Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học : TS Đỗ Tấn Dũng
Hà Nội - 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ6 đ−ợc cám
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ6 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Tất Thắng
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tò lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Tấn Dũng - bộ môn Bệnh cây - Nông dược - khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp I, người đ6 tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Bệnh cây - Nông dược - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó!
Tác giả luận văn
Nguuyễn Tất Thắng
Trang 43 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30 3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
4.1 Điều tra tình hình bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại một số cây
trồng cạn vùng Hà Nội và phụ cận vụ thu đông - xuân hè năm
4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của các
4.3 Khảo sát khả năng phòng trừ bệnh HRGMT bằng chế phẩm
sinh học nấm đối kháng và một số thuốc hoá học trên môi
trường nhân tạo PGA và trong điều kiện chậu vại 74 4.3.1 Khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm
Sclerotium rolfsii Sacc trên môi trường nhân tạo PGA 74
Trang 54.3.2 Khảo sát hiệu lực đối kháng, phòng trừ của chế phẩm sinh học
nấm Trichoderma viride với nấm Sclerotium rolfsii Sacc hại
một số cây trồng trên môi trường nhân tạo và trong điều kiện
Trang 6Danh mục bảng
4.1 Tính phổ biến của nấm Sclerotium rolfsii Sacc hại một số cây
trồng vụ thu đông năm 2006 ở vùng Hà Nội và phụ cận 414.2 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua vụ thu đông
4.3 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu tương vụ thu đông
4.4 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại dưa chuột vụ thu đông
4.5 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu đũa vụ thu đông
4.6 Diễn biến bệnh heó rũ gốc mốc trắng hại khoai tây (Giống Nicola) vụ
đông năm 2006 tại Huyện Từ Sơn và Yên Phong - bắc ninh 504.7 Tính phổ biến của nấm Sclerotium rolfsii Sacc hại một số cây
trồng ở vùng Hà Nội và phụ cận vụ xuân hè năm 2007 52 4.8 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua vụ xuân hè
4.9 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu tương vụ xuân hè
4.10 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại dưa chuột vụ xuân hè
4.11 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc vụ xuân năm 2007
4.12 Một số đặc điểm chung về hình thái tản nấm, sợi nấm và hạch
nấm Sclerotium rolfsii Sacc hại cây trồng trên môi trường PGA 61
Trang 74.13 Khả năng hình thành hạch của các isolates nấm Sclerotium
4.14 ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển của các isolates nấm
4.15 ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của các isolates nấm
4.16 Kết quả lây nhiễm các isolates nấm Sclerotium rolfsii Sacc trên
một số cây trồng cạn (trong điều kiện chậu vại) 70 4.17 Hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm Sclerotium rolfsii
4.18 Hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm S rolfsii Sacc hại
4.19 Hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm S rolfsii Sacc hại
4.20 Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride với nấm
Sclerotium rolfsii Sacc hại cà chua trên môi trường PGA 82 4.21 Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride với nấm
Sclerotium rolfsii Sacc hại đậu tương trên môi trường PGA 84 4.22 Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride với nấm
Sclerotium rolfsii Sacc hại dưa chuột trên môi trường PGA 86 4.23 Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride với nấm
Sclerotium rolfsii Sacc hại lạc trên môi trường PGA 88 4.24 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng
trừ bệnh HRGMT hại cà chua trong điều kiện chậu vại 91 4.25 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng
trừ bệnh HRGMT hại đậu tương trong điều kiện chậu vại 94
Trang 84.26 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng
trừ bệnh HRGMT hại d−a chuột trong điều kiện chậu vại 96 4.27 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T.viride phòng
trừ bệnh HRGMT hại lạc trong điều kiện chậu vại (xử lý hạt) 984.28 Hiệu lực phòng trừ của thuốc hóa học Rovral 50W và chế phẩm
sinh học nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh HRGMT
hại cà chua trong điều kiện chậu vại (xử lý hạt) 101
Trang 9Danh mục hình
4.1 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua vụ thu đông năm
4.2 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu tương vụ thu đông
4.3 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại dưa chuột vụ thu đông
4.4 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu đũa vụ thu đông năm
4.5 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại khoai tây (Giống Nicola)
vụ đông năm 2006 tại huyện Từ Sơn và Yên Phong - bắc ninh 504.6 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại cà chua vụ xuân hè năm
4.7 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại đậu tương vụ xuân hè
4.8 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại dưa chuột vụ xuân hè năm
4.9 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc vụ xuân năm 2007 tại
4.10 Kết quả lây nhiễm các isolates nấm S rolfsii Sacc trên một số cây
4.11 Hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm S rolfsii Sacc hại cà
4.12 Hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm S rolfsii Sacc hại đậu
Trang 104.13 Hiệu lực của một số thuốc hoá học với nấm S rolfsii Sacc hại dưa
4.15 Hiệu lực đối kháng của nấm T viride với nấm S rolfsii Sacc hại
4.16 Hiệu lực đối kháng của nấm T viride với nấm S rolfsii Sacc hại
4.17 Hiệu lực đối kháng của nấm T viride với nấm S rolfsii Sacc hại lạc
4.18 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng trừ bệnh HRGMT hại cà chua trong điều kiện chậu vại (xử lý hạt) 92 4.19 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng trừ bệnh HRGMT hại đậu tương trong điều kiện chậu vại (xử lý hạt) 954.20 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng trừ bệnh HRGMT hại dưa chuột trong điều kiện chậu vại (xử lý hạt) 97 4.21 Hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride phòng trừ bệnh HRGMT hại lạc trong điều kiện chậu vại (xử lý hạt) 99 4.22 Hiệu lực phòng trừ của thuốc hóa học Rovral 50W và chế phẩm
sinh học nấm đối kháng T viride với bệnh HRGMT hại cà chua
Trang 111 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Trong nền sản xuất nông nghiệp ngày nay, do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nên đ6 tạo ra một khối lượng lớn sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao và ổn định
Bên cạnh những thành tựu to lớn của ngành sản xuất lương thực đem lại thì việc phát triển các cây trồng cạn như: cà chua, khoai tây, đậu đỗ, dưa chuột, bầu bí, cũng không ngừng được chú trọng đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày càng gia tăng Bởi đây là những cây trồng vừa có giá trị dinh dưỡng cao lại vừa có giá trị kinh tế, chúng không những được dùng để ăn tươi, làm thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày mà còn dùng để chế biến, làm đồ hộp như: mứt bí, mứt cà chua, sữa đậu nành, dầu
đậu tương,v.v
Nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta được tiến hành chủ yếu ở ngoài trời, chịu nhiều sự tác động của điều kiện thiên nhiên nên trong quá trình sản xuất gặp rất nhiều rủi ro như: thiên tai, dịch hại, làm ảnh hưởng đáng kể
đến năng suất, phẩm chất nông sản phẩm Trong đó, nấm bệnh gây hại luôn xảy ra song song cùng với sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng
Từ xưa đến nay, nông nghiệp nước ta giữ một vị trí quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nên thuận lợi cho việc gieo trồng nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt là các loại cây trồng cạn Đồng thời điều kiện thời tiết khí hậu của nước ta cũng rất thuận lợi cho các loài vi sinh vật xâm nhiễm gây hại đối với cây trồng Trong đó các loài nấm gây bệnh là nhóm tác nhân chính gây bệnh trên hầu hết các loại cây trồng, đặc biệt là nhóm nấm đất (Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Fusarium sp, Pythium sp, ) Một trong những loài nấm đất điển hình
Trang 12hại vùng rễ cây trồng cạn là nấm Sclerotium rolfsii Sacc gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng (HRGMT) Nguồn bệnh của nấm tồn tại chủ yếu trong đất, trong tàn dư thực vật, cây ký chủ và trong các vật liệu giống nhiễm bệnh dưới dạng sợi nấm, hạch nấm Hạch nấm tồn tại từ năm này qua năm khác ở tầng đất bề mặt và là nguồn gây bệnh phổ biến cho các cây trồng vụ sau, năm sau Việc
điều tra nghiên cứu tình hình bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại một số cây trồng cạn, mức độ phổ biến và tác hại cũng như nghiên cứu những biện pháp phòng trừ bệnh là hết sức cần thiết
Cho đến nay việc phòng trừ bệnh do các loài nấm đất gây ra bằng thuốc hóa học gặp rất nhiều khó khăn Nhiều loại thuốc hóa học ít có tác dụng phòng trừ nấm gây bệnh, thậm chí còn gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nông sản phẩm gây độc hại cho con người và động vật Điều đó đòi hỏi những nhà khoa học, những nhà Bảo vệ thực vật phải nghiên cứu tìm ra những giải pháp thiết thực trong phòng trừ bệnh hại bảo vệ cây trồng, tăng năng suất chất lượng nông sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường
Ngày nay, việc nghiên cứu phòng trừ dịch hại bằng phương pháp sinh học trong bảo vệ thực vật đ6 được nhiều nước trên thế giới quan tâm ở Hungari, Philippines và Thái Lan đ6 nghiên cứu nấm Trichoderma sp và sản xuất chế phẩm sinh học này để hạn chế những nấm bệnh tồn tại trong đất gây hại cho cây trồng nói chung, như nấm: Rhizoctonia sp, Sclerotium rolfsii, Fusarium oxysporum,v.v
Do đó, quá trình điều tra nghiên cứu xác định tình hình bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại một số cây trồng cạn, mức độ phổ biến và tác hại cũng như nghiên cứu những biện pháp phòng trừ bệnh là hết sức cần thiết Xuất phát từ những nhu cầu bức xúc của thực tiễn sản xuất rau màu hiện nay, được sự phân công của Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, dưới
sự hướng dẫn của TS Đỗ Tấn Dũng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
″″″″ Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii Sacc.) hại một số cây trồng họ cà, họ đậu đỗ, họ bầu bí vùng Hà Nội và phụ cận
vụ thu đông - xuân hè năm 2006 - 2007″″″″
Trang 131 2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra tình hình bệnh HRGMT hại một số cây trồng họ cà, họ
đậu đỗ, họ bầu bí vùng Hà Nội và phụ cận vụ thu đông - xuân hè năm
Trang 142 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh và sự phát triển của bệnh héo rũ gốc mốc trắng
Nấm Sclerotium rolfsii Sacc (S rolfsii Sacc.) gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng là loài nấm đa thực có phạm vi ký chủ rộng, nấm có khả năng gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau thuộc nhiều họ thực vật ở hầu khắp các vùng sinh thái nông nghiệp trên thế giới Các cây trồng thường bị nấm S rolfsii xâm nhiễm gây hại như: cà chua, khoai tây, lạc, đậu đỗ, đậu tương, đậu
đũa, dưa chuột,v.v
Theo Stephen và cộng sự thuộc Đại học Hawaii (2000) [65], trên thế giới đ6 nghiên cứu, xác định được phạm vi ký chủ của nấm hạch Sclerotium rolfsii Sacc với ít nhất 500 loài cây trồng thuộc 100 họ thực vật Những cây
ký chủ mẫn cảm nhất với bệnh gồm: họ cà (cà chua, khoai tây, cà pháo, ), họ hoa thập tự (cải bắp, súp lơ trắng, súp lơ xanh, cải dầu), họ đậu đỗ (đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu lăng), họ bầu bí (dưa chuột, dưa hấu, bí đao, bí ngô, bầu ngô) Thiệt hại lớn nhất do nấm S rolfsii gây ra trên toàn thế giới là ở cây lạc
Một số cây ký chủ được biết đến ở Hawaii bao gồm: hoa cẩm chướng (Danthus caryophyllus L.), ngô (Zea mays L.), cà tím (Solanum melongena L.), hoa cúc (Chrysanthemum morifolium Ram.), các loại cây họ đậu (Phaseolus sp.),.v.v (Jenkins, S.F and C.W Averre - 1986) [47]
Những cây ký chủ khác trên thế giới được biết đến bao gồm: cây linh lăng, ác ti sô, chuối, củ cải đường, cải bắp, xoài, gừng, dứa, hành, cỏ thảm, khoai mỡ, cà rốt, súp lơ, rau cần, hoa cúc, cà phê, bông, tỏi, rau diếp quăn, v.v Nấm này cũng gây hại trên hạt giống của các loại cây ký chủ trên
Trang 15Jennifer Love [48], chuyên gia bệnh cây thuộc Trường đại học Minnesota cho rằng hạch nấm có thể qua đông và sống sót dưới điều kiện
có tuyết bao phủ, cho dù nấm này thường xuất hiện ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Với phạm vi ký chủ rộng, khả năng phát triển nhanh, có khả năng sản sinh hạch nấm chống chịu điều kiện môi trường khắc nghiệt, đ6 góp phần làm gia tăng thiệt hại kinh tế Trên phạm vi toàn cầu nói chung cũng như ở Bắc Carolina nói riêng, thiệt hại do nấm S rolfsii gây ra trên cây lạc là lớn nhất Theo tính toán thống kê của Bộ Nông nghiệp liên bang Hoa Kỳ, riêng năm
1959, thiệt hại do nấm S rolfsii gây ra trên lạc ở đồng bằng duyên hải miền trung khoảng 10 - 20 triệu đôla Mỹ, thiệt hại năng suất trên các cánh đồng dao động từ 1% - 60% (Agrios, G.N., 2001) [29]
Những nghiên cứu mô tả hình thái sợi nấm cho thấy sợi nấm màu trắng phát triển đâm tia trên bề mặt vết bệnh, rồi lan cả xuống mặt đất xung quanh gốc thân Sau đó các sợi nấm đan kết với nhau hình thành hạch nấm Sợi nấm
đa bào, không màu, phân nhánh, có mấu lồi Bệnh lan truyền do quá trình làm
đất và do tồn dư bệnh trong đất, hoặc cây con bị nhiễm bệnh từ giai đoạn vườn
ươm Sự xâm nhiễm của nấm S rolfsii vào mô cây ký chủ xảy ra rất dễ dàng
do nấm tiết ra các enzyme và acid oxalic làm mềm yếu và giết chết mô cây ký chủ (Smith và CTV, 1986) [66]
Kết quả nghiên cứu của Elizabeth J Fichtner [41] thuộc đại học NC State (Hoa Kỳ) cho rằng có ít nhất hai loại sợi nấm của nấm S rolfsii: dạng sợi thô, thẳng, tế bào lớn (kích thước tế bào 2 - 9àm x 150 - 250àm) có hai mấu liên kết tại mỗi vách ngăn nhưng có thể vẫn biểu hiện sự phân nhánh tại mỗi mấu nồi Sự phân nhánh thường cho sợi nấm mảnh (đường kính sợi nấm
Trang 16chỉ khoảng 1,5 - 2,5àm) và có xu hướng phát triển không bình thường, thiếu mấu liên kết nối Dạng sợi mảnh thường được thấy thâm nhập vào giá thể Hạch có hai kiểu nảy mầm: hoặc là các sợi nấm lần lượt phát triển vươn ra khỏi bề mặt hạch phát triển không tập trung, hoặc là một loạt các sợi nấm phát triển phá vỡ hạch gọi là sự nảy mầm đồng loạt Số lượng sợi nấm và năng lượng cần cho sự lây nhiễm do kiểu nảy mầm của hạch quyết định Sự sinh trưởng của sợi nấm lần lượt từ hạch để lây nhiễm vào mô ký chủ cần có nguồn dinh dưỡng vô cơ vì sợi nấm sinh trưởng thưa thớt, không tập trung Tuy nhiên, hạch nảy mầm đồng loạt thì không cần bất cứ một nguồn dinh dưỡng ngoại sinh nào
Đôi khi, nấm S rolfsii xuất hiện giai đoạn sinh sản hữu tính ở mép mô bệnh mà vùng đó bị che bóng, giai đoạn hữu tính có tên là Athelia rolfsii Hai hoặc bốn bào tử không màu vách mỏng được sinh ra ở đầu gai ngắn trên đầu sợi nấm trắng Những gì có thể giúp cho bào tử phát tán được trong điều kiện
đồng ruộng vẫn chưa được biết Có thể bào tử nhẹ quá đến lỗi mà nó có thể bay trong không khí với khoảng cách rất xa để phát tán bào tử Giai đoạn này
ít khi xuất hiện trên đồng ruộng và không phải là nguồn bệnh quan trọng để truyền bệnh cho vụ sau
Townsend và Willetts (1954) [67] nhận thấy trên hạch chín có bốn vùng: vùng có vỏ hạch dày, vùng có vỏ tế bào dày, vùng có vỏ tế bào mỏng, vùng
có lõi bao gồm nhiều sợi nấm nhỏ Hạch có đường kính dao động từ 0,5 - 2,0
mm, bắt đầu hình thành sau 4 - 7 ngày sinh trưởng của sợi nấm, ban đầu là một bề mặt giống như nỉ (hoặc dạ) rồi hạch nhanh chóng hình thành và chuyển màu thành màu nâu sẫm Dạng hạch trên một cây ký chủ thường có
xu hướng có một cấu trúc nhẵn mịn, trái lại những dạng này được sản sinh trong môi trường nuôi cấy lại có vết lõm hoặc có nếp gấp Hạch bao gồm
Trang 17các sợi nấm đan kết lại với nhau tạo thành một cấu trúc được bảo vệ vững chắc và là nguồn lây nhiễm cho vụ sau
Các nghiên cứu trên thế giới đều mô tả rất cụ thể về triệu chứng và phạm vi gây hại của nấm S rolfsii trên các cây trồng khác nhau Nấm S rolfsii lây nhiễm cây con, cây thân thảo, cây thân gỗ, rễ cây có mô mềm, củ hoặc quả Hay thấy nhất là nấm tấn công vào thân dưới của cây, nhưng cũng có thể tấn công vào bất cứ bộ phận nào của cây mẫn cảm khi nó tồn tại lâu dài trong
điều kiện môi trường thuận lợi Nếu là cây thân thảo hoặc cây con thì bị héo
rũ và gục xuống nhanh chóng, còn cây thân gỗ hoặc có libe như cà chua hay
hồ tiêu thì chỉ bị thối phần vỏ thân
Những sợi nấm màu trắng đục này thường lan rộng trên mặt đất Chỉ một thời gian ngắn sau bắt đầu xuất hiện những thể màu trắng, nhỏ, tròn (đường kính khoảng 0,5 - 1,0 mm), mịn được gọi là hạch nấm, sớm trở thành màu nâu vàng nhạt, màu nâu đen rồi màu đen, quá trình này khoảng 1 tuần
đến 10 ngày, hạch là dạng bảo tồn của bệnh, qua đông vẫn sống sót Sợi nấm còn có thể được nhìn thấy ở những mô bị bệnh trên hoặc dưới mặt đất, hoặc trong kẽ hở của đất
Nấm S rolfsii lây nhiễm trên cây thân gỗ thường bắt đầu từ đỉnh sinh trưởng của rễ, ở đỉnh rễ thì sợi nấm vẫn có màu trắng đục và hạch vẫn phát triển ngay tại vị trí bị lây nhiễm khi gặp điều kiện thuận lợi Bộ lá bị héo rũ và
bị chết nhanh chóng như đối với bệnh ở phần thân dưới hoặc bệnh ở các mô
đỉnh sinh trưởng Khi cây một lá mầm như lúa mì và một vài loại cỏ khác bị nhiễm bệnh, triệu chứng và dấu hiệu khác hẳn với những gì đ6 mô tả ở trên
đối với cây hai lá mầm Những vết thương màu nâu xuất hiện ở ngọn và cả ở bên dưới
Nấm thường tấn công vùng thân sát mặt đất, đôi khi nếu gặp điều kiện thích hợp cũng có thể tấn công một số bộ phận khác của cây như: rễ, quả,
Trang 18cuống lá, lá, hoa Dấu hiệu đầu tiên của sự lây nhiễm khó có thể phát hiện
được, vết thương trên thân sát đất có màu nâu đen, hoặc chỉ tấn công vào phần thân dưới mặt đất; triệu chứng đầu tiên có thể quan sát được bằng mắt là bộ lá dần biến vàng và héo rũ Tiếp sau đó có sự xuất hiện của rất nhiều sợi nấm màu trắng mịn trên những mô bị nhiễm và cả mặt đất Hạch nấm rất đồng đều
được hình thành trên bề mặt tản nấm do các sợi nấm đan kết lại với nhau: hạch tròn, ban đầu trắng sau đó nâu vàng nhạt rồi nâu vàng sẫm và đen Hạch chín giống như hạt cải Sợi nấm đôi khi cũng sinh bào tử đảm (giai đoạn sinh sản hữu tính) ở mép mô bệnh trong điều kiện ẩm ướt, nhưng dạng này thường không phổ biến
Cây con rất dễ bị nhiễm bệnh và chết nhanh chóng ngay sau khi bị nấm xâm nhiễm với những cây lớn hơn, các mô bệnh tạo thành vành đai bao quanh gốc thân sát mặt đất, cây dần dần chết héo Những mô bị xâm nhập thường có màu nâu nhạt và mềm, nhưng không ủng nước
Nấm S rolfsii có thể sinh trưởng phát triển và tấn công vào bộ phận cây sát mặt đất Trước khi nấm xâm nhập vào mô ký chủ, chúng sản sinh tản nấm trên bề mặt gốc thân, quá trình tấn công có thể mất từ 2 đến 10 ngày
Hall (1991) [43] cho thấy S rolfsii là loài nấm có phổ ký chủ rộng, chúng có khả năng lây nhiễm trên 500 loài ký chủ thuộc lớp 1 lá mầm và 2 lá mầm, đặc biệt là những cây thuộc họ cà, họ bầu bí và một số loài rau trồng luân canh với cây họ đậu Nhiều nghiên cứu về nấm S rolfsii cho thấy: Nấm S rolfsii có khả năng sản sinh ra một số lượng lớn acid oxalic Độc tố này xâm nhập làm biến đổi màu trên hạt và gây nên những vết đốm chết hoại trên lá ở giai đoạn đầu phát triển bệnh (N Kokalis et al.,1984) [42] Sợi nấm màu trắng phát triển trên bề mặt vết bệnh, từ sợi nấm hình thành nhiều hạch nấm Khi mới hình thành, hạch nấm hình cầu, kích thước 1 - 2 mm có màu trắng, sau chuyển sang màu vàng đến nâu Hạch nấm không chỉ tồn tại trên cây, quả,
Trang 19hạt, đất trồng lạc mà còn có mặt trên tàn dư của các cây trồng khác Đặc biệt hạch nấm có thể tồn tại lâu dài trong tầng đất canh tác Sức sống của hạch trong đất là 56% - 73% sau 8 - 10 tháng (Beute, 1981) [35]
Nấm S rolfsii có thể sống sót và phát triển mạnh mẽ trong phạm vi môi trường rất rộng nấm có thể sinh trưởng trong phạm vi pH rộng, nhất là trong
đất có tính acid Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất trong khoảng pH từ 3 - 5, hạch có thể nảy mầm trong điều kiện pH từ 2 - 5 Khi pH > 7 sẽ kìm h6m sự nảy mầm của hạch Nhiệt độ thích hợp nhất từ 250C - 350C, ít hoặc ngừng phát triển ở nhiệt độ dưới 100C hoặc trên 400C ở nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng sợi nấm thì khả năng hình thành hạch cũng lớn nhất Sợi nấm bị tiêu diệt ở 00C, nhưng hạch có thể sống sót ở -100C Sợi nấm phát triển thuận lợi nhất cần có độ ẩm cao Khi độ ẩm dưới b6o hòa thì hạch nấm không thể nảy mầm (Stephen Ferreia và Coworker, 2000) [65] Tuy nhiên, có một số nghiên cứu đ6 khẳng định hạch nảy mầm tốt nhất ở ẩm độ 25% - 35% Sợi nấm phát triển nhanh chóng và hạch nảy mầm rất tốt trong điều kiện có ánh sáng liên tục, nếu không có ánh sáng mà những điều kiện khác vẫn thích hợp thì chúng vẫn có thể xuất hiện
Trong những năm gần đây bệnh do nấm S rolfsii Sacc gây ra là một loại bệnh nghiêm trọng, mức tổn thất gây ra từ 10% - 50% (Jenkins, S.F., 1986) [47]
Mức tổn thất về năng suất do bệnh gây ra phụ thuộc vào số lượng nguồn bệnh trong đất (Backman P.A và CTV, 1976) [31] Mức giảm năng suất trung bình do bệnh gây ra là 49 kg/ha, tuy nhiên mức giảm năng suất lạc biến động
từ 12 - 91 kg/ha (Beute, M.K và CTV, 1979) [34]
Trang 20ở một số chủng nấm S rolfsii khi nuôi cấy trong ống nghiệm có giai
đoạn hình thành đảm Giai đoạn này gọi là Athelia rolfsii hay còn gọi là Corticium rolfsii Curzi
Theo Garren, K.H (1959) [42] nấm S rolfsii có sợi nấm không màu, đa bào, phát triển mạnh trên bề mặt vết bệnh, từ sợi nấm hình thành các hạch nấm, lúc đầu hạch nấm màu trắng khi còn non; về sau chuyển thành màu nâu, nâu đậm, đường kính dao động từ 1 - 2 mm Hạch nấm có thể tồn tại lâu dài trong đất, trong tàn dư cây bệnh Bệnh lan truyền do quá trình làm đất và do cây trồng đ6 nhiễm bệnh Nấm gây bệnh có thể sử dụng chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng Nấm sản sinh ra acid oxalic làm men phân hủy mô tế bào cây ký chủ Nấm S rolfsii sinh trưởng thích hợp ở 25oC - 30oC, ngừng sinh trưởng ở 40oC, nguồn bệnh tồn tại thuận lợi trong điều kiện độ ẩm đất thấp (Prakash và CTV, 1976) [56]
Năm 2000, Rangeshwaran, R và CTV [59] đ6 tiến hành thí nghiệm lây bệnh nhân tạo bằng hạch nấm S rolfsii trên cây cà chua ở giai đoạn quả xanh, quả chín Sau đó quan sát thời gian và tỷ lệ nhiễm bệnh ở các ngưỡng nhiệt
độ 20oC, 25oC, 30oC; kết quả là cà chua ở giai đoạn quả chín có tỷ lệ bệnh cao hơn và thời gian bị thối thân nhanh hơn cà chua ở giai đoạn quả xanh, nhiệt
độ thích hợp nhất cho bệnh sinh trưởng phát triển là 25oC - 30oC
Nấm S rolfsii có khả năng sinh trưởng và hình thành hạch ở hầu hết các loại đất khác nhau, pH khác nhau và nguồn dinh dưỡng khác nhau Nhưng nấm sinh trưởng kém thuận lợi trên đất thịt nhiều mùn có pH = 7,96 Từ đó cho thấy ảnh hưởng của pH đến sự hình thành hạch nấm là quan trọng hơn so với thành phần cơ giới đất và nguồn dinh dưỡng trong đất (Rodriguez-Kabana
và CTV, 1987) [61]
Trang 21Theo Okabe Ikeko (2000) [54], ở Nhật bản đ6 xác định nấm S rolfsii
có 5 nhóm là: 1, 2, 3, 4, 5 Trong đó nhóm 1 rất phổ biến, gây hại ở các vùng
địa lý có nhiệt độ cao từ 28oC - 30oC Bệnh xuất hiện ở phần rễ gốc và thân sát mặt đất, vết bệnh màu nâu đen Trên vết bệnh có lớp mốc trắng giống như bông phủ kín bề mặt đôi khi lan cả ra mặt đất, cây bị héo, từ lớp nấm hình thành các hạch nấm
Bằng những phân tích HPLC, Hallton (1995) [44] lai các isolate nấm S rolfsii thu thập từ khắp các vùng khác nhau của ấn Độ, tác giả đ6 xác định
được sự đa dạng di truyền của các isolate Chúng khác nhau ở thành phần và liều lượng các acid: gallic, oxalic, ferulic, indol-3-acetic acid, chlorogennic, cinnamic Trong quá trình hình thành hạch có sự tiết dịch (hạch tiết dịch sau 7
- 10 ngày cấy) và phân tích thành phần dịch chiết này cộng với việc lai các isolate, kết quả cho thấy các cặp lai nếu cùng isolate thì chúng sinh trưởng đan xen vào nhau, nếu không cùng isolate thì chúng tạo thành dải phân cách giữa hai isolate Tuy nhiên có ít hạch được hình thành sau đó tại vùng phân giải của một số cặp isolate nhưng không đạt được kích thước đầy đủ như đối với hạch
được hình thành ở bên trong vùng phân giải ở Mỹ, sự đa dạng di truyền được phân thành hai chủng Sclerotium rolfsii và Sclerotium delphinii (Hallton 1995) [44]
Bệnh héo rũ gốc gốc mốc trắng thường xuất hiện ở những vùng nhiệt
đới, cận nhiệt đới và những vùng có khí hậu ấm áp khác, đặc biệt ở miền nam Hoa Kỳ, trung Mỹ và nam Mỹ, tây ấn Độ, các nước nam Âu nằm trên bờ
Địa Trung Hải, châu Phi, Nhật Bản, Philippines, Hawaii Bệnh này hiếm khi xuất hiện ở những nơi có nhiệt độ trung bình mùa đông dưới 00C
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Bệnh hại trên rất nhiều loại cây trồng khác nhau
Trang 22Nấm S rolfsii Sacc ưa độ ẩm và nhiệt độ cao, chúng sử dụng chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng tạo ra men phân huỷ mô vật chủ Nấm thường tấn công những mô già trước, sau đó lây sang các mô khác Nấm tồn tại trong đất
và tàn dư cây bệnh, sau đó lan truyền qua đất, dòng nước hoặc do giống nhiễm bệnh (Punja, Z K., Carter, 1986) [58]
Thiệt hại do bệnh héo rũ gốc mốc trắng (HRGMT) gây ra hàng năm trên thế giới là rất lớn Theo Branch W.D & Brunemen T.B (1993) [36], ở vùng Georga - Mỹ thiệt hại do bệnh HRGMT gây ra hàng năm ước tính lên tới 43 triệu đô la
Bệnh HRGMT phát sinh gây hại ở hầu hết các nước trên thế giới và gây hại chủ yếu trên cây họ cà, họ đậu Mức độ tổn thất về năng suất do bệnh gây ra hàng năm khoảng 25% - 80% (Jackson C.R, 1962) [46]
Tại trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu á tại Đài Loan, người ta
đ6 khảo nghiệm tập đoàn 50 dòng, giống cà chua, kết quả cho thấy hầu hết giống đều bị nhiễm bệnh HRGMT do nấm S rolfsii gây ra (Mai Thị Phương Anh, 1996) [50]
Do khả năng thích ứng với nhiệt độ của nấm S rolfsii cao nên bệnh HRGMT xuất hiện trên phạm vi rộng và là nguyên nhân gây hại nghiêm trọng
ở những nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Ngoài khả năng gây bệnh trên cà chua, nấm S rolfsii còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác như cây lạc, làm giảm năng suất 10% - 25% Khi bệnh gây hại nặng có thể làm giảm năng suất tới 80% (Mehan, 1995) [51]
Thiệt hại về năng suất của cây trồng còn cao hơn khi nấm S rolfsii cùng gây hại với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa nấm S rolfsii với tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne incognita và biện pháp phòng trừ chúng cũng được nhiều tác giả đề cập tới Phổ ký chủ của
Trang 23nấm S rolfsii được mở rộng thêm khi có mặt tuyến trùng cùng tấn công, xâm nhiễm và gây hại Sản xuất đỗ xanh gặp nhiều khó khăn do sự gây hại của tuyến trùng M javannica và nấm S rolfsii (ở đậu tương là loài M arenaria) (Minton & CTV, 1986) [52]
2.1.2 Các biện pháp phòng chống bệnh HRGMT
Việc phòng trừ nấm S rolfsii gặp nhiều khó khăn do có sự hình thành hạch nấm Các biện pháp được khuyến khích áp dụng vẫn thường là biện pháp hoá học, biện pháp canh tác kết hợp luân canh cây trồng, biện pháp sinh học trong đó những nghiên cứu về biện pháp sinh học sử dụng nấm đối kháng Trichoderma viride đạt được nhiều thành tựu và có nhiều ý nghĩa thực tiễn Cho đến nay trên thế giới đ6 áp dụng nhiều biện pháp phòng chống bệnh HRGMT và đ6 đạt được hiệu quả khá rõ rệt
Việc phòng trừ nấm S rolfsii phải có sự kết hợp biện pháp canh tác, biện pháp sinh học và biện pháp hoá học với nhau Về biện pháp canh tác như: cày
đất sâu 20cm và lật úp, lạc vụ hè bị nhiễm bệnh ít hơn trên ruộng trồng hành
vụ đông Rõ ràng, hành đ6 tiết dịch làm giảm sự lây nhiễm nấm trong đất Phơi đất hoặc dùng sức nóng của mặt trời có liên quan chặt chẽ với các biện pháp phòng trừ nấm S rolfsii Hạch nấm vẫn có thể sinh trưởng được trong ống nghiệm sau 12 tiếng để ở 450C, nhưng bị chết sau 4 - 6h ở nhiệt độ 500C
và chỉ sống sót trong 3h tại nhiệt độ 550C Che phủ đất bằng linon trong suốt
vụ trồng làm tăng nhiệt độ đất và hạch sẽ bị tiêu diệt khi đủ thời gian cần thiết Hầu hết những khu đồng được thử nghiệm đều cho thấy hạch bị r6 ra khi
ở độ sâu không quá 1cm, nhưng để trừ hạch triệt để cần vùi sâu hơn (Stephen
và cộng sự, 2000) [65]
Trang 24Biện pháp luân canh cây trồng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình bảo tồn của nấm S rolfsii Số lượng hạch của nấm S rolfsii tồn tại trong đất với tỷ
lệ thấp nhất khi tiến hành luân canh lạc với ngô (Wokocha, R.C., 1988) [68] Khi trồng luân canh cây lạc với bông và đậu tương thì tỷ lệ bệnh giảm rõ rệt so với khi chỉ trồng độc canh cây lạc (Rodriguez Kabana, 1987) [61] Ngoài biện pháp luân canh, biện pháp sử dụng giống chống bệnh cũng được
áp dụng trong phòng trừ bệnh HRGMT như một số giống cây trồng: giống lạc kháng (Branch, 1994) [36] Một số thuốc hóa học cũng được sử dụng để phòng trừ nấm S rolfsii có hiệu quả như: Carbendazim (Singh & CTV, 1991) [64], Triadimenol (Sarma & CTV, 2002) [63], Benomyl (Rangeshwaran, R and R.D Prasad, 2000) [59], Mancozeb (Singh & CTV, 1991) [64]
Để phòng trừ nấm S rolfsii Sacc., biện pháp có hiệu quả nhất vẫn là sử dụng thuốc hoá học, tuy nhiên biện pháp này không đem lại những lợi ích tốt Biện pháp sinh học phòng trừ nấm S rolfsii cũng được áp dụng và bước
đầu đem lại hiệu quả Hiện nay nhiều nước trên thế giới đ6 và đang nghiên cứu, ứng dụng một loài nấm đối kháng có tên Trichoderma sp., loài nấm này
có khả năng ức chế, cạnh tranh, tiêu diệt được nhiều loài nấm hại cây trồng Trên thế giới, người đầu tiên có ý định sử dụng nấm Trichoderma sp đối kháng với nấm gây bệnh hại cây trồng là Weding vào đầu thập kỷ 30 Nấm Trichoderma sp thuộc bộ Hyphales, lớp nấm bất toàn (Fungi inperfect), trong
đó có 3 chủng được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất là Trichoderma viride (T viride), Trichoderma harzianum, Trichoderma hamatum Nấm Trichoderma sp là loại nấm sống bán hoại sinh trong đất, trong tàn dư cây thực vật (Saito, 1962) [62]
Trang 25Nấm Trichoderma spp được biết đến là một loại nấm ký sinh nhiều loại nấm hại cây trồng T harzianum xâm chiếm sợi nấm S rolfsii, làm ngắt qu6ng
sự sinh trưởng của sợi nấm, rồi giết chết sợi nấm T viride có hiệu quả tốt, đặc biệt khi kết hợp sử dụng với thuốc trừ cỏ hoặc thuốc trừ dịch hại khác Khi kết hợp với EPTC (một loại thuốc trừ cỏ) trong đất đ6 được hấp, hoạt động của nấm S rolfsii bị hạn chế, ngay cả sử dụng chỉ EPTC thôi cũng có tác dụng làm giảm sự phát triển của nguồn bệnh Cơ chế đối kháng của nấm Trichoderma sp với nấm gây bệnh hại cây trồng chủ yếu là cơ chế ký sinh, tiêu diệt sợi nấm (Inbar, 1996) [45] hay cơ chế kháng sinh, cơ chế cạnh tranh Nấm Trichoderma sp sinh ra một số chất kháng sinh như: Gliotoxin, Viridin,
U - 21693, Trichoderlin và Dermalin Các chất kháng sinh bay hơi và không bay hơi do nấm Trichoderma sp tiết ra đều ức chế sự phát triển sợi nấm của nấm gây bệnh nhưng với mức độ khác nhau Nấm Trichoderma sp có thể sinh
ra những loại men gây suy biến thành sợi nấm gây bệnh cây như men: β - (1 - 3) Glucolaza và Chitinaza (Chet & CTV, 1981; ) [39]
Hiện nay có nhiều nước sử dụng nấm Trichoderma sp để phòng trừ bệnh hại cây trồng như: Nga, Anh, Mỹ, Thái Lan, ấn Độ, Trung Quốc
Các tác giả Bulluck III, L.R và J.B Ristaino (2001) [38] của Bộ môn Bệnh cây trường đại học Bắc Carolina đ6 đánh giá hiệu quả từ việc bổ sung phân bón tổng hợp, phân bón hữu cơ đến sự phát triển của bệnh héo rũ trắng gốc đến quần thể vi sinh vật đất và tác động đến năng suất khoai tây đ6 được
xử lý bệnh Theo đó, bón vào đất các loại phân bón bao gồm: b6 từ máy tỉa bông, phân chuồng, phân xanh từ cây đậu tằm, hoặc phân bón tổng hợp được bón vào đất, hoặc dùng tro lấy từ cây lúa mỳ, ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ lây nhiễm bệnh HRGMT do nấm S rolfsii gây ra đến năng suất khoai tây và quần thể vi sinh vật đất Năm 1997 một kết quả nghiên cứu có ý nghĩa cho thấy, tỷ
lệ nhiễm bệnh là 67% đối với đất bạc màu có bón phân bón tổng hợp, trong
Trang 26khi đó trên đất có che phủ bề mặt bằng b6 được lấy từ máy tỉa bông, phân chuồng, hay phân xanh từ cây đậu tằm thì tỷ lệ nhiễm bệnh lần lượt là 3%, 12%, 16%, năng suất cũng đạt cao nhất Những kết quả có ý nghĩa năm 1998 cho thấy, tỷ lệ nhiễm bệnh trên đất bón phân bón tổng hợp là 61%, còn trên
đất phủ bề mặt bằng b6 lấy từ máy tỉa bông, phân chuồng, phân xanh cây đậu tằm lần lượt là 23%, 44%, 53%, nhưng năng suất giữa 3 công thức bón phân lại không có sự khác biệt nhiều lắm Mật độ cây con đạt cao nhất trên nền đất phủ bề mặt bằng b6 từ máy tỉa bông, phân chuồng, phân xanh cộng với có xử
lý nấm đối kháng T viride trong cả hai năm
Ristaino, Perry và Lumsden (1991) [60] cho rằng kết hợp biện pháp canh tác với việc sử dụng nấm đối kháng Gliocladium virens có tiềm năng lớn cho chiến lược phòng trừ nấm S rolfsii trên khoai tây ở Bắc Carolina Gliocladium virens có ý nghĩa trong việc giảm số lượng hạch nấm S rolfsii từ 100% và 96% vào các năm 1988, 1989 xuống còn 56% vào năm 1990, trong khi đó chỉ có biện pháp canh tác mà không sử dụng nấm Gliocladium virens thì số lượng hạch giảm xuống chỉ còn 62% vào năm 1990
ở Bắc Nigeria, theo Wokocha R.C & CTV (1990) [70]thí nghiệm thực hiện trong nhà lưới cho thấy nấm đối kháng Trichoderma sp làm giảm hoàn toàn tỷ lệ bệnh thối gốc khi lây nhiễm đồng thời hoặc lây nhiễm Trichoderma
sp trước 3 ngày Khi tiến hành thí nghiệm ở cả 2 mùa vụ: mùa mưa và mùa khô, lây nhiễm đồng thời cả T viride và S rolfsii thì tỷ lệ bệnh từ 2,6% - 4,3%; trong khi đó chỉ lây nhiễm S rolfsii thì tỷ lệ bệnh là 88,0%
Một số kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nấm đối kháng T viride không chỉ có khả năng đối kháng cao với nấm gây bệnh mà còn là phân vi sinh có tác dụng kích thích sự sinh trưởng phát triển của cây trồng như: làm tăng số lượng cây mọc, chiều dài thân, diện tích lá và tăng trọng lượng chất khô Các
Trang 27tác giả còn cho thấy cơ chế tác động còn do nấm đối kháng T viride đ6 ức chế một số nấm trong vùng rễ hoặc nó còn sản sinh các hoocmon thực vật hay các vitamin hoặc biến đổi các chất thành dạng dễ tiêu cho cây trồng Nhiều nước trên thế giới đ6 sản xuất và ứng dụng thành công các dạng chế phẩm sinh học khác nhau có nguồn gốc từ T viride Một số nước đ6 sản xuất hàng loạt và đ6 thương mại hóa các sản phẩm này Các nước đ6 sử dụng các nguồn nguyên liệu khác nhau để nhân nuôi nấm T viride như: Israrel dùng cám lúa mỳ hoặc than bùn, ở Pháp dùng hạt yến mạch, ở ấn Độ dùng phế liệu trong chế biến nông sản (vỏ cà phê), ở Mỹ lại dùng cám, than bùn hoặc dùng cám và mạt cưa
để nhân nuôi nấm đối kháng
Các tác giả Prasun K Mukherjee và Kanthadai Raghu (2004) [57] thuộc trung tâm nghiên cứu phân tử Bhabha - ấn Độ, bộ môn Nông nghiệp phân tử cho rằng: nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng ức chế của nấm Trichoderma sp đối với nấm S rolfsii Kết quả nghiên cứu cho thấy nấm Trichoderma sp và nấm S rolfsii phát triển tốt nhất ở hai ngưỡng nhiệt độ khác nhau: nấm gây bệnh phát triển tốt nhất ở 300C - 350C trong khi đó nấm
đối kháng phát triển tốt nhất ở 250C - 300C Trên môi trường nuôi cấy, nấm Trichoderma phát triển lan lên trên nấm S rolfsii ở 250C và 300C, nhưng ở
350C và 370C thì nấm S rolfsii phát triển lan lên trên tản nấm Trichoderma Nấm Trichoderma sản sinh các chất trung gian để sản sinh độc tố nấm với mức độ đậm đặc hơn và nhiều hơn trong môi trường lỏng ở nhiệt độ cao Các thí nghiệm sinh học đ6 chứng tỏ nấm Trichoderma không có hoặc có hiệu quả ức chế nấm S rolfsii rất ít ở nhiệt độ dưới 300C Do đó, nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định khi áp dụng biện pháp sinh học đối với nấm S rolfsii
Các biện pháp hoá học bao gồm tẩy trùng các vật liệu làm giống bằng hoá chất, điều chỉnh pH đất bằng cách bón vôi, điều chỉnh chế độ bón phân,
Trang 28dùng thuốc trừ cỏ để diệt cỏ dại Formalin, chlorobromopropene và methyl bromide là những loại thuốc xông hơi có nhiều hứa hẹn nhất để xử lý luống gieo hạt hoặc những cánh đồng trồng cây có giá trị
Các loại thuốc xử lý trước khi trồng và kỹ thuật áp dụng: thuốc xông hơi như metamsodium (Vapam), Vorlex, methyl bromide, chloropicrin dùng
để xử lý đất trồng sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh héo rũ gốc mốc trắng
Có sáu loại thuốc xử lý nấm được thử nghiệm trên cà chua (Aatopam-N, Aldrex T, Calixin M, PCNB, captan và captafol) ở liều lượng 200mg a.i/l dùng để xông hơi vào đất trước và sau khi trồng Chỉ có thuốc xông hơi trước khi trồng là có hiệu quả và chỉ có PCNB có tác dụng rõ rệt khi xử lý trước trồng 10 ngày
Cây cà chua được xử lý T viride và thuốc hoá học Quintozene thì không
bị bệnh; xử lý T viride và thuốc hoá học Captan thì tỷ lệ bệnh là 16,4%; xử lý
T viride và thuốc hoá học Thiuram thì tỷ lệ bệnh là 19,0% Như vậy nấm T viride đ6 tạo ra một hiệu ứng cộng hợp làm tăng hiệu quả phòng chống của thuốc Quintozene cao hơn T viride với thuốc khác Có thể sử dụng thuốc Carbendazim 0,15% (Narain et al.,1990), Rovral, Benomyl để xử lý hạt giống hoặc thuốc trừ tuyến trùng để hạn chế sự phát sinh phát triển của bệnh trên
đồng ruộng (Wokocha R.C, 1990) [58]
Dalvi, M.B; Raut, S.P, (1987) [40] cho biết: Các thuốc Brassicol, Rovral, Captan, Granosan Gn, Dithane M 45, Carboxin có thể phòng trừ được bệnh bằng cách xử lý khô hạt giống với liều lượng 1 kg thuốc/tấn hạt Dalvi, M.B và Raut, S.P (1987) [40] đ6 tiến hành sử dụng 6 loại thuốc trừ nấm để xử lý hạt giống Kết quả là Quitozene, Emisan 6, Hexathir và Carboxin có hiệu quả kìm h6m sự phát triển của sợi nấm và sự hình thành hạch nấm cao hơn Hexacap và Mancozeb
Trang 292.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh héo rũ gốc mốc trắng đ6 được nghiên cứu ở nước ta, đ6 xác
định do nấm S rolfsii Sacc gây ra Từ vết bệnh có những đám sợi nấm trắng xốp như bông bao phủ Từ các sợi nấm hình thành nên các hạch nấm kích thước 0,5 - 1 mm Ban đầu hạch nấm màu trắng, sau chuyển sang màu vàng và cuối cùng là màu nâu Hạch nấm là nguồn bệnh của năm sau (Lê Lương Tề 1997) [16]
Triệu chứng ban đầu là những mô bị thẫm nước xuất hiện ngay trên thân sát mặt đất Sự lây nhiễm điển hình sẽ gia tăng tại vị trí này khi độ ẩm tăng và ngay lập tức sẽ liên kết giữa mô bệnh với mô khoẻ ngay bên trên vết bệnh Từ điểm này mầm bệnh sẽ lan rộng xuống thân rễ hoặc lan lên những bộ phận bị che bóng ít ánh sáng Cuống lá có thể bị thối xung quanh gốc cuống,
là nguyên nhân gây ra héo rũ và vàng lá ở những lá phía dưới Các mô ở thân
bị nhiễm bệnh chuyển từ màu nâu sáng cho đến màu nâu sẫm và tấn công vào bên trong thân thì sẽ làm cho cây gục xuống Nấm bệnh thường tạo thành vòng đai xung quanh thân sát mặt đất và những sợi nấm màu trắng có thể phát triển từ thân lan cả ra mặt đất Những hạch nhỏ hình cầu, đường kính từ 1 - 2
mm, ban đầu màu trắng sau đó màu nâu, sớm hình thành ngay trên mặt đất và những phần bị bệnh Cây bị bệnh có thể bị chết trong vài ngày
Loài Sclerotium rolfsii là nấm đảm và sợi nấm trắng nhỏ, hạch nấm được tạo ra do các sợi nấm đan kết với nhau, có đường kính dao động trong khoảng 0,5 - 1,5 mm Nấm S rolfsii có thể dễ dàng sinh trưởng phát triển trên môi trường PDA (khoai tây, dextrose, agar) ở nhiệt độ 250C - 350C
Phạm vi phân bố và phạm vi ký chủ của nấm S rolfsii ở Việt Nam được phân theo loại cây trồng bị hại theo từng tỉnh như sau:
+ Đậu xanh: ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Vĩnh Phúc
Trang 30+ Ngô: Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc
+ Hành: ở Bắc Ninh (chủng Sclerotium cepivorum)
+ Lạc: ở Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tĩnh + Dứa: Ninh Bình
+ Khoai tây: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nôi và một số tỉnh khác
+ Lúa: Ninh Bình, Lào Cai, Hà Nội
+ Đậu tương: ở Hà Nội và nhiều tỉnh khác
+ Khoai sọ: Bắc Giang, Hà Nội
+ Cà chua: Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc
+ Bầu, bí: Vĩnh Phúc, Hà Nội
Bệnh này còn gặp trên nhiều loại cây trồng khác như: rau xà lách, vừng, dưa hấu, dưa lê, các cây thuộc họ bầu bí, cải bắp, súp lơ, xu hào và các cây dược liệu
Với điều kiện thời tiết ấm, nóng, độ ẩm cao rất thuận lợi cho bệnh phát triển Nấm S rolfsii có thể sống sót qua nhiều năm nhờ có hạch nấm tồn tại trong đất hoặc trên tàn dư cây bệnh Nấm sinh trưởng thuận lợi nhất ở 300C, kém phát triển khi nhiệt độ dưới 150C hoặc trên 370C Những hợp chất dễ bay hơi được sản sinh bởi các mô già cỗi của cây ký chủ sẽ kích thích hạch nảy mầm Nấm sau đó có thể xâm nhiễm trực tiếp vào mô cây ký chủ và sản sinh enzyme cellulolytic và enzyme pectinolytic và cả acid oxalic Nấm có thể phát tán nhờ các nông cụ, dụng cụ làm đất hoặc dòng nước chảy hoặc lây nhiễm ngay từ giai đoạn cây con đưa từ vườn ươm ra trồng ngoài đồng ruộng Cách thức gieo hạt cũng có thể có tác động đến sự phân bố của bệnh ngay trong một khu đồng
Sự giảm tỷ lệ lây nhiễm bệnh do nấm S rolfsii ở đồng bằng Sông Hồng ở miền bắc Việt Nam được cho rằng đó là kết quả tất yếu của việc luân phiên
Trang 31cây trồng, từ việc luân canh cây lúa truyền thống rồi lại tiếp tục trồng rau Cấy hai vụ lúa và một vụ rau có thể là lý do làm giảm sự sống sót của hạch trên
đồng ruộng giữa hai vụ trồng rau
Nấm S rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng là loài đa ký chủ, phân bố rộng và gây hại trên nhiều loại cây trồng thuộc nhiều họ thực vật khác nhau:
họ cà, họ đậu đỗ, họ bầu bí,v.v
Nấm S rolfsii là loài nấm đa thực, phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất là: 25oC - 30oC, ẩm độ tương đối cao và độ pH từ 6,0 - 7,0 Tản nấm phát triển mạnh, sợi nấm đa bào, không màu, hạch nấm
được hình thành trên bộ phận bị hại, có dạng hình cầu nhỏ như hạt cải, màu vàng nâu đến nâu đen (Đỗ Tấn Dũng, 2001) [3]
Nấm có thể tồn tại trong đất và tàn dư cây bệnh dưới dạng hạch nấm và sợi nấm Bệnh truyền lan do quá trình làm đất hoặc vật liệu giống nhiễm bệnh Bệnh phát sinh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng nhưng mức độ khác nhau Bệnh phá hại ở tất cả các thời vụ gieo trồng nhưng thời kỳ gây hại nặng vào các tháng 4, 5 trong vụ xuân và tháng 8, 9, 10 trong vụ mùa trên hầu hết các giống cà chua, đậu tương, lạc, đang trồng ngoài sản xuất đều có thể bị nhiễm bệnh, mức độ tác hại của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh thái như: điều kiện ngoại cảnh, thành phần cơ giới đất, chế độ chăm sóc, chế độ canh tác, phân bón,v.v
Cây trồng khi mới bị bệnh thường bị héo rũ, phần thân và lá trên mặt
đất bị thối và g6y nát Giai đoạn cuối cây bị đổ rạp và chết Trên cây bị bệnh,
ở phần gốc thân và phần mặt đất xung quanh hình thành rất nhiều hạch nhỏ có màu trắng khi còn non, màu nâu khi đ6 thành thục Cùng với sự xuất hiện của hạch nấm, các sợi nấm lan rộng trên mặt đất (Nguyễn Kim Vân & CTV, 2000) [22]
Trang 32Khi cây cà chua bị bệnh HRGMT ở giai đoạn vườn ươm hoặc từ khi trồng đến giai đoạn ra chùm hoa đầu nở thì cây sẽ bị chết héo Nếu cây nhiễm bệnh muộn ở giai đoạn chớm ra quả lứa đầu, sau trồng 60 - 70 ngày thì cây cũng bị héo rũ, quả chín ép không sử dụng được Còn nếu cây bị nhiễm muộn vào giai đoạn quả non thì cây thường chết héo, năng suất có thể giảm 61,6%
so với cây khỏe (Nguyễn Văn Viên, 1999) [23]
Việc phòng trừ có nhiều thuận lợi khi luân canh cây lúa với rau, hoặc những cây trồng cạn khác Tỷ lệ sống sót của hạch nấm giảm đáng kể trong
đất ngập nước Chu kỳ bệnh cũng bị phá vỡ khi luân canh cây trồng cạn với những cây trồng không phải là ký chủ của nấm S rolfsii Khoai mỡ và khoai lang là hai loại cây trồng cạn điển hình ở Việt Nam có thể luân canh được với các cây trồng cạn là ký chủ của nấm S rolfsii, vì hai loại cây trồng này vẫn chưa được tìm thấy có bất cứ triệu chứng gây hại nào do nấm S rolfsii
Việc vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch và đốt tàn dư cây bệnh đóng vai trò quan trọng vì đó sẽ là nguồn lây bệnh cho vụ sau Cày đất sâu và lật úp cũng
sẽ làm giảm tỷ lệ hạch sống sót ở vụ sau Khi điều khiển độ pH đất lên tới 7,0 cũng hạn chế được sự phát triển của nấm S rolfsii
Bệnh HRGMT gây hại trên lạc có xu hướng tăng từ khi cây ra hoa đến khi cây làm quả chín Khác với bệnh lở cổ rễ, héo rũ gốc mốc đen, héo vàng, tái xanh lại có xu hướng giảm Tỷ lệ bệnh HRGMT trên một số vùng sinh thái khác nhau là khác nhau: đất đồi 1 vụ lạc có tỷ lệ bệnh là 3,7%; đất cát là 6,31%; đất nội đồng là 3,24% (Lê Như Cương, 2004) [2]
Bệnh HRGMT thường phát sinh vào hai thời kỳ trong năm: thời kỳ thứ nhất khoảng 11/4 - 1/6 bệnh hại cà chua xuân hè cuối vụ, thời kỳ thứ 2 khoảng 9/9 - 8/11 bệnh hại cà chua vụ đông sớm, đặc biệt bệnh thường phát triển
Trang 33mạnh trong khoảng từ 9/9 đến cuối tháng 9 vào giai đoạn cà chua đang ra hoa
đến hình thành quả non (Nguyễn Văn Viên, 1999) [23]
Kết quả điều tra trên cây cà chua vùng Hà nội và phụ cận trong nhiều năm qua cho thấy bệnh HRGMT là rất phổ biến, các vùng trồng cà chua bị nhiễm bệnh này như: Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm (Hà Nội); Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ (Hưng Yên); An Hải, Tiên L6ng (Hải Phòng); Việt Yên, Thị x6 Bắc Giang, Lục Nam (Bắc Giang); Võ Cường - Thị x6 Bắc Ninh (Bắc Ninh) Bệnh HRGMT thường xuất hiện sau trồng 2 - 3 tuần trong vụ hè thu, giai đoạn cây ra hoa đến khi thu hoạch quả (cà chua sớm, vụ muộn), có năm còn hại cà chua chính vụ khi thời tiết ấm và nhiệt độ mùa đông cao (vụ đông xuân năm 2003) Bệnh HRGMT xuất hiện trên giống cà chua Pháp là 42,3%; các giống khác tỷ lệ bệnh là 16% - 35% Tỷ lệ bệnh HRGMT ở các vùng trồng cà chua ngoại thành Hà Nội chiếm cao nhất trên đất vàn cao (31,6% - 51,5%), trên đất vàn và vàn thấp nhẹ hơn (Ngô Thị Xuyên, 2004) [28]
Bệnh chết héo lạc do nấm S rolfsii gây ra là một trong những bệnh phổ biến và là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất ở vùng
Đông Nam Bộ, trước khi thu hoạch tỷ lệ bệnh có nơi lên đến 8% - 10% ở miền Bắc Việt Nam đ6 phát hiện có những ruộng cục bộ tỷ lệ bệnh HRGMT lên tới 20% - 25% (Nguyễn Thị Ly, Phan Bích Thủy, 1991) [13] Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu áp dụng những biện pháp sinh học phòng trừ bệnh HRGMT đ6 được tiến hành và thu được nhiều kết quả
đáng kể
Những thành tựu về biện pháp sinh học ở Việt Nam, mà cụ thể là sử dụng vi sinh vật đối kháng để phòng trừ bệnh có nguồn gốc trong đất nói chung và nấm S rolfsii nói riêng đ6 có những bước tiến quan trọng Nấm T
Trang 34viride đ6 đ−ợc nghiên cứu rất nhiều trên thế giới và ở Việt Nam cũng đ6 nghiên cứu và sử dụng trong thực tế khá thành công
Ngô Quốc Luật và CTV (2005) [12] nghiên cứu nấm S rolfsii hại cây bạch truật và nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ đặc biệt chú ý đến biện pháp sinh học sử dụng nấm đối kháng T viride Đây là một trong ba bệnh hại quan trọng trên cây bạch truật Tỷ lệ bệnh tăng cao khi nhiệt độ 290C - 300C, hại chủ yếu ở phần rễ và thân Kết quả khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học trong việc phòng trừ nấm cho thấy thuốc Ridomil 68WP có hiệu lực cao (>90%) Tác giả cũng cho biết bệnh bắt đầu gây hại vào thời kỳ phát triển củ (tháng 4), gây hại mạnh vào tháng 5 - 6 khi chuẩn bị thu hoạch
Phạm Văn Biên, viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, nghiên cứu xây dựng quy trình phòng trừ nấm S rolfsii hại cà chua tại TP Hồ Chí Minh (giai đoạn 1999 - 2000) [1] và kết quả là đ6 điều tra diễn biến bệnh HRGMT hại ớt, cà chua, d−a leo; xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp với bệnh HRGMT hại những cây trồng này góp phần giải quyết vấn đề rau sạch cho thành phố
Các tác giả Nguyễn Văn Viên và Vũ Triệu Mân (1998) [24] khi nghiên cứu bệnh chết héo cây cà chua do nấm S rolfsii Sacc., tác giả có nhận xét: ở
cà chua vụ đông sớm (tỷ lệ cây bị bệnh từ 10,5% - 14,5%, cá biệt có ruộng lên tới 20%) và vụ đông xuân bị bệnh nặng hơn vụ đông chính vụ (9% - 14,5%)
Vụ đông xuân, bệnh xuất hiện vào cuối tháng t−, đầu tháng 5 khi 1, 2 chùm quả đ6 đ−ợc thu hoạch; cây héo, chết làm quả non không sử dụng đ−ợc hoặc chín ép, chất l−ợng kém Một số thuốc đ−ợc thử nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ đối với nấm S rolfsii nh−: oxy clorua đồng (5%), Mirage (0,2%), Pencozeb (1%), Carbendas (2%) đều có khả năng ức chế sự phát triển của nấm
Trang 35S rolfsii Đối với sử dụng nấm đối kháng T viride với nồng độ 109 bào tử/gam thì tác giả cũng cho biết cùng xử lý T viride và lây nhiễm nấm S rolfsii, xử lý T.viride trước một ngày sau đó lây S rolfsii cho hiệu quả phòng chống bệnh tốt hơn ở các công thức khác
Từ năm 1991 - 1992 Bộ môn Bệnh cây - Viện bảo vệ thực vật đ6 công
bố một số kết quả bước đầu về nấm đối kháng T viride cho thấy hiệu lực đối kháng của nấm này có khả năng ức chế tốt với loài nấm S rolfsii gây bệnh héo
rũ gốc mốc trắng hại cây trồng (Trần Thị Thuần và CTV, 1992)[17]
Tại trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, nấm đối kháng T viride đ6
được Bộ môn bệnh cây phân lập từ nguồn đất Việt Nam và bắt đầu nghiên cứu
từ năm 1996 Theo tác giả Lê Lương Tề và CTV (1997) [16] thì isolate TV -
96 có hoạt tính đối kháng cao (ức chế, tiêu diệt) đối với một số nấm đất hại cây trồng: Rhizoctonia solani, Fusarium oxysporum, S rolfsii, gây bệnh lở
cổ rễ, héo vàng, héo rũ gốc mốc trắng trên các cây trồng thuộc họ cà, họ đậu
đỗ, họ bầu bí,v.v
Nấm Trichoderma phát triển được trên nhiều loại môi trường song thuận lợi nhất vẫn là môi trường Chapex Sau 5 ngày cấy thì nấm Trichoderma mọc chùm lên nấm bệnh, hình thành đường viền rất rõ và được tác giả gọi là vành đối kháng Trong các nguồn nấm Trichoderma thu thập được thì nấm T harzianum có khả năng ức chế nấm gây hại trồng tốt và dễ nhân nuôi Nấm Trichoderma có hiệu quả hạn chế nấm S rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên lạc, tăng tỷ lệ sống sót của lạc trên đồng ruộng (Trần Thị Thuần và CTV, 1997) [19]
Kết quả thí nghiệm về hiệu lực đối kháng của nấm T viride với nấm S rolfsii gây bệnh HRGMT hại lạc trong điều kiện chậu vại cho thấy hiệu lực phòng trừ đạt tới 97,1% Nấm đối kháng T viride có thể tiêu diệt một số loài
Trang 36nấm đất, chủ yếu dựa trên cơ sở đó là cơ chế ký sinh, tác động của men và khả năng cạnh tranh của nấm đối kháng đối với các loài nấm đất hại cây trồng (Trần Thị Thuần, 1997) [19]
Việc sử dụng nấm đối kháng T viride ở nồng độ thích hợp còn có tác dụng kích thích sự nảy mầm của hạt giống, tăng cường sự sinh trưởng phát triển của cây và làm tăng đáng kể năng suất cây trồng (Trần Thị Thuần, 1998) [20]
Một số biện pháp phòng trừ nấm S rolfsii đ6 được áp dụng và đem lại hiệu quả khá rõ rệt như:
+ Chọn lọc sử dụng giống tốt, cây giống không bị bệnh (có thể xử lý hạt giống trước khi trồng bằng thuốc trừ nấm đặc hiệu)
+ Luân canh với các cây trồng ít bị bệnh như: lúa, ngô, để hạn chế nguồn bệnh và cải tạo đất
+ Thu dọn sạch tàn dư cây trồng sau thu hoạch
+ Cày lật đất sâu để vùi lấp hạch nấm làm giảm sức nảy mầm và mức
độ lây nhiễm của bệnh
+ Bón phân hợp lý: bón phân NPK đầy đủ cân đối để cây sinh trưởng mạnh, tăng cường sức chống bệnh, đặc biệt ở những vùng đất bạc màu cần bón vôi nhiều, dùng phân chuồng hoai mục để bón
+ Nhổ bỏ cây bị bệnh khi bệnh mới chớm phát sinh, rắc vôi bột vào gốc
để hạn chế nấm gây bệnh, tuy nhiên biện pháp này ít có tác dụng nếu nguồn bệnh trên đồng ruộng đ6 tích lũy nhiều và có mưa nhiều
+ Để phòng trừ bệnh chủ động và có hiệu quả nên sử dụng một số nấm
đối kháng có tác dụng tiêu diệt sợi nấm, hạch nấm trên đồng ruộng bằng cách
Trang 37bón vào đất trước khi trồng hoặc đưa vào vùng rễ cây sớm (ngay sau trồng) như các loài nấm: T viride, T harzianum, Gliocladium virens,…
+ Biện pháp sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ bệnh HRGMT thường
có hiệu quả thấp vì nấm bệnh tồn tại chủ yếu trong đất, xâm nhiễm gây hại ở
bộ phận rễ, cổ rễ, thân sát mặt đất Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết người ta có thể dùng một số thuốc để phun phòng nhằm hạn chế sự lan truyền và tác hại của bệnh (Rovral, Pencozeb, Mancozeb) (Đỗ Tấn Dũng, 2001) [3]
bệnh HRGMT bắt đầu xuất hiện trên cà chua vụ xuân hè giai đoạn nụ - hoa nở, đến tháng 5 đầu tháng 6 là giai đoạn quả non - thu hoạch cuối vụ với nhiệt độ trung bình 280C, ẩm độ không khí 74% - 84% là thời kỳ bệnh phát triển mạnh nhất, với tỷ lệ bệnh lên tới 16% ở 300C trong điều kiện invitro, nấm có tốc độ sinh trưởng cao nhất trên 3 mm/ngày Kích thước trung bình của hạch nấm có sự khác nhau chút ít ở các mức nhiệt độ nhưng nhìn chung
có kích thước trung bình từ 0,8 - 1,5 mm là loại hạch nấm tương đối nhỏ Bệnh HRGMT gây hại nhiều trong điều kiện nhiệt độ cao từ 250C - 300C Bệnh gây hại nặng hơn ở những chân ruộng chỉ luân canh với cây trồng cạn trên các chân ruộng đất thịt nhẹ, cát pha nếu luân canh cà chua với 2 vụ lúa thì hạn chế được bệnh hoặc dùng thuốc Rovral 50WP 2kg/ha và Mirage 50 WP nồng
độ 0,2% phun từ 2 đến 3 lần có hiệu lực phòng trừ đạt 62% - 68% Hoặc phun chế phẩm sinh học Trichoderma (hàm lượng 2 x 109 bào tử/gam) với lượng dùng 10gam pha trong 1 lít nước phun cho 1m2 cà chua (phun vào gốc cây trên mặt đất hoặc bón vào đất khi trồng) (Lê Lương Tề, 2001) [15]
Nấm T viride có hoạt tính đối kháng rất cao (ức chế hoặc tiêu hủy) đối với một số nấm gây bệnh có nguồn gốc trong đất như: Rhizoctonia, Fusarium oxysporum, Botrytis sp., Aspergillus sp Tác giả mô tả rất chi tiết về nấm này Nấm T viride nuôi cấy thuần trên môi trường PDA ở 280C sau 24h cấy; khuẩn
Trang 38lạc mọc trắng, xốp, sau 2 - 3 ngày khuẩn lạc chuyển sang màu xanh lục, sản sinh nhiều bào tử hình trứng và hình hơi tròn, vỏ dầy, không nhẵn, kích thước bào tử hình tròn 3,8 - 4,0àm; đường kính hình trứng 3,5 - 4,6àm Tản nấm phát triển với tốc độ nhanh, đường kính tản nấm có thể đạt tới 8,5 - 9,0 cm sau
5 ngày cấy (Lê Lương Tề và CTV, 1997) [16]
Chế phẩm sinh học chế tạo từ các isolate vi sinh vật đối kháng như TV-
96 tại Bộ môn bệnh cây, Trường Đại học Nông nghiệp I bước đầu được thử nghiệm trong điều kiện in vitro có hiệu quả phòng trừ các bệnh hại rễ ở cây trồng cạn, giảm tỷ lệ bệnh chết héo (Fusarium và Rhizoctonia) so với đối chứng là 53,1% - 70% (Lê Lương Tề và CTV, 1997) [16]
Nấm Trichoderma biểu hiện tính đối kháng theo cơ chế kí sinh (tiếp xúc trực tiếp với nấm bệnh) và cơ chế kháng sinh biểu hiện sự ức chế (không tiếp xúc trực tiếp với nấm bệnh) hạn chế sự phát triển của nấm bệnh (Trần Thị Thuần, 2000) [18]
Để nhân nuôi chế phẩm, Trần Thị Thuần và CTV đ6 dùng nguồn nấm T harzianum làm nguồn giống, nấm này phát triển thuận lợi nhất ở nhiệt độ
250C - 300C và sáng xen kẽ tối Thời gian bảo quản chế phẩm là 9 tháng ở trong túi nilon Hiệu quả của chế phẩm là làm giảm các bệnh thối hạch, thối gốc trên đậu tương, ngô, lạc từ 42% - 66% tuỳ loại cây trồng (Trần Thị Thuần, 2000) [18]
Kết quả nghiên cứu khả năng ức chế của các chủng nấm Trichoderma
sp đối với nấm Fusarium solani gây bệnh thối rễ cam quýt cho thấy: Các chủng Trichoderma sp có khả năng tiết chitinases (chitinolytic enzymes) cao
đều đối kháng tốt với nấm bệnh Fusarium solani Một số chủng Trichoderma
sp nội địa vừa có khả năng ức chế tốt sự phát triển sợi nấm, sự nảy mầm bào
tử Fusarium solani vừa có khả năng phân huỷ tốt một số loại dư thừa thực vật, hữu dụng cho quá trình ủ phân hữu cơ, cung cấp phân hữu cơ cho các
Trang 39vườn cam quýt sau mùa ngập lũ do nấm Fusarium solani (Dương Minh và CTV, 2003) [8]
Trên môi trường PGA nấm T viride có hiệu quả ức chế nấm S rolfsii tới 74,54% sau 2 ngày và đến ngày thứ 3 đ6 ức chế hoàn toàn sự phát triển của nấm S rolfsii (Lê Lương Tề, 2001) [15]
Nguyễn Văn Đĩnh và CTV (2004) [5] qua kết quả điều tra tình hình sâu bệnh hại cà chua ở Lương Nỗ - Đông Anh cho biết bệnh HRGMT do nấm S rolfsii là một trong những nguyên nhân làm cho cà chua chết nhanh chóng sau khi có sự xâm nhập của tuyến trùng nốt sưng M incognita, thời kỳ cao điểm bệnh HRGMT trên cà chua là vụ xuân hè sớm
Khi có mặt nấm T viride thì nấm có khả năng cạnh tranh, chiếm chỗ,
ức chế và tiêu diệt nấm S rolfsii Mặt khác khi nấm S rolfsii có mặt trước thì hiệu lực của nấm T viride giảm đi nhiều so với nấm T viride có mặt trước, (Đỗ Tấn Dũng, 2001) [4]
Trang 403 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các mẫu phân lập (isolates) nấm S rolfsii Sacc gây bệnh HRGMT một số cây trồng cạn như: cà chua, dưa chuột, đậu tương, khoai tây, đỗ xanh,
đậu đũa, lạc, ở vùng Hà Nội và phụ cận
- Chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các loại cây trồng thuộc họ cà, họ đậu đỗ, họ bầu bí: Cà chua, dưa chuột, khoai tây, lạc, đậu tương, đỗ xanh và các mẫu hạt giống cà chua, lạc,
đậu tương, dưa chuột (hạt giống do Viện nghiên cứu rau quả Trung ương cung cấp)
- Các mẫu bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên các cây cà chua, lạc, đậu
đũa, đậu tương, dưa chuột, khoai tây,… được thu thập ngoài đồng ruộng tại vùng Hà Nội và phụ cận
- Các isolates nấm gây bệnh HRGMT hại cà chua, khoai tây, dưa chuột, lạc, đậu tương, đậu xanh, đậu đũa
- Chế phẩm sinh học nấm đối kháng T viride 108 bào tử/gram cơ chất
do bộ môn Bệnh cây - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà nội cung cấp
- Thuốc hoá học: Topsin M 70WP, Validacin 5L, Rovral 50WP
- Hạt giống: Cà chua (giống: Mỹ VL2004; Việt Nam P375), đậu tương (giống: DT14), lạc (giống: Sen Nghệ An), dưa chuột (giống Thái Lan Semineed)
- Một số hoá chất và vật tư thiết yếu phục vụ cho nghiên cứu trong phòng và nhà lưới như: Agar, đường glucose, hộp petri, ống nghiệm, dao