niệm, hệ thống lại các vấn đề, giải thích các hiện tượng xảy ra trong tự

nhiên và cuộc sống, giải các bài tập nhỏ…

4.2 Cấu trúc PHT

- Vấn đề học tập

Trang 27

- Kết quả học tập

4.3 Yêu cầu sư phạm của PHT

- Hình thức trình bày trên PHT phải rõ ràng, đẹp, tạo sự hứng thú học tập

PHT thường chọn khổ giấy A4 có chừa chỗ trống cho HS ghi kết quả học tập

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế hiện nay, GV có thể thiết kế PHT sử dụng

được nhiều lần, lâu dài Nội dung PHT có thể lọc bỏ phần kết quả học tập, GV yêu

cầu HS thực hiện phần trả lời trên giấy riêng Thực hiện theo cách này, GV có thể

thu hồi giấy lại Mặt khác, không gian phiếu rộng hơn sẽ nhường chỗ cho những

hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Như vậy, vấn đề học tập sẽ được thể hiện rõ hơn, bắt

mắt hơn.

- Nhiệm vụ học tập nêu trên PHT đảm bảo tính vừa sức, hợp lý trong một

thời gian ngắn

- Trên PHT phải thể hiện được ý tưởng giảng dạy của GV

- PHT thể hiện được yêu cầu HS làm việc hợp tác với nhau trong nhóm học

tập

- Vấn đề học tập trên PHT nên phân chia nhỏ từ dễ đến khó để HS trong lớp

với tất cả các khả năng khác nhau đều tham gia hoạt động Sự thành công nhỏ

trong hoạt động học tập là sự cổ vũ hình thành động cơ học tập tích cực ở mỗi cá

nhân

4.4 Xây dựng PHT

Việc xây dựng PHT bao gồm các bước sau:

- Lựa chọn vấn đề học tập (VĐHT )

Việc lựa chọn VĐHT cần dựa trên mục tiêu xác định của bài dạy: hình thành

kiến thức mới hay củng cố, khắc sâu kiến thức trọng tâm đã học Khi lựa chọn vấn

đề cần cân nhắc tại sao lại lựa chọn vấn đề ấy, vấn đề đã lựa chọn có khoảng bao

nhiêu % số HS trong lớp giải quyết được Đây là bước quan trọng quyết định hiệu

Trang 28

vấn đề đưa ra có phát huy năng lực HS hay không, từ đó điều chỉnh cho hợp lý.

- Xác định mục tiêu của PHT: đó là kiến thức và những kỹ năng cần hình

thành cho HS

- Phương pháp thể hiện VĐHT

VĐHT thường được khai thác từ những hình ảnh, sơ đồ, biểu bảng…có hiệu

quả kích thích sự hào hứng trao đổi, tranh luận của HS thông qua các hoạt động tư

duy nhóm

Một số VĐHT được khai thác trong SGK, còn có những VĐHT do GV tự

tìm tòi, xây dựng

Hệ thống câu hỏi mà GV xây dựng phải có tác dụng định hướng, gợi mở,

dẫn dắt hoạt động giải quyết vấn đề của HS Câu hỏi và bài tập đưa ra nên trải đều

ở các mức độ từ dễ đến khó để kích thích khả năng hợp tác của các đối tượng HS

- Xây dựng PHT: nếu có 2-3 vấn đề ngắn gọn trong cùng một bài thì có thể

trình bày trên một PHT PHT phải đáp ứng các yêu cầu sư phạm cần thiết

- Mỗi PHT nên thể hiện là:

+ PHT vận dụng ở bài nào

+ Mỗi vấn đề nêu

+ Trình tự vấn đề nêu ra theo định hướng giảng dạy của GV

4.5 Sử dụng PHT trong dạy học

PHT có thể vận dụng vào các phương pháp học tập khác nhau như: diễn

giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, biểu diễn thí nghiện trực quan…đều có hiệu quả hình

thành kỹ năng giải quyết vấn đề, thái độ tích cực trong học tập

câu hỏi và phương tiện, hình ảnh, sơ đồ…

trả lời…

Trang 29

Sử dụng PHT trong dạy học thường tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: GV phát PHT cho từng nhóm, xác định thời gian hoạt động,

hướng dẫn cách làm việc của HS trên PHT

( Việc phân nhóm HS : xem 3.5.1.4)

- Bước 2: HS hoạt động theo nhóm và ghi lại kết quả học tập

GV bao quát lớp, nhắc nhở các nhóm không làm việc, duy trì sự ổn định

trong lớp

- Bước 3: Báo cáo kết quả học tập của nhóm

Do thời gian hạn định, GV yêu cầu một nhóm báo cáo kết quả học tập của

mình Nếu chưa hoàn chỉnh thì yêu cầu các nhóm khác bổ sung GV có thể giải

thích, thống nhất những điểm khác nhau giữa các nhóm và tóm tắt hình thành kiến

thức mới

* Trong quá trình tổ chức hoạt động học tập trên PHT, cần lưu ý một số

vấn đề sau:

- GV nên quan sát và giúp đỡ các nhóm đều làm việc

- Có biện pháp khích lệ HS tự giác như lời khen, điểm thưởng…

- Đối với các VĐHT mà nội dung đã trình bày trong SGK thì yêu cầu HS

gấp sách lại trước khi phát phiếu để mang lại hiệu quả tư duy

- Có thể sử dụng kết hợp PHT với các phương tiện trực quan khác như tranh

ảnh, đèn chiếu, mô hình, băng video…

- Trong thời gian tiết học 45 ph chỉ nên thực hiện từ 1-3 hoạt động tuỳ theo

nội dung bài giảng

- PHT sử dụng củng cố, hệ thống kiến thức thường tiến hành vào cuối giờ

học hoặc đầu giờ học tiếp theo Đối với những VĐHT như so sánh, hệ thống có

liên quan đến kiến thức cũ thì GV nên yêu cầu HS ôn tập lại trước khi tổ chức hoạt

động học tập tại lớp

Trang 30

[Thắng, 2002]

VĐHT được thể hiện trên PHT dưới dạng những câu hỏi, bài tập cùng các

phương tiện hỗ trợ khác Do đó, việc lựa chọn câu hỏi, bài tập thích hợp là một yếu

tố cần thiết Như vậy, câu hỏi bài tập được sử dụng như thế nào để thể hiện mục

tiêu giảng dạy? Đây là một vấn đề tưởng chừng như đơn giản nhưng không mấy

giản đơn như một số GV trẻ suy nghĩ

5.1 Khái niệm về câu hỏi-bài tập

5.1.1 Khái niệm câu hỏi ( CH )

Tư duy chỉ phát triển khi con người giải quyết được mâu thuẫn trong quá

trình nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết Câu hỏi chính là sự phản ánh mâu

thuẫn logic trong tư duy của chủ thể nhận thức ghi lại trạng thái không cân bằng

giữa tri thức nhân loại trong quá trình nhận thức hiện thực khách quan

Quá trình học tập của HS là quá trình nhận thức, trong đó HS là chủ thể

nhận thức Vì vậy câu hỏi chính là một phương tiện quan trọng để tổ chức quá

trình học tập của HS tiếp cận với quá trình nhận thức khoa học

5.1.2 Khái niệm về bài tập (BT)

BT là biến dạng của CH để tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS Để

giải quyết VĐ chứa đựng trong BT, HS dựa trên kiến thức đã học để độc lập phân

tích CH, số liệu… tìm tòi rút ra các kết luận cần thiết trong yêu cầu cần xác định

của BT

5.2 Vai trò của câu hỏi, bài tập trong học tập

CH, BT là phương tiện quan trọng để tổ chức hoạt động học tập tích cực của

HS Hệ thống CH sẽ tạo ra các mâu thuẫn logic trong nhận thức của HS - Đó chính

là động lực thúc đẩy quá trình học tập tích cực

CH, BT được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học: truyền

thụ kiến thức mới, củng cố kiến thức, ôn tập tài liệu đã học, kiểm tra- đánh giá…

Trang 31

5.3 Cấu trúc câu hỏi, bài tập

5.3.1 Thành phần cấu trúc của câu hỏi, bài tập

Gồm 2 thành phần:

- Các dữ kiện thông tin liên quan đến vấn đề trong CH, BT

- Yêu cầu cần xác định đối với vấn đề trong CH, BT

Các dữ kiện, thông tin được cung cấp một cách đầy đủ trong CH, BT là cơ

sở để HS phân tích, suy luận tìm ra dấu hiệu và mối liên hệ bản chất của vấn đề,

yêu cầu xác định đối với vấn đề trong CH, BT phải rõ ràng, cụ thể để HS có thể

xác định nội dung của vấn đề

Vd:Câu hỏi: Diễn thế sinh thái là gì? Nêu các nguyên nhân gây ra diễn thế

+ Dữ kiện: diễn thế sinh thái

+ Yêu cầu xác định: khái niệm, nguyên nhân

Bài tập

+ Các dữ kiện của vấn đề: một hệ sinh thái nhận được năng lượng mặt

trời là 106 kcal/m2 /ngày Chỉ có 2.5% số năng lượng đã được dùng trong quang

hợp Năng lượng mất đi do hô hấp là 90%

+ Yêu cầu: sản lượng sinh vật toàn phần

sản lượng sinh vật thực

BT là biến dạng của CH, do đó yêu cầu cần xác định đối với vấn đề trong

BT được thể hiện dưới dạng CH

5.4 Qui trình và kỹ thuật thiết kế câu hỏi, bài tập sinh học

Thiết kế một CH, BT nên trải qua một qui trình gồm 4 bước:

- Bước 1: xác định nội dung của vấn đề đặt ra trong CH, BT

- Bước 2: tách lọc các dữ kiện, thông tin cần cho biết và yêu cầu của CH,

BT

Trang 32

Trong các CH, BT thì các từ hỏi thường được sử dụng là từ mệnh lệnh hoặc

nghi vấn là phổ biến

+ Các từ hỏi mệnh lệnh thường là: ( hãy) trình bày, giải thích, hãy nêu,

phát biểu, nhận xét, so sánh, phân biệt, phân tích, xác định, tóm tắt, mô tả, sưu tầm,

liệt kê, hãy cho, hãy tính, hãy tìm, hãy viết…

+ Các từ hỏi nghi vấn thường là: tại sao, vì sao, phải chăng, nguyên nhân

nào, là gì, làm thế nào, để làm gì, nhận xét gì, có thể, bao nhiêu, được không, có

Vd: Hãy liệt kê các mối quan hệ hỗ trợ trong quần xã

CH mệnh lệnh có cấu trúc đơn giản thì không có từ hỏi khi yêu cầu một VĐ

có nội dung xác định, ngắn gọn

Vd: Các qui luật sinh thái cơ bản.Ví dụ minh họa

* Câu hỏi nghi vấn

Cấu trúc:

 Từ hỏi + yêu cầu và dữ kiện, thông tin của vấn đề

 Cuối mỗi câu không có dấu chấm hỏi

 Từ hỏi + yêu cầu và dữ kiện thông tin của vấn đề

Trang 33

Vd: Diễn thế sinh thái là gì? Nguyên nhân nào gây ra diễn thế?

Vì sao quần thể được xem là đơn vị cơ sở của quá trình tiến hoá?

- Câu hỏi mệnh lệnh kết hợp câu hỏi nghi vấn:

Vd: Tại sao phải có luật bảo vệ môi trường? Nêu mục đích của luật bảo vệ

môi trường

* Bài tập sinh học

Cấu trúc:

Vd: Một phụ nữ dị hợp về 4 cặp gen và đồng hợp về 6 cặp gen

1 Bà ta có thể tạo thành bao nhiêu loại tế bào trứng khác nhau ?

2 Nếu người chồng có trạng thái di truyền tương tự như vợ thì có bao nhiêu

loại kiểu gen có thể có ở đời con của họ?

Trong BT, ngoài việc yêu cầu củng cố kiến thức còn có yêu cầu về kỹ năng

HS cần đạt được để vận dụng trong nhận thức và trong thực tiễn cuộc sống

5.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi cho từng bài trong chương trình sinh học phổ

thông

Để xây dựng hệ thống CH cho mỗi bài giảng nhằm hình thành khả năng tư

duy mềm dẻo, phản ứng linh hoạt của HS, chúng ta cần thực hiện như sau:

 Dữ kiện thông tin của vấn đề

 Yêu cầu xác định dưới dạng câu hỏi

Trang 34

SGK và các tiêu đề nhỏ do GV tự thiết lập Trong giảng dạy, GV có thể thay đổi

trình tự các ý, với điều kiện sự thay đổi ấy hợp logic khoa học và đem lại hiệu quả

thiết thực đối với hoạt động nhận thức của HS

- Xây dựng hệ thống CH cho mỗi bài (dựa trên dàn ý chi tiết của bài)

5.6 Yêu cầu sư phạm của câu hỏi, bài tập

- Cấu trúc CH, BT ngắn gọn, từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu

- CH, BT phải đảm bảo tính vừa sức, phù hợp đặc điểm tâm lý của HS

- Hệ thống CH, BT được sắp xếp theo logic phát triển kiến thức trong tư duy

của người học

- Cần có CH tái hiện - thông báo và CH, BT kích thích tư duy với tỷ lệ hợp

- Xác định đúng mục đích của CH, BT

- CH, BT phải thực sự là một phương tiện quan trọng để tổ chức hoạt động

tư duy tích cực của HS, cần phát huy dạng CH kích thích tư duy trong dạy học

5.7 Phân loại câu hỏi, bài tập sinh học:

* Theo mục đích quá trình dạy học, ta có các loại CH, BT sau:

- Truyền thụ kiến thức mới

- Củng cố, ôn tập

- Kiểm tra, đánh giá

* Theo hoạt động tư duy của HS:

- CH, BT tái hiện- thông báo

- CH, BT kích thích tư duy (CH, BT có vấn đề)

5.8 Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học ở trường THPT

Trang 35

CH, BT là một phương tiện quan trọng tham gia vào mọi phương pháp của

các hình thức tổ chức dạy học khác nhau:

- Tạo tình huống học tập

- Hình thành kiến thức, kỹ năng mới

- Củng cố, hoàn thiện và hệ thống hóa kiến thức

- Tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập (kiểm tra vấn đáp, tự luận hoặc

Thí nghiệm về sự di truyền dạng quả bí

Trang 36

F2: 9 bí quả dẹt: 6 bí quả tròn : 1 bí quả dài

Câu hỏi:

1 Nhận xét tính trạng dạng quả bí ở F 2 gồm bao nhiêu kiểu tổ hợp, từ đó

rút ra kết luận hình dạng quả bí do một cặp gen hay hai cặp gen qui định?

Trả lời:

2 Nếu 2 cặp gen D, d và F, f nằm trên 2 cặp NST qui định hình dạng quả

bí thì ở F 2 có:

F2: 9 D_F_ : 3D_ff : 3ddF_ : 1ddff

9 bí quả dẹt : 6 bí quả tròn : 1 bí quả dài

Hãy qui ước kiểu gen đối với mỗi loại kiểu hình về hình dạng quả bí?

- Kiểu gen bí quả dẹt:………

- Kiểu gen bí quả tròn:………

- Kiểu gen bí quả dài: ………

3 Hãy điền kiểu gen dưới mỗi kiểu hình và viết giao tử của P và F 1 cho sơ

đồ lai thí nghiệm trên?

1 Mục đích

Trang 37

Từ QLPLĐL trong thí nghiệm lai 2 cặp tính trạng đã học, HS sẽ so sánh, đối

chiếu với kết quả thu được để tìm ra nội dung qui luật di truyền mới đối với 1 cặp

tính trạng

2 Hoạt động giáo viên

Xây dựng PHT, vấn đề học tập là bài toán nhận thức: thí nghiệm về sự di

truyền của một loại tính trạng về dạng quả bí Từ kết quả thí nghiệm F2 GV gợi mở

để HS suy luận ra kiểu gen tương ứng kiểu hình, từ đó tìm ra QLDT mới

3 Tổ chức học sinh

GV phát PHT cho các nhóm, mỗi nhóm 2-3 HS, ra thời gian làm việc là 3

ph, hướng dẫn HS hoạt động

HS thảo luận nhóm và ghi lại kết quả học tập trên phiếu Trong thời gian HS

làm việc, GV ghi thí nghiệm trên bảng, sau đó gọi một nhóm lên trình bày kết quả

học tập và ghi kết quả câu 2, 3 trên bảng

GV gọi các nhóm nhận xét bổ sung và kết luận về mối quan hệ giữa gen và

tính trạng, sau đó dẫn dắt vào nội dung mới

4 Kết quả khám phá: phiếu đáp án “Xác định quy luật di truyền của một tính

trạng”

Trang 38

PHIẾU ĐÁP ÁN BÀI 25 - SINH HỌC 11 XÁC ĐỊNH QUI LUẬT DI TRUYỀN CỦA MỘT TÍNH TRẠNG

Thí nghiệm về sự di truyền dạng quả bí

Trang 39

1 Nhận xét tính trạng dạng quả bí ở F 2 gồm bao nhiêu kiểu tổ hợp, từ đó

rút ra kết luận hình dạng quả bí do một cặp gen hay hai cặp gen qui định?

Trả lời:

Tính trạng dạng quả bí ở F2 gồm 16 kiểu tổ hợp

Vậy kết luận hình dạng quả bí do 2 cặp gen qui định

2 Nếu 2 cặp gen D, d và F, f nằm trên 2 cặp NST qui định hình dạng quả

bí thì ở F 2 có:

F2: 9 D_F_ : 3D_ff : 3ddF_ : 1ddff

9 bí quả dẹt : 6 bí quả tròn : 1 bí quả dài

Hãy qui ước kiểu gen đối với mỗi loại kiểu hình về hình dạng quả bí?

- Kiểu gen bí quả dẹt: D_F_

- Kiểu gen bí quả tròn: D_ff, ddF_

- Kiểu gen bí quả dài: ddff

3 Hãy điền kiểu gen dưới mỗi kiểu hình và viết giao tử của P và F 1 cho sơ

đồ lai thí nghiệm trên?

Trang 40

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN

1 PHƯƠNG PHÁP

- Tìm nền tảng, cơ sở lý thuyết thực hiện đề tài, tham khảo tài liệu: sách giáo

khoa và sách giáo viên (Sinh học 11-chương trình thí điểm sinh học phổ thông Bộ

1 và Bộ 2), Lý luận dạy học (Lộc, 2002), phương pháp dạy học sinh học phổ thông

(Khuê và Thắng, 1999), chuyên đề dạy học giải quyết vấn đề, chuyên đề sử dụng

câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học ở trường THPT (Thắng, 2005), … các tài

liệu tham khảo về phương pháp dạy học tích cực

- Thực hiện đề tài:

+ Đọc kỹ nội dung sách giáo khoa

+ So sánh, phân tích các lệnh ở hai bộ sách, chọn lệnh xây dựng phiếu học

tập dưới sự cố vấn của giáo viên hướng dẫn

+ Thiết kế lại cấu trúc lệnh

+ Scan hình, xử lý hình

+ Hoàn chỉnh phiếu học tập

+ Điều chỉnh, sửa chữa, hoàn tất

+ In giấy chiếu, ép plastid

2 PHƯƠNG TIỆN

- Sách giáo khoa và các tài liệu liên quan

- Máy scan, computer

- Giấy A4, giấy chiếu

- Phần cứng lưu trữ (đĩa, USB)

Ngày đăng: 20/07/2018, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w