1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương

107 790 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Tác giả Hán Quang Hạnh
Người hướng dẫn TS. Vũ Đình Tôn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trường đại học nông nghiệp I

- -

hán quang hạnh

Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi

ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là

trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ0 đ−ợc

cám ơn và các thông tin trích dẫn đ0 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hán Quang Hạnh

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ

lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể và

cá nhân trong và ngoài trường

Nhân dịp hoàn thành luận văn này, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc đối với TS Vũ Đình Tôn, Thầy giáo đ< trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo

tôi hết sức tận tình trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt

nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong Bộ môn Chăn

nuôi chuyên khoa, Khoa Chăn nuôi – Thuỷ sản và Khoa Sau đại học đ<

góp ý, chỉ bảo để luận văn của tôi được hoàn thành

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ và nhân dân

huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đ< giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho

tôi thực hiện đề tài của mình

Để hoàn thành luận văn này tôi còn nhận được sự động viên khích lệ

của người thân, bạn bè, đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn những

tình cảm cao quý đó!

Tác giả

Trang 4

Mục lục

1 Mở đầu i

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 3

1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Lý thuyết về hệ thống 4

2.1.2 Lý luận về hệ thống nông nghiệp 5

2.1.3 Lý luận về hệ thống chăn nuôi 11

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 29

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 35

3.1 Địa điểm nghiên cứu 35

3.2 Đối tượng nghiên cứu 35

3.3 Thời gian nghiên cứu 35

3.4 Nội dung nghiên cứu 35

3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x0 hội của vùng nghiên cứu 35

3.4.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp của vùng nghiên cứu 35

3.4.3 Phân loại các hệ thống chăn nuôi của vùng nghiên cứu 36

3.4.4 Năng suất và hiệu quả chăn nuôi trong các hệ thống chăn nuôi 36

3.4.5 Tình hình sử dụng các loại phụ phẩm và chất thải trong các hệ thống chăn nuôi 36

3.4.6 Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm 36

Trang 5

3.4.7 Vấn đề thương mại hóa sản phẩm chăn nuôi 36

3.4.8 Những khó khăn gặp phải của mỗi hệ thống chăn nuôi 36

3.5 Phương pháp nghiên cứu 36

3.5.1 Phương pháp phân vùng nghiên cứu 36

3.5.2 Phương pháp chọn mẫu để điều tra 38

3.5.3 Phương pháp xây dựng bộ câu hỏi điều tra 38

3.5.4 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 39

3.5.5 Phương pháp phân loại các hệ thống chăn nuôi 40

3.5.6 Phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế của các hệ thống chăn nuôi .41

3.5.7 Phương pháp xử lý số liệu 42

4 Kết quả và thảo luận 43

4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - x0 hội huyện Cẩm Giàng 43

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 43

4.1.2 Điều kiện kinh tế - x0 hội huyện Cẩm Giàng 46

4.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp của huyện 50

4.2.1 Sản xuất ngành trồng trọt 50

4.2.2 Sản xuất ngành chăn nuôi và thuỷ sản 51

4.2.3 Tình hình phát triển một số ngành nghề phi nông nghiệp 53

4.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - x0 hội của các x0 nghiên cứu 55

4.4 Các hệ thống chăn nuôi của vùng nghiên cứu 57

4.4.1 Các kiểu hệ thống chăn nuôi chủ yếu của vùng nghiên cứu 57

4.4.2 Đặc điểm các hệ thống chăn nuôi 58

4.5 Đặc điểm chung của các nông hộ trong các hệ thống chăn nuôi 63

4.6 Năng suất của các hệ thống chăn nuôi 65

4.6.1 Cơ cấu các giống lợn nái trong các hệ thống chăn nuôi 65

4.6.2 Năng suất chăn nuôi trong các hệ thống chăn nuôi 66

4.7 Hiệu quả chăn nuôi trong các hệ thống chăn nuôi 71

4.7.1 Hiệu quả chăn nuôi lợn nái trong các hệ thống chăn nuôi 71

4.7.2 Hiệu quả chăn nuôi lợn thịt trong các hệ thống chăn nuôi 74

4.7.3 Hiệu quả chăn nuôi gia cầm trong các hệ thống 76

4.7.4 Năng suất và hiệu quả chăn nuôi trâu bò trong các hệ thống chăn nuôi 77

4.8 So sánh hiệu quả của các hệ thống chăn nuôi 78

4.9 So sánh cơ cấu thu nhập giữa các hệ thống chăn nuôi 81

4.10 Tình hình sử dụng phụ phẩm ngành trồng trọt của các hệ thống chăn nuôi83

Trang 6

4.11 Tình hình sử dụng chất thải trong các hệ thống chăn nuôi 84

4.12 Tình hình mắc bệnh trên đàn gia súc, gia cầm 85

4.13 Những khó khăn chủ yếu của người chăn nuôi trong các hệ thống chăn nuôi .87

4.14 Vấn đề thương mại hoá sản phẩm chăn nuôi 89

5 Kết luận và đề nghị 91

5.1 Kết luận 91

5.2 Đề nghị 92

Trang 7

danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 8

Danh mục bảng

Bảng 4.2 Diễn biến số l−ợng và sản l−ợng đàn gia súc gia cầm, thuỷ sản của huyện Cẩm

Trang 9

Danh mục biểu đồ, Sơ đồ

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gia

đình ở nước ta bởi vì chăn nuôi không những tạo công ăn việc làm mà còn góp phần

làm tăng thu nhập cho người nông dân Theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm

2006, trong cơ cấu thu nhập của hộ nông dân nước ta hiện nay thì thu nhập từ chăn

nuôi chiếm khoảng 15,63% tổng GDP toàn ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp Đặc

biệt trong những năm gần đây, khi nước ta thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu

cây trồng vật nuôi thì tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi đ0 không ngừng tăng

lên, đạt khoảng 8-10%/năm trong vòng 10 năm trở lại đây, riêng năm 2005 đạt

11,6% Năm 2005, giá trị sản xuất của ngành chiếm 22,5% tổng giá trị sản xuất toàn

ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, giá trị sản xuất của ngành tăng từ 3701,0 tỷ đồng

năm 1990 lên đến 37343,6 tỷ đồng năm 2004 (Nguyễn Đăng Vang, 2006) [23]

Trong những năm tới ngành chăn nuôi vẫn tiếp tục được ưu tiên phát triển

nhằm đạt tỷ trọng 30% trong GDP nông nghiệp vào năm 2010 (Nguyễn Đăng Vang,

2006) [23] Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng sự phát triển của ngành chăn nuôi

nói riêng và của ngành nông nghiệp nói chung cần phải định hướng bền vững bởi vì

nông nghiệp bền vững không những tạo ra sự phát triển kinh tế ổn định mà còn giải

quyết được những vấn đề về x0 hội, môi trường

Đề cập tới phát triển bền vững trong chăn nuôi trước hết chúng ta cần phải có

cách nhìn, cách tiếp cận đúng đắn và phù hợp Trước đây khi nghiên cứu về chăn

nuôi người ta thường tiếp cận theo lối cục bộ, có nghĩa là tiếp cận theo từng vấn đề

cụ thể và mang tính cấp bách cần giải quyết ở quy mô đơn vị sản xuất như: vấn đề

về thức ăn gia súc, vấn đề về cải tạo con giống hay chuồng trại, bệnh tật…Mặc dù

những nghiên cứu theo lối tiếp cận này đ0 đạt được những thành tựu nhất định, đ0

phần nào đáp ứng được các đòi hỏi của thực tiễn và thúc đẩy ngành chăn nuôi từng

bước phát triển Tuy nhiên, lối tiếp cận này vẫn còn có những hạn chế nhất định bởi

vì những giải pháp được đưa ra còn mang tính chất cục bộ, tạm thời mà chưa quan

Trang 11

tâm nhiều đến sự phát triển lâu dài, bền vững, trong khi đó hoạt động sản xuất chăn

nuôi luôn gắn liền với những ngành sản xuất khác cũng như chịu ảnh hưởng rất lớn

từ những vấn đề về kinh tế – x0 hội Do vậy để phát triển chăn nuôi một cách có

hiệu quả và bền vững thì chúng ta không thể không quan tâm tới mối quan hệ của nó

với các ngành, các lĩnh vực khác có liên quan Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải

xem xét lại cách tư duy, cách tiếp cận vấn đề trong nghiên cứu phát triển chăn nuôi

Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, với sự phát triển của lý thuyết hệ

thống, các nhà khoa học nông nghiệp đ0 đề xuất ứng dụng lối tư duy hệ thống trong

nghiên cứu phát triển nông nghiệp Với nhiều điểm mới, lối tư duy này đ0 bổ sung

cho lối tư duy cục bộ trước đây và chúng đang từng bước được ứng dụng trong các

nghiên cứu về nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng Tuy nhiên, việc ứng

dụng lối tư duy hệ thống trong nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi ở nước ta còn chưa

nhiều, phương pháp chưa hoàn toàn được thống nhất Trong khi đó, sản xuất nông

nghiệp nói chung và chăn nuôi gia súc gia cầm nói riêng lại cực kỳ đa dạng và mang

tính địa phương rất cao, nhất là trong điều kiện chăn nuôi của các nông hộ ở nước ta

Sự đa dạng thể hiện ở các giống, loài vật nuôi, quy mô chăn nuôi, mức độ thâm

canh, cách thức tiêu thụ sản phẩm… tạo nên sự đa dạng về các mô hình, các hệ

thống chăn nuôi Sự đa dạng này có thể ở ngay trong quy mô đơn vị sản xuất hay

quy mô vùng do có sự khác nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế – x0 hội, về tập

quán sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật Do đó, việc nghiên cứu về các hệ thống

chăn nuôi của mỗi vùng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong phát triển chăn

nuôi nói riêng, phát triển kinh tế – x0 hội nói chung của vùng một cách nhanh chóng

và bền vững

Huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương là một huyện nằm ở trung tâm vùng Đồng

Bằng Sông Hồng (ĐBSH) với rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất trồng

trọt cũng như chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm Thực tế trong những năm qua, bên

cạnh những thành tựu to lớn mà nền nông nghiệp của huyện đ0 đạt được thì vẫn còn

bộc lộ một số hạn chế nhất định cần sớm khắc phục như: kinh tế của huyện đạt mức

tăng trưởng khá nhưng chưa bền vững, năng lực và sức cạnh tranh chưa cao, sản xuất

vẫn còn nhỏ lẻ và manh mún, năng suất cây trồng, vật nuôi chưa cao, chưa tìm được

Trang 12

đầu ra ổn định cho các mặt hàng nông sản…(Những thách thức đối với ngành nông

nghiệp Hải Dương, 2006) [7] Trong bối cảnh nước ta đ0 gia nhập WTO, cũng như

nhiều địa phương khác trong cả nước, nền nông nghiệp của huyện đang đứng trước

nhiều thời cơ phát triển và cả những thách thức Do đó, những nghiên cứu về hệ thống

chăn nuôi nhằm đánh giá đúng thực trạng các hệ thống chăn nuôi của huyện và đề ra

các giải pháp phát triển phù hợp và bền vững là thiết thực và có ý nghĩa

Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Nhận dạng và đặc điểm hoá các hệ thống chăn nuôi chủ yếu của huyện

- Xác định được năng suất và hiệu quả của các hệ thống chăn nuôi

- Thấy được những điểm mạnh cũng như những hạn chế của các hệ thống

chăn nuôi để từ đó đề ra các giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy chăn nuôi của huyện

ngày càng phát triển

1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về ý nghĩa khoa học, đề tài góp phần hoàn thiện hơn nữa phương pháp ứng

dụng lý thuyết về hệ thống trong nghiên cứu hệ thống chăn nuôi

Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài góp phần khảo sát, đánh giá thực trạng các hệ

thống chăn nuôi của huyện Cẩm Giàng, thấy được những điểm mạnh và điểm hạn chế

của hệ thống để từ đó giúp đề ra những chính sách phát triển chăn nuôi nói riêng, phát

triển kinh tế – x0 hội nói chung của huyện một cách nhanh và bền vững

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Lý thuyết về hệ thống

2.1.1.1 Khái niệm về hệ thống

Tư duy về “hệ thống” từ lâu đ0 là một bộ phận trong tư duy của nhân loại

Aristot (Hy Lạp) đ0 có cái nhìn về hệ thống từ rất xa xưa là “cái tổng thể thì lớn hơn

tổng các bộ phận của nó” Cái tổng thể ở đây chính là hệ thống với các bộ phận khác

nhau tạo thành và như vậy hệ thống không phải là con số cộng đơn thuần của các bộ

phận của nó mà nó là kết quả của sự tác động qua lại giữa các bộ phận đó theo một

cách thức nhất định Rõ ràng đây là một khái niệm rất cơ bản về hệ thống mà đến

nay vẫn còn giá trị

Trong những thập kỷ gần đây, nhất là những năm sau Thế chiến thứ 2, tư duy hệ

thống đ0 phát triển và hoàn thiện hơn rất nhiều, nó đ0 trở thành một công cụ mới và

hữu ích để tư duy về nhiều loại sự vật, sự việc khác nhau

Theo tác giả Vonberialanfy thì khái niệm về hệ thống có thể hiểu như sau: “Hệ

thống là tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau thông qua các mối quan hệ và tạo

thành một tổ chức nhất định để thực hiện một số chức năng nào đó” Khái niệm về

hệ thống giống như một cách tư duy đặc biệt về thế giới, nó giúp chúng ta có thể

khai thác và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn Đồng thời khái

niệm này còn giúp chúng ta định ra một kế hoạch cho sự phát triển trong tương lai

vững chắc hơn so với quá khứ (Vũ Đình Tôn, 2006) [15]

Như vậy hệ thống là một tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các

yếu tố có liên hệ với nhau (hay tác động lẫn nhau) Thành phần hệ thống chính là

các yếu tố và yếu tố là thành phần không biến đổi của hệ thống Trong hệ thống, các

yếu tố có mối quan hệ và tác động qua lại với nhau và với các yếu tố bên ngoài hệ

thống Các mối liên hệ và sự tác động bên trong hệ thống thường mạnh hơn so với

mối liên hệ và tác động với các yếu tố bên ngoài hệ thống Các mối quan hệ và tác

Trang 14

động đó theo một cách thức nhất định nào đó để sản sinh ra những kết quả nhất

định Những kết quả này chính là sản phẩm của cả một hệ thống chứ không phải là

của một bộ phận nào đó trong hệ thống Kết quả đó phụ thuộc vào cách thức tác

động bên trong và bên ngoài hệ thống Như vậy mối quan hệ, sự tác động bên trong

và bên ngoài hệ thống là điều kiện để duy trì sự tồn tại và phát triển của hệ thống

2.1.1.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống

Nghiên cứu về hệ thống chúng ta cần nhận dạng được cấu trúc của hệ thống

cũng như hoạt động và chức năng của chúng Nhận dạng cấu trúc của hệ thống có ý

nghĩa là xác định được các yếu tố, thành phần cấu tạo nên hệ thống, định vị nó cả về

không gian, thời gian và ranh giới của nó Đặc biệt cần phải phân biệt đâu là bộ

phận của hệ thống, đâu là môi trường hệ thống Nghiên cứu về hoạt động, chức năng

của hệ thống là nghiên cứu về mối liên hệ và sự tác động của các yếu tố thành phần

trong hệ thống và với môi trường xung quanh hệ thống

Hiện nay có 2 phương pháp nghiên cứu hệ thống chủ yếu là:

+ Nghiên cứu nhằm cải tiến và hoàn thiện hệ thống đ0 có sẵn Nghĩa là dùng

phương pháp phân tích và chẩn đoán hệ thống để tìm ra “điểm hẹp” của hệ thống để

từ đó tác động tạo tính “trồi” cao, thúc đẩy hệ thống phát triển

2.1.1.3 Công cụ phân tích hệ thống

Trong phân tích hệ thống có 2 công cụ được sử dụng phổ biến là:

+ Kỹ thuật mô hình hoá (modeles de répesentation): Nghĩa là xây dựng các

mô hình đại diện thông qua các biến định tính Thông qua các mô hình này chúng ta

có thể hiểu rõ hơn về sự khớp nối, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài hệ thống

để thấy được những “cản trở” cũng như những “tiềm năng ” và đưa ra những định

hướng, các giả thiết cho sự tiến triển

+ Phương pháp phân tích thống kê

2.1.2 Lý luận về hệ thống nông nghiệp

2.1.2.1 Khái niệm về hệ thống nông nghiệp

Trang 15

Khái niệm hệ thống nông trại (farming systems) đ0 có từ thế kỷ 19 do nhà

nông học Đức Vonwulfen (1823) đề xuất Ông sử dụng đầu vào, đầu ra của một

nông trại coi là một tổng thể để nghiên cứu độ màu mỡ của đất Tuy vậy trong một

thời gian dài, tiếp cận này không được phổ biến

Khái niệm hệ thống nông nghiệp (agricultunal systems) được các nhà địa lý

dùng từ lâu để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng

Các nhà kinh tế nông nghiệp khi nghiên cứu về quản lý nông trại đ0 đề xuất

khái niệm hệ thống sản xuất (production systems), coi nông trại như một sự phối

hợp của các hệ thống trồng trọt, đồng cỏ, chăn nuôi, quản lý tài chính

Khái niệm farming systems được sử dụng rộng r0i ở các nước nói tiếng Anh, nó

có nghĩa là hệ thống nông trại hay hệ thống kinh doanh nông nghiệp Hệ thống nông

trại là sự sắp xếp độc nhất và ổn định một cách hợp lý các việc kinh doanh nông

nghiệp của hộ nông dân quản lý tuỳ theo các hoạt động đ0 được xác định, tuỳ thuộc

vào môi trường vật lý, sinh học và kinh tế – x0 hội phù hợp với mục tiêu, sở thích và

nguồn lợi của hộ (Zandstra, 1981) [40] Do đó khái niệm hệ thống nông trại gần

giống với khái niệm hệ thống sản xuất của Pháp ở Nga cũng có một khái niệm

dùng trong kinh tế nông nghiệp là hệ thống quản lý doanh nghiệp

ở các nước nói tiếng Anh còn có khái niệm hệ sinh thái nông nghiệp

(Agroecosystems) hay hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) thực chất đồng

nghĩa với khái niệm hệ thống nông trại, chỉ các mối liên hệ phức tạp của các quá

trình x0 hội, sinh học và sinh thái bên ngoài và bên trong Alteri(1987), Spedding

(1981) định nghĩa hệ thống nông nghiệp là các đơn vị hoạt động của nông nghiệp

bao gồm tất cả các sự thay đổi về kích thước và độ phức tạp mà người ta gọi là

doanh nghiệp nông trại, nông nghiệp của một vùng Dưới đây là mô hình hệ thống

nông nghiệp mà Spedding đ0 đưa ra

Trang 16

nhiên và con người tác động đến sinh vật sơ cấp là cây trồng và sinh vật thứ cấp là

vật nuôi để tạo ra các sản phẩm Sơ đồ này không miêu tả được các yếu tố x0 hội và

không phân tích rõ mối quan hệ bên trong hệ thống

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở Pháp cũng có một xu hướng nghiên cứu

mới gọi là nghiên cứu phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp Lúc

đầu xu hướng này cũng có những cách hiểu khác nhau, nhưng đến năm 1980, sau khi

tổng kết 5 năm làm thử ở các nơi mới thống nhất lại định nghĩa sau: nghiên cứu phát

triển ở môi trường nông thôn là một cuộc thử nghiệm ở môi trường vật lý và x0 hội

thực (quy mô thực) Các khả năng và điều kiện của sự thay đổi kỹ thuật (thâm canh,

bố trí lại) và x0 hội (tổ chức của người sản xuất, hỗ trợ hành chính và nửa hành chính)

Việc nghiên cứu triển khai đ0 dẫn đến khái niệm hệ thống nông nghiệp

(systemes agraires) Hiện nay có một số định nghĩa sau về hệ thông nông nghiệp:

Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành

sản xuất và các kỹ thuật do một x0 hội thực hiện để thoả m0n các nhu cầu Nó biểu

hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học –sinh thái mà môi

nuôi

Sản phẩm cây trồng Cây trồng

Trang 17

trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống văn hoá -x0 hội, qua các hoạt động xuất

phát từ những thành quả kỹ thuật (Vũ Đình Tôn, 2006) [15]

Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai thác môi trường được

hình thành trong lịch sử và một lực lượng sản xuất thích ứng với những điều kiện sinh

khí hậu của một môi trường nhất định và đáp ứng được các điều kiện và nhu cầu của

x0 hội tại thời điểm ấy (Mazoyer, 1985) (dẫn theo Vũ Đình Tôn, 2006) [15]

Nói một cách đơn giản hơn thì hệ thống nông nghiệp tương ứng với những

phương thức khai thác nông nghiệp của một không gian nhất định do một x0 hội tiến

hành, là kết quả của sự phối hợp của các nhân tố tự nhiên, x0 hội –văn hoá, kinh tế

và kỹ thuật

Tóm lại, có hai cách tiếp cận chính được công nhận rộng r0i đó là tiếp cận hệ

thống nông trại của các nước nói tiếng Anh và tiếp cận hệ thống nông nghiệp của

Pháp Nhiều tác giả nghiên cứu so sánh hai cách tiếp cận trên đều thấy tiếp cận hệ

thống nông nghiệp của Pháp toàn diện hơn cả và thích hợp hơn với sự phát triển

Tiếp cận hệ thống nông nghiệp có một số đặc điểm là:

+Tiếp cận “dưới lên” (bottom-up) là điểm quan trọng nhất Trước đây khoa

học nông nghiệp thường áp dụng lối tiếp cận “trên xuống”(top-down) mặc dù cũng

đ0 đạt được những kết quả nhất định, nhưng lối tiếp cận “trên xuống” can thiệp

nhằm giải quyết những cản trở không hề phù hợp với quá trình phát triển nông

nghiệp và nông thôn Tiếp cận “dưới lên” dùng phương pháp quan sát và phân tích

hệ thống nông nghiệp, xem hệ thống “mắc” ở chỗ nào để tìm cách can thiệp nhằm

giải quyết những cản trở Do đó các tiếp cận“dưới lên” thường gồm 3 giai đoạn

nghiên cứu là: chẩn đoán-thiết kế và thử triển khai Tiếp cận “dưới lên” rất coi trọng

tìm hiểu logic ra quyết định của người nông dân bởi vì theo lý luận kinh tế hộ nông

dân, người nông dân là một nhà tư bản tự bóc lột sức lao động của mình Nếu chúng

ta không hiểu logic ra quyết định của người nông dân thì không thể đề xuất các giải

pháp để họ có thể tiếp thu (xem sơ đồ 2.2)

+ Coi trọng mối quan hệ x0 hội như các nhân tố hệ thống Tiếp cận này tập

trung vào phân tích mối quan hệ qua lại giữa hệ phụ sinh học và hệ phụ kinh tế –x0

hội trong một tổng thể của hệ thống nông nghiệp Trong quá trình nghiên cứu về sự

Trang 18

phát triển nông thôn, có thể các hạn chế về kinh tế –x0 hội sẽ gây khó khăn cho việc

tiếp thu các kỹ thuật mới của hộ nông dân Nếu những hạn chế về kinh tế - x0 hội

được tháo gỡ thì sẽ tạo điều kiện cho nông dân áp dụng rất dễ dàng các kỹ thuật mới

+ Phân tích động thái của sự phát triển, có nghĩa là xem xét sự tiến triển của

hệ thống trong lịch sử Việc nghiên cứu sự phát triển của hệ thống nông nghiệp là

cần thiết nhằm xác định phương hướng phát triển của hệ thống trong tương lai và

giải quyết được cản trở phù hợp với xu hướng phát triển ấy Trong nghiên cứu về hệ

thống nông nghiệp, ta đối diện với một hệ thống động Mục tiêu của hệ thống, các

điều kiện quyết định sự phát triển của nó, môi trường vật lý và kinh tế – x0 hội thay

đổi rất nhiều, vì vậy các giải pháp về kỹ thuật hay chính sách phải thay đổi cho phù

hợp (Đào Thế Tuấn, 2006) [19]

Quá trình thay đổi cơ bản nhất của hệ thống nông nghiệp là sự tiến hoá của

nông dân từ tình trạng tự cấp, tự túc sang tình trạng sản xuất hàng hoá Sự tiến hoá

ấy đang diễn ra không đồng đều giữa các vùng, các làng, các hộ Vậy không thể có

giải pháp đồng nhất cho tất cả các hệ thống mà cần có những giải pháp hợp lý đối

với mỗi hệ thống nhất định

2.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống nông nghiệp

Cho đến nay vì tiếp cận hệ thống nông nghiệp còn tương đối mới nên chưa có

phương pháp thống nhất Tuy vậy các tác giả nghiên cứu đều theo một số nguyên tắc

cơ bản là:

- Nghiên cứu chủ yếu hướng vào người nông dân

- Đề cập tới tính chất của hệ thống nông nghiệp

- Yêu cầu tham gia của nhiều bộ môn (đa ngành)

- Chú ý tới việc làm ở nông trại

- Tính chất nhắc lại và liên tục

Quá trình nghiên cứu có thể chia ra thành 3 bước sau:

+ Chẩn đoán và phân loại

+Thiết kế và làm thử

+ Mở rộng

Trang 19

Mua

Các quyết định quản lý

Tự tiêu thụ

Sơ đồ 2.2 Logic ra quyết định của người nông dân (Jouve, 1984)

Việc chẩn đoán có mục đích là đặc điểm hoá hệ thống, tìm hiểu hệ thống

nông nghiệp, xác định những điều kiện quyết định tới sự phát triển của hệ thống và

Đất đai Lao động Vật chất Vốn

Hệ thống quản lý:

Dạng và thể thức các phương tiện sản xuất

Những cản trở và khả năng của môi trường KT-XH

Các quyết

định kỹ thuật

Trang 20

xác định các hạn chế, cản trở của hệ thống Việc chẩn đoán gồm hai bước nhỏ là

phân kiểu và chẩn đoán hệ thống nông nghiệp, đặc biệt là hệ thống nông nghiệp hộ

nông dân thường rất phức tạp và không đồng đều, do đó phải phân thành các kiểu phổ

biến, qua đó ta hiểu sự biến động của hệ thống và xác định xem kiểu nào chiếm ưu

thế trong hệ thống để định ưu tiên phát triển Vì vậy không nên chia thành quá nhiều

hệ thống mà thường chỉ nên phân thành 3- 4 kiểu hệ thống nông nghiệp đại diện cho

phần lớn các hộ trên đại bàn Có thể phân kiểu hộ nông dân theo các tiêu chí khác

nhau như: mức thu nhập, nhân tố sản xuất, chiến lược sản xuất, mục tiêu sản xuất

Hiện nay chưa có kết luận nên phân kiểu theo tiêu chí nào Dựa vào mục đích nghiên

cứu khác nhau mà ta lựa chọn tiêu chí phân kiểu hộ nông dân khác nhau

Còn giai đoạn thiết kế, làm thử và giai đoạn mở rộng là các giải pháp cụ thể

được tác động vào các “cản trở” và thử nghiệm mở rộng chúng trên địa bàn

2.1.3 Lý luận về hệ thống chăn nuôi

2.1.3.1 Khái niệm về hệ thống chăn nuôi

Hệ thống chăn nuôi là sự kết hợp các nguồn lực, các loài gia súc, các phương

tiện kỹ thuật và các thực tiễn bởi một cộng đồng hay một người chăn nuôi, nhằm thoả

m0n những nhu cầu của họ và thông qua gia súc làm giá trị hoá các nguồn lực tự nhiên

(Vũ Đình Tôn, 2006) [15]

Như vậy theo định nghĩa này thì hệ thống chăn nuôi gồm 3 cực chính

+ Tác nhân và gia đình (đôi khi có thể là một cộng đồng): “cực con người”,

đó là trung tâm của hệ thống

+ Các nguồn lực mà gia súc sử dụng: “cực đất đai”

+ Gia súc: “cực gia súc”

2.1.3.2 Các yếu tố trong chăn nuôi

Hoạt động sản xuất chăn nuôi là do người chăn nuôi tiến hành Họ sử dụng

hai nhóm yếu tố chính cho hoạt động sản xuất này đó là: gia súc và môi trường

*Gia súc

Mỗi một hệ thống chăn nuôi thường có những loài gia súc và giống gia súc

khác nhau Song nhìn chung số lượng loài động vật sử dụng trong chăn nuôi ít hơn

rất nhiều so với các loài thực vật Lý do chủ yếu có thể là vì những đòi hỏi đặc biệt

Trang 21

để động vật có thể trở thành gia súc Đồng thời trong mỗi loài lại có nhiều dòng,

giống khác nhau, vì vậy vẫn đáp ứng được nhu cầu của con người

Theo Ir.Geert Montsma, 1982 (dẫn theo Vũ Đình Tôn, 2006) [16] thì một số

loài động vật chính sử dụng trong nông nghiệp là:

* Loài ăn cỏ gồm :

+ Động vật nhai lại : trâu, bò, dê, cừu, lạc đà … + Động vật không nhai lại: ngựa, thỏ

* Các loài khác: lợn, gia cầm, các loài cá, côn trùng

Tiến triển theo thời gian

Thời gian Thời gian

Sơ đồ 2.3 Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste, 1986)

Dân tộc, gia đình, hội, nhóm…

Cấp độ ra quyết định Các nhu cầu, dự án

Trang 22

*Các yếu tố môi trường

- Môi trường tự nhiên

+ Khí hậu: Đây là yếu tố rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến

chăn nuôi thông qua các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm Thông thường mỗi loài hay

giống gia súc có điều kiện nhiệt độ tối ưu, tối thiểu và tối đa Nếu vượt ra khỏi giới

hạn này đều có tác động xấu tới năng suất vật nuôi và thậm chí gây chết thông qua

phá vỡ cân bằng thân nhiệt của gia súc Ngoài tác động trực tiếp thì tác động gián

tiếp cũng không kém phần quan trọng thông qua sự phát triển của thảm thực vật, sự

phát triển của các tác nhân gây bệnh

+ Đất, nước: Có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của gia súc thông

qua sự phát triển của thảm thực vật, nguồn nước uống

- Môi trường sinh học

+ Thực vật (Flora): Cây trồng là nguồn thức ăn quan trọng đối với gia súc Chất

lượng của cây trồng sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới năng suất vật nuôi Một số loài cây

trồng có giá trị dinh dưỡng cao đ0 được phát triển nhằm nâng cao năng suất chăn

nuôi, hay sự kết hợp các cây họ đậu và cây hoà thảo nhằm đáp ứng nhu cầu dinh

dưỡng cho vật nuôi đang rất phổ biến

+ Động vật (Fauna): ở đây đề cập chủ yếu đến động vật ký sinh hay vật truyền mầm

bệnh (các loài hút máu như côn trùng và ve là những tác nhân truyền bệnh chính)

Chăn nuôi bò sữa đ0 gặp phải vấn đề này rất nghiêm trọng, nhất là ở các nước nhiệt

đới với những bệnh ký sinh trùng đường máu

- Môi trường kinh tế - x0 hội

+ Quyền sở hữu đất đai: Thường có 2 loại là sở hữu cộng đồng (tập thể) và sở hữu cá

nhân ở Việt Nam khái niệm được nhắc đến chủ yếu là quyền sử dụng Với các hình

thức sở hữu khác nhau dẫn đến quyền chăn thả, cũng như mức đầu tư khác nhau

Đất thuộc quyền sử dụng của tư nhân, thường được đầu tư thâm canh tạo năng suất

cao hơn và như vậy có điều kiện phát triển chăn nuôi hơn

+ Vốn: Có thể là tự có hoặc nguồn vốn vay Nhìn chung việc tiếp cận vốn vẫn là điều

kiện quan trọng ảnh hưởng tới phương thức cũng như quy mô chăn nuôi Nguồn vốn dồi

dào sẽ có điều kiện đầu tư thâm canh hơn trong chăn nuôi như hình thức chăn nuôi trang

Trang 23

trại, chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, đồng thời cũng mang lại những hiệu quả cao hơn

do sử dụng con giống tốt, thức ăn chất lượng cao, quy trình vệ sinh, chuồng trại hợp lý…

+ Lao động: Lao động là yếu tố rất quan trọng trong phát triển chăn nuôi, nhất là tại

những nước phát triển thì sự thiếu hụt lao động thường xuyên xảy ra Lao động được

đề cập tới không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng thông qua trình độ khoa học kỹ

thuật Lực lượng lao động trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi thâm canh, quy mô lớn

lại càng yêu cầu chất lượng cao Hiện tại lao động chăn nuôi tại Việt Nam còn ít

đuợc chú trọng đến việc đào tạo tay nghề một cách chính quy, có hệ thống (qua

trường lớp) Đồng thời khi chăn nuôi quy mô lớn thì việc sử dụng máy móc lại càng

nhiều và điều đó cũng đòi hỏi người lao động càng phải có tri thức cao hơn

+ Năng lượng: Nông nghiệp nói chung hay chăn nuôi nói riêng là thực hiện việc

chuyển hoá năng lượng thành dạng có ích cho con người (thức ăn, sợi, lực ) Có rất

nhiều dạng năng lượng khác nhau như năng lượng mặt trời, năng lượng sử dụng của

con người, súc vật và năng lượng hoá thạch ở đây đề cập chủ yếu đến năng lượng

hoá thạch Chức năng của nguồn năng lượng này trong chăn nuôi như sau:

- Sử dụng để làm đất, vận chuyển,

- Xây dựng chuồng trại , sưởi ấm,

- Sản xuất thức ăn công nghiệp ,

- Phục vụ cơ giới hoá trong chăn nuôi ,

- Sản xuất phân, thuốc hoá học phục vụ cho phát triển cây trồng,…

Nói chung các cơ sở chăn nuôi càng hiện đại thì nguồn năng lượng này được

sử dụng càng nhiều Ví dụ như ở Hà Lan chẳng hạn cứ 1 công nhân chăn nuôi trong

trại nuôi bò sữa sử dụng nguồn năng lượng hoá thạch thì tương đương với 250 người

Cho nên tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở các nước phát triển thấp hơn rất

nhiều so với các nước đang phát triển

+ Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng được đề cập tới ở đây bao gồm rất nhiều yếu tố như

hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống thông tin, nguồn nước, các cơ sở bảo dưỡng

máy móc, dịch vụ thú y, các điều kiện tiếp cận tín dụng, cơ sở thụ tinh nhân tạo, thị

trường …Các điều kiện này ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi thông qua

dịch vụ cung cấp đầu vào, đầu ra, sự tiếp cận với các thông tin (khoa học kỹ thuật,

Trang 24

thị trường) và có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển đàn gia súc thông qua dịch vụ

chăm sóc sức khoẻ, nguồn thức ăn thô xanh,…Đương nhiên sự phát triển các cơ sở

hạ tầng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các chính sách liên quan

+ Thị trường: Thị trường luôn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến phát triển chăn

nuôi thông qua nguồn cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra, nhất là khi chuyển từ sản

xuất tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hoá Khi còn sản xuất tự cấp tự túc thì nguồn đầu

vào rất hạn chế, chủ yếu sử dụng những nguồn sẵn có của cơ sở, và tương tự như vậy,

sản phẩm đầu ra còn ở mức rất khiêm tốn chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nông hộ

Chuyển lên sản xuất hàng hóa số lượng đầu vào đầu ra rất lớn và cơ sở sản xuất ngày

càng phụ thuộc vào thị trường nhiều hơn Đồng thời ta còn thấy thị trường được tổ

chức ngày càng chặt chẽ hơn, lúc đầu còn có nhiều người mua và bán, và các sản

phẩm đầu vào và đầu ra được đưa đến cũng như đưa đi xa hơn, và số người tham gia

vào các kênh cung cấp và phân phối cũng trở nên ít hơn thông qua các công ty đa

quốc gia Ngoài ra mức độ ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất cũng ngày càng lớn hơn

khi có những biến động trên thị trường không những ở trong nước mà còn cả thị

trường quốc tế Sự thay đổi giá thịt lợn trong những năm vừa qua là một thí dụ điển

hình tác động đến sự phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam thông qua sự biến động giá

cả trong nước, việc xuất khẩu thịt …

* Các yếu tố văn hoá và tín ngưỡng

Các yếu tố văn hoá và tín ngưỡng cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển chăn

nuôi Đạo hồi là một ví dụ, họ kiêng thịt lợn và sử dụng thịt cừu rất nhiều vào các

dịp lễ hội Từ đó dẫn đến giá thịt cừu thường rất cao và hầu như không phát triển

chăn nuôi lợn tại các nước này

Còn tại ấn độ, bò rất ít được giết thịt ở một số nước thuộc châu Mỹ La – tinh

thì số lượng đàn gia súc được coi như là một yếu tố để phân biệt đẳng cấp x0 hội (Vũ

Đình Tôn, 2006) [16]

2.1.3.3 Nghiên cứu và chẩn đoán các hệ thống chăn nuôi

* Cơ sở để tiến hành nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi

Những phương pháp sử dụng để nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi đ0 thừa

hưởng được những tiến bộ về tiếp cận hệ thống của những lĩnh vực khác

Trang 25

Trước đây các nghiên cứu về chăn nuôi chủ yếu tập trung vào những vấn đề

cấp thiết nhất như vấn đề bệnh tật của gia súc, vấn đề nuôi dưỡng, cây thức ăn,

giống, các vấn đề về môi trường chăn nuôi như nước tưới cho đồng cỏ, năng suất

đàn gia súc …

Các nghiên cứu này không còn mới mẻ nữa và những nghiên cứu thuần tuý về

kỹ thuật chăn nuôi không còn hoàn toàn phù hợp với những đòi hỏi hiện nay.Việc tiếp

cận mang tính chuyên ngành theo phương pháp cổ điển (thức ăn, di truyền sinh sản, bệnh

tật…) nó đ0 cho phép giải quyết những vấn đề mang tính cấp bách nhưng nó không có

khả năng đáp ứng một cách có hiệu quả trong tình hình phức tạp hiện nay Cho nên cần

đưa ra một kiểu tiếp cận khác đó là tiếp cận hệ thống Phương pháp này cho phép đổi

mới, bổ sung các tiếp cận cục bộ Tuy nhiên tiếp cận hệ thống không phải là phương pháp

đối lập, tách rời mà chủ yếu là nó bổ sung với tiếp cận cục bộ cổ điển

*Các vấn đề cần tập trung trong nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi

- Tập trung vào con người - tác nhân trung tâm của hệ thống

+ Hệ thống quản lý hay điều hành: Là nơi hình thành nên những mục tiêu,

các thông tin về môi trường và về cấu trúc và sự vận hành của hệ thống Đó là các

dạng và các thể thức tổ chức cũng như sự huy động các phương tiện sản xuất và các

quyết định quản lý (huy động sử dụng đất đai, lao động và vốn sẵn có)

+ Các hệ thống kỹ thuật sinh học của sản xuất: nơi hình thành các quá trình

sản xuất và phương thức chăn nuôi cho phép đạt được các mục tiêu và chiến lược

của người sản xuất

Từ các thông tin thu thập được về khía cạnh kỹ thuật, sinh học đ0 giúp người

chăn nuôi đưa ra các quyết định sản xuất thông qua các chiến lược, sách lược và các

thực tiễn Như vậy chỉ có tiến hành phân tích sự tương tác giữa các quyết định và các

điều kiện kỹ thuật thì mới cho phép nhận ra được các điểm mạnh cũng như các

điểm yếu của hệ thống

Như vậy hệ thống chăn nuôi trước hết là một tổng thể được điều hành với vai

trò chủ yếu là con người hay cộng đồng

Nên nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi sẽ tập trung chủ yếu vào hệ thống điều

hành do một tác nhân hay một nhóm tác nhân điều khiển Quan tâm đến yếu tố con

người, tức đến người chăn nuôi, một mặt là gắn với khoa học nhân văn, nhưng đồng

Trang 26

thời cũng quan tâm đến mục đích chủ yếu của những nghiên cứu này, đó là tham gia

vào sự phát triển Để có thể làm tốt được công việc này cần phải dựa trên sự hiểu

biết sâu sắc về chính các tác nhân và sự huy động của họ Điều đó được đánh giá

thông qua các chiến lược, sách lược và các thực tiễn của các tác nhân

Dựa trên quan điểm này thì các nghiên cứu về các thực tiễn của người chăn

nuôi không chỉ để biết được sự đa dạng, mà cần phải hiểu được các yếu tố quyết

định và đánh giá các tác động của nó Phân tích các thực tiễn của các tác nhân là

phục vụ cho công tác phát triển Các thực tiễn chăn nuôi là những cái mang tính cá

nhân của những người chăn nuôi mà ta có thể quan sát được Những thực tiễn này có

thể cho chúng ta biết được những dự kiến và các cản trở của những hộ liên quan

- Tiến hành nghiên cứu đa ngành

Tiếp cận tổng thể là quan tâm chủ yếu đến các mối tương tác hơn là các yếu

tố cấu trúc Đó chính là sự quan tâm đến các đặc điểm về sự vận hành của một hệ

thống chăn nuôi hơn là quan tâm đến cấu trúc của hệ thống Nó có tác dụng giúp

cho sự phát triển trong tương lai, nhận dạng được những bế tắc ở hệ thống cung cấp

thức ăn, hệ thống đất đai hay việc tổ chức x0 hội của những người chăn nuôi

Việc nghiên cứu các tương tác này trong hệ thống chăn nuôi là nhằm hiểu

được và giải thích được các mối quan hệ nhân quả Khác với việc phân tích chủ yếu

tập trung vào năng suất, ở đây chúng ta quan tâm nhiều hơn đến các thực tiễn chăn

nuôi, việc quản lý các nguồn lực, việc tổ chức hoạt động chăn nuôi, các phương thức

làm giá trị hoá các nguồn lực Đồng thời các yếu tố về bệnh tật, thị trường tiêu thụ

sản phẩm cũng được đề cập tới

Nghiên cứu hệ thống tập trung vào phối hợp các chuyên ngành khác nhau, nó

cho phép thực hiện chẩn đoán tổng thể và phân cấp các cản trở chủ yếu trong một

môi trường nhất định

Chăn nuôi thường gắn vào các hệ thống sản xuất hỗn hợp Cho nên trước hết cần

đánh giá cách kết hợp của “tiểu hệ thống chăn nuôi” trong một đơn vị sản xuất Vì

vậy cần có sự trao đổi giữa các nhà kinh tế, các nhà nông học và các nhà chăn nuôi…

- Tiến hành nghiên cứu trên các quy mô khác nhau

Quy mô quan sát nghiên cứu đối với người chăn nuôi, đó là vật nuôi, đàn,

quần thể kết hợp với đơn vị sản xuất, cộng đồng, vùng… Đồng thời kết hợp cả các

Trang 27

thời gian khác nhau (quan sát hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm)

Việc quan sát và nghiên cứu trên các quy mô khác nhau rất quan trọng để

có thể hiểu được hiện tượng nghiên cứu bởi vì giữa các cấp độ có quan hệ với

nhau Việc quan sát cấp độ này có thể tìm ra câu giải thích cho cấp độ khác Các

cấp độ quan sát và những mục tiêu nghiên cứu ưu tiên ở các cấp độ khác nhau

(Vũ Đình Tôn, 2006) [16]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1 Phân loại các hệ thống chăn nuôi trên thế giới

Theo quan điểm của một số tác giả (Ruthenberg,1980; Jahnke,1982;

FAO,1994; De Boer,1992; FAO,1996) [38], [32], [27], [31], [28] đều cho rằng hầu

hết các nông trại không được xếp loại theo các tiêu chuẩn về số lượng gia súc mà

những tiêu chuẩn để xếp các trường hợp vào cùng một nhóm chủ yếu là dựa vào

dạng thức của hệ thống (Sơ đồ 2.4)

Tiêu chuẩn phân loại được giới hạn ở 3 tiêu chuẩn là: tương quan với trồng

trọt, với đất và vùng sinh thái Ngoài ra, nhóm các hệ thống không phụ thuộc nhiều

vào đất được chia nhỏ thành hai loại: động vật nhai lại không phụ thuộc nhiều vào

đất và động vật dạ dày đơn không không phụ thuộc nhiều vào đất Như vậy tạo

thành 11 loại hệ thống chăn nuôi

* Hệ thống chăn nuôi không phụ thuộc nhiều vào đất (LL)

Các nước phát triển có một nền sản xuất thâm canh không phụ thuộc nhiều

vào đất, chiếm hơn một nửa tổng sản phẩm thịt toàn thế giới Châu á cũng đang

đóng góp khoảng 20% và Tây Âu là 15%

+ Hệ thống chăn nuôi động vật dạ dày đơn không phụ thuộc nhiều vào đất (LLM)

Hệ thống này được xác định thông qua việc chăn nuôi các loài động vật dạ

dày đơn, chủ yếu là gia cầm và lợn ở đó thức ăn cho gia súc được cung cấp từ bên

ngoài nông trại, vì vậy những quyết định về việc sử dụng thức ăn cho gia súc không

phụ thuộc nhiều vào việc sản xuất thức ăn gia súc, tức là hai quá trình này độc lập

với nhau và thông thường phân của gia súc được lợi dụng để bón cho các cánh đồng

Trang 28

trồng trọt và /hoặc bán Hệ thống này vì thế là mở về mặt chất dinh dưỡng Hệ thống

LLM này có ở các quốc gia thành viên của OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển

kinh tế) chiếm 52% tổng sản lượng thịt lợn và 58% tổng sản lượng thịt gia cầm toàn

cầu Đối với chăn nuôi lợn, Châu á đứng thứ 2 thế giới với 31% Đối với chăn nuôi

gia cầm, Trung và Nam Mỹ theo sau với 15% tổng sản lượng thịt gia cầm toàn cầu

ở khu vực Đông Nam á, hệ thống này là đặc biệt quan trọng Khoảng 96%

tổng sản lượng thịt lợn của Châu á là từ các nước Trung Quốc, Việt Nam và

Indonesia Trong đó Trung Quốc,Thái Lan và Malaysia sản xuất khoảng 84% tổng

sản lượng thịt gia cầm trên thế giới Điều này liên quan tới sự tăng trưởng nhanh của

nền kinh tế và tốc độ đô thị hoá Nhu cầu về thịt các loại động vật dạ dày đơn được

ước tính là tăng từ 2 đến 5 lần kể từ năm 1987 đến năm 2006 từ 31 triệu tấn, và nhu

cầu về trứng tăng từ 3 đến 10 lần từ 9 triệu tấn Các hệ thống chăn nuôi lợn và gia

cầm không phụ thuộc nhiều vào đất đạt sản lượng lớn ở các nước phát triển và một

phần đóng góp là đang tăng lên một cách nhanh chóng ở các nước đang phát triển,

nhằm cung cấp một số lượng lớn trong một thời gian ngắn

+ Hệ thống chăn nuôi động vật nhai lại không phụ thuộc nhiều vào đất (LLR)

Hệ thống này được xác định thông qua việc chăn nuôi các loài động vật nhai

lại, cơ bản là trâu, bò, và thức ăn cho chúng chủ yếu được cung cấp từ bên ngoài nông

trại Hệ thống này tập trung chủ yếu ở một số vùng trên thế giới Đối với trâu bò, hệ

thống này chủ yếu thấy ở Đông Âu và CIS (Khối liên hiệp các quốc gia độc lập) và

một số nước thành viên của OECD Các trang trại chăn nuôi gia súc sinh sản thâm

canh ở một số vùng thường là phụ thuộc vào đất đai hơn bởi vì nhu cầu cỏ khô ngon

lại không thể vận chuyển một cách kinh tế từ nơi xa đến ở Châu á các hệ thống chăn

nuôi trâu bò thâm canh chủ yếu là trâu, bò sinh sản ở ấn Độ và Pakistan

Hệ thống LLR chủ yếu là chăn nuôi các giống gia súc cao sản và con lai của chúng,

không sử dụng các giống mà không đáp ứng được với các điều kiện ”không có đất”

Đối với sản xuất sữa, giống bò HF rõ ràng là quan trọng nhất Đối với bò thịt, thì

giống bò thịt của Anh lại chiếm ưu thế ở Mỹ, trong khi các giống bò kiêm dụng thể

vóc lớn của Châu Âu được dùng để vỗ béo

Trang 29

Nguồn: (FAO, 1996) [27]

Sơ đồ 2.4 Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới

Hệ thống LLR là thâm canh cao về vốn, dẫn tới đầu tư kinh tế lớn Nó cũng

thâm canh về thức ăn và lao động Chúng liên quan chặt chẽ tới các hệ thống chăn

nuôi cần đất thông qua việc cung cấp con giống Đây là một điểm khác biệt quan

trọng so với các hệ thống chăn nuôi động vật dạ dày đơn không phụ thuộc nhiều vào

Các hệ thống chăn nuôi

Phụ thuộc vào

đất (LG) Có mưa tự nhiên (MR) Phải tưới tiêu (MI)

Vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới ẩm/bán ẩm (LGH)

Vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (MRT)

Vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới ẩm/bán ẩm (MRH)

Vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô

cằn (MRA)

Vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (MIT)

Vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới ẩm/bán ẩm (MIH)

Vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô

cằn (MIA)

Vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô

cằn (LGA) Các HTCN chuyên

canh (L)

Trang 30

đất bởi vì ở các hệ thống này, con giống thay thế là được cung cấp từ hệ thống có uy

tín cùng loại

* Hệ thống chăn nuôi phụ thuộc vào đất đai (LG)

+ Các hệ thống chăn nuôi ở vùng ôn đới và vùng núi cao nhiệt đới (LGL)

ở những vùng này hệ thống chăn thả dựa vào nền nhiệt độ thấp ở vùng ôn

cao nhiệt đới như ở Nam Mỹ và Đông Phi, các vùng ôn đới gồm: Nam Australia,

Newzealand, và một phần của Mỹ, Trung Quốc và Mongolia

Các trường hợp điển hình là hệ thống chăn thả trên thảo nguyên ở Mongolia,

hệ thống chăn nuôi bò sữa và cừu ở Newzealand, hệ thống nuôi bò sữa ở Bogota,

Colombia và Nam Mỹ, hệ thống chăn thả lạc đà và cừu ở Peru và Bolivia Các hệ

thống chăn thả thâm canh cũng thấy có ở một số vùng thuộc Tây Bắc Pakistan, gồm

nuôi cừu lấy lông và len (Nawaz, Naqui và Jadoon, 1986) [37]

+ Các hệ thống phụ thuộc đất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nóng ẩm /bán ẩm

Các hệ thống này được xác định là hệ thống chăn thả thấy có ở các vùng với

hơn 180 ngày chăn thả trong giai đoạn sinh trưởng Nó có xu hướng tập trung hơn ở

các vùng bán ẩm, nhất là các vùng mà việc tiếp cận với thị trường gặp khó khăn

hoặc vì các lý do nông học, sản xuất trồng trọt bị giới hạn hệ thống loại này thấy

có hầu hết ở các vùng đất thấp nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Nam Phi: Colombia,

Venezuela, Brazil Hệ thống chăn nuôi bò kiêm dụng sữa thịt ở vùng thấp của

Mexico, Argentina cũng là những trường hợp điển hình của hệ thống này Ngoài

Châu Mỹ La- tinh ra, hệ thống này cũng là quan trọng ở Australia bởi vì sự phong

phú về nguồn lực đất đai ở đó (vì dân số ở đây ít)

Tính trên toàn thế giới, hệ thống LGH này chiếm khoảng 190 triệu con trâu

bò, chủ yếu là giống bò Zebu ở các vùng ẩm và bán ẩm Trâu cũng là một loài phổ

biến, ngoài ra cừu lấy lông ở Châu Phi và dê lùn thường được nuôi với mục đích tiêu

dùng tại chỗ Hệ thống LGH sản xuất ra xấp xỉ 6 triệu tấn thịt bò và thịt bê và

khoảng 11 triệu tấn sữa bò tính trên toàn thế giới Trong đó các vùng quan trọng, sản

xuất chủ yếu là Trung và Nam Mỹ Hệ thống này mang tính định hướng thị trường

Trang 31

+ Các hệ thống chăn nuôi phụ thuộc vào đất vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô

cằn /bán khô cằn(LGA)

Hệ thống này được xác định là hệ thống phụ thuộc vào đất đai ở những vùng

nhiệt đới và cận nhiệt đới với khoảng thời gian sinh trưởng của cây trồng là nhỏ hơn

180 ngày và nơi mà đất đai được sử dụng chủ yếu cho việc chăn thả các động vật

nhai lại

Hệ thống này thấy có ở hai hệ thống kinh tế x0 hội đối lập nhau: thứ nhất là

thấy ở vùng bán sa mạc Sahara ở Châu Phi và vùng Đông, Bắc Phi, nơi mà chăn thả

tạo thành một lối sống truyền thống của một bộ phận người dân và thứ hai là thấy ở

Australia, một số vùng của miền tây nước Mỹ và Nam châu Phi, nơi mà kinh tế tư

nhân lợi dụng đất công hoặc sở hữu riêng một nguồn lợi lớn cho hàng loạt những

mục đích chăn nuôi của mình

ở các nước phát triển, hệ thống này cực kỳ thâm canh về lao động, trong khi ở

Tây á, Bắc Phi và vùng bán sa mạc Sahara của Châu Phi, chăn nuôi theo lối chăn thả

lại là cầu nối quan trọng nhất giữa chăn nuôi và các ngành sản xuất nông nghiệp khác

* Các hệ thống chăn nuôi hỗn hợp có mưa tự nhiên (MR)

+ Các hệ thống chăn nuôi ở vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (MRT)

Hệ thống này được xác định như là một sự kết hợp của hệ thống trồng trọt có

đủ mưa và hệ thống chăn nuôi thuộc những vùng ôn đới hay vùng núi cao nhiệt đới,

nơi mà cây trồng đóng góp ít nhất là 10% tổng giá trị sản phẩm của nông trại

Hệ thống MRT thấy có ở hai vùng sinh thái nông nghiệp đối lập của thế giới

đó là hệ thống phổ biến, cơ bản ở hầu hết Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Bắc á, về cơ

bản nó bao trùm một vùng rộng lớn đất đai từ vĩ tuyến 30 độ vĩ bắc trở lên; và còn

thấy ở các vùng núi cao nhiệt đới thuộc Đông Phi (Ethiopia, Kenya, Uganda,

Burundi, Rwanda) và ở vùng Andean của Mỹ La -tinh (Ecuador, Mexico) Đặc điểm

chung của những vùng này là nhiệt độ thấp trong cả năm hoặc gần như cả năm Các

hệ thống này sử dụng nhiều đầu vào từ bên ngoài hơn và mở hơn

ở hầu hết các hệ thống MRT vùng nhiệt đới, sản xuất kém thâm canh hơn, với

những vật nuôi mang lại hàng loạt những chức năng trong các hệ thống hỗn hợp như

tăng thu nhập, tập trung dinh dưỡng cho cây trồng thông qua phân bón, chất thải, sức

Trang 32

kéo động vật, dự trữ tiền cho những việc đột xuất, giảm rủi ro trong sản xuất ngành

trồng trọt

Trên quy mô toàn cầu, hệ thống MRT là nguồn cung cấp các sản phẩm động

vật quan trọng nhất, cung cấp 39% tổng lượng thịt bò và dê, 24% tổng lượng thịt cừu

và 63% tổng lượng sữa sản xuất ra trên thế giới

+ Các hệ thống có mưa tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/bán ẩm

(MRH)

ở các khu vực ẩm và bán ẩm của vùng nhiệt đới, ngành chăn nuôi dựa vào

các hệ thống hỗn hợp Chúng ta có thể thấy các hệ thống này ở tất cả các vùng nhiệt

đới trên thế giới, chủ yếu ở các nước đang phát triển Một số vùng thuộc miền Nam

nước Mỹ là những vùng phát triển duy nhất loại hệ thống này Các trường hợp điển

hình khác là hệ thống trồng lúa - nuôi trâu quy mô nông hộ ở Nam á hoặc trồng đậu

tương - ngô - đồng cỏ rộng lớn với tính chất thương mại hoá ở Brazil

Hệ thống này bao gồm các vùng với điều kiện khí hậu đặc biệt khó khăn

cho chăn nuôi (nhiệt độ và độ ẩm cao) khả năng thích nghi của các giống gia súc

ôn đới cao sản với những điều kiện khắc nghiệt này là rất kém Thông thường ở các

hệ thống nông hộ thuộc Châu á và Châu Phi, các giống địa phương vẫn được nuôi

phổ biến ở Châu Mỹ La - tinh, giống bò Bostaurus, cừu và dê vẫn được nuôi từ

cách đây 4 thế kỷ

Các hệ thống MRH thuộc Châu á và Châu Phi chăn nuôi đa mục tiêu vẫn

chiếm ưu thế, thường chăn nuôi bao gồm cả mục đích lấy sức kéo, thịt và phân ở

Trung và Nam Mỹ hệ thống này cung cấp thực phẩm cho thị trường nội địa rộng lớn

Thông thường ở Brazil nó cũng liên quan tới thị trường xuất khẩu

+ Hệ thống có mưa tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (MRA)

Hệ thống MRA là một hệ thống nông trại hỗn hợp ở các vùng nhiệt đới và cận

nhiệt đới, với thời gian sinh trưởng của cây trồng là dưới 180 ngày Giới hạn chủ yếu

của hệ thống này là khả năng sản xuất sơ cấp của đất đai thấp, do lượng mưa thấp

Điều kiện càng khắc nghiệt thì tầm quan trọng của trồng trọt trong hệ thống càng kém

và chăn nuôi trở thành nguồn thu nhập chính và là nguồn sống của người dân

Trang 33

Hệ thống này đóng vai trò quan trọng ở Tây á và Bắc Phi, một số vùng thuộc

Sahel (Burkina, Faso, Nigeria), ở đa số các vùng thuộc ấn Độ và ở Đông Bắc Thái Lan,

Đông Indonesia và nó không đóng vai trò quan trọng ở Trung và Nam Mỹ Với mức

độ thâm canh thấp của hệ thống và chăn nuôi đa mục đích, việc cải tiến giống vật

nuôi bị giới hạn Tính trên toàn thế giới thì 11% số trâu bò, 14% số cừu và dê là

thuộc hệ thống này Các động vật nhai lại nhỏ (cừu, dê) thường là quan trọng ở Tây

á, Bắc Phi thuộc các hệ thống này

Trong khi hệ thống này liên quan tới nhiều người hơn các hệ thống chăn thả

khác nhưng chỉ có 10% dân số thế giới là tham gia vào hệ thống này, 51% trong số

đó là ở Châu á, chủ yếu là ấn Độ và 24% là ở Tây á và Bắc Phi, có mối liên hệ rất

gần với hệ thống LGA Với áp lực do gia tăng dân số, hệ thống LGA có xu hướng

tiến tới hình thành các hệ thống hỗn hợp, chủ yếu là MRA

* Các hệ thống chăn nuôi hỗn hợp được tưới tiêu (MIT)

+ Các hệ thống hỗn hợp ở vùng ôn đới và ở các khu vực núi cao nhiệt đới

Hệ thống này thuộc nhóm các hệ thống hỗn hợp cần đất của vùng ôn đới và

khu vực núi cao thuộc các vùng nhiệt đới

Thường thấy các hệ thống này ở vùng Địa Trung Hải (Bồ Đào Nha, Italia, Hy

Lạp, Albania, Bulgaria) và một số vùng thuộc phía đông bán cầu (Hàn Quốc, Nhật Bản

và một số vùng của Trung Quốc), nơi mà sự sinh trưởng của thực vật bị giới hạn do

nhiệt độ thấp vào mùa lạnh và ẩm độ giảm trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây trồng

Tầm quan trọng của hệ thống này ở các khu vực núi cao nhiệt đới là không đáng kể

Thịt, sữa và lông, len là các sản phẩm chủ yếu của hệ thống này, phần lớn

chúng được sản xuất làm hàng hoá bán trên thị trường Các hệ thống này được dự

đoán là càng ngày càng kém hiệu quả, đang phải đua tranh với rất nhiều các hệ

thống có mưa tự nhiên hiệu quả hơn với cùng một lượng sản phẩm tạo ra

+ Các hệ thống hỗn hợp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô và bán khô cằn(MIH)

Đây là một hệ thống hỗn hợp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới với thời gian

sinh trưởng của cây trồng kéo dài trên 180 ngày và nơi mà việc tưới tiêu cho cây

trồng là cần thiết

Hệ thống MIH trên toàn thế giới sản xuất ra 13 triệu tấn thịt lợn (18% tổng

Trang 34

sản lượng thịt lợn toàn cầu) lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ hệ thống cần đất nhiệt

đới nào Giữa các vùng nhiệt đới và vùng cận nhiệt đới, hệ thống MIH liên quan tới

số lượng lớn dân số là 990 triệu người, 97% trong số này là ở Châu á Chăn nuôi và

trồng trọt thâm canh ở vùng sinh thái này là một minh chứng về một hệ thống nông

nghiệp bền vững và có hiệu quả

Các sản phẩm của hệ thống này đang cạnh tranh mạnh mẽ với các hệ thống

chuyên canh không cần đất trong việc cung cấp các sản phẩm cho các đô thị, cả ở

thị trường nội địa lẫn thị trường thế giới thông qua thương mại quốc tế

+ Các hệ thống hỗn hợp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/ bán khô cằn

(MIA)

Đây là hệ thống thuộc vùng khô cằn và bán khô cằn, nơi mà việc tưới tiêu sẽ

giúp cho việc thâm canh cây trồng quanh năm là có thể thực hiện được hệ thống

này có ở Đông á, Nam á, Bắc Phi, miền tây nước Mỹ và Mexico

Các trường hợp điển hình là các hệ thống chăn nuôi bò sữa thâm canh dựa vào

ngô hay cỏ alfalfa ở California, Irsael và Mexico; chăn nuôi trâu sữa quy mô nhỏ ở

Pakistan Bò và trâu lấy sữa, gia súc cày kéo là những vật nuôi chủ yếu, mặc dù dê và

cừu cũng quan trọng đối với vùng đất ven xung quanh và có thể nuôi ngoài những

vùng được tưới tiêu Trong hệ thống MIA lợn chỉ được nuôi ở Đông á, chúng hầu như

không tồn tại ở Tây á và Bắc Phi, chủ yếu vì các lý do văn hoá, tập quán của đạo hồi

(Islamic) và của người Do thái (Jewish) Các giống gia súc được nuôi chủ yếu là trâu

bò sữa để cung cấp sữa cho các đô thị rộng lớn Trong các điều kiện quản lý tốt, các

mô hình chăn nuôi bò sữa thâm canh đ0 khá thành công trong môi trường nóng, khô

Một số gia súc đạt sản lượng sữa cao nhất thế giới thuộc về hệ thống này ở Israel và

California Các hệ thống MIA nông hộ truyền thống ở Châu á phụ thuộc chủ yếu vào

trâu sữa để sản xuất sữa

Trong các hệ thống MIA truyền thống, sản xuất ngành trồng trọt được tưới

tiêu là nguồn thu nhập chính, chăn nuôi chỉ đóng vai trò thứ yếu Điều này được

phản ánh cơ bản là do ngành chăn nuôi đòi hỏi quản lý chặt chẽ hơn Hệ thống MIA

này tập trung chủ yếu ở những vùng có số dân là trên 750 triệu người, 2/3 trong số

Trang 35

đó là ở Châu á và 1/3 là ở Tây á và Bắc Phi

Hệ thống MIA đóng góp một phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu

lương thực, thực phẩm, tạo công ăn việc làm ở những vùng đất khô cằn Việc tưới tiêu

đ0 cho phép tăng cường lượng sản phẩm dự trữ cho chăn nuôi như các phụ phẩm hoặc

nhờ có luân canh cây trồng đ0 giảm sự thiếu hụt thức ăn cho gia súc Tăng nguồn thức

ăn cơ sở và tăng cường khả năng lợi dụng đ0 tăng khả năng thâm canh và thương mại

hoá của ngành chăn nuôi, đặc biệt ở những vùng tiếp cận tốt với thị trường

Trên quy mô toàn thế giới, các hệ thống hỗn hợp đóng góp một phần lớn nhất

(53%) trong tổng sản lượng thịt, sau đó là các hệ thống không phụ thuộc vào đất

(chiếm 36,8%) Một phần đóng góp nhỏ của các hệ thống chăn thả (dưới 10%) cũng

rất đáng chú ý Đặc biệt với sản phẩm sữa với trên 90% sản lượng được tạo ra từ các

hệ thống hỗn hợp

Các hệ thống phụ thuộc vào đất vẫn cung cấp một phần lớn trong tổng sản

lượng sản phẩm chăn nuôi: 88,5 % sản lượng thịt bò và bê, 61% sản lượng thịt lợn

và 26 % sản lượng thịt gia cầm, tính chung đạt 60% trong tổng số cả ba loại thịt này

Trên thế giới, thịt lợn là loại thịt quan trọng nhất (72 triệu tấn), sau đó là thịt bò và

thịt bê (53 triệu tấn) và thịt gia cầm (43 triệu tấn) Trong số đó, các hệ thống phụ

thuộc vào đất chỉ đóng góp 23,5% tổng sản lượng thịt gia súc nhai lại và 7,9% tổng

sản lượng sữa Phần rất lớn còn lại được cung cấp bởi các hệ thống hỗn hợp Tầm

quan trọng của các hệ thống hỗn hợp này trong việc cung cấp các sản phẩm chăn

nuôi được mong đợi là sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai

Các hệ thống MRT nhìn chung là lớn nhất Tính trên toàn thế giới nó chiếm

41 % tổng diện tích đất canh tác, 21% số trâu bò, 18% số cừu và dê, 37% số trâu bò

sữa Về mặt sản lượng, tầm quan trọng của nó thậm chí còn lớn hơn rất nhiều

2.2.1.2 Một số nghiên cứu trường hợp về các hệ thống chăn nuôi

ở Bangladesh, các nhà nghiên cứu đ0 tiến hành nghiên cứu xây dựng một hệ

thống nông hộ mới theo sơ đồ bố trí được định trước cho từng phần đất trồng cây gì,

nuôi con gì và làm gì trên một acre đất (1 acre tương đương 0,41ha) với mục tiêu định

trước là :

+ Xác định tổng sản phẩm có thể trên một hệ thống sản xuất hỗn hợp của một acre

Trang 36

+ Xác định tổng số của cải và nhu cầu quản lý cũng như tổng sản phẩm của mỗi

thành phần hệ thống

+ Xác định sản lượng tương đối, hiệu quả kinh tế và sản lượng dinh dưỡng của các

hợp phần khác nhau trong hệ thống canh tác

+ Xác định mục quay vòng của tài nguyên trong hợp phần hệ thống

Kết quả, ngay trong năm 1980 với tổng số tiền thiết kế là 8272

TK(15TK=1US $) bao gồm việc san đất, lấy đất màu từ ngoài vào, đào ao, thiết kế

hệ thống tưới, mua sắm công cụ canh tác và giống lâu năm Do năm đầu chi phí

nhiều nên thu thuần là 2663 TK trên 1 acre (Zahidul, 1981) [39]

Kết quả nghiên cứu ở Đông bắc Thái Lan và ở Banglades của tác giả John

Sollow (1995) [33] về hệ thống kết hợp lúa – cá cho thấy hệ thống này thường

không ổn định, khi thì rất phát triển, khi thì bị suy giảm Hệ thống này phát triển khi

nguồn cá trong tự nhiên phong phú và ngược lại khi có các hoạt động khác có khả

năng cạnh tranh được với hệ thống này về các nguồn lực thiết yếu thì chúng lại kém

phát triển Tác giả đ0 đưa ra một số ưu điểm của hệ thống kết hợp này là: rủi ro thấp,

kỹ thuật phù hợp với trình độ người dân địa phương, sản lượng lúa sẽ tăng lên khi

nuôi cá với mật độ phù hợp

Một cuộc điều tra về hai hệ thống có chăn nuôi gà (hệ thống kết hợp trồng

trọt – chăn nuôi và hệ thống chăn nuôi) đ0 được thực hiện năm 1999 ở một huyện

thuộc miền trung của Burkina Faso, phía tây châu Phi, sử dụng phương pháp RRA

theo các tiêu chuẩn định trước nhằm mô tả chăn nuôi gà ở hai hệ thống này ở cả

hai hệ thống, chăn nuôi gà đều là chăn thả quảng canh với đầu vào và đầu ra rất

thấp Chuồng trại chăn nuôi của hệ thống chăn nuôi thô sơ, đơn giản hơn so với hệ

thống kết hợp trồng trọt – chăn nuôi Tỷ lệ chết ở đàn gà cao và tỷ lệ ấp nở thấp một

phần là do điều kiện chuồng trại thấp kém này Nghiên cứu đ0 chỉ ra mức độ kém

hiệu quả của hệ thống này Cần có thêm những khảo sát nhằm xác định mức độ ảnh

hưởng của các nhân tố gây ra sự kém hiệu quả này, từ đó thúc đẩy hệ thống chăn

nuôi gia cầm của vùng phát triển bền vững (Kondombo, 1999) [35]

ở huyện Dodola thuộc miền Nam Ethiopia, tác giả Matewos (2000) [36] đ0

Trang 37

nghiên cứu về hệ thống kết hợp trồng trọt – chăn nuôi đ0 được thực hiện với mục

tiêu khảo sát việc sử dụng nguồn lực và mối quan hệ giữa hệ thống trồng trọt và

chăn nuôi với nhau trong quá trình thâm canh sản xuất nông nghiệp và đóng góp của

mỗi thành phần đó vào vấn đề an ninh lương thực Kết quả của nghiên cứu chỉ ra

rằng, phần lớn diện tích chăn thả của vùng đồng bằng này đ0 chuyển sang đất canh

tác nông nghiệp Diện tích đất chăn thả giảm đ0 kéo theo sự suy giảm năng suất và

số đầu gia súc Thu nhập từ chăn nuôi chỉ chiếm 17,7% trong khi đó từ trồng trọt là

79% vào năm 1998 Thiếu vốn, giá bán các nông sản thấp và không có quyền sở hữu

đất đai lâu dài là những nguyên nhân làm cho sản lượng của các nhóm cây trồng

chính bị giảm Phụ phẩm cây trồng trở thành nguồn dự trữ cỏ khô quan trọng trong

suốt mùa khô khi mà diện tích chăn thả giảm Từ đó tác giả đi đến kết luận, để nâng

cao mức sống của cộng đồng nông thôn và đáp ứng được nhu cầu hiện tại về lương

thực, năng lượng và sợi thì việc cung cấp đủ vốn, đa dạng hoá các cây trồng và sản

xuất thức ăn gia súc dự trữ, tăng cường tính hiệu quả của công tác khuyến nông,

khuyến lâm, đào tạo và nâng cao trình độ của người nông dân là những biện pháp

cần được tăng cường thực hiện

thành tố chăn nuôi trong hệ thống kết hợp trồng trọt - chăn nuôi đ0 được tiến hành ở

huyện Chokwe, miền Nam Mozambique Hệ thống này đang trải qua những thay đổi

trong những năm gần đây do sự tràn vào của làn sóng những người nhập cư cùng

đàn trâu bò của họ và sự quy hoạch lại đất đai khu vực tưới tiêu đang dẫn đến sự quá

tải về diện tích chăn thả một cách trầm trọng ở địa phương này Trâu bò bị chết

nhiều và nhu cầu về sức kéo gia súc tăng lên Khả năng chăn thả gia súc của một số

dạng b0i chăn đ0 được tính toán Tổng khả năng chăn thả của những b0i chăn này đ0

được tính toán là khoảng 50.340 đơn vị động vật (Animal Unit – AU) và như vậy

nguồn thức ăn từ các khu vực được tưới tiêu (các vùng đất luân canh và các b0i trồng

ngô) là đủ cho hơn 15.700 AU, và tổng đàn trâu bò hàng năm của vùng là

37.400AU Vấn đề của vùng này là sự phân bố của đàn trâu bò chứ không hoàn toàn

là về số lượng, đàn trâu bò tập trung quá nhiều ở quanh làng và quanh các khu vực

được tưới tiêu Từ đó tác giả đi đến kết luận, việc khuyến khích sử dụng rơm rạ và

Trang 38

nguồn thức ăn cây họ đậu trong hệ thống chính là cách để thâm canh hoá sản xuất

và vấn đề sử dụng này cần có những nghiên cứu và thử nghiệm

Với mục đích làm rõ mối quan hệ về lượng trong chu kỳ hoạt động của hệ

thống kết hợp VAC ở Việt Nam, tác giả Fujimoto Akimi (2004) [30] đ0 tiến hành

nghiên cứu ở Đan Phượng – Hà Tây tháng 8/1998 và nhận thấy mô hình VAC ở Việt

Nam có sự kết hợp rất đa dạng như VACR, VACB, VCR, VC…Riêng mô hình VCR

ở x0 Đan Phượng thì thấy mặc dù nuôi lợn trong các nông hộ có thể bị lỗ nhưng

70% các hộ ở đây vẫn nuôi lợn do họ không hạch toán được chính xác, nhất là phần

thức ăn cho lợn mà họ tự sản xuất ra và đặc biệt sự tồn tại của chăn nuôi lợn cho

phép luân chuyển các nguồn lực của nông hộ Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận là ở

Việt Nam những dạng hệ thống VAC kiểu như vậy thường nhằm mục đích tăng

cường nguồn dinh dưỡng cho nông hộ và tăng thu nhập cho gia đình Hầu hết người

dân chưa quan tâm nhiều đến khía cạnh về lượng trong các chu kỳ sử dụng nguồn

lực của gia đình Sự tồn tại của chăn nuôi lợn đóng vai trò chìa khoá trong việc tận

dụng phụ phẩm đối với các nông hộ có quy mô nhỏ

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu ở nước ta đ0 nhạy cảm với xu thế mới của khoa học nông

nghiệp, có thể kể ra trước tiên là Giáo sư, viện sĩ Đào Thế Tuấn , ông đ0 xây dựng

các chương trình nghiên cứu hệ thống nông nghiệp cho tập thể cán bộ của Viện khoa

học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và đ0 thu được những kết quả đáng kể

Trong bài “hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng”, tác giả Đào Thế Tuấn

(1989) [18] đ0 nêu các vấn đề tồn tại của hệ thống và nguyên nhân của một số tồn tại

như: tốc độ tăng sản lượng lương thực không cao (1,9% năm), diện tích thâm canh ít,

chưa có tiến bộ kỹ thuật thích hợp cho vùng khó khăn, sản lượng lương thực không ổn

định (biến động 6,9%) do thiên tai, sâu bệnh, sản lượng hàng hoá không cao, tỷ lệ nông

sản xuất khẩu thấp, lao động nông nghiệp tăng nhanh (2,7%năm), ngành nghề kém

phát triển và ông đ0 đề ra mục tiêu cho sự phát triển của hệ thống nông nghiệp vùng

ĐBSH là:

+ Tăng nhanh sản lượng lương thực, nhất là lương thực hàng hoá, sản xuất màu kèm

Trang 39

với chế biến

+ Tăng sản lượng thực phẩm cho xuất khẩu, phát triển nông sản nhưng không mâu

thuẫn với lương thực, hỗ trợ cho chăn nuôi

+ Mở rộng diện tích vụ đông, phát triển ngành nghề nhất là ngành nghề chế biến

+Tăng thu nhập bình quân đầu người

Để đạt mục tiêu trên, ông đ0 dự kiến các biện pháp:

- Mở rộng diện tích vụ đông

- Phát triển chăn nuôi ngành nghề để tận dụng lao động

- Huy động vốn từ dân , đẩy mạnh xuất khẩu

- Bố trí hệ thống trồng trọt với các vùng sinh thái

- Phát triển giống lợn có tỷ lệ nạc cao

Kết quả nghiên cứu phối hợp của trường Đại học Nông nghiệp I và Viện

Khoa học kỹ thuật nông nghiệp tại Thanh Trì, Hà Nội cho thấy:

*Các nhóm hộ thuần nông có hai kiểu hoạt động chính:

Kiểu 1: Sản xuất cây màu - lúa - chăn nuôi và cho thu nhập cao

Kiểu 2: Sản xuất lúa - cây màu - chăn nuôi, phổ biến hơn nhưng cho thu nhập thấp

* Các nhóm hộ không thuần nông hoạt động theo kiểu: trồng trọt - chăn nuôi -

Thấy nhóm 1 bao giờ cũng thuộc nhóm thu nhập cao, còn nhóm 4 bao giờ cũng

có thu nhập thấp Nhóm 1 bao giờ cũng có chiến lược sản xuất đa dạng, phong phú

hơn, nhóm 4 có chiến lược sản xuất đơn điệu, đơn thuần lúa và chăn nuôi (Phạm

Tiến Dũng, 1991) [2]

Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Nông nghiệp II về đề tài khảo sát ảnh

hưởng của một số nhân tố kinh tế x0 hội đến thu nhập của nông hộ trên các vùng

Trang 40

sinh thái Thừa Thiên Huế cho thấy :

+ Mức thu nhập của lao động nông nghiệp rất thấp

+ Thu nhập của lao động ở đồng bằng thấp hơn ở vùng cát và vùng đồi núi thấp

+ Diện tích đất của mỗi hộ ít, phân tán

+ Những hộ có mức thu nhập khá, thường nhờ nhận thêm đấu thầu

+ Những hộ có mức thu nhập cao, thường có mức trang bị công cụ lao động gấp

2-3 lần so với các hộ khác

+ Tỷ trọng thu từ sản xuất kinh doanh của các ngành không khác nhau giữa các

nhóm hộ… Những hộ chuyên canh lúa và năng suất thấp là những hộ có thu nhập thấp

nhất vùng

+ Những hộ kiêm ngành nghề có thu nhập cao và luôn ổn định hơn (Phan Đình

Ngân, 1991) [5]

Kết quả nghiên cứu của Phạm Tiến Dũng (1993) [3] khi phân tích các hệ

thống nông nghiệp hộ vùng Nam Thanh và Tam Đảo với các đặc trưng đưa vào phân

tích là mục tiêu, nguồn lực (nhân tố sản xuất), cấu trúc (cơ cấu chiến lược) của các

hệ thống thông qua việc phân loại các hệ thống

- Các điểm nghiên cứu nhỏ tương ứng với thôn, x0 trong một vùng lớn tương đương

với huyện thường có cùng các kiểu hệ thống nông hộ với các mục tiêu khác nhau

- Các vùng sinh thái - kinh tế x0 hội tương đương phạm vi huyện khác nhau có các

kiểu nhóm hệ thống nông hộ với các mục tiêu khác nhau là khác nhau

- Trong vùng ĐBSH có thể coi điểm nghiên cứu tương đương cấp huyện và dùng

một vùng như vậy để nghiên cứu các hệ thống nông hộ

- Trong phân tích phân loại các hệ thống nông hộ không cần thiết phải phân tích riêng

từng nhóm đặc trưng của hệ thống theo trình tự của lý thuyết phân tích hệ thống, vì

giữa nhóm đặc trưng này có quan hệ một cách có quy luật với các đặc trưng khác, nên

chỉ cần phân tích phân loại theo nhóm biến mục tiêu ra các kiểu nhóm theo mục tiêu

khác nhau, sau đó tính toán các đặc trưng về cấu trúc, nguồn lực của mỗi kiểu nhóm

theo mục tiêu để phân tích và hiểu chúng

Khi nghiên cứu về các hệ thống chăn nuôi lợn ở vùng ĐBSH năm 1995, tác giả

Binh V.T (1995) [24] nhận thấy phần lớn chăn nuôi lợn ở vùng này là chăn nuôi quy

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 Hệ thống nông nghiệp theo Spedding (1981) - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.1 Hệ thống nông nghiệp theo Spedding (1981) (Trang 16)
Sơ đồ 2.2 Logic ra quyết định của người nông dân (Jouve, 1984) - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.2 Logic ra quyết định của người nông dân (Jouve, 1984) (Trang 19)
Sơ đồ 2.3 Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste, 1986) Dân tộc, gia đình, hội, nhóm… - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.3 Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste, 1986) Dân tộc, gia đình, hội, nhóm… (Trang 21)
Sơ đồ 2.4 Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.4 Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới (Trang 29)
Bảng 4.1 Tình hình đất đai, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Giàng (2004 - 2006)  200420052006Tốc độ phát triển (%)  Chỉ tiêuĐơn vị  tínhSố lượng Cơ cấu (%) Sốlượng Cơ cấu (%) Sốlượng Cơ cấu (%) 2005/ 20042006/ 2005BQ 3năm ện tích tự nhiênha10934 100,0 10934 10 - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Tình hình đất đai, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Giàng (2004 - 2006) 200420052006Tốc độ phát triển (%) Chỉ tiêuĐơn vị tínhSố lượng Cơ cấu (%) Sốlượng Cơ cấu (%) Sốlượng Cơ cấu (%) 2005/ 20042006/ 2005BQ 3năm ện tích tự nhiênha10934 100,0 10934 10 (Trang 57)
Sơ đồ 4.2 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi lợn bán thâm canh                                                                                 Mua - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.2 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi lợn bán thâm canh Mua (Trang 68)
Sơ đồ 4.3 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi gia cầm thâm canh HTTT - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.3 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi gia cầm thâm canh HTTT (Trang 69)
Sơ đồ 4.4 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi gia cầm bán thâm canh  Trong hệ thống này, các nông hộ th−ờng nuôi các giống gà thả v−ờn hoặc gà  nội hoặc nuôi ngan, vịt hướng thịt với quy mô từ 200 – 500 con/đợt - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.4 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi gia cầm bán thâm canh Trong hệ thống này, các nông hộ th−ờng nuôi các giống gà thả v−ờn hoặc gà nội hoặc nuôi ngan, vịt hướng thịt với quy mô từ 200 – 500 con/đợt (Trang 70)
Sơ đồ 4.5 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh  Khác với các hệ thống ở trên, ở hệ thống này có các loại vật nuôi đa dạng hơn  nh−ng mỗi loại lại có quy mô nhỏ hơn - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.5 Mô hình hoạt động của hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh Khác với các hệ thống ở trên, ở hệ thống này có các loại vật nuôi đa dạng hơn nh−ng mỗi loại lại có quy mô nhỏ hơn (Trang 71)
Bảng 4.5a  Đặc điểm chung của các hộ trong các hệ thống chăn nuôi Tuổi chủ hộ - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.5a Đặc điểm chung của các hộ trong các hệ thống chăn nuôi Tuổi chủ hộ (Trang 72)
Bảng 4.5b Đặc điểm chung của các hộ trong các hệ thống chăn nuôi (tiếp)  Sè vèn vay - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.5b Đặc điểm chung của các hộ trong các hệ thống chăn nuôi (tiếp) Sè vèn vay (Trang 73)
Bảng 4.6 Cơ cấu các giống lợn nái trong các hệ thống chăn nuôi  Số nái nuôi - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.6 Cơ cấu các giống lợn nái trong các hệ thống chăn nuôi Số nái nuôi (Trang 74)
Bảng 4.7 Năng suất chăn nuôi lợn nái trong các hệ thống chăn nuôi  Sè con §R - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.7 Năng suất chăn nuôi lợn nái trong các hệ thống chăn nuôi Sè con §R (Trang 75)
Bảng 4.8 Năng suất chăn nuôi lợn thịt trong các hệ thống chăn nuôi  Số lợn nuôi - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.8 Năng suất chăn nuôi lợn thịt trong các hệ thống chăn nuôi Số lợn nuôi (Trang 77)
Bảng 4.9 Năng suất chăn nuôi gia cầm - Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi ở huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương
Bảng 4.9 Năng suất chăn nuôi gia cầm (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w