ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN THẾ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU THẢO MỘC TRONG SẢN XUẤT RAU CẢI BẮP TẠI PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG THÁI
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN THẾ
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU THẢO MỘC TRONG SẢN XUẤT
RAU CẢI BẮP TẠI PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Lan Anh
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Cácthông tin trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc trích dẫn Các kết quả nghiêncứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trìnhnào khác
Tác giả
Nguyễn Văn Thế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Đại học Thái Nguyên, Ban Đào tạoSau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Phòng Quản lý Đào tạo sauđại học, các cán bộ & giáo viên Khoa Nông học thuộc trường Đại học Nông Lâm đãtạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Bùi Lan Anh - ngườigiáo viên tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gianđịnh hướng và chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ủy Ban nhân dân huyện Đoan Hùng vàPhòng Nông nghiệp huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ và tạo điều kiệncho tôi tiến hành thực hiện đề tài
Xin gửi tấm lòng tri ân tới Gia đình của tôi Những người thân yêu trong Giađình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao, là những người truyền nhiệt huyết, luôndành cho tôi sự quan tâm, sự trợ giúp trên mọi phương diện để tôi yên tâm học tập,nghiên cứu và hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Văn Thế
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu 3
2.2 Yêu cầu 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây rau 7
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau 7
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây rau 8
1.3 Tổng quan tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình sản xuất rau ở châu Á và Việt Nam 12
1.4 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới và Việt Nam 15
1.4.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới 15
1.4.2 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á và Việt Nam năm 2014 16
Trang 61.5 Tình hình nghiên cứu, sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng
trừ dịch hại cây trồng trên thế giới và Việt Nam 18
1.5.1 Một số nghiên cứu về thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật trên thế giới 18
1.5.2 Một số nghiên cứu về thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật ở Việt Nam 22
1.6 Tổng quan tình hình nghiên cứu sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam
25 1.6.1 Sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis) (Còn gọi sâu nhảy dù, sâu kén mỏng) 25
1.6.2 Rệp hại rau (Brevicoryne brassicae L.) 27
1.6.4 Bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta vitata Fabr) 29
1.6.5 Sâu khoang (Sâu keo) Spodoptera litura Fabicius 31
1.7 Nhận xét và bài học kinh nghiệm từ tổng quan tài liệu 33
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Vật liệu nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.2.1 Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất rau, tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau tại Phú Thọ; 36
2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc thảo mộc đến sinh trưởng của rau cải bắp vụ đông xuân 2016 36
2.2.3 Nghiên cứu thành phần, tần suất xuất hiện, diễn biến sâu hại rau cải bắp và hiệu quả của thuốc thảo mộc trong phòng chúng trên rau cải bắp vụ đông xuân 2016 36
2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất rau cải bắp vụ đông xuân 2016
36 2.2.5 Xây dựng mô hình ứng dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp tai Phú Thọ 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Tình hình sản xuất rau và tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên rau tại Phú Thọ 36
Trang 72.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc
đến sinh trưởng 38
2.3.3 Nghiên cứu thành phần, tần suất xuất hiện, diễn biến sâu hại rau cải bắp và hiệu quả của thuốc thảo mộc trong phòng chúng trên rau cải bắp vụ đông xuân 2016 40
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 42
2.3.5 Xây dựng mô hình ứng dụng một số thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp 43
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 44
2.4.1 Thời gian 44
2.4.2 Địa điểm 44
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Tình hình sản xuất rau và tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu trên rau tại Phú Thọ 45
3.1.1 Tình hình sản xuất rau tại Phú Thọ 45
3.1.2 Tình hình sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trên rau tại Phú Thọ 46
3.2 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng của rau cải bắp 52
3.2.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng một số thuốc trừ sâu thảo mộc đến thời gian sinh trưởng của rau cải bắp 53
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến khả năng ra lá và đường kính tán rau bắp cải 56
3.3 Nghiên cứu thành phần, tần suất xuất hiện, diễn biến sâu hại rau cải bắp và hiệu quả của thuốc thảo mộc trong phòng chúng trên rau cải bắp vụ đông xuân 2016 tại Phú Thọ 59
3.3.1 Thành phần, tần suất xuất hiện các loài sâu hại trên rau tại Phú Thọ
59 3.3.2 Diễn biến sâu hại chính trên rau tại Phú Thọ 62
Trang 83.3.3 Nghiên cứu hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ
sâu hại cải bắp vụ đông xuân 2016 tại Phú Thọ 68
3.3.3 Hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu khoang 71
3.3.4 Hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ bọ nhảy 73
3.3.5 Hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ rệp 75
3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất rau cải bắp 77
3.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc đến khối lượng trung bình bắp 77
3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc đến tỷ lệ cuốn bắp của rau cải bắp 79
3.5 Mô hình ứng dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp tại Phú Thọ 81
3.5.1 Hiệu quả phòng trừ sâu hại rau cải bắp ở các mô hình 82
3.5.2 Năng suất bắp cải ở các mô hình 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Đề nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 9FAO (Food and Agriculture
Organization of the United Nations)
FAOSTAT (The Food and
Agriculture Organization Corporate
Statistical Database)
Tổ chức lương thực thế giới
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp củaLiên Hợp Quốc (Tổ chức Nông lương thếgiới của Liên Hợp Quốc)
Trang 10
-DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm 11
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Châu Á qua các năm 12
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2014
14 Bảng 1.5 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới qua các năm 16
Bảng 1.6 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á và Việt Nam năm 2014 17
Bảng 3.1 Diện tích rau của tỉnh Phú Thọ năm 2016 45
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rau tại Phú Thọ 47
Bảng 3.3 Dư lượng thuốc BVTV trên rau tại Phú Thọ 48
Bảng 3.4 Hàm lượng NO3 trong sản phẩm rau sản xuất tại Phú Thọ năm 2016
49 Bảng 3.5 Hàm lượng Pb trong sản phẩm rau thương phẩm tại Phú Thọ năm 2016 50
Bảng 3.6 Hàm lượng As trong sản phẩm rau sản xuất tại Phú Thọ năm 2016
51 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc đến thời gian sinh trưởng của rau cải bắp 53
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc đến khả năng ra lá và đường kính tán bắp cải 56
Bảng 3.9 Thành phần, mức độ phổ biến và phổ ký chủ của sâu hại rau họ hoa thập tự 61
Bảng 3.10 Mật độ sâu hại trong các giai đoạn sinh trưởng phát triển của rau cải bắp 67
Bảng 3.11 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Thí nghiệm ngoài đồng ruộng) 68
Bảng 3.12 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ (Thí nghiệm ngoài đồng ruộng) 70
Bảng 3.13 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang 72
Bảng 3.14 Hiệu lực tiêu diệt bọ nhảy 74
Bảng 3.15 Hiệu lực phòng trừ rệp 76
Bảng 3.16 Khối lượng trung bình bắp 78
Bảng 3.17 Tỷ lệ cuốn bắp 79
Bảng 3.18 Năng suất cải bắp 80
Bảng 3.19 Hiệu quả phòng trừ sâu hại rau cải bắp ở các mô hình thử nghiệm
82 Bảng 3.20 Năng suất bắp cải ở các mô hình 83
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu thảo
mộc đến sinh trưởng của rau cải bắp 39
Hình 2.2 Sơ đồ chọn điểm điều tra 40
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định hiệu lực trừ sâu hại rau cải bắp 42
Hình 3.1 Thời gian từ trồng đến trải lá của rau cải bắp vụ Đông xuân năm 2016 tại Phú Thọ 54
Hình 3.2 Thời gian từ trồng đến cuốn của rau cải bắp vụ Đông xuân năm 2016 tại Phú Thọ 54
Hình 3.3 Thời gian từ trồng đến cuốn trung bình của các công thức thí nghiệm trong các thời vụ khác nhau 55
Hình 3.4 Thời gian từ trồng đến thu hoạch của rau cải bắp vụ Đông xuân năm 2016 tại Phú Thọ 55
Hình 3.5 Thời gian từ trồng đến thu hoạch trung bình của các công thức thí nghiệm trong các thời vụ khác nhau 56
Hình 3.6 Số lá/cây trung bình của các công thức thí nghiệm trong các thời vụ khác nhau 57
Hình 3.7 Số lá/cây trung bình của các công thức phun thuốc trừ sâu thảo mộc ở các thời vụ khác nhau 57
Hình 3.8 Đường kính tán trung bình của rau cải bắp ở công thức thí nghiệm phun thuốc trừ sâu thảo mộc trong các thời vụ khác nhau 59
Hình 3.9 Diễn biến mật độ sâu hại qua các kỳ điều tra ở vụ Đông xuân sớm 2016 63
Hình 3.10 Diễn biến mật độ sâu hại qua các kỳ điều tra ở vụ Đông Xuân chính vụ 63
Hình 3.11 Diễn biến mật độ sâu hại qua các kỳ điều tra ở vụ Đông Xuân muộn 2016 - 2017 64
Hình 3.12 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng sau phun 5 ngày 69
Hình 3.13 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ sau phun 5 ngày 71
Hình 3.14 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang sau phun 5 ngày 73
Hình 3.15 Hiệu lực phòng trừ bọ nhảy sau phun 5 ngày 75
Hình 3.16 Hiệu lực phòng trừ rệp sau phun 5 ngày 76
Hình 3.17 Khối lượng TB bắp của các công thức phun thuốc trừ sâu thảo mộc
79 Hình 3.18 Tỷ lệ cuốn TB của rau cải bắp ở các thời vụ khác nhau 80
Hình 3.14 Năng suất trung bình của cải bắp ở các công thức phun thuốc trừ sâu thảo mộc 81
Trang 12vụ, tăng năng suất, sản lượng, chủng loại rau phong phú thì việc gia tăng sử dụngthuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hóa học trên rau trở lên ngày càng quan trọng ThuốcBVTV đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu bệnh, ngănchặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm năng suất cây trồng,giảm thiểu thiệt hại cho người nông dân.
Tuy nhiên, những năm gần đây việc sử dụng thuốc BVTV hóa học trong sảnxuất có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại, điều này để lại những hậuquả nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng rau, cũng như môi trường đất, nước, hệsinh thái nông nghiệp, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sứ khỏe con người Hiệnnay, xã hội phát triển, chất lượng cuộ sống càng được nâng cao, vấn đề vệ sinh antoàn thực phẩm càng trở thành vấn đề được các cấp chính quyền và nhân dân quantâm Sản phẩm nông nghiệp “sạch“ ngày càng được ưa chuộng và sản phẩm “sạch“
có xu hướng trở thành tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, do tầm quan trọng củarau xanh trong đời sống hàng ngày, sản phẩm rau “sạch“ càng được người dân quantâm nhiều hơn
Từ thực tế trên, vấn đề đặt ra cho ngành sản xuất rau là phải làm sao hạn chếđược dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm Việc áp dụng những nguyên tắc sửdụng thuốc BVTV trong sản xuất đã phần nào giảm thiểu được tình trạng trên Tuynhiên do cây rau là cây trồng có chu kỳ sinh trưởng ngắn, việc đảm bảo thời giancách ly khi sử dụng thuốc BVTV hóa học trở lên khó thực hiện Ở một số nước pháttriển, người ta nghiên cứu và đã áp dụng một số mô hình nông nghiệp bền vững, sửdụng thiên địch để khống chế dịch hại, sử dụng chế phẩm sinh học để bảo vệ câytrồng, ở Việt Nam, người nông dân ở miền xuôi, các quận, huyện gần khu đô thị
Trang 13không áp dụng biện pháp phòng trừ sâu (Brevicoryne brasicae và Myzus persicae)
hại rau họ hoa thập tự như trên, theo họ thuốc hóa học vừa rẻ tiền hơn so với cácchế phẩm sinh học và thiên địch, lại vừa có hiệu quả cao và nhanh Việc sử dụngthiên địch để phòng trừ sâu ở nước ta hiện nay có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu,nhưng việc ứng dụng vào thực tế sản xuất thì còn nhiều hạn chế, vì phần lớn nôngdân không chấp nhận do giá thành thiên địch quá cao Mặt khác, việc sử dụng thiên
địch trong phòng trừ sâu hại rau nói chung, sâu (Brevicoryne brasicae và Myzus persicae) nói riêng chỉ phát huy được hiệu quả khi tất cả các ruộng sản xuất rau
cùng áp dụng biện pháp này hay các biện pháp sinh học khác và tuyệt đối khôngđược sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật Như vậy, biện pháp này chỉ áp dụng được ởViệt Nam khi Chính Phủ có chính sách hỗ trợ nông dân để họ đồng tâm nhất trí ápdụng Đồng thời, các viện nghiên cứu và các cơ quan chuyên sâu phải nghiên cứuđược quy trình nhân nuôi, sản xuất thiên địch theo dây truyền công nghiệp để vừagiảm giá thành, vừa sản xuất được với số lượng lớn
Còn đối với nông dân là các dân tộc thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, cóđiều kiện kinh tế khó khăn, đường xá, giao thông đi lại vất vả, cho nên cuộc sốngcủa họ chủ yếu là tự cung tự cấp Song, chính cuộc sống đó đã gắn bó họ với tựnhiên, họ có những kinh nghiệm, những hiểu biết rất tốt về môi trường xung quanh,
họ biết khai thác và sử dụng thiên nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển ổnđịnh cuộc sống của mình như: Dùng các loài thực vật (củ ấu tàu, quả bồ kết, lávông, gừng, lá rận trâu, ) để chữa bệnh cho người và gia súc; dùng quả thàn mát,
bồ hòn, mã tiền, sừng dê, thiên thông để phòng trừ các loài sâu, bệnh hại câytrồng Với biện pháp đơn giản, dễ làm này, họ đã chủ động trong việc bảo vệ câytrồng trước các loài dịch hại; đồng thời an toàn đối với con người và không gây ônhiễm môi trường
Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyênthực vật đa dạng, phong phú ở Việt Nam và kiến thức bản địa của đồng bào dân tộcmiền núi trong việc phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và sâu hại cải nói riêng,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp tại Phú Thọ“ từ đó phát huy tích cực kiến
Trang 14thức bản địa và có sự kết hợp với những kiến thức khoa học sẽ góp phần quan trọngtrong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thực vật trong việc quản lý dịch hại câytrồng; đồng thời an toàn với con người và không gây ô nhiễm môi trường.
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Xác định được loại thuốc trừ sâu thảo mộc có hiệu quả cao trong phòng trừ các loại dịch hại để sử dụng trong sản xuất rau cải bắp
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá tình hình, diễn biến sâu bệnh hại trên rau tại Phú Thọ
- Đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV trên cây rau tại Phú Thọ
- Đánh giá hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc trừ sâu thảo mộc và dung dịch ngâm gừng, tỏi, ớt
- Đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của rau cải bắp giống KKcrosstại các vụ ĐMX, ĐXCV và ĐXM
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được hiệu quả trừ sâu của 03 loạithuốc trừ sâu thảo mộc thương phẩm và của 01 thuốc trừ sâu thảo mộc tự chế, gópphần làm sáng tỏ hơn về mối quan hệ đối kháng giữa những loài thực vật với một sốdịch hại cây trồng;
- Cung cấp một số dẫn liệu khoa học mới về hiệu lực của một số thuốc trừ sâuthảo mộc và của hỗn hợp dung dịch ngâm thực vật (tỏi, ớt, gừng) trong phòng trừnhững loài sâu phổ biến hại rau họ hoa thập tự (sâu xanh bướm trắng, sâu khoang,sâu tơ, bọ nhảy, rệp muội) Từ đó, làm cơ sở cho việc nghiên cứu xác định các hoạtchất, cơ chế tác động của các hoạt chất đó lên dịch hại cây trồng
- Kết quả nghiên cứu đã hoàn thiện được quy trình sản xuất rau cải bắp vừa đạtđược năng suất, vừa an toàn với người sử dụng Kết quả này góp phần thay đổi thóiquen của người nông dân trong việc sử dụng hóa chất BVTV có nguồn gốc hóa học
để sản xuất nông nghiệp nói nói chung và rau cải bắp nói riêng; đồng thời góp phầngiảm thiểu việc sử dụng và nhập khẩu hóa chất bảo vệ thực vật để phát triển nôngnghiệp theo hướng an toàn bền vững
Trang 15- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy vànghiên cứu trong các lĩnh vực: Trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ, cây rau, bảo vệ thựcvật, côn trùng, sinh thái nông nghiệp và lĩnh vực hóa học các hợp chất tự nhiên.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đã hoàn thiện quy trình sản xuất rau cải bắp bằng việc sử dụng một số loạithuốc trừ sâu thảo mộc và của dung dịch ngâm hỗn hợp thực vật Từ đó, ứng dụngkết quả này trong sản xuất rau an toàn tại tỉnh Phú Thọ và các vùng lân cận, gópphần giảm thiểu việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, cải tạo tạo sinh cảnh và môitrường sống; đồng thời nâng cao ý thức của mọi người (đặc biệt là người nông dân)
về nền nông nghiệp sinh thái bền vững
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Rau họ hoa thập tự Brassicae (Cruistacae) là loài cây trồng phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới, nó không chỉ là nguồn thực phẩm bổ dưỡng cho con người màcòn là dược phẩm quý trong y học Thời kỳ Hypocates đã sử dụng món rau bắp cảiluộc với muối để chữa bệnh tiêu chảy Cổ sử La Mã và Hy Lạp đã dùng rau cải đểchữa bệnh đau đầu, bệnh goute, chữa vết bầm, vết thương, nhiễm trùng da, mụnnước, nước ăn chân, chữa sưng, bệnh trĩ và tiêu độc Binh sĩ Roman đã dùng lá bắpcải để chữa trị vết thương bằng cách giã nhỏ lá bắp cải rồi đắp vào vết thương, thay1-3 lần/ngày
Ngày nay, ở các nước phát triển đã dùng bắp cải để chữa bệnh đau cơ, đauthần kinh tọa, đau dây thần kinh, chữa bệnh viêm khớp bằng cách hơ nóng lá bắpcải rồi chườm lên chỗ bị đau; chữa bệnh viêm loét vì trong bắp cải có vitamin U.Ngoài ra, trong rau họ cải rất giàu thành phần beta carotene, canxi, tốt cho xương,răng và chữa bệnh còi xương ở trẻ nhỏ Vitamin C và vitamin A trong rau cải có tácdụng giải độc tố ra khỏi cơ thể, ngăn ngừa cảm cúm, tăng cường khả năng trao đổichất và tăng sức đề kháng, chữa cảm lạnh Đặc biệt, trong rau cải có các chất có tácdụng giảm nguy cơ đau tim, giảm nguy cơ ung thư phổi của người hút thuốc lá 50-70% và phòng chống các bệnh ung thư khác như: carotenoid, sulforaphane,isothiocyanates, indole 3 carbinol, glucosinolates indolyl, dihiolthines,…Nhiều tácgiả đã khẳng định được, rau họ hoa thập tự có tác dụng ngăn ngừa 40-70% ung thư
Chính vì vậy, diện tích và chủng loại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam ngàycàng tăng lên mạnh mẽ Theo FAOSAT (2017), năm 2015 diện tích rau họ hoa thập
tự ở Việt Nam là 39.900 ha; đến năm 2016 đạt 42.435 ha, tăng 6,35% so với năm
2015 và cao hơn diện tích trung bình 5 năm (2010 - 2014 đạt 42.526,6 ha) 2.270,4
ha Chính sự gia tăng về diện tích, cùng với việc thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấucây trồng và quy hoạch vùng sản xuất rau chuyên canh làm cho tình hình sâu hạidiễn biến phức tạp hơn, xuất hiện nhiều đối tượng sâu bệnh hại mới Để phòng trừdịch hại, người nông dân ở miền xuôi, các quận huyện gần khu đô thị sử dụng nhiều
Trang 17loại thuốc hóa học có độ độc cao, thời gian cách ly dài Các thuốc hóa học nàykhông chỉ gây độc đối với người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm, để lại dư lượng thuốc BVTV, làm giảm đa dạng sinh học, phá vỡ cân bằngsinh thái.
Để giảm thiểu tác hại của thuốc hóa học gây ra đối với con người và môitrường nhằm, việc nghiên cứu và ứng dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuấtnông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng ngày càng được quan tâm: Ở ViệtNam, ngay từ năm 1960 Lê Trường và cs đã đề cập đến hiệu lực trừ sâu của một sốcây độc chính ở dạng đơn giản, nhưng ngay sau đó thuốc trừ sâu hóa học tràn vào,thuốc thảo mộc bị quên dần Cho đến năm 1980, thuốc thảo mộc lại được đề cậpđến Trong các loài thực vật được nghiên cứu, cây ruốc cá được nghiên cứu đầy đủnhất Lúc đó, cây ruốc cá được dùng nhiều để trừ cá dữ ở những vùng nuôi tôm cá.Tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn trong việc chế biến bảo quản sản phẩm vì sảnphẩm rotenone mất hiệu lực nhanh
Sau đó nhiều tác giả đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của thuốc thảomộc như: thí nghiệm thăm dò tính độc của cây đối với sâu hại của Bùi Văn Ngạc(1979); Đinh Xuân Hưởng và cs (1987); Trần Minh Tâm (1992); Trương Thị NgọcChi (1992); Vũ Quang Côn và cs (1994); Đào Văn Tiến và cs (1994); Nguyễn DuyTrang (1990, 1993, 1995), các công trình đã bước đầu xác định được một số loàithực vật có thể sử dụng để phòng trừ dịch hại [15], [16], [17], [18]
Từ năm 2004 - 2006, TS Phan Phước Hiền - Trường Đại học Nông LâmTPHCM đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu chiết xuất và sử dụng các hoạt chấtthứ cấp từ một số cây cỏ Việt Nam phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực phẩm và y
dược” Đề tài đã khảo sát thu thập, nghiên cứu đặc điểm sinh hoá của cây Dewis trifoliata, Hibercus sabda Đồng thời ngâm chiết, chưng cất, cô đặc, tinh sạch một
số hợp chất hữu cơ phục vụ cho sản xuất các chế phẩm sinh học trong y dược
Cũng tương tự như vậy TS Nguyễn Hữu Hồng, Trường Đại học Nông Lâmthuộc Đại học Thái Nguyên đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng sử dụngmột số loài thực vật vào việc phòng trừ cỏ dại cho lúa nước ở vùng miền núi phíaBắc Việt Nam” Kết quả đề tài đã thu thập đánh giá được vai trò và khả năng trừ cỏ
Trang 18dại cho lúa nước của 7 loài cây (cây cứt lợn, cây đơn kim, cây guột, cây cỏ lào, cây đậu ma, cây keo dậu và cây xoan).
Từ năm 2010 - 2014, TS Bùi Lan Anh, Trường đại học Nông Lâm - Đại họcThái Nguyên, đã nghiên cứu sử dụng dung dịch ngâm thân lá cà chua; dung dịchngâm quả ớt chỉ thiên, dung dịch ngâm quả cà độc dược, dung dịch ngâm củ tỏi,dung dịch ngâm hạt thàn mát, dung dịch ngâm quả bồ hòn và dung dịch ngâm hỗnhợp ớt + tỏi để phòng trừ sâu hại rau cải bắp Kết quả cho thấy, các dung dịch ngâmthực vật đều có hiệu quả trừ sâu cao (đạt trên 50 - 90%) Trong đó dung dịch ngâmquả bồ hòn có hiệu quả phòng trừ cao nhất (đạt 88,61 - 100% đối với từng loài sâuhại)
Tuy có một số ít đề tài đã và đang nghiên cứu lựa chọn một số thuốc trừ sâuthảo mộc, một số loài thực vật để phòng trừ dịch hại cây trồng nhưng với số lượngđược nghiên cứu là rất khiêm tốn so với tiềm năng số lượng loài thực vật có thểnghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam
Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyênthực vật đa dạng, phong phú ở Việt Nam và một số thuốc trừ sâu thảo mộc trongviệc phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và sâu hại rau cải bắp nói riêng, chúng
tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp tại Phú Thọ”.
1.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây rau
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau
Chỉ một câu nói truyền miệng: “Cơm không rau như đau không thuốc”,
chúng ta đã thấy được vai trò quan trọng của rau đối với sự tồn tại, cân bằng, duy trì
và phát triển cuộc sống của con người Ngày nay, khi các ngành khoa học hiện đạiphát triển, con người càng khẳng định được, rau xanh là loại thực phẩm không thểthiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con người, vì rau là nguồn cung cấp cácvitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự duy trì, phát triển và bảo vệ cơ thể Cácloại vitamin (A, B, C, E, ) trong rau có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, chốngôxy hóa, giảm huyết áp, giảm cholesterol trong máu, phòng chống bệnh tim mạch
và đột quỵ, hạn chế sự phát triển của một số tế bào ung thư; đồng thời, có tác dụnglàm đẹp cơ thể và kéo dài tuổi xuân [30] Các muối khoáng (kali, canxi, magiê,…)
Trang 19trong rau có tính kiềm, những chất này cần thiết để trung hòa các sản phẩm axít dothức ăn hoặc do quá trình chuyển hóa tạo thành để chống thiếu máu, tăng thêm sứcdẻo dai và khả năng chống đỡ với bệnh tật [3], [13] Ngoài ra, rau còn cung cấp chocon người một lượng lớn chất xơ, làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, ngăn ngừatáo bón, ngăn ngừa ung thư đường tiêu hóa, làm giảm ung thư trực tràng, giảm nguy
cơ mắc bệnh tim mạch, làm giảm cholesterol trong máu và hỗ trợ bệnh đái tháođường [26], [27], [37]
Qua đó ta thấy, rau quả có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe conngười Ở Việt Nam, rau là nguồn thức ăn dồi dào, phòng phú, chúng ta nên biếtcách chọn, sử dụng các loại rau quả một cách hợp lý để nâng cao sức khỏe, phòngtránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ
1.2.2 Giá trị kinh tế của cây rau
Ngoài giá trị dinh dưỡng rất cao rau xanh còn là một cây trồng mang lại hiệuquả kinh tế khá lớn cho người nông dân
Kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến rau hoa quả là mộttrong 10 nhóm mặt hàng đứng đầu cả nước, trong đó có 85 - 90% là sản phẩm chếbiến [11]
Theo số liệu chính thức của tổng cục hải quan kim ngạch xuất khẩu rau quảcủa Việt Nam tháng 6/2009 đạt 46,02 triệu USD tăng 30% sơ với tháng trước vàtăng đến 73,8% so với tháng 6/2008 Tính chung 6 tháng đầu năm tổng kim ngạchxuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường đạt 209,61 triệu USD, tăng 13,69% sovới cùng kỳ năm 2008 [24]
Trong 8 tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Namđạt 424 triệu USD, tăng 69% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 83% so với cùng kỳnăm 2010 Dự kiến, năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 500 triệuUSD, tăng 10% so với năm 2010 và tăng 12% so với năm 2009 [25]
Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu của gần 60 quốc gia trên thế giới về các sảnphẩm rau hoa quả của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong 8 tháng đầunăm 2011, kim ngạch xuất khẩu sang các nước tăng 9,0 - 74,0% so với 8 tháng đầunăm 2010 Các sản phẩm rau quả xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm
Trang 20chế biến, xuất khẩu tươi rất ít, chiếm tỷ trọng 2,5% Trong đó, chủ yếu là xuất khẩuThanh Long tươi đến các nước trong khu vực; còn các mặt hàng rau củ quả khác ởViệt Nam mặc dù còn dư thừa rất nhiều, nhưng chưa đủ khả năng đáp ứng tiêuchuẩn cung cấp cho các nhà máy chế biến để xuất khẩu và cho xuất khẩu vì: chấtlượng, an toàn vệ sinh thực phẩm (dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng kim loạinặng, …), chất lượng bao bì,… của các sản phẩm chưa đảm bảo Cho nên, đa số cácnhà máy chế biến đều thiếu nguyên liệu, hầu hết các vùng nguyên liệu mới chỉ cungcấp được 60% sản phẩm cho các dây chuyền chế biến hoạt động Dự báo đến cuốinăm 2011, xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng mạnh [25] Để đáp ứng nhu cầu xuấtkhẩu, chế biến xuất khẩu và nội tiêu ngày càng tăng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNTDiệp Kinh Tần đã phê duyệt quyết định số 52/2007/QĐ-BNN ngày 06/6/2007 vềđịnh hướng quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn
2020 Trong đó, diện tích trồng rau năm 2010 phấn đấu đạt 700 nghìn ha (trong đórau an toàn và rau công nghệ cao khoảng 100 ngàn ha), sản lượng 14 triệu tấn [14].Ngoài ra, rau là nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm như:
- Công nghiệp đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau…)
- Công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây…)
- Công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt…)
- Công nghiệp chế biến thuốc, dược liệu (tỏi, hành, rau, gia vị…)
- Làm hương liệu (hạt, mùi, ớt…)
Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như ngành chăn nuôi (rau lànguồn thức ăn cho ngành chăn nuôi)
Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùngsinh thái khác nhau với lợi thế là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng đượcnhiều vụ trong năm Do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyểndịch cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Mặt khác, rau
có đặc điểm là kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ vớinhững cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đa dạnghóa sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế [8] Trồng rau có hiệu quả hơn so với các câytrồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời
Trang 21gian, vì chúng có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gianngắn Theo Cẩm nang trồng rau, cứ 1 ha khoai tây có thể cung cấp lượng calo nhiềuhơn 1 - 1,5 lần trong 5 - 6 tháng, chỉ trong 20 - 30 ngày năng suất rau muống đạt tới
10 tấn/ha [10]
Theo Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005), tại vùng ven đô Hà Nội, thunhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phíchỉ gấp 2 lần Điều này dẫn tới lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so với cây lươngthực [7]
Cây rau đã góp phần cải thiện được đời sống của người nông dân trong nhữngnăm gần đây, góp phần xóa đói giảm nghèo điển hình:
Xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông, trướcđây người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn Vàinăm gần đây, nhiều người nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa sang trồng rau, đậucác loại năng suất 3,5 tấn/sào mang lại thu nhập cao hơn trồng lúa 6 - 7 lần [20].Người dân xóm 7 xã Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đã thành công trong pháttriển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều đạt thunhập từ 20 - 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ
Như vậy, so với các cây trồng khác, cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, chothu nhập vượt trội so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này đã được thựctiễn chứng minh và công nhận
1.3 Tổng quan tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tíchrau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân [1] Năm 1961 -
1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượngrau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổnglượng rau đã lên đến 565.523 tấn Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh,điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng Trên thế giới, nhữngnước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đếnnăm 1996 sản lượng tăng đạt 13,555 nghìn tấn Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202kg/người/năm Ở Canada, mức tiêu thụ raubình quân là 70 kg/người/năm [5]
Trang 22Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng 1.1:
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
- Về diện tích: Từ năm 2005 - 2010 diện tích trồng rau trên thế giới biến động
từ 16.483.351 - 18.499.192 ha; đến năm 2014 diện tích rau đạt 20.119.345 ha, tăng1,08% so với năm 2010 [28]
- Về năng suất: Trong giai đoạn 2005 - 2013, năng suất rau tăng giảm từ139.697 kg/ha đến 143.636 kg/ha Trong đó, năng suất rau năm 2006 cao nhất, đạt143.136 kg/ha; sau đó năng suất rau giảm dần ở những năm tiếp theo và thấp nhấtvào năm 2008 (đạt 139.697 kg/ha), giảm 2,74% so với năm 2006 và thấp hơn năngsuất trung bình giai đoạn 2005 - 2013 (đạt 142.062 kg/ha) Tuy nhiên đến năm
2014, năng suất rau lại tăng, năm 2014 (đạt 144,035 kg/ha) tăng trên 100% so vớinăm 2006 [28]
- Về sản lượng: Trong vòng 8 năm (2005 - 2012), sản lượng rau cao nhất ởnăm 2011 (đạt 274.331.455 tấn) Tuy năm này không phải là năm có năng suất raucao nhất, nhưng do có diện tích rau lớn nhất so với các năm khác trong giai đoạnnày, cụ thể: Năm 2006 năng suất rau lớn nhất, đạt 143.636 kg/ha; nhưng diện tíchsản xuất năm này thấp, chỉ đạt 16.865.707 ha, thấp hơn năng suất cao nhất (năm
2011 đạt 19.142.314 ha) 2.276.607 ha Còn năm 2011 là năm có năng suất rau tuykhông phải là lớn nhất (đạt 143.306 kg/ha), ít hơn so với năng suất rau năm 2006 là
Trang 23330 kg/ha; nhưng diện tích sản xuất năm này đạt 19.142.314 ha Do đó, sản lượngnăm 2011 cao đạt cao nhất trong giai đoạn, đáng chú ý trong giai đoạn này là năm
2012 do diện tích sản xuất rau giảm bất thưởng so với các năm trong giai đoạn (từ19.142.314 ha năm 2011 xuống còn 16.483.351 ha năm 2012) giảm 2.658.963 hanên sản lượng rau năm 2012 cũng giảm mạnh (từ 274.331.455 tấn xuống233.184.334 tấn) giảm 41.147.121 tấn Đến năm 2013, 2014 do tăng về cả diện tích
và năng suất nên sản lượng rau trong hai năm tăng mạnh, năm 2013 đạt282.271.951 tấn tăng 2,9% so với năm 2011 [28]
+ Năm 2014 là năm có năng suất rau lớn nhất trong vòng 10 năm qua (đạt144.035 kg/ha); diện tích rau năm này cũng đạt mức cao nhất (đạt 20.119.345 ha)dẫn đến sản lượng rau năm 2014 đạt 289.788.8623 tấn, sản lượng cao nhất trong 10năm trở lại đây [28]
1.3.2 Tình hình sản xuất rau ở châu Á và Việt Nam
Nghiên cứu tình hình sản xuất rau ở châu Á qua các năm kết quả thu được ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Châu Á qua các năm
Trang 24Qua bảng 1.3 ta thấy: Trong vòng 10 năm qua, diện tích rau ở Châu Á caonhất vào năm 2014 (đạt 16.170.580 ha); năng suất rau cao nhất vào năm 2007 (đạt155.467 kg/ha) và sản lượng rau cao nhất vào năm 2014 (đạt 250.791.694 tấn) Ởchâu Á, năm 2014 là năm có năng suất rau không phải là cao nhất, nhưng sản lượngrau đạt cao nhất trong vòng 10 năm qua là do: diện tích rau của năm 2014 đạt caonhất và năng suất cũng không thấp hơn nhiều so với năng suất lớn nhất của châu Átrong thời gian qua [28], cụ thể:
Năng suất rau của châu Á cao nhất vào năm 2007 (đạt 155.467 kg/ha), nhưngdiện tích rau năm đó lại ít (đạt 13.640.985 ha), ít hơn so với năm 2014 là 2.529.595
ha và ít hơn diện tích rau trung bình 10 năm qua (đạt 14.504.401 ha) là 863.416 hanên sản lượng rau năm 2007 không cao [28]
Cây rau phân bố không đều giữa các nước trong khu vực, qua nghiên cứu tìnhhình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2014, chúng tôi thu đượckết quả ở bảng 1.4
Qua bảng 1.4 ta thấy: Trung Quốc là nước có diện tích (đạt 10.070.876 ha,chiếm 62,27% tổng diện tích rau châu Á) và sản lượng (đạt 163.446.379 tấn, chiếm65,17% tổng sản lượng rau châu Á) lớn nhất châu Á [28]
Hàn Quốc là nước có năng suất rau lớn nhất (đạt 461.492 kg/ha) cao hơn năngsuất trung bình của châu Á là 306.401 kg/ha Maldives là nước có diện tích (đạt1.737 ha, chiếm 0.01074% diện tích rau châu Á) và sản lượng rau (đạt 2.349 tấn,chiếm 0.00937% sản lượng rau châu Á) thấp nhất châu Á [28]
Brunei là nước có năng suất rau đạt 8.168 kg/ha, thấp hơn năng suất trungbình của châu Á 146.923 kg/ha và là nước có năng suất thấp nhất châu Á [28]
Trang 25Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2014
Theo Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, (2000): cho đến nay chúng ta có khoảng
70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài là rau chủ lực Trong số này có hơn 80% là rau ăn lá [8]
Theo kết quả đánh giá của FAO ở bảng 1.4 ta thấy: Việt Nam là nước códiện tích rau (881.712 ha, chiếm 5,45% tổng diện tích rau châu Á và có diện tíchrau lớn thứ 3 trong khu vực (sau Trung Quốc và Ấn Độ) Năng suất rau trung bình
Trang 26của Việt Nam đạt 175.349 kg/ha, cao hơn năng suất trung bình của châu Á (155.091 kg/ha) là 20.258 kg/ha (cao hơn 13%) và đứng thứ 2 trong khu vực (sau Hàn Quốc) [28].
Sản lượng rau của Việt Nam đạt 15.460.695 tấn, đứng thứ 3 của chấu Á (sauTrung Quốc và Ấn Độ) Mặc dù, diện tích rau của Việt Nam đứng hàng thứ 3 vànăng suất đứng thứ 2 của châu Á, nhưng tổng sản lượng rau vẫn đứng hàng thứ 3 làdo: Năng suất rau trung bình của Việt Nam tuy đứng thứ 2 của châu Á (175.349kg/ha) nhưng diện tích rau của Việt Nam (881.712 ha) lại thấp hơn nhiều so vớiTrung Quốc (10.070.876 ha) và Ấn Độ (2.623.000 ha) [28]
Năng suất rau của Hàn Quốc (đạt 461.492 kg/ha) cao hơn năng suất rau củaViệt Nam (đạt 175.349kg/ha); nhưng diện tích rau của Hàn Quốc (đạt 70.654 ha), íthơn diện tích rau của Việt Nam 881.712 ha Cho nên sản lượng rau của Hàn Quốcthấp hơn sản lượng rau của Việt Nam [28]
1.4 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới và Việt
Nam
1.4.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới
Nghiên cứu, đánh giá tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên
thế giới trong những năm qua kết quả thu được ở bảng 1.5
Qua bảng 1.5 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng rau họ hoa thập tự
(Brassicas) tăng giảm không đều, cụ thể:
- Về diện tích: Diện tích rau họ hoa thập tự (Brassicas) giai đoạn 2005 - 2010
trung bình đạt 2.286.839 ha, đến những năm 2011 diện tích rau họ hoa thập tự tăngmạnh, năm 2011 đạt 2.462.292 ha, tăng 7,67% so với diện tích trung bình giai đoạn
2005 - 2010 (đạt 2.286.839 ha); tuy nhiên trong giai đoạn 2011 - 2013 diện tích rau
họ hoa thập tự lại giảm dần, từ 2.462.292ha năm 2011 xuống 2.420.781ha năm 2012
và đến 2013 còn 2.415.830ha Đến năm 2014 diện tích rau họ hoa thập tự lại độtngột tăng mạnh đạt 2.470.275ha, cao nhất trong giai đoạn 10 năm từ 2005 đến năm
Trang 27Bảng 1.5 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới qua
Như vậy, trong vòng 10 năm qua (2005 - 2014), diện tích và sản lượng rau
họ hoa thập tự năm 2014 là cao nhất [28]
1.4.2 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á và Việt Nam năm 2014
Nghiên cứu tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á và
Việt Nam năm 2014, kết quả thu được ở bảng 1.7
Qua bảng 1.7 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng rau họ hoa thập tự ởcác nước châu Á không đồng đều, có sự chênh lệch lớn Trong đó, Trung Quốc lànước có diện tích rau lớn nhất châu Á, đạt 996.765 ha, chiếm 55,59% tổng diện tíchrau họ hoa thập tự toàn châu Á; tiếp đến là Ấn Độ, có 400.140 ha, chiếm 22,32%tổng diện tích rau họ hoa thập tự châu Á và thấp nhất là Bahrain có 26 ha, chiếm0,00145 % diện tích rau họ hoa thập tự châu Á [28]
Trang 28- Về năng suất: Hàn Quốc là nước có năng suất rau họ hoa thập tự cao nhất châu Á,đạt 741.322 kg/ha, cao hơn năng suất trung bình toàn châu Á 362.314 kg/ha (caohơn 141,1%); tiếp đến năng suất rau của Trung Quốc đạt 340.584 kg/ha, cao hơnnăng suất trung bình châu Á 33.129 kg/ha (cao hơn 10,77%) và Timor là nước cónăng suất rau họ hoa thập tự thấp nhất châu Á, đạt 100.212 kg/ha, thấp hơn năngsuất trung bình châu Á 207.243 kg/ha (thấp hơn 67,4%) [28].
Bảng 1.7 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á và
Việt Nam năm 2014 Khu vực Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)
Việt Nam có diện tích rau họ hoa thập tự 36.020 ha, đứng thứ 4 châu Á (sauTrung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc), chiếm 2,01% diện tích rau họ hoa thập tự châu
Á Năng suất rau họ hoa thập tự của Việt Nam đạt 251.723 kg/ha, đứng thứ 4 châu
Á (sau Hàn Quốc, Bahrain, Trung Quốc), thấp hơn năng suất trung bình của châu Á
Trang 2955.732 kg/ha (thấp hơn 18,127%) Sản lượng rau họ hoa thập tự của Việt Nam đạt906.705 tấn, đứng thứ 4 châu Á (sau Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc), chiếm1,645% tổng sản lượng rau họ hoa thập tự châu Á Qua đó ta thấy: Diện tích rau họhoa thập tự của Việt Nam là khá cao, nhưng năng suất rau còn thấp Vì vậy, cần cóbiện pháp kỹ thuật tốt hơn để rau họ hoa thập tự có thể phát huy tiềm năng cho năngsuất cao hơn (tối thiểu bằng năng suất trung bình của châu Á) [28].
1.5 Tình hình nghiên cứu, sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ dịch hại cây trồng trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Một số nghiên cứu về thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật trên thế giới
Từ xa xưa trong quá trình phát triển, con người đã biết khai thác sử dụngnhững thực vật hoang dại có tính độc để săn bắn, ruốc cá, diệt trừ chấy rận, rệp, sâuhại cây trồng, bọ hại người và gia súc Năm 1660, người châu Âu đã biết sử dụng
cây thuốc lá (Nicotiana tabacum) lấy từ các nước thuộc địa châu Mỹ, để sản xuất
bột hoặc ngâm với nước lã để phun lên cây trồng trừ rệp và các loài sâu ăn lá Dầndần, Nicotin trở thành một trong những chất trừ sâu chủ yếu từ cuối thế kỷ XIX đếnđầu thế kỷ XX
Bột hoa của cây cúc (Pyrethrum cinerariaefolium) cũng có thể dùng để trừ sâu,nên được gọi là cúc trừ sâu Đầu thế kỳ XX, Nam Tư và Nhật Bản là những nướcsản xuất chính thuốc trừ sâu từ bột hoa cúc Đến những năm 1966 - 1967, các nướcKenia, Tanzania, Uganda, Công, Ecuado và Nhật Bản sản xuất bột hoa cúc với tổngsản lượng đạt 20.000 tấn Trong đó, có 80% sản phẩm được chiết xuất bằng dungmôi để làm thuốc trừ sâu dạng nước có hàm lượng độc tố cao hơn ở dạng bột thô.Cũng trong thời gian này, có nhiều công trình công bố về cây độc
Theo Roark (1932) và Worsley et al (1937), giai đoạn từ 1747 - 1931 là thời
kỳ phát triển mạnh mẽ của chất trừ sâu rotenone và các rotenoids, được chiết xuất từ
rễ của các cây ruốc cá (loài Derris), Lonchocarpus và Tephrosia Chúng được trồng
phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới như: Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á, TrungNam Mỹ,… Vào năm 1933 ở Braxin, Malaixia, Indonexia đã trồng tới 5.000 ha câyDerris để lấy rễ Trong thời gian từ năm 1931 - 1947, hàng năm Bắc Mỹ đã nhập6.500 tấn bột rễ Derris để chiết lấy rotenone làm thuốc trừ sâu
Trang 30Từ chỗ người dân địa phương chỉ biết sử dụng các cây độc hoang dại ở dạngthô, tiến đến con người biết trồng trọt, biết chiết xuất lấy chất độc trong cây ra:nicotin, rotenone, pyrethrin đã mở đầu cho thời kỳ thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất.
(3) Một số kết quả nghiên cứu tính chất và tác động của các hoạt chất trong cây độc đối với dịch hại cây trồng
* Nicotine
Nicotine là hoạt chất chính của các alkaloids trong các loài thuộc giống
Nicotiana, chủ yếu trong 2 loài thuốc lá (Nicotina tabacum) và thuốc lào (Nicotina rustica) Nicotine tinh khiết được chiết xuất đầu tiên vào năm 1828, mặc dù trước đó
hàng trăm năm, người ta vẫn dùng bột khô hoặc dung dịch ngâm để trừ sâu hại hoặcchấy rận hại người và gia súc Nicotine có công thức hóa học C12H14N2, nó là kếthợp của 2 nhân Pyridine và 1-Methyl-Pyrolidine Ngoài Nicotine, trong cácalkaloids của thuốc lá còn có 2 chất độc quan trọng khác là nornicotine và anabasine
Cơ chế tác động của Nicotine đối với côn trùng và động vật có vú là tác độngtrực tiếp lên hệ thần kinh Từ vị trí trúng thuốc (tiếp xúc hoặc vị độc), nicotine tácđộng lên hệ thống đầu dây thần kinh, qua bụng lên não, làm cơ thể động vật run lên,sau đó các cơ bị rối loạn, cuối cùng là côn trùng bị tê liệt và chết Chính vì vậy,nicotine có tác dụng trừ được nhiều loài sâu hại như: bọ chét, rệp, chấy, rận, bọcánh cứng, sâu ăn lá, trên người, gia súc và cây trồng Ngoài tác động mạnh lên hệthần kinh, nicotine còn có tác động xua đuổi côn trùng rất mạnh Do hiệu quả mạnhnhư vậy, nên nicotine được coi là 1 trong 3 loại thuốc trừ sâu thảo mộc quan trọngnhất ở thế kỳ IXX và đầu thế kỷ XX Sau đại chiến thế giới thứ II, hơn 2.500 tấnthuốc trừ sâu nicotine (làm từ sản phẩm phụ của ngành công nghiệp sản xuất thuốclá) đã được sử dụng rộng khắp trên thế giới, nhưng đến những năm 1980, việc sửdụng loại thuốc trừ sâu này giảm xuống dưới 200 tấn do thời gian này có các thuốctrừ sâu khác giá rẻ và ít gây hại cho động vật máu nóng
Theo Feurt et al (1958), liều gây chết của nicotine cho người là 0,06 gr; LD50
(liều gây chết cấp tính 50% cá thể) đối với lợn là 10,0 - 32,0 mg/kg trọng lượng vàđối với chuột từ 6,0 - 23,5 mg/kg Theo Đỗ Tất Lợi (2004), người lớn có thể chếtkhi dùng 15 - 20gr thuốc lá dưới dạng hãm để thụt, trẻ em chỉ cần vài gam
Trang 31Chính vì tác dụng rất độc đối với người và gia súc cho nên cả thế giới và ViệtNam đã cấm sử dụng nicotine làm thuốc trừ sâu Đây là trường hợp đầu tiên về mộtloại thuốc thảo mộc trừ sâu đã được sử dụng rộng rãi lâu đời, lại gây độc hại chocon người và môi trường, trái với ý nghĩa của nó là thay thế cho thuốc hóa học trừsâu quá độc hại.
Ở Hoa Kỳ, năm 2008, EPA đã hủy bỏ thuốc trừ sâu nicotine
* Rotenone
Rễ của các loại cây Derris, Lonchocarpus, Tephrosia, được dùng để ruốc cá
và trừ sâu từ lâu đời Năm 1929, Takei và Koide đã xác định công thức phân tử chínhxác của rotenone là C23H22O6 Tiếp đến là một loạt chất khác gần giống rotenone đã
được phân lập từ cây cùng họ với Derris (Leguminosae), chúng được gọi là
những “rotenoids” Cho đến năm 1971, người ta đã xác định được 11 rotenoids trong
tự nhiên cùng với các công thức cấu tạo phân tử và các chỉ số hóa lý của chúng.Rotenone cũng như một số rotenoids khác, có hiệu quả cao đối với cá và nhiềuloài sâu hại khác, nhưng hiệu quả mạnh nhất đối với sâu ăn lá
Cơ chế tác động chủ yếu của rotenoids trong sâu hại là ức chế hô hấp, giảm tácdụng dẫn truyền đến các bộ phận cơ thể làm rối loạn quá trình trao đổi chất và chếtTuy nhiên, rotenone lại rất an toàn đối với người và động vật có vú Liều gây độccấp tính của rotenone đối với thỏ là 3000 mg/kg (Phụ lục 1.9)
Như vậy, rotenone an toàn với động vật máu nóng gấp 100 lần nicotine và hơn
700 lần so với strychnine Do tính an toàn đối với người và môi trường, nênrotenone đa được coi là một trong ba loại thuốc thảo mộc trừ sâu quan trọng nhất,hiệu quả nhất trong suốt thời gian dài trước khi các thế hệ thuốc hóa học ra đời Mặtkhác, do rotenone có tính an toàn cao, nên các sản phẩm chứa rotenone được sửdụng nhiều trong phòng trừ sâu hại rau và các loại cây trồng ăn tươi hoặc ít chế biến
* Pyrethr u m
Pyrethrum là tiêu biểu cho những chất độc chứa trong hoa của cây cúc trừ sâu
(Chrysanthemum cinerariacfolium Vis (Pyrethrum cinerariacfolium Trev.) thuộc
họ cúc (Compositae) Từ đầu thế kỷ IXX đến đầu thế kỷ XX, bột hoa của cây cúc
này được dùng phổ biến và rất hiệu quả khi phun trực tiếp hoặc hòa với nước để
Trang 32phun trừ sâu bọ Năm 1924, Staudinger và Ruzzicka công bố đã xác định đượctrong dịch chiết Pyrethrum có chứa 2 esters của các axít chrysanthemic và pyrethric
và đặt tên cho 2 chất này là pyrethrin I (C21H28O3) và pyrethrin II (C22H28O5)
Các hoạt chất Pyrethrum là các chất độc thần kinh cơ (Neurcomuculaire), tác
động chủ yếu vào hệ thần kinh trung ương của cá và sâu bọ, làm cho các cơ bị liệt,không phối hợp các cử động được, co quắp rồi chết Đối với người và động vật máunóng lại rất an toàn, vì chúng dễ bị thủy phân trong cơ thể và bị thải ra ngoài theonước tiểu Thuốc trừ sâu Pyrethrum phân hủy nhanh trong môi trường Với nhữngđặc điểm an toàn của thuốc trừ sâu Pyrethrum, thế giới đã sản xuất và sử dụng nhiềuloại sản phẩm này trong sản xuất nông nghiệp
* Azadira c htin
Là hoạt chất chính trong cây Neem (Azadiradita indica) chủ yếu ở hạt, là các tetranortriterpenoids Azadirachtin (C35H44O16) là chất quan trọng nhất đã được xácđịnh, tiếp đến là chất Salanin Ngoài ra còn một số chất khác như: Nimbidin,Meliantriol, 3-deace tylsalanin, Salanol, 1-3-Diacetylvilasinin và Thionimon
Việc tách chiết các chất độc chính rất phức tạp và đắt tiền, vì thế chỉ để thínghiệm trong phòng, còn các thí nghiệm rộng trên đồng ruộng và sử dụng trong sảnxuất là các sản phẩm dạng bột của hạt và lá hoặc là các dung dịch ngâm hạt và lákết hợp với một số dung môi hữu cơ khác
Những tác động chính của cây Neem và hoạt chất Azadirachtin đối với sâu hại
bao gồm: tác động nội hấp & lưu dẫn, tác dụng bất dục và ức chế sinh trưởng, tácđộng gây ngán
Cho đến nay, các sản phẩm từ cây Neem đã được nghiên cứu đối với 133 loàisâu, 3 loài nhện, 8 loài tuyến trùng và 6 loại bệnh trên 34 loài cây trồng khác nhauđều cho hiệu quả phòng trừ cao Ngoài ra, còn sử dụng các sản phẩm từ cây Neemtrong việc bảo quản 23 loại sản phẩm nông sản trong kho khỏi bị sâu mọt phá hại.Ngoài những tác dụng nêu trên, các sản phẩm từ cây Neem còn có nhưng hiệuquả tích cực khác như: Diệt được các loài chấy, rận, rệp, hại người và gia súc; diệtmối hại gỗ; diệt được tinh trùng, cho nên dầu Neem có thể dùng làm thuốc tránhthai Ngoài ra, các sản phẩm của Neem còn dùng làm thuốc đánh răng, xà phòng
Trang 33giặt, thuốc nhuộm vải, kem bôi da, làm thức ăn khô cho trâu, bò, cây che bóng,cây chắn gió, trồng rừng, chất đốt,
Tóm lại: Với những đặc tính ưu việt trên, trong thời gian gần đây và hiện nay trên
thế giới đã, đang và sẽ tiếp tục nghiên cứu, khai thác tiềm năng của cây Neem nhưmột khám phá quan trọng trong công cuộc tìm kiếm các loại thuốc trừ dịch hại câytrồng từ các cây cỏ tự nhiên
1.5.2 Một số nghiên cứu về thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ xa xưa, nhân dân đã có kinh nghiệm sử dụng một số cây độc(hạt na, hạt củ đậu, cây bách bộ, ) để trừ chấy, rận, rệp; cây dầu giun, cây lựu, đểtrừ giun sán Một số loài thực vật (hạt thàn mát, hạt mác bát, lá cơi, cây dây mật, )được các dân tộc miền núi khai thác sử dụng để ruốc cá Tuy nhiên, cũng chưa có ainghiên cứu và tổng kết đầy đủ những kinh nghiệm này
Năm 1960, nhóm tác giả Lê Trường, Nguyễn Thơ và Hoàng Anh Cung nghiên
cứu về khả năng trừ sâu hại của hạt thàn mát (Milletia ichthyochtona Drake), hạt mác bát (Antheroporum pierrei Gagnep), hạt bã đậu hay còn gọi là hạt mần đề (Croton tiglium), rễ dây mật (Derris sp), Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở
Việt Nam nghiên cứu về hiệu lực trừ sâu hại của một số loài thực vật Năm 1961,Trương Thanh Giản cũng đề cập đến một số cây độc có thể sử dụng đơn giản theokinh nghiệm dân gian để trừ sâu hại cây trồng Nhưng từ khi thuốc hóa học BVTVtràn vào Việt Nam (bắt đầu từ năm 1957), thuốc thảo mộc dần bị quên lãng
Đến những năm gần đây, cùng với xu thế chung của thế giới, ở nước ta đã cónhiều tổ chức, nhiều cơ quan đã chú ý đến thuốc thảo mộc Cục bảo vệ thực vật
1979 - 1981, đã tiến hành điều tra, phân loại ươm trồng cây ruốc cá (Derris sp) và sản xuất một số dạng chế phẩm trừ sâu từ rễ cây Derris elliptia Những chế phẩm
này được thử nghiệm hiệu quả trừ một số loài sâu hại: Sâu baba, rệp hại bông, sâu
tơ, rầy xanh, bọ xít muỗi hại chè Hàm lượng Rotenone trong rễ cây Derris elliptia
ở Việt Nam đã được tách chiết và xác định là tương đương với các loài Derris philippines, Derris malaccensis trồng ở các nước khác Tuy nhiên, việc chế biến và
bảo quản các sản phẩm rotenone còn gặp nhiều khó khăn do: rotenone mất hiệu lựcnhanh ngoài điều kiện môi trường tự nhiên Hiện nay, bột rễ cây Derris chủ yếu sử
Trang 34dụng để trừ cá dữ trong các vùng nuôi tôm, cá nhân tạo Đỗ Văn Ngạc (1979), giới
thiệu cây bình bát (Annona glabra) có thể trừ được sâu hại cây trồng Trong nhân
dân cũng đã khôi phục tập quán dùng lá và quả xoan ta để trừ sâu hại cơ quan Bảo
vệ thực vật Nghệ Tĩnh đã tiến hành thử nghiệm một số cây độc đối với bọ xít dàihại lúa từ cây xương rồng
Năm 1990 - 1991, Trung tâm Sinh học Trường Đại học Tổng Hợp cho ra đờisản phẩm Nicotex, được chiết xuất từ cây thuốc lá, nhưng sản phẩm này khôngđược sử dụng vì hiệu quả trừ sâu không cao, lại rất độc đối với người và môitrường Năm 1992, Trung tâm Công nghệ hóa học - Viện Khoa học Việt Nam, sảnxuất thử các chế phẩm BQ-01, chủ yếu từ quả xoan và một số cây có tinh dầu khác.Chế phẩm này có tác dụng xua đuổi rất tốt đối với các loài mọt hại kho lương thực
Bộ môn Sinh lý động vật, trường Đại học Tổng Hợp, đã nghiên cứu thăm dò ảnhhưởng của một số chế phẩm từ thực vật (hạt thàn mát và hạt củ đậu) đối với một sốloài sâu hại rau Kết quả thí nghiệm trong nhà lưới về ảnh hưởng của một số loàithực vật đến sâu hại cho thấy: hạt bình bát và lá thuốc lá ở nồng độ 10% có thể
khống chế được rầy lưng trắng (Sogatella fureifera); rễ cây ruốc cá và lá bạch đàn chanh (Eucalyptus robusta) ở nồng độ 15% có thể làm giảm mật độ rầy Một thí nghiệm khác cho thấy: dung dịch ngâm lá mãng cầu (Annona muricata) pha ở nồng
độ 20% phun lên hạt đậu xanh cất giữ trong lọ thủy tinh, dầu lạc trộn với hạt theo tỷ
lệ (1/1000) có thể hạn chế được mọt xanh (Callosobruchus chinensis) trong khi bảo
quản Nguyễn Xuân Dũng, Lưu Tham Mưu (1993) cũng giới thiệu cách nhận biếtcây độc theo kinh nghiệm của dân gian và tài liệu nước ngoài Trong thời gian này,công ty Thiên Nông sản xuất một loạt thuốc trừ sâu tách chiết từ cây Vừng bằngcông nghệ vi sinh hiện đại Sản phẩm này hoàn toàn không độc đối với người vàmôi trường, nhưng hiệu quả trừ sâu không cao và khó tan trong nước Cho nên, sảnphẩm này chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất Từ năm 1993 - 1994, Bộ môn Sinhthái côn trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, đã sản xuất thử chế phẩmST3 từ cây thanh hao hoa vàng và chế phẩm ST3 này đã được Nguyễn Duy Trang -Viện Bảo vệ thực vật nghiên cứu thử nghiệm trong phòng trừ bọ xít dài hại lúa
(Leptocorisa acuta Thunb) vụ mùa năm 1993 tại Tân Lập - Đan Phượng - Hà Tây
Trang 35(cũ) và phòng trừ sâu xanh bướm trắng, sâu tơ hại rau cải bắp vụ xuân năm 1994 Sản phẩm ST3 có hiệu quả trừ sâu khá cao đối với bọ xít dài hại lúa đạt 52,33 -70,22%; cao đối với sâu xanh bướm trắng đạt 66,67 - 100% và đối với sâu tơ hiệu quả phòng trừ cũng cao (đạt 48,89 - 88,89%).
Theo Nguyễn Duy Trang (1995), hạt na, thàn mát có hiệu quả tiêu diệt sâuxanh và sâu tơ rất cao (đạt 82,62 - 96,77% sau phun 72 giờ) Lá xoan ta có hiệu quảtiêu diệt sâu tơ, sâu khoang, rệp muội, bọ nhảy và rầy nâu cao (đạt 61,6 - 100,0%sau phun 72 giờ)
Theo Quách Thị Ngọ (2000), dịch chiết một số thực vật (hạt củ đậu với liềulượng 15 kg/ha; rễ cây Derris với lượng 20 kg/ha và bột lá xoan ta với lượng 28kg/ha) có hiệu lực phòng trừ rệp muội hại rau cải bắp khá cao (đạt 20,5 - 52,6% sauphun 1 ngày và 31,7 - 65,4% sau phun 3 ngày)
Năm 2002, Hiệp hội rau quả Đà Lạt đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứuhóa sinh ứng dụng thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu thành công các hoạt chấtLimonoid trong hạt, lá xoan Neem và điều chế ra 3 loại thuốc bảo vệ thực vật(Neemcide
3000EC, Neemcide 3000SP và Neemcide 3000ES) Các thuốc này có tác dụng xua đuổi, gây ngán và tiêu diệt sâu hại cây trồng, sâu hại trong kho lương thực, thực phẩm
Năm 2002 - 2003, Nguyễn Trường Thành và cộng tác viên đã nghiên cứu sảnxuất được 3 chế phẩm thảo mộc để trừ ốc bươu vàng (chế phẩm CB-03, chế phẩmCE-02 và chế phẩm CH-01) Các chế phẩm này đều có hiệu quả tiêu diệt ốc bươuvàng cao (đạt 79 - 92%); đồng thời không tiêu diệt các loài cá và các sinh vật thủysinh khác (trừ ốc vặn)
Theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2007), sản phẩm thảo mộcSaponin từ bã sở, bã trẩu và bã hạt chè có hiệu quả cao đối với ốc bươu vàng, tuyếntrùng và sâu hại
Năm 2009, tại Viện Tài Nguyên Môi Trường, Đặng Thị Phương Lan đã
nghiên cứu xác định hiệu lực của các chế phẩm trừ sâu thảo mộc (Matrine được chiết xuất từ cây khổ sâm và chất Azadirachtin được chiết xuất từ cây xoan Neem)
trong phòng trừ một số loài sâu hại cây trồng, kết quả thu được như sau: Matrine cóhiệu quả phòng trừ cao đối với sâu tơ, sâu khoang hại rau họ hoa thập tự; bọ trĩ hại
Trang 36bầu bí, cà chua, dưa chuột; ruồi đục lá đậu đỗ (đạt 60,3 - 89,73% sau phun 5 - 7ngày); nhưng có hiệu quả thấp đối với bọ nhảy (đạt 31,13 - 33,76% sau phun 5-7
ngày) Chế phẩm Azadirachtin đạt hiệu quả cao đối với sâu tơ & sâu khoang hại rau
họ hoa thập tự (đạt 70,71 - 79,92% sau phun 5 - 7 ngày); đạt hiệu quả trung bình đốivới rồi đục lá đậu đỗ (đạt 57,41 - 53,78% sau phun 5 - 7 ngày) và đạt hiệu quả thấpđối với sâu đục quả & bọ nhảy (đạt 48,25 - 51,14% sau phun 5 - 7 ngày)
Theo Trần Đình Phả (2011), hạt chè và bã sau ép dầu (sản phẩm sau ép dầu ăncủa Viện Môi trường Nông nghiệp) có hiệu lực trừ ốc bươu vàng, tuyến trùng vàsâu hại trong đất cao (đạt 76 - 93%)
Theo Bùi Lan Anh (2014), quả ớt chỉ thiên, tỏi, gừng riềng, hạt na, hạt thànmát, quả bồ hòn có hiệu lực phòng trừ sâu hại rau cải bắp đạt trên 70%
Trên đây là tóm tắt một số kết quả nghiên cứu về việc sử dụng cây, cỏ có độc
và thuốc trừ sâu thảo mộc ở Việt Nam từ trước tới nay trong phòng trừ sâu hại câytrồng Những kết quả này, đã phần nào nói lên sự quan tâm của các cơ quan nghiêncứu, các trường đại học và các doanh nghiệp tới việc nghiên cứu, phát triển và ứngdụng nguồn tài nguyên cây, cỏ đa dạng & phong phú của Việt Nam trong phòng trừsâu hại cây trồng
1.6 Tổng quan tình hình nghiên cứu sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam
Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm sâu hại rau đã làm giảm năng suất 10 15% Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng, trên rau họ hoa thập tự có 13 loài sâuhại su hào, 12 loài hại trên cải bắp và 28 loài hại trên cải xanh Hiện nay những loàisâu phổ biến và gây hại nghiêm trọng trên rau họ hoa thập tự là: rệp, sâu xanh bướmtrắng, sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy…
-1.6.1 Sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis) (Còn gọi sâu nhảy dù, sâu kén mỏng)
Họ ngài rau Plutellidae, Bộ cánh vảy Lepido ptera
* Đặc điểm hình thái
Ngài thân dài 6 - 7 mm sải cánh 12 - 15mm màu xám đen, cánh trước màunâu Từ chân cánh đến góc sau có một dải màu trắng ở con đực và vàng ở con cái,dải này hình nhấp nhô nên có cảm giác chia làm 3 đoạn khi đậu cánh xếp xiên hìnhmái nhà, cuối cánh hơi cao lên, mép ngoài có lông dài
Trang 37- Trứng hình bầu dục màu vàng xanh nhạt đường kính 0.3 - 0.5mm.
- Sâu con màu xanh nhạt, đẫy sức 9 - 10mm, mỗi đốt đều có lông nhỏ, phíatrước mép ngoài của phần góc chân bụng có một u lôn hình tròn, trên đó có 3 lôngnhỏ Trên mảnh cứng lưng ngực trước có những chấm xếp hình chữ U Nhuộm màuvàng nhạt dài 5 - 6 mm mắt rất rõ, kén mỏng hình thoi nên sâu tơ còn được gọi làkén mỏng
* Phân bố kí chủ
Phát sinh, phát triển trên tất cả các vùng trồng rau trong và ngoài nước
- Sâu phá hoại rau trong họ thập tự gây hại nặng cho cải bắp, su hào, súp lơ
* Tập quán sinh sống
Trưởng thành ngày ẩn đêm hoạt động, sau vũ hóa giao phối ngày và sau 1
2 ngày đẻ trứng, trứng đẻ rải rác hoặc thành cụm, mỗi ổ 10 50 quả, mỗi con đẻ 10
-400 quả Trứng đẻ mặt dưới lá, ngài có thể qua đông dưới 0oC, thời gian 2 - 3 tháng
- Sâu non mới nở đục lỗ ăn biểu bì dưới và thịt lá, chừa lại biểu bì trên tạothành hai đốm trong mờ, từ cuối T2 gặm thủng lá thành nhiều lỗ thủng lỗ chỗ, sâu
bị động tơ rơi xuống (bị hại nặng còn gân lá)
- Sâu thường tập hợp ở mặt dưới lá, đẫy sức nhả tơ kết kén ngay trên lá đểhóa nhộng trong kén mỏng
* Quy luật phát sinh phát triển gây hại
- Sâu có khẳ năng chịu được to 10 - 1400C Thích hợp nhất là 200 - 300C, ẩm
độ 80 - 90%
- Phát sinh gây hại trong tất cả các vụ rau đông xuân từ T9 - T4 năm sau, caođiểm tháng 1, 2, 3
Trang 381.6.2 Rệp hại rau (Brevicoryne brassicae L.)
Họ rệp muội Aphididae, Bộ cánh đều Homoptera
Ngoài ra còn có 2 loài rệp khác: Rệp đào Myzus persicae Sulzer
Rệp rau cải Rhopalosiphum pseudobrasicae Davis
* Hình thái
Mỗi loài rệp có màu khác nhau, màu hồng đào, xanh phớt hồng, xanh xám
Có hai loại hình có cánh và không cánh chiều dài cơ thể 1,4 - 2,2mm
* Phân bố, ký chủ
Rệp hại ở tất cả các vùng trồng rau trong nước và trên thế giới, phá hầu hết các loài rau họ thập tự và các cây khác như cà phê, thuốc lá
Trang 39* Tập quán sinh sống
- Rệp đẻ thẳng ra con và hút nhựa cây, làm cây còi cọc, lá biến xoắn, co rútlại có thể bị héo vàng (nếu có 100con/lá) rệp còn tiết ra đường tạo điều kiện chonấm men phát triển
- Rệp có 2 dạng có cánh và không có cánh Khi điều kiện sống không thích hợp, rệp hình thành dạng có cánh để bay đi tìm nguồn thức ăn mới
1.6.3 Sâu xanh bướm trắng hại rau (Pieris rapae Linnaeus)
Họ bướm phấn Pieridae, Bộ cánh vảy Lepidoptea
- Nhộng hai bên sườn có những chấm đen, đường giữa lưng nổi lên hìnhxương sống, ngực cao tạo thành góc nổi lên hai bên phần bụng tạo thành 2 nếp gồ.Nhộng dài 18 - 20cm
* Phân bố và ký chủ
Sâu phân bố ở tất cả các vùng trồng rau trong và ngoài nước Sâu phá 35giống cây thuộc 9 họ, trong đó hại nặng cho thập tự, họ bách hợp Trên họ thập tựsâu hại chủ yếu trên su hào, bắp cải, súp lơ
Trang 40* Tập quán sinh sống
Bướm hoạt động ban ngày, trứng đẻ rải rác trên các lá bánh tẻ và lá già, mỗicon đẻ 10 - 500 trứng
Sâu non nở ra ăn khuyết lá chỉ chừa lại gân Khi hại sâu tạo vết thương cơ
giới để bệnh Xanthomonas campestris Dowoon phát sinh gây hại Sâu có 5 tuổi, khi
đẫy sức hóa nhộng trên lá, trên thân
Nhiệt độ thích hợp để sâu phát sinh gây hại là 16 - 20oC, nhiệt độ <10oChoặc >30oC sâu có thể chết
Hàng năm sâu có 3-4 vòng đời/năm ở nơi lạnh và 7-8 vòng đời ở nơi nóng
* Triệu chứng và mức độ gây hại
Sâu ở tuổi 1, 2, 3 gặm lá ăn chất xanh để lại màng trắng
Tuổi lớn ăn khuyết lá để lại gân lá Đối với bắp, cải sâu có thể đục vào bắp
lá bao ngoài tạo lỗ thủng lớn có hình dạng và kích thước khác nhau
1.6.4 Bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta vitata Fabr)
Họ cánh kim Chrysometidae, Bộ cánh cứng Coleoprera
* Hình thái
Trưởng thành có kích thước cơ thể dài 1,8 - 2,4 mm, hình bầu dục, toàn thânđen bóng Trên hàng cánh trước có 8 hàng chấm lõm dọc cánh và 2 vân sọc hình củlạc màu trắng Đốt đùi chân sau to khỏe giúp sâu nhảy xa Con cái lớn hơn con đực
Sâu non đẫy sức dài 4mm, hình ống tròn, mầu vàng nhạt Sâu non có 3 đôichân nhỏ rất phát triển Các đốt đều có các u lồi, trên u có lông
Nhộng hình bầu dục khoảng 2mm, mầu vàng nhạt, mầm cánh và mầm chânsau rất dài Đốt cuối cùng có 2 gai lồi
Trứng hình bầu dục dài 3mm, màu vàng sữa