1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu

98 658 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Kháng Sinh Và Hormone Để Phòng Và Điều Trị Hiện Tượng Rối Loạn Sinh Sản Thường Gặp Trên Đàn Bò Sữa Gốc Úc Nuôi Tại Mộc Châu
Tác giả Nguyễn Việt Thắng
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 4,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- & -

NGUYỄN VIỆT THẮNG

ỨNG DỤNG KHÁNG SINH VÀ HORMONE ĐỂ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN SINH SẢN THƯỜNG GẶP TRÊN ĐÀN BÒ SỮA GỐC ÚC NUÔI TẠI MỘC CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: THÚ Y

Mã số : 60.62.50

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS TRẦN TIẾN DŨNG

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Việt Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Thú y Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học

PGS TS Trần Tiến Dũng đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên

cứu và xây dựng luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn tập thể thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên

Bộ môn Ngoại Sản khoa Thú y, Viện Công nghệ sinh học, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giũp đỡ, động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn mọi sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo, Phòng Kỹ thuật Công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Nhân dịp này, tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình và trường Trung học Nông Lâm Sơn La đã động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập và thực hiện công trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Tác giả

Nguyễn Việt Thắng

Trang 4

iii

MỤC LỤC

Trang

2.2 Một số bệnh thường gặp ở đường sinh dục bò cái 18 2.3 Điều khiển chu kỳ động dục của bò bằng hormone và các chế phẩm

3 Đối tượng, nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 36

3.2.1 Đánh giá thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh

sản của đàn bò sữa gốc úc

36

3.2.2 ứng dụng hormone, chế phẩm hormone phòng và điều trị một số

hiện tượng rối loạn sinh sản chính thường gặp ở bò sữa

37

3.4.1 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản 38 3.4.2 Điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa gốc úc 40

Trang 5

3.4.3 ứng dụng kháng sinh và hormone sinh sản 41

4.1 Kết quả khảo sát đàn bò sữa HF nuôi tại Công ty Cổ phần giống bò

4.1.7 Tỉ lệ đẻ và một số bệnh sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa Mộc

Châu

60

4.1.8 Thực trạng bệnh trên buồng trứng của đàn bò sữa gốc úc 62 4.2 Kết quả sử dụng hormone kết hợp kháng sinh điều trị bệnh sinh sản 66 4.3 Kết quả ứng dụng kháng sinh và hormone gây động dục ở bò sữa gốc

úc bị rối loạn sinh sản sau điều trị bệnh viêm tử cung

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Tên viết tắt Tên đầy đủ

1 CIDR Control internal drug release

2 Crestar Norgestomet + Oestradiol Benzoate

5 FRH Foliculine Releasing Hormone

6 FSH Follicule Stimulating Hormone

7 GnRH Gonadotropin Releasing Hormone

8 HCG Human Chorionic Gonadotropin

10 HTNC Huyết thanh ngựa chửa (PMSG)

11 IA Artificial Insemination (thụ tinh nhân tạo)

13 LRH Lutein Releasing Hormone

14 LTH Luteo Tropic Hormone

15 PG Prostaglandin (PGF2α)

16 PGF2α Prostaglandin F2 alpha

17 PMSG (eCG) Pregnant Mare Serum Gonadotropin

18 PRH Prolactin Releasing Hormone

19 PRID Progesterone releasing intravaginal device

Trang 7

4.3 Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu của bò cái HF 52 4.4 Thời gian đẻ đến lần mang thai sau và khoảng cách giữa hai lứa

đẻ của đàn bò HF

54

4.5 Tỉ lệ thụ thai và hệ số phối giống của đàn bò cái HF 56 4.6 Kết quả xác định hiện tượng rối loạn sinh sản của đàn bò HF 57 4.7 Thời gian mang thai của đàn bò sữa HF Mộc Châu 58 4.8 Tỉ lệ đẻ toàn đàn và một số bệnh sinh sản trên đàn bò cái HF 61 4.9 Kết quả khám lâm sàng buồng trứng đàn bò sữa gốc úc 63 4.10 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung trên bò sữa gốc úc bị rối

Trang 8

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Sơ đồ 2.1 Tóm lược đời sống sinh sản của bò cái 7

Sơ đồ 2.2 Cơ chế điều hoà quá trình sinh sản trên bò 14

Sơ đồ 2.3 Phát triển nang buồng trứng bò trong chu kỳ 17

Sơ đồ 2.4 Xử lý GnRH+PG+GnRH và dẫn tinh vào thời điểm cố

Trang 9

1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi bò sữa là một trong những nghề đang được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm và chú trọng đầu tư Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, nhu cầu sử dụng sữa của người dân Việt Nam ngày một tăng cao

Theo số liệu thống kê của Viện Chăn nuôi Quốc gia Việt Nam đến tháng 6/2008 cả nước có 151.650 con bò sữa, sản lượng sữa đạt 281.890 tấn chỉ mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu trong nước

Hiện tại Đảng và Nhà nước ta cho phép mở rộng nhập khẩu, nhân giống

và lai tạo đàn bò sữa đang có trong nước nhằm nâng cao sản lượng sữa, giảm bớt tình trạng nhập khẩu sữa chất lượng không đồng đều với giá thành cao Mộc Châu là một huyện miền núi nằm trên cao nguyên đá vôi vùng Tây Bắc với độ cao trung bình khoảng 1.050 m so với mặt nước biển về hướng Đông Nam của tỉnh Sơn La có diện tích tự nhiên là 202.513 ha Địa hình bị chia cắt, có nhiều núi cao hiểm trở và nhiều thung lũng rộng, có cao nguyên tương đối bằng phẳng Độ dày tầng đất khá, tỉ lệ mùn và các chất dinh dưỡng

từ trung bình đến khá, ít chua có tiềm năng để hình thành các vùng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, tập trung với cơ cấu đa dạng, gồm các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa màu và phát triển chăn nuôi đại gia súc

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Mộc Châu có mùa đông lạnh, mùa hè mát, ẩm và mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình/năm khoảng 18,50C, lượng mưa trung bình/năm khoảng 1.560 mm, độ ẩm không khí trung bình 85% Khí hậu vùng cao nguyên rất phù hợp để phát triển cây

Trang 10

2

trồng và vật nuôi vùng ôn đới như cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc đặc biệt là bò sữa, bò thịt

Nằm trên vùng cao nguyên, Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu có

3 năm hoạt động theo mô hình cổ phần, nơi có bề dày 50 năm kinh nghiệm trong chăn nuôi, phát triển và nhân giống đàn bò sữa Hiện tổng đàn bò sữa tính đến hết năm 2007 là 3.481 con cho 9.490 tấn sữa trong năm, năng suất bình quân toàn đàn 16,74 kg/con/ngày (5.105 kg/chu kỳ) Với giá thu mua hiện tại là 7.000 đồng/kg thì chăn nuôi bò sữa đang dần hồi phục, sản phẩm sữa ngày càng tăng, thương hiệu sản phẩm sữa Mộc Châu ngày càng mạnh, được thị trường tiếp nhận và đánh giá cao (theo báo cáo tổng kết năm 2007 và

kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2008 của Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu)

Tại Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu, chỉ có một số ít các trang trại nuôi tập trung 30 - 50 con bò sữa, còn lại là chăn nuôi trong điều kiện phân tán ở các nông hộ và các trang trại nhỏ Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau nên dẫn đến chỉ tiêu sản xuất của đàn bò sữa cũng khác nhau, đặc biệt là các chỉ tiêu sinh sản thường không ổn định Một số điểm yếu trong sinh sản của đàn bò sữa đã biểu hiện như tuổi đông dục lần đầu cao, khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài, tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục, tỉ lệ sót sát nhau cao Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn bò có rất nhiều, bên cạnh yếu tố con giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ chính sách phải kể đến khâu kỹ thuật chăn nuôi bò sữa như theo dõi động dục, phối giống đúng thời điểm hay các biện pháp hữu hiệu để xử lý các trường hợp chậm sinh và bệnh viêm nhiễm đường sinh dục chưa được tốt dẫn đến làm giảm khả năng sinh sản của đàn bò

Trang 11

3

Những vấn đề nêu trên cho thấy việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và các biện pháp phòng trị các bệnh gây chậm sinh cho bò sữa là việc làm cần thiết Với mục đích góp phần ổn định chu kỳ tiết sữa và tăng nhanh số lượng đàn, làm giảm thiệt hại kinh tế cho người dân, đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về bò sữa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc Úc nuôi tại Mộc Châu "

1.2 Mục đích của đề tài

- Đánh giá được thực trạng khả năng sinh sản của đàn bò sữa nuôi tại Công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu - Sơn La

- Xác định những hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên bò sữa

và nguyên nhân gây bệnh

- Ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị một số hiện tượng rối loạn sinh sản chính thường gặp trên bò sữa gốc Úc

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu giúp cho các cấp quản lý đánh giá đúng thực trạng sinh sản trên đàn bò sữa Từ đó có chính sách, biện pháp thích hợp để bảo vệ và phát triển đàn bò sữa tại tỉnh Sơn La

Các kết quả nghiên cứu về bệnh sinh sản ở bò sữa giúp ích cho các cán

bộ thú y địa phương, đặc biệt có ý nghĩa với các cán bộ đang làm việc tại trang trại chăn nuôi bò sữa nhằm ứng dụng có hiệu quả góp phần nâng cao năng suất sinh sản trong chăn nuôi bò sữa

Trang 12

4

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sinh lý sinh dục bò cái

2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái

Cơ quan sinh dục bò cái cũng mang đặc tính chung của các loài gia súc khác, nó được chia thành bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng)

Âm môn (Vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm ở dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi (labia vulvae), bờ trên của hai môi có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất

nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi

Âm vật (Clitoris)

Âm vật của con cái giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm vật, ở giữa

âm vật gấp xuống dưới, đây là chỗ tập trung của các đầu mút dây thần kinh

Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalism)

Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

Âm đạo (Vagina)

Âm đạo là một ống tròn, trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền

đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:

Trang 13

5

- Lớp liên kết bên ngoài:

- Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng Chúng liên kết với các cơ ở cổ tử cung

- Lớp niêm mạc âm đạo: có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc

Âm đạo là cơ quan giao cấu, nơi dịch đọng lại ở đó và chuyển tiếp vào

tử cung, phần lớn chúng được thải ra ngoài và một phần hấp thụ qua âm đạo Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận để thai ra ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch tử cung

Theo Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, (1997) [7]; Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh, (2002) [4]; âm đạo của bò Việt Nam dài khoảng 22 - 25 cm

Tử cung (Uterus)

Tử cung của các loài động vật có vú gồm hai sừng, một thân và một cổ

tử cung Đối với bò cái tơ thì toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên

là trực tràng, phía dưới là bàng quang Khi bò đẻ nhiều lứa thì tử cung nằm trong xoang bụng Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, ở đây hợp tử phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ cung cấp thông qua lớp nội mạc tử cung Giai đoạn đầu hợp tử sống được nhờ vào noãn hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chế thẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tử cung và dịch tử cung giữ vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai và đẻ

Cổ tử cung

Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung của bò hình tròn, thông với

âm đạo Cổ tử cung dài khoảng 8 – 12 cm, đường kính 5 – 6 cm Niêm mạc cổ

Trang 14

6

tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành tử cung không đồng đều tạo thành

những tầng gọi là các “tầng hoa nở” hay “thuỳ hoa nở”, có 3 - 5 tầng hoa nở

Tầng ngoài cùng nhô vào âm đạo 0,5 - 1,0 cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Khám qua trực tràng cầm vào cổ tử cung tựa như cầm một đoạn cổ gà

Thân tử cung

Thân tử cung của bò rất ngắn, chỉ khoảng 2 - 4 cm nối giữa sừng tử cung với cổ tử cung (Khuất Văn Dũng, 2005) [5]

Sừng tử cung

Ở bò cái có hai sừng tử cung (sừng trái và sừng phải), độ dài mỗi sừng

20 - 35 cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3 - 4 cm, phần ngọn chỉ khoảng 0,5 - 0,8 cm Khác với gia súc khác, hai sừng tử cung bò gần với thân

tử cung và dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng Phía trên của

tử cung gọi là rãnh tử cung dài 3 - 5 cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung (Khuất Văn Dũng, 2005) [5]

Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng (vòi fallop), nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau, một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng Gần sát với buồng trứng có hình loa kèn, trên loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều

ôm lấy buồng trứng Đối với bò, diện tích của loa kèn thường rộng 20 - 40 mm2

và phủ toàn bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao, 2005) [8] Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và sự phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày

Trang 15

7

Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: đoạn tua điểm - phễu - phồng ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh, 1992) [1]

Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của bò gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần nút sừng tử cung và nằm trong xoang chậu Hình dáng buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Khi mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3 g, khi trưởng thành có khối lượng 10 - 20 g, dài 1 - 2 cm, rộng 1 - 1,5 cm và dày khoảng 1,5

cm, thường có màu trắng (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [2] Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết dịch nội tiết

2.1.2 Chu kỳ sinh dục bò cái

2.1.2.1 Sự thành thục về tính

Hoạt động sinh sản của bò cái cũng giống như các loại gia súc cái khác,

được bắt đầu từ khi thành thục về tính cho đến khi sắp già cỗi

Thơ ấu Đời sống sinh sản Già cỗi

Thành thục tính dục

Sơ đồ 2.1 Tóm lược đời sống sinh sản của bò cái

Gia súc thành thục về tính là thời điểm cơ quan sinh dục cái phát triển hoàn thiện, trên buồng trứng có noãn chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ; biểu hiện ở bên ngoài của con vật là lông mượt, tai thính, thường xuyên chạy nhảy và nô đùa với con khác

Trang 16

8

Bê cái thành thục về tính từ lúc 7 - 10 tháng tuổi, nhưng chỉ cho phối giống được sau 18 - 20 tháng tuổi

Qua nghiên cứu, tác giả Nguyễn Văn Thưởng, (1995) [17] đã cho thấy

bò sinh sản được ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng tại chuồng và được gặm cỏ ngoài bãi trong vụ đông xuân sẽ có tỉ lệ động hớn và phối giống có chửa cao trong vụ hè thu Bò đẻ cuối vụ đông xuân do có thời gian vận động và gặm cỏ ngoài bãi trong suốt cả hè thu nên có điều kiện phát triển tốt trong thời gian sinh trưởng về sau

2.1.2.2 Chu kỳ sinh dục và thời gian động dục

Từ khi thành thục về tính, các noãn bao trên buồng trứng phát triển lớn dần, đến độ chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài, những biểu hiện này diễn ra liên tục và

có tính chu kỳ nên gọi là chu kỳ động dục (Khuất Văn Dũng, 2005) [5] Thời gian của một chu kỳ động dục được tính từ lần rụng trứng trước đến lần rụng trứng sau

- Chu kỳ sinh dục trung bình của bò cái rạ là 20,23 ± 0,05 ngày (dao động 17 - 24 ngày); của bò cái tơ là 21,28 ± 0,06 ngày (dao động 18 - 22 ngày) Bò thường lên giống vào những lúc trời mát như gần sáng (43%), chiều tối và nửa đêm (35%)

- Thời gian động dục trung bình là 17,8 giờ đối với bò cái rạ (dao động trong 15 - 24 giờ); 15,3 giờ đối với bò cái tơ (dao động trong 12 - 24 giờ)

- Trứng sẽ rụng sau khi kết thúc động dục 12 - 14 giờ

- Thời gian động dục sau khi sinh là 90 - 120 ngày (dao động từ 30 -

180 ngày)

Trang 17

9

- Chu kỳ sinh dục của bò cái chia làm 4 giai đoạn:

* Tiền động dục: Kéo dài 3 - 4 ngày Giai đoạn này chuẩn bị cho giao

phối

* Động dục: Kéo dài trong khoảng 10 - 24 giờ (dao động 6 - 36 giờ)

Đây là giai đoạn cao điểm của chu kỳ động dục Lúc này, con vật có những biểu hiện chịu đực mạnh mẽ nhất Thông thường, nếu phát hiện động dục trước 8 giờ sáng thì buổi chiều cùng ngày là thời điểm dẫn tinh thích hợp, còn nếu phát hiện vào lúc chiều tối thì nên phối giống vào sáng ngày hôm sau

* Sau động dục: Kéo dài khoảng 4 - 5 ngày Nếu bò được thụ thai thì

con vật bước vào giai đoạn chửa đẻ Thời gian chửa đẻ (mang thai) trên bò trung bình là 282 ngày

* Yên tĩnh: Nếu bò không được thụ thai thì nó sẽ có một khoảng thời

gian 10 - 12 ngày nghỉ ngơi để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

- Sau khi rụng trứng, hoàng thể hình thành và phát triển trong vòng 4 - 5 ngày

Bảng 2.1 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái

(Hoàng Nghĩa Sơn, 2007) [14]

Chỉ tiêu Đơn vị tính Trung bình động Dao

Trang 18

10

Thời gian trứng rụng giờ 12 - 14 giờ sau khi

kết thúc động dục

6 - 18

Động dục lại sau khi đẻ ngày 90 – 120 30 – 180 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngày 420 – 450 400 - 540 Các chỉ tiêu trên có phạm vi dao động lớn, chứng tỏ những đặc điểm sinh lý simh sản của bò cái còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như yếu tố giống: yếu tố cá thể; điều kiện khí hậu - mùa vụ - môi trường; chế độ nuôi dưỡng - quản lý - chăm sóc

Bảng 2.2 Biểu hiện của bò cái qua các giai đoạn của chu kỳ động dục

(Hoàng Nghĩa Sơn, 2007) [14]

Giai đoạn Trước chịu đực Chịu đực Sau chịu đực Cân bằng

Dáng vẻ

bên ngoài

Băn khoăn, ngơ ngác đứng không yên; hay đái dắt, kêu rống, nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy, bỏ

đi rông

Có xu hướng tìm đực hoặc tới gần con khác, chịu cho con khác nhảy lên, mê ì

Cho con khác nhảy lên mình và cho phối giống (một thời gian ngắn)

Âm hộ Sưng, xung huyết, đỏ,

hơi phù, bóng ướt,

Bớt sưng hơn

Hơi thâm se,

Hơi sưng Bình thường

trở lại

Trang 19

11

mép âm hộ hơi hé

mở

dính cỏ rác

Âm đạo Đỏ hồng, ướt, bóng Bớt sưng hơn

Hơi thâm se

Hết sưng Bình thường

trở lại

Tử cung Màng nhầy tử cung

dày lên, tụ huyết

Màng nhày tử cung dày, trương lực tối

đa

Trương lực bớt căng hơn

Bình thường trở lại

Cổ tử cung Hé mở, đỏ hồng, bớt

ướt Niêm dịch lỏng nhiều, trong suốt, dễ

đứt

Mở rộng, niêm dịch đặc, dính, có màu nửa trong - nửa đục

Hẹp dần, niêm dịch giảm, màu đục bã đậu

Khép kín trở lại, không có niêm dịch

Nang trứng nhô cao và căng lên

Trứng rụng sau khi thúc động dục

12h - 14h

Có thể vàng nhô lên

Nội tiết

- Nang trứng tiết ra oestradiol 17β với lượng nhiều dần

- Progestrerone giảm thấp do thể vàng chu

kỳ trước ngưng hoạt

động

- Trong suốt giai đoạn

- Oestradiol 17β đạt đỉnh cao

- LH đạt đỉnh cao vào ngày chịu đực rồi giảm xuống đột ngột

- Oestradiol 17β giảm đột ngột, sau đó tăng dần và tạo một đỉnh thấp vào ngày thứ 5 - 6 của chu kỳ

sau

- Prgesterone tăng dần đến ngày thứ 9 - 10, đạt đỉnh cao ở ngày thứ 5 - 6

Trang 20

12

này, LH rất thấp

- PGF2α tăng dần và đạt đỉnh cao trước lúc chịu đực 5 ngày, kéo dài 3 - 4 ngày sau rồi giảm xuống

- PGF2α ở mức thấp nhất

- LH ở mức thấp cho đến ngày chịu đực của chu kỳ

sau

- PGF2α bắt đầu tăng và duy trì đến ngày thứ 14, đạt đỉnh cao trong 3 - 4 ngày trước khi bắt đầu chu

kỳ mới

Tỉ lệ đậu thai sẽ cao nếu bò cái được phối giống vào cuối thời kỳ biểu hiện động dục lâm sàng Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong, (1994) [12] buồng trứng bên phải rụng trứng nhiều hơn buồng trứng bên trái (60% so với 40%), vòi tử cung bên phải thường hay mang thai hơn

Khi phối giống có chửa thì bò không động dục trở lại Thời gian có chửa ở bò cái là 9 tháng 10 ngày (280 - 285 ngày) (Trần Tiến Dũng, 2002) [4] Sau khi đẻ, thời kỳ động dục trở lại của bò sữa là 35 - 60 ngày Động dục xuất hiện ở bò cái vắt sữa sớm hơn ở bò cái nuôi con, nếu cho bò giao phối khi động dục sau đẻ 40 ngày thì tỉ lệ đậu thai thấp (Khuất Văn Dũng, 2005) [5]

2.1.3 Cơ chế điều hoà hoạt động sinh sản của bò cái

Quá trình trứng phát triển, chín và rụng trên động vật có vú nói chung

và bò cái nói riêng chịu sự điều tiết chặt chẽ của hệ thống thần kinh thể dịch Trong đó, vùng dưới đồi, tuyến yên, các tuyến nội tiết sinh dục giữ vai trò rất quan trọng

Trang 21

13

Ở gia súc cái, khi đã đến giai đoạn thành thục sinh dục thì buồng trứng gia súc đó tồn tại các nang trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau Nang trứng sản xuất ra estrogen đổ vào máu theo hệ thống tuần hoàn Estrogen tác động lên trung khu vỏ đại não và ảnh hưởng tới Hypothalamus, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền xung động thần kinh, gây tiết ra GnRH chu kỳ (Gonadotropin Releasing Hormone) Cũng vào lúc này, estrogen tác động lên tuyến yên làm cho GnRH trở nên mẫn cảm hơn với các hormone sinh dục Những yếu tố này gọi là yếu tố nội tại

Song song với yếu tố nội tại, yếu tố ngoại cảnh và sự hiện diện của con đực cũng gây nên những kích thích hóa học mãnh liệt lên vỏ đại não

Sau khi các yếu tố nội tại và ngoại cảnh đó truyền về vỏ đại não, vỏ đại não sẽ tiếp thu chúng và truyền đến hạ khâu não (hypothalamus), kích thích tiết ra các yếu tố giải phóng (hay còn gọi là hormone giải phóng) Bao gồm: FRH; LTH và PRH

- FRH (Foliculine Releasing Hormone): Hormone này sẽ kích thích

thùy trước tuyến yên tiết ra kích tố noãn bào FSH (Follicule Stimulating Hormone) Hormonre này vào máu, đi đến buồng trứng, kích thích noãn bào phát triển và chín thành nang Graff, đồng thời kích thích noãn bào tiết noãn tố estrogen Noãn tố này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lớp niêm mạc âm đạo; làm cho âm hộ sưng to; tử cung căng lên, tăng cường tiết niêm dịch Estrogen cũng tác động lên hypothalamus, kích thích dục tính biểu hiện ra bên ngoài bằng hiện tượng động dục

- LRH (Lutein Releasing Hormone): Kích thích thùy trước tuyến yên

tiết ra LH (Luteinizing Hormone) Hormone này có tác dụng làm cho buồng trứng phát triển, trứng chín và gây rụng trứng LH kết hợp với FSH gây hiện

Trang 22

14

tượng thải trứng, hình thành hoàng thể Thường thì để cho trứng chín, lượng

LH phải lớn hơn FSH; có tác giả cho rằng, tỉ lệ đó phải là (LH/FSH = 3/1)

- PRH (Prolactin Releasing Hormone): Kích thích thùy trước tuyến

yên tiết ra LTH (Luteo Tropic Hormone, hay còn gọi là Prolactin), tác động vào buồng trứng để duy trì sự tồn tại của hoàng thể; tác động trên sự phát triển nhũ tuyến trong thời gian mang thai và sự tiết sữa trong thời gian nuôi con LTH cũng kích thích hoàng thể tiết ra progesterone Progesterone tác động lên tuyến yên, ức chế phân tiết FSH và LH - Quá trình động dục kết thúc Progesterone còn tác động lên tử cung, làm cho tử cung dày lên, giúp hợp tử làm tổ được dễ dàng Khi tuyến yên ngưng tiết LTH thì FSH được phân tiết trở lại - chu kỳ sinh dục mới bắt đầu

Trang 23

Progesterone Estrogen

Trang 24

16

thiết lập, điển hình là sự cân bằng giữa estrogen và progesterone để bảo vệ thai và giúp thai phát triển bình thường Từ khi bắt đầu có chửa, lượng estrogen thường cao hơn một chút so với lượng progesterone Sau đó, estrogen tăng chậm còn progesterone lúc đầu tăng nhanh, sau chậm lại Trước khi sinh vài ngày, thuỳ sau tuyến yên tiết ra oxytoxin Lúc này, lượng progesterone giảm đột ngột còn estrogen tăng cao lên để tăng sự nhạy cảm của tử cung với oxytoxin Oxytoxin có tác dụng co bóp tử cung, giúp đẩy thai

ra ngoài

Nếu con vật không thụ thai thì thể vàng tồn tại cho đến ngày thứ 15 - 17 của chu kỳ rồi teo lại thành sẹo nhỏ, gọi là thể bạch Con vật sẽ có khoảng 10

- 12 ngày nghỉ ngơi (lâm sàng) rồi chuyển sang chu kỳ tính mới

2.1.4 Phát triển nang trong một chu kỳ sinh dục ở bò

Hiện nay người ta đã khẳng định có hai hoặc ba sóng phát triển nang dọc theo phần lớn các chu kỳ ở bò Tuy nhiên có một số rất ít bò có chu kỳ bốn sóng nang hoặc một sóng nang

Một sóng phát triển nang ở bò được hiểu là sự lớn nang đồng thời của một số nang đạt mức kích thước có thể tham gia vào quá trình tuyển chọn nang và trở thành độc tôn một khi được tuyển chọn và một khi có độc tôn nang thì tất cả các nang còn lại trở thành thứ cấp và bị thoái hoá

Nhìn chung, nang độc tôn đầu tiên của chu kỳ được phát triển từ một trong tập hợp nang có kích thước 2-5 mm có mặt ngay 1 ngày sau rụng trứng Trong ngày thứ 2 và thứ 3 của chu kỳ, nang này được tuyển chọn (gia tăng tốc độ lớn so với nang khác), ngày thứ 4 và 5 nang được tuyển chọn trở nên độc tôn Trong khi nang độc tôn phát triển thì các nang thứ cấp đều bị thoái hoá trùng với lúc lượng FSH lưu hành trong máu lúc này giảm xuống Nang độc tôn phát triển đạt kích thước cực đại 13 – 16 mm vào ngày thứ 6 và thứ 7

Trang 25

17

của chu kỳ Nang này khá ổn định về kích thước từ ngày thứ 6 đến ngày thứ

10, sau đó giảm kích thước và không tìm thấy nữa vào ngày 15 Trong giai đoạn cuối của quá trình thoái hoá nang độc tôn thứ nhất, vào lúc FSH bắt đầu gia tăng lại, người ta thấy xuất hiện một sóng nang mới Ở bò chu kỳ hai sóng nang thì nang độc tôn thứ hai sẽ trở thành nang rụng trứng Nhưng nó vẫn sẽ là nang không rụng trứng nếu bò có chu kỳ ba sóng nang Nếu nang được huy động vào ngày thứ 10 của chu kỳ thì nó sẽ cho rụng trứng sau 11 ngày (tức là ngày 21 kể từ rụng trứng lần trước) Ở bò có chu kỳ 3 sóng nang, nang độc tôn rụng trứng có nguồn gốc từ sóng thứ 3 lớn vào gần ngày thứ 16

và rụng trứng 7 ngày sau Như vậy ở bò chu kỳ hai sóng nang ngắn hơn chu

kỳ ở bò ba sóng nang (21 ngày so với 23 ngày) Kích thước trung bình nang độc tôn sóng nang thứ 2 gần bằng kích thước nang độc tôn sóng nang thứ nhất (xấp xỉ 16mm) bởi vậy kể từ ngày thứ 4 trở đi ở mỗi thời điểm chu kỳ đều có mặt ít nhất 1 nang có kích thước lớn (xấp xỉ 12mm)

Sóng nang thứ nhất bắt đầu ngay từ ngày thứ 1 (ngày rụng trứng), sóng nang thứ 2 (đối với chu kỳ 2 sóng nang) bắt đầu từ ngày thứ 10, còn đối với chu kỳ 3 sóng nang, sóng nang thứ 2 bắt đầu sớm hơn vào ngày thứ 9, sóng thứ 3 bắt đầu từ ngày thứ 16 Có liên hệ rất mật thiết giữa sự bài tiết FSH với

sự xuất hiện các sóng nang Trước mỗi thời điểm kết thúc độc tôn nang đều quan sát thấy các nang này mất các thụ quan đối với FSH và LH kèm theo là mất khả năng tổng hợp estrogen của nang độc tôn

Có một khoảng rất dao động kể từ lúc thoái hoá thể vàng giai đoạn bò mang thai cho đến lúc rụng trứng đầu tiên Chiều dài khoảng này phụ thuộc vào một loạt các yếu tố môi trường và bệnh sinh lý bao gồm các vấn đề như mức dinh dưỡng, thể trạng, bò cho con bú và nuôi con, giống, tuổi, tháng đẻ con, bệnh tử cung và các rối loạn về tính dục

Trang 26

Sơ đồ 2.3 Phát triển nang buồng trứng bò trong chu kỳ

* Phát triển nang buồng trứng bò giai đoạn sau khi đẻ con

Đối với bò có một số nang phát triển trước lần rụng trứng đầu tiên sau

đẻ con (post-partum) Có thể quan sát thấy sự phát triển nang có xoang từ 15 đến 35 ngày sau đẻ con Nang độc tôn đầu tiên thường là nang rụng trứng ở

Trang 27

cách khác là cơ chế điều khiển ngược dương tính – positive feedback không

hoạt động) Thêm vào đó đúng là mức oestradiol cao trong quá trình mang thai đã tạo nên sự trơ ì ở não bộ làm cho mức oestradiol lần rụng trứng đầu tiên sau khi đẻ không đủ sức kích hoạt làm gia tăng LH

Bởi vậy khoảng thời gian từ lúc bò đẻ đến lần động dục đầu tiên có đi kèm rụng trứng có thể rất ngắn là 15 ngày cũng có thể kéo dài hơn 100 ngày, thông thường khoảng này là 60 - 90 ngày

2.2 Một số bệnh thường gặp ở đường sinh dục bò cái

Trong số các bệnh ở đường sinh dục, bệnh thường gặp và gây thiệt hại

về kinh tế lớn nhất là bệnh ở tử cung Chúng bao gồm: viêm cổ tử cung, viêm

tử cung…

2.2.1 Viêm cơ quan sinh dục ngoài: viêm âm môn, tiền đình và âm đạo (Vulvitis vestibulitsi set vaginitis puerperalis)

Theo tác giả Athur G.H., (1964) [22] nguyên nhân chính của bệnh viêm

âm môn, tiền đình và âm đạo ở bò là do những sai sót kỹ thuật đỡ đẻ Khi bò

đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không phù hợp, không đảm bảo

vô trùng, gây tổn thương và nhiễm trùng niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo hoặc sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo không đúng, kích thích quá mạnh làm niêm mạc âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm Ngoài ra bệnh có thể do bị sẩy thai, thai thối rữa trong tử cung, âm đạo lộn ra ngoài hoặc do sát nhau

Trang 28

20

Biểu hiện của bệnh là lúc đầu niêm mạc bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Từ âm đạo thải ra nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử mầu trắng

Hậu quả để lại là niêm mạc âm đạo sẹo hoá, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau

2.2.2 Viêm cơ quan sinh dục trong

2.2.2.1 Viêm cổ tử cung (Cervitis)

Cổ tử cung được cấu tạo bởi các lớp cơ rắn chắc và lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp, nó là hàng rào bảo vệ tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé

mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4]

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về

kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay sử dụng dụng cụ không phù hợp làm cổ tử cung bị xây sát Viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, (Trần Tiến Dũng, 2002) [4] Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo: cổ tử cung mở đường kính 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét, dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 1999) [15] Kiểm tra qua trực tràng: cổ tử cung sưng to và cứng do tổ chức tăng sinh (Đặng Đình Tín, 1985) [20]

2.2.2.2 Viêm tử cung (Mestritis)

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, là nơi làm tổ của thai đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Bệnh viêm tử cung đã được

Trang 29

2.2.2.3 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Black W.G., (1983) [24] viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái

Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỉ lệ cao nhất trong các thể viêm ở tử cung Samad A., [34] theo dõi 172.293 trâu mắc bệnh đường sinh dục, rối loạn sinh sản cho biết: tỉ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất

và chiếm 35,9% Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương Sau đó là do sự tác

động của các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, roi trùng gây viêm nội mạc tử cung (Arthur G.H, 1964) [22], Settergreen I, 1986) [35] Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh

lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

* Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis)

Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ

Trang 30

22

khó phải can thiệp

Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăng nhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải

ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều

dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng

* Viêm nội mạc tử cung màng giả

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ

chức hoại tử, niêm dịch

2.2.2.4 Viêm cơ tử cung (Myomestritis puerperalis)

Theo Settergreen I., (1986) [36] viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa

Trang 31

23

gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một

ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi

vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị

thủng hay bị hoại tử từng đám

Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên

có mùi tanh thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài âm đạo nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, từ tử cung thải ra nhiều hỗn

dịch bẩn

2.2.2.5 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis puerperalis)

Theo Arthur G.H., (1964) [22]; Đặng Đình Tín, (1985) [20] viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm rồi trở nên sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm mô tử cung (Parametritis) và dẫn đến viêm phúc mạc Thân nhiệt tăng cao, mạch đập nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn,

Trang 32

24

hiện tượng nhai lại giảm hay ngừng Lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường

kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ

chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm

Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Thể viêm

này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.2.3 Các bệnh ở buồng trứng

2.2.3.1 Viêm buồng trứng (Ovaritis)

Theo Anberth Youssef, (1997) [21] viêm buồng trứng ở đại gia súc do viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm phúc mạc lan sang Nếu viêm cả hai buồng trứng ở thể cấp tính thì gia súc mất hẳn chu kỳ sinh dục, buồng trứng sưng to lên thành hình tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có noãn bào

và thể vàng Ở bò và ngựa, nếu buồng trứng bị viêm có thể phát triển to gấp 3

- 4 lần bình thường

2.2.3.2 Thiểu năng và teo buồng trứng (Hypophunctio et atrophia ovariorum)

Thiểu năng buồng trứng là bệnh thường gặp ở đại gia súc Barr A.M

và Hashem S E., (1980) [28] đã thông báo 80% trâu Ai Cập không sinh sản là

do thiểu năng buồng trứng

Các tác giả Arthur G.H., (1964) [22]; Settergreen I., (1986) [35]; Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong, (1994) [12] đều khẳng định rằng: bệnh thiểu năng và teo buồng trứng xảy ra phổ biến và nó là nguyên nhân gây

Trang 33

25

nên tình trạng rối loạn sinh sản, nhất là ở đại gia súc

Về nguyên nhân gây ra bệnh thiểu năng và teo buồng trứng các tác giả đều thống nhất và cho rằng thiểu năng buồng trứng là do kế phát từ viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng; nuôi dưỡng, chăm sóc kém; khai thác không hợp lý

và bắt gia súc làm việc quá sức Có ý kiến khác lại cho rằng, do giao phối cận thân hoặc thiểu năng một số hormone sinh dục như FSH, LH

2.2.3.3 Xơ cứng buồng trứng (Selerosis ovarikrum)

Ở gia súc cái sinh sản thường xảy ra tình trạng tế bào trứng thoái hoá,

tổ chức liên kết tăng sinh, buồng trứng teo, biến dạng và cứng lại gọi là xơ cứng buồng trứng (Settergreen I., 1986) [35]

Xơ cứng buồng trứng chủ yếu do kế phát từ viêm buồng trứng, do hậu quả của quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, khai thác và sử dụng gia súc cái không hợp lý Bệnh có thể xuất hiện trạng thái trai cứng toàn bộ hay một phần của buồng trứng Đặc điểm chủ yếu của bệnh là buồng trứng bị teo nhỏ lại, mặt ngoài buồng trứng lồi lõm không đều Kiểm tra qua trực tràng, xoa nhẹ có cảm giác cứng, rắn, gia súc không có biểu hiện đau đớn

2.2.3.4 U nang buồng trứng (Cystes ovariorum)

Trong quá trình hình thành và phát triển của noãn bào, các tế bào thượng bì của noãn bào dần dần bị thoái hoá và biến đổi, các tổ chức liên kết của noãn bào tăng sinh, màng bao noãn dày lên, noãn bào không vỡ ra được

Tế bào trứng bị chết, dịch noãn bào chứa đầy trong noãn bào được gọi là u nang buồng trứng (Đặng Đình Tín, 1985) [20]

Theo Gordon I., (1983) [27] ở những đàn bò sữa năng suất cao, có khoảng 15% bò có u nang buồng trứng Bệnh hay gặp trước thời kỳ rụng trứng, sau đẻ 35 - 45 ngày Đặc biệt ở những bò cao sản trong mùa thu hoặc

Trang 34

có trường hợp do các tế bào thượng bì của noãn bào bị thoái hoá nên folliculin tiết ra quá ít hay hoàn toàn không sản sinh làm cho gia súc mất động dục trong một thời gian dài (Deas D.W., 1979) [26]

2.2.3.5 Thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens)

Theo Kalab P., (1988) [30] nguyên nhân gây ra bệnh thể vàng tồn tại thường do nuôi dưỡng kém, trong khẩu phần dinh dưỡng thiếu protein, vitamin, khoáng

Soliman, (1981) [37] lại cho rằng thiếu hụt hàm lượng khoáng, đặc biệt là iod, sắt làm rối loạn cơ năng sau đó là thể vàng tồn tại trên buồng trứng

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong, (1994) [12] cho rằng bệnh còn kế phát từ viêm tử cung tích mủ, thai canxi hoá, sát nhau

Gia súc bị bệnh thể vàng tồn tại hoàn toàn không động dục, có thể khám qua trực tràng phát hiện thể vàng to nhỏ nhô lên trên bề mặt buồng trứng

Trang 35

27

2.3 Điều khiển chu kỳ động dục của bò bằng các kháng sinh và hormone

Điều tiết chu kỳ động dục trên bò chủ yếu là tác động lên pha hoàng thể

và thể vàng hoặc là kéo dài pha hoàng thể bằng các dẫn xuất của progestagen hoặc làm ngắn pha hoàng thể bằng cách làm thoái hoá sớm thể vàng bởi prostaglandin (PG) Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy rằng kích thích phát triển nang bằng GnRH hoặc hCG cũng rất quan trọng để tạo ra sự đồng bộ giữa động dục và rụng trứng và cho tỉ lệ thụ thai cao

2.3.1 Gây động dục đồng pha bằng cách làm thoái hoá thể vàng: hiệu ứng của PGF 2α

Lần đầu tiên Prostaglandin được phát hiện trong tinh dịch của người Những năm sau này, các chất của loại này đã được phát hiện thấy trong nội mạc tử cung và tuyến tiết của tử cung, trong buồng trứng và tinh hoàn, trong nước ối bọc thai và dây rốn, trong màng mống mắt, trong đại não và tuỷ sống, phổi, thành ruột, thận, tuyến thượng thận, trong lá lách và nhiều cơ quan khác Prostaglandin thực chất là sản phẩm của axít béo chưa no, có 20 gốc cácbon, công thức hoá học của PGF2α là: C20H34O5 Nguyên tử cácbon ở vị trí thứ 8 và số 12 hợp thành theo cấu trúc vòng - nhân cyclopentan với 2 đuôi dài, đuôi thứ nhất từ vị trí cácbon số 7 trở về số 1 và đuôi thứ 2 từ cácbon số

13 đến cácbon số 20 Tuỳ theo cách sắp xếp khác nhau của các nguyên tử, tuỳ theo cách kết hợp của 2 nhóm hydroxil và nhóm xetol mà tạo thành rất nhiều loại phân bố trong 4 nhóm A, B, E và F

Trong các nhóm trên, các nghiên cứu đều thồng nhất rằng nhóm E và F

có tác dụng cơ bản là gây co bóp hay thư giãn các cơ trơn Vì vậy tuỳ loại Prostaglandin sử dụng, tuỳ cơ quan, giai đoạn sinh lý mà có tác dụng tới các

bộ máy hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, thần kinh, thận và nhất là cơ quan sinh

Trang 36

28

dục Tác động mạnh đến hoạt động sinh dục có PGE, PGF, đặc biệt là PGF2α Tác dụng chính của nó làm thoái hoá thể vàng, giảm hàm lượng progesteron trong máu, kích thích bài tiết gonadotropin phát triển nang trứng, động dục và rụng trứng Vì vậy, PGF2α đã được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia súc sinh sản, trong cấy truyền phôi, trong điều trị bệnh

Từ năm 1966, PGF2α và những chất có tác dụng tương tự đã được sản xuất trong các xí nghiệp cỡ lớn của một số công ty ở Mỹ, Anh, Hà Lan… Tiêm PGF2αα trong phần lớn các thời điểm đều có thể gây thoái hoá thể vàng, bởi vậy làm giảm mức progesteron trong máu Hậu quả là làm thay đổi

tỉ lệ oestradiol/progesteron, làm biến dạng hình mẫu bài tiết các hormone gonadotropin dẫn tới phát triển nang trứng và nang độc tôn có mặt vào lúc PG gây thoái hoá thể vàng trở thành nang rụng trứng

Tuy nhiên như vậy sẽ có một khoảng dao động đáng kể giữa thời điểm

xử lý PG đến động dục và rụng trứng Sự dao động này có thể do bởi trạng thái sóng nang vào lúc xử lý Nếu thoái hoá thể vàng xảy ra vào trước pha độc tôn nang duy trì giữa, nang này sẽ rụng trứng, kết quả là có một khoảng ngắn 2-3 ngày từ lúc xử lý đến khi rụng trứng Nếu xử lý thoái hoá thể vàng sau pha duy trì giữa của nang độc tôn, nang độc tôn của sóng nang kết tiếp sẽ lớn

và trở thành nang rụng trứng làm cho khoảng từ lúc xử lý đến lúc rụng trứng kéo dài ra đến 4-5 ngày

Kết luận lại, do xử lý PG không làm thay đổi động học của các sóng nang, thời điểm bắt đầu động dục phụ thuộc vào trạng thái sóng nang lúc

xử lý PG

Trả lời của phản ứng động dục, mức độ đồng pha được đo ngay sau mũi tiêm PG Người ta quan sát thấy tỉ lệ bò động dục cao hơn nếu PG tiêm vào pha hoàng thể muộn hơn là vào pha hoàng thể sớm

Trang 37

29

PG được sử dụng trong đa dạng các qui trình nhằm điều khiển động dục tốt nhất Ví dụ trong một qui trình PG được tiêm cho bò sau khi sinh với thể vàng đang hoạt động (xác định bằng cách sờ qua trực tràng) Qui trình này gây động dục cho bò 48-72 giờ sau khi tiêm Bằng cách này có thể có thể rút ngắn thời gian tự do (không mang thai) của bò, tuy nhiên cách này làm mất đi một vài lợi thế của động dục đồng pha và mất nhiều công vì phải khám thể vàng qua trực tràng đối với mỗi bò Một kiểu xử lý tương đối phổ biến cho bò mới trưởng thành là tiêm hai mũi PG cách nhau 11 hoặc 14 ngày

Tiêm PG cách nhau 7 ngày bắt đầu từ ngày thứ 40-50 sau khi bò đẻ cho đến khi toàn bộ đàn bò động dục và dẫn tinh cũng có thể được sử dụng nhưng qui trình này hơi đắt

Do động dục không đồng pha chính xác vào một thời điểm khi dùng

PG, nhiều phương thức kết hợp với các hormone khác đã được thử nghiệm nhằm giảm thiểu sự dao động này Các hormone dùng kết hợp như: progesteron, hCG, oestradiol benzoate, GnRH hoặc thôi không cho bê bú (bò thịt) được sử dụng Kết quả các xử lý này đều làm gia tăng mức đồng pha và

tỉ lệ bò có chửa, giảm công theo dõi so với bò không xử lý

Cuối cùng có thể sử dụng phương pháp phá huỷ nang buồng trứng qua

âm đạo Nếu phá hết các nang từ 5 mm trở lên bất cứ giai đoạn nào của chu

kỳ tạo ra một sóng nang mới trong vòng 2 ngày Nếu 4 ngày sau khi phá huỷ nang tiêm một mũi PG, thì rụng trứng xảy ra sau PG 3-5 ngày

2.3.2 Điều khiển phát triển nang bằng xử lý GnRH

Tiêm GnRH làm tăng bài tiết FSH và LH dẫn tới gia tăng hoạt động của buồng trứng Xử lý GnRH làm rụng trứng nang độc tôn và tạo ra sóng nang mới 1 - 2 ngày tiếp theo Từ sóng nang mới này một nang sẽ trở nên độc tôn

Trang 38

10-2.3.3 Xử lý kết hợp GnRH với PG tạo động dục đồng pha

* GnRH+PG+IA 12 giờ sau động dục

Sử dụng hợp lý GnRH sau đó là PG được suy tính từ việc xử lý GnRH gây nên rụng trứng hoặc hoàng thể hoá nang độc tôn và tạo ra sóng nang mới Thời gian cần thiết cho nang trở thành độc tôn vào khoảng 8 ngày và độc tôn nang kéo dài 4 ngày do vậy tiêm PG vào ngày 6 - 7 GnRH phá huỷ thể vàng gây rụng trứng nang độc tôn Xử lý này được xem là làm giảm độ dao động từ lúc xử lý đến khi động dục với khoảng từ lúc tiêm PG đến động dục là từ 3 đến 5 ngày

* GnRH+PG+GnRH (hoặc hCG) và dẫn tinh vào khoảng thời gian cố định

Qui trình này tạo mức đồng pha cao hơn và chắc chắn rụng trứng xảy ra sau GnRH+PG, mũi GnRH thứ hai (hoặc hCG) có thể tiêm 24 - 60 giờ sau

PG tạo sự rụng trứng và cho phép thụ tinh không cần biết động dục (hình 2.4) GnRH PG GnRH IA

Ngày 0 Ngày 7 Ngày 9 Ngày 10

Sơ đồ 2.4 Xử lý GnRH+PG+GnRH và dẫn tinh vào thời điểm cố định

2.3.4 Sử dụng hCG và PG gây động dục đồng pha ở bò

Trang 39

31

Hormone LH sử dụng dưới dạng hCG đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng như B.A Xodec (1936), Dieleman, Ese Hale (1993) Ở Việt Nam, Tăng Xuân Lưu (1999) [9], [10] dùng hCG cho 49 bò động dục không rụng trứng tỉ lệ động dục 100% và tỉ lệ thụ thai 78,05% Ngoài ra, các tác giả Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, Phan Văn Kiểm, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh cũng đã nghiên cứu hormone này

Một số nghiên cứu sử dụng hCG thay cho GnRH để tái tạo chương trình phát triển nang và gây thoái hoá thể vàng HCG có hiệu ứng trực tiếp lên buồng trứng không thông qua vùng Dưới đồi- Tuyến yên Ở bò, nồng độ hCG gia tăng rõ ràng sau khi tiêm 30 giờ và trở lại trạng thái cơ sở sau 60 giờ sau

xử lý

Ở bê, hCG gia tăng trong vòng 10 giờ sau xử lý Nếu tiêm hCG vào pha hoàng thể của chu kỳ LH huyết thanh gia tăng trong vòng 5 - 6 giờ HCG có hiệu ứng gây tăng cường thể vàng, tiêm vào pha hoàng thể làm gia tăng nồng

độ progesteron máu Hiệu ứng tăng sinh progesteron có thể trợ giúp phát triển thai làm giảm tỉ lệ chết thai giai đoạn sớm ở bò

* Hiệu ứng hCG lên phát triển nang

Xử lý hCG vào ngày 2 - 7 và 14 - 16 của chu kỳ có thể tạo ra rụng trứng

và tạo thể vàng mới Thời điểm này trùng với thời điểm độc tôn nang ở ít nhất các bò có 3 sóng nang

2.3.5 Sử dụng progesterone

Sử dụng progesteron điều khiển thời gian động dục là làm giảm tần số các xung LH như vậy cản trở việc rụng trứng và động dục Trong giai đoạn đầu, sử dụng progesteron cho toàn bộ chiều dài chu kỳ 18 - 21 ngày Tuy nhiên người ta phát hiện thấy nếu sử dụng progestagen quá 12 ngày sẽ làm giảm tỉ lệ đậu thai Điều này xảy ra bởi giai đoạn độc tôn nang kéo dài Độc

Trang 40

32

tôn nang kéo dài quá 8 ngày dẫn tới rụng trứng không hoàn chỉnh hoặc trứng quá già, do vậy làm giảm khả năng thụ thai Ngược lại thời gian độc tôn nang ngắn (<5 ngày) cho tỉ lệ thụ thai tối ưu khi dùng progestagen gây động dục đồng pha ở bò

Khoảng xử lý progesteron có thể ngắn lại 9 - 12 ngày nếu sử dụng kèm với estrogen lúc bắt đầu xử lý nhằm giảm hoạt động của thể vàng Kết quả này cải thiện thụ thai nhưng lại làm cho động dục bắt đầu vào các thời điểm rất dao động Bởi vậy hiện nay người ta dùng GnRH thay cho oestradiol xử lý cùng với progestagen

1 Đặt âm đạo : PRID (progesterone releasing intravaginal device) 10

-12 ngày

2 CIDR (Control internal drug release) 10 - 12 ngày

3 Cấy dưới da : viêm progestagen norgestomet (Crestar) được cấy dưới

da tai 9 - 10 ngày

Các xử lý kết hợp với progestagen tạo cho động dục tốt hơn phải kể đến oestradiol, PG, hoặc GnRH Oestradiol có thể tiêm ngay vào lúc bắt đầu xử lý progestagen, nhưng hiệu quả phá thể vàng chất này kém chỉ có ích khi thể vàng sớm từ ngày 1 - 4 của chu kỳ Xử lý PG cho phép làm ngắn được chiều dài xử lý thuốc xuống 7 - 10 ngày nếu tiêm PG vào cuối kỳ xử lý progesteron hoặc hoặc 1 - 2 ngày trước đó Cần thiết phải đợi 6 - 7 ngày kể từ lúc xử lý progesteron trước khi tiêm PG, bởi lúc này tất cả các thể vàng sẽ trả lời PG Cuối cùng để có được nang độc tôn vào cuối kỳ xử lý progesteron sóng nang cần được kích thích đồng pha bởi GnRH

Liệu pháp hormone và các liệu pháp khác làm gia tăng thụ thai sau khi dẫn tinh Tỉ lệ thụ thai ở bò có thể cải thiện nhờ rất nhiều cách dựa trên các

Ngày đăng: 08/08/2013, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Văn Vinh, Đào Đức Thà, Trịnh Quang Phong (1992) , “Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cái”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật viện chăn nuôi (1985- 1990), tr. 84-87. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cái”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
7. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997), Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
8. Hoàng Kim Giao (2005), Công nghệ cấy truyền phôi, NXB Nông nghiệp.9. 1 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ cấy truyền phô
Tác giả: Hoàng Kim Giao
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. 9. 12
Năm: 2005
10. Tăng Xuân Lưu (2005), Một số vấn đề sinh sản ở bò sữa và phương pháp phòng trị, Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề sinh sản ở bò sữa và phương pháp phòng trị
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 2005
12. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994), Giáo trình bệnh sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
13. Nguyễn Kim Ninh (1994), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng sinh sản cho sữa của đàn bò lai F1 Holstein Frisian x Lai Sind nuôi tại Ba Vì, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng sinh sản cho sữa của đàn bò lai F1 Holstein Frisian x Lai Sind nuôi tại Ba Vì
Tác giả: Nguyễn Kim Ninh
Năm: 1994
14. Hoàng Nghĩa Sơn, Lê Văn Ty (2007), “ứng dụng phương pháp cấy chuyển phôi cho bò sữa thuần chủng tại Sơn La”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện sinh học Nhiệt đới, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng phương pháp cấy chuyển phôi cho bò sữa thuần chủng tại Sơn La”, "Đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Hoàng Nghĩa Sơn, Lê Văn Ty
Năm: 2007
16. Trần Trọng Thêm (1986), Một số đặc điểm về khả năng sản xuất của các nhóm bò lai Sind với bò sữa gốc Hà Lan, Luận án PTS khoa học nông nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm về khả năng sản xuất của các nhóm bò lai Sind với bò sữa gốc Hà Lan
Tác giả: Trần Trọng Thêm
Năm: 1986
17. Nguyễn Văn Thưởng (1995), Kỹ thuật nuôi bò sữa - bò thịt ở gia đình, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi bò sữa - bò thịt ở gia đình
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
18. Lê Trần Tiến (2006), Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng, vi khuẩn học và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp, Hà Nội.19. 1 0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng, vi khuẩn học và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa
Tác giả: Lê Trần Tiến
Năm: 2006
20. Đặng Đình Tín (1985), Giáo trình sản khoa và bệnh sản khoa thú y – ĐHNNI- Hà Nội.TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sản khoa và bệnh sản khoa thú y
Tác giả: Đặng Đình Tín
Năm: 1985
21. Anberth Youssef (1997), “Reproductive diseases in livestocks”. Egyptian International Center for Agriculture, Course on Animal Production and Health Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive diseases in livestocks”. "Egyptian International Center for Agriculture
Tác giả: Anberth Youssef
Năm: 1997
22. Arthur G.H (1964), : Wrights Veterinary obsterics, The Williams and Wilkins Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wrights Veterinary obsterics
Tác giả: Arthur G.H
Năm: 1964
23. Bierschwal B.J., R. G. Elmore, E.M. Brown, Youngquist (USA)(1980), “Pathology of the ovary and ovary Disorders and the influence of ovarian abnormalities on the endometrium including theapentical aspesct cow”, In 9th International Congress on Animal Reproduction and Artificial Insemination - Spain - Madrid Publication Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathology of the ovary and ovary Disorders and the influence of ovarian abnormalities on the endometrium including theapentical aspesct cow”
Tác giả: Bierschwal B.J., R. G. Elmore, E.M. Brown, Youngquist (USA)
Năm: 1980
15. Nguyễn Văn Thanh (1999), Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh đường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía Bắc Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Tóm lược đời sống sinh sản của bò cái - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
Sơ đồ 2.1. Tóm lược đời sống sinh sản của bò cái (Trang 15)
Bảng 2.1. Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
Bảng 2.1. Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái (Trang 17)
Bảng 2.2. Biểu hiện của bò cái qua các giai đoạn của chu kỳ động dục - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
Bảng 2.2. Biểu hiện của bò cái qua các giai đoạn của chu kỳ động dục (Trang 18)
Sơ đồ 2.2. Cơ chế điều hoà quá trình sinh sản trên bò - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
Sơ đồ 2.2. Cơ chế điều hoà quá trình sinh sản trên bò (Trang 23)
Sơ đồ 2.3. Phát triển nang buồng trứng bò trong chu kỳ - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
Sơ đồ 2.3. Phát triển nang buồng trứng bò trong chu kỳ (Trang 26)
BẢNG 4.1. CƠ  CẤU ĐÀN Bề SỮA CỦA CễNG TY CỔ PHẦN GIỐNG Bề SỮA MỘC CHÂU - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.1. CƠ CẤU ĐÀN Bề SỮA CỦA CễNG TY CỔ PHẦN GIỐNG Bề SỮA MỘC CHÂU (Trang 61)
BẢNG 4.2. TUỔI THÀNH THỤC TÍNH CỦA ĐÀN Bề CÁI HF - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.2. TUỔI THÀNH THỤC TÍNH CỦA ĐÀN Bề CÁI HF (Trang 62)
BẢNG 4.3. TUỔI PHỐI GIỐNG LẦN ĐẦU VÀ TUỔI ĐẺ LỨA ĐẦU         CỦA Bề CÁI HF - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.3. TUỔI PHỐI GIỐNG LẦN ĐẦU VÀ TUỔI ĐẺ LỨA ĐẦU CỦA Bề CÁI HF (Trang 63)
BẢNG 4.4. THỜI GIAN ĐẺ ĐẾN LẦN MANG THAI SAUVÀ KHOẢNG  CÁCH GIỮA HAI LỨA ĐẺ CỦA ĐÀN Bề HF - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.4. THỜI GIAN ĐẺ ĐẾN LẦN MANG THAI SAUVÀ KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI LỨA ĐẺ CỦA ĐÀN Bề HF (Trang 66)
BẢNG 4.5. TỈ LỆ THỤ THAI VÀ HỆ SỐ PHỐI GIỐNG                                       CỦA ĐÀN Bề CÁI HF - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.5. TỈ LỆ THỤ THAI VÀ HỆ SỐ PHỐI GIỐNG CỦA ĐÀN Bề CÁI HF (Trang 68)
BẢNG 4.6. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN SINH SẢN  CỦA ĐÀN Bề HF - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.6. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN SINH SẢN CỦA ĐÀN Bề HF (Trang 69)
BẢNG 4.7. THỜI GIAN MANG THAI CỦA ĐÀN Bề SỮA HF MỘC CHÂU - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.7. THỜI GIAN MANG THAI CỦA ĐÀN Bề SỮA HF MỘC CHÂU (Trang 72)
BẢNG 4.8. TỈ LỆ ĐẺ TOÀN ĐÀN VÀ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN           TRấN ĐÀN Bề CÁI HF - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.8. TỈ LỆ ĐẺ TOÀN ĐÀN VÀ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRấN ĐÀN Bề CÁI HF (Trang 73)
BẢNG 4.9. KẾT QUẢ KHÁM LÂM SÀNG BUỒNG TRỨNG                               ĐÀN Bề SỮA GỐC ÚC - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.9. KẾT QUẢ KHÁM LÂM SÀNG BUỒNG TRỨNG ĐÀN Bề SỮA GỐC ÚC (Trang 75)
BẢNG 4.10. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIấM TỬ CUNG TRấN Bề SỮA  GỐC ÚC BỊ RỐI LOẠN SINH SẢN - [Luận văn]ứng dụng kháng sinh và hormone để phòng và điều trị hiện tượng rối loạn sinh sản thường gặp trên đàn bò sữa gốc úc nuôi tại mộc châu
BẢNG 4.10. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIấM TỬ CUNG TRấN Bề SỮA GỐC ÚC BỊ RỐI LOẠN SINH SẢN (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w