1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn sưu tập và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của một số loài chim

88 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Sưu tập và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của một số loài chim” cùng với việc thực hiện bộ sưu tập các mẫu dồn gòn và tiêm formol sẽ góp phần đáp ứng được yêu cầu thực tiễn chovi

Trang 1

Những đặc điểm hình dạng bên ngoài (lông, mỏ, chân, cánh, ) là một

trong những yếu tố để phân biệt các loài chim Đề tài “Sưu tập và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của một số loài chim” cùng với việc thực hiện bộ sưu tập

các mẫu dồn gòn và tiêm formol sẽ góp phần đáp ứng được yêu cầu thực tiễn choviệc giảng dạy môn động vật có xương ở Bộ môn Sinh, Đại học Cần Thơ

Trên đây là những cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài này

Trang 1

Trang 2

PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 GIỚI THIỆU VỀ LỚP CHIM:

Chim sống khắp nơi trên hành tinh chúng ta: từ vùng núi cao đến các địa cựcgiá lạnh, từ vùng đồng bằng đến các rừng sâu, từ vùng đô thị đến các đại dươngbao la …

Chim có những đặc điểm giống bò sát: chim thiếu tuyến da, chỉ có một lồi cầuchẩm, có khớp gian cổ tay và gian cổ chân, hệ niệu sinh dục tương tự và phôiphát triển với màng phôi [Tiến, 1977]

Tuy nhiên, chim có những đặc điểm tiến bộ hơn bò sát: cơ quan thị giác, thínhgiác phát triển cùng với não bộ; thân nhiệt cao không đổi; tim có bốn ngăn làmmáu không pha trộn; đẻ trứng, ấp trứng và nuôi con Đặc biệt chim có bộ lông vũ

và có đôi cánh đã giúp chim chiếm lĩnh bầu trời Và để thích nghi với sự baylượn thì cấu tạo cơ thể chim có những đặc điểm thích nghi đặc biệt: bộ xươngchắc, xốp, nhẹ, răng tiêu giảm; không có bóng đái…

Một cách ngắn gọn có thể nói: “chim là những động vật có xương sống đi

bằng hai chân, có bộ lông vũ và hai chi trước biến thành cánh”.

Về mặt sinh học chim có hai đặc điểm chủ yếu là: sự trao đổi chất mãnh liệttrong cơ thể và sự di chuyển của chim trong không khí bằng cách bay Để bayđược thì cơ thể chim phải tiêu tốn nhiều năng lượng tức phải có sự trao đổi chấtmạnh mẽ và chim phải cần nhiều oxi Để đáp ứng nhu cầu oxi thì ngoài phổi,trong cơ thể chim còn có một hệ thống túi khí với cách hô hấp kép [Quý, 1975]Hiện nay lớp chim có khoảng 8600 loài được xếp vào ba tổng bộ:

*Tổng bộ chim chạy (Gradientes): gồm 2 bộ đại diện

-Bộ Đà điểu (Struthioformes): Đà điểu Phi Châu (Struthia camelus)

-Bộ Không cánh (Apterygiformes): Chim Kivi (Apteryx) sống ở Tân Tây

Lan

Trang 3

*Tổng bộ chim bơi (Natantes): chỉ có một bộ Chim cụt (Sphenisci) gồm

khoảng 10 loài đại diện là giống chim cánh cụt Aptenodytes sống ở bờ biển Nam Cực, giống Spheniscus sống ở bờ biển Nam Cực, bờ biển Nam Mỹ, bờ biển Nam

Phi, đảo Galapagos

*Tổng bộ chim bay (Carinates): với khoảng 40 bộ Một số bộ đại diện:

-Bộ Hải âu (Procellariformes)

-Bộ Cò (Ciconiiformes)

-Bộ Sếu (Gruiformes)…

Trong đó bộ Sẻ (Passeriformes) là bộ có số lượng loài đông nhất với khoảng

5093 loài phân bố rộng rãi (trừ vùng cực)

Riêng ở Việt Nam số lượng chim có khoảng 767 loài, nếu kể luôn phân loài thì

có trên 1000, được xếp vào khoảng 20 bộ trong đó bộ Sẻ có khoảng 369 loàithuộc 24 họ [Quý, 1981]

Trong các tổng bộ trên thì chim chạy là nhóm chim nguyên thủy nhất mất khảnăng bay và chỉ chạy được trên mặt đất Chim bơi cũng mất khả năng bay và chỉbơi được trong nước, di chuyển trên mặt đất thì nặng nề Chim bay gồm đại bộphận các loài chim hiện nay và có đôi cánh rất phát triển [Tiến, 1977]

2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH DẠNG BÊN NGOÀI:

So với bò sát chim có thân ngắn, đầu nhỏ, cổ dài và đuôi ngắn (không kể lôngđuôi) Hai chi trước biến đổi thành cánh để bay, hai chi sau cũng biến đổi để nâng

đỡ cơ thể trong khi đậu cũng như di chuyển trên mặt đất

2.1 Đầu chim:

Đầu chim có hình dạng kích thước khác nhau tùy loài nhưng có điểm chung

là tương đối tròn, có mang mỏ sừng, hai bên đầu có mắt với hai mí và màngnháy

Trang 3

Trang 4

Đầu chim có nhiều trang trí thay đổi tùy nhóm và tùy loài chim, thấy rõ nhất

ở chim trống

-Có thể có mào thịt với màu sắc sặc sỡ trên đỉnh đầu (gà) hay sau mắt(yểng)

-Có thể có mào sừng trên đầu (đà điểu Úc)

-Phổ biến là mào lông ở trên đầu (chào mào, đầu rìu…) hoặc trên trán (cácloài chèo bẻo)

-Trên đầu có thể có nhiều vạch lông với màu sắc khác nhau

Phần dưới gốc mỏ có thể có hai mảnh thịt gọi là tích hay thài lài (dái tai)

1 Dải giữa đỉnh đầu

2 Dải bên đỉnh đầu

Trang 5

-Mỏ điển hình thuộc các loài chim ăn tạp (gà, quạ) có thể dùng để rỉa thịt,vặt quả, bắt sâu bọ, mổ hạt…

-Các dạng mỏ khác phân tính theo hướng thu hẹp chức năng thuộc các loàichim có thức ăn chuyên hóa

+Mỏ chim di (Lonchura) hình nón khỏe chỉ mổ hạt.

+Mỏ chim bã trầu (Aethopyga) dài, cong có thể hút mật hoa.

+Mỏ chim cắt, chim ưng có mỏ quắp để rỉa mồi và có thêm răng sắc ở mỏ

để xé thịt

+Mỏ các loài chim ở nước ăn động vật thủy sinh biến đổi hơn cả Mỏ vịt có

bờ răng cưa để lọc thức ăn, mỏ bồ nông có túi da dưới mỏ để chứa cá…

Trang 5Hình 2: Các vạch lông ở đầu chim

Trang 6

Hình 3: Các dạng mỏ chim

2.3 Cổ chim:

Cổ có chiều dài thay đổi tùy loài, thường chiều dài cổ tỉ lệ với chiều caothân Cổ có tác dụng giúp chim bắt mồi, giữ thăng bằng cho chim khi vận chuyển(bay, chạy)

-Các loài chim kiếm ăn ở nước hay ở bờ nước (diệc,cò…) hoặc các loàichim ở cạn nhưng chạy nhanh (đà điểu) đều có chân cao, cổ dài

-Các loài chim bay nhiều, ít đậu lại có chân và cổ ngắn (cú muỗi, én…)

2.4 Cánh chim:

Cánh chim (kể cả lông cánh) có hình dạng thay đổi tùy theo cách bay nhưngchung nhất là có các thành phần ăn khớp thành hình chữ Z, có màng da nối vớinhau và nối với bờ vai

-Các loài chim bay lướt trên cạn có cánh rộng và dài (diều hâu, kềnhkềnh…)

-Chim bay lướt trên nước có cánh hẹp và dài (hải âu)

Trang 7

-Chim bay nhanh có cánh dài và nhọn (én)

-Chim bay chậm có cánh ngắn và tròn (cun cút)

Riêng các loài chim thuộc tổng bộ chim chạy thì cánh không phát triển và

chim mất khả năng bay Ở bộ không cánh với giống Apteryx cánh không nhìn

thấy ở ngoài

Các loài thuộc tổng bộ chim bơi thì cánh phát triển theo hướng bơi lội nên

có dạng như mái chèo giúp chim vận chuyển trong nước dễ dàng (chimcánh cụt)

2.5 Đuôi chim:

Đuôi có chức năng cản không khí và nâng bổng thân chim, đuôi chim cònphối hợp với cánh lái chim trong khi bay Ngoài ra đuôi còn có tác dụng làm bệ tìgiúp chim giữ thẳng thân khi đậu (cốc) hoặc giúp chim lấy đà để mổ mạnh vàothân cây (gõ kiến) Tùy theo chiều dài của từng lông đuôi mà có nhiều dạng đuôikhác nhau:

- Đuôi vuông

- Đuôi nhiều cấp

- Đuôi tròn

- Đuôi có dãy nhọn ở giữa

- Đuôi chẻ đôi rất sâu

- Đuôi chẻ đôi sâu

- Đuôi nhọn

- Đuôi chẻ đôi nông

Đuôi có chức năng khoe mã trong kết đôi thì có hình dạng đặc biệt vớinhiều màu sắc rực rỡ (công, thiên đường…)

Trang 7

Trang 8

1 Đuôi vuông

2 Đuôi nhiều cấp

3 Đuôi tròn

4 Đuôi có dãy nhọn ở giữa

5 Đuôi chẻ đôi rất sâu

6 Đuôi chẻ đôi sâu

Trang 9

Chân chim có hình dạng cũng như kích thước thay đổi tùy theo cách vậnchuyển Nhìn chung đa số các loài chim chân đều có 4 ngón Riêng giống Đà

điểu Mỹ (Rhea), giống Đà điểu Úc (Casuarius) chân có 3 ngón; giống Đà điểu Phi (Struthia) chân có 2 ngón.

* Giò (cẳng chân) không có lông bao phủ mà được bao bởi lớp vảy sừng,trên giò có thể có một gai sừng nhọn gọi là cựa (gà)

Chân chim giúp chim lấy đà trước khi bay hay nâng cơ thể trong khi đậuhoặc đi trên mặt đất

-Các loài chim kiếm ăn ở nước hay ở bờ nước (diệc,cò…) hoặc các loàichim ở cạn nhưng chạy nhanh (đà điểu) đều có chân cao

-Các loài chim bay nhiều, ít đậu lại có chân ngắn (én,nhạn …)

* Vuốt chim (móng) cũng thay đổi tùy đời sống của chim:

-Các loài chim bới đất có vuốt dài và khỏe (họ gà)

-Các loài chim ưa đậu trên cành có vuốt mảnh và nhọn (đa số họ chim ănsâu bọ)

Trang 10

-Các loài chim ưa nhảy trên mặt đất (chìa vôi) hoặc chim sống ở gần bờnước (cuốc, gà đồng…) hay chạy trên lá thủy sinh (gà lôi nước) thì có vuốt dài.-Các loài sống bám vào vách đá thẳng (én, yến) và các loài chim ăn thịt hayquắp mồi (diều, cú) thì có vuốt sắc và cong.

-Vuốt đặc biệt tiêu giảm đối với các loài chim ở nước (vịt, ngỗng, bồnông…)

-Ngón rất ngắn khỏe đối với các loài chim chạy nhanh (đà điểu)

-Với các loài chim ở nước:

+Có màng da nối giữa các ngón chân (ngỗng, bồ nông, vịt …)

+Có viền da riêng cho từng ngón (chim le, sâm cầm)

Trang 11

Hình 6: Các dạng ngón chân ở một số loài chim

*Đối với các loài chim có 4 ngón chân thì có thể:

-2 ngón hướng trước, 2 ngón hướng sau (vẹt, bìm bịp…)

-3 ngón hướng trước, 1 ngón hướng sau (đa số các loài)

-Cả 4 ngón đều hướng trước (yến cọ)

Trang 11Hình 7: Các dạng hướng ngón chân

Trang 12

1 Ngón 1 hướng sau; ngón 2,3,4 hướng trước; 4 ngón rời (đa số loài)

2 Ngón 1,2 hướng sau; ngón 3,4 hướng trước; 4 ngón rời (bìm bịp, gõ kiến, vẹt)

3 Ngón 1,4 hướng sau; ngón 2,3 hướng trước; 4 ngón rời (chim nuốc)

4 Ngón 1 hướng sau; ngón 2,3,4 hướng trước; ngón 2,3 dính ở gốc (sả)

5 Cả 4 ngón hướng trước (yến cọ)

2.7 Lông chim:

2.7.1 Bộ lông chim:

Bộ lông chim có tầm quan trọng đối với đời sống của chim: đảm bảo thânnhiệt (không thấm nước tạo một lớp cách nhiệt), lông đuôi và lông cánh giúpchim có thể bay, lông ở thân giúp giảm sức cản của không khí khi bay…

Lông phân bố không đều trên cơ thể mà tập trung thành vùng xen kẻ với cácvùng trụi:

-Vùng trụi đảm bảo cho sự co cơ ngực dễ dàng trong khi bay Ở các loàichim mất khả năng bay thì không có vùng trụi

-Vùng lông có 8 vùng: vùng sống lưng, vùng cánh tay, hai vùng bụng, vùngđầu, vùng đùi, vùng hậu môn và vùng đuôi

+Vùng đuôi thì có lông đuôi, lông trên đuôi (lông bao đuôi trên), lông dướiđuôi (lông bao đuôi dưới) Ở nhiều loài chim có đuôi dài là do sự phát triển củalông đuôi (gà lôi) hoặc lông trên đuôi (công) hoặc lông dưới đuôi (một số chimruồi)

+Vùng cánh thì có lông cánh, lông trên cánh, lông dưới cánh

2.7.2 Cấu tạo lông chim:

Lông chim được cấu tạo bởi một ống dài gọi là thân lông Thân lông đượcchia làm 2 phần:

-Phần rỗng cắm vào da (gọi là gốc lông.)

Trang 13

-Phần trên đặc (gọi là thân lông) mang phiến lông gồm có phiến lông ngoài vàphiến lông trong

Cấu tạo phiến lông: phiến lông được cấu tạo từ những sợi mãnh gọi là sợi

lông sơ cấp Mỗi sợi lông sơ cấp lại có hai hàng sợi nhỏ gọi là sợi lông thứ cấp.Trên mỗi sợi lông thứ cấp có nhiều móc nhỏ ngoặc với móc của sợi lông thứ cấpbên cạnh nên phiến lông rất vững chắc khi chim bay

2.7.3 Các loại lông chim:

Trang 13Hình 8: Cấu tạo lông chim

1 Gốc lông

2 Thân lông

3 Phiến lông trong

4 Phiến lông ngoài

5 Sợi lông sơ cấp

6 Sợi lông thứ cấp

7 Móc

Trang 14

Có nhiều loại lông chim khác nhau nhưng có thể phân thành hai nhóm lôngchính là lông bao và lông tơ [Huấn và Kiên, 1979]

* Lông bao: lông bao là bộ lông phủ bên ngoài gồm có lông mình, lông

cánh, lông đuôi và lông mã

- Lông cánh: là những lông chuyên hóa nhất và có vai trò quan trọng trong

sự bay lượn, lông cánh càng dài chim bay càng giỏi Lông cánh thường có thân

to, cứng và không bao giờ có lông phụ Lông cánh lại có những tên gọi khácnhau tùy vào vị trí mọc trên cánh:

+Những lông đính trên ngón tay cái (3,4 lông) gọi là lông cánh cáihợp thành cánh con (alula)

+Những lông đính trên bàn tay và các ngón tay khác (9,12 lông)gọi là lông cánh sơ cấp với chiếc ngoài cùng thường nhỏ nhất và có khi tiêu giảmgần hết

+Những lông đính vào ống tay (9,40 lông) gọi là lông cánh thứ cấp.+Những lông đính vào cánh tay gọi là lông cánh tam cấp Nhữnglông này thường nhỏ và lẫn vào lông mình

Hình 9: Lông bao

Trang 15

Hình 10: Các loại lông cánh

- Lông đuôi: thường cũng dài nhưng không cứng bằng lông cánh trừ lôngđuôi của các loài chim gõ kiến Lông đuôi cũng không có lông phụ

- Lông mình: có thể có hoặc không có lông phụ

- Lông mã: nhiều loài chim có bộ lông mã với màu sắc đẹp và có dạng đặcbiệt (có khi rất dài, có khi chỉ có phần thân lông không có sợi lông…) Lông mãthường mọc ở đầu, cánh, đuôi … Lông mã có tác dụng hấp dẫn nhau trong quátrình sinh sản của các loài chim

Trang 15

Trang 16

* Lông tơ: lông tơ chỉ có một ống ngắn đầu có nhiều sợi lông dài mảnh

không móc vào nhau Chim mới nở chưa có lông hoặc có lông tơ non, chim lớn

có lông tơ nhưng bị lông bao che lấp

Các loài chim ở nước có lông tơ rất phát triển nhất là các loài trong Bộ

Ngỗng (Anseriformes), ở Đà điểu không có lông tơ.

Hệ thống lông tơ có tác dụng tăng bề dày của bộ lông chống thoát nhiệt rất

có hiệu quả

Ngoài hai nhóm lông chính thì ở chim còn một nhóm lông đặc biệt như lôngsợi, lông râu cứng ở gốc mỏ (cú, cú muỗi,…), lông mi (hồng hoàng),

2.7.4 Màu lông:

Màu lông tùy thuộc vào sắc tố và cấu trúc vi mô của lông [Tiến, 1977]

- Sắc tố lông gồm hai loại:

+Loại sắc tố đen (melanin) tạo thành màu đen, nâu và xám

Trang 17

+Loại sắc tố hòa tan trong mỡ (lipocrom) gần giống sắc tố caroten tạothành màu đỏ, vàng, lục.

Hai loại sắc tố trên trộn với nhau theo liều lượng thay đổi làm lông chim cónhiều màu đặc trưng

- Sắc tố còn kết hợp với cấu trúc vi mô phức tạp của lông với hệ thống tếbào lăng trụ làm màu lông tăng thêm nhiều vẻ

Ngoài ra do tia sáng phản chiếu trên bề mặt nhẵn của lông hoặc qua lớp rấtmỏng của bề mặt trên lông mà nhiều loài chim còn có màu thay đổi tùy theo vị trícủa chim hay góc nhìn của người quan sát

2.7.5 Sự thay lông:

Chim thường thay lông một hoặc hai lần trong một năm, sự thay lông đượcquyết định bởi tác dụng của hoocmon sinh dục và thường xảy ra sau mùa sinhsản Sự thay lông có thể diễn ra theo kiểu chiếc lông cũ rụng rồi chiếc lông mớimới mọc dần ra hoặc chiếc lông mới đẩy dần chiếc lông cũ ra khỏi bao lông Tất cả bộ lông chim không thay ngay một lúc mà thay lần lượt theo thứ tựnhất định, nhờ vậy mà không lúc nào chim mất khả năng bay và thân mình luônđược bảo vệ

3 SINH THÁI HỌC CHIM:

3.1 Điều kiện sống và sự phân bố của chim:

Phần lớn các loài chim có đời sống trong không trung Môi trường này rấtthuận lợi cho chim tìm kiếm thức ăn và tránh kẻ thù

Chim phân bố rộng rãi trên trái đất hơn bất cứ lớp động vật có xương sốngnào khác Chim phân bố từ Bắc cực đến Nam cực, từ vùng núi cao đến vùngđồng bằng, từ sa mạc đến biển cả … nơi nào cũng có thể thấy được chim

3.2 Chuyển vận:

Trang 17

Trang 18

* Hình thức chuyển vận cơ bản của chim là bay, một vài loài bị mất khảnăng này (đà điểu, chim cánh cụt)

Bộ cánh là cơ quan chủ yếu để bay, vị trí và cấu tạo các lông cánh làm bềmặt trên cánh phồng và mặt dưới lõm Khi cánh nâng lên không khí có thể trượt

dễ dàng trên cánh nhưng khi cánh đập thì sức cản không khí khá lớn làm thânchim được nâng lên Mặt khác bờ trước cánh dày và chắc còn bờ sau cánh mỏng

và đàn hồi nên hơi uốn lên khi cánh đập do đó thân chim được đẩy về phía trước.Chim có hai hình thức bay:

- Bay chèo: là hình thức bay mà năng lượng để vỗ cánh là năng lượng củachim

- Bay lướt: chim vẫn phải tốn một ít năng lượng để giương cánh nhưngkhông đáng kể mà chủ yếu là dựa vào năng lượng trong sự vận chuyển của khôngkhí Có hai hình thức bay lướt:

+Lướt tĩnh: thường thấy ở các loài chim ăn thịt có cánh rộng và tròn (diều

hâu, chim ưng …) lợi dụng dòng khí nóng từ dưới di chuyển lên trên và dòng khílạnh từ trên di chuyển xuống dưới

+Lướt động: thường thấy ở các loài chim hải dương có cánh dài và nhọn

(hải âu, chim báo bão) lợi dụng sự thay đổi tốc độ gió để bay

* Chim còn có những cách vận chuyển khác tùy theo loài và môi trườngsống của chúng: trèo (vẹt), chim ở đất có thể chạy nhảy, chim ở nước có thể bơi

và lặn… và tương ứng với từng cách di chuyển thì hình dạng và cấu tạo chân sẽphù hợp

3.3 Hoạt động ngày và đêm:

* Chim ăn ngày: là những loài kiếm mồi từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt

trời lặn bao gồm đa số các loài chim ăn sâu bọ (chích chòe, sáo…), chim ăn quảhạt (vẹt, sẽ, gà…), chim ăn thịt (diều hâu, cắt…) Chúng là những loài chim cóthị giác phát triển

Trang 19

* Chim ăn đêm: là những loài chuyên kiếm ăn vào ban đêm, chúng có hình

dạng và cấu tạo cơ thể thích hợp đặc biệt là mắt: có mắt rất lớn, nhỡn cầu sâu, cómàng võng mạc đặc biệt để nhìn rõ trong bóng tối; có tai rộng, có nếp da làmthành vành tai; lông chim mềm nên khi bay không tạo ra tiếng động, màu lôngnâu xám lẫn với bóng tối Các loài đại diện: cú, vạc, diệc xám…

* Chim ăn hoàng hôn: là những loài đi ăn khi hoàng hôn xuống, phần lớn là

những loài chim ăn côn trùng (cú muỗi) và một số loài chim sống ở nước thì ăntôm, cá (cò lửa)

3.4 Sự di cư của chim:

- Một số loài chim sống ở những điều kiện thuận lợi suốt năm thì gần nhưkhông di chuyển nơi ở, đây là những loài chim định cư

- Một số loài chim di chuyển từ nơi này sang nơi khác trên một đoạn đườngrất dài đó là những loài chim di cư

Chim di cư theo hướng thuận lợi cho việc kiếm ăn, nghỉ ngơi sinh sản và trúđông nhưng nguyên nhân chính vẫn là tìm thức ăn nơi chúng trú đông

3.5 Thức ăn:

Thức ăn quyết định phần lớn các đặc điểm sinh thái học của chim Thức ăn

là nguyên nhân khởi đầu của sự di cư, ảnh hưởng đến sức sinh sản của chim, tácđộng đến sự phân bố địa lý của chim và sự phân tán của mỗi loài ở địa phương

- Tùy tỉ lệ thành phần thức ăn mà chim được chia theo hai nhóm chính:chim ăn tạp và chim ăn chuyên

- Tùy loại thức ăn chủ yếu chia được chia thành các nhóm chính: chim ănthịt, chim ăn xác chết, chim ăn côn trùng, chim ăn hạt và ăn quả…

Một số loài còn có loại thức ăn đặc biệt như chim bã trầu, chim hút mật ănmật hoa

Trang 19

Trang 20

- Thức ăn của chim thay đổi theo độ tuổi Chẳng hạn chim chào mào trongnhững ngày đầu mới nở ăn cào cào, châu chấu … nhưng sang ngày thứ tư, thứnăm lại ăn quả mềm, ngày sắp rời tổ tỉ lệ thức ăn quả mềm tăng hơn 50%, cònchào mào lớn chủ yếu ăn các loại quả thịt như cà chua, đa… [Tiến, 1977]

- Thức ăn của chim cũng có thể thay đổi theo mùa Chẳng hạn sáo mỏ ngàmùa hè ăn động vật (côn trùng) nhưng sang mùa thu lại ăn thực vật (quả mềm)các mùa khác tỉ lệ hai loại thức ăn trên tương đương

Nhìn chung: Với mỗi loài chim thì sẽ có hình dạng mỏ đặc trưng phù hợp

với loại thức ăn chủ yếu của nó

3.6 Sự sai khác trống mái về hình dạng ngoài:

- Có loài không thể hiện sự sai khác trống mái về hình dạng ngoài (bồ câu,quạ, cú…)

- Có loài thì chim trống có bộ lông sặc sỡ, kích thước lớn hơn con mái…những sai khác này là vĩnh viễn (gà lôi, công, trĩ…)

- Có loài sự sai khác trống mái ngoài chỉ thể hiện trong mùa sinh dục (vịt,mồng két…)

- Nhiều loài chim ở chim trống có các bộ phận không nhìn thấy ở chim mái(công trống có đuôi rất dài và đẹp) hoặc chim mái không biết hót như chim trống

mà chỉ kêu (chích chòe, vành khuyên…)

- Một vài loài chim ăn thịt chim mái lớn hơn chim trống ví dụ như chim ưng

(Accipiter gentilis) con mái không những lớn hơn con trống mà màu sắc còn sặc

sỡ hơn chim trống

- Một qui tắc chung: nếu trống sai khác mái về hình thái thì chim non sẽgiống chim mái Từ đó có thể kết luận màu lông không sặc sỡ của chim mái cótính chất nguyên thủy hơn màu sắc sặc sỡ của chim trống [Tiến, 1977]

3.7 Thích nghi tự vệ và tấn công:

Trang 21

*Một số loài chim có bộ phận chuyên hóa để tự vệ và tấn công:

- Các loài gà có cựa ở chân để đá kẻ thù

* Chim diệc có hình thức tự vệ đặc biệt là con trống bít miệng tổ để bảo vệ

cả chim mẹ và chim non trong thời gian ấp trứng

* Nhiều loài chim nhỏ có hình thức tự vệ bằng cách sống thành tập đoàntrong việc làm tổ, đi kiếm ăn (chim sắc, chim di, vẹt, cốc, diệc…)

4 TIÊU CHUẨN ĐỊNH LOẠI CHIM:

Theo tài liệu Chim Việt Nam của Võ Quý, để định loại được tên của một loài

chim thì cần dựa vào những đặc điểm hình dạng ngoài dễ nhận biết như: hìnhdạng mỏ, hình dạng chân, số ngón chân, hình dạng vảy phủ giò, số lông đuôi,màu sắc bộ lông, kích thước đuôi, cánh, mỏ, giò…

Trước lúc định loại cần biết rõ một số đặc điểm:

- Tên gọi các phần của cơ thể chim

Trang 21

Trang 22

Hình 12: Tên các phần của cơ thể chim và của bộ lông chim

Trang 23

Trang 23

17 Phần trên lưng hay lưng trên

18 Phần dưới lưng hay lưng dưới

32 Ngón chân sau hay ngón chân cái hay ngón 1

33 Ngón chân trong hay ngón 2

34 Ngón chân giữa hay ngón 3

35 Ngón chân ngoài hay ngón 4

Trang 25

Số lông đuôi bao giờ cũng là một số chẵn vì vậy khi đếm số lượng lông đuôi

mà gặp số lẽ thì hoặc là đếm nhầm hoặc là có ít nhất một lông đuôi bị rụng.Ngoài số lông đuôi thì hình dạng đuôi cũng là một đặc điểm quan trọng đểđịnh loại chim

Trang 25

Trang 26

PHẦN III: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 PHƯƠNG TIỆN:

1.1 Dụng cụ:

- Bộ đồ mổ: khay mổ, kéo, kẹp, kim phá tủy…

- Dụng cụ tạo dáng: cành cây, đế, dây kẽm, hột nhựa, bông gòn…

- Dụng cụ đo đạc: thước, compa

- Thuốc diệt côn trùng

2 THỜI GIAN THU MẪU:

Do chim là đối tượng khó bắt nên mẫu chim được mua chủ yếu ở các chợ và

từ những người bán … Thời gian thu mẫu từ tháng 10-11 năm 2005 và tháng2,3, 4 năm 2006

Địa điểm thu mẫu:

- Tân Quới- Bình Minh- Vĩnh Long

- Cái Tắc- Hậu Giang

- Phụng Hiệp- Hậu Giang

- Chợ Xuân Khánh, Đường Trần Hưng Đạo, …- TP Cần Thơ

Trang 27

- Một số nơi khác.

3 PHƯƠNG PHÁP GIỮ MẪU:

Mẫu được lưu giữ là những mẫu dồn gòn và những mẫu tiêm formol 40%

3.1 Phương pháp dồn gòn:

3.1.1 Chuẩn bị mẫu, vật tư, hóa chất:

- Mẫu chim: chọn những con có đủ lông, lông đẹp…

- Hóa chất: cồn 960, formol 40%, dung dịch bão hòa phèn muối tỉ lệ 1:1, longnão tán nhuyễn

- Dây kẽm làm khung xương, hột nhựa làm mắt giả, đế hoặc nhánh cây để tạocảnh

- Trước khi tiến hành cần quan sát tư thế tự nhiên của chim để khi tạo dángđược giống hơn

3.1.2 Cố định mẫu và đo mẫu:

- Cố định mẫu: có nhiều cách để giết chim

+Giết chim bằng hóa chất: dùng ống chích tiêm formol vào vùng tim củachim, cách này có ưu điểm là chim chết nhanh nhưng nhược điểm là khi giảiphẫu chim mùi formol bay lên sẽ rất khó chịu

+Giết chim tự nhiên: dùng một tay để một tay giữ chim, tay còn lại giếtchim bằng cách dùng ngón tay cái giữ đầu chim, ngón trỏ ép mạnh vào hầu vàgiữ tư thế này đến khi chim chết Nhược điểm của phương pháp này là chim lâuchết nhưng ưu điểm là khi tiến hành giải phẫu thì không có mùi formol

Trang 27

Trang 28

Khi giết chim chú ý không để chim giảy giụa làm rụng lông và tránh để lạidấu vết trên cơ thể chim.

- Đo mẫu: sau khi giết chim tiến hành đo chiều dài thân, cánh, chân, vòngngực, vòng cổ

3.1.3 Làm khung xương:

Từ những số liệu đo đạc ở trên ta tiến hành làm khung xương

- Chọn dây kẽm: tùy vào kích thước của chim mà dùng loại kẽm lớn nhỏ thíchhợp Thường kẽm dùng làm cột sống, chân, cánh to hơn kẽm dùng làm xươngsườn

- Kẽm cột sống: tùy vào chiều dài thân mà kẽm dùng làm cột sống có chiềudài khác nhau thường thì sợi kẽm dài hơn chiều dài thân khoảng 5 cm Sợi kẽmnày được uốn cong một đầu sao cho sợi kẽm được giữ chặt vào hộp sọ không bịvuột ra ngoài qua lỗ chẩm

- Kẽm dùng làm xương sườn: chỉ thực hiện đối với các loài chim có kíchthước lớn và tùy vào kích thước có thể có từ 3-5 khung xương sườn Chiều dàisợi kẽm bằng chu vi tại điểm gắn khung xương sườn cộng thêm 2cm Sợi kẽmđược uốn cong thành một vòng tròn ở giữa để gắn vào sợi kẽm cột sống, hai đầusợi kẽm xương sườn uốn thành hình móc câu

- Kẽm dùng làm xương cánh: bằng chiều dài hai cánh cộng thêm 7cm

- Kẽm dùng làm xương chân: bằng chiều dài hai chân cộng thêm một đoạndài ngắn sao cho thuận tiện khi tạo dáng (cho đậu trên nhánh cây hay trên đế), cóthể cộng thêm 3-5cm

Cách làm kẽm cánh và kẽm chân giống kẽm xương sườn nhưng không uốncong hai đầu mà hai đầu phải nhọn để dễ đâm xuyên qua phần cánh hay chân cònxương

Trang 29

3.1.4 Giải phẫu lột da:

Các bước giải phẫu:

- Cắt da từ lỗ huyệt theo một đường thẳng lên gần ức, khi cắt da chú ý nângmũi kéo lên để không làm rách cơ bụng

- Vạch da sang hai bên để lộ cơ chân, tiếp đến từ từ rút chân ra khỏi da lầnđến khớp gối, tháo khớp xương đùi, cắt ngang xương chân

- Lột da về phía đuôi, cắt ngang xương đuôi

- Lột da về phía cánh, tháo khớp xương cánh và cắt ngang xương cánh

- Lột da về phía đầu bằng cách lộn cổ ra, cắt ngang lỗ chẩm Bỏ cả khối cơthể, chừa lại hộp sọ

- Tách sạch lớp mỡ còn sót lại ở da

Trang 29Hình 13: Bộ khung kẽm làm xương ở chim

Trang 30

Hình 14: Cách giải phẫu lột da ở chim

+Tiếp tục dùng gòn tẩm formol để lau hộp sọ

- Làm sạch hốc mắt: tách nhỡn cầu, làm sạch hốc mắt giống như làm sạchhộp sọ

3.1.6 Xử lý da:

Da được xử lý bằng cách sát vào da lần lượt các hóa chất sau:

- Cồn 960 (tác dụng làm sạch mỡ)

Trang 31

- Dung dịch bão hòa phèn muối tỉ lệ 1:1 (tác dụng làm khô da).

- Dồn gòn vào phần cổ và phần ức

- Gắn sợi kẽm dùng làm chân giống như kẽm dùng làm cánh, phần sợi kẽmdùng làm cột sống luồn qua đuôi Dồn gòn vào phần đùi và các phần còn lại

- May đường mổ theo hình zích zắc

- Dùng một ít gòn tẫm formol nhét vào hốc mắt, gắn mắt giả vào

Trong quá trình dồn gòn cần dồn từ từ, không dồn quá nhiều cùng một lúc.Khi tiến hành cần thường xuyên vuốt theo chiều lông vừa để lông không bị xù vàgòn được đều…

- Tạo dáng sao cho mẫu chim giống với tư thế tự nhiên

3.1.8 Bảo quản mẫu vật:

- Sau khi dồn gòn, ta tiêm formol 40% vào các phần còn cơ (lấy ra khônghết) như: cánh, đầu, đuôi…

- Phơi nắng nhiều ngày hay sấy ở nhiệt độ thích hợp

- Xịt thuốc diệt côn trùng lên mẫu

3.2 Phương pháp tiêm formol:

Trang 31

Trang 32

Đây cũng là một phương pháp dùng để giữ mẫu được thực hiện đối vớinhững loài có kích thước nhỏ mà phương pháp dồn gòn khó thực hiện Phươngpháp này được tiến hành theo các bước:

- Giết chim

- Mổ một đường ngắn từ huyệt lên phía ức

- Dùng kẹp gắp hết nội quan của chim ra ngoài

- Dùng gòn dồn vào bụng chim, may đường mổ lại

- Tách nhỡn cầu, làm sạch hốc mắt, gắn mắt giả vào giống phương pháp dồngòn

- Tiêm formol 40% đều khắp cơ thể chim, chú ý các phần đầu, ức, đùi,cánh…

- Dùng kẽm để tạo dáng cho chim

- Sấy ở nhiệt độ thích hợp

- Bảo quản mẫu giống như mẫu dồn gòn

4 QUAN SÁT ĐẶC ĐIỂM VÀ NHẬN DẠNG CHIM:

Công việc mô tả hình dạng ngoài và định loại chim được thực hiện theo cácbước sau:

4.1 Đo kích thước:

Để có được kích thước của đuôi, cánh, giò, mỏ… thì phải tiến hành đo:

- Chiều dài cánh đo từ gốc cánh đến mút lông cánh sơ cấp dài nhất Đối vớichim nhỏ thì dùng thước kẹp hay compa, còn đối với các loài chim lớn nên đobằng thước dây

- Chiều dài đuôi đo từ gốc của các lông đuôi giữa đến mút lông đuôi dài nhấtvuốt thẳng ra, đo bằng thước hay compa

Trang 33

- Chiều dài mỏ đo từ mút mỏ đến mép giáp với trán, đo bằng compa, đo theođường thẳng không đo vòng theo sống mỏ.

- Chiều dài mép mỏ đo từ gốc mép mỏ đến mút mép mỏ, đo bằng compa

- Chiều dài giò đo từ mép sau chỗ khớp với xương ống chân đến chỗ khớp vớingón chân giữa ở mặt trước, đo bằng compa

- Chiều dài ngón được đo từ gốc ngón đến vị trí giáp với móng, đo bằngcompa

- Chiều dài móng được đo từ vị trí giáp với ngón đến đầu mút của ngón theođường thẳng, không đo theo đường cong của móng

- Chiều dài thân đo từ mút mỏ đến đầu mút của sợi lông đuôi dài nhất theomột đường thẳng, đo bằng thước dây

Trang 33

9

Trang 34

Các số đo này phải được đo ở chim trưởng thành và bộ lông đầy đủ Số đo ởchim non, chim bị cụt lông, chim đang thay lông và chưa phát triển đầy đủ khôngdùng để đối chiếu với bảng định loại được.

Trang 35

Mặt trướcPHIẾU CHIMSố:……….

-Dài thân:……… mm-Dài cánh:……… mm-Dài đuôi:…….… mm-Dài giò:……… mm-Dài mỏ:……… mm-Dài mép:……… mm-Ngón giữa:…… mm-Ngón sau:……… mm-Ngón trong:…… mm-Ngón ngoài:…… mm

Trang 36

5 CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ DANH SÁCH CHIM ĐÃ THỰC HIỆN MẪU:

- Các thông tin về vị trí phân loại , đặc điểm hình dạng ngoài của 31 loài chimđược lưu giữ trong “Chương trình quản lý danh sách chim” Chương trình nàyđược xây dựng bằng phần mềm Microsoft Acess 2000

- Chương trình này đáp ứng được yêu cầu tham khảo của người đọc và nó giúpcho người đọc dễ dàng tìm kiếm những thông tin về 31 mẫu chim đã được mô tả

Trang 37

PHẦN IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Cò lửa lùn Ixobrychus sinensis Gmelin

Cò lửa Ixobrychus cinnamomeus Gmelin

Gà nước mày trắng Porzana cinerea White-browed Crake Cuốc ngực trắng Amaurornis phoenicurus Boddaert

Gà đồng Gallicrex cinerea Gmelin

Trang 37

Trang 38

Kịch Gallinula chloropus Blyth

Cu xanh bụng trắng Treron sieboldi Delacour

Cu gáy Streptopelia chinensis Latham

Sả đầu đen Halcyon pileata Boddaert

Sả khoang cổ Halcyon chloris Sharpe

*Bộ Sẻ Passeriformes

Họ Sáo Sturnidae

Sáo mỏ vàng Acridotheres fuscus Moore

Trang 39

Họ Vàng anh Oriolidae

Vàng anh Trung Quốc Oriolus chinensis Sharpe

Họ Đớp ruồi Muscicapidae

Phân họ Chích chòe Turnidae

Chích chòe Copsychus saularis Linnaeus

Phân họ Đớp ruồi Muscicapinae

Đớp ruồi mỏ dẹp Muscicapa dauurica Pallas

Họ Chim sâu Dicidae

Chim sâu lưng đỏ Dicaeum cruentatum Kloss

Họ Hút mật Nectariniidae

Hút mật họng tím Nectarinia jugularis Blyth

Họ Vành khuyên Zosteropidae

Vành khuyên Zosterops japonica Swinhoe

Họ Chim lam Irennidae

Chim nghệ ngực vàng Aegithina tiphia Linnaeus

Họ Sẻ Pleceidae

Rồng rộc Ploceus philippinus Ticehurst

Di cam Lonchura striata Baker

Di đá Lonchura punctulata Swinhoe

Bộ Hạc Ciconiiformes

Trang 39

Trang 40

Họ Diệc Ardeidae

1.1 Cò lửa lùn

Tên khoa học: Ixobrychus sinensis Gmelin

* Mô tả:

- Lông ở trán và đỉnh đầu đen có viền hung hẹp

- Hai bên đầu, hai bên cổ hung nhạt, trên cổ màu hung nâu

- Cằm, họng và dưới cổ trắng có các đường hung nâu chạy dọc xuống ngực

- Lưng đen có những dải hung

- Lông bao cánh hung nhạt có vệt đen ở giữa Lông cánh sơ cấp đen Dướicánh trắng

- Bụng trắng phớt xám, hai bên sườn hung nhạt có sọc đen

- Đuôi đen, lông bao dưới đuôi trắng

Bãi sậy các đồng cỏ ngập nước và cánh đồng lúa

* Mẫu tiêm formol:

- Kích thước (mm):

Thân: 345 Cánh: 124 Giò: 44 Đuôi: 43

Ngày đăng: 20/07/2018, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w