1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam

196 1,3K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Tác giả Nguyễn Quốc Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Quỳnh Sơn, PGS. TS. Vũ Mạnh Hải
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Chọn giống và nhân giống
Thể loại Luận án tiến sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và ch−a từng công bố trong bất kỳ luận án nào khác Các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận án đều đ−ợc ghi

rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Nguyễn Quốc Hùng

Trang 3

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của cơ quan, của các thầy hướng dẫn, các thầy cô giáo, gia đình cùng các bạn bè đồng nghiệp

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu trong những năm qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cố PGS TS Phan Quỳnh Sơn - Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, PGS TS

Vũ Mạnh Hải - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, PGS TS Nguyễn Văn Hoan - Trưởng Bộ môn Di truyền và Chọn giống, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Di truyền

và Chọn giống, Ban chủ nhiệm Khoa Nông học, Ban lãnh đạo và tập thể cán

bộ Khoa Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu trong nhà trường

Và nhân dịp này, tôi chân thành cảm ơn toàn thể anh chị em trong Phòng Nghiên cứu Cây ăn quả cùng các bạn bè đồng nghiệp - Viện Nghiên cứu Rau quả đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này

Hà Nội, tháng 8 năm 2004

Tác giả luận án

Nguyễn Quốc Hùng

Trang 4

Mục lục

Trang

3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

Chương I Tổng quan tài liệu 12

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 12

1.2 Nguồn gốc, phân bố và giá trị của cây nho 13

1.3 Những nghiên cứu về chọn tạo giống nho 25

1.4 Những nghiên cứu về nhân giống nho 44

Chương II

Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 55

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 55

2.4 Các thí nghiệm nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 57

Chương III Kết quả và thảo luận 66

3.1 Các đặc trưng khí hậu và hiện trạng trồng nho ở một số tỉnh phía

3.2 Kết quả đánh giá sinh trưởng phát triển và năng suất của các

giống nho trồng tại Viện Nghiên cứu Rau quả 89

3.3 Kết quả trồng so sánh một số giống nho ăn tươi có triển vọng tại

Trang 5

3.4 KÕt qu¶ trång so s¸nh mét sè gièng nho chÕ biÕn r−îu t¹i Méc

Ch©u - S¬n La vµ Gia L©m - Hµ Néi 1373.5 KÕt qu¶ thÝ nghiÖm c¸c ph−¬ng ph¸p nh©n gièng nho 1433.6 KÕt qu¶ nghiªn cøu th¨m dß kü thuËt lai h÷u tÝnh nho 154

Phô lôc 175

Trang 6

Danh mục các bảng số liệu

Trang

Bảng1.1 Diện tích và sản lượng nho của một số nước trên thế giới 21

1.2 Diện tích và sản lượng nho tại Ninh Thuận thời kỳ 1996 - 2000 23

3.1 Các giống nho địa phương đang được trồng ở một số tỉnh phía Bắc 74

3.2 Các giống nho nhập nội đang được đánh giá trong vườn tập đoàn

3.3 Một số đặc điểm hình thái các giống nho địa phương 76

3.4 Một số đặc điểm hình thái của các giống nho ăn tươi và sấy khô

3.5 Một số đặc điểm hình thái các giống nho chế biến rượu nhập nội 80

3.6 Phân nhóm các giống nho theo mục đích sử dụng 82

3.7 Hệ số đồng dạng di truyền của một số giống nho nghiên cứu 86

3.8 Một số đặc điểm chính của các giống nho địa phương 89

3.9 Một số đặc điểm đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống

nho ăn tươi và sấy khô nhập nội 92

3.10 Thời kỳ vật hậu của các giống nho ăn tươi và sấy khô nhập nội 94

3.11 Một số đặc điểm chùm quả của các giống nho ăn tươi và nho sấy

3.12 Một số đặc điểm quả các giống nho ăn tươi và sấy khô nhập nội 99

3.13 Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống

nho ăn tươi và sấy khô nhập nội ở vụ thu hoạch thứ 3 102

3.14 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả của các giống nho ăn

3.15 Một số đặc điểm đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống

3.16 Các thời kỳ vật hậu của các giống nho chế biến rượu nhập nội 113

3.17 Một số đặc điểm chùm quả của các giống nho chế biến rượu nhập

nội 114

3.18 Một số đặc điểm quả của các giống nho chế biến rượu nhập nội 116

3.19 Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống

nho chế biến rượu nhập nội ở vụ thu hoạch quả thứ 3 118

Trang 7

3.20 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả của các giống nho chế

3.21 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một

số giống nho ăn tươi có triển vọng 1263.22 Một số yếu tố cấu thành năng suất và số chùm quả trên cây của

các giống qua các vụ thu hoạch 1283.23 Năng suất của một số giống nho ăn tươi có triển vọng qua các vụ

3.30 ảnh hưởng của giá thể tới kết quả ra rễ của cành giâm đã hoá gỗ 1443.31 ảnh hưởng của thời vụ giâm tới kết quả ra rễ của cành giâm 1453.32 Kết quả nhân giống nho bằng phương pháp ghép cành đã hoá gỗ 1483.33 ảnh hưởng của tuổi gốc ghép đến tỷ lệ ghép sống 1493.34 ảnh hưởng của độ thuần thục của cành ghép đến tỷ lệ ghép sống 1513.35 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ ghép sống 1533.36 Đặc điểm nở hoa của các giống nho tham gia trong các tổ hợp lai 1563.37 Một số kết quả thu được của các tổ hợp lai 158

Trang 8

Danh mục các biểu đồ và đồ thị

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu các giống nho theo dõi đánh giá được phân nhóm

3.2 Tỷ lệ các giống nho trong tập đoàn theo dõi đánh giá có

các tính trạng quý khác nhau 843.3 Năng suất của các giống nho chế biến rượu tại vùng

Đồ thị 3.1 Tương quan giữa khối lượng quả với năng suất của các

giống nho ăn tươi 1043.2 Tương quan giữa khối lượng chùm quả với năng suất của

các giống nho ăn tươi 1043.3 Tương quan giữa số lượng chùm quả trên cây với năng

suất của các giống nho ăn tươi 1053.4 Tương quan giữa khối lượng quả với năng suất của các

giống nho chế biến rượu 1193.5 Tương quan giữa khối lượng chùm quả với năng suất của

các giống nho chế biến rượu 1203.6 Tương quan giữa số lượng chùm quả trên cây với năng

suất của các giống nho chế biến rượu 1203.7 Số lượng chùm quả trên cây của một số giống nho ăn

tươi có triển vọng qua các vụ thu hoạch 1313.8 Năng suất thu được của một số giống nho ăn tươi có

triển vọng qua các vụ thu hoạch 131

Trang 9

Mở đầu

1 Đặt vấn đề

Phát triển cây ăn quả mang tính hàng hoá nhằm tăng sản phẩm Nông nghiệp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, là định hướng chiến lược được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặc biệt quan tâm với mục tiêu đạt 9 triệu tấn quả, trong đó có 1,6 triệu tấn giành cho xuất khẩu vào năm 2010 [4] Trong lĩnh vực phát triển Nông nghiệp, nghề trồng cây ăn quả ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong bảy mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, đó là lúa, cà phê, cao su, chè, hạt điều, mía và rau quả [4], [19]

Với xu thế phát triển kinh tế trên toàn thế giới, nhu cầu sử dụng các sản phẩm quả sau bữa ăn ngày càng được tăng cao Vì vậy, nghề trồng cây

ăn quả được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Tuỳ thuộc vào lợi thế và điều kiện tự nhiên của mỗi nước khác nhau mà nước đó tập trung nghiên cứu và phát triển các chủng loại quả chính của mình Cùng với các loại cây ăn quả như mận, đào, táo, lê, hồng được tập trung phát triển ở các nước có điều kiện khí hậu ôn đới; cam quýt, chuối, dứa, xoài, nhãn vải ở các nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, cây nho được tập trung nghiên cứu và phát triển ở nhiều nước trên thế giới với điều kiện tự nhiên rất khác nhau

ở nước ta hiện nay, cây nho đang được trồng tập trung mang tính sản xuất hàng hoá ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Tuy Phong của tỉnh Bình Thuận

ở các tỉnh phía Bắc, cây nho mới chỉ được trồng rải rác trong các vườn gia

đình, vừa với mục đích làm cây che bóng và vừa sử dụng sản phẩm quả Một

số tỉnh có diện tích nho được trồng nhiều hơn hoặc các giống trồng đa dạng hơn là Lào Cai, Sơn La, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Tây và Hà Nội Các giống nho đang được trồng ở các tỉnh phía Bắc đều có khả năng sinh trưởng phát triển rất tốt, một số giống có năng suất cao, nhưng nhìn

Trang 10

chung chưa có giống nho được trồng phổ biến nào có chất lượng quả tốt để

có thể mở rộng diện tích trồng mang tính sản xuất hàng hoá, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng vườn

Nho là một trong những loại quả có giá trị dinh dưỡng cao, ngoài hàm lượng đường tổng số chiếm từ 15 - 25%, protein 0,03 - 0,17%, các chất khoáng hoà tan 0,03 - 0,6%, tanin 0,01 - 0,1%, quả nho còn có các axít hữu cơ như axít tartaric, axit malic và axit citric [86] Với thành phần các chất dinh dưỡng khá đầy đủ như vậy, nho luôn là loại quả được nhiều người ưa thích Tại Hà Nội, cùng với sản phẩm nho của ta được trồng ở Ninh Thuận, một lượng nho khá lớn đang được bán tại hầu hết các chợ, các sạp hàng quả

là được nhập từ Mỹ và Trung Quốc Ngoài sử dụng cho ăn tươi, sản phẩm nho từ vùng trồng Ninh Thuận đã được đưa vào chế biến rượu vang tại các nhà máy chế biến rượu cả ở các tỉnh phía Nam và Hà Nội Qua đó đã cho chúng ta thấy rằng, thị trường tiêu thụ nho cho ăn tươi và chế biến ở các tỉnh phía Bắc nói chung, ở Hà Nội và các thành phố tập trung đông dân cư khác nói riêng là rất lớn

Khi so sánh với điều kiện thời tiết, khí hậu của một số nước và khu vực lãnh thổ có trồng nho như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản , điều kiện thời tiết khí hậu của một số tỉnh phía Bắc nước ta có khá nhiều điểm tương

đồng với các nước trồng nho kể trên Từ đó cho thấy, một số tỉnh ở phía Bắc nước ta rất có thể trồng được nho cho hiệu quả kinh tế Việc trồng thành công cây nho ở các tỉnh phía Bắc sẽ gợi mở cho chúng ta hướng đi nhằm làm

đa dạng hoá các sản phẩm quả, đáp ứng được yêu cầu sử dụng cho ăn tươi và cho chế biến ở các tỉnh phía Bắc Với mong muốn đưa được cây nho ra trồng

ở các tỉnh phía Bắc, trong vài năm trước đây, Tổng công ty Hợp tác Khoa học và Công nghệ với các nước đang phát triển (STD) đã nhập một số giống nho từ Pháp đưa vào trồng tại một số tỉnh phía Bắc Tuy nhiên, do chưa có công tác khảo nghiệm đánh giá tính thích ứng của giống tại những nơi trồng

Trang 11

mới trước khi tiến hành sản xuất trên quy mô rộng, trong khi đó lại đã tiến hành trồng trên quy mô sản xuất, nên hầu hết các giống mới đưa vào trồng

đều chưa thu được kết quả như mong muốn

2 Mục đích nghiên cứu

Tuyển chọn được một số giống nho sử dụng cho ăn tươi, cho chế biến rượu có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và chất lượng quả phù hợp cho từng mục đích sử dụng trồng trong điều kiện sinh thái một số tỉnh miền Bắc Tuyển chọn được các giống nho có các tính trạng

có lợi để sử dụng trong công tác lai tạo ở những nghiên cứu tiếp theo phục vụ cho việc chọn tạo, cải tiến giống

Tìm hiểu kỹ thuật nhân giống nho bằng các phương pháp: giâm cành, các phương pháp ghép nhằm xác định được phương pháp nhân giống thích hợp sử dụng trong điều kiện sinh thái của các tỉnh miền Bắc

3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Kết quả thu được của đề tài sẽ góp thêm những luận cứ cho việc khẳng

định khả năng trồng và phát triển của cây nho trong điều kiện sinh thái một

số tỉnh miền Bắc nước ta

- Các mẫu giống điều tra thu thập được từ các tỉnh phía Bắc, từ vùng trồng nho tập trung Ninh Thuận và từ con đường nhập nội sẽ là nguồn vật liệu khởi đầu có giá trị sử dụng cho công tác chọn tạo và cải tiến giống trong các nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

- Đóng góp thêm cơ sở khoa học cho việc định hướng công tác nhập nội, chọn tạo giống nho; xây dựng quy trình nhân giống nho bằng các phương pháp giâm cành, ghép cành trong điều kiện sinh thái các tỉnh miền Bắc

- Những giống nho tuyển chọn được sẽ được đưa vào sản xuất, góp phần làm đa dạng hoá các sản phẩm quả ở các tỉnh phía Bắc, hạ giá thành sản phẩm và tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 52 mẫu giống, bao gồm các giống nho điều tra thu thập được ở các tỉnh phía Bắc, một số giống có triển vọng thu thập từ vùng trồng Ninh Thuận và một số giống nho nhập nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2003 trên cơ sở

kế thừa những kết quả nghiên cứu thu được từ năm 1995 tại Gia Lâm - Hà Nội và Mộc Châu - Sơn La Nội dung chính của luận án là nghiên cứu đặc

điểm sinh trưởng phát triển, khả năng ra hoa đậu quả của các giống nho điều tra thu thập được, làm cơ sở cho việc chọn lọc một số giống ăn tươi có triển vọng đưa vào trồng so sánh tại Viện Nghiên cứu Rau quả và đưa trồng thử nghiệm tại một số điểm các tỉnh phía Bắc; nghiên cứu kỹ thuật nhân giống nho bằng phương pháp giâm cành và phương pháp ghép Nghiên cứu về lai hữu tính chỉ là những nghiên cứu mang tính chất thăm dò để làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này

Trang 13

Chương I Tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Dựa vào các đặc trưng khí hậu của các tỉnh phía Bắc nước ta nói chung và một số tỉnh Sơn La, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh nói riêng,

đối chiếu với yêu cầu sinh thái của cây nho cho thấy, cây nho có thể trồng

được ở một số tỉnh miền Bắc nước ta Theo Vũ Công Hậu (1996), ở Việt Nam, từ các tỉnh phía Nam cho tới các tỉnh phía Bắc, ở đâu cây nho cũng ra hoa kết quả bình thường [9], càng khẳng định cây nho có thể trồng và phát triển ở một số tỉnh phía Bắc

So sánh với điều kiện khí hậu của một số nước và vùng lãnh thổ có nghề trồng nho phát triển như ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản cho thấy rằng, các nước này trồng và phát triển nho ở các vùng với điều kiện khí hậu tương đối đa dạng Cây nho sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong

điều kiện khí hậu ấm áp, nhiều nắng và độ ẩm không khí thấp, tuy nhiên chỉ cần điều kiện nhiệt độ không quá thấp vào mùa đông, không có sương muối trong mùa xuân hoặc nhiệt độ và độ ẩm không quá cao vào mùa sinh trưởng của cây là có thể phù hợp cho việc trồng nho (Pandey và Pandey, 1996) [72]

Trong nghề sản suất cây ăn quả nói chung và sản xuất nho nói riêng của các nước mà ở đó công tác chọn tạo giống mới bước đầu được phát triển, thì một trong các hướng đi của công tác chọn tạo giống mới là nhập nội giống cây trồng Một số giống nho được chọn tạo tại Mỹ như Cardinal, Thompson seedless hiện đã được di thực và trồng ở hầu hết các nước có nghề trồng nho trên thế giới; hoặc giống Kyoho được chọn tạo từ tổ hợp lai

Ishiharawase ì Centennial bởi Y Oinone ở Nhật Bản (Yang) [100], (Ray)

[78], hiện cũng đang được trồng ở nhiều nước xung quanh nước ta Ngay tại

Trang 14

vùng trồng nho Ninh Thuận của nước ta, các giống đang được trồng phổ biến cũng là kết quả của công tác nhập nội, khảo nghiệm và đánh giá thu được

Một số kết quả bước đầu về việc trồng khảo nghiệm các giống nho chế biến rượu được nhập nội của Pháp tại Gia Lâm - Hà Nội và Mộc Châu - Sơn

La đã gợi mở cho việc tuyển chọn giống từ các nguồn nhập nội khác nhau

đưa vào trồng ở các tỉnh phía Bắc Trong một dự án trồng thử nghiệm các giống nho nhập nội tại một số tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Tây, Quảng Ninh [16], một số giống nho cho ra hoa đậu quả rất tốt Mặt khác, từ nhiều con đường khác nhau, Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu thập được một tập

đoàn các giống nho cả sử dụng cho ăn tươi và sử dụng cho chế biến khá phong phú

Và những nghiên cứu xung quanh cây nho về tất cả các lĩnh vực như chọn tạo giống, kỹ thuật trồng và thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại mới chỉ có một số kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu cây Bông & Cây có sợi được công bố ở các tỉnh phía Bắc có rất ít kết quả nghiên cứu được công

bố cũng như chưa giải quyết được nhiều vấn đề đòi hỏi của sản xuất Việc tiến hành những nghiên cứu của đề tài đặt ra là rất có cơ sở và hết sức cần thiết

1.2 Nguồn gốc, phân bố và giá trị của cây nho

1.2.1 Nguồn gốc cây nho

Cây nho (Vitis vinifera Linne) thuộc họ nho Vitaceae, là một trong

những cây trồng có nguồn gốc sớm nhất trên trái đất, qua các mẫu hoá thạch của cây và lá nho trong các trầm tích đá phấn, các nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng, cây nho có cùng tuổi phát sinh với loài người (Cheema và Jindal, 2002) [dẫn theo 41] Tuy nhiên việc xác định thời gian một cách chính xác thì còn có những ý kiến chưa đồng nhất

Theo Rives (1971), mặc dù không có những bằng chứng thực tế để chỉ

ra chính xác nguồn gốc cả về thời gian và không gian của cây nho, nhưng

Trang 15

những mẫu hoá thạch của lá, quả và thân cây nho đã được khám phá ra ở vùng Bắc Mỹ và châu Âu từ kỷ thứ 3, khoảng 54 triệu năm trước đây [dt.72] Theo kết quả khám phá của các nhà khoa học ở Western Kazakhatan, những dấu tích hoá thạch của cây và lá nho có trên các trầm tích đá phấn khoảng 90

- 95 triệu năm trước đây, vào thời kỳ mà khủng long đang phát triển (Shanmugavelu, 1989) [85]

Thời gian cây nho bắt đầu được con người trồng trọt đã được rất nhiều tác giả đề cập tương đối thống nhất Những hình ảnh về việc gieo trồng và chế biến rượu đã được mô tả trên các bức tranh ghép của Ai Cập ở triều đại thứ 4 - năm 2440 trước công nguyên (Cheema và Jindal, 2002) [dt.41], (Winkler, Cook, Kliewer và Lider, 1974) [97], (Pandey, 1996) [72]

Theo các tác giả trên, cây nho có nguồn gốc ở vùng tiểu á (asia Minor), nằm giữa và phía Nam vùng giữa biển Đen và biển Caspin Hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất quan điểm cho rằng, nơi đây là quê hương

của loài nho Vitis vinifera, từ loài này tất cả các giống nho trồng trọt được

tạo ra trước khi có sự khám phá ra vùng Bắc Mỹ Sau đó, nghề trồng nho

được mở rộng ra các vùng phía Tây và phía Đông Vào khoảng những năm

600 trước công nguyên, cây nho được di thực tới Hi Lạp, Italia và vùng phía nam của nước Pháp Vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, người Hi Lạp đã mang nho tới trồng tại Đức, cây nho đã được đưa tới vùng Tân Thế giới cùng với những đoàn thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (olmo, 1976) [dt.49]

Cũng theo Olmo (1976), cây nho được đưa đến trồng ở ấn Độ vào khoảng thời gian xung quanh năm 1.300 sau công nguyên; vào năm 1958, cây nho được đưa đến trồng ở Philippine Theo Shanmugavelu (1989), cây nho đã có mặt ở ấn Độ từ thế kỷ 11 trước công nguyên, nhưng rất lâu không

được biết đến cho đến khi có những người theo đạo hồi từ Afganistan đến xâm lược [85] Còn theo Coronel (1998), cây nho đã được người Tây Ban

Trang 16

Nha mang đến Philippine từ khoảng 100 năm trước đây, sau đó được trồng ở nhiều vùng khác nhau của đất nước và được ghi nhận cho quả ở vùng Shiquijor từ những năm 1880 [49]

ở Việt Nam, cây nho được trồng ở hầu khắp các tỉnh từ miền Nam cho tới miền Bắc Ngay cả Hà Nội, người ta trồng nho phổ biến trước hết là làm cây cảnh và che bóng vào mùa hè, nhất là các cửa sổ, cửa ra vào ngoảnh

về hướng tây Tuy nhiên, nho Hà Nội thuộc nhóm gì, nhập nội từ bao giờ, thì chưa ai xác định được (Vũ Công Hậu, 1996) [9]

1.2.2 Phân loại nho

Cây nho thuộc họ nho Vitaceae, bao gồm 12 chi và khoảng 600 loài

được phân bố rộng rãi từ các nước nhiệt đới, á nhiệt đới cho tới các nước ôn

đới Trong đó, chi có giá trị kinh tế quan trọng và là chi duy nhất có các

giống nho trồng là chi Vitis

Chi Vitis lại được chia thành 2 chi phụ là Muscadinia và Euvitis Các loài trong chi phụ Muscadina có 40 nhiễm sắc thể, trong khi đó, các loài trong chi phụ Euvitis chỉ có 28 nhiễm sắc thể Các loài trong chi phụ

Muscadinia rất dễ được nhận biết thông qua một số đặc điểm như vỏ cây liên kết rất chặt, không tróc vỏ, tua cuốn không phân nhánh, các đốt thân liên tục, chùm quả nhỏ và quả bị rụng khi chín Ngược lại, các loài thuộc chi

Euvitis thì có đặc điểm tróc vỏ thân, tua cuốn phân nhánh, các đốt trên thân

được phân biệt rõ, chùm quả lớn và quả trên chùm không tự rụng khi chín [41], [47]

Theo Olmo (1955), một số loài của chi Vitis và chi phụ Muscadinia

được tìm thấy ở các vùng khác nhau trên thế giới như sau:

Trang 17

- Về các loài khác nhau

1 Các loài vùng châu á: có 11 loài khác nhau

2 Chi phụ Muscadinia: có 3 loài là M.rotundifolia, M.munsoniana,

M.popenoei

Theo Hedrick (1907) và Winkle et al (1974), hơn 90% tổng sản lượng

nho trên toàn thế giới là thuộc loài Vitis vinifera hoặc từ các loài nho Mỹ Một số loài nho Mỹ được trồng thu quả là V.labrusca, V.aestiralis,

V.riparia, V.rotundifolia, V.lincecumii, V.champini, V.longii, V.doaniana, V.rupestris, V.canidicans, V.monticola và V.berlandieri [dt.41], [dt.47] Cũng theo các tác giả trên, toàn bộ vùng nho châu Âu và các vùng trồng nho

quan trọng khác được sản xuất hoặc từ các giống nho thuần của loài Vitis

vinifera hoặc là giống lai từ một giống của loài Vitis vinifera và một loài nho

địa phương của Mỹ, đặc biệt là loài V.labrusca

Theo Coronel (1998), chi Vitis có khoảg 50 loài được ghi nhận ở những vùng nhiệt đới và ôn đới Ba loài có giá trị quan trọng là V labrusca Linne, V rotundifolia Michx và V vinifera Linne, trong đó loài V.vinifera

có ý nghĩa kinh tế nhất [49]

Theo Chadha và Shikhamany (1999), trong chi Vitis có khoảng 60 loài

khác nhau Hầu hết các loài này có nguồn gốc từ phía Bắc bán cầu Có một

số loài có nguồn gốc từ châu á Một số giống thuộc 2 loài Vitis cognetias và

Vitis thumbergi có nguồn gốc từ châu á được trồng ở một số vùng của Nhật

Bản Trong chi phụ Euvitis, loài có giá trị quan trọng nhất là Vitis Vinifera

Linne; hơn 90% các giống nho trồng đều thuộc loài này Loài quan trọng

tiếp theo là Vitis labrusca Linne Ngoài ra, một số ít các giống nho trồng thuộc các loài như Vitis aestivalis Michaux, Vitis berlandieri Planchon, Vitis

california Bentham hay một số loài nho khác [47]

Trang 18

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng phần lớn các giống nho trồng trên

thế giới ngày nay là thuộc loài Vitis vinifera, chi phụ Euvitis hoặc là một giống lai giữa loài Vitis vinifera với một loài nho địa phương của Mỹ mà chủ yếu là loài V.labrusca

1.2.3 Yêu cầu sinh thái của cây nho

1.2.3.1 Yêu cầu về điều kiện khí hậu

Yêu cầu về nhiệt độ

Nho là một trong số ít những cây trồng có thể chịu đựng nhiệt độ trong một khoảng biến động rất lớn, từ - 200C trong các tháng mùa Đông

đến 450C trong các tháng mùa Hè (Shanmugavelu, 1989) [85] Nhiệt độ có

ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất quả của nho

Theo Pandey và Pandey (1996), các giống nho thuộc loài Vitis

vinifera thường yêu cầu có khoảng 60 ngày ngủ nghỉ trong mùa Đông với nhiệt độ trung bình ngày dưới 100C nhưng không thấp hơn -120C Vào mùa Xuân, khi nhiệt độ tăng lên đến 100C là nho bắt đầu bật chồi cho một mùa sinh trưởng mới [72] ở các vùng trồng nho ở phía Nam của ấn Độ cây nho sinh trưởng rất tốt và cho năng suất cao trong một khoảng nhiệt độ dao động rất lớn từ 150 - 400C

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ quá trình sinh trưởng phát triển của cây nho Các giống nho khác nhau cũng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ ở các mức độ khác nhau Những giống nho lai với các loài nho Mỹ sinh trưởng phát triển rất tốt trong điều kiện nhiệt đới của các vùng trồng nho trên toàn thế giới Những giống nho của vùng ôn đới sinh trưởng kém trong điều kiện nhiệt đới, có thể bởi sự không cân bằng về tỷ lệ

đường - bột trong cây [72] ở vùng Gwalior, phía Nam bang Agra của ấn

Độ, một trong những vùng nóng nhất của ấn Độ, giống Perlete có quá trình chín diễn ra bình thường nhưng quả có hàm lượng đường thấp hơn, vỏ quả

Trang 19

dai hơn và quả nhỏ hơn so với cùng giống được trồng ở những vùng lạnh [85] Tương tự như vậy, theo Coombe (1986), nhiệt độ được xem như là yếu

tố chính có ảnh hưởng tới chất lượng quả nho [41]

Yêu cầu về ẩm độ và lượng mưa

ẩm độ là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây nho Theo Vũ Công Hậu (1996), nho không sợ nhiệt độ cao nhưng sợ nhất khí hậu âm u, nhiều mưa, độ ẩm không khí cao

[9] Để sinh trưởng phát triển tốt, các giống nho thuộc loài Vitis vinifera yêu

cầu những vùng có mùa Hè dài, ấm áp, khô và có mùa Đông lạnh Cây nho không phù hợp ở những nơi có mùa Hè ẩm ướt, rất dễ bị các đối tượng sâu bệnh hại tấn công [41], [47], [72], [85], [97]

Theo Winkler et al (1974), trong cùng điều kiện ẩm độ không khí cao, khi cây nho được trồng ở những vùng có nhiệt độ thấp thì có khả năng chống chịu với các đối tượng bệnh hại tốt hơn so với trồng ở những nơi có nhiệt độ cao hơn Cũng theo tác giả, các giống nho khác nhau có khả năng chống chịu với điều kiện ẩm độ không khí cao khác nhau Các giống nho

thuộc loài V.labrusca hoặc là giống lai giữa Vitis vinifera với V.labrusca có

khả năng thích hợp hơn trong điều kiện mùa Hè nóng ẩm và mùa Đông lạnh

so với các giống thuần Vitis vinifera [97]

Cùng với ẩm độ, lượng mưa cũng là một trong các yếu tố quan trọng

có ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển của cây nho ở những vùng có lượng mưa lớn hoặc mùa mưa đến sớm trong mùa Hè đều không thuận lợi cho cây nho Mưa lớn và trời nhiều mây trong thời gian nở hoa sẽ ảnh hưởng tới tỷ lệ

đậu quả, hoặc lượng mưa tập trung vào thời kỳ quả chín sẽ dễ gây thối và nứt quả Ngoài ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả, gây thối và nứt quả thì lượng mưa lớn còn là điều kiện thuận lợi cho các loại nấm bệnh tấn công và gây hại [39], [97]

Trang 20

ở nước ta, vùng trồng nho tập trung Ninh Thuận và Bình Thuận có

điều kiện ẩm độ và lượng mưa rất phù hợp cho cây nho sinh trưởng phát triển, ra hoa và đậu quả Ngoài ra, một số vùng khác như Châu Đốc, Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) và vùng Cam Ranh (Khánh Hoà) cũng có điều kiện thời tiết khí hậu khá phù hợp cho việc trồng nho [21] ở phía Bắc, một

số tỉnh có ẩm độ không khí và tổng lượng mưa thấp như vùng Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Dũng của Bắc Giang; vùng Hữu Lũng, Chi Lăng của Lạng Sơn; vùng Yên Châu, Mai Sơn của Sơn La cũng tương đối thuận lợi cho việc trồng

và phát triển cây nho

Theo Zhakole et al (1979), thời gian chiếu sáng cũng như số giờ nắng

có được trong ngày lớn sẽ thuận lợi cho quá trình tổng hợp đường ở trong quả Theo Smart (1986), những kết quả nghiên cứu trên giống nho Carbernet Sauvignon đã chỉ ra rằng, cả cường độ và thời gian chiếu sáng đều có ảnh hưởng đến thành phần các chất trong quả như: đường, axit, pH, K, phenol và các anthocyanin [41]

1.2.3.2 Yêu cầu về đất trồng

Cây nho có bộ rễ rất khoẻ, có khả năng sinh trưởng phát triển tốt trên các loại đất khác nhau, từ đất có thành phần cơ giới nhẹ đến đất sét, từ đất có

độ phì thấp đến đất có độ phì cao và cả trên đất có lẫn đá sỏi Theo Shanmugavelu (2003), bất kỳ một loại đất nào mà trồng được cây lương thực

là có thể phù hợp cho việc trồng nho [86] Tuy nhiên, nho có khả năng sinh

Trang 21

trưởng tốt trên đất nhiều mùn, thoát nước tốt Khi nho được trồng trên đất quá nhiều dinh dưỡng sẽ làm cho cây tập trung sinh trưởng sinh dưỡng nhiều hơn, quả nhỏ, chua và không có hương vị

Về yêu cầu pH đất, một số tác giả đưa ra các thông số có sự khác nhau Theo các tác giả Hapitan (1975) và Anonymous (1977), pH đất thích hợp nhất cho phần lớn các giống nho là nằm trong khoảng 5,5- 6,5 [dt.41] Nhưng theo Shanmugavelu (1989), thì pH thích hợp nhất cho trồng nho nằm trong khoảng 6,5 - 7,5, đất chua hơn hoặc kiềm hơn đều ít thích hợp đối với cây nho [85]

ở Việt Nam, theo Thái Công Tụng (1974), đất trồng nho ở Ninh Thuận có độ pH biến động từ 6,5 - 7,0, tuỳ từng loại đất khác nhau Đất phù

sa có độ pH là 6,6, vùng cát trắng có độ pH là 6,5 và những vùng đất cà giang (đất mặn) thường có độ pH >7,0 Hiện nay, nho ở vùng Ninh Thuận

đang được trồng trên nhiều vùng đất khác nhau, từ đất cát thô ven biển đến

đất thịt đỏ quanh các sườn đồi tháp chàm đều cho kết quả sinh trưởng phát triển tốt [21], [31]

1.2.4.Tình hình sản xuất và tiêu thụ nho trên thế giới

Hiện nay, cây nho được coi là một trong những cây ăn quả quan trọng trong nghề trồng cây ăn quả trên thế giới Với tổng diện tích đạt khoảng 7,3 triệu ha, được trồng tập trung ở 92 nước Tổng sản lượng hàng năm đạt xấp

xỉ 62 triệu tấn (bảng 1.1) [53]

Theo số liệu thống kê của FAO cho thấy, các nước trên thế giới có diện tích trồng nho và sản lượng nho lớn hơn là Mỹ, Achentina, Pháp, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha Đặc biệt ba nước có diện tích trồng nho lớn là Pháp, Italia và Tây Ban Nha Trong các nước có diện tích và sản lượng nho lớn, các nước xuất khẩu nho chính là Mỹ, Pháp, Italia và Tây Ban Nha [94]

ở các nước khu vực châu á Thái Bình Dương, diện tích và sản lượng nho đã được tăng lên trong những năm gần đây với tổng diện tích khoảng

Trang 22

1,7 triệu ha và tổng sản lượng hàng năm khoảng 5 triệu tấn, các nước có diện tích trồng nho đáng kể là Trung Quốc, Australia, ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan, Thái Lan, Việt Nam và Mianma [53]

Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng nho của một số nước trên thế giới

Diện tích (1.000 ha) Sản lượng (1.000 tấn)

Nguồn: FAO production Yearbook (2001)

Theo số liệu thống kê của Australia, tổng diện tích trồng nho năm

1999 là 122.915 ha với tổng sản lượng là 1.265.536 tấn [71] Năm 1998

-1999, Australia đã xuất khẩu 31.017 tấn nho ăn tươi với giá trị đạt 69,1 triệu

đô la Mỹ Thị trường nhập khẩu chính nho từ Australia là Hồng Kông, Singapo với tổng giá trị nhập khẩu của hai thị trường này là 44,3 triệu đô la

Mỹ

Nước có diện tích trồng nho lớn thứ hai trong khu vực đó là Trung Quốc Theo Li Shao-Hua (2001), tổng diện tích nho của Trung Quốc năm

1998 ước đạt 178.000 ha với tổng sản lượng là 2.358,20 nghìn tấn Các vùng trồng nho chính của Trung Quốc là Xingjiang, Hebei, Shangdong, Liaoning, Heman Hàng năm Trung Quốc có xuất khẩu khoảng gần 1.000 tấn nho ăn

Trang 23

tươi và khoảng trên 1.000 tấn nho sấy khô tương đương giá trị xuất khẩu đạt 1,7 triệu đô la Mỹ Mặc dù là nước có diện tích trồng nho khá lớn trong khu vực, nhưng hàng năm Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu một lượng nho ăn tươi khá lớn của Mỹ [61]

Theo Shikhamany (2001), với diện tích 34 nghìn ha ở năm 1998 và sản lượng hàng năm ước đạt 1,0 triệu tấn, ấn Độ là một trong các nước có diện tích và sản lượng nho lớn trong khu vực Trong tổng sản lượng nho của

ấn Độ, có xấp xỉ 85% sử dụng cho ăn tươi, phần sản lượng còn lại sử dụng cho sấy khô, làm nước ép và chế biến rượu Về sản lượng xuất khẩu, theo

ước tính của tác giả, hàng năm ấn Độ xuất khẩu 22.000 tấn nho ăn tươi Thị trường xuất khẩu của ấn Độ là các nước Trung Đông và các nước châu âu [87]

ở Nhật Bản, theo Kunihisa Morinaga (2000), nho được trồng ở 4 đảo chính từ phía Bắc tới phía Nam Tính đến năm 1997, tổng diện tích trồng nho của Nhật Bản đạt 22.800 ha và tổng sản lượng đạt 250.900 tấn Với sản lượng nho đạt chưa đầy 300.000 tấn, hàng năm Nhật Bản phải nhập khẩu một khối lượng nho khá lớn [68]

Theo Surasak Nilnond (2001), là một nước trong khu vực khá gần Việt Nam với nhiều vùng có điều kiện khí hậu tương tự như nước ta, Thái Lan có nghề trồng nho cũng đang được phát triển Theo số liệu thống kê đến năm

1998, tổng diện tích nho của Thái Lan đạt 2.717 ha với tổng sản lượng hàng năm đạt 31.677 tấn Năng suất nho trung bình của Thái Lan đạt 15 tấn/ha [70]

Theo Min - Tze Wul và Shui-Ho Cheng (2002), năm 1995, tổng diện tích nho của Đài Loan là 5.000 ha, trong đó có khoảng 2.000 ha sử dụng cho chế biến rượu [98] Một số nước khác trong khu vực cũng có nghề trồng nho

đang được phát triển là Hàn Quốc, Mianma và Philippine, các nước này đều

có diện tích trồng nho từ khoảng 1.000 đến vài chục nghìn ha [84], [90]

Trang 24

1.2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nho ở trong nước

ở Việt Nam, cây nho được trồng tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận với diện tích khoảng 2.500 - 2.700 ha và một phần diện tích nhỏ ở phía nam tỉnh Khánh Hoà [1], [21], [25], [77] Tuy nhiên, diện tích và sản lượng nho của tỉnh trong những năm vừa qua biến động mạnh và có xu hướng giảm, đặc biệt là sau năm 1998 do trận lũ lụt xảy ra cuối năm Đến năm 2000, diện tích nho của toàn tỉnh mới khôi phục lại được 1.809 ha, sản lượng đạt 20.344 tấn (bảng 1.2) [6]

Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng nho tại Ninh Thuận thời kỳ 1996-2000

2.254 1.712 45.522 26,6

1.442 1.875 33.220 17,7

1.551 1.251 17.700 14,2

1.809 1.459 20.344 13,9 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2000 Trong một thời gian dài trước đây, gần như toàn bộ diện tích nho ở Ninh Thuận được trồng bằng giống nho Cardinal và giống này hiện đang có

xu hướng bị thoái hoá Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau năm

2000, công tác nghiên cứu về giống nho đã bắt đầu được chú trọng Một số giống nho mới như Black Queen, NH01-48 , Italia, Red star đã được đưa vào trồng bổ sung cho cơ cấu giống nho tại Ninh Thuận và từng bước đã nâng cao được năng suất nho của vùng trồng [25] Đến nay, diện tích các giống nho mới của toàn tỉnh là 85 ha (chiếm trên 5% diện tích nho toàn tỉnh), trong

đó chủ yếu là giống NH 01-48 (Lê Quang Quyến, Phan Công Kiên, 2003) [26]

Tiếp giáp với Ninh Thuận, các huyện phía Bắc của tỉnh Bình Thuận cũng có điều kiện đất đai và khí hậu tương tự như Ninh Thuận Diện tích trồng nho của tỉnh tính đến cuối năm 1998 là 200 ha, và diện tích nho đã liên

Trang 25

tục tăng trong những năm qua Các giống nho đang được trồng chủ yếu ở Bình Thuận là Cardinal, Black Queen và White malaga Ngoài các giống

đang được trồng phổ biến ngoài sản xuất như trên, một số giống nho khác

đang được trồng khảo nghiệm, đánh giá tại Trại giống nho Vĩnh Hảo rất có triển vọng đưa ra trồng ngoài sản xuất để làm phong phú thêm cơ cấu các giống nho tại vùng trồng [11]

ở các tỉnh phía Bắc, cây nho đã được trồng rải rác trong vườn nhà vừa lấy quả ăn vừa làm cây che bóng từ rất lâu và có mặt ở hầu hết các tỉnh thành, các giống nho này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, một số giống có năng suất rất cao Tại Mộc Châu - Sơn La, năng suất của giống nho tím tại vườn trồng 6 năm tuổi đã đạt 20,36 tấn/ha trong vụ Xuân Hè Tuy nhiên, tất cả các giống cũ đang trồng ở các tỉnh phía Bắc đều có chất lượng quả không cao [33]

Với tiềm năng đất đai còn rất lớn, năm 1995 Liên hiệp hỗ trợ phát triển Khoa học và Công nghệ (STD) đã nhập nội 15.000 cây giống nho từ Pháp của hãng RICHTER S.A vào Việt Nam Các giống nho này đã được

đưa trồng tại các tỉnh như Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tây và Hà Nội [12] Sau hai năm trồng, một số giống như Datteir, Chandonnay đã cho năng suất cao và chất lượng quả rất tốt trên một số điểm trồng Song do không được tiếp tục đầu tư và chăm sóc, thiếu tác động kỹ thuật nên tất cả các diện tích trồng mới đến nay đều đã phá bỏ Các giống nho cho năng suất cao và chất lượng quả tốt từ nguồn nhập nội này hiện

đang trồng rải rác trong vườn nhà tại các tỉnh có tham gia dự án và ở một số nơi, cây vẫn cho ra quả rất sai với chất lượng quả tốt Về việc tiêu thụ sản phẩm, nho từ vùng trồng Ninh Thuận được tiêu thụ trong nước là chính, ở các tỉnh phía Nam và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 75,7%, Hà Nội và các tỉnh phía Bắc 19,3%, tiêu thụ nội tỉnh chiếm 5,0% ở dạng nho kém phẩm chất dùng làm rượu và nước ngọt (Vũ Xuân Long, Nguyễn Thị Thanh Bình,

Trang 26

1993) [18] Tại các thị trường tiêu thụ chính như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài sản phẩm nho trồng ở trong nước, còn có một lượng sản phẩm nho ăn tươi chất lượng tốt được nhập về từ Mỹ, Trung Quốc [62]

Như vậy, hiện tại ở nước ta nho được trồng tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận với sản lượng hàng năm khoảng trên 20 nghìn tấn Toàn bộ sản lượng nho được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước với trên 70% cho thị trường các tỉnh phía Nam và xấp xỉ 20% cho thị trường các tỉnh phía Bắc ở phía Bắc nước ta, một số tỉnh có các vùng có

điều kiện thời tiết khô, lượng mưa không cao như Lạng Sơn, Bắc Giang hoặc một số tỉnh khác có thể trồng được nho cho hiệu quả kinh tế cao

1.3 Những nghiên cứu về chọn tạo giống nho

1.3.1 Nghiên cứu về lưu giữ nguồn quỹ gen

Công tác lưu giữ nguồn quỹ gen cây ăn quả nói chung đều được tiến hành ở tất cả các quốc gia có ngành sản xuất cây ăn quả và có nghiên cứu về cây ăn quả Công tác này được các quốc gia tiến hành trong một mạng lưới thống nhất của Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế (IPGRI) [93] Tương tự như cây ăn quả nói chung, với cây nho nói riêng, công tác lưu giữ nguồn quỹ gen cũng được tiến hành ở tất cả các nước có nghề trồng nho ở các nước như Mỹ, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, mỗi quốc gia đều có các Viện hoặc Trung tâm chuyên nghiên cứu về nho

Theo Allewelt et al (1990), Pavlouyset et al có khoảng 14.000 giống nho hiện nay đang được trồng ở hầu hết các vùng trồng nho của thế giới [38], [76] Trong các công trình nghiên cứu của mình, Galet (1990) đã mô tả

chi tiết 259 giống nho thuộc loài Vitis vinifera Đây là những giống chính

hiện đang được trồng ở Pháp và nhiều nước trên thế giới [103]

ở khu vực châu á , Mikio Shiraishi và Shin-ichi Shiraishi đã mô tả chi tiết 205 giống nho đang được trồng ở Nhật Bản và một số nước khác trên thế giới [88]

Trang 27

Khi nghiên cứu về bảo tồn và lưu giữ nguồn gen các giống nho, theo Ray, thì hiện nay trên thế giới có khoảng 10.000 giống nho đã được đặt tên

và đang được trồng ở các nước khác nhau Song theo các tác giả Badell (1952), Levadous (1952), Randhana và Singh (1958), do có sự đa dạng về kiểu hình, cùng một giống có thể được đặt các tên khác nhau ở các nước khác nhau nên số lượng giống thực tế có thể nhỏ hơn con số 10.000 giống [dt.78]

Theo Yadav (1998), trong vườn tập đoàn các giống nho của Viện Nghiên cứu Làm vườn ấn Độ tại Bangalore hiện nay đang lưu giữ 579 giống nho từ nguồn nhập nội của các nước khác nhau trên thế giới và từ nguồn chọn tạo trong nước Toàn bộ các giống được lưu giữ trong tập đoàn đang

được sử dụng trong các chương trình chọn tạo giống khác nhau [99]

ở Nhật Bản, theo Kunihisa Morinaga (2001), chương trình chọn tạo giống nho của Nhật Bản đã được bắt đầu từ những năm 1920 Hiện nay có khoảng hơn 200 giống nho đang được trồng ngoài sản xuất hoặc đang được lưu giữ trong tập đoàn lưu giữ nguồn gen Từ nguồn quỹ gen phong phú này, các nhà chọn giống nho của Nhật Bản đã lai tạo thành công các giống nho với năng suất và chất lượng ngày càng được nâng cao [68]

ở Trung Quốc, nước có diện tích trồng nho khá lớn trong khu vực, đã giành được sự quan tâm rất lớn của Chính phủ đối với công tác lưu giữ nguồn quỹ gen cây ăn quả nói chung và cây nho nói riêng Hiện nay, tại hai khu bảo tồn nguồn gen giống nho quốc gia tại Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Zheng zhou, đóng tại Zheng zhou, tỉnh Henan; và Viện Nghiên cứu Cây ăn quả của Học viện Khoa học Nông nghiệp Shanxi, đóng tại Taigu, tỉnh Shanxi

đang lưu giữ khoảng hơn 1.300 giống nho Từ đây, các nhà nghiên cứu và chọn giống Trung Quốc đã chọn tạo thành công nhiều giống nho mới đưa ra trồng ngoài sản xuất (Li Shao-Hua, 2001) [61]

Trang 28

ở một số nước và khu vực lãnh thổ khác trong khu vực như Thái Lan,

Đài Loan, Philippine , công tác thu thập và lưu giữ nguồn quỹ gen các giống nho cũng đều được quan tâm nghiên cứu ở Philippine, các giống nho

được thu thập từ các nguồn khác nhau được lưu giữ tại Khoa công nghệ Cây trồng ở Cebu và Trường Đại học Nông nghiệp Los Banos [49]

ở Việt Nam, nghề trồng nho mới được phát triển, nên công tác lưu giữ nguồn quỹ gen các giống nho cũng mới được tập trung nghiên cứu trong những năm gần đây Theo Phan Công Kiên và Lê Thanh (2002), trong thời gian từ năm 1994 đến năm 2001, Viện Nghiên cứu cây Bông & Cây có sợi

đã thu thập được một tập đoàn các giống nho gồm 89 giống từ nguồn thu thập trong nước và nhập nội Toàn bộ các giống thu thập được hiện đang

được trồng và theo dõi, đánh giá tại Viện Nghiên cứu cây Bông & Cây có sợi

được đóng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận [14] Tại Bình Thuận, một tập đoàn bao gồm trên 80 giống nho được nhập nội từ nhiều nước khác nhau cũng

đang được trồng, theo dõi, đánh giá tại trại giống nho Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong (Phạm Khắc Thọ, 2002) [30] Tại Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, cây nho cũng được duy trì đánh giá trong hệ thống tập đoàn quỹ gen các cây ăn quả [5]

ở các tỉnh phía Bắc, Viện Nghiên cứu Rau quả cũng đã tiến hành thu thập được một tập đoàn bao gồm trên 50 giống nho từ nhiều nguồn khác nhau và hiện đang được duy trì, theo dõi, đánh giá trên đồng ruộng [7]

Cùng với việc lưu giữ nguồn gen cây trồng trên đồng ruộng, các nhà chọn giống nho trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về bảo quản vật liệu di truyền trong điều kiện lạnh Theo Gray và Meredith (1992), qua kết quả các nghiên cứu thu được cho thấy, các vật liệu di truyền như thể sần hoặc mô tế bào được bảo quản rất tốt trong điều kiện lạnh -196 0C Trong thí nghiệm nghiên cứu về bảo quản hạt phấn, Akihama và Omura (1986), Ganeshan và

Trang 29

Alexander (1990) đã thu được kết quả cho thấy, hạt phấn có thể duy trì sức sống được trong 5 năm [37], [54]

1.3.2 Nhập nội và thuần hoá giống

Trong công tác chọn tạo giống mới đối với cây ăn quả, các nhà chọn tạo giống đã cùng sử dụng một số phương pháp như chọn lọc từ nguồn biến

dị tự nhiên trong sản xuất, nhập nội vật liệu giống và tạo nguồn biến dị nhân tạo thông qua các kỹ thuật lai tạo, gây đột biến và các kỹ thuật di truyền khác Trong đó, nhập nội cây trồng là một trong các hướng đi nhanh cho kết quả, tập hợp được nhiều thành quả của nhiều nhà chọn giống ở các nước khác nhau trên thế giới và hướng đi này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nước

có ngành chọn tạo giống đang phát triển như nước ta [10], [17], [24], [43]

Đối với cây trồng nói chung và với cây nho nói riêng, để công tác nhập nội thu được nhiều kết quả, điều chúng ta cần đặc biệt quan tâm là điều kiện sinh thái nơi trồng mới phải gần tương tự như điều kiện sinh thái nơi giống được nhập nội đang trồng và phát triển hoặc đáp ứng được yêu cầu sinh thái của cây Mặt khác, cần ưu tiên nhập nội các giống có tính trạng quý nhằm bổ sung nguồn vật liệu di truyền cho công tác chọn tạo giống ở trong nước Các tính trạng quý cần ưu tiên nhập nội có thể là năng suất cao, chất lượng quả tốt hoặc là các tính trạng chống chịu với một số đối tượng sâu bệnh gây hại, chống chịu với các yếu tố bất thuận của môi trường

Theo Clingelerffer (1998) [48], trong tổng số 274 giống nho ăn tươi mới được chọn tạo thành công trong giai đoạn 1980 -1998, được trồng phổ biến ở các nước trên thế giới, là được chọn tạo bởi các nhà chọn giống của

Mỹ, Nga, Bungari, Nhật Bản và Italia Theo Hoult et al (1997) [dt.51], trong tổng số 15 giống nho nhập nội được trồng tại vùng Katherine, Australia từ tháng 7 năm 1994, đến năm 1996 một số giống có năng suất thu hoạch cao

là Muscat hamburg, Queen, Ribier và Cardinal, trong đó giống Queen cho năng suất cao nhất

Trang 30

ở các nước và khu vực lãnh thổ trồng nho khác trong khu vực châu á Thái Bình Dương, một số giống nho cũng đã được nhập nội thành công ở

ấn Độ, các giống được nhập nội thành công là Cardinal, Thompson Seedless, Perlette, Delight và Flame seedlees ở Thái Lan, hầu hết các giống nho đang

được trồng phổ biến đều là các giống được nhập nội ở Trung Quốc, các giống được nhập nội thành công là Kyoho, Muscat, Humburg, Thompson seedless, Redglobe, Italia và một số giống nho chế biến rượu ở Đài Loan, giống nho Kyoho đang được trồng chủ yếu là giống được nhập nội từ Nhật Bản

ở Việt Nam, vùng trồng nho tập trung ở Ninh Thuận có khí hậu khô,

ẩm độ không khí thấp, trung bình 76,67% và tương đối phù hợp với cây nho (Phạm Hữu Nhượng và đồng sự, 2000) [21] ở các tỉnh phía Bắc nước ta, các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai là khá phù hợp cho cây nho sinh trưởng phát triển và cho ra hoa đậu quả với tiềm năng năng suất cao Tuy nhiên, về ẩm độ và lượng mưa thì lớn hơn so với yêu cầu của cây và là điều kiện không thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây nho Bởi vậy, để nhập nội các giống thành công cần lựa chọn các giống nhập nội từ các vùng có điều kiện sinh thái tương tự hoặc các giống có đặc tính chống chịu tốt với một số đối tượng bệnh hại trong điều kiện ẩm độ cao

Theo Dương Phú (1979) [23], Bùi Tất Vụ, Trần Hữu Trạch và CS (1995) [34], Nguyễn Hữu Bình và Vũ Xuân Long (1996) [2], các giống nho

đã được nhập nội vào nước ta từ rất sớm, từ những năm đầu của thập kỷ 60 Theo Nguyễn Ngọc Kiểm (1994) [13], trong 6 giống nho có nguồn gốc nhập nội đang được trồng tại Ninh Thuận, Cardinal là giống trồng chủ yếu và chiếm tới 99% diện tích

Theo Phan Công Kiên và Lê Thanh (2002) [14], từ nguồn quỹ gen phong phú của các giống nhập nội, ngoài giống nho ăn tươi Cardinal, Viện

Trang 31

Nghiên cứu cây Bông & Cây có sợi đã chọn lọc thành công và đưa ra sản xuất được các giống nho ăn tươi NH01 - 48 , NH01 - 53 và một vài giống nho ăn tươi và chế biến rượu khác rất có triển vọng

Theo Phạm Khắc Thọ (2002), từ nguồn quỹ gen hơn 80 giống nho

được nhập nội từ một số nước trên thế giới, trại giống nho Vĩnh Hảo đã khảo nghiệm và giới thiệu được cho sản xuất giống nho Black Queen với năng suất cao chất lượng quả tốt hơn nhiều so với giống Cardinal [30]

ở các tỉnh phía Bắc nước ta, nhập nội và thuần hoá giống cũng là một trong các hướng đi nhằm nhanh chóng tuyển chọn được một số giống nho phù hợp cho điều kiện sinh thái vùng trồng [8] Với định hướng đó, từ tập

đoàn trên 50 giống được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, qua kết quả khảo nghiệm đánh giá, giống nho chế biến rượu Vilard noir và một số giống nho ăn tươi khác có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, chất lượng quả tốt trong điều kiện sinh thái một số địa phương miền Bắc

1.3.3 Nghiên cứu chọn tạo giống nho bằng lai hữu tính

Tương tự đối với nhiều loại cây ăn quả khác, chọn tạo giống nho mới bằng phương pháp lai hữu tính là một trong các hướng đi chính của các nước

có ngành chọn tạo giống phát triển Thông qua phương pháp lai hữu tính, các nhà chọn giống đã tái tổ hợp được nhiều các đặc tính tốt của các loài khác nhau, xa nhau về địa lý vào trong một giống mới Tương tự như vậy, các đặc tính chống chịu khác nhau cũng đã được các nhà chọn giống lai tạo, bổ sung cho các giống nho có năng suất cao và chất lượng quả tốt Các nghiên cứu về lai hữu tính nho đã được đi từ đặc điểm nở hoa, phương pháp khử đực, các thao tác kỹ thuật lai cho tới việc đánh giá kết quả của các tổ hợp lai

1.3.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm nở hoa của giống

Đối với nho, hoa được hình thành trên cành mới ra trong năm sau khi cắt cành, bởi vậy, trước tiên là cần theo dõi khoảng thời gian từ cắt cành đến

ra hoa của các giống tham gia vào các tổ hợp lai

Trang 32

Theo Negi và Randahawa (1974), thời gian từ cắt cành đến nở hoa có

sự khác nhau giữa các giống và giữa các vùng trồng Kết quả nghiên cứu trên các giống khác nhau cho thấy, trong cùng điều kiện khí hậu vùng Bangalore

- ấn Độ, giống Bangalore Blue có khoảng thời gian từ cắt tỉa đến nở hoa là

42 ngày; Trong khi đó giống Kattakugan có khoảng thời gian này là 67 ngày [dt.78]

Về đặc điểm ra hoa của giống, các kết quả nghiên cứu thu được cho

thấy, hầu hết các giống của loài Vitis vinifera là hoa có cấu trúc hoàn thiện,

một số ít hoa cái có nhị đực ngắn hơn hoặc là nhị đực cong gập trở xuống phía đế hoa và trong trường hợp này hạt phấn thường là bất dục Những loại hoa này thường tìm thấy ở các giống nho châu Âu cũng như là một số giống

nho Mỹ Các giống nho thuộc loài V.rotundifolia là có đặc tính hình thành

hoa đơn tính khác gốc, chúng có hoa đực và hoa cái trên hai cây riêng biệt Tuy nhiên qua chọn giống, những giống thuộc loài này ngày nay có cấu trúc hoa phát triển gần hoàn thiện [78]

Về thời gian nở hoa, theo Coronel (1998), hoa nho bắt đầu nở từ 5 giờ sáng đến 10 giờ sáng [49] Theo Randhawa và Negi (1965), hoa nho nở tập trung từ 6 giờ sáng cho tới 9 giờ sáng và số lượng hoa nở tăng dần theo nhiệt

độ ở vùng phía Bắc của ấn Độ, hoa nho nở tập trung trong khoảng từ 7 - 8 giờ, song ở vùng phía Nam, hoa nho lại nở tập trung muộn hơn và chúng nở tập trung trong khoảng từ 8 giờ sáng đến 9 giờ sáng Theo kết quả nghiên cứu của Sharma (1960), Randhawa và Sharma (1960), thì ngoài ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ không khí cũng có ảnh hưởng tới thời gian nở hoa tập trung trong ngày của giống [dt.78]

Nghiên cứu về thời gian nở hoa, Patil (1968) thu được kết quả cho thấy, một hoa nho nở hoàn thiện mất từ 2,4 đến 16,3 phút tuỳ thuộc vào giống khác nhau [74]

Trang 33

ở Việt Nam, trong điều kiện khí hậu vùng trồng nho Ninh Thuận, theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Lê Thanh, Phan Công Kiên và Võ Thanh Liêm (2002), khoảng thời gian từ cắt cành đến 50% số chùm có hoa nở đầu tiên có sự khác nhau giữa các giống và khác nhau giữa các mùa vụ cắt cành

ở vụ Hè Thu, khoảng thời gian này thường ngắn hơn so với vụ Đông Xuân

từ 2 - 5 ngày Đối với giống NH01 - 48, khoảng thời gian cắt cành đến 50% số chùm có hoa nở đầu tiên ở vụ Đông Xuân là 32,50 ngày, trong khi ở vụ Hè Thu chỉ có 27,75 ngày, hoặc các khoảng thời gian tương ứng của giống NH01

- 26 là 28,50 và 25,50 ngày [28]

1.3.3.2 Những nghiên cứu về phấn hoa và khả năng tiếp nhận hạt phấn

Rất nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, bao phấn được mở cùng với quá trình nở hoa và được hoàn thiện trong vòng 5 - 15 phút tuỳ thuộc vào giống và điều kiện thời tiết (Randhawa và Sharma, 1960; Lingaraj, 1965; Patil, 1968; Prasad, 1969; Sumbli, 1970; Nalwadi et al., 1972; Negi et al., 1974) [74], [78]

Về khả năng tiếp nhận hạt phấn của nhuỵ, đã có nhiều nghiên cứu trong những điều kiện khí hậu khác nhau trên nhiều giống đều có kết luận cho rằng, đầu nhuỵ có thể nhận phấn 1 ngày trước nở hoa và duy trì được khả năng tiếp nhận phấn 1 ngày sau đó Tuy nhiên, khả năng nhận phấn tốt nhất là vào ngày nở hoa (Randhawa và Sharma, 1960; Randhawa và Negi, 1965; Kanwar và Nauriyal, 1969; Prasad, 1969; Uppal và Mukherjee, 1968) [dt.41]

Trong quá trình tiến hành các tổ hợp lai, thông thường các giống chọn làm bố mẹ được điều khiển để thời điểm nở hoa cùng diễn ra một lúc Tuy nhiên trong một số trường hợp, các giống bố mẹ vẫn có thời gian nở hoa lệch nhau Bởi vậy, hạt phấn cần được thu thập, bảo quản trong trường hợp bố mẹ

nở hoa không trùng nhau hoặc trong những trường hợp đặc biệt

Trang 34

Theo Ganeshan (1985), hạt phấn nho có thể được bảo quản trong Nitơ lỏng tới 64 tuần và không giảm tỷ lệ nảy mầm [dt.65]

Theo Moti (1972), Parfitt (1983), hạt phấn nho có thể được bảo quản ở nhiệt độ phòng không cần điều chỉnh ẩm độ không khí, có thể duy trì sự sống của hạt phấn từ 10 - 25 ngày Khi bảo quản ở ẩm độ 0, 10 hoặc 25% thì hạt phấn có thể sống được 8 tháng và thậm chí có thể bảo quản được 14 tháng trong điều kiện lạnh sâu ở ẩm độ 0% [41], [dt.73]

1.3.3.3 Nghiên cứu về khử đực và kỹ thuật lai

Theo Winkler (1974), loài nho Vitis vinifera là tự thụ phấn nhưng thụ

phấn chéo cũng thường xảy ra [97] Như vậy, để tiến hành thụ phấn có điều khiển thì khâu khử đực bắt buộc phải được thực hiện

Khâu khử đực thường được tiến hành bằng tay Khi tiến hành khử đực,

ta dùng panh kẹp nhỏ gắp tách phần mũ hoa từ khi hoa chưa nở và tách bỏ toàn bộ các bao phấn Ngay sau khi khử đực xong, các chùm hoa vừa được khử đực cần được bao cách ly ngay để tránh tiếp nhận phấn tự do

Ngoài kỹ thuật khử đực bằng tay, các kết quả nghiên cứu thu được cho thấy, có thể tiến hành khử đực hoa nho bằng một số loại hoá chất mà không gây ảnh hưởng tới sự bất dục của noãn

Một số hoá chất có thể được sử dụng là dung dịch maleic hydrazie (MH) 500 - 700 ppm; axit tri-iodobenzoic (TIBA) 400 - 500ppm; 1, 2, dichloro-iso-butyrate (FW - 450) nồng độ 0,3% phun hai lần vào thời kỳ 15

và 13 ngày trước nở hoa đã làm bất dục hạt phấn (Iyer và Randhawa, 1966) [dt.47], (Dhillon và Singh, 1970; Randhawa,1971) [dt.78]

Để tiến hành lai giữa các giống, các chùm hoa trên cây mẹ sau khi được khử đực cần tiến hành bao cách ly ngay và các chùm hoa để lấy phấn cũng

được bao cách ly từ hôm trước để tránh lẫn tạp hạt phấn Sau khi hoàn thiện khâu khử đực, cắt các chùm hoa đang nở tập trung đã được cách ly, đập nhẹ cho hạt phấn rơi vào chùm hoa đã được khử đực và tiến hành bao cách ly lại

Trang 35

Để tiến hành thụ phấn được dễ dàng hơn, theo Kimura et al (1998), có thể thụ phấn cho hoa nho bằng hỗn hợp hạt phấn với bột sữa theo tỷ lệ 1: 2 cho kết quả rất tốt [dt.78]

Về thời gian tiến hành thụ phấn, theo Randhawa et al (1965), nên tiến hành thụ phấn cho nho để tạo các tổ hợp lai trong khoảng từ 9 giờ đến 11 giờ

là tốt tại điều kiện sinh thái của vùng Delhi [dt.41]

1.3.3.4 Những nghiên cứu về rút ngắn thời kỳ cây con trước khi ra quả

Một trong những trở ngại cho các nhà chọn giống nho là trong điều kiện gieo trồng tự nhiên, cây nho mọc từ hạt phải mất 3 - 6 năm mới cho quả, bởi vậy mà sau khi lai một thời gian rất dài mới đánh giá được kết quả của một tổ hợp lai Khoảng thời gian của thời kỳ này có thể rút ngắn xuống còn 2 năm bằng kỹ thuật trồng trên cát dinh dưỡng trong nhà lưới và cắt tỉa

để thúc đẩy quá trình ra hoa đến sớm (Huglin và Julliard, 1964; Wagner, 1967; Bonquet, 1977) [dt.65]

Một trong các phương pháp có thể áp dụng để xúc tiến nhanh quá trình

ra quả là sử dụng chồi của cây con ngay ở năm đầu tiên tiến hành ghép lên trên cây đang cho ra quả cũng đã được khá nhiều nhà chọn giống đề cập đến trên nhiều đối tượng cây ăn quả Trên cây nho, sử dụng chồi của cây con ngay từ năm đầu tiên ghép lên cây nho đang có quả cũng đã cho kết quả tương tự như trên các đối tượng cây ăn quả khác (Snyder và Harmon, 1937; Roos, 1968; Negi và Omo, 1971) [dt.65]

Theo Srinivasan và Mullins (1980) và Wagner (1967), có thể thúc đẩy quá trình ra quả sớm hơn bằng cách tác động hoá chất để các tay cuốn và mầm bên hình thành chồi hoa Hoặc cùng với việc xử lý cho ra hoa sớm hơn, thông qua các mối tương quan rất chặt giữa các đặc điểm về hình thái hoặc các đặc điểm hoá sinh với các đặc trưng của quả sau này, các nhà chọn giống cũng có thể tiến hành lựa chọn các tổ hợp lai ngay ở giai đoạn chưa cho quả áp dụng kỹ thuật này sẽ giúp loại bớt các tổ hợp lai không mong

Trang 36

muốn để giảm bớt chi phí về lao động, đất đai , tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác chọn lọc [dt.41]

1.3.3.5 Những thành tựu của chọn giống nho bằng lai hữu tính

Có thể thấy rằng, hầu hết các giống nho mới được chọn tạo thành công của các nước trên thế giới là bằng phương pháp lai hữu tính Thông qua phương pháp lai hữu tính, chúng ta có thể tái tổ hợp các đặc tính tốt mong muốn từ các giống khác nhau trong loài hoặc các giống từ các loài khác nhau vào trong một giống nhằm không ngừng cải tiến các đặc tính sinh trưởng, năng suất, chất lượng quả và các đặc tính chống chịu sâu bệnh hoặc các điều kiện môi trường bất thuận khác của giống Việc chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính đã được áp dụng ở các nước trên thế giới rất sớm từ nhiều năm trước đây

Một trong các giống đã được trồng ở nhiều nước trên thế giới và đang

được trồng chủ yếu ở vùng trồng nho Ninh Thuận của nước ta là giống Cardinal, cũng là một giống lai Cardinal là giống lai được chọn từ tổ hợp lai Tokay ì Ribler, thực hiện tại Trạm Nghiên cứu vườn liên bang Frens, California của Mỹ [21], [41]

Tại các nước châu Mỹ mà đứng đầu là Mỹ, nước có ngành chọn tạo giống cây trồng nói chung và giống cây ăn quả nói riêng rất phát triển, chương trình chọn tạo giống nho đã được bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ

19 ở Trạm Nghiên cứu Nông nghiệp bang New York Mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống nho tại thời điểm đó là tổ hợp một số đặc điểm

của các giống nho thuộc loài Vitis vinifera như đặc tính không hạt, cấu trúc

thịt quả cứng và độ bám của vỏ quả đối với một số đặc điểm của các giống

nho thuộc loài V.labrusca như khả năng kháng bệnh và khả năng chịu lạnh

trong mùa Đông ở thời kì này, các nhà chọn giống của Mỹ đã lai tạo thành công và đưa ra sản xuất được 42 giống mới với các đặc điểm khác nhau Từ

đó trở đi, chương trình chọn tạo giống nho liên tục được phát triển [41]

Trang 37

Theo Marcia Wood (1997), Ramming và CS, các nhà chọn giống đã chọn tạo thành công hai giống nho Crimson seedless và Autunm Royal với năng suất và chất lượng quả rất cao Crimson seedless được chọn từ tổ hợp lai Emperor ì C.33 -199 với các đặc tính có được là chín muộn, không hạt, màu sắc hấp dẫn, khối lượng chùm quả và khối lượng quả lớn Hiện nay, giống Crimson seedless là một trong các giống nho đang được trồng phổ biến ở Mỹ Một số giống nho mới được chọn tạo thành công trong những năm gần đây và vừa mới được công bố là Venus seedless, Reliance seedless, Mars seedless, Saturn seedless, Jupiter seedless và Neptune seedless [80], [81], [95]

Theo Linda Mecanless, hai giống nho mới có khả năng chịu lạnh rất tốt

là Daminette và Marquis đã được chọn tạo thành công tại Trại Thí nghiệm Nông nghiệp Cornell ở Geneva dưới sự chủ trì của Bruce Reisch [50] Theo Phyllis Burger (2001), trong 138 dòng lai của chương trình chọn tạo giống nho ăn tươi đang được đánh giá, dòng NVB 93 - 8 có rất nhiều triển vọng

đưa ra mở rộng ngoài sản xuất [44]

ở châu âu, công tác chọn tạo giống nho được phát triển ở rất nhiều nước như Đức, Pháp, Italia, Hungari, Bungari, Nga

Tại Cộng hoà liên bang Đức, trong đều kiện khí hậu rất lạnh, rượu nho

được sản xuất từ các giống nho chế biến rượu địa phương thường không có

được màu sắc hấp dẫn Bởi vậy, mục tiêu chọn giống của các nhà chọn giống nho của Đức là cải thiện được đặc tính này Với tính trạng màu sắc đặc biệt

có được của giống Teinturier, các nhà chọn giống đã chọn tạo thành công một số giống từ các tổ hợp lai khác nhau Một số giống đã chọn tạo thành công là Gm 7218, Gm 7221 và Gm 7217 Cùng với chọn các giống có năng suất cao, chất lượng quả tốt, các nhà chọn giống của Đức cũng đã thu được một số kết quả về chọn tạo giống gốc ghép Từ tổ hợp lai Riparia 183Gm ì

Vitis cinerea được tiến hành từ những năm 1940, năm 1989, các nhà chọn

Trang 38

giống đã chọn tạo thành công giống gốc ghép Borner Giống gốc ghép này

có khả năng thích hợp với nhiều giống nho đang được trồng ở Đức, bộ rễ của giống có khả năng kháng Phylloxera và tuyến trùng rất tốt Ngoài ra, gốc ghép Borner còn có khả năng chịu hạn và đất kiềm [41]

ở Pháp, các giống nho ăn tươi được trồng phổ biến kể cả giống nhập nội và các giống đã chọn tại Pháp hầu hết đều là các giống lai Lival là giống lai được chọn từ tổ hợp lai Alphonso Lavalle’e N ì Lignan B; Danlas là giống được chọn từ tổ hợp lai Dabouki B ì Chasselas B; Danuta là giống

được chọn từ tổ hợp lai Dattier Beyrouth B ì Sultana Moscata B; Italia là giống được chọn từ tổ hợp lai Bicane B ì Muscat de Hambourg N và Sulina

là giống được chọn từ tổ hợp lai Seibel 9110 ì Sultanine B (Jacques Vidand

et al., 1993) [105]

ở Australia, chương trình chọn tạo giống nho đã được bắt đầu từ những năm 1960 Mục tiêu của chương trình là phát triển các giống nho mới cho ăn tươi, cho chế biến rượu và cho sấy khô Kết quả của chương trình đã chọn tạo thành công một số giống nho ăn tươi như Fresno seedless, Marroo seedless; và một số giống nho chế biến như Carina, Sunmuscat (Cligeleffer

Trang 39

ở châu á, công tác chọn tạo giống nho bằng phương pháp lai hữu tính

được tập trung phát triển ở một số nước như Nhật Bản, ấn Độ, Trung Quốc

ở Nhật Bản, trong 8 giống nho ăn tươi đang được trồng chủ yếu là Kyoho, Delaware, Campbell Early, Pione, Muscat Baily A, Niagara, Kosyu và New Baily A, thì có 3 giống được lai tạo ngay ở trong nước là Kyoho, Muscat Bailey A và giống Pione Theo Kunihisa Morinaga, có 16 giống nho được lai tạo thành công ở Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Quốc gia từ các tổ hợp lai khác nhau Trong đó, có 14 giống có các cặp bố mẹ được xác định là Aki Queen, Fujiminori, Honey Seedless, Kaiji, King Dela, Kyoho, Mirei, Muscat Bailey A, Neo Muscat, Pion, Rosario Bianco, Suihou và Summer Black [69]

ở ấn Độ, theo các tác giả Singh và Murthy (1993), Singh et al (1995), Singh et al (1998), Chadha và Shikhamany (1999), công tác chọn tạo giống nho được thực hiện chính tại hai viện nghiên cứu là Viện Nghiên cứu Nông nghiệp ấn Độ ở New Delli và Viện Nghiên cứu Làm vườn tại Bangalore Cùng với việc nhập nội các giống lai từ nước ngoài, hai cơ quan nghiên cứu

đã đưa ra sản xuất được 13 giống nho được lai tạo ngay tại trong nước Các giống mới được chọn tạo có khối lượng chùm quả, khối lượng quả khác nhau nhưng đều có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao và chất lượng quả tốt Một số giống như Pusa Urvasi, Arkavati, Arka Shyam và Arka Neelami có

độ Brix đạt từ 22 đến 240 Brix [78]

Một nước khá gần với Việt Nam là Trung Quốc cũng có khá nhiều kết quả chọn tạo giống nho bằng phương pháp lai hữu tính Trong các giống nho chế biến đang được trồng tại Trung Quốc, giống nho chế biến rượu Shanghong được chọn tạo tổ hợp lai Tonghua 3 ì Shangqing (tổ hợp lai giữa

loài Vitis vinifera và Vitis amurensis) cho năng suất cao, ổn định, chống chịu

với bệnh phấn trắng và cho chất lượng rượu chế biến từ giống này rất tốt (Song et al., 1998) [57]

Trang 40

Theo Lishao-Hua (2001), từ nguồn quỹ gen hơn 1.300 giống được thu thập từ nhiều quốc gia trên thế giới, các nhà chọn tạo giống Trung Quốc đã lai tạo thành công các giống nho ăn tươi và cho chế biến rượu Các giống nho ăn tươi được lai tạo mới là Zaomeigui, Zhengzhuo Zaohong, Fenghuang

No 51, Jing Zaojung, Shangdong Zaohong, Jing Xiu, Jingya, Zizhenxiang, Shengxiu, Jingyu và Fenghow Các giống nho chế biến rượu là Beiclum, Gongliang No1, Shuang you, Zuoshan No1 [61] Một số giống nho lại mới tiếp tục được công bố là Yongyou 1, Huabian, Meiguizao, Meiguiyu và Meiguizi [60], [66], [101]

1.3.4 Những nghiên cứu chọn tạo giống bằng phương pháp gây đa bội

Cây đa bội, đặc biệt là cây tứ bội thường cho quả rất lớn Các dạng đa bội tự nhiên thường được xuất hiện từ những chồi ngủ gần với vết cắt cành hoặc là do sự nhân đôi nhiễm sắc thể sinh dưỡng của những tế bào ban đầu của một đỉnh sinh trưởng

Theo Das và Mukherjee (1967), Narasiham (1967), có thể gây đa bội nhân tạo cho nho bằng dung dịch colchicin nồng độ 0,25 - 0,5% cộng với 5 -10% glycerine hoặc cộng với 10ppm GA3; colchicin được bôi lên đỉnh sinh trưởng hoặc ngay tại nơi hình thành các khối tế bào thể sần mà ở đó các mầm bất định có thể được hình thành Các thể đa bội cũng có thể được hình thành khi tiến hành cắt tỉa cành hoặc bằng các đợt sốc nhiệt (Olmo, 1952; Wagner, 1958; Qurecky et al, 1967), tuy nhiên tần suất xuất hiện thấp hơn nhiều so với tác động bằng colchicin [dt.78]

Để xác định được có hiện tượng đa bội được hình thành, cần tiến hành quan sát rất chi tiết hoặc là đếm nhiễm sắc thể ở phần đỉnh sinh trưởng Các thể đa bội 4n có thể nhận thấy thông qua việc tăng kích thước và chiều rộng của lá đặc biệt là kích thước của khí khổng và các tế bào biểu bì của lá Hạt phấn của các thể đa bội cũng lớn hơn so với hạt phấn của cây lưỡng bội, tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp này thì phải đợi đến khi cây hình thành từ

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Một số đặc điểm hình thái của các giống nho địa phương - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.3. Một số đặc điểm hình thái của các giống nho địa phương (Trang 77)
Bảng 3.4. Một số đặc điểm hình thái của các giống nho ăn t − ơi - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.4. Một số đặc điểm hình thái của các giống nho ăn t − ơi (Trang 79)
Bảng 3.5. Đặc điểm hình thái của các giống nho chế biến r − ợu nhập nội - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.5. Đặc điểm hình thái của các giống nho chế biến r − ợu nhập nội (Trang 81)
Bảng 3.11. Một số đặc điểm chùm quả của các giống nho ăn t - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.11. Một số đặc điểm chùm quả của các giống nho ăn t (Trang 98)
Đồ thị 3. 1. T−ơng quan giữa khối l−ợng quả với năng suất của các giống - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
th ị 3. 1. T−ơng quan giữa khối l−ợng quả với năng suất của các giống (Trang 105)
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu đánh giá chất l−ợ ả của ống n - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu đánh giá chất l−ợ ả của ống n (Trang 107)
Bảng 3.19.  Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống nho - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.19. Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống nho (Trang 119)
Đồ thị 3.5. T−ơng quan giữa khối l−ợng chùm quả với năng suất của giống - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
th ị 3.5. T−ơng quan giữa khối l−ợng chùm quả với năng suất của giống (Trang 121)
Bảng 3.21. Một   đ hả  nh t át t - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.21. Một đ hả nh t át t (Trang 127)
Bảng 3.22. Một số yếu tố cấu thành năng suất và số chùm quả trên cây của - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.22. Một số yếu tố cấu thành năng suất và số chùm quả trên cây của (Trang 129)
Bảng 3.29. yếu tố cấu thành năng suất của một số giống nho chế biến r−ợu - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.29. yếu tố cấu thành năng suất của một số giống nho chế biến r−ợu (Trang 141)
Bảng 3.30. ảnh h − ởng của giá thể tới kết quả ra rễ của cành giâm  đã hoá gỗ - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.30. ảnh h − ởng của giá thể tới kết quả ra rễ của cành giâm đã hoá gỗ (Trang 145)
Bảng 3.35. ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ ghép sống - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.35. ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ ghép sống (Trang 154)
Bảng 3.36. Đặc điểm nở hoa của các giống tham gia trong các tổ hợp lai - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.36. Đặc điểm nở hoa của các giống tham gia trong các tổ hợp lai (Trang 157)
Bảng 3.37. Một số kết quả thu đ−ợc của các tổ hợp lai - Nghiên cứu chọn tạo giống nho cho một số địa phương miền bắc việt nam
Bảng 3.37. Một số kết quả thu đ−ợc của các tổ hợp lai (Trang 159)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w