1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan ninh bình

115 363 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện Nho Quan - Ninh Bình
Tác giả Hoàng Trọng Lễ
Người hướng dẫn TS. Vũ Đình Chính
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 9,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

HOàNG TRọNG Lễ

XáC ĐịNH LIềU LƯợNG Và DạNG LÂN BóN THíCH HợP CHO MộT Số GIốNG LạC TRONG điều kiện Vụ XUÂN

TạI HUYệN NHO QUAN - NINH BìNH

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: ts Vũ ĐìNH CHíNH

hà nội - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện ở trong vụ xuân năm 2007, dưới sự hướng dẫn của thầy TS Vũ Đình Chính Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào trong và ngoài nước

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ> được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này

đ> được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Trọng Lễ

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy Tiến sỹ Vũ Đình Chính, người đ> tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo khoa Sau Đại học, Khoa Nông học, Dự án PHE, đặc biệt là các thầy, cô trong Bộ môn Cây công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội; Phòng Trồng trọt

và L>nh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Ninh Bình, Chi cục BVTV tỉnh Ninh Bình, Trung Tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Ninh Bình, UBND huyện Nho Quan, Phòng Kinh Tế huyện Nho Quan, UBND x> Yên Quang, Ban quản lý HTX nông nghiệp Yên Quang huyện Nho Quan; các bạn bè, đồng nghiệp và người thân đ> nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những sự giúp đỡ quý báu này./

Tác giả luận văn

Hoàng Trọng Lễ

Trang 4

Mục lục

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

2.1 Nguồn gốc lịch sử, tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong

2.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái và dinh dưỡng của cây lạc 142.3 Những kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và ở Việt

3 Địa điểm – nội dung và phương pháp nghiên cứu 35

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35

3.5 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 37

3.8 Phương pháp xử lý số liệu 39

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40

Trang 5

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xW hội và tình hình sản xuất lạc ở

huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 404.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 404.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Ninh Bình và huyện Nho Quan và

4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến

4.2.1 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng

phát triển của giống lạc L14 và MD7 494.2.2 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến động thái tăng trưởng

chiều cao thân chính của giống lạc L14, MD7 514.2.3 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến số cành cấp 1 và cành

cấp 2 đối với giống lạc L14, MD7 534.2.4 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)

đối với giống lạc L14 và MD7 554.2.5 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng phát triển nốt

sần đối với giống L14 và MD7 574.2.6 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất

khô đối với giống lạc L14 và MD7 594.2.7 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh

hại đối với giống lạc MD7 và L14 614.2.8 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất đối với giống lạc L14 và MD7 644.2.9 Hiệu suất của liều lượng lân bón đối với giống MD7 và L14 68

4.3 Kết quả nghiên cứu xác định dạng lân bón thích hợp đến giống

Trang 6

4.3.1 ảnh hưởng của dạng lân bón đến các giai đoạn sinh trưởng,

phát triển đối với giống lạc L14 và MD7 714.3.2 ảnh hưởng của dạng lân bón đến phát triển chiều cao và khả

năng phân cành đối với giống lạc L14 và MD7 714.3.3 ảnh hưởng của dạng lân bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) đối

4.3.7 ảnh hưởng của dạng lân bón đến các yếu tố câu thành năng

suất và năng suất đối với giống lạc L14 và MD7 78

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

CSB ChØ sè bÖnh

CT C«ng thøc

DT DiÖn tÝch

§VT §¬n vÞ tÝnh HSSD HiÖu suÊt sö dông

NS N¨ng suÊt NSLT N¨ng suÊt lý thuyÕt NSTT N¨ng suÊt thùc thu P100 Träng l−îng tr¨m qu¶

P100 Träng l−îng tr¨m h¹t

TG Thêi gian TGST Thêi gian sinh tr−ëng

TK Thêi kú TLB Tû lÖ bÖnh

TS Tæng sè

Trang 8

4.3 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng, phát

triển của giống lạc L14 và MD7 50 4.4 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của giống lạc L14 và

4.5 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sự phát sinh, hình thành

cành cấp 1 và cấp 2 của giống lạc L14 và MD7 ( số cành/cây) 54 4.6 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá với

Trang 9

4.11 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến tổng số quả/cây, số quả

chắc/cây và tỷ lệ quả 2 hạt/cây đối với giống lạc L14 và MD7 65 4.12 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến P100 quả, P100 hạt, các

yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đối với giống lạc L14 và

4.13 Hiệu suất sử dụng liều lượng lân bón đối với giống MD7 và L14 68 4.14 LWi thuần của các liều lượng lân bón khác nhau đối với giống lạc

4.15 ảnh hưởng của dạng lân bón đến các giai đoạn sinh trưởng, phát

triển của giống lạc L14 và MD7 (ngày) 71 4.16 ảnh hưởng của dạng lân bón đến phát triển chiều cao và khả năng

phân cành đối với giống lạc L14 và MD7 72 4.17 ảnh hưởng của dạng lân bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) đối với

giống lạc L14 và MD7 ( m2lá/m2đất) 73 4.18 ảnh hưởng của dạng lân bón đến khả năng hình thành và phát

triển nốt sần hữu hiệu với giống lạc L14 và MD7(nốt sần/cây) 75 4.19 ảnh hưởng của dạng lân bón đến khả năng tích lũy chất khô đối

với giống lạc L14 và MD7 (ĐVT: g/cây) 76 4.20 ảnh hưởng của dạng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên

4.21 ảnh hưởng của dạng lân bón đến các yếu tố câu thành năng suất

và năng suất của giống lạc L14 và MD7 79

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu

có giá trị kinh tế cao, cây nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến

Được trồng phổ biến ở nhiều vùng trên thế giới, nhiều nhất là châu Phi và châu á Hạt lạc là loại vừa có tỷ lệ protein cao (25 – 30%), vừa có tỷ lệ dầu rất cao (46 – 50%) Các sản phẩm của cây lạc đW từ lâu được sử dụng rộng rWi làm thực phẩm cho người và làm thức ăn cho chăn nuôi

Cây lạc còn là cây có vai trò cải tạo đất, bồi dưỡng đất nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh trên rễ Đồng thời cũng là cây có khả năng tạo tính đa dạng hoá cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Từ những ưu điểm nổi bật nêu trên nên nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là châu á đW và đang đầu tư phát triển mở rộng diện tích trồng lạc trong những năm tới

ở Việt Nam trong những năm gần đây nhờ áp dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh như bón phân cân đối, mật độ gieo, thời vụ trồng thích hợp và

kỹ thuật che phủ nilon đW làm cho năng suất cây lạc tăng lên 30 – 40% Trong những năm tới với chủ trương của Nhà nước đến năm 2010 sẽ đưa diện tích trồng lạc lên 400.000 ha, sản lượng gần 1 triệu tấn Để đạt được mục tiêu đó trước hết chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rWi trong sản xuất, trên cơ sở áp dụng hệ thống các giải pháp

kỹ thuật tổng hợp đồng bộ Luôn tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới, kinh nghiệm của các nước trong thời gian tới, để việc sản xuất lạc ở nước ta phát triển theo hướng nông nghiệp bền vững, tăng xuất khẩu, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân

Trang 11

Ninh Bình là tỉnh có diện tích trồng lạc tương đối thấp (5.500ha/năm)

so với một số tỉnh lân cận, nhưng năng suất lạc đạt khá (22 tạ/ha) Với chủ chương của tỉnh, trong các năm tới sẽ đẩy mạnh sản xuất những cây trồng có giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người sản xuất, nhân rộng diện tích cánh đồng đạt giá trị 50 triệu/ha/năm, thì cây lạc là một trong những cây trồng

đóng vai trò rất quan trọng cho công thức luân canh tăng vụ, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích

Nho Quan là một huyện miền núi của tỉnh, nơi đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trong đó diện tích trồng lạc chiếm 45% diện tích toàn tỉnh (2.500ha) Do trình độ canh tác của người dân còn nhiều hạn chế, nhiều diện tích trồng trên vùng đồi thiếu nước, sử dụng phân bón chưa cân đối, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống Phần lớn người dân bón phân theo kinh nghiệm, dẫn đến năng suất lạc thấp (15 tạ/ha) so với các huyện trong tỉnh Những năm gần đây nhờ áp dụng một số biện pháp kỹ thuật, đW

đưa năng suất lạc đạt cao 18 tạ/ha Để năng suất lạc được tăng hơn nữa chúng

ta cần nghiên cứu, áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như tưới nước, che phủ nilon, sử dụng phân bón cân đối Đặc biệt là xác định liều lượng và dạng phân lân thích hợp Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Đình Chính – Bộ môn cây Công Nghiệp – Trường Đại học Nông nghiệp I chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện Nho Quan – Ninh Bình”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống lạc ở các liều lượng và dạng lân bón khác nhau, từ đó xác định liều lượng và dạng lân thích hợp cho một số giống lạc năng suất cao tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Trang 12

1.2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân lân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống lạc L14, MD7

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân lân bón đến mức

độ nhiễm sâu bệnh của giống lạc L14, MD7

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lạc L14, MD7

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

13.1 ý nghĩa khoa học

- Xác định có cơ sở khoa học về liều lượng và dạng phân lân thích hợp cho một số giống lạc trong vụ xuân

- Góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc có năng suất cao tại tỉnh Ninh Bình

- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Nguồn gốc lịch sử, tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước 2.1.1 Nguồn gốc và phân bố của cây lạc

Căn cứ trong tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học, nhiều nhà khoa học đW xác định rằng lạc có nguồn gốc từ Nam

Mỹ Theo Skie (E.G.S quier) thì quả lạc được tìm thấy ở các ngôi mộ cổ Ancôn - Thủ đô của Pêru vào năm 1897 Lạc được đựng trong các chum vại khác nhau Nhờ khảo cổ học và địa thực vật học con người đW xác định được nguồn gốc cây lạc

Những ghi chép đầu tiên về cây lạc do thuyền trưởng Gorrala Fernander, ông cũng là người đầu tiên phổ biến tên "mani" của cây lạc Từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ bằng nhiều con đường, lạc được đưa từ Pêru tới Mêxico và sau đó ngang qua Thái Bình Dương theo các thương thuyền tới Philippin và đi khắp các vùng trên thế giới, nó nhanh chóng thích ứng với các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và các vùng có khí hậu ẩm

Người da đỏ Inca ở Pêru đW đạt tới một nền văn minh nông nghiệp khá cao và họ đW trồng lạc suốt dọc các vùng ven biển Peru Theo Gregory (1979- 1980) tất cả các loài hoang dại thuộc chi arachis chỉ tìm thấy ở Nam Mỹ và phân bố từ Đông - Bắc Braxin đến Tây - Nam Achentina và từ bờ biển nam Uruquay đến tây bắc Mato Grosso

Người Inđiêng đW biết ăn lạc theo nhiều cách: rang, luộc, giW nhỏ, nấu canh, ép dầu, Trung Quốc và ấn Độ cũng đW biết ép dầu trước khi kỹ nghệ

ép dầu lạc xuất hiện ở Châu Âu Sau khi xâm chiếm Xênêgan, Pháp đW chú ý tới khả năng phát triển lạc ở vùng này để có thể nhập một lượng lạc lớn dùng cho công nghiệp Nhà hóa học Pháp Roussean năm 1841 lần đầu tiên đW nhập vào Pháp một lượng lớn 70 tấn lạc cho nhà máy ép dầu

Trang 14

ở Việt Nam, tới nay chưa xác minh được rõ ràng cây lạc có nguồn gốc

từ đâu Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán danh từ “Lạc” có thể do từ Hán

“Hoa sinh” là người Trung Quốc gọi là cây lạc Như vậy cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XVII, XVIII (Lê Song Dự và CS, 1979) [16]

2.1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Cây lạc tuy đW được trồng lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới nhưng cho

đến giữa thế kỷ 18, sản xuất lạc vẫn có tính chất tự cung, tự cấp cho từng vùng Cho tới khi công nghiệp ép dầu lạc phát triển mạnh, việc buôn bán lạc trở nên tấp nập và thành động lực thúc đẩy mạnh sản xuất lạc Hiện nay, trên thế giới nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng đW và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với diện tích ngày càng lớn

Trong số các cây lấy dầu, cây lạc có diện tích, sản lượng đứng thứ 2 sau

đỗ tương và được trồng rộng rWi ở hơn 100 nước trên thế giới, từ 40 vĩ độ Bắc

đến 40 vĩ độ Nam Tổng hợp từ nguồn số liệu của FAO (2006) cho thấy diện tích trồng lạc trên toàn thế giới từ năm 1990 – 2006 có xu hướng tăng rõ rệt Năm 1990 diện tích là 20,1 triệu ha, năm 2000 diện tích là 24,1 triệu ha, tăng

4 triệu ha (19%) Tuy nhiên đến năm 2006 diện tích trồng lạc có xu hướng giảm nhẹ, diện tích trồng lạc còn 21,67 triệu ha

Về năng suất lạc, trong những năm gần đây nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật và sử dụng giống lạc mới nên năng suất lạc trên thế giới không ngừng tăng Năng suất lạc trung bình trong những năm 80 là 11,0 tạ/ha, năm 90 là 11,5 tạ/ha, từ năm 2000 đến nay năng suất ổn định 14,4 tạ/ha, tăng so với năm

80 là 30,9%, năm 90 là 25,2% Năng suất lạc trên thế giới tăng, song không

đều giữa các khu vực, có nhiều nơi giảm Những nước có diện tích trồng lạc lớn, lại có năng suất thấp và mức tăng năng suất không đáng kể

Trang 15

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới

trong những năm qua (1998 – 2006)

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: FAOSTAT, Agricultural Data, 24/5/2006)

Năng suất giữa các Quốc gia trên thế giới có sự chênh lệch nhau khá lớn Khu vực Bắc Mỹ tuy có diện tích trồng lạc không nhiều (820-850 nghìn ha), nhưng lại là vùng có năng suất cao nhất (20,0-28,0 tạ/ha) Trong khi đó Châu Phi trồng khoảng 6.400 nghìn ha, nhưng năng suất chỉ đạt 7,8 tạ/ha Châu á nhờ sự nỗ lực của các quốc gia đầu tư, nghiên cứu áp dụng các tiến bộ

kỹ thuật nên năng suất lạc tăng nhanh; tăng từ 14,5 tạ/ha năm 90 lên 16,4 tạ/ha năm 2005 Năng suất lạc trong khu vực Đông Nam á, nhìn chung còn chưa cao, năng suất trung bình đạt 11,7 tạ/ha Malaysia là nước có diện tích trồng lạc không nhiều, nhưng lại là nước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, năng suất trung bình đạt 23,3 tạ/ha, tiếp đến là Inđônêxia và Thái Lan

Sản lượng lạc trên thế giới trong những năm gần đây liên tục tăng, sản lượng trung bình hàng năm của thập kỷ 90 là 23,2 triệu tấn đến năm 2005 là

Trang 16

36,49 triệu tấn, tăng 13,29 triệu tấn (57%) so với những năm 90 Châu á sản lượng lạc tăng 104,69%

Tuy vậy, nghiên cứu tình hình sản xuất lạc trên thế giới cho thấy, sản lượng lạc được sản xuất ra hàng năm, chủ yếu do một số nước có sản lượng trên một triệu tấn/năm tạo ra là: ấn Độ (80 triệu ha), Trung Quốc (3,76-5,12 triệu ha), Mỹ (0,53 - 0,65 triệu ha),…

ấn Độ là quốc gia có diện tích trồng lạc đứng đầu thế giới (80 triệu ha), song lạc chủ yếu được trồng ở vùng khô hạn và bán khô hạn, nên năng suất lạc rất thấp (9,3-9,8 tạ/ha), thấp hơn năng suất trung bình của thế giới, sản lượng lạc hàng năm chỉ đạt 7,5 - 8 triệu tấn Kinh nghiệm của ấn Độ cho thấy, nếu chỉ áp dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng suất chỉ tăng lên khoảng 26- 30% Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ nhưng vẫn dùng giống cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20- 43% Nhưng khi áp dụng giống mới kết hợp với kỹ thuật canh tác tiến bộ đW làm tăng năng suất lạc từ 50- 63

% trên các ruộng trình diễn của nông dân

Trung Quốc là nước đứng thứ 2 sau ấn Độ về diện tích (3,7 - 5,1 triệu ha), năng suất lạc trung bình ở Trung Quốc cao và tăng nhanh trong thập niên qua Theo Duan (1999) [15], những năm 90 nhờ có bước nhảy vọt về chọn tạo giống và kỹ thuật trồng trọt, năng suất lạc ở Trung Quốc đW tăng rất nhanh so với thập kỷ trước, trung bình đạt 26 tạ/ha Theo thống kê của USDA (2000 – 2005), những năm gần đây diện tích lạc ở Trung Quốc là 5,1 triệu ha, chiếm trên 20% tổng diện tích lạc toàn thế giới Năng suất trung bình đạt 28,2 tạ/ha, cao gần gấp đôi năng suất lạc trung bình của thế giới, chiếm 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới Sở dĩ năng suất lạc của Trung Quốc tăng nhanh là

do hiện nay nước này có tới 60 Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu triển khai các hướng nghiên cứu trên cây lạc Trong thời gian từ 1982- 1995 các nhà khoa học Trung Quốc đW cung cấp cho sản xuất 82 giống lạc mới với nhiều ưu

Trang 17

điểm nổi bật như năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn và chịu phèn, thích ứng rộng Sơn Đông là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23,0% tổng diện tích, 33,3% tổng sản lượng cả nước Năng suất trung bình của tỉnh rất cao, đạt gần 4,0 tấn/ha, cao hơn năng suất cả nước là 34%

Khu vực Đông Nam á, diện tích trồng lạc không nhiều, chỉ chiếm 12,61% về diện tích và 12,95% sản lượng lạc của Châu á Năng suất lạc bình quân đạt 11,7 tạ/ha Malayxia là nước có diện tích trồng lạc không nhiều, nhưng lại là nước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, trung bình đạt 23,3 tạ/ha Về xuất khẩu lạc chỉ có 3 nước Thái Lan, Việt Nam và Inđônêxia Trong đó Việt Nam là nước có khối lượng xuất khẩu lạc lớn nhất với 33,8 ngàn tấn (chiếm 45,13% khối lượng lạc xuất khẩu trong khu vực)

Những thông tin trên cho thấy, tất cả các nước đW thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc, đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng rộng rWi các thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, trên đồng ruộng của nông dân Chiến lược này đW được áp dụng thành công ở nhiều nước và đW trở thành bài học kinh nghiệm sâu sắc trong phát triển sản xuất lạc của thế giới

2.1.3 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam

Những năm trước đây Việt Nam do thiếu lương thực, nên trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung sản xuất cây lương thực, cây lạc chưa được chú trọng nhiều, năng suất lạc thấp Những năm gần đây nhờ có sự chuyển hướng trong nông nghiệp là sản xuất cây trồng hàng hóa, từ đây cây lạc được chú trọng hơn và có xu hướng tăng nhanh về diện tích, năng suất, sản lượng Năm

2005 nước ta đứng thứ 12 về diện tích, đứng thứ 9 về sản lượng trên thế giới

Theo Ngô Thế Dân và cộng sự (2000) [13], sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1970 đến 1998 như sau:

Trang 18

Trong các thập kỷ 70 diện tích từ 97,1 nghìn ha giảm xuống 91,8 nghìn

ha (5,5%), năng suất từ 1,03 tấn/ha giảm xuống 0,88 tấn/ha, giảm 14,6% Đến những năm 80 diện tích, năng suất và sản lượng bắt đầu tăng từ 97,1 nghìn ha lên 237,8 nghìn ha Thập kỷ 90, diện tích, năng suất và sản lượng tăng rất nhanh (trong vòng 10 năm năng suất lạc tăng gần 30%) Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD) về diện tích, năng suất, sản lượng lạc nước ta từ 1991-2005 đều có sự gia tăng, kết quả này được trình bày ở Bảng 2.2

Bảng 2.2 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lạc

ở Việt Nam giai đoạn 1991-2005

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, MARD 24/5/2006)

Về diện tích trồng lạc tăng mạnh nhất là giai đoạn từ 1991-1995 Diện

Trang 19

tích trồng lạc năm 1991 đạt 210,9 nghìn ha, năm 1995 đạt 259,9 nghìn ha tăng

49 nghìn ha (23,2%) so với 1991 Từ năm 1996-2000 diện tích trồng lạc tăng lên và giảm đi qua các năm, năm 1996 là 262,8 nghìn ha, năm 2000 giảm 17,9 nghìn ha, chỉ còn 244,9 nghìn ha Từ năm 2001 - 2005 diện tích trồng lạc tăng trở lại và đạt 263,68 nghìn ha năm 2005

Từ 1991 đến 1995 năng suất lạc tăng 1,4 tấn/ha Tuy nhiên, từ năm

1995 đến nay do áp dụng rộng rWi tiến bộ kỹ thuật về bón phân NPK cân đối, mật độ gieo trồng thích hợp, kỹ thuật che phủ nilon,… trên đồng ruộng, nên năng suất lạc tăng liên tục qua các năm Năm 2000 năng suất đạt 14,5 tạ/ha, cao hơn năm 1991 là 3,1 tạ/ha (27%), năng suất năm 2005 đạt cao nhất 17,42 tạ /ha, v−ợt 6,02tạ/ha so với 1991

Do diện tích và năng suất lạc tăng, nên sản l−ợng lạc ở Việt Nam có sự tăng mạnh Năm 1991 sản l−ợng lạc chỉ có 234,8 nghìn tấn, đến năm năm

2000 đạt 355,3 nghìn tấn, tăng 120,5 nghìn tấn so năm 1991 (51,3%), đến năm 2005 sản l−ợng đạt 453,0 nghìn tấn tăng 218,2 nghìn tấn so năm 1991 Mặc dù từ năm 2000 – 2003 diện tích giảm nh−ng sản l−ợng vẫn cao là vì năng suất các năm đó tăng cao nên sản l−ợng vẫn cao hơn năm 1998 là 14,1 nghìn tấn

Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) [8], lạc đ−ợc trồng hầu hết ở các vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam Diện tích lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm Tuy nhiên, có 6 vùng sản xuất chính nh− sau:

- Vùng đồng bằng sông Hồng: Lạc đ−ợc trồng chủ yếu ở các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Nam Định, Ninh Bình với diện tích 31.400 ha, (chiếm 29,3%)

- Vùng Đông Bắc: Lạc đ−ợc trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ với diện tích 31.000 ha, (chiếm 28,9%)

- Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ là vùng trọng điểm trồng lạc của các

Trang 20

tỉnh phía Bắc với diện tích 74.000 ha (chiếm 30,5%), tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá là 16.800 ha, Nghệ An là 22.600 ha, Hà Tĩnh là 19.900 ha

- Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: Diện tích trồng 23.100 ha (chiếm 9,5%) và được trồng tập trung ở 2 tỉnh Quảng Nam, Bình định

- Vùng Tây Nguyên: Diện tích trồng lạc 22.900 ha (chiếm 9,4%), chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc 18.200 ha

- Vùng Đông Nam Bộ: Lạc được trồng tập trung ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Thuận với diện tích 42.000 ha

Trong vòng 10 năm qua sản xuất lạc ở Việt Nam đW có những bước chuyển biến tích cực về năng suất và sản lượng, nhưng diện tích trồng không tăng Tuy nhiên, diện tích lạc ở các tỉnh phía Bắc có xu hướng tăng dần từ 123,3 ngàn ha năm 1995 lên 250,0 ngàn ha năm 2003 (tăng 17%) ở các tỉnh phía Bắc, diện tích trồng lạc tăng chủ yếu ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá và Hà Tĩnh Diện tích trồng lạc ở các tỉnh phía Nam giảm từ 136,6 ngàn ha năm 1995 xuống 98,5 ngàn ha năm 2003, diện tích giảm mạnh nhất là tỉnh Tây Ninh từ 41,1 ngàn ha năm 1995 xuống còn 19,8 ngàn ha năm 2003

và tiếp đó là tỉnh Long An

Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên bước đầu đW có một số tỉnh đạt năng suất lạc bình quân cao như: Nam Định 37,7 tạ/ha nhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật che phủ nilon; Hưng Yên 27,7 tạ/ha; Thành phố Hồ Chí Minh 28,7 tạ/ha; Trà Vinh 28,8 tạ/ha; Khánh Hoà 26,0 tạ/ha

2.1.4 Một số yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Việt Nam

Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, các yếu tố hạn chế đến sản xuất lạc bao gồm các nhóm yếu tố: Kinh tế xW hội, phi sinh học và sinh học

Nguyễn Thị Chinh (2005) [8], cho rằng yếu tố kinh tế xW hội hạn chế

Trang 21

đến sản xuất lạc ở Việt Nam là vốn đầu tư sản xuất Hầu hết nông dân trồng lạc thiếu vốn để mua giống tốt và vật tư đáp ứng được quy trình tiến bộ nên năng suất đạt chưa cao so với tiềm năng của giống mới (kết quả điều tra cho thấy có 65 – 70% số hộ nông dân ở Bắc Giang, Nghệ An, Thanh Hóa thiếu vốn để mua giống và vật tư) Theo Ngô Thế Dân và cộng sự (2000) [13], hệ thống cung ứng giống lạc thiếu và không đảm bảo độ tin cậy về chất lượng giống Đến nay, trong cả nước chưa có một cơ quan hay công ty nào chuyên tâm chịu trách nhiệm sản xuất và cung ứng giống đậu đỗ các cấp như một số cây trồng khác (lúa, ngô, cà phê, cây ăn quả, ) vì hạt giống lạc chứa hàm lượng dầu cao dễ bị mất sức nảy mầm trong quá trình bảo quản Giống đậu đỗ nói chung và giống lạc nói riêng là do nông dân tự sản xuất, bảo quản và trao

đổi lẫn nhau, do vậy dẫn đến tình trạng lẫn giống Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất lạc thấp và không ổn định qua các năm Các cơ quan nghiên cứu chọn tạo ra giống mới có tiềm năng năng suất cao nhưng do thiếu vốn, thiếu cơ sở vật chất để tổ chức sản xuất và dịch vụ cung ứng nên tốc độ phát triển giống mới còn chậm so với nhu cầu sản xuất Công tác quy hoạch vùng sản xuất lạc chưa có chính sách quy hoạch tổng thể các vùng lạc sản xuất tập trung mang tính sản xuất hàng hoá lớn Do điều kiện

đất canh tác hạn chế, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc, ruộng đất manh mún nên việc đưa công nghệ cao vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, làm cho giá thành sản xuất lạc còn cao Hệ thống thuỷ lợi ở những vùng sản xuất lạc trọng

điểm hầu như chưa được chú trọng đầu tư hỗ trợ Thiếu nước vào thời điểm gieo trồng và quá dư thừa nước vào thời kỳ thu hoạch vẫn thường xuyên xảy ra làm giảm năng suất và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm

Việt Nam có tới 70% diện tích trồng lạc nhờ nước trời, lượng mưa lớn phân bố không đều là yếu tố hạn chế đến sản xuất lạc Đất khô và nhiệt độ thấp ở đầu vụ xuân, cuối vụ thu đông, mưa lớn và nhiệt độ cao vào cuối vụ xuân, đầu vụ thu đông, trong vụ thu đều là những yếu tố làm ảnh hưởng không

Trang 22

ít đến năng suất và chất lượng lạc ở miền Bắc Việt Nam

Ngô Thế Dân (2000), Nguyễn Thị Chinh (2005), Trần Văn Lài (1996) [13], [8], các vùng trồng lạc chính ở phía Bắc, đất đều có độ phì thấp hơn so với yêu cầu của cây lạc, đất đồi phía Bắc Việt Nam chua, xói mòn, rửa trôi mạnh, hấp thụ trao đổi thấp, lân dễ tiêu thấp là yếu tố làm trở ngại lớn đối với sản xuất lạc ở nước ta Trên thực tế nông dân chưa thực sự coi cây lạc là cây trồng chính nên cây lạc thường trồng trên đất bạc màu, đất xám phần lớn nghèo dinh dưỡng mà ý thức đầu tư thâm canh lại hạn chế, nên chưa phát huy

được hết tiềm năng năng suất sẵn có của giống

Ngô Thế Dân (2000) [13], yếu tố hạn chế sinh học quan trọng nhất đối với sản xuất lạc ở Việt Nam là thiếu giống chịu thâm canh, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt và thích ứng rộng cho các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Ngoài ra yếu tố sâu bệnh cũng làm hạn chế đến nhiều vùng trồng lạc ở nước ta, đặc biệt là ở miền Bắc nhất là bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas Solanacearum Smith) cũng là một trong những bệnh hại nguy hiểm và ngày càng có chiều hướng gia tăng Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Liễu (1995), cho thấy bệnh này có ở hầu khắp các vùng trồng lạc của miền Bắc Các tỉnh trọng điểm về trồng lạc như Nghệ An, Thanh Hoá, Bắc Giang lại là những vùng bị hại nặng (10- 20%) số cây bị chết, cá biệt như Hoàng Long- Nam Đàn; Bố Hạ- Lạng Giang tỷ lệ cây bị hại lên tới 50- 70% Nấm Aflatoxin (Aspergilus Flavus) ngày càng trở nên nghiêm trọng trong quá trình bảo quản sản phẩm sau thu hoạch

Trong các loại sâu hại lạc thì nguy hiểm nhất là sâu khoang (Spodoptera Litura) nó có thể gây hại lá tới 81% và làm giảm 18% năng suất (Phạm Thị Vượng, 1998) Rệp, bọ trĩ và rầy xanh là loại sâu trích hút nguy hiểm, nhóm này có thể làm thiệt hại năng suất tới 17- 30% Sâu xám (agrotis sp) gây hại cây con, làm giảm mật độ và giảm năng suất từ 10- 15% Sâu hại

Trang 23

phần dưới đất của cây lạc đáng lưu ý nhất là sùng trắng, nó có thể làm thiệt hại năng suất tới 10% Để khắc phục yếu tố này, Việt Nam đW có chiến lược nghiên cứu, xây dựng biện pháp phòng trừ bệnh hại tổng hợp trên cây lạc 2.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái và dinh dưỡng của cây lạc

Trong suốt quá trình sống, cây lạc yêu cầu tổng tích ôn hữu hiệu từ 2.800 - 3.5000C, sự dao động này tùy thuộc vào giống Đối với giống lạc loại hình Valencia tích ôn là 3.200 - 3.5000C, đối với loại hình Spanish là 2.800 - 3.2000C, do thời gian sinh trưởng ngắn hơn

Giai đoạn nảy mầm nhiệt độ thích hợp đối với lạc từ 25 - 300C Theo Chu Thị Thơm và cộng sự (2006) [40], khi nhiệt độ 16 – 17 0C, lạc nảy mầm khó khăn, thời gian nảy mầm bị kéo dài 15 – 20 ngày, tỷ lệ mọc mầm thấp Tốc độ nảy mầm của hạt nhanh nhất ở nhiệt độ 32 - 33 0C, nhiệt độ tối cao cho sự nảy mầm là 41 – 45 0C, nhưng sức nảy mầm bị giảm và sức sống của cây con yếu, hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm ở 540C Nhiệt độ tối thấp cho sự nảy mầm thời kỳ này là 120C Hạt lạc có thể chết ở nhiệt độ 50C, mặc dù trong thời gian rất ngắn [3]

Trang 24

- Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: Nhiệt độ thích hợp trong thời kỳ này

là 23 - 300C, tổng tích ôn từ 700 - 10000C Trong điều kiện nhiệt độ này quá trình sinh trưởng được tiến hành thuận lợi, nhất là sự phát triển của thân cành

và bộ rễ Nếu nhiệt độ quá cao 30 - 350C, quá thấp sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của lạc

- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Nhiệt độ thích hợp cho lạc ra hoa là 24

- 330C Hệ số hoa hữu hiệu cao nhất đạt 21% khi nhiệt độ ban ngày 290C và ban đêm là 230C Nhiệt độ vượt quá 34 - 350C, làm giảm số hoa có ích Nhìn chung thời kỳ ra hoa, kết quả lạc đòi hỏi nhiệt độ cao nhất so với các giai đoạn khác trong chu kỳ sinh trưởng của nó, thời kỳ này nó cần tới 2/3 tổng tích ôn của cả chu kỳ sinh trưởng Nhiệt độ tối thấp sinh học cho quá trình ra hoa và hình thành các cơ quan sinh thực là 15 - 200C, ở nước ta là 17 - 180C

Theo Reddy (1982) [59], thì tốc độ sinh trưởng lớn nhất của quả lạc đạt

ở nhiệt độ 30 - 340C, nếu quả hình thành trong điều kiện nhiệt độ cao, khối lượng hạt bị giảm, trong thời kỳ chín của hạt, nhiệt độ thích hợp nhất từ 20 -

220C Tốc độ hình thành tia quả của lạc tăng ở nhiệt độ 20 - 250C, (Tata S.N,1988) [65] ở thời kỳ trước ra hoa lạc có khả năng chịu rét cao nhất Tuy nhiên ở nhiệt độ thấp dưới 18 - 200C, làm ức chế sinh trưởng phát triển của lạc, cản trở sự phân hóa mầm hoa và giảm trọng lượng khô của cây

2.2.1.2 ánh sáng

Theo Bùi Huy Đáp (1957) [19], lạc phản ứng trung tính với quang chu

kỳ Khi theo dõi các giống lạc có thời gian sinh trưởng khác nhau thì tác giả cho rằng, thời gian chiếu sáng không ảnh hưởng tới thời gian sinh trưởng của các nhóm giống lạc và cũng không có ảnh hưởng tới năng suất Cường độ ánh sáng và số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc Việc ra hoa không phụ thuộc vào quang chu kỳ, nhưng phân hoá mầm hoa và tổng số hoa hình thành quả phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng (Foreign,

Trang 25

1999) [58] Sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường độ ánh sáng giảm và nếu cường

độ ánh sáng thấp trước thời kỳ ra hoa sẽ gây hiện tượng rụng hoa [56]

Theo Butler và Irrie (1982) [54], khả năng tích lũy chất khô có thể đạt 18,69g/cm2/ngày ở thời kỳ nở hoa Sự phát triển của quả thuận lợi trong điều kiện cường độ ánh sáng từ 400 - 600 cal/ cm2/ngày và số giờ nắng đạt 220 -

250 giờ/tháng Khi số giờ nắng dưới 100 giờ/tháng, cây lạc thiếu nắng, sẽ bị vống, chiều dài lóng tăng, giảm độ cứng của cây, làm tăng khả năng lốp đổ, nhất là khi điều kiện độ ẩm đất cao

2.2.1.3 Độ ẩm

Nước là yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc, nó chỉ

có khả năng chịu hạn tương đối ở một thời kỳ sinh trưởng nhất định, ngoài ra thiếu nước ở các thời kỳ khác đều có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển và năng suất

Theo Chu Thị Thơm và cộng sự (2006) [40], trong thời gian nảy mầm, nước là nhân tố quan trọng thứ hai sau nhiệt độ, ảnh hưởng tới thời gian nảy mầm và tỷ lệ mọc Trong điều kiện đồng ruộng hạt lạc nảy mầm tốt nhất ở độ

ẩm đất đạt 70 – 80% 0C Độ ẩm quá lớn (trên 90%) hạt dễ bị thối do thiếu oxy cho quá trình nảy mầm Nếu độ ẩm thấp dưới 60%, đW kéo dài thời gian nảy mầm và hạt không nảy mầm được ở độ ẩm 40 – 50% Lượng mưa lý tưởng để trồng lạc đạt kết quả tốt là khoảng 70 - 120 mm trước khi gieo để dễ làm đất, khoảng 100 - 120 mm khi gieo để cho lạc mọc mầm tốt và đảm bảo mật độ Trong các thời kỳ sinh trưởng, độ ẩm đất có ảnh hưởng rất lớn đến các thời kỳ, nếu trong điều kiện độ ẩm đất thấp, rễ phát triển kém nên có ảnh hưởng xấu

đến khả năng hấp thu dinh dưỡng Khi bị hạn rễ có thể ăn sâu hơn (5 – 10 %) nhưng bán kính phân bố rễ giảm tới 2/3, lượng nốt sần cũng giảm rõ rệt, dẫn

đến việc cố định N của vi khuẩn nốt sần giảm Khi cây bị thiếu ẩm chiều cao cây giảm rõ rệt, lá nhỏ và dày hơn, cứng hơn trong điều kiện bình thường Biểu hiện bề ngoài khi lạc bị hạn ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, rõ rệt nhất là

ở bộ lá Khi độ ẩm đất giảm dần, lá lạc nhỏ và dầy hơn

Trang 26

Những nghiên cứu cho thấy: Thiếu nước trong thời kỳ ra hoa sẽ làm giảm nghiêm trọng số hoa, đợt rộ không hình thành được, thời gian ra hoa kéo dài, không tập trung, tỷ lệ hoa có ích cũng giảm đi do quá trình thụ phấn bị cản trở Lạc ra hoa thuận lợi khi độ ẩm đất 80 – 85%, tuy nhiên nếu được tưới kịp thời lượng hoa nở hàng ngày có thể được phục hồi nhanh chóng Người ta cho rằng thời kỳ ra hoa nhu cầu về nước của lạc tăng cao có thể là do bộ rễ hoạt động kém trong thời kỳ này Trong giai đoạn hình thành quả, do diện tích lá đạt đỉnh cao nhất, tốc độ tích lũy chất khô cũng cao cho nên cần lượng nước lớn nhất so với các giai đoạn khác trong chu kỳ sinh trưởng – tuy rằng độ ẩm trong thời kỳ này không đòi hỏi cao lắm chỉ khoảng 70 – 75%, độ ẩm đất có thể giảm đi trong thời kỳ chín (65 – 70%), độ ẩm quá cao trong thời kỳ này (trên 90%) thường dẫn đến lốp đổ, dễ làm quả bị thối, nảy mầm

Thời kỳ thu hoạch quả nếu gặp trời mưa, đặc biệt mưa kéo dài trong vài ngày, làm cho hạt lạc nảy mầm ngay tại ruộng, thậm chí hạt có hiện tượng bị thối hoặc gây trở ngại cho việc phơi quả, làm giảm năng suất và chất lượng của hạt [3]

2.2.2 Yêu cầu của lạc đối với điều kiện đất đai

Do đặc tính sinh lý của cây lạc, nên yêu cầu về điều kiện lý tính của đất chặt chẽ, đất trồng lạc lý tưởng phải là đất thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù sa pha cát có đầy đủ canxi và một lượng chất hữu cơ vừa phải thì sẽ tạo điều kiện tốt cho lạc nảy mầm, dễ dàng ngoi lên trên mặt đất và sinh trưởng Tuy nhiên về mặt này, cây lạc có khả năng thích ứng trong phạm vi rộng Lạc yêu cầu đất hơi chua đến gần trung tính, pH từ 5,5- 7,0 là thích hợp, song khả năng thích ứng của lạc cũng rất cao Nhiều nước, nhất là ấn Độ và các nước

đang phát triển ở Châu Phi đW trồng lạc trên những vùng đất xấu, đất nhiệt đới khô cằn và bán khô cằn, đất không được tưới Vì thế đW hạn chế nhiều khả năng nâng cao năng suất lạc Nhưng trên các loại đất này lạc là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn các cây trồng khác

Trang 27

Theo Tata (1988) [65], trên thế giới lạc được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất phù xa được bồi hoặc không được bồi hàng năm, đất Feralit, đất Potzon, đất cát, đất xám, đất bán khô hạn cằn nhiệt đới, chỉ trừ những loại đất thịt nặng, đất chua mặn, còn hầu như lạc được trồng trên tất cả các loại đất khác Theo Nguyễn Thị Dần (1991) [14], về điều kiện đất đai ở một số vùng trồng lạc truyền thống ở miền Bắc là phù hợp Phân tích một số

đặc điểm nổi bật của một số loại hình đất chính chuyên canh lạc như đất cát ven biển Thanh Hóa, Nghệ An, đất bạc màu vùng Trung du Bắc bộ như Bắc Giang, Hà Tây và đất phù sa sông Hồng cho thấy, hầu hết các chân đất này có thành phần cơ giới nhẹ, mức giữ nước thấp Đất cát ven biển và đất bạc màu

đều có độ phì tự nhiên thấp và hàm lượng chất hữu cơ lớp mặt <1%, đất bạc màu có phản ứng chua pHkcl thấp khoảng 5,4 –5,2, đất cát ven biển trị số pHkcl

đạt khoảng 5,5 – 6,5 Từ đó cho thấy ở các vùng trồng lạc chính của phía Bắc

đất đều có độ phì thấp so với yêu cầu của cây lạc mà đW được nhiều tác giả nghiên cứu

Đất thoát nước tốt tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi không khí để

đáp ứng nhu cầu ôxy và nitơ của cây trồng Đất không thoát nước làm cho sự hô hấp của rễ bị ảnh hưởng Do đó hạn chế sự phát triển của bộ rễ và làm chậm quá trình đồng hóa Thiếu ôxy ở các vùng rễ quá trình cố định nitơ vi khuẩn nốt sần sẽ kém hiệu quả và không có khả năng hút nitơ từ đất

2.2.3 Nhu cầu dinh dưởng của cây lạc

2.2.3.1 Vai trò và sự hấp thụ của đạm

Nitơ là thành phần của Axit amin, yếu tố cơ bản để tạo nên protein Nitơ cũng là thành phần cấu trúc diệp lục tố và các loại men Vì vậy Nitơ tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây Thiếu Nitơ cây sinh trưởng kém, lá vàng, chất khô tích lũy giảm, số quả và trọng lượng quả đều giảm Nhất là thiếu N ở thời kỳ cuối, thiếu N nghiêm trọng dẫn đến hiện tượng ngừng phát triển quả và hạt

Trang 28

Nhiều tác giả ở Việt Nam cũng như ở các nước nhiệt đới khác đều cho rằng: nhiều loại đất trồng cây họ đậu đều có hàm lượng N thấp, phải bón lót phân N với lượng thích hợp mới phát huy được hiệu lực của phân nitragin

Thời kỳ lạc hấp thu nhiều đạm nhất là thời kỳ ra hoa hình thành quả và hạt Thời kỳ này chiếm 25% thời gian sinh trưởng của cây, nhưng đW hấp thụ tới 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kỳ sinh trưởng của cây Tuy nhiên việc bón đạm cũng phải rất cẩn thận vì có sự tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng bón và chiều cao cây, chiều dài cành Nếu bón thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng

đến sinh trưởng và phát triển, năng suất của cây, bón đạm quá ngưỡng, sẽ gây nên hiện tượng mất cân đối giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng đến quá trình tạo quả và hạt dẫn

đến năng suất thấp

Cây lạc có khả năng cố định ni tơ khí quyển nhờ hệ thống vi khuẩn nốt sần Vì thế nên lượng đạm bón cho lạc thường giảm, đặc biệt trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt và pH trung tính, là điều kiện thuận lợi cho hoạt động cố định đạm [16] Nốt sần ở cây lạc chỉ xuất hiện khi có cành và phát triển nhiều khi lạc ra hoa Do đó ở thời kỳ đầu sinh trưởng của cây, lạc chưa có khả năng cố định đạm cho cây, nên lúc này cần bón bổ sung cho cây một lượng đạm kết hợp với phân chuồng, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển mạnh thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh ở giai đoạn sau [21]

Theo Lê Song Dự và cộng sự (1979), lượng nốt sần ở rễ lạc tăng lên theo thời gian sinh trưởng và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả và hạt, lúc này hoạt động cố định của vi khuẩn rất mạnh, nhưng để đạt năng suất lạc cao việc bón đạm bổ sung vào thời kỳ này là rất cần thiết Vì hoạt động cố định

đạm của vi khuẩn nốt sần thời kỳ này mạnh nhưng lượng đạm cố định được không đủ đáp ứng nhu cầu của cây, nhất là trong thời kỳ phát dục mạnh

Việc bón phân cho cây lạc đặc biệt là phân đạm, là phải biết được quan

Trang 29

hệ giữa lượng đạm cộng sinh với lượng đạm hấp thu do rễ Giải quyết vấn đề này chỉ có thể là xác định thời kỳ bón, lượng đạm bón, dạng đạm sử dụng và việc bón cân đối dinh dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây lạc hấp thu dinh dưỡng đạm

2.2.3.2 Vai trò và nhu cầu của lân đối với lạc

Lân là yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với lạc, nó là nguyên tố tham gia cấu tạo nên Axit nuclêic, protein, axít amin, ATP và các chất hóa học khác, lân có tác dụng lớn đến sự phát triển nốt sần, sự ra hoa và hình thành quả Nếu thiếu lân cây lạc bị lùn, bộ rễ phát triển kém, hoạt động cố định nitơ giảm, vì ATP cung cấp cho hoạt động của vi sinh vật cố định nitơ giảm, cây lạc biểu hiện thiếu lân nghiêm trọng khi chúng còn nhỏ Bón lân cho lạc làm tăng khả năng phân cành trên cây, tăng diện tích lá, tăng khả năng tích lũy chất khô, kéo dài thời gian ra hoa và tăng tỷ lệ đậu quả

Cây lạc cần lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa hình thành quả, trong thời gian này lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thu lân của cả chu kỳ sinh trưởng Sự hấp thu lân giảm rõ rõ rệt ở thời kỳ chín Dạng phân lân thường bón cho lạc là supe lân, phân lân tổng hợp với tỷ lệ khác nhau Phân lân chủ yếu để bón lót cho cây [24]

Cây lạc là cây có sự mẫn cảm đặc biệt với lân Bón phân đầy đủ cho lạc thì thân lá phát triển tốt, cân đối, ra hoa sớm và tập trung, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu Đặc biệt lân thúc đẩy sự cố định đạm của vi khuẩn nốt sần, tăng cường tác dụng của molipđen, từ đó ảnh hưởng tới việc tổng hợp Leghemoglobin Do

đó ảnh hưởng tới chức năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần [16]

Lạc hấp thu một lượng lân không lớn Để cho 1 tấn quả khô, lạc chỉ cần

sử dụng 2 - 4 kg P2O5 và phần lớn lượng lân hút được đều tập trung ở hạt Tuy nhiên việc bón lân cho lạc là rất cần thiết ở nhiều loại đất trồng lạc Các loại

đất bạc màu, đất khô cằn nhiệt đới thường thiếu lân Bón phân lân là mấu chốt

để tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc

Trang 30

2.2.3.3 Vai trò và sự hấp thụ kali đối với lạc

Kali tham gia chủ yếu vào các hoạt động của enzym, chuyển hoá chất ở cây Vai trò quan trọng nhất của Kali là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả, làm tăng cường mô cơ giới, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng tính chịu hạn và tăng cường tính chống đổ của cây Thiếu hụt kali sẽ làm cho mép lá bị hoá vàng, lá cháy xém và bị khô vào lúc trưởng thành

Trong cây, kali tập trung chủ yếu ở các bộ phận non, ở lá non và lá

đang quang hợp mạnh Kali tham gia vào hoạt động của men, đóng vai trò là chất điều chỉnh và xúc tác, thiếu kali các quá trình tổng hợp đường đơn và tinh bột, vận chuyển gluxit, khử nitrat, tổng hợp protein, và phân chia tế bào diễn

ra không bình thường [17]

Cây lạc hút kali nhiều hơn đạm, nhất là môi trường giàu kali, nó có khả năng hấp thu kali quá mức cần thiết Lượng kali lạc hấp thu cao hơn nhiều so với lân và đạm, khoảng 15 kg kali/1 tấn quả khô (Lê Song Dự và cộng sự, 1979) Lạc hấp thụ kali tương đối sớm và có tới 60 - 70% nhu cầu kali của cây

được hấp thụ trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực, đến kỳ chín, nhu cầu kali không đáng kể

2.2.3.4 Vai trò và sự hấp thụ canxi đối với lạc

Canxi là một trong những nguyên tố quan trọng nhất để sản xuất lạc quả to Trong cây, canxi là một nguyên tố ít di động vì nó thường ở thể oxalat Canxi có rất nhiều chức năng sinh lý như: làm tăng độ nhớt của nguyên sinh chất, giảm tính thấm, vì vậy nó có ý nghĩa lớn trong tính chống chịu của thực vật (Chu Thị Thơm và cs, 2006)

Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) [8], canxi là một nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc Bón vôi không những chỉ có ý nghĩa làm tăng trị số pH của

đất mà còn tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố định đạm, vệ sinh đồng

Trang 31

ruộng và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tao quả và hạt Thiếu canxi

sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạo quả, quả ốp, hạt nhăn và vỏ dày Thời kỳ cây cần nhiều canxi nhất là khi hình thành quả và hạt phải có đủ vôi trong tầng đất mặt 8 – 12cm sau khi đâm tia Nếu thiếu canxi chồi cây có màu tối, nảy mầm

và mọc chậm, sinh trưởng chậm và cây yếu

Canxi có vai trò ngăn ngừa sự tích lũy nhôm và các Cation khác, thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động do canxi nâng cao pH đất, làm tăng lượng

đạm hấp thu do rễ và nguồn đạm cố định Đặc biệt canxi giúp cho sự chuyển hóa N trong hạt, nên nó hướng sự di chuyển N về hạt Trong suốt quá trình sinh trưởng cây lạc hấp thu lượng canxi gấp từ 2 - 3 lần so với lượng lân

Lượng canxi cung cấp đầy đủ cho cây lạc ở vùng rễ và quả là hết sức cần thiết để hạt đầy và chất lượng tốt Thiếu canxi ở lạc dẫn đến quả lạc rỗng, chồi mầm trong hạt đen và quả nhỏ đi Bangorth (1969) thống kê được hơn 30 bệnh của lạc do đói canxi [25]

2.2.3.5 Vai trò của magiê và lưu huỳnh đối với lạc

+ Magiê (Mg): Magiê là thành phần của diệp lục và được bao gồm trong nhiều hệ thống men liên quan trực tiếp đến quá trình quang hợp của cây, ngoài

ra magiê còn có mặt trong các Enzim xúc tác cho quá trình trao đổi chất của cây [40]

Biểu hiện đầu tiên của sự thiếu magiê là sự úa vàng của các lá tận cùng

và cây bị lùn Thiếu Mg cây ít bị ảnh hưởng trong thời kỳ cây con, cây vẫn phát triển bình thường và có một vài triệu trứng như thiếu Ca (lá giá hơi bị úa vàng, lá non bị úa toàn bộ) Ngoài đồng ruộng cây lạc ít biểu hiện thiếu Mg

Đất thường thiếu magiê là đất cát ven biển và đất bạc màu Do đó bón phân lân Nung chảy cũng chính là bổ sung thêm magiê cho cây

+ Lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh là một thành phần của các axit amin chủ yếu cho nên nó cần thiết cho cây để tổng hợp Protein Thiếu lưu huỳnh cản trở

Trang 32

quá trình hình thành diệp lục, bón lưu huỳnh ở dạng nguyên tố kích thích cây

ra hoa, kéo dài thời gian ra hoa Thiếu S lá có hiện tượng vàng nhạt, cây phát triển chậm Sự hút S có liên quan với sự hút N và P để hình thành những axit amin Lưu huỳnh có thể hấp thu bằng cả rễ và quả, lượng lưu huỳnh lạc hấp thu tương đương lân Reid đW xác định hàm lượng lưu huỳnh trong lá trong chu kỳ sinh trưởng của lạc khoảng 0,2% [61]

2.2.3.6 Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với lạc

Vai trò của các nguyên tố vi lượng trước hết là chất xúc tác, là một phần của enzim, hoặc chất hoạt hóa của hệ enzim cho các quá trình sống của cây Trong đó vai trò quyết định nhất của các yếu tố vi lượng đối với cây là hoạt hóa hệ thống enzim Nguyên tố vi lượng còn làm thay đổi đặc tính lý hóa của các nguyên sinh chất, ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng của các phản ứng sinh hóa

- Bo (B) đóng vai trò quan trọng trong sự thụ phấn, thụ tinh của lạc, là yếu tố giúp cho quá trình phát triển rễ, tăng khả năng chịu hạn, giúp cho quả không bị nứt, hạn chế nấm bệnh xâm nhập [8] B tăng cường sự tổng hợp và vận chuyển hyđratcacbon và axit ascobic từ lá đến cơ quan tạo quả Thiếu Bo dẫn đến sự trao đổi hyđrat các bon và protein bị giảm, đường và tinh bột bị tích lũy ở lá, đỉnh sinh trưởng bị chết làm giảm tỷ lệ đậu quả, hạt lép, sức sống hạt giống giảm Phun dung dịch AxitBoric có thể làm tăng năng suất 4- 10%

- Molipđen (Mo) là nguyên tố vi lượng nằm trong thành phần của men Nitrogenaza Có tác dụng tăng hoạt tính vi khuẩn nốt sần, tăng việc đồng hoá

đạm Mo có vai trò quan trọng nhưng lượng Mo mà cây cần là rất ít, vì thế người ta gọi Mo là nguyên tố “Vi lượng quan trọng nhất” Hàm lượng Mo trong cây rất thấp, khoảng 0,1 - 0,93 mg/kg chất khô Tuy nhiên việc tăng hàm lượng Mo cho cây bằng phương pháp bón qua lá đW là một biện pháp kỹ thuật quan trọng để đạt năng suất lạc cao Nói chung, chỉ trên nền đất có pH thấp, việc bón Mo mới có hiệu quả Tuy nhiên, việc tăng hàm lượng Mo cho cây

Trang 33

bằng phương pháp bón qua lá đW là một biện pháp kỹ thuật quan trọng để đạt năng suất lạc cao [49]

Một số nguyên tố vi lượng khác như Fe, Zn, Mn cũng đóng vai trò quan trọng đối với năng suất lạc, song do lạc có thể hấp thụ cao các chất này

từ đất đủ cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, nên ít khi phải bổ sung các chất vi lượng này Trong thực tế sản xuất, các nguyên tố vi lượng thường

được bón cho lạc bằng cách phun qua lá

2.3 Những kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và ở Việt Nam 2.3.1 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới

2.3.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống

Cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng được sâu bệnh, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh đW góp phần đáng kể để tăng năng suất và sản lượng lạc trên thế giới Để phục vụ tốt cho công tác này, việc thu thập, đánh giá và bảo quản nguồn gen về cây lạc là việc làm rất quan trọng và đW được nhiều tổ chức và nhiều nước trên thế giới làm rất tốt ở Mỹ đW thu thập được gần 29.000 lượt mẫu (Banks, 1976); ở ấn Độ thu được 6290 mẫu giống; ở Australia thu được gần 12.200 lượt mẫu giống; ở Trung Quốc đW thu được hơn 6.000 lượt mẫu giống từ nhiều vùng khác nhau ICRISAT là cơ sở lớn nhất về cây lạc, tính đến năm 1993 ICRISAT đW thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 99 nước trên thế giới Trong đó châu Phi 4.078; châu á 4.609; châu Âu 53; châu Mỹ 3.905; châu úc và châu Đại Dương 59 còn 1.245 mẫu giống chưa rõ nguồn gốc (Mengesha M.H.,1993) Đặc biệt là trung tâm ICRISAT đW thu thập được

301 lượt mẫu thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồn gen có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chống chịu với

điều kiện môi trường bất thuận

Trang 34

Nhờ công tác thu thập, đánh giá và bảo quản nguồn gen lạc tốt, các nhà chọn tạo giống đW chọn tạo được nhiều giống có năng suất cao, chống chịu tốt, thích nghi cho từng vùng sinh thái

ICRISAT đW tuyển chọn được nhiều giống cho năng suất cao, kháng bệnh tốt như: ICGV – SM 83005, ICGV 88438, ICGV 89214, Sinkarzei,… giống ICVG 86388 kháng bọ trĩ và sâu khoang, giống ICGV 86699 kháng bệnh gỉ sắt, đốm đen, đốm nâu, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, đốm đen, gỉ sắt là giống ICGV – SM 86715, ICGV 87165

Theo Duan Shufen (1999) [15], cho biết ở Trung Quốc các nhà khoa học đW chọn tạo được nhiều giống mới bằng các phương pháp khác nhau như

đột biến sau khi lai, đột biến trực tiếp, lai đơn, lai kết hợp,… Hơn 200 giống lạc đW được phát triển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối của thập kỷ

50 Trong đó có những giống năng suất cao là Haihua 1, Xuzhou 68 – 4, Hua 37,… các giống có chất lượng hạt tốt bao gồm Baisha 1016, Hua 11, Hua 17, Luhua 10 đW sản xuất chủ yếu để xuất khẩu Một số giống kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn, gỉ sắt như giống Luhua 3, Zhonghua 2, Zhonghua 4, Yueyou 92 đW được sử dụng rộng rWi ở các vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao Viện nghiên cứu lạc tỉnh Sơn Đông đW chọn được một số giống mới có năng suất cao là Luhua 6,8,9, 1830, đạt năng suất 50 – 75 tạ/ha Viện cây lấy dầu

Vũ Hán đW lai tạo được giống Zhonghua No.4 chín sớm và có năng suất cao Trong những năm 1980, các giống mới chín sớm với những đặc tính nông học tốt như Shan you 27, Yue you116, Yue suan 58, Yue you 92 đW thay thế những giống thuộc loại chín trung bình Spanish, Virginia ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Trung Quốc

Mỹ là một nước không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống lạc và đW chọn tạo được nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh như: giống lai F2 VA 93B chín sớm, hạt to, năng suất cao,

Trang 35

giống Florigant được trồng rộng rWi ở nhiều vùng trên nước Mỹ, VGP9 có khả năng kháng bệnh thối trắng thân, bệnh thối quả Giống NC 12C là giống hạt

to, có khả năng kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao

30 – 50 tạ/ha

Một số nước khác trồng lạc trên thế giới đW chọn tạo được nhiều giống lạc có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được với một số loại sâu bệnh như: Inđônêxia đW chọn tạo được giống Mahesa, Badak, Brawar và Komdo có năng suất cao, phẩm chất tốt, chín sớm và kháng sâu bệnh ở Thái Lan đW chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống Khon Kean 60 - 3; Khon Kean

60 - 2 ; Khon Kean 60 - 1 và Tainan 9 có năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt có kích thước hạt lớn (Sanun Joglog và CS, 1996) [62] Còn ở Hàn Quốc đW chọn tạo được giống ICGS năng suất đạt tới 56 tạ/ha

ở Philippin đW chọn tạo được một số giống UPLP N06; UPLP N08 và BPIP N02, các giống này đều kháng với bệnh đốm lá muộn và gỉ sắt, đều có kích thước hạt lớn đồng thời có 2- 3 hạt trên quả rất phù hợp cho sử dụng gia đình

2.3.1.2 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho lạc

Phân bón là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất sản lượng lạc của các nước trên thế giới

- Liều lượng bón đạm thích hợp cho lạc: Khả năng nâng cao năng suất lạc bằng việc bón N, chó đến nay vẫn có những ý kiến khác nhau Tuy nhiên, các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần lượng N lớn để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu lấy từ quá trình cố định đạm sinh học ở nốt sần Theo William (1979), trong điều kiện tối ưu, cây lạc có thể

cố định được 200 – 260kg N/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượng đạm bón cho lạc

Nghiên cứu của Reddy và CS (1988) [60], thì lượng phân bón là 20 kg N/ha Trên đất li mông cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong điều kiện

Trang 36

các yếu tố khác tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mới cần bón thêm đạm (Vũ Công Hậu và CS, 1995) [25]

Theo Duan Shufen (1999), loại phân đạm bón cho lạc có sự tương quan thuận giữa tỷ lệ đạm bón và độ cao cây, số cành và chiều dài cành Lạc trồng

ở đất xấu năng suất tăng có ý nghĩa với lượng đạm khi bón kết hợp với các loại phân hữu cơ ở cả giai đoạn bón lót và thúc Bón lót 187,5 kg/ha phân đạm

có chứa 20% kg N nguyên chất thì năng suất lạc tăng lên từ 4,8 - 20% Bón lót

từ 7,5 – 15kg đạm amon sunfat ở giai đoạn cây con đW tăng năng suất 9 – 11% Đất trung bình, lượng đạm trong đất 0,045% - 0,065%, bón 56kg/ha làm tăng năng suất lạc Đất màu mỡ, có lượng đạm trong đất lớn hơn 0,065% thì bón N năng suất lạc không tăng

- Kết quả nghiên cứu về bón phân lân cho lạc: Việc bổ sung dinh dưỡng khoáng hợp lý cho đất trồng lạc là biện pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế về độ chua và dinh dưỡng ở ấn Độ, tổng hợp từ 200 thí nghiệm trên nhiều loại đất đW kết luận rằng: bón 14,5 kg P2O5/ha cho lạc nhờ nước trời, năng suất tăng 210 kg/ha, trên đất li mông đỏ nghèo N, P, bón 15 kg P2O5/ha, năng suất tăng 14,7% Đối với loại đất Feralit mầu nâu ở Madagasca, lân là yếu tố cần thiết hàng đầu Nhờ việc bón lân ở mức 75 kg P2O5/ha năng suất lạc

có thể tăng 100%, Dẫn theo IG Degeus, 1978, cho rằng chỉ cần bón 400 –

500 mg P/ha đW kích thích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Virgna sống cộng sinh, làm tăng khối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc

Theo Duan Shufen ở Trung Quốc thường bón Supephotphat và canxi photphat Phân lân supephotphat có 18% hàm lượng nguyên chất, phân giải nhanh Loại phân này bón đất trồng lạc có độ phì trung bình và mang tính kiềm thì sẽ đạt năng suất cao Phân canxi photphat, phân giải chậm phù hợp với đất trồng lạc có độ phì trung bình, đất chua

Tại Senegal phân lân bón cho lạc có hiệu lực trên nhiều loại đất khác

Trang 37

nhau Bón với lượng 12 - 14 kg P2O5/ha đW làm tăng năng suất quả lên 10 - 15% so với không bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khi hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đạt trên 155ppm [16]

- Kết quả nghiên cứu bón Kali cho lạc: Việc bón phân kali cho đất có

độ phì từ trung bình đến giàu, đW làm tăng khả năng hấp thu N và P của cây lạc Bón 25 kg K/ha cho lạc đW làm tăng năng suất lên 12,7% so với không bón (Duan Shufen (1999) [15] Reddy và Rao (1965), cho rằng hiệu quả của việc bón kali cho lạc trên đất limon cát là rất kém Cũng vậy trên đất đen Puntamkar (1967), không thấy tăng năng suất khi bón 25,0 kg K2O/ha (Dẫn theo Vũ Công Hậu và CS, 1995) [25]

ở Tây Ban Nha trồng khoai tây sau đó trồng lạc và tập trung bón phân cho cây khoai tây với lượng như: 60 tấn phân chuồng, 600 kg supelân, 200 -

300 kg Kaliclorua/1 ha Nhưng năng suất lạc vẫn có thể đạt được từ 2,5 - 3,5 tấn/ha Suba Rao (1980), cho biết ở đất cát của ấn Độ bón với tỷ lệ K: Ca: Mg: là 4: 2: 0: là tốt nhất Theo Reddy (1988) [60], trên đất limon cát vùng Tirupati trồng lạc trong điều kiện phụ thuộc vào nước trời, năng suất tăng khi bón kali với lượng 66 kg K2O/ha Mức bón để có năng suất tối đa là 83,0 kg

K2O/ha và có hiệu quả nhất là bón 59,9 kg K2O/ha

- Kết quả nghiên cứu bón can xi (Ca) cho lạc: Vôi là một nhân tố không thể thiếu khi trồng lạc, vôi làm thay đổi độ chua của đất Đất trồng lạc thiếu canxi sẽ dẫn đến giảm quá trình hình thành hoa và tia, dẫn đến củ bị ốp

và cũng làm phôi hạt bị đen Ca làm giảm hiện tượng phát triển không đầy đủ của noWn, tăng số quả trên cây, dẫn đến tăng năng suất

Theo Duan Shufen (1999), ở Trung Quốc vôi bón cho đất chua làm trung hòa độ pH của đất, cải thiện phần lý tính của đất và ngăn ngừa sự tích lũy các độc tố do Al và các nhân tố khác gây nên Bón vôi với liều lượng 375

Trang 38

kg/ha cho đất nâu ở Weihai đW làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón vôi

- Kết quả nghiên cứu về bón phân cân đối: Theo Duan Shufen (1999) [15], kỹ thuật bón phân cân đối cho lạc được du nhập từ ấn Độ vào Trung Quốc ở những năm 1980 đW mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều loại cây trồng Hơn 85.000 ha lạc ở các địa phương khác nhau của tỉnh Sơn Đông, bón kết hợp NPK theo tỷ lệ 1:1:5 trong vụ 1987 - 1988 tăng năng suất quả từ 16,89

đến 24,40% so với biện pháp bón cổ truyền của nông dân địa phương Những kết quả khác cho thấy rằng so với việc bón đơn lẻ N, P và K thì bón kết hợp đW làm tăng khả năng hấp thụ đạm của cây lên 77,3%, lân lên 3,58%, nhờ đó khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần tăng lên 13 – 21% Tỷ lệ bón kết hợp NPK tối ưu theo khuyến cáo là 1 : 1,5 : 2 Để thu được 100 kg lạc cần bón 5

kg N, 2 kg P2O5 và 2,5 kg K2O

Tại ấn Độ kết quả của 436 thí nghiệm cho thấy bón phối hợp 30 kgN/ha với 17 kg P2O5/ha đW làm tăng năng suất lạc gấp đôi so với bón 30 kg N/ha, nếu phối hợp thêm 16 kg K2O/ha nữa thì năng suất tăng thêm

Anon I (1972) [53], cho rằng cứ mỗi đơn vị NPK được bón cân đối sẽ cho thu hoạch cao hơn từ 10 đến 30 đơn vị hoặc cao hơn nữa so với phân bón không cân đối

2.3.2 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam

2.3.2.1 Các kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc

ở Việt Nam công tác thu thập, bảo quản và sử dụng tập đoàn lạc đW

được các nhà khoa học quan tâm và tiến hành từ những năm 80 Số lượng mẫu giống thu thập trong thập kỷ này là 1.271, đến thập kỷ 90 du nhập được1.894 mẫu giống, từ năm 2000 đến nay nhập được hơn 430 mẫu giống Ghi nhận

Trang 39

những kết quả to lớn đW đạt được, các nhà chọn tạo giống lạc ở Việt Nam đW tập trung nghiên cứu vào các mục tiêu: năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái, phù hợp với các công thức luân canh, thời gian sinh trưởng ngắn, giống có khả năng kháng, chống chịu với bệnh gỉ sắt, đốm đen, héo xanh vi khuẩn, có khả năng chống chịu hạn, giống chống chịu sâu và có tỷ lệ nhân và hàm lượng dầu cao phù hợp cho xuất khẩu [13]

Từ năm 1990 đến nay các nhà chọn tạo giống Việt Nam đW chọn tạo ra

được gần 20 giống lạc mới, trong đó có 5 giống quốc gia được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính và gây đột biến, và các giống tiến bộ kỹ thuật được chọn lọc từ các tập đoàn lạc nhập nội, các giống này đW được trồng phổ biến trong các tỉnh, thành cả nước

Bằng phương pháp lai hữu tính giống Mộc Châu trắng và Trạm xuyên

đW tạo được giống Sen lai 75/23, có năng suất đạt 25 – 30 tạ/ha, khối lượng

100 hạt là 50 – 55g, tương đối chịu rét, vỏ lạc màu hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu (Lê Song Dự và CS, 1991) [17] Giống V79 được chọn tạo bằng cách dùng tia Rơnghen gây đột biến trên giống lạc bạch Sa, khối lượng 1000 hạt là

48 – 52g, năng suất trung bình đạt 20 tạ/ha, là giống có khả năng chịu hạn Giống lạc 4329 được chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biến phóng xạ tia chiếu xạ 5.000r trên giống Hoa 17, năng suất trung bình đạt 20 – 35 tạ/ha, kháng được bệnh thối quả và lở cổ rễ, thích hợp với đất phù sa, đất thịt nhẹ Giống VD2 được chọn tạo từ tổ hợp lai Lỳ Đức Hòa với USA54 của Viện ICRISAT, có thời gian sinh trưởng ngắn 85 – 90 ngày, năng suất đạt 31 – 32 tạ/ha Giống L12 được chọn tạo bằng phương pháp chọn lọc phả hệ cải tiến từ

tổ hợp lai hữu tính giữa giống lạc trong nước V79 và giống cải tiến ICGV

87157 nhập nội Đây là giống chịu hạn, chống chịu được một số loại bệnh (đốm đen, gỉ sắt, đốm nâu), năng suất trung bình đạt 35 – 37 tạ/ha, phù hợp với yêu cầu xuất khẩu [8]

Trang 40

Các giống được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật là: Giống 1600, có thời gian sinh trưởng 120 – 125 ngày, năng suất đạt 20 – 22 tạ/ha, có khả năng chịu nóng khá, thích hợp với đất đồi thấp và cát ven biển Giống LO2 là giống

có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân 120 – 125 ngày, vụ thu 100 – 105 ngày, năng suất đạt cao 30 – 35 tạ/ha, chịu hạn khá, chống bệnh đốm lá và gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình Giống lạc L14 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể, có thời gian sinh rưởng trung bình, kháng bệnh lá cao, tỷ lệ thối quả (0,7%) và cây chết (0,6%), có khả năng chịu hạn khá Hiện nay giống lạc L14 là giống chủ lực được trồng với diện tích 29.823

ha ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, năng suất trung bình 30 – 40 tạ/ha Giống lạc L08 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ tập đoàn nhập nội, khối lượng 100 hạt 58 – 60g, kháng sâu chích hút, bệnh hại lá và héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình, năng suất trung bình 28 – 32 tạ/ha (Nguyễn Xuân Hồng, 1999) [26] Ngoài ra chúng ta còn nhiều giống được công nhận giống tạm thời, đang được khu vực hóa có năng suất cao, chất lượng khá như L18, MD9,…

2.3.2.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc

- Liều lượng bón N thích hợp cho lạc

Lạc là cây có khả năng cố định nitơ nhờ vi khuẩn nốt sần, nhưng ở giai

đoạn đầu của quá trình sinh trưởng cây rất cần đạm, do lượng đạm dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thường của cây, quá trình cố định nitơ phân tử chưa xảy ra hoặc rất yếu Vì vậy, bón một lượng

đạm hợp lý vào giai đoạn đầu là rất cần thiết cho cây sinh trưởng tốt và xúc tiến quá trình cố định đạm được sớm hơn

Kết quả nghiên cứu của Viện Nông hóa Thổ nhưỡng, Viện Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp trồng lạc trên đất bạc màu, bón với lượng phân hữu cơ 8 –

10 tấn/ha thì lượng N thích hợp là 30kg/ha, nếu bón tăng liều lượng đạm lên

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản l−ợng lạc trên thế giới - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản l−ợng lạc trên thế giới (Trang 15)
Bảng 2.2. Diễn biến diện tích, năng suất và sản l−ợng lạc - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 2.2. Diễn biến diện tích, năng suất và sản l−ợng lạc (Trang 18)
Bảng 4.1. Một số yếu tố khí hậu ở huyện Nho Quan – Ninh Bình - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.1. Một số yếu tố khí hậu ở huyện Nho Quan – Ninh Bình (Trang 51)
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng lạc của tỉnh Ninh Bình - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng lạc của tỉnh Ninh Bình (Trang 54)
Bảng 4.3. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng, - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.3. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng, (Trang 59)
Bảng 4.4. Động thái tăng tr−ởng chiều cao thân chính                             của giống lạc L14 và MD7 (cm) - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.4. Động thái tăng tr−ởng chiều cao thân chính của giống lạc L14 và MD7 (cm) (Trang 61)
Bảng 4.5. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng hình thành  cành cấp 1 và cấp 2 của giống lạc L14 và MD7 ( số cành/cây) - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.5. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng hình thành cành cấp 1 và cấp 2 của giống lạc L14 và MD7 ( số cành/cây) (Trang 63)
Bảng 4.6.  ảnh  hưởng của liều lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá                                      với giống lạc L14 và MD7  (m 2  lá/m 2  đất) - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.6. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá với giống lạc L14 và MD7 (m 2 lá/m 2 đất) (Trang 65)
Bảng 4.8. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy                         chất khô đối với giống lạc MD7 và giống lạc L14 (g/cây)  Gièng  Công thức  TK ra hoa  TK hình thành quả  TK thu hoạch - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.8. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất khô đối với giống lạc MD7 và giống lạc L14 (g/cây) Gièng Công thức TK ra hoa TK hình thành quả TK thu hoạch (Trang 69)
Bảng 4.9.  ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến mức độ                           nhiễm sâu bệnh hại trên giống  giống L14 (ngày sau trồng…) - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.9. ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên giống giống L14 (ngày sau trồng…) (Trang 71)
Hình 4.1 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến  năng suất thực thu lạc L14 và MD7 - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Hình 4.1 ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất thực thu lạc L14 và MD7 (Trang 76)
Bảng 4.20. ảnh hưởng của dạng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.20. ảnh hưởng của dạng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh (Trang 86)
Bảng 4.21. ảnh hưởng của dạng lân bón đến các yếu tố cấu thành   năng suất và năng suất của giống lạc L14 và MD7 - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
Bảng 4.21. ảnh hưởng của dạng lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lạc L14 và MD7 (Trang 88)
Ảnh 2. Hình ảnh đang theo dõi thí nghiệm - [Luận văn]xác định liều lượng và dạng lân bón thích hợp cho một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân tại huyện nho quan   ninh bình
nh 2. Hình ảnh đang theo dõi thí nghiệm (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm