1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên

89 590 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
Tác giả Trần Văn Ngọc
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Phê
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Kỹ thuật trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 842,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 2

1 mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, ngành Nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, liên tục và toàn diện trên nhiều lĩnh vực, nông nghiệp nước ta đã từng bước chuyển dần từ nền kinh tế tự cung,

tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá, hướng mạnh ra xuất khẩu Đặc biệt là xuất khẩu lương thực, đưa nước ta từ một nước nhập khẩu trở thành nước sản xuất

đủ lương thực, đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ, mỗi năm xuất khẩu từ 2

- 4 triệu tấn lương thực

Điện Biên là một huyện trọng điểm của tỉnh Điện Biên, nằm ở vùng Tây Bắc của tổ quốc có diện tích đất tự nhiên 164.898,5 ha, đất nông nghiệp là 13.904,5 ha, trong đó đất ruộng lúa là 5.167,7 ha Địa hình của huyện bị chia cắt bởi con sông Nậm Rốm chảy qua vùng lòng chảo, xung quanh là núi bao bọc vì vậy hình thành nên một tiểu vùng khí hậu nóng ẩm mưa nhiều Cơ sở hạ tầng của huyện chưa phát triển đồng bộ, dân số của huyện gồm nhiều dân tộc khác nhau trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh, Thái, H’Mông Hơn nữa dân

số ngày càng tăng, việc đô thị hoá tăng đã làm diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, đất đai bị suy thoái dần Bên cạnh đó thực trạng xã hội của huyện cho thấy, huyện Điện Biên là một huyện miền núi nơi có trình độ dân trí thấp, số hộ nghèo hiện nay so với các huyện ở miền xuôi còn quá cao, trình

độ sản xuất và thâm canh của người dân còn thấp Tại đây chưa đa dạng hoá cây trồng, đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp vẫn là độc canh cây lúa, chưa khai thác hết nguồn lợi, tiềm năng mà thiên nhiên ban tặng cho vùng

Trang 3

Để tăng sản lượng lương thực, bằng cách mở rộng diện tích là rất hạn chế Vì vậy thâm canh, tăng vụ đi đôi với việc cải tiến hệ thống cây trồng nhằm khai thác hợp lý, hiệu quả các nguồn lợi tự nhiên đang được coi trọng

Phát triển Nông nghiệp theo hướng bền vững, đồng thời với việc chuyển

đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là một yêu cầu bức xúc trong phương hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Để góp phần phát triển Nông nghiệp tại huyện Điện Biên, nâng cao đời

sống của người dân, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu cải tiến hệ thống

canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên".

1.2 Mục đích

Trên cơ sở phân tích đánh giá hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa của huyện Điện Biên, xây dựng một hệ thống canh tác cải tiến, các công thức luân canh hợp lý nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho

đồng bào các dân tộc miền núi ở Điện Biên

1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành: năm 2004

Điện Biên - tỉnh Điện Biên

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

vàn cao, đất vàn, đất vàn thấp

Trang 4

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm

* Hệ sinh thái nông nghiệp

Hệ sinh thái nông nghiệp do con người tạo ra, và duy trì trên cơ sở các qui luật khách quan của các hệ sinh thái và mục đích thoả mãn nhu cầu nhiều mặt ngày càng tăng của con người Hệ sinh thái Nông nghiệp có chu trình vật chất không khép kín Đó là hệ sinh thái thứ cấp và hệ sinh thái trẻ, chịu sự tác

động của con người như quá trình cung cấp năng lượng sống và năng lượng quá khứ để hệ sinh thái cho năng suất cao Hệ sinh thái nông nghiệp có số lượng ban đầu giảm, kém ổn định, dễ bị thiên tai dịch hoạ phá hoại (Trần Đức Viên, Phạm Văn Phê, Ngô Thế Ân, 2003) [31]

* Nông nghiệp

Nông nghiệp là sự kết hợp logic giữa sinh học, kinh tế, xã hội cùng vận

động trong môi trường tự nhiên Nghiên cứu hệ thống canh tác trên bình diện một vùng nông nghiệp nhỏ hay trang trại của nông hộ cũng không ngoài những qui luật trên (Phạm Chí Thành và cộng sự, 1996) [25]

* Lý thuyết hệ thống

Hệ thống là một tập hợp tương tác giữa các thành phần tương hỗ bên trong một giới hạn xác định (Phạm Chí Thành 1993) [24], định nghĩa hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và vận động, nhờ đó xuất hiện những thuộc tính mới, thuộc tính mới gọi là tính trồi

Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các yếu tố trong thuộc tính đó, điều tiết các

Trang 5

mối tương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có qui luật “Muốn chinh phục thiên tai phải tuân theo qui luật của nó”

Về mặt thực tiễn cho thấy việc tác động vào sự vật một cách riêng lẻ, từng mặt, từng bộ phận của sự vật đã dẫn đến sự phiến diện và ít hiệu quả áp dụng lý thuyết hệ thống để tác động vào sự vật một cách toàn diện, tổng hợp mang lại hiệu quả cao và sự vật bền vững hơn Do nông nghiệp là một hệ thống đa dạng và phức hợp, để sản xuất nông nghiệp ở một vùng lãnh thổ cần tìm ra các mối quan hệ tác động qua lại của các bộ phận trong hệ thống và

điều tiết mối tương tác đó phục vụ cho mục đích của con người nằm trong hệ thống quản lý hệ thống đó

* Hệ thống nông nghiệp

Hệ thống nông nghiệp theo Phạm Chí Thành, (1993) [24] là một phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi và

đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng và kỹ thuật có thể có

Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống nhỏ trong đó theo những qui luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho hệ thống nông nghiệp

Hệ thống nông nghiệp có ba đặc điểm đáng quan tâm sau:

- Tiếp cận từ “dưới lên” và xem hệ thống mắc ở điểm nào tìm cách can thiệp để giải quyết cản trở

- Coi trọng mối quan hệ xã hội như những nhân tố của hệ thống

- Coi trọng phân tích động thái của sự phát triển

*Hệ thống canh tác

Hệ thống canh tác (HTCT) là sản phẩm của bốn nhóm biến số: môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế xã hội (Braket, 1996) [34] Trong HTCT vai trò của con người đặt ở vị

Trang 6

trí trung tâm của hệ thống và quan trọng hơn bất cứ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác Nhà thổ nhưỡng học người Mỹ đã chứng minh cho quan điểm này, ông cho rằng đất không phải là quan trọng nhất mà chính con người sống trên mảnh đất đó Muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của người nông dân có tác dụng hơn độ phì của đất (Cao Liêm, Trần Đức Viên, 1996) [14], (FAO,1993) [37]… Như vậy hệ thống canh tác là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại được quản lý bởi hộ gia

đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn nguồn lực của nông hộ (Nguyễn Văn Luật, 1990) [15]

* Hệ thống trồng trọt

Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong một nông trại,

nó bao gồm các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại và mối quan hệ của chúng với môi trường

Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì của đất đai

Trong hệ thống cây trồng, cơ cấu cây trồng đóng vai trò quan trọng Cơ cấu cây trồng là thành phần các loại cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tận dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên và kinh tế xã hội sẵn có để tạo ra nhiều nông sản phẩm cung cấp cho xã hội (Đào Thế Tuấn, 1962) [21]

*Nông nghiệp bền vững

Tại hội nghị thượng đỉnh Rio De Janeiro, Braxin năm 1992, tổ chức Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED - World Commitec for Environment and Development) của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm của sự bền vững là: Việc quản lý và gìn giữ cơ sở của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự định hướng thay đổi về công nghệ và thể chế, nhằm đạt được sự thoả mãn các nhu cầu cho con người của thế hệ ngày nay và cho cả thế hệ mai sau

Trang 7

Phát triển bền vững, với các kỹ thuật phù hợp có ích lợi về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận cho phép giữ gìn đất, nước, các nguồn tài nguyên di truyền thực vật, động vật giữ cho môi trường không bị huỷ hoại Trên quan điểm bền

vững này (FAO, 1992) [36] đưa ra một số nguyên tắc của Hệ thống sản xuất

- Dự đoán được biến động môi trường, hạn chế rủi ro và nạn suy thoái,

ô nhiễm môi trường

- Sử dụng hiệu quả các loại cây bản địa, các nguồn gen động, thực vật hoang dã, quý hiếm, đa tác dụng

- Tài nguyên đất, nước, năng lượng sinh học cần được sử dụng hợp lý không lạm dụng để mất đi khả năng tái sinh

2.1.2 Những căn cứ làm cơ sở cho việc hình thành hệ thống canh tác hợp lý:

* Khí hậu và hệ thống cây trồng

Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của các hệ sinh thái, là yếu tố

đầu tiên phải chú ý khi xác định hệ thống cây trồng Khí hậu cung cấp năng lượng chủ yếu của quá trình tạo thành chất hữu cơ, tạo năng suất cây trồng Hệ thống cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và giá trị kinh tế cao nhất Vì thế có thể nói yếu tố khí hậu là quan trọng nhất của việc xác định hệ thống canh tác Tuy nhiên bên cạnh đó khí hậu cũng gây ra những hiện tượng bất lợi như bão, lụt, úng Hệ thống canh tác hợp lý là phải tránh được những tác hại của điều kiện bất lợi đó

- Các yếu tố khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng và khó điều khiển trong sản xuất, đó là các nhân tố: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, tổng tích ôn, lượng mưa Các hiện tượng thiên tai như: hạn hán, bão lũ, lụt, úng, các yếu tố

Trang 8

này luôn có tác động đến cây trồng, chi phối đến sản xuất, sản lượng, và hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng, (Trần Đức Hạnh, 1997) [10] Cần nắm chắc các yếu tố thời tiết trong năm, những qui luật chung nhất, xác định tiềm năng, lợi thế riêng biệt của vùng Xác định khả năng thích hợp của nhóm cây trồng, từng cây trồng

* Đất đai và hệ thống cây trồng

Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái, là nguồn cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây trồng Điều kiện đất đai là một trong những căn

cứ quan trọng sau điều kiện kiện khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng Tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới của đất để bố trí hệ thống cây trồng phù hợp (Hoàng Văn Đức, 1992) [9]; Bùi Thị Xô, 1994) [33]

Các tác giả (Lê Thái Bạt, 1991) [2]; (Lê Văn Khoa, 1993)[12]; (Bùi Quang Toản, 1993) [28] cho rằng: đất đóng vai trò quan trọng như một tác nhân tiếp nhận và tích luỹ các tài nguyên từ thành phần khác của một sinh thái Đất là môi trường cho sự ra rễ của cây trồng là nguồn cung cấp nước và dinh dưỡng khoáng để cho cây trồng sinh trưởng và phát triển

Vì vậy đất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phát triển hệ thống cây trồng Trong đó các yếu tố chi phối lớn nhất là địa hình và đất đai, tính chất đất Địa hình đất đai gắn với độ cao thấp cùng với từng vùng, từng chân ruộng Do vậy hệ thống cây trồng cũng khác nhau, địa hình thuần nhất thì hình thành cây trồng tương đối thuần nhất, địa hình phức tạp thì hình thành cây trồng cũng đa dạng phong phú

Dinh dưỡng của đất phụ thuộc vào độ phì của đất, đặc tính lý, hoá của

đất Mỗi loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau, do vậy việc bố trí các loại cây trồng và công thức luân canh phải thích hợp Tuy nhiên cây trồng thường lấy đi không hoàn lại các chất dinh dưỡng nên làm nghèo tài nguyên

đất Chính vì vậy khi bố trí hệ thống cây trồng cần chú ý đến bồi dưỡng đất và

Trang 9

cân đối dinh dưỡng của nhóm cây trồng trong công thức luân canh nhằm sử dụng hợp lý nguồn phân bón và dinh dưỡng trong đất

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp Bố trí cây trồng là lựa chọn loại cây trồng nào để lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và đất đai ở vùng đó, hoặc tạo cho cây trồng phát huy nhiều nhất khả năng thích ứng của chúng với điều kiện của vùng (Nguyễn Văn Thuận, 1994),[29] (Nguyễn Vi, 1992) [30] Khác với khí hậu và đất đai là yếu tố mà con người ít

có khả năng thay đổi, cây trồng có thể được lựa chọn và di thực hoặc thay đổi bản chất theo hướng mà con người mong muốn

Các nhà sinh lý học thực vật ở những năm 1960, đã chứng minh rằng không có loại cây trồng nào là có khả năng sử dụng hết toàn bộ tài nguyên thiên nhiên ở một vùng (bức xạ, nước, dinh dưỡng trong đất ) Hơn thế nữa, một số dẫn chứng cho thấy ở các vùng có khí hậu nhiệt đới thì ánh sáng, nguồn nước và chất dinh dưỡng chưa được sử dụng đúng mức mà còn có thể khai thác tăng vụ sản xuất lên hơn nữa Điển hình nhất là cuộc các mạng xanh

ở các nước nhiệt đới đã du nhập và sản xuất thành công giống lúa nước IR8, ngắn ngày, năng suất cao và khả năng thích ứng rộng làm cho sản lượng lương thực tăng nhanh và mở khả năng tăng vụ Các chế độ trồng xen trồng gối liên tiếp nhau với các loại cây trồng khác nhau đã được chú ý nhiều ở hầu hết các nước có ngành nông nghiệp phát triển, nhất là những nước có diện tích canh tác đất nông nghiệp thấp nhưng dân số đông

Các biện pháp kỹ thuật như làm đất, tưới nước, bón phân, chăm sóc, cải tạo đất, trừ cỏ dại và sâu bệnh, chọn tạo giống cây trồng năng suất cao và luân canh thời vụ gieo trồng đều liên quan chặt chẽ đến hệ thống cây trồng

- Giống cây trồng: việc tìm ra được giống cây trồng nào thích hợp có khả năng cho năng suất và giá trị kinh tế cao cũng chính là trực tiếp làm tăng

Trang 10

tính thích ứng hợp lý của hệ thống cây trồng, tận dụng tốt nhất các điều kiện

tự nhiên và kinh tế sẵn có, tận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay các tiến bộ kỹ thuật về chọn tạo giống cây trồng và nhập nội giống mới mang nhiều đặc tính quí cả về năng suất, chất lượng cũng như khả năng thích ứng rộng đã thực sự làm thay đổi một hệ thống cây trồng truyền thống Xu thế thâm canh, tăng vụ đòi hỏi có những giống cây trồng vừa có khả năng chịu

được thâm canh để cho năng suất cao vừa có thời gian sinh trưởng ngắn để đáp ứng cho cơ cấu gieo trồng tăng vụ Trên những vùng sinh thái có điều kiện địa hình và đất đai khó khăn đòi hỏi giống cây trồng phải có được đặc điểm thích ứng và chống chịu với các điều kiện đặc thù đó Kết quả của việc chọn tạo giống mới cũng vừa là đòi hỏi của hệ thống cây trồng hiện tại đồng thời cũng

là điều kiện để xác lập hệ thống cây trồng mới (Trần An Phong, 1995) [17]

- Thời vụ: theo các tác giả (Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc, 1987) [4]; (Bùi Huy Đáp, 1972) [5]; (Võ Tòng Xuân, 1993) [32], thời vụ là yếu tố vừa có tính chất định tính, vừa có tính chất định lượng, để xác lập hệ thống cây trồng Yếu tố thời vụ luôn gắn liền với đặc điểm của giống và điều kiện thời tiết, khí hậu nhằm bố trí mỗi loại cây trồng sinh trưởng, phát triển trong những điều kiện tối ưu trong mối liên hệ với các cây trồng trước và cây trồng sau để đạt

được năng suất, hiệu quả và độ an toàn cao nhất Cùng với tiến bộ về giống cây trồng, thời vụ gieo trồng cũng phải chuyển đổi cho phù hợp

- Công thức luân canh: là tổ hợp trong không gian và thời gian của các cây trồng trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác được dùng để sản xuất chúng (Zandstra, 1981) [39]

- Bố trí cây trồng thích hợp: là một biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái dưới sự điều khiển, kiểm soát của con người Biện pháp này không chỉ có tác dụng tạo ra một khối lượng các sản phẩm lớn có tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao mà còn tạo điều kiện cho các ngành như: chăn nuôi, chế biến, dịch vụ… phát triển Mặt khác việc bố trí cây trồng

Trang 11

hợp lý sẽ giúp giải quyết được lao động và vật tư một cách hợp lý hơn, (Cao Liêm, Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan, 1995) [13]

Mô hình nông nghiệp theo Phạm Chí Thành và Trần Văn Diễn (1993) [23] Mô hình theo nghĩa thông thường là một cái mẫu hay một hình của một vật để tham khảo hay làm theo Mô hình là một công việc nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hoá là nghiên cứu hệ thống như tập thể Mô hình giúp các nhà khoa học hiểu biết, đánh giá tối ưu hoá hệ thống Mô hình chuyển đổi hệ thống cây trồng này sang một hệ thống cây trồng khác, từ đó so sánh hiệu quả của nó

Mô hình về các biện pháp tác động và điều kiện và khả năng để hộ nông dân có đủ năng lực chuyển đổi hệ thống cây trồng của mình Nói một cách khác mô hình minh chứng cho một số giải pháp kỹ thuật…

* Các yếu tố kinh tế - xã hội

Theo Phạm Chí Thành (1993) [24], các nhân tố kinh tế - xã hội chủ yếu

ảnh hưởng đến xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý và cơ sở vật chất kỹ thuật, người lao động, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế, tập quán và kinh nghiệm truyền thống

+ Cơ sở vật chất là rất quan trọng trong đó thuỷ lợi là yếu tố hàng đầu cho thâm canh tăng vụ, đặc biệt là đa dạng hoá cây trồng ở đâu có hệ thống thuỷ lợi tốt, giải quyết tưới tiêu chủ động thì ở đó cho phép phát triển hệ thống cây trồng tăng vụ có hiệu quả

+ Vốn là tiềm lực của người nông dân, là yếu tố quan trọng xác định tính khả thi kinh tế cho giải pháp kỹ thuật Không có vốn và không có tín dụng thì không thể có đầu tư phát triển được, đặc biệt đối với chuyển hệ thống cây trồng mới đòi hỏi chi phí cao hơn

Sử dụng lao động đầy đủ và hợp lý cũng như nâng cao trình độ dân trí cho người lao động là những yêu cầu của phát triển hệ thống cây trồng sao

Trang 12

cho vừa tạo thêm việc làm cho người lao động, vừa rải vụ để giảm căng thẳng lao động trong những thời điểm nhất định

+ Phân bón đặc biệt là phân hữu cơ có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng và phát triển hệ thống cây trồng Do vậy phát triển chăn nuôi sẽ là cơ sở phát triển hệ thống cây trồng thích hợp, tập quán canh tác và kinh nghiệm truyền thống tốt của người nông dân sẽ là cơ sở nghiên cứu chuyển đổi hệ thống cây trồng Những tập quán canh tác lạc hậu sẽ hạn chế, kìm hãm việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cũng như cải tiến hệ thống cây trồng cũ

Yêu cầu của thị trường sẽ đòi hỏi nên lựa chọn hệ thống cây trồng nào, quy trình công nghệ nào và sản xuất ở đâu, bao nhiêu để có hiệu quả và có lợi nhuận cao Đây là yếu tố đầu tiên của nội dung quan tâm khi sản xuất hàng hoá để họ chọn lựa phương án có lợi nhất

Sự lồng ghép có hệ thống giữa mức độ khai thác sử dụng tài nguyên trong từng bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, cho phép có được mô hình kinh tế mang tính thực tiễn cao và đạt hiệu quả, để có thể áp dụng rộng rãi và thành công (Zandstra, 1981) [39]

Các chính sách kinh tế như chính sách về thuế, giá cả đầu vào đầu ra, chính sách đầu tư và chính sách đất đai đề ảnh hưởng đến sản xuất, nếu chính sách đúng thì có tác dụng tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển và ngược lại Một hệ thống cây trồng mang tính chất tự cấp, tự túc muốn trở thành hệ thống cây trồng mang tính chất hàng hoá cần phải phá vỡ hệ thống kép kín của từng nông hộ Chính sách là môi trường để các hộ nông dân đổi mới hệ thống cây trồng, hệ thống canh tác

Trang 13

2.2 Những nghiên cứu về hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp, loài người đã chọn ra những giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái và con người đã thiết lập nên các hệ thống cây trồng phù hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới cũng đã chỉ rõ việc chuyển biến mọi nền sản xuất nông nghiệp từ trình độ tự cấp, tự túc sang trình độ có tính chất hàng hoá đã gắn liền với những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu cây

trồng

Châu á là khu vực trồng lúa chủ yếu, khoảng 90% lúa trên thế giới

được sản xuất ở châu á Đất trồng lúa của châu á chỉ có một phần rất nhỏ

được tưới, còn 70% diện tích trồng lúa nhờ nước trời Trước đây trên đất lúa

có tưới được trồng 2 vụ lúa trong năm và trên đất lúa nhờ nước trời thường

được trồng 1 vụ lúa trong mùa mưa Vào những năm 1960, các nhà nghiên cứu IRRI đã nhận thức rằng, các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, tiềm năng sản lượng cao chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế Do

đó từ những năm đầu của thập kỷ 70 các nhà khoa học của các nước châu á

đã đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo hướng lấy lúa làm nền, tăng cường các loại cây hoa màu trồng cạn, các chế độ trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng được chú ý nghiên cứu Các vấn đề được các nhà khoa học quan tâm là:

+ Dùng giống ngắn ngày để tăng vụ sản xuất

+ Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh và luân canh

+ Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, của chế độ trồng xen, trồng gối, đồng thời khắc phục hạn chế ( Vũ Văn Rung, 2001) [19] (Chopra, (1989) [35] (Normal 1975) [38]

Trang 14

ở Thái Lan trong điều kiện thiếu nước, một hệ thống cây trồng: lúa xuân, lúa mùa ít mang lại hiệu quả và chi phí cho thuỷ lợi quá lớn cộng thêm

sự độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến đất đai Bằng việc chuyển đổi cây lúa sang trồng cây đậu tương đã góp phần tăng giá trị tổng sản phẩm lên đáng

kể, diện tích gieo trồng tăng lên gấp rưỡi, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, độ phì của đất tăng lên rõ rệt, mang lại một thành công lớn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng (Bùi Quang Toản 1970), [27]

Trung Quốc là một nước có nền nông nghiệp phát triển, do vậy đã quan tâm đến xác định hệ thống cây trồng hợp lý trên các loại đất 2 vụ lúa: 2 lúa - 1

vụ mì hoặc khoai Tây, đậu Hà Lan, rau cải Trên các loại đất 1 vụ thường sử dụng công thức 1 vụ lúa - 1 vụ cây trồng cạn ( Triệu Kỳ Quốc, 1992) [18]

ở Trung Quốc, đã xác định được luân canh này chỉ đạt 5-7 tạ/ha Sau khi tìm ra châu Mỹ, một số cây trồng của châu Mỹ được nhập vào châu Âu như khoai tây, ngô, thuốc lá cùng với sự phát triển của cây cỏ họ đậu (cỏ 3 lá) đã hình thành chu kỳ luân canh 4 năm, với hệ thống cây trồng gồm một số cây trồng xen như khoai tây, cây củ, quả, ngũ cốc mùa xuân, cỏ 3 lá, ngũ cốc mùa đông cùng với việc tăng cường các biện pháp kỹ thuật như làm đất, bón phân, đặc biệt là cây họ đậu như là một loại cây trồng cải tạo và bồi dưỡng

đất, thay thế chế độ bỏ hoá của Lu - Vec - Bic Chế độ luân canh này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển nông nghiệp của châu Âu, đã làm cho năng suất ngũ cốc tăng nên 2 lần so với chế độ luân canh cũ (năng suất ngũ cốc đạt 16-17 tạ/ha) và các sản phẩm lương thực, thực phẩm trên 1 ha canh tác tăng gấp 4 lần Chế độ luân canh mới này đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi

và đêm nhiều thắng lợi ở Anh, Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp và tràn sang các nước tây

Âu (Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc, 1987) [4]; (Bùi Huy Đáp, 1994) [7]

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn ( 1960 - 1972) xác định hệ thống luân canh, tăng vụ trong chu kỳ 1 năm làm hướng chiến

Trang 15

canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ một năm 2 vụ ngũ cốc (2 vụ lúa mì hoặc 1 vụ lúa mì) đưa thêm 1 vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu: khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai, ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người dân” (Hoàng Văn Đức, 1982) [9]

ở Inđônêxia đã nghiên cứu mỗi quan hệ giữa khí hậu ở các vùng sinh thái khác nhau và hệ thống canh tác cho thấy như sau:

- Tại tỉnh Bogo có mùa mưa liên tục, một khoảng đứt quãng ngắn giữa các tháng 6 và tháng 8, lúa thu hoạch quanh năm, đỉnh cao thu hoạch là tháng

5 và tháng 6 trong mùa mưa, lạc thu hoạch quanh năm có một đỉnh nhỏ ở tháng 6

- Tại Bunuma có mùa khô ngắn, mùa mưa dài Hai đỉnh thu hoạch lúa (khoảng tháng 9, tháng 10) chứng tỏ đa số nông dân trồng 2 vụ lúa trên 1 diện tích Ngô thu hoạch vào đỉnh mùa mưa (tháng 5), lạc thu hoạch quanh năm

- Tại Sragien có một mùa khô 4 tháng và mùa mưa 5 đến 6 tháng Đỉnh thu hoạch lúa không rõ rệt Nông dân thường trồng 2 vụ lúa Vụ thứ nhất gieo cạn vào cuối mùa khô để lợi dụng mưa tháng 11 - 12 trên đất trồng màu, lúa cạn thu tháng 2, liền tay gieo vụ thứ 2, vụ thứ 2 có thể thất thu do mưa, nông dân đã chuyển sang màu khác (tháng 11, tháng 12) Ngô gieo vào cuối mùa khô thu hoạch tháng 12 - 1 năm sau, lạc thu hoạch tháng 5 - 6 Mô hình tiêu biểu của vùng này cùng một lúc trồng lúa cạn, ngô, sắn Lúa cạn thu hoạch tháng 1 - 2, ngô thu hoạch sớm hơn một chút, sắn thu hoạch tháng 7

ở Đài Loan, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng việc bố trí hệ thống cây trồng hợp lý, người ta đã nghiên cứu giống cây hoa màu chịu bóng để trồng xen với cây mía (cây công nghiệp chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan)

và giống cây hoa màu chịu hạn trong mùa khô để đưa vào sau khi thu hoạch lúa mùa

Giai đoạn của nông nghiệp gắn liền với công nghiệp, cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá… Đã tạo nhiều nông sản hàng hoá và cũng xuất hiện những mặt trái

Trang 16

của nền nông nghiệp theo hướng trí tuệ, con người sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, vừa đạt năng suất cao vừa bảo vệ được môi trường (Cao Liêm, Trần

Đức Viên, 1991) [14]

ở những khu vực đất bằng, nông dân châu á đã sử dụng nhiều hệ canh tác gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai lang, ngô đậu ) Nói chung hệ thống cây trồng luân canh giữa chế độ cây trồng nước và chế độ cây trồng cạn, giữa cây lương thực và cây họ đậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập và kết luận có hiệu quả

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền là cơ sở tất yếu của nền Nông nghiệp bền vững cho mọi quốc gia Cũng như nhiều nước

đang phát triển trên thế giới Sản xuất nông nghiệp ở Việt nam cũng đang phải

đối đầu với tình trạng thiếu đất canh tác do sức ép về sự gia tăng dân số, việc khai thác quá mức đối với tài nguyên đất đai, đặc biệt ở vùng đồi núi đã làm

đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thoái hoá Do đó cần thiết là phải nhìn nhận đúng mức những hậu quả của việc sử dụng đất và vấn đề môi trường sẽ xảy ra để có biện pháp hạn chế nhằm giảm nhẹ hậu quả của chúng đối với tài nguyên đất đai Sử dụng đất một cách hợp lý đang trở thành mấu chốt để quản

lý các nguồn tài nguyên đất đai cho sản xuất nông lâm nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi nhanh chóng của xã hội đồng thời cũng duy trì hay cải thiện

được môi trường và bảo tồn tài nguyên tự nhiên (Trần An Phong, 1995) [17] Trung tâm tài nguyên đất và môi trường ( 2002) [20]

Mở rộng diện tích cây vụ đông ở miền Bắc đã đưa vào sản xuất nhiều giống cây trồng mới có năng suất cao, các giống lúa vụ xuân, vụ mùa ngắn ngày, giải phóng đất vào tháng 9 để đưa thêm 1 vụ cây trồng cạn vụ đông vào chân đất vàn chủ động nước Đã làm tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất và tăng sản lượng lương thực đáng kể Đây là con đường đúng đắn nhất trong chiến lược sử dụng bảo vệ và bồi dưỡng đất (Nguyễn Vi, 1992) [30]

Trang 17

Việc tăng vụ trên các chân đất hiện tại gieo trồng 1-2 vụ hoặc 3 vụ Mở rộng diện tích vụ đông với các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, đã góp phần giải quyết việc làm, sử dụng lao động dư thừa trong nông nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai Cây đậu tương là cây vừa có giá trị kinh

tế vừa có tác dụng bồi dưỡng đất tốt nhất trong các loại cây trồng vụ đông ở vùng đồng bằng Bắc bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 - 4 vụ/năm, đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt vùng sinh thái ven đê, tưới tiêu chủ

động đã có nhiều điển hình về luân canh, bố trí cây trồng trong hệ thống cây trồng Việc bố trí lại và đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: cây thực phẩm cao cấp đạt giá trị bình quân/ha từ 30 triệu đồng đến 35 triệu

đồng/năm

ở huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình nơi khởi phát phong trào “cánh

đồng 50 triệu” đã đưa các giống lúa, giống màu năng suất cao, chất lượng tốt, đưa khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng và đa dạng hoá cây trồng trên mỗi

ha đất canh tác cho thu nhập năm 2002 đạt trên 57 triệu đồng/ha/năm Trong

đó cơ cấu thu từ lúa chiếm từ 25 - 28 triệu đồng, đã đưa hệ số quay vòng đất

1- Một vụ lúa/năm (1 vụ lúa mùa, bỏ hoá vụ chiêm)

2- Hai vụ lúa/năm (lúa chiêm xuân – lúa mùa)

3- Ba vụ lúa/năm ( 2 lúa – 1 màu, lúa chiêm xuân – lúa mùa – cây vụ

đông)

Trang 18

Gần đây xuất hiện một số công thức luân canh 4 vụ/năm: lúa xuân - lúa

hè thu - lúa mùa - màu vụ đông và công thức lúa - cá, cây ăn quả…tuy nhiên

công thức này diện tích không đáng kể, (Nguyễn DuyTính, 1995) [26]

Những năm đầu của thập kỷ 60, Đào Thế Tuấn cùng các nhà nghiên cứu khoa học của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở vận dụng những căn cứ khoa học xác định cơ cấu cây trồng hợp lý và theo yêu cầu thực

tế sản xuất đòi hỏi Đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống cây trồng của Châu thổ sông Hồng, và đã đưa ra nhận định về những yêu cầu cần

đạt được của một hệ thống cây trồng như sau:

- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và tránh được tác hại của thiên tai

- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện đất đai, bảo vệ và bồi dưỡng độ màu

mỡ của đất

- Lợi dụng tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng (khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, ngắn ngày, thích ứng rộng, tính chống chịu bất lợi và điều kiện ngoại cảnh)

- Tránh được tác hại của sâu bệnh, cỏ dại với việc sử dụng ít nhất các biện pháp hoá học

- Đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, có hiệu quả kinh tế

- Đảm bảo hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên (Đào Thế Tuấn, 1978) [22]

Từ những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra một số cơ cấu cây trồng cụ thể cho vùng đồng bằng sông Hồng như sau:

- Trên đất 2 vụ lúa chủ động tưới nước

+ Lúa mùa - màu vụ đông - lúa xuân (màu vụ đông gồm: khoai tây, khoai lang, ngô)

+ Lúa mùa - rau vụ đông - lúa xuân (rau vụ đông gồm: cà chua,

su hào, bắp cải)

Trang 19

Theo Bùi Huy Đáp trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu về vùng núi phía Bắc đã đưa ra chế độ canh tác thích hợp ở một số loại đất nông nghiệp miền núi Theo tác giả ở các ruộng trong thung lũng và ruộng bậc thang thuộc vùng núi thấp, hệ thống cây trồng lúa mùa - lúa xuân ở những vùng không có nước trong vụ đông xuân, thì hệ thống cây trồng là lúa mùa - khoai tây (hoặc đậu

đỗ, cây phân xanh), ( Bùi Huy Đáp, 1983) [6]

Vũ Tuyên Hoàng nghiên cứu sản xuất lương thực ở Trung du và Miền núi cho rằng: các loại cây lương thực cần được sắp xếp theo các hệ thống cây trồng hợp lý, trên cơ sở thâm canh, luân canh, tăng vụ Trong hệ thống cây trồng, cần xác định cây chủ lực (có thể là lúa, ngô hoặc cây trồng khác tuỳ

điều kiện của nơi sản xuất) Tác giả cũng cho rằng: “ vấn đề lớn nhất hiện nay

là chọn lựa những cây lương thực thích hợp và cho năng suất cao, đáp ứng

được nhu cầu của từng dân tộc” (Vũ Tuyên Hoàng, 1987) [11]

Trang 20

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Điều tra đánh giá những thuận lợi và hạn chế của điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng nghiên cứu đối với hệ thống canh tác

3.1.2 Hiện trạng hệ thống canh tác trên đất lúa của huyện Điện Biên

3.1.2.1 Phân chia các đơn vị đất theo địa hình trên đất lúa

- Các loại địa hình (đất cao, vàn cao, vàn, vàn thấp)

- Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tưới tiêu trên các loại

+ Điều tra nông thôn theo mẫu phiếu điều tra về các chỉ tiêu kinh tế xã hội và hiệu quả kinh tế của các hệ thống canh tác trên đất lúa

Bước 2: Phân tích thông tin theo nhóm người hiểu biết KIP về các khía cạnh:

phân tích thế mạnh, yếu, những triển vọng và rủi ro SWOT Phân tích nguyên nhân dẫn đến tồn tại theo WEB Tìm giải pháp ưu tiên trong nghiên cứu theo phương pháp so sánh cặp đôi

Bước 3: Điều tra hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác trên đất lúa

Trang 21

+ Điều tra hiệu quả kinh tế của một số hộ áp dụng biện pháp canh tác tiên tiến đại diện cho từng loại đất: Đất 2 vụ lúa, đất 1 vụ lúa ở mỗi chân đất

điều tra so sánh công thức luân canh được thực hiện về các chỉ tiêu: Giá trị, sản lượng, chi phí vật chất, giá trị gia tăng và thu nhập một công lao động

3.2.2 Phương pháp phân tích hệ sinh thái nông nghiệp

Phương pháp này cho phép phân tích toàn diện hệ sinh thái nông nghiệp

được thực hiện qua 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Xác định các hệ phụ của hệ sinh thái nông nghiệp và các thành phần

của chúng (các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, chăn nuôi, chế biến …)

Bước 2: Xác định các mặt lợi thế và hạn chế về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã

hội… trong quản lý hệ

Bước 3: Nghiên cứu giải pháp giải quyết các hạn chế nhằm nâng cao năng

suất và tính bền vững của hệ

3.2.3 Nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng xây dựng mô hình

3.2.3.1 Nghiên cứu thực nghiệm trên đất 2 vụ

+ Xây dựng mô hình thâm canh lúa nước, tiến hành ở 7 bản, với tổng diện tích triển khai thực hiện là 80 ha (20 ha/vụ, trong đó lúa lai 10 ha, lúa thuần 10 ha); Dùng các giống lúa Tạp giao 1, KV10, IR64, CR203

Phương pháp điều tra phát hiện một số đối tượng sâu, bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ theo hướng dẫn thực hiện chương trình IPM

+ Xây dựng mô hình trình diễn lúa lai Bioseed 6201 do ấn Độ sản xuất

Trang 22

3.2.3.2 Nghiên cứu thực nghiệm trên đất 1 vụ

+ Xây dựng mô hình thâm canh lạc + đậu tương trên đất 1 vụ Diện tích triển khai 30 ha tại 5 bản với 214 hộ tham gia Trong đó diện tích lạc: 10 ha,

- Xử lý số liệu bằng chương trình Excel trên máy vi tính

- Tính hiệu quả kinh tế của từng loại cây trồng và hệ thống cây trồng

- Tính hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi

- Hiệu quả đồng vốn = Lợi nhuận/ Tổng chi

Trang 24

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Điện Biên

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Vị trí địa lý của huyện Điện Biên được thể hiện trên sơ đồ 3.1 Điện Biên là một huyện phía Tây Nam của tỉnh Điện Biên, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Điện Biên Phủ 2 km Có toạ độ địa lý nằm trong khoảng 21o12’30’’

đến 21o21’05’’ độ vĩ Bắc và 102010’ đến 103o00’02’’ độ kinh đông

Phía Bắc giáp với huyện Mường Lay và Tuần Giáo

Phía Nam giáp với nước CHDCND Lào và tỉnh Sơn La

Phía Đông giáp với huyện Điện Biên Đông

Phía Tây Nam giáp với Lào

- Vùng đồi núi: địa hình phức tạp bị chia cắt mạnh, không thuận tiện cho sự phát triển, phân bố ở các xã có địa hình cao, dốc bao quanh cánh đồng mường thanh, chủ yếu được sử dụng cho phát triển nông nghiệp

*Thảm thực vật:

Do đất đai có địa hình đa dạng và phức tạp kết hợp với những thay đổi của tiểu vùng khí hậu đã tạo ra lớp thảm thực vật khá phong phú và đa dạng ở huyện Điện Biên với nhiều loại cây trồng và thực vật tự nhiên phân bố theo hai vùng lớn

Trang 25

- Vùng đồng bằng với nhiều loại cây trồng lương thực: lúa, ngô, khoai, sắn, cây rau, đậu các loại và cây công nghiệp lâu năm như cà phê nằm ở khu vực cánh đồng và xen kẽ các khu dân cư của các nông hộ ở đây còn trồng nhiều loại cây ăn quả khác nhau kiểu vườn tạp

- Vùng đồi núi: vùng này đất đai chiếm hơn 84% diện tích và phân bố rải rác ở hầu hết các xã trong huyện, chủ yếu trồng các cây lâm nghiệp như: thông, bạch đàn, tre, lứa, keo tai tượng xen kẽ với những diện tích bảo vệ rừng tự nhiên và rừng tái sinh Diện tích nương rẫy được trồng lúa nương, ngô, sắn, đậu đỗ và một số cây ăn quả đặc trưng của vùng đồi: như mít, xoài, nhãn, rứa, chuối trong những khu dân cư ven đồi hay chân đồi

Nhìn chung thảm thực vật và cây trồng của vùng Điện Biên rất phong phú với nhiều chủng loại khác nhau Đây sẽ là cơ sở và tiềm năng cho sự phát triển

và đa dạng hoá các cây trồng trong sản xuất nông, lâm nghiệp

* Nguồn nước và thuỷ lợi:

Huyện Điện Biên có hai con sông chính là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa hợp lưu tại Pá Nậm (cuối phía nam huyện) đổ sang Lào hợp lưu với sông Nậm u

- Hệ thống sông Nậm Rốm

Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ dãy núi giữa Nà Tấu và Mường Đăng qua Nà Nhạn hợp lưu với Nậm Phăng qua lòng chảo theo hướng Bắc- Nam và hợp lưu với 28 nhánh suối khác Diện tích của khu vực khoảng 500 km2, lưu lượng bình quân năm 8,74m3/s, mùa lũ bình quân 14,5m3/s, mùa khô bình quân 3,1m3/s Đây là con sông có tiềm năng lớn và khai thác thuận lợi, phần thượng lưu sông chảy qua địa hình đồi núi, nước chảy xiết, nhiều thác gềnh Phần trung lưu sông chảy qua cánh đồng Mường Thanh có địa hình tương đối bằng phẳng nên nước chảy tương đối hiền hoà hơn Hạ lưu sông do địa hình đồi núi thắt hẹp lại, nước chảy xiết, nên có nhiều thác gềnh

- Hệ thống sông Nậm Núa

Trang 26

Sông Nậm Núa có hai nhánh chính là Nậm Núa chảy từ Mường Nhà và Nậm Ngam chảy từ Pú Nhi xuống hợp lưu tại Na Sang và chảy từ Pá Nậm hợp với sông Nậm Rốm Đây là hệ thống sông có sự phân bố phức tạp chia cắt nhiều dạng địa hình, chảy theo hướng Đông- Nam, Tây - Nam Sông Nậm Núa chảy ở cao trình thấp, hiện nay còn chưa được khai thác sử dụng cho phát triển sản xuất

Sông Nậm Rốm chảy qua cánh đồng Mường Thanh rộng lớn Để phát huy thế mạnh của vùng, nhà nước đã đầu tư xây dựng thuỷ lợi với công trình Đại thuỷ nông Nậm Rốm ( 1960- 1968), công trình hồ chứa nước Pa Khoang xã Mường Phăng ( 1970- 1980) rộng 600 ha, cung cấp nước tưới cho gần 3000 ha ruộng lúa hai vụ

Ngoài ra Điện Biên có các hệ thống hồ: Hồ Hồng Sạt, Hồ Pe Luông, Hồ Hồng Khếnh các công trình thuỷ lợi nhỏ bằng phai đập ngăn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho nhân dân

Tóm lại: Nguồn nước và thuỷ lợi huyện Điện Biên khá phong phú, có khả năng đảm bảo cung cấp nước tưới cho cánh đồng Mường Thanh Tuy nhiên ở những vùng đất có địa hình cao, dốc canh tác chủ yếu là nhờ vào nước trời, tình trạng thiếu ẩm thường xuyên diễn ra về mùa khô Khi mưa với cường độ lớn thường gây lũ ống, mức độ tàn phá nặng nề cuốn trôi các công trình thuỷ lợi nhỏ và làm mất diện tích đất

4.1.1.1 Điều kiện khí hậu

Do ảnh hưởng của vị trí địa lý và địa hình, khí hậu của huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa miền Bắc Việt Nam Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng

10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nét đặc trưng của điều kiện thời tiết khí hậu ở đây là nhiệt đới và ẩm độ cao, lượng mưa khá lớn, lượng bức xạ mặt trời dồi dào rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng Tuy nhiên do tính chất phức tạp của địa hình nên diễn biến các yếu tố khí hậu

Trang 27

trong năm khá phức tạp, biên độ biến động của mốt số yếu tố (nhiệt độ, lượng mưa ) gây ảnh hưởng không nhỏ tới thời vụ gieo trồng và sinh trưởng phát triển của cây trồng ở một số giai đoạn nhất định Do đó dẫn đến năng suất, sản lượng cây trồng không ổn định, thiên tai luôn đe doạ đến sản xuất nông nghiệp như: mưa lũ, sói mòn, hạn hán, mưa đá cụ thể diễn biến một số chỉ tiêu khí hậu của Điện Biên được thể hiện qua bảng 4.1 và biểu đồ 1

Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu thời tiết của Điện Biên

( Số liệu giá trị trung bình 10 năm 1993 - 2003) Nhiệt độ

(0c) ẩm độ (A0)

Lượng mưa (mm) Tháng TB

Lượng bốc hơi nước (mm)

Số giờ nắng(h)

Biên

độ ngày

đêm (0c)

Trang 28

Nhiệt độ không khí trung bình năm ở huyện Điện Biên đều lớn hơn

210C, tổng nhiệt trung bình năm dao động từ 7500 đến 8200 0C, tính biến đổi tuần hoàn theo chu kỳ ngày của yếu tố nhiệt độ ở Điện Biên thấp vào sáng sớm, tăng dần vào quá tr−a và sau đó giảm dần Biên độ ngày đêm từ 12 đến

14 0C vào tháng cuối đông, đầu mùa hè Trị số biên độ lớn nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 7 Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành và vận chuyển các chất dinh d−ỡng vào củ, hạt cây trồng vụ xuân cũng nh− vụ lúa chiêm xuân và vụ lúa mùa Một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là điều kiện đảm bảo nhiệt l−ợng cho cây trồng, đặc tr−ng cho điều kiện này là tổng nhiệt độ

Về mùa hè nhiệt độ khá cao, tháng 6 là tháng trung tâm của mùa nóng

Trang 29

nhiệt độ trung bình 26 0C Đặc trưng nhiệt độ cao nhất trung bình đã phản ánh chế độ bức xạ nhiệt của mặt trời có hai cực đại trong năm, cực đại lớn nhất vào tháng 5, cực đại sau thấp hơn vào tháng 7

Về mùa đông nhiệt độ hạ thấp vào tháng 1 là tháng lạnh nhất của mùa

đông Nhiệt độ tháng trung bình tháng 1, 2 và tháng 12 ở Điện Biên đều <150C

do ảnh hưởng của những đợt gió mùa Đông Bắc, rét đậm kéo dài 6 đến 8 ngày nên nhiệt độ hạ thấp đột ngột 3 đến 5 0C, ẩm độ không khí thấp Điều kiện bất lợi này rất ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng và gia súc

Nhiệt độ trung bình các tháng 10, 11 và trung tuần tháng 12 đều cao hơn

15 0C, rất thuận lợi cho cây trồng vụ đông sinh trưởng, phát triển và nếu đảm bảo

được nhu cầu nước cho cây trồng thì triển vọng tăng vụ là rất rộng rãi

Như vậy vụ mùa khả năng nhiệt lượng dồi dào và tương đối ổn định hơn

vụ xuân là một thuận lợi đối với sản xuất Đó là nguyên nhân để thời vụ ít bị sai lệnh, đồng thời phẩm chất nông sản đều cao hơn vụ đông xuân

* Về chế độ mưa và ẩm độ không khí:

+ Chế độ mưa: mưa là một trong những yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp

đến sản xuất nông nghiệp Điện Biên có tổng lượng mưa dao động từ 1500 đến

1700 mm, nhưng phân bố không đều, mưa tập trung vào mùa hè Lượng mưa 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 85 đến 90% tổng lượng mưa trong cả năm, tháng có trị số lượng mưa cao nhất trong mùa là tháng 6,7,8 chiếm 58,5% tổng lượng mưa của cả năm Lượng mưa từ tháng 11 đến tháng 4 rất thấp, chiếm 14,7% lượng mưa của cả năm Đây là thời vụ khô hạn có ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng phát triển của cây trồng cạn và các loại cây trồng trên vùng đất không chủ động tưới

+ Độ ẩm không khí: dao động phổ biến từ 84 đến 85%, mùa mưa có độ ẩm tương đối đạt trị số cao 88% trong các tháng 6,7,8, mùa khô ẩm độ không khí trung bình 80 đến 82%, thấp nhất vào tháng 12 và tháng 3, tháng 4 năm sau (58

đến 60%), tháng 3 là tháng khô nhất trong năm

Trang 30

Lượng mưa phân bố không đều và ẩm lượng không khí thấp trong mùa đông

sẽ gây trở ngại cho sự phát triển cây trồng vụ đông do đó cần phải tưới ẩm trong các tháng 10,11,12

* Lượng bốc hơi:

Lượng bốc hơi Phân bố tương đối phức tạp, đáng chú ý là thời kỳ khô hanh tháng 2, 3, 4 lượng bốc thoát có giá trị lớn nhất Trị số trung bình vào khoảng 2 đến 3 mm Trong khi lượng mưa các tháng đó rất ít làm cho đất bị khô hạn, độ ẩm không khí thấp gây ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nhất là cây trồng ở vùng đất khó khăn về nước tưới Vì vậy vấn đề xác

định và bố trí cây trồng vụ đông và vụ xuân là phải chú ý đến độ ẩm đất

đông Bắc là có hiện tượng giảm nhiệt độ đột ngột, chênh lệch trước và sau gió

Trang 31

mùa vào khoảng 4-5oc, có khi trên 70c, tốc độ gió mạnh lên phổ biến trên 10m/giây, rét đậm khéo dài 6-7 ngày liên tục trên 1 đợt rét, gây ảnh hưởng

đến cây trồng vật nuôi Thời tiết trở lạnh 3 tháng chính đông (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) Thỉnh thoảng có mưa nhỏ, nhiệt độ giảm thấp kết hợp với qui luật giảm nhiệt độ cao tăng Những tháng đầu của cuối đông, gió mùa

Đông Bắc tràn về gây mưa rào

* Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt có ảnh đến thời tiết cây trồng + Mưa phùn: Điện Biên là vùng ít mưa phùn do các khối không khí lớn mùa đông di chuyển đến khu vực này đã bị biến tính mạnh mẽ, khô hơn Hàng năm có khoảng 13 - 16 ngày mưa phùn, tập trung chủ yếu từ các tháng 10 đến tháng 1 năm sau Do vậy cây trồng trong mùa đông cần phải tưới ẩm

+ Sương muối: thường xảy ra từng đợt từ 1-2 ngày, có thể kéo dài 3-4 ngày Sương muối thường xuất hiện vào hạ tuần tháng 11 đầu tháng 12, kết thúc vào tháng 1, trung bình có 0,4 ngày có sương muối trong các tháng mùa

đông Hầu như năm nào Điện Biên cũng xảy ra sương muối, tần suất xuất hiện khá cao từ 80 đến 90% gây nhiều tác hại cho cây trồng vụ đông

+ Sương mù: hàng năm trung bình có 80 - 110 ngày có sương mù chủ yếu là sương bức xạ xảy ra trong các tháng thu đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cực đại vào tháng 12 hoặc tháng 1 (có 10- 19 ngày/tháng), ít nhất là tháng 5, tháng 6 (có nhỏ hơn 3,5 ngày/tháng) Sương mù xuất hiện vào ban

đêm kéo dài từ 7 - 8 giờ sáng khi mặt trời xuất hiện, cá biệt đến 10 giờ sáng và

1 giờ trưa Đó là đặc điểm bức xạ toả nhiệt của mặt đất vào ban đêm Ban ngày trời quang mây có nắng Đặc điểm này rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển, tích luỹ dinh dưỡng vào củ, hạt

+ Dông và mưa đá: thường gặp trong tháng cuối đông và đầu tháng mùa

hè tập trung vào tháng 4,5 Tháng 4 là tháng có mưa dông kèm theo có mưa đá lớn nhất Đầu mùa (tháng 3 tháng 4) dông xuất hiện vào nửa đêm, buổi tối và buổi sáng vào các tháng 6,7,8 có xu thế tăng dần vào buổi chiều Hàng năm có

Trang 32

khoảng 70 ngày có mưa dông Mưa dông đầu mùa cung cấp nước và cung cấp một nguồn đạm khá lớn cho cây trồng, nhất là cây trồng cạn vụ xuân Mưa dông tạo cho thảm thực vật tăng sức sống có kèm theo gió lốc, mưa đá gây thiệt hại cho sản xuất làm dập nát lúa đang có đòng, chuẩn bị trỗ và hoa màu

Nhìn chung điều kiện khí hậu của Điện Biên có thể đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng phát triển của cây trồng nhiệt đới và một số loại rau màu Với năng lượng bức xạ dồi dào, biên độ ngày đêm cho phép các loại cây trồng sinh trưởng phát triển đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao Qua phân tích các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa của huyện Điện Biên, chúng tôi thấy có thể trồng thêm được một vụ trồng cạn trong vụ đông xuân Tuy nhiên việc mở rộng diện tích bằng tăng vụ nhất là cây là cây trồng trên đất 1 vụ lúa càng phải chú ý đến việc tưới nước cho cây trồng trong các tháng khô hanh

4.1.1.2 Điều kiện đất đai

Theo số liệu thống kê diện tích đất đai của phòng Nông nghiệp - Địa chính

và phòng Thống kê huyện Điện Biên hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2003

được thể hiện ở (bảng 4.2) tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 164.898,50

ha Đất Nông nghiệp có diện tích đất là 13.904,50 ha chiếm 8,43% tổng diện tích

- Đất chưa sử dụng có diện tích 10.437,31 ha chiếm 63,20% tổng diện tích

đất tự nhiên, chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng, đây chính là tiềm năng để

mở rộng diện tích đất nông - lâm nghiệp của huyện trong tương lai

Trang 33

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Điện Biên năm 2003

4.Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 26 206,48 0,13

( Nguồn: Phòng Nông nghiệp - Địa chính huiyện Điện Biên 2003 )

Theo số liệu thống kê diện tích đất đai của phòng Nông nghiệp - Địa chính và phòng Thống kê huyện Điện Biên, tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện năm 2003 được thể hiện ở bảng 4.3 cho chúng tôi thấy cơ cấu đất trồng cây hàng năm chiếm 86,7%, đất trồng cây lâu năm chiếm 4,7%, đất vườn tạp chiếm 3,4% diện tích đất nông nghiệp Điều này phản ánh hợp lý đối với một huyện miền núi đất dốc, có lợi thế về tiềm năng phát triển cây lâu năm và cây ăn quả Chưa có sự đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp

Qua bảng 4.3 đất ruộng chiếm 34,0%, đất lúa nương chiếm 23,7% cho

ta xác định được cây lúa là cây trồng chính của huyện trong ngành trồng trọt

Đất ruộng 1 vụ chỉ sử dụng gieo trồng vụ lúa mùa, vụ đông xuân bỏ hoá chiếm 14,4%, có tỷ lệ cao trong tổng số đất nông nghiệp Thực trạng trên cho

ta thấy việc nghiên cứu hệ thống cây trồng cho hiệu quả cao trên đất lúa là rất

cần thiết

Trang 34

Bảng 4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Điện Biên

TT Loại đất Diện tích(ha) Tỷ lệ(%)

Diện tích đất nông nghiệp 15.179,4 100,0

IV.Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 719,0 5,2

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp - Địa chính huyện Điện Biên năm 2003)

Căn cứ vào đặc điểm địa hình và độ cao địa lý, có thể phân ra hai tiểu vùng sản xuất nông nghiệp

- Tiểu vùng ngoài gồm 8 xã: Mường Pồn, Mường Phăng, Nà Tấu, Núa Ngam, Pa Thơm, Mường Nhà, Mường Lói, Na ư Có độ cao bình quân 800 -

1000 m so với mực nước biển, tạo thành vành đai bao quanh khu vực lòng chảo Điện Biên Độ dốc 20 - 300c, có diện tích đất ruộng 1099,7 ha trong đó

đất 2 vụ là 253 ha, đất 1 vụ là 846,7 ha có các thung lũng nhỏ hẹp trồng lúa và

là nơi định cư của các đồng bào dân tộc như thung lũng Mường Phăng, Mường Pồn, Pa Thơm

- Tiểu vùng lòng chảo Điện Biên gồm 10 xã và 1 thị Trấn: diện tích đất

tự nhiên 34.199 ha Cánh đồng Mường Thanh có chiều dài từ Bắc đến Nam 25

km, chiều rộng từ Đông sang Tây 5 km (nơi rộng nhất 8 km) Độ cao bình

Trang 35

quân 450 - 500m, độ dốc 3 - 50 Địa hình thoải dần từ Bắc xuống Nam và hai bên chân núi xuống đến bờ sông Nậm Rốm Sông Nậm Rốm chảy dọc giữa cánh đồng Mường Thanh theo hướng Bắc Nam Phía Đông gồm các xã: Thanh Xương, Thanh An, Noong Hẹt, Sam Mứm và thị trấn Điện Biên Phía Tây gồm các xã: Thanh Nưa, Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Chăn, Thanh Yên, Noọng Luống

Cánh đồng Mường Thanh có hệ thống tưới Đại Thuỷ nông Nậm Rốm với 2 kênh chính chảy qua các xã tạo thành vòng ôm kênh, với diện tích tưới

2500 ha ruộng 2 vụ và cây công nghiệp chủ yếu là mía và cà phê

Ngoài ra có hệ thống chùm hồ: hồ Hồng Sạt, hồ Pe Luông và các hệ thống hồ nhỏ phục vụ cho khu vực ngoài vòng ôm kênh Đại thuỷ nông Nậm Rốm, sẽ được Nhà nước đầu tư xây dựng trong những năm tới

Diện tích đất ruộng 2 vụ là 2.731 ha đất ruộng 1 vụ là 1.337 ha, phân

bố hầu hết ở các xã ngoài vòng ôm kênh Đại thuỷ nông Số diện tích này sử dụng nguồn nước từ các khe suối nhỏ đổ ra sông Nậm Rốm, thường khô hạn vào mùa khô và mùa mưa hay có lũ lớn

Điện Biên có vùng lòng chảo Mường Thanh thuận lợi về đất đai, địa hình, khí hậu và điều kiện thuỷ lợi tưới tiêu chủ động để phát triển lúa nước 2 vụ/năm Do vậy Điện Biên là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm của tỉnh Điện Biên

Trang 36

* Tình hình sản xuất một số loại cây trồng của huyện Điện Biên

Bảng 4.4 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của huyện Điện Biên (2000 - 2002)

Diện tích(ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) Cây trồng 2000 2001 2002 2000 2001 2002 2000 2001 2002 1.Lúa chiêm xuân 2886 2984 3208 53,0 55,4 58,0 152958 165522 186064

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp - Địa chính huyện Điện Biên năm 2003)

Qua bảng 3.4 chúng ta thấy cây trồng chính của huyện Điện Biên là các loại cây lương thực như: lúa nước, lúa nương, ngô, sắn

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Dân số và lao động

Huyện Điện Biên gồm 18 xã và 1 thị trấn Theo số liệu thống kê đến 31 tháng 12 năm 2003 dân số của huyện là 108.865 người với 20.850 hộ, tổng số lao động trong độ tuổi là 51.248 lao động chiếm 46,9% dân số

Trong đó lao động nông nghiệp là 482.000 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,64% Mật độ dân số bình quân 66 người/km2 Dân số thành thị 9.371 người, dân số nông thôn có 99.730 người chiếm 91,4% dân số huyện Tuy nhiên trình độ lao động còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua

đào tạo

Trang 37

- Về thành phần dân tộc: hiện nay trên địa bàn huyện có 22 dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Thái 53.214 người chiếm 48,8% dân số, dân tộc kinh 33.785 người chiếm 30,97%, dân tộc H’Mông 7.894 người chiếm 7,24%, dân tộc Khơ Mú 4.895 người chiếm 4,48%, các dân tộc khác chiếm 8,58% 4.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Điện Biên

Nền kinh tế của huyện Điện Biên chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp là chính với các cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng 75,6%, chăn nuôi 10,4% và ngành nghề khác 14% tổng giá trị sản xuất của các ngành

*Về sản xuất nông - lâm nghiệp

- Ngành trồng trọt: Điện Biên là vùng sản xuất lương thực lớn nhất của tỉnh nói riêng và khu vực miền núi Tây Bắc nói chung Đến năm 2003 tổng sản lượng qui thóc đạt 67.063,9 tấn Trong đó sản lượng thóc đạt 55.330,6 tấn, năng suất bình quân đạt 48,65 tạ/ha

Trong cây lương thực thì cây lúa là cây trồng quan trọng nhất với tổng diện tích gieo trồng là 12.138 ha, trong đó cây lúa nương là 2.550 ha

Cây ngô là cây màu quan trọng nhất sau cây lúa với tổng diện tích gieo trồng là 3.905,0 ha với năng suất bình quân 29,18 tạ/ha, tổng sản lượng ngô là 11.394,2 tấn

Cây lâu năm: cây cà phê, chè đến năm 1997 đã có 225 ha, được trồng ở các xã Noọng Luống, Thanh Xương, Thanh Nưa và đất ven sông Nậm Rốm thuộc Nông trường Điện Biên cũ Nhưng đến nay chỉ còn 108 ha do thâm canh kém và sương muối và hiệu quả không cao, nông dân phải phá đi để trồng cây khác

Cây rau, màu thực phẩm: được sản xuất ở các vùng đất phù sa ven sông suối, chủ yếu là khu vực ven sông Nậm Rốm sản xuất ra rau, màu thực phẩm cung cấp cho thành phố Điện Biên Phủ

- Ngành chăn nuôi

Trang 38

Cùng với sự phát triển của ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi cũng phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và đem lại nguồn thu nhập cho người dân trong vùng

Theo kết quả thống kê tổng đàn gia súc toàn huyện đến ngày 1/10/2003 tổng đàn Trâu là 22.421 con tăng 3% so với cùng kỳ năm 2002, tổng đàn Bò 6.092 con tăng 4,5%, tổng đàn Lợn 39.066 con tăng 4,7%, đàn Gia cầm 397.497 con tăng 7,3% Tuy vậy do khắc nghiệt của điều kiện thời tiết, do tình trạng thả dông gia súc vẫn còn do đó dịch bệnh gia súc vẫn rải rác xảy ra ở một số xã

Giống vật nuôi của huyện hiện nay chủ yếu là các giống địa phương, chăn nuôi theo tập quán truyền thống nên năng suất, chất lượng, hiệu quả còn quá thấp Chưa có sự phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp với mô hình trang trại lớn, gắn với phát triển công nghiệp chế biến thức ăn gia súc

- Thuỷ sản: Điện Biên có 938,57 ha đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản với sản lượng ước đạt 190 tấn/năm, bước đầu có hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển một số diện tích ruộng 1 vụ có hiệu quả kinh tế thấp và đảm bảo chế độ nước sang nuôi cá đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn

- Ngành Lâm nghiệp: trong những năm gần đây diện tích đất lâm nghiệp của huyện tăng nhanh do có các dự án trồng rừng phủ xanh đất trống

đồi núi trọc, đến năm 2003 diện tích rừng có là 42.711,13 ha, với độ che phủ

đạt 25,9% Trong đó rừng tự nhiên là 40.737,69 ha chiếm 95,4%, rừng trồng chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là rừng phòng hộ, diện tích rừng đặc dụng có 100,7

ha và chưa có rừng sản xuất

Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc còn rất lớn 99.022,09 ha, chiếm 60% diện tích đất tự nhiên Hiện nay đang được đầu tư các nguồn vốn (chương trình 327, chương trình 661 và vốn sự nghiệp kiểm lâm, dự án phòng

hộ Nậm Rốm, phòng hộ Nậm Núa), thực hiện khoán bảo vệ được 5.008 ha rừng cho các nhóm hộ, khoán khoanh nuôi tái sinh rừng

Trang 39

Đến nay hầu hết các xã trong huyện đã làm tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển vốn rừng Song ở một số xã vùng ngoài lòng chảo của huyện rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá để làm nương rãy, đất đai có xu hướng xói mòn mạnh

Việc khôi phục lại rừng ở sườn núi ở xung quanh thung lũng Điện Biên nói chung và đặc biệt là sườn núi phía Đông huyện đang trở thành vấn đề cấp bách để bảo vệ đất đai, nguồn nước cho sản xuất

- Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ:

Trong nhưng năm gần đây công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã có hướng phát triển trên nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu để giải quyết nhu cầu tại chỗ

Hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ có nhiều chuyển biến rõ nét Các cơ sở kinh doanh thương mại phát triển nhanh, đặc biệt là các hộ kinh doanh nhỏ Lĩnh vực du lịch hiện nay huyện cũng đang chú trọng đầu tư phát triển để thu hút khách du lịch Tổng khách du lịch năm 2003 ước đạt 2500 lượt người, trong đó du lịch nước ngoài khoảng 1800 lượt người

* Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

- Giao thông: mạng lưới giao thông của vùng tuy đã được coi trọng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển các sản phẩm hàng hoá Hiện tại huyện Điện Biên có các tuyến giao thông chính sau:

+ Tuyến quốc lộ 279 chạy dọc lòng chảo Điện Biên theo hướng Bắc Nam, phía Bắc huyện Điện Biên nối với thành phố Điện Biên Phủ với huyện Tuần Giáo, Tủa Chùa và với Quốc lộ 6, phía Tây Nam thông sang nước CHDCND Lào qua cửa khẩu Tây Trang, quy mô đường cấp 4 đã được rải nhựa toàn tuyến

+ Tuyến quốc lộ 12 với huyện Điện Biên với các huyện phía Bắc tỉnh thông sang tỉnh Vân Nam Trung Quốc, quy mô đường cấp 4 nhưng mới được rải nhựa một số đoạn, việc đi lại còn khó khăn nhất vào mùa mưa

Trang 40

+ Tuyến Pom Lót nối liền với huyện Điện Biên với huyện Điện Biên

Đông và với tỉnh Sơn La qua huyện Sông Mã Đường nhiều đoạn chưa vào cấp, nền đường cấp phối, nhiều công trình cầu, cống chưa được xây dựng nên

đi lại còn khó khăn

+ Tuyến Núa Ngam - Mường Nhà - Mường Lói với huyện Điện Biên, với tỉnh Luông Phra Băng của nước CHDCND Lào qua cửa khẩu Mường Lói,

đường chưa vào cấp, hiện nay đang cải tạo và nâng cấp thành đường loại A

Đường nội huyện: hiện tại huyện đã có tuyến đường trục ven phía Đông huyện, đường ven phía Tây sông Nậm Rốm đã được rải nhựa Từ các đường trục vào trung tâm các xã và cụm dân cư nhưng nền đường mới là đường cấp phối hoặc đường đất

Nhìn chung mạng lưới giao thông của huyện phân bố không đều trên toàn khu vực là vùng có hệ thống giao thông chưa phát triển cần phải cải tạo, nâng cấp mới tạo điều kiện cho phát triển kinh tế

* Các công trình phục vụ sinh hoạt: lưới điện do nằm xa nguồn điện quốc gia, địa hình hiểm trở, việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên việc sử dụng nguồn điện quốc gia còn chưa được đồng bộ Hiện tại trong huyện mới có 13/19 xã, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia Toàn huyện phấn đấu đến

2005 cả 19/19 xã đều có điện và 80% số hộ được sử dụng điện để phục vụ đời sống sản xuất

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của huyện

* Lợi thế:

- Huyện Điện Biên có đường biên giới chung giáp Lào, có cửa khẩu Tây Trang và nằm trong vùng có vị trí thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội với các huyện trong tỉnh cũng như với nước bạn Lào

- Tài nguyên đất phong phú cả về số lượng và chủng loại, đất có tầng dầy khá, địa hình đa dạng tạo nên nhiều tiểu vùng khí hậu đăc trưng Đây là

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn D−ơng An, (2003), "Quỳnh Hải: nơi khởi phát phong trào cánh đồng 50 triệu”, Tạp chí Tài chính, số 10 (468), Tr 59-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Hải: nơi khởi phát phong trào cánh đồng 50 triệu
Tác giả: Nguyễn D−ơng An
Năm: 2003
2. Lê Thái Bạt, (1991) Một số đặc điểm đất rừng Tây Bắc và hướng sử dụng trong nông nghiệp, Luận án Phó tiến sĩ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm đất rừng Tây Bắc và h−ớng sử dụng trong nông nghiệp
3. Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt (1993), "Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trường", Tạp chí Khoa học đất Việt - Nam (số 2) tr 77-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trường
Tác giả: Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt
Năm: 1993
4. Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc (1987), Canh tác học, NXB Nông nghiệp, Hà Néi.5 Bùi Huy Đáp, (1972) Xác định các vụ sản xuất, thực hiện cuộc biến đổi cách mạng trong cơ cấu cây trồng, Tạp chí KHKTNN, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác học", NXB Nông nghiệp, Hà Néi. 5 Bùi Huy Đáp, (1972) Xác định các vụ sản xuất, thực hiện cuộc biến đổi cách mạng trong cơ cấu cây trồng, "Tạp chí KHKTNN
Tác giả: Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1987
6. Bùi Huy Đáp (1983), Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1983
7. Bùi Huy Đáp (1994), "Một số kết quả nghiên cứu đầu tiên về cơ cấu cây trồng" Tạp chí KHKT Nông nghiệp. Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu đầu tiên về cơ cấu cây trồng
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Năm: 1994
8. Hoàng Văn Đức (1982), Hội thảo về nghiên cứu và phát triển hệ canh tác cho nông dân trồng lúa châu á, (tài liệu dịch) NXB Nông nghiệp. Hà Nội 9. Hoàng Văn Đức (1992), Nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác chonhân dân trồng lúa châu á , NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác cho "nhân dân trồng lúa châu á
Tác giả: Hoàng Văn Đức (1982), Hội thảo về nghiên cứu và phát triển hệ canh tác cho nông dân trồng lúa châu á, (tài liệu dịch) NXB Nông nghiệp. Hà Nội 9. Hoàng Văn Đức
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. Hà Nội 9. Hoàng Văn Đức (1992)
Năm: 1992
10. Trần Đức Hạnh và cộng sự (1997), Lý thuyết và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu Nông nghiệp việt nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu Nông nghiệp việt nam
Tác giả: Trần Đức Hạnh và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
11. Vũ Tuyên Hoàng (1987), Sản xuất l−ơng thực ở Trung du miền núi. Một số ý kiến về nông lâm kết hợp, Bộ Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất l−ơng thực ở Trung du miền núi. Một số ý kiến về nông lâm kết hợp
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng
Năm: 1987
13. Cao Liêm, Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan (1995), Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi tr−ờng. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi tr−ờng
Tác giả: Cao Liêm, Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
14. Cao Liêm, Trần Đức Viên (1996), Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi tr−ờng, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi tr−ờng
Tác giả: Cao Liêm, Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1996
15. Nguyễn Văn Luật (1990), Hệ thống Nông nghiêp, NXB Nông nghiệp, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Nông nghiêp
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1990
16. Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân (1993), "Đánh giá đất và đề xuất sử dụng đất", Báo cáo khoa học Viện qui hoạch và thiết kế Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất và đề xuất sử dụng đất
Tác giả: Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân
Năm: 1993
17. Trần An Phong (1995), Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan điểm Sinh thái và phát triển lâu bền, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở n−ớc ta theo quan điểm Sinh thái và phát triển lâu bền
Tác giả: Trần An Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
19. Vũ Văn Rung (2001), Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng trên một số loại đất chính ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, luận văn Thạc sĩ, Viện KHNN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng trên một số loại đất chính ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Tác giả: Vũ Văn Rung
Năm: 2001
20. Trung tâm tài nguyên đất và môi trường (2002), Phát triển bền vững miền núi Việt Nam, 10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững miền núi Việt Nam, 10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trung tâm tài nguyên đất và môi trường
Năm: 2002
21. Đào Thế Tuấn (1962) Bố trí cơ câú cây trồng hợp lý ở hợp tác xã, NXB Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bố trí cơ câú cây trồng hợp lý ở hợp tác xã
Nhà XB: NXB Nông thôn
22. Đào Thế Tuấn (1978), Cơ sở khoa học xác định cơ cấu cây trồng hợp lý, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học xác định cơ cấu cây trồng hợp lý
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
23. Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, (1993) Hệ thống Nông nghiệp, giáo trình cao học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
24. Phạm Chí Thành (1993), Hệ thống nông nghiệp. NXB Nông nghiệp. Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. Hà Néi
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1   Một số yếu tố khí hậu thời tiết của Điện Biên - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu thời tiết của Điện Biên (Trang 27)
Bảng 4.2   Hiện trạng sử dụng đất huyện Điện Biên năm 2003 - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Điện Biên năm 2003 (Trang 33)
Bảng 4.4  Diện tích, năng suất, sản l−ợng một số cây trồng chính của  huyện Điện Biên (2000 - 2002) - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.4 Diện tích, năng suất, sản l−ợng một số cây trồng chính của huyện Điện Biên (2000 - 2002) (Trang 36)
Bảng 4.6   Các công thức luân canh trên đất 1 vụ lúa - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.6 Các công thức luân canh trên đất 1 vụ lúa (Trang 48)
Bảng 4.7  Diễn biến năng suất cây trồng qua các năm (1998 - 2002) - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.7 Diễn biến năng suất cây trồng qua các năm (1998 - 2002) (Trang 50)
Bảng 4.9   L−ợng phân bón cho một số loại cây trồng trên đất lúa - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.9 L−ợng phân bón cho một số loại cây trồng trên đất lúa (Trang 53)
Bảng 4.10   Diện tích và các giống lúa thử nghiệm ở các bản tại xã Nà Tấu - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.10 Diện tích và các giống lúa thử nghiệm ở các bản tại xã Nà Tấu (Trang 56)
Bảng 4.12    Kết quả theo dõi thời gian sinh tr−ởng của một số giống lúa - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.12 Kết quả theo dõi thời gian sinh tr−ởng của một số giống lúa (Trang 57)
Bảng 4.11    L−ợng phân bón cho các giống lúa - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.11 L−ợng phân bón cho các giống lúa (Trang 57)
Bảng 3.13  Năng suất, sản l−ợng lúa của mô hình qua các năm (2001 - - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 3.13 Năng suất, sản l−ợng lúa của mô hình qua các năm (2001 - (Trang 59)
Bảng 4.14  Hiệu quả thâm canh năng suất (lúa tạp giao 1+ Lúa thuần) - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.14 Hiệu quả thâm canh năng suất (lúa tạp giao 1+ Lúa thuần) (Trang 59)
Bảng 4.15: Hiệu quả kinh tế của mô hình thâm canh lúa (lúa tạp - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của mô hình thâm canh lúa (lúa tạp (Trang 60)
Bảng 4.16:  Năng suất lúa lai 6201 vụ mùa 2002 - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.16 Năng suất lúa lai 6201 vụ mùa 2002 (Trang 61)
Bảng 4.18    Đặc điểm tự nhiên của Trại giống cấp I và xã Sam Mứm - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.18 Đặc điểm tự nhiên của Trại giống cấp I và xã Sam Mứm (Trang 64)
Bảng 4.19   Kết quả thử nghiệm một số giống đậu tương vụ đông tại Trại  giống cấp I - huyện Điện Biên - Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác trên đất ruộng lúa tại huyện điện biên tỉnh điện biên
Bảng 4.19 Kết quả thử nghiệm một số giống đậu tương vụ đông tại Trại giống cấp I - huyện Điện Biên (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm