Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 11 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây trồng hàng năm là một trong những bộ phận quan trọng của sản xuất nông nghiệp, là bộ phận sản xuất vật chất chủ yếu của nông nghiệp Sản phẩm cây trồng hàng năm là lương thực và rau xanh cung cấp cho sinh hoạt thường ngày của con người; là nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến và là các yếu tố sản xuất cung cấp cho các ngành kinh tế…
Cây trồng hàng năm được hình thành, phát triển từ lâu đời và luôn có vị trí quan trọng trong từng thời kỳ lịch sử Sự chuyển biến của nền nông nghiệp nước ta
được đánh dấu bằng hai sự kiện: Cách mạng tháng 8 năm 1945 giành thắng lợi và
sự ra đời Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp của Ban Bí thư Trung ương Đảng năm 1998 Với sự ra đời Nghị quyết 10 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng và hàng loạt những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp tiếp theo sau, đã đưa sản xuất nông nghiệp nước ta từng bước vượt qua những thăng trầm và chuyển sang phát triển ổn định, đạt mức tăng trưởng trên 4,5%/năm trong nhiều năm qua Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, sản xuất cây trồng hàng năm có bước phát triển, đặc biệt là sản xuất lương thực phát triển toàn diện và tăng trưởng nhanh, đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực thành một nước có đủ lương thực và có phần dư để xuất khẩu…Năm 2003, cả nước có 7.449 ngàn ha lúa, sản lượng lương thực có hạt đạt 37,5 triệu tấn, bình quân đạt 463 kg/ người; xuất khẩu nông, lâm sản đạt 3.621,8 triệu USD, gạo xuất khẩu được 3,8 triệu tấn [21], [22] Một số sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam đứng vào hàng cao nhất thế giới như hồ tiêu, cà phê vối, gạo và điều
Sản xuất cây trồng hàng năm là ngành sản xuất chủ yếu và đem lại thu nhập chính cho đại bộ phận nông dân Việc phát triển cây trồng hàng năm là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với cấp huyện, nhằm khai thác sử dụng tốt các nguồn lực khan hiếm( điều kiện tự nhiên, đất đai, lao động…) để nâng cao giá trị
Trang 2sản xuất, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững
Yên Dũng là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, kinh tế của huyện trong những năm qua có những bước phát triển trên nhiều lĩnh vực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, song cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch chậm, kinh tế của huyện vẫn là kinh tế thuần nông, trên 95 % dân số nông thôn Thực hiện chủ trương đổi mới, trong những năm qua sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện đã
có bước phát triển đáng kể: giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn liên tục tăng qua các năm với tốc độ cao, bình quân hàng năm tăng 7,4%; cơ cấu cây trồng, vật nuôi có sự chuyển dịch tiến bộ… Sản xuất cây trồng hàng năm của huyện có nhiều chuyển biến tích cực: năng suất cây trồng tăng, nhất là năng suất lúa, nhiều giống mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao được nông dân tiếp thu, đưa vào sản xuất, sản lượng cây lương thực tăng nhanh, bình quân hàng năm tăng 4,7%; giá trị sản xuất cây hàng năm trên một đơn vị diện tích tăng
Tuy vậy, phát triển sản xuất cây hàng năm của huyện còn có những tồn tại: lượng hàng hoá ít, hiệu quả kinh tế không cao, hệ số sử dụng đất được nâng lên qua các năm song vẫn còn thấp, năng suất lao động trồng trọt thấp chưa tương xứng với tiềm năng… Vậy thực trạng phát triển sản xuất cây trồng hàng năm của huyện ra sao? Sự phát triển này có vị trí, vai trò như thế nào, có hiệu quả và bền vững không?
Đường hướng nào để phát triển sản xuất cây trồng hàng năm của huyện trong những năm tới? Đây là những vấn đề cấp thiết đặt ra và cần phải được nghiên cứu, xem xét,
đánh giá một cách khách quan, đúng đắn để có được những giải pháp hữu hiệu
Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cây trồng hàng năm ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”
làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Đánh giá đúng đắn thực trạng và kết quả phát triển sản xuất cây
hàng năm ở huyện Yên Dũng, từ đó đề ra được các giải pháp chủ yếu để phát triển
Trang 3sản xuất cây hàng năm, góp phần thúc đẩy sản xuất ngành trồng trọt của huyện phát triển bền vững
* Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Đánh giá đúng đắn thực trạng, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến phát triển sản xuất cây hàng năm trên địa bàn huyện Yên Dũng
- Đề ra những định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cây hàng năm huyện Yên Dũng trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất cây hàng năm
- Khảo sát những vấn đề kinh tế liên quan đến sản xuất cây trồng hàng năm chủ yếu của huyện
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất cây hàng năm, trong
đó đi sâu vào một số cây trồng chủ yếu: lúa, cà chua, khoai tây, lạc và đậu tương
- Về không gian: Trên địa bàn huyện Yên Dũng
Trang 42 Cơ sở lý luận và thực tiễn 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển
* Tăng trưởng kinh tế: Là sự tăng thêm về qui mô sản lượng của nền kinh tế
trong một thời kỳ nhất định
* Phát triển kinh tế: Là một quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế
trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô sản lượng
và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế- xã hội
Các thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có giai đoạn được coi
là như nhau, nhưng trước tình trạng nghèo khổ tràn lan, khoảng cách giàu nghèo, thành thị và nông thôn ngày càng rộng ra, dân số tăng nhanh, môi trường bị huỷ hoại vào cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70 thế kỷ XX đã báo hiệu có sự sai lầm trong việc coi phát triển và tăng trưởng kinh tế là như nhau
Nhưng phát triển khác với tăng trưởng ra sao? Thường người ta nói đến tăng trưởng là nói đến sự gia tăng của sản lượng còn nói đến phát triển là bao hàm tất cả những thay đổi trong nền kinh tế, thay đổi xã hội, chính trị và định chế đi kèm với sự thay đổi sản lượng Song có một nhận định đều được mọi người đồng thuận là: Không thể có tăng trưởng kinh tế bền vững khi không có những thay đổi trong toàn
bộ nền kinh tế- xã hội và không có sự phát triển đáng kể xảy ra mà lại không có sự gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế làm tăng phúc lợi xã hội
* Phát triển bền vững: Sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm phát triển
bền vững bắt đầu được hình thành và phát triển bền vững trở thành xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người
Trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” do Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới đưa ra năm 1987, khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên
được nhắc đến và được chấp nhận rộng rãi [ 8]
Phát triển bền vững được định nghĩa là: sự phát triển thoả mãn được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ
Trang 5tương lai
Khái niệm trên cho thấy chỉ khi các nhu cầu về xã hội, môi trường, và kinh tế
được tổng hoà và đáp ứng một cách cân đối thì mới đảm bảo cho sự phát triển bền lâu Hay nói cách khác muốn phát triển bền vững thì phải thực hiện đồng thời 3 mục tiêu: Phát triển có hiệu quả về kinh tế; phát triển hài hoà các mặt xã hội, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau [8]
2.1.2 Phát triển sản xuất cây hàng năm
2.1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của phát triển sản xuất cây trồng hàng năm
a/ Khái niệm: Cây trồng hàng năm là những cây trồng có thời gian sinh trưởng và
phát triển (từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch) dưới 1 năm
b/ ý nghĩa kinh tế của phát triển sản xuất cây trồng hàng năm
Sản xuất cây trồng hàng năm là nguồn cung cấp lương thực, rau xanh và các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho sinh hoạt hàng ngày của con người Xu thế hiện nay, con người ngày càng tiêu dùng nhiều loại nông sản với chất lượng cao Việc phát triển sản xuất cây trồng hàng năm sẽ đảm bảo cung cấp đầu đủ nhu cầu
đa dạng về nông sản trong sinh hoạt hàng ngày của con người
Sản xuất trồng trọt nói chung hay sản xuất cây trồng hàng năm có mối liên quan, ràng buộc khá chặt chẽ với một số ngành như: chăn nuôi, chế biến Nó cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Việc phát triển sản xuất cây trồng hàng năm vừa tạo điều kiện vừa thúc đẩy chăn nuôi và công nghiệp chế biến phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Hiện nay nước ta đang thực hiện CNH- HĐH đất nước, chúng ta cần đẩy mạnh xuất khẩu thu ngoại tệ để đầu tư phát triển đất nước Trong khi đó nguồn hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta còn hạn chế, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông sản Do vậy, việc phát triển cây trồng hàng năm có ý vai trò quan trọng trong cung
Trang 6cấp nguồn hàng cho xuất khẩu
Trong điều kiện nông thôn nước ta hiện nay, sản xuất cây trồng hàng năm là một trong những ngành chính đem lại phần lớn thu nhập cho đại bộ phận nông dân Việc phát triển sản xuất cây trồng hàng năm góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống của nông dân; tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân
Phát triển sản xuất cây trồng hàng năm khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực cho sản xuất ở vùng nông thôn Việc bố trí cây trồng hợp lý, đầu tư thâm canh, tăng vụ góp phần cải tạo và bồi dưỡng đất, tăng hệ số sử dụng đất, tạo thêm công ăn, việc làm cho lao động nông thôn, tận dụng nguồn lao động nông nhàn Mặt khác cho phép sử dụng có hiệu quả các tư liệu sản xuất và các cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp của địa phương
Phát triển sản xuất cây trồng hàng năm góp phần đẩy mạnh sự nghiệp HĐH nông nghiệp, nông thôn
CNH-2.1.2.2 Phân loại cây hàng năm
Cây trồng hàng năm có rất nhiều loại khác nhau, mỗi loại có đặc điểm, công dụng và những đòi hỏi về điều kiện (yếu tố sinh trưởng), môi trường sống khác nhau Dựa vào công dụng, điều kiện, môi trường sống chúng ta có thể phân loại cây trồng hàng năm thành các loại sau:
- Theo điều kiện sống phân thành cây trồng nước và cây trồng cạn
- Theo công dụng phân thành cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và cây hàng năm khác
- Theo tính thích nghi của cây trồng với cường độ ánh sáng, phân thành các nhóm [6, 31]:
+ Nhóm cây ưa sáng gồm các cây trồng sống tốt trong điều kiện cường độ
ánh sánh mạnh Khi gặp điều kiện ánh sáng yếu, những cây này sinh trưởng, phát triển kém và cho năng xuất thấp Thuộc nhóm này có một số cây trồng như lúa, ngô,
đay, bông
Trang 7+ Nhóm cây ưa bóng gồm các loại cây thích nghi với cường độ ánh sáng yếu Nhóm cây này thường sinh trưởng, phát triển tốt dưới điều kiện ánh sáng tán xạ, vì vậy thường được trồng dưới tán các cây khác như cây gừng, cây giềng
+ Nhóm cây chịu bóng là những cây có thể sinh sống, sinh trưởng và cho năng suất cao trong cả điều kiện cường độ ánh sáng cao cũng như cường độ ánh sáng thấp Thuộc nhóm này có một số loài họ đậu
- Theo phản ứng quang chu kỳ của cây (phản ứng với độ dài ngày), phân thành [6, 33]:
+ Cây ngày dài: là những cây chỉ ra hoa hoặc ra sớm khi gặp điều kiện ánh sáng ngày dài Cây ngày dài thường là những cây có nguồn gốc ôn đới ở vĩ độ cao như củ cải đường, một số giống lúa mì, lúa mạch, hoặc một số giống cải lấy dầu
+ Cây ngày ngắn: là những cây chỉ ra hoa hoặc ra hoa sớm khi gặp điều kiện
ánh sáng ngày ngắn Nhóm cây này có nguồn gốc ở những vùng vĩ độ thấp, khí hậu nhiệt đới như một số giống cây đậu tương, thuốc lá, ngô lúa, dứa, bông
+ Cây trung tính: là những cây không phản ứng với độ chiếu sáng trong ngày, chúng có thể ra hoa và kết quả trong cả điều kiện ánh sánh ngày dài hoặc ngày ngắn như cà chua, dưa chuột, đậu Những cây không phản ứng chặt với độ dài chiếu sáng trong ngày khi gặp điều kiện chiếu sáng không thích hợp sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng và thường ra nhiều lá, phân nhiều nhánh
- Theo phản ứng của cây với nhiệt độ phân thành các nhóm cây [6, 40]: + Nhóm cây ưa nóng: là nhóm cây sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ > 200C Đa số các loại cây này có nguồn gốc nhiệt đới Thời kỳ ra hoa kết quả yêu cầu rất chặt chẽ về nhiệt độ Nếu nhiệt độ <200C sẽ ảnh hưởng xấu đến năng suất vì ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố cấu thành năng suất Thuộc nhóm này gồm các cây trồng như lúa nước, bông, đay
+ Nhóm cây ưa lạnh: là nhóm cây sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ < 200C Khi nhiệt độ > 200C năng suất giảm rõ rệt Thuộc nhóm này gồm các cây trồng như khoai tây, bắp cải, lúa mì
Trang 8+ Nhóm cây trung gian: là nhóm cây sinh trưởng và phát triển tốt trong cả
điều kiện nhiệt độ lớn hơn hay nhỏ hơn 200C Thuộc nhóm cây này gồm các cây trồng như đậu tương, ngô
2.1.2.3 Đặc điểm của sản xuất cây hàng năm
Ngoài những đặc điểm của sản xuất hàng hóa, sản xuất cây trồng hàng năm
có những đặc điểm sau đây:
Phát triển sản xuất cây hàng năm mang tính mùa vụ Cây trồng hàng năm có thời gian sinh trưởng ngắn, tính thính ứng rộng, mỗi loại cây trồng có yêu cầu về thời vụ tương đối nghiêm ngặt, trong khi đó điều kiện về thời tiết, khí hậu ở mỗi vụ lại khác nhau Do đó khi bố trí sản xuất, ngoài việc chọn giống cây trồng phù hợp với chất đất, phải chọn những giống cây trồng thích nghi với điều kiện thời tiết từng mùa vụ; bố trí công thức luân canh hợp lý, đồng thời phải làm đúng và kịp thời các khâu sản xuất để không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng
và sản xuất của vụ sau
Cây trồng hàng năm có rất nhiều loại khác nhau, yêu cầu về kỹ thuật và chăm sóc khác nhau Cây trồng hàng năm không có thời gian kiến thiết cơ bản song yêu cầu đầu tư thâm canh lớn Do vậy, đòi hỏi người nông dân bố trí cây trồng cho phù hợp với khả năng đầu tư và lao động của mình, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời lượng phân bón cho cây trồng nhằm tạo ra năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt
Sản phẩm của cây trồng hàng năm rất phong phú và đang dạng, có loại sản phẩm là hạt, có loại là củ, có loại là thân và lá Sản phẩm có hàm lượng nước cao,
dễ bị hư hỏng, giảm chất lượng Mỗi loại sản phẩm yêu cầu một biện pháp thu hoạch, bảo quản và chế biến khác nhau Do đó, để đảm bảo được chất lượng của sản phẩm, tránh những tổn thất cần phải có biện pháp bảo quản, chế biến thích hợp và
có hệ thống tiêu thụ tốt
Sản xuất cây trồng hàng năm nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung là sản xuất tiềm ẩn rủi ro lớn, như: thiên tai, dịch hại, giá cả thị trường Để hạn chế
Trang 9những rủi ro này, người nông dân cần phải đa dạng sản phẩm sản xuất ra bằng cách
bố trí đa dạng hóa cây trồng, xen canh gối vụ, rải vụ, tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Sản xuất cây trồng hàng năm có khả năng áp dụng cơ giới hóa ở hầu hết các khâu của quá trình sản xuất, từ khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc đến khâu thu hoạch và bảo quản sản phẩm
2.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cây hàng năm
a/ Những nhân tố về điều kiện tự nhiên
*Đất đai: là môi trường sống trực tiếp của các loại cây trồng, giữ cây đứng
vững trong không gian, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Quá trình hình thành, tính chất của đất ảnh hưởng đến độ phì của đất, đến sự sinh trưởng, phát triển và năng xuất, chất lượng sản phẩm cây trồng Mỗi một loại cây trồng có thể sống trên nhiều loại đất, song chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên những loại đất thích hợp với nó và chỉ có như vậy mới cho năng xuất cao, chất lượng sản phẩm tốt Đi kèm theo mỗi loại đất là một hệ thống cây trồng, hệ thống canh tác và hệ thống các biện pháp kỹ thuật được áp dụng phù hợp mới mang lại lợi ích trồng trọt cao nhất
*Nước: đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng Dù là cây
trồng nước hay cây trồng cạn đều cần nước trong quá trình sinh trưởng và phát triển Mỗi một loại cây trồng có nhu cầu về lượng nước khác nhau vào những thời điểm khác nhau Để đảm bảo cho cây trồng hàng năm sinh trưởng và phát triển đúng thời
vụ, cho năng xuất, sản lượng cao, chúng ta phải luôn cung cấp đủ nước cho cây, nhất là vào mùa khô hanh, thiếu nước Vì vậy, việc lựa chọn vùng sản xuất, bố trí cây trồng luân canh, tăng vụ phải tính toán đến nguồn nước cung cấp cho cây trồng,
điều này là một trong những nhân tố có vai trò quyết định thành công hay thất bại khi chúng ta muốn phát triển sản xuất cây hàng năm cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
*Khí hậu thời tiết: tác động rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của thực
vật Cây trồng sống, sinh trưởng và phát triển phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng
Trang 10là ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng Cây trồng đạt được sản lượng cao khi được thỏa mãn tối đa các yếu tố sinh trưởng theo yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển Nhiệt độ, ánh sáng là một trong những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng
-ánh sáng: là nguồn cung cấp năng lượng cho cây xanh Cây xanh hấp thụ
ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp tạo thành các chất hữu cơ giàu năng lượng Cây trồng phản ứng với chế độ ánh sáng trên hai mặt là cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng trong ngày (độ dài ngày)
Cây trồng phản ứng với cường độ ánh sáng thông qua quá trình quang hợp của cây Cường độ ánh sáng có quan hệ chặt với cường độ quang hợp Mối quan hệ này được đánh dấu bằng điểm bù ánh sáng và điểm bão hòa ánh sáng Cây trồng chỉ bắt đầu tích lũy chất khô khi cường độ ánh sáng lớn hơn điểm bù ánh sáng Mỗi loại cây trồng khác nhau thích nghi với cường độ ánh sáng khác nhau: cây ưa sáng thích nghi với cường độ ánh sáng mạnh, cây ưa bóng thích nghi với cường độ ánh sáng yếu
Cây trồng phản ứng với thời gian chiếu sáng trong ngày qua phản ứng quang chu kỳ Độ dài ngày ảnh hưởng đến sự phân hóa, hình thành mầm hoa của cây trồng Mỗi loại cây trồng có phản ứng khác nhau với độ dài ngày, có cây thích hợp với điều kiện ánh sáng ngày dài, có cây thích hợp với ánh sáng ngày ngắn Ngay trong cùng một loại cây, có giống phản ứng chặt và có giống phản ứng không chặt với ánh sáng
Mỗi loại cây trồng thích nghi với chế độ ánh sánh nhất định, do vậy khi bố trí
hệ thống cây trồng, chúng ta cần phải xem xét điều kiện chiếu sáng của vùng cũng như phản ứng ánh sáng của từng loại cây để bố trí cho phù hợp, nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng ánh sáng để tăng sản lượng cây trồng
-Nhiệt độ: ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng qua
quá trình tạo ra chất hữu cơ (quang hợp), sự tiêu hao chất hữu cơ (hô hấp), ảnh hưởng đến việc hút chất dinh dưỡng, hút nước, vận chuyển và thoát hơi nước ảnh
Trang 11hưởng nhiệt độ đến quang hợp và hô hấp của cây trồng biểu hiện qua điểm bù nhiệt
độ của cây trồng Khi nhiệt độ vượt quá điểm bù thì lượng chất hữu cơ bị tiêu hao do hô hấp lớn hơn lượng chất hữu cơ do quang hợp tạo ra Nếu tình trạng này kéo dài, cây sẽ bị chết Mặt khác, nhiệt độ còn ảnh hưởng gián tiếp đến việc tích lũy chất khô của cây thông qua ảnh hưởng đến hình dạng, diện tích và tuổi thọ của lá; ảnh hưởng
đến sự hình thành các cơ quan dự trữ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây trồng tuân theo quy luật tổng tích ôn Mỗi loại cây trồng chỉ sinh trưởng và phát triển tốt ở một giới hạn nhiệt độ thích hợp Do vậy khi bố trí hệ thống cây trồng hợp lý phải chọn cây trồng, giống cây phù hợp với diễn biến của nhiệt độ từng vùng và từng mùa
Tóm lại, nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên là nhóm nhân tố có tính quyết định đến năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm cây trồng hàng năm Việc
bố trí sản xuất cây trồng hàng năm vừa phải đảm bảo tính thích hợp của cây trồng với các điều kiện tự nhiên, đồng thời khai thác được các tiềm năng của tự nhiên, có như vậy mới thu được lợi ích trồng trọt cao
b/ Những nhân tố về điều kiện kinh tế- x∙ hội
*Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng: Là nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng
rất lớn đến mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm; là nhân tố tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế Cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ thủ công sẽ kìm hãm sản xuất phát triển
Hệ thống thủy lợi là nhân tố quan trọng có vai trò đặc biệt đối với sản xuất cây trồng hàng năm Không có một hệ thống thủy lợi tốt, sẽ không đáp ứng được nhu cầu nước của cây trồng một cách chủ động và chúng ta không thể thực hiện việc
mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm cây trồng hàng năm Như vậy, để phát triển sản xuất cây trồng hàng năm thì đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một hệ thống thủy lợi tốt, đảm bảo đáp ứng nhu cầu nước của cây trồng một cách chủ động và phù hợp
Hệ thống giao thông vận tải, hệ thống điện, mạng lưới thông tin liên lạc phát
Trang 12triển, một mặt giúp cho việc giao lưu kinh tế, vận chuyển hàng hóa được thuận tiện, hạ được nhiều chi phí vận chuyển và giúp nông dân nắm bắt được giá cả hàng hóa
và nhu cầu thị trường, thông tin kinh tế, kỹ thuật, mặt khác còn phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa, học tập kinh nghiệm sản xuất, giao lưu, giải trí của người nông dân
Cơ sở chế biến, lưu thông phân phối, dịch vụ sản xuất, thông tin khoa học cũng tác động đến quá trình sản xuất cây trồng hằng năm Một hệ thống dịch vụ sản xuất, lưu thông tốt sẽ cung cấp đầy đủ kịp thời các yếu tố đầu vào, phát huy sức mạnh của nhiều thành phần kinh tế và khai thác được mọi nguồn lực của địa phương thúc đẩy sản xuất cây trồng hàng năm phát triển
*Nguồn lao động: Mỗi loại cây trồng khác nhau yêu cầu một quy trình kỹ
thuật trồng, chăm sóc khác nhau từ khâu chọn giống, nhân giống, trồng, chăm sóc
đến khâu thu hoạch, chế biến Đa số cây trồng hàng năm không đòi hỏi người lao
động phải có trình độ cao, song để phát triển cây hàng năm đòi hỏi người lao động phải có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, hiểu biết về khoa học kỹ thuật, dám phá bỏ những tập quán sản xuất lạc hậu, mạnh dạn tiếp thu, ứng dụng những thành tựu về khoa học kỹ thuật vào sản xuất
*Thị trường tiêu thụ: Nhu cầu tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến
việc phát triển sản xuất và hình thành các vùng sản xuất tập trung cây trồng hàng năm Trong kinh tế thị trường, việc sản xuất loại hàng hóa nào do thị trường quyết
định, nếu một loại nông sản nào đó không có nhu cầu thì chắc chắn không được sản xuất và do vậy không hình thành được vùng sản xuất Nhu cầu thị trường lớn đòi hỏi phải có nguồn cung lớn để đáp ứng và đây chính là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, thị trường bị coi nhẹ, hàng hóa do người sản xuất quyết định và được nhà nước phân bổ cho người dân Người dân buộc phải tiêu dùng những hàng hóa đó, kể cả những hàng hóa kém chất lượng, hàng không cần cho nhu cầu của bản thân Chính vì vậy nó đã triệt tiêu động lực phát triển của nền
Trang 13kinh tế Hiện nay, nước ta thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước Do vậy, thị trường có vai trò quyết
định đến quá trình sản xuất, là điểm khởi đầu và kết thúc của một quá trình sản xuất hàng hóa; là cơ sở xác định phương thức, quy mô sản xuất, chủng loại và chất lượng sản phẩm hàng hóa
*Các chính sách kinh tế vĩ mô: có vai trò quan trọng và có tác động mạnh
mẽ đến sự thành công hay thất bại trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh
tế Mỗi một chính sách vĩ mô nói chung hay chính sách kinh tế nói riêng đều tiềm
ẩn mặt tích cực và mặt tiêu cực Nó có thể kích thích sản xuất, tạo động lực cho người lao động, cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào sản xuất, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hiệu quả và ổn định nếu chính sách đó
là đúng đắn và hợp lý Trái lại, nó sẽ triệt tiêu động lực phát triển sản xuất, không
được chấp nhận và buộc phải thay đổi Theo Frank Ellis có 9 chính sách chủ yếu
ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp là: Đất đai, đầu tư, tín dụng, thị trường, giá cả, thủy lợi, cơ giới hóa, nghiên cứu, lương thực và an ninh lương thực Ông đã phân các chính sách đó và chỉ ra sự ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp [11]
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn Các chính sách liên quan đến phát triển cây hàng năm gồm những chính sách chủ yếu về: đất đai, đầu tư, giá cả, thị trường, thuế Các chính sách này từng bước được đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với thực
tế và thực sự trở thành công cụ quan trọng có hiệu lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Mỗi địa phương, đơn vị khi thực thi các chính sách của nhà nước cần phải biết vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện
và tình hình thực tế, không nên áp dụng một cách máy móc gây tác động xấu đến sản xuất
c/ Những nhân tố về tổ chức- kỹ thuật
*Giống: Là một nhóm cây trồng giống nhau về đặc tính sinh vật, kinh tế và
tính trạng hình thái, được chọn lọc nhân lên để gieo trồng trong những điều kiện tự
Trang 14nhiên và sản xuất tương ứng, nhằm nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm [6, 115]
Trong sản xuất trồng trọt, giống là một tư liệu sản xuất đặc biệt và nó có vai trò quan trọng như đất và phân bón Giống quyết định khả năng cho năng suất và chất lượng sản phẩm của cây trồng, nhìn chung giống tốt sẽ cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt
* Phân bón: có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng
Những câu ca dao "người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân" hay "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" là kinh nghiệm được cha ông ta đúc rút từ thực tế sản xuất nông nghiệp, khẳng định vai trò của phân bón trong các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất cây trồng
Năng suất cây trồng trong vài thập kỷ gần đây không ngừng tăng lên có sự
đóng góp to lớn của công tác giống và có vai trò quan trọng của phân bón Bón phân
đầy đủ và cân đối làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, trái lại bón phân không cân đối hay bón quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng nông sản Mặt khác, bón phân đầy đủ và cân đối còn có tác dụng bảo vệ và nâng cao độ phì của
đất, bảo vệ môi trường, đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển bền vững
*Tổ chức sản xuất: Tổ chức sản xuất có ảnh hưởng sâu sắc đến sản xuất cây
trồng hàng năm Tổ chức sản xuất thể hiện sự phù hợp hay không phù hợp của quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tổ chức sản xuất hợp lý sẽ kích thích sản xuất phát triển, trái lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất và lực lượng sản xuất
Trước đây, hình thức tổ chức sản xuất cây hàng năm chủ yếu do hợp tác xã nông nghiệp và các nông trường quốc doanh thực hiện, người dân trực tiếp sản xuất lại không tham gia vào quá trình tổ chức sản xuất, dẫn đến sản xuất kém hiệu quả, chi phí cao Thực hiện chính sách khoán 10, người nông dân trực tiếp đứng ra tổ chức sản xuất của mình, quan tâm đến sản phẩm cuối cùng, tiết kiệm chi phí, mang lại kết quả và hiệu quả Song có hạn chế là sản xuất phân tán, mang tính tự phát
Trang 15*Luân canh: Là sự luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian và
thời gian trong một chu kỳ nhất định, đối với cây hàng năm thường là 1 năm
Luân canh có tác dụng điều hòa các chất dinh dưỡng trong đất, cải tạo, bồi dưỡng đất và chống xói mòn đất, phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại và làm tăng năng suất cây trồng Mỗi loại cây trồng yêu cầu lượng dinh dưỡng, môi trường sống và biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau Cho nên, luân canh các loại cây khác nhau làm thay đổi việc sử dụng chất dinh dưỡng của cây trồng, làm cho chất dinh dưỡng trong
đất được điều hòa, làm cho môi trường đất chặt, xốp, tốt, xấu không giống nhau Môi trường thay đổi, cây trồng thay đổi làm giảm sự phát triển của sâu bệnh và cỏ dại
Mặt khác, luân canh điều hòa lao động và sử dụng vật tư kỹ thuật Mỗi loại cây trồng có thời vụ gieo trồng và thu hoạch cụ thể Độc canh một loại cây trồng sẽ yêu cầu lao động thời vụ cao, gây căng thẳng về lao động Do vậy, nếu bố trí nhịp nhàng giữa tăng vụ, chuyển vụ, rải vụ sẽ có tác động lớn đến việc điều hòa lao động,
sử dụng vật tư nông nghiệp tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế và năng suất lao
động
2.1.2.5 Nội dung của phát triển sản xuất cây trồng hàng năm
Phát triển sản xuất cây trồng hàng năm bao gồm hai nội dung: Phát triển về mặt lượng và phát triển về mặt chất
a Sự phát triển về mặt lượng thể hiện qua một số mặt sau:
Trang 16Mỗi quốc gia hay một người nào đó không thể cứ khai hoang phục hóa đất đai hay tăng vụ mãi được
* Sự gia tăng về năng suất cây trồng
Trong điều kiện đất đai có hạn, tăng năng suất cây trồng là một trong những cách thức chủ yếu để đẩy nhanh tốc độ phát triển sản xuất trồng trọt hiện nay
Năng suất cây trồng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song quy lại năng suất phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố: giống, trình độ thâm canh và mức độ đầu tư của người sản xuất Trong đó, giống là yếu tố quyết định chính đến năng suất cây trồng
Do vậy để tăng năng suất cây trồng phải quan tâm vào yếu tố trên Chú trọng đưa các giống tốt có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vào sản xuất và chỉ có như vậy mới làm cho sản xuất trồng trọt phát triển liên tục và bền vững
* Sự bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý
Cơ cấu diện tích thể hiện phương hướng sản xuất, trình độ chuyên môn của người sản xuất Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý làm giảm thiểu các rủi ro, đem lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất
Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất sản phẩm nào là do thị trường quyết định Do vậy, việc lựa chọn phương hướng sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng hàng năm là công việc quan trọng, quyết định đến sự phát triển sản xuất cây trồng hàng năm của từng cá nhân người sản xuất
b Sự phát triển về mặt chất thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
* Phát triển sản xuất cây trồng hàng năm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao
Chất lượng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả của sản xuất, thông qua khả năng cạnh tranh và giá bán sản phẩm Trong điều kiện hiện nay, người sản xuất muốn tồn tại và phát triển được thì hàng hóa sản xuất ra phải bán và thu được lợi nhuận Để bán được hàng với giá cao, đòi hỏi người sản xuất phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt Hay có thể nói, chất lượng sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển sản xuất
Trang 17Do vậy trong việc phát triển sản xuất cây trồng hàng năm không thể không quan tâm tới chất lượng nông sản sản xuất ra Để cho sản xuất cây trồng hàng năm phát triển liên tục và bền vững, cần phải sản xuất những cây trồng cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt
* Phát triển sản xuất cây trồng hàng năm đem lại hiệu quả kinh tế-x∙ hội
và môi trường
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiệu qủa kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của nhà sản xuất Nhà sản xuất sẽ không sản xuất nếu không có hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, thường thì người sản xuất chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế, không quan tâm đến hiệu quả xã hội và môi trường, nên có khi nhà sản xuất đã làm tổn hại đến lợi ích xã hội và môi trường Đứng trên góc cạnh xã hội, thì đây chưa phải là sự phát triển Do vậy phát triển sản xuất cây trồng hàng năm phải đảm bảo phát triển có hiệu quả kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
Phát triển sản xuất cây hàng năm sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống của nông dân và đời sống xã hội nông thôn và tạo thêm công ăn việc làm cho lao động nông thôn, tăng thêm thu nhập cho nông dân, hạn chế các tệ nạn xã hội, xoá bỏ ý thức tập quán canh tác lạc hậu, manh mún, tạo ra sự chuyển biến trong hợp tác sản xuất, học hỏi trao đổi kinh nghiệm sản xuất, động viên giúp đỡ nhau mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để phát triển Đây là giải pháp tốt nhất ngăn chặn dòng người ra thành phố tìm việc làm
Việc lựa chọn, bố trí sản xuất cây hàng năm phù hợp, sẽ làm tăng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp; hệ số sử dụng đất, tăng hiệu quả sử dụng vốn, người nông dân sẽ thu được lợi nhuận cao, tăng thêm thu nhập
Việc lựa chọn cơ cấu cây trồng và các biện pháp kỹ thuật canh tác cây hàng năm phù hợp sẽ bảo vệ môi trường nước, môi trường đất góp phần cải tạo và bảo
vệ môi trường sinh thái đang ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng
2.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 182.2.1 Bài học kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp và sản xuất cây trồng hàng năm của một số nước trên thế giới
* Trung quốc:
Trung Quốc có khoảng 1.284,5 triệu người, trong đó lao động trong nông nghiệp là 737,3 triệu người, chiếm 57,4 % dân số [21] Diện tích đất canh tác 93,33 triệu ha, bình quân diện tích đầu người 0,17 ha, tổng diện tích gieo trồng 146,66 ha, trong đó có khoảng trên một nửa diện tích được tưới tiêu chủ động [28]
Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp năm 1990 là 501,7 tỷ nhân dân tệ, chiếm 27,05% tổng sản phẩm quốc nội; năm 2002 là 1.488,3 tỷ nhân dân tệ, chiếm 14,53% tổng sản phẩm quốc nội [21]
Trong giai đoạn 1990- 2004, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng bình quân 8,5% năm Sản lượng lương thực vượt mức 435 triệu tấn, bình quân lương thực
đạt 390 kg/người, đứng vào loại cao nhất châu á [26] Sản lượng thóc, lúa mì có xu thế giảm nhẹ (thóc 0,7%, lúa mì 0,6%) Sản lượng ngô, cây công nghiệp (mía, đậu tương) có xu hướng tăng (ngô 2,1%, mía 3,5%, đậu tương 9%) [21]
Trong 15 năm qua, Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn: Chương trình đốm lửa, Chương trình được mùa
“phong thu” và Chương trình giúp đỡ vùng nghèo khó “phừ bần”, góp phần làm chuyển biến rõ rệt nền nông nghiệp của Trung Quốc Gần 1 tỷ nông dân vốn rất lạc hậu và nghèo đói đã tự giải quyết được ấm no và bước ra ngoài thế giới với những công nghệ tiên tiến, quản lý hiện đại [28]
Chương trình đốm lửa đã trang bị cho hàng trăm triệu nông dân các tư tưởng, tiến bộ khoa học, bồi dưỡng được trên 60 triệu thanh niên nông thôn thành đội ngũ khoa học, kỹ thuật cốt cán và đã trở thành quân chủ lực trong phát triển nông nghiệp
Trang 19chuyên môn kỹ thuật cao ở trong nước và nước ngoài, tổ chức tốt các mô hình triển khai công nghệ sản xuất nông nghiệp Nhờ ưu tiên phát triển mạnh công nghệ sinh học, Trung Quốc tạo nhiều loại giống lúa lai, dẫn đến bước nhảy vọt về năng xuất lúa, sản lượng lương thực và năng suất lao động Tiến bộ khoa học- công nghệ đóng góp tới 30% tổng số giá trị gia tăng của nông nghiệp [26] Sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so với những năm 70, xuất khẩu được gạo và các thực phẩm khác Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đạt 16,38 tỉ USD, chiếm 2,93% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản thế giới [24] Tới năm 1990, sản lượng các loại sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc cơ bản đã dư thừa về số lượng, cơ cấu bất cân
đối, chất lượng hàng nông sản thấp, tỷ lệ hàng nông sản qua chế biến nhỏ, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá và thu nhập của người nông dân Để giải quyết những tồn tại và đối mặt với những thách thức hội nhập WTO, Trung Quốc tập trung chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên phạm vị toàn quốc, dựa vào khoa học
kỹ thuật để phát triển nông nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, hướng nông nghiệp theo nhu cầu thị trường
Chương trình giúp đỡ các vùng nghèo đói nhằm mở rộng ứng dụng khoa học, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân
Tóm lại, qua từng thời kỳ Trung Quốc đều có những đường lối, chính sách để phát triển nông nghiệp nói chung và phát triển cây trồng hàng năm nói riêng phù hợp, làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển với những bước nhảy vọt Hiện tại, Trung Quốc đang tiến hành thực hiện 3 công việc quan trọng để phát triển sản xuất trồng trọt là: (1) Thúc đẩy kinh doanh sản phẩm nông nghiệp thông qua giúp đỡ các
xí nghiệp hàng đầu sản xuất các sản phẩm này (doanh nghiệp đầu rồng), tạo điều kiện cho nông dân thay đổi cơ cấu sản xuất; (2) Phát triển thị trường bán buôn nông sản phẩm, dựa vào thị trường để thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng phát triển nông sản đặc sản; (3) Phát triển nông nghiệp theo mô hình nông nghiệp đặt hàng, nhằm điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp [28]
Trang 20* Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia thuộc khối ASEAN, có diện tích canh tác 19.620.000 ha gấp 2,62 lần nước ta; dân số năm 2002 có 63,4 triệu người, bình quân
đất canh tác trên đầu người gấp 4 lần Việt Nam, hiện nay mức thu nhập bình quân
đầu người cao gấp 10 lần nước ta [30]
Trước năm 1970, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu, hiện nay Thái Lan là một nước phát triển trong khu vực Sự phát triển vượt bậc đó nhờ vào chính sách đổi mới của Chính phủ Thái Lan trong những thập niên vừa qua, như: coi nông nghiệp nông thôn là xương sống của đất nước; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
đẩy mạnh công nghiệp chế biến bảo quản nông sản, nâng cao chất lượng sản phẩm
và chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo
Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan trong thập niên vừa qua nhờ lĩnh vực công nghiệp tăng tỷ trọng trong nền kinh tế tổng thể Tỷ trọng GDP của lĩnh vực nông nghiệp của Thái Lan giảm từ 12,1% năm 1990 xuống 5,8% năm 2002 Tuy nhiên, năng suất nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong giai đoạn này Trong giai đoạn 1990-
2002, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng bình quân 1,6% năm Năm 2002, giá trị nông nghiệp trong GDP là 317,8 tỷ Bạt; sản lượng thóc đạt 25,6 triệu tấn, ngô đạt 4,2 triệu tấn, sắn đạt 16,7 [21] Thái lan đã trở thành một trong những nước đứng
đầu về xuất khẩu nông sản trên thế giới
Vai trò của nông nghiệp Thái Lan suy giảm trong những thập kỷ qua bởi ba nguyên nhân [30]: (1) tốc độ tăng trưởng tương đối cao đạt được chủ yếu là do phát triển mở rộng diện tích đất trồng trọt Kiểu tăng trưởng này không thể tiếp tục mãi
do đất đai chỉ có hạn (2) sự đóng góp của đầu vào công nghệ hướng vào tăng trưởng năng suất bền vững đã dẫn đến năng suất nông nghiệp Thái Lan nói chung là thấp
và trong một số trường hợp bị suy giảm như lúa, ngô, là các cây trồng quan trọng nhất (3) nông nghiệp Thái Lan ở các vùng phát triển khác nhau, chủ yếu do sự khác biệt của các vùng địa lý Sự khác biệt theo vùng này có thể dẫn đến hiệu quả kỹ thuật ở các vùng khác nhau Nguyên nhân khác còn có thể do chính sách can thiệp
Trang 21của chính quyền cấp trung ương tác động khác nhau đến các nhà sản xuất ở các vùng khác nhau
Trong những năm gần đây, Thái Lan thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp mới, chú trọng vào tăng hiệu quả của đất, áp dụng rộng rãi các đầu vào công nghệ mới như các giống cây hiện đại, phân bón, tưới, v.v
Từ những chính sách và thành công trong phát triển kinh tế của Thái Lan các nhà nghiên cứu đã rút ra 6 bài học [30]: (1) Thái Lan đã xác định đúng vị trí đặc biệt quan trọng của nông nghiệp lấy nông nghiệp làm điểm tựa khởi đầu để phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân; tập trung mọi nỗ lực để phát triển nông nghiệp thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp; đầu tư kịp thời và đồng bộ cho công nghiệp chế biến; đổi mới công nghệ sinh học, bảo quản và đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng (2) Phối hợp đồng bộ các chính sách và giải pháp để đạt mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ, đặc biệt ngành hàng xuất khẩu được
hỗ trợ bởi chương trình khoa học công nghệ và vốn (3) Sử dụng các chính sách kinh
tế vĩ mô để can thiệp gián tiếp và điều tiết sản xuất nông nghiệp có hiệu quả (4) Chú trọng phát huy các lợi thế so sánh thực hiện chiến lược sản phẩm, quy hoạch,
đầu tư đồng bộ cho các vùng sản xuất chuyên canh tập trung sản xuất hàng hóa nhằm phát huy lợi thế về quy mô Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, phản ứng nhanh nhẹn trước yêu cầu và thị hiếu của thị trường về hình thức chất lượng nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh (5) Chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (6) Tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thị, phát triển các kênh sản xuất tiêu thụ xuất khẩu, coi trọng chữ tín để mở rộng
và tạo lập thị trường mới Đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực được xem là một trong những nhân tố quyết định sự thành công
* ấn Độ
Cộng hòa ấn Độ - một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại - có diện tích gần 3,3 triệu km2, trải rộng trên phần lớn tiểu lục địa nam á, với dân số 1,055 tỉ người [21] ấn Độ có đội ngũ khoa học- kỹ thuật lớn và nguồn tài nguyên
Trang 22thiên nhiên phong phú
Dưới tiền đề của nền kinh tế kế hoạch, ấn Độ đã thực hiện được "cách mạng xanh", tự túc được lương thực và xây dựng được một nền công nghiệp tương đối hoàn chỉnh Cuộc "cách mạng xanh" đã làm cho ấn Độ không những tự túc được lương thực mà còn có dư thừa để dự trữ (từ 11 đến 41 triệu tấn) và hằng năm xuất khẩu trên dưới một triệu tấn gạo ấn Độ còn là nước sản xuất mía đường lớn nhất thế giới với sản lượng 230 triệu tấn/năm, đứng thứ hai thế giới về sản xuất trái cây:
43 triệu tấn/năm; rau xanh: 72 triệu tấn/năm [14]
Bước vào thực hiện chính sách cải cách, mở cửa kinh tế, chuyển đổi nền kinh
tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường vào năm 1991 và cuộc cải cách kinh tế lần thứ hai vào năm 1994 Mặc dù có những biến động thời tiết khác thường
ở nhiều nơi, nông nghiệp ấn Độ vẫn đạt được những thành tựu đáng khâm phục Với hơn 110 triệu nông dân và công nhân, nông nghiệp ấn Độ là ngành sản xuất cá thể lớn nhất đóng góp gần 25% tổng sản phẩm quốc nội Gần 1/7 tổng thu xuất khẩu của đất nước có được từ nông nghiệp [7]
Trong giai đoạn 1995- 2001, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng bình quân 1,8% năm Năm 2001, giá trị nông nghiệp trong GDP là 302,1 tỷ Ru pi; sản lượng thóc đạt 93,1 triệu tấn, lúa mì đạt 71,8 triệu tấn… [21]
Sức bật lớn trong sản xuất nông nghiệp vài thập kỷ qua có thể nói là nhờ Chính phủ nước này đã mạnh bạo đưa ra một chiến lược phân vùng, dựa trên việc kế hoạch hóa các vùng khí hậu nông nghiệp Chiến lược này chú ý tới các điều kiện môi trường, khí hậu và nông học nhằm tận dụng triệt để tiềm năng tăng trưởng ở mọi vùng, giảm sự mất cân bằng về mùa màng theo vùng để thúc đẩy tăng trưởng trong khi vẫn bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng Chính sách nông nghiệp quốc gia đang cố hiện thực hóa tiềm năng lớn chưa được khai thác của nền nông nghiệp ấn Độ, tăng cường cơ sở hạ tầng nông thôn, hỗ trợ phát triển nông nghiệp nhanh hơn, khuyến khích giá trị gia tăng và thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh nông
Trang 23nghiệp [7]
Tuy vậy, các chuyên gia nghiên cứu kinh tế của ấn Độ cho biết trong khoảng
10 năm qua, ngành nông nghiệp ấn Độ đã không được quan tâm đúng mức, tốc độ tăng trưởng của ngành này trong 3 năm qua chỉ đạt 1,5% (trong khi chỉ tiêu 4%)
Điều này khiến cho ngành nông nghiệp ở một số khu vực rơi vào tình trạng khủng hoảng Nhằm tăng cường phát triển ngành nông nghiệp, ấn Độ đã tuyên bố thực hiện cuộc cách mạng xanh lần thứ 2 trong lĩnh vực nông nghiêp dựa trên việc ứng dụng các công nghệ mới và các biện pháp kinh doanh hiện đại.Theo đó, chính phủ
ấn Độ sẽ chú trọng việc thay đổi hướng đầu tư trong nông nghiệp Nhà nước sẽ tăng cường cung cấp tín dụng cho nông dân, đầu tư phát triển thủy lợi và khai phá đất hoang, cung cấp tài chính cho nghiên cứu khoa học nông nghiệp, tạo ra một thị trường nông sản thống nhất, đầu tư cho y tế và giáo dục nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng và giảm thiểu rủi do cho nông dân [1]
2.2.2 Khái quát tình hình sản xuất nông nghiệp và sản xuất cây trồng hàng năm ở Việt Nam
a/Thời kỳ trước cách mạng 1945
Ngành trồng trọt nước ta có một lịch sử phát triển từ lâu đời nay Thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, tổ tiên ta đã biết mở rộng diện tích canh tác, bước đầu xây dựng nền văn minh lúa nước (nền văn minh sông Hồng)
Trải qua thời gian, cha ông ta đã biết xây dựng đồng ruộng, tưới nước cây lúa, đắp đê, xây kênh dẫn nước, đẩy mạnh khai hoang mở rộng diện tích canh tác
Cho đến cuối thế kỷ 18, diện tích canh tác trong cả nước đã đạt hơn 2 triệu
ha, sản xuất ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống hơn 15 triệu dân Cơ cấu cây trồng bấy giờ chủ yếu là phát triển cây lương thực gồm lúa, ngô, các loại đậu đỗ và cây có củ (khoai, sắn ), các loại rau để tự túc trong từng xóm làng [2, 35]
Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp tăng cường chiếm đoạt ruộng đất,
mở thêm đồn điền, vơ vét nông sản xuất khẩu Tính đến năm 1012, thực dân Pháp
Trang 24đã cướp đoạt 469.724 ha ruộng đất để lập đồn điền [37] Mười năm sau, số ruộng
đất bị cướp đoạt thêm là 775.700 ha [38] Khoảng giữa năm 1920, ở Bắc kỳ đã có
155 đồn điền thuộc người Pháp, mỗi cái rộng trên 200 ha [12] Trong giai đoạn này, nông nghiệp vẫn xoay quanh nghề trồng lúa, song năng suất lúa rất thấp, trung bình
đạt 12 tạ/ha, mặc dù nông dân ta đã có nhiều kinh nghiệm phong phú và quý báu về trồng lúa từ mấy ngàn năm
b/Thời kỳ sau cách mạng 1945
* Giai đoạn từ 1945 đến 1975
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, người dân cày được Đảng và Nhà nước chia ruộng đất Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, nhân dân ta đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất Kết quả chỉ sau 1 năm, nhân dân ta đã chiến thắng được nạn đói
Đến năm 1956, diện tích lúa đã đạt 2.282 ngàn ha, vượt mức trước chiến tranh 17%, sản lượng đạt 4.135 ngàn tấn, vượt trước chiến tranh 46% [2, 36] Trong những năm giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, chúng ta đã có những thành tựu về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp, thực hiện đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu trồng trọt: vụ lúa chiêm đã được thay thế bằng
vụ lúa xuân trên 60% diện tích; vụ đông được hình thành và phát triển năm 1967 [2,37]; nhập nội, lai tạo và sử dụng nhiều giống lúa mới năng suất cao với qui trình thâm canh thích hợp; thực hiện thâm canh với nhiều loại cây hoa màu, rau quả, cây công nghiệp Đến năm 1974, năng suất lúa đạt 24,2 tạ/ha/vụ, sản lượng lương thực
đạt 5.486 ngàn tấn, gấp hơn hai lần trước Cách mạng tháng Tám [2, 38]
* Giai đoạn từ 1975 đến 1988
Khôi phục hậu quả của chiến tranh, nhân dân ta tích cực tổ chức khai hoang, phục hóa đất đai, phát triển sản xuất Năm 1976, hơn nửa triệu ha ruộng hoang hóa
được cày cấy lại, năm 1978 khai hoang thêm 600 ngàn ha [2, 58]
Trong giai đoạn này, có nhiều kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật về thâm canh được đưa vào sản xuất trên diện rộng Các giống mới lai tạo, các giống nhập nội được thuần hóa cho năng suất cao, giống có khả năng kháng bệnh cho phép
Trang 25xác định được bộ giống thích hợp cho từng vùng Kết quả nông nghiệp có những bước phát triển toàn diện, nhất là ở miền nam Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long, diện tích lúa tăng mạnh, năng suất lúa đạt 8- 10 tấn/ha/năm, sản lượng lúa tăng bình quân 600 ngàn tấn năm [2, 62]
Từ những năm 1980, những khuyết điểm trong việc quản lý kinh tế nói chung và quản lý nông nghiệp nói riêng đã bộc lộ rõ Đường lối phát triển nông nghiệp chưa được cụ thể, cơ chế quản lý không phù hợp, quá tập trung bao cấp, cửa quyền đã ngăn cản mọi năng lực lao động, sáng tạo, cần cù đã có từ bao đời của người nông dân Việc củng cố và phát triển hợp tác xã và các nông trường quốc doanh mang nặng tính hành chính, không vận dụng đúng qui luật phát triển Kế hoạch phát triển nông nghiệp xa vời thực tế, không được người nông dân tham gia, kinh tế gia đình bị coi nhẹ, có nơi không được thừa nhận Chính những điều này làm triệt tiêu động lực phát triển, người dân không thiết tha với đồng ruộng, tham gia lao động sản xuất mang tính hình thức, gò ép, đối phó Kết quả sản xuất nông nghiệp kém phát triển, năng suất, sản lượng cây trồng thấp, nước ta thiếu lương thực,
đời sống nhân dân khó khăn, dân khủng hoảng niềm tin vào Đảng và Chính phủ
* Giai đoạn từ 1998 đến nay
Năm 1996, nước ta quyết định đổi mới toàn diện nền kinh tế Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VI năm 1988 về đổi mới quản lý trong nông nghiệp ra đời, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, trong từng hộ nông dân, xác định vị trí của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp Chính sách đúng đã đem lại hiệu quả to lớn, làm cho nông nghiệp phát triển một cách toàn diện
Liên tục trong nhiều năm, nông nghiệp đạt mức tăng trưởng trên 4,5%/năm Nông nghiệp có bước phát triển mới trên con đường thâm canh, mở rộng diện tích, tăng vụ, hình thành nên các vùng sản xuất chuyên canh, có hiệu quả, chuyển đổi cơ cấu cây trồng diễn ra với tốc độ nhanh, đưa nền nông nghiệp nước ta tiến lên con
đường trở thành nền nông nghiệp hàng hóa
Trang 26Sản xuất lương thực, rau quả và cây công nghiệp đều có những bước phát triển mạnh mẽ Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm tăng liên tục qua các năm và tăng cả ở 7 vùng trong cả nước Năm 1990, cả nước có 8101 ngàn ha, đến năm 2003 có 10.681 ngàn ha cây hàng năm, tăng bình quân 2,2% năm, trong đó diện tích cây lương thực có hạt tăng 8,3%, diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 23,3% Năm 1990, cả nước đạt 19.896 ngàn tấn lương thực (lúa 19.225 ngàn tấn), năm 2003 đạt 37.452 ngàn tấn lương thực (lúa 34.518 ngàn tấn), tăng bình quân 5% năm, đảm bảo an ninh lương thực và giành một phần xuất khẩu [21]
Cùng với việc đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thị trường nội địa, xuất khẩu nông sản cũng tăng nhanh cả về sản lượng và kim ngạch Từ một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc, năm 2004 Việt Nam đã xuất khẩu 4,2 tỷ USD nông-lâm sản [21], tăng khoảng 32% so với năm trước và là con số cao nhất từ trước tới nay Một
số sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam đứng vào hàng cao nhất thế giới như
hồ tiêu, cà phê vối, gạo và điều
Cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp được tăng cường: thủy lợi, cơ khí,
điện Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, trình độ của nông dân
được nâng cao, tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng được áp dụng mạnh mẽ vào sản xuất, chúng ta đã có sức giảm nhẹ thiên tai, thực hiện từng bước xóa đói giảm nghèo trong nông thôn và nông dân
Những thành quả đạt được của nông nghiệp Việt Nam trong những năm đổi mới là rất lớn lao, không thể phủ nhận Tuy nhiên, thực tiễn phát triển nông nghiệp nông thôn đang đặt ra hàng loạt các vấn đề cần giải quyết trong đổi mới quản lý nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới trong những năm tới [25]
Thứ nhất, chiến lược phát triển đối với nông nghiệp còn chung chung, chưa
cụ thể, chưa tạo được căn cứ để các doanh nghiệp nông nghiệp có kế hoạch, chiến lược cạnh tranh ổn định, lâu dài Chiến lược chưa chỉ ra được thế mạnh cụ thể về lợi thế so sánh giữa nông nghiệp Việt Nam với các nước trong xu thế hội nhập Đây là nguyên nhân dẫn đến sự lúng túng, bị động đối với các doanh nghiệp nông nghiệp,
Trang 27nông dân khi xác định chiến lược, kế hoạch cạnh tranh Định hướng về thị trường trong chiến lược chưa rõ ràng cụ thể Hiện tượng "được mùa, nhưng vẫn thất thu"
đối với sản phẩm nông nghiệp năm nào cũng xảy ra
Thứ hai, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp còn yếu, thiếu, lạc hậu và kém hiệu quả Ngay từ những năm đầu giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương và đầu tư khá lớn để thực hiện các hóa: thủy lợi hóa, cơ giới hóa, hóa học hóa, điện khí hóa, sinh học hóa Cho đến nay, về cơ bản thủy lợi hóa
đã đạt được những kết quả thỏa đáng, song chưa đồng đều: ở miền Bắc, gần như 80% đồng ruộng có hệ thống thủy lợi tốt, ở miền Trung khoảng 60%, các tỉnh Nam
bộ ít hơn Hàng năm, thiên tai lũ lụt, hạn hán vẫn còn là những rủi ro bất khả kháng
đối với sản xuất nông nghiệp Việt Nam Những hoạt động khác nhằm ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất đã có những thành công, song mới ở phạm vi hẹp tại một vài nơi làm thí điểm Người nông dân sử dụng những tiến bộ khoa học-
kỹ thuật trong giống cây con, phân bón, thuốc trừ sâu…còn tùy tiện, thiếu sự hướng dẫn chuyên môn
Thứ ba, mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp, tuy thường xuyên đổi mới, song chưa được xác định rõ ràng, cụ thể
Thứ tư, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ bé, manh mún, mỗi hộ nông dân ở
đồng bằng chỉ có từ 0,4 đến 0,6 ha đất với trên dưới 10 mảnh ruộng khác nhau Sự manh mún, nhỏ bé này không thể thực hiện sản xuất lớn nông nghiệp được
Thứ năm, lao động trong nông nghiệp còn quá lớn, lao động dôi dư quá nhiều (đặc biệt vào lúc nông nhàn), năng suất lao động thấp, đời sống nông dân còn nghèo, lạc hậu Nông nghiệp nước ta hiện nay chiếm 67% lao động toàn xã hội, song chỉ làm ra được 25% GDP của quốc gia Như vậy để làm ra được 1% GDP cần 2,68% lao động nông nghiệp Nhìn một góc độ khác, nước ta hiện nay có tới hơn 27 triệu lao động làm việc trong nông nghiệp với 10 triệu ha đất nông nghiệp Với điều kiện đất đai ít và ngày càng bị thu hẹp do yêu cầu đô thị hóa, người nông dân Việt Nam hiện nay trong 1 năm chỉ cần bỏ ra khoảng hơn 60 ngày là làm hết các việc
Trang 28nghề nông Còn gần 300 ngày không có việc làm Hậu quả là, trong thời gian "nông nhàn" luồng lao động nông nghiệp tràn về các đô thị để tìm việc làm Thu nhập nông dân thấp, đời sống khó khăn Nhiều vùng nông dân rơi vào cảnh nghèo đói thường xuyên, Nhà nước phải trợ cấp
Cuối cùng, gắn liền với đổi mới sản xuất cần quan tâm xử lý vấn đề môi trường nông thôn Việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu bừa bãi gây nên nhiều dịch bệnh xảy ra thường xuyên ở nhiều nơi…
Trang 293 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
tự nhiên là 213,38 ngàn ha, so với Bắc Giang chỉ chiếm 5,58% diện tích và 10,7% dân số Về mặt hành chính, Yên Dũng hiện có 23 xã và 1 thị trấn
* Vị trí địa lý của huyện có những thuận lợi, khó khăn trong phát triển KT- XH:
Nằm gần vùng trọng điểm Phía Bắc, một trong 3 vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay, gần Hà Nội và Hải Phòng nên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hoá, công nghệ, lao động kỹ thuật.v.v Tuy nhiên, vị trí này cũng sẽ chịu ảnh hưởng về cạnh tranh của Hà Nội, Hải Phòng đặc biệt là trong các lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút lao động kỹ thuật cao
Yên Dũng là điểm nối giữa Thủ Đô với các tỉnh biên giới phía Bắc Cùng với những thuận lợi về giao thông đường sắt (Hà Nội-Lạng Sơn), đường bộ 1A, đường sông (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam) tạo cho huyện có một vị trí thuận lợi
về giao lưu kinh tế - văn hoá
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
Yên Dũng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình khoảng 23,0oC Sự thay đổi nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá lớn Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất (tháng 7: 28,80C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 16,4oC) là 12,4oC Nhiệt độ cao tuyệt đối của huyện là 41,2oC, nhiệt độ thấp nhất
Trang 30tuyệt đối là 3,3oC Độ ẩm trung bình hàng năm là 82%, cao nhất là 85%, thấp nhất
là 77%
Yên Dũng có số giờ nắng tương đối cao Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.722 giờ và phân phối không đều cho các tháng Số liệu tại trạm Bắc Giang năm 2000 cho thấy, tháng 6 là tháng có số giờ nắng cao nhất, tháng 3 là tháng có số giờ nắng thấp nhất
Lượng mưa trung bình hàng năm thấp, khoảng 1.553 mm (năm cao nhất lên tới 2.538 mm) và phân bố rất không đều theo thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6,7,8,9 (tháng 8 có lượng mưa cao nhất 297 mm, cá biệt có năm lên tới 756 mm) nên thường gây ra tình trạng úng lụt vào những tháng này Trong khi đó, tháng 12 lượng mưa thấp nhất, chỉ đạt 16 mm, cá biệt có những năm vào tháng 11,12 hoàn toàn không có mưa
Yên Dũng chịu ảnh hưởng của 2 loại gió khá rõ rệt, gió Đông Bắc xuất hiện vào mùa khô và gió đông nam xuất hiện vào mùa mưa Ngoài ra, vào các tháng chuyển tiếp giữa 2 mùa mưa và khô (các tháng 4, 5, 6) thỉnh thoảng xuất hiện gió tây nam
Nghiên cứu yếu tố khí hậu Yên Dũng có thể thấy rằng:
Khí hậu Yên Dũng thuận lợi cho phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp nói chung Khí hậu và số giờ nắng trong năm tương đối thích hợp cho việc canh tác 3 vụ trong năm tạo cho huyện có lợi thế về phát triển nông lâm nghiệp thâm canh, năng suất cao
Tuy nhiên, mưa lớn và tập trung vào vài tháng trong năm tạo ra mất cân đối nước cục bộ theo thời gian, gây ra tình trạng úng lụt và hiện tượng xói mòn rửa trôi
đất tại các vùng dốc Các tháng 7, 8, 9 mưa nhiều, cường độ lớn gây ngập úng ở một
số xã vùng trũng và ven sông, ảnh hưởng nhiều đến sản xuất vụ mùa Tháng 12 và tháng 1 thường có rét đậm, đôi khi có sương muối, gây khó khăn cho khâu làm mạ
và gieo cấy vụ chiêm xuân
3.1.1.3 Điều kiện đất đai, địa hình
Trang 31Yên Dũng có có tổng diện tích đất tự nhiên 21.338,24 ha với địa hình đồi núi nằm xen kẽ với đồng bằng Lãnh thổ của huyện trải đều đôi bờ sông Thương và giữa hạ lưu hai sông Lục Nam và sông Cầu Sông Thương và dãy núi Nham Biền chia huyện làm 3 khu vực tương đối rõ rệt là Đông Bắc, Tây Bắc và Ba Tổng
Bảng 3.1: Diện tích đất tự nhiên
(ha)
Cơ cấu (%)
Nguồn: Phòng Nông nghiệp- Địa chính huyện Yên Dũng
Tuy là huyện miền núi nhưng phần lớn đất đai của huyện nằm ở độ dốc dưới
3o (chiếm 86,99% diện tích tự nhiên), và trong 10.354,9 ha đất canh tác có tới trên 80% có địa hình vàn và thấp, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là gieo trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày Mặc dù là huyện miền núi nhưng lãnh thổ huyện có nhiều ô trũng, có nhiều nơi thấp (cống Tư Mại, cống
Cổ Dũng thấp hơn mặt nước biển 0,5m) nên gây ra tình trạng ngập úng vào mùa
mưa
Với diện tích tự nhiên 21.338,24 ha, huyện đã tiến hành khảo sát thổ nhưỡng trên diện tích 18.727,04 ha bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chưa sử dụng nhưng có khả năng nông lâm nghiệp (còn 2.611,2 ha đất sông ngòi, hồ ao, giao thông ) không tiến hành khảo sát Kết quả khảo sát cho thấy: đất đai Yên Dũng được chia ra 17 loại khác nhau, trong đó có 6 nhóm đất chính và 11 nhóm đất phụ
Sáu nhóm đất chính ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nông, lâm nghiệp của huyện là:
1 Đất phù sa được bồi hàng năm: Có diện tích 1665,18 ha chiếm tỷ lệ 8,89% tổng diện tích đã điều tra Diện tích này chủ yếu thuộc các xã Trí Yên, Lãng Sơn, Thắng Cương và đất ngoài đê của một số xã khác
Trang 322 Đất phù sa ít được bồi và không được bồi hàng năm: Có diện tích 983,82 ha chiếm 51,20% tổng diện tích đã điều tra Đây là loại đất chủ yếu của huyện phân
bố rộng khắp ở tất cả các xã
3 Đất bạc màu các loại: Có diện tích 4 456,71 ha chiếm 23,79% tổng diện tích đã
điều tra, phân bố rải rác ở hầu khắp các xã trong huyện
4 Đất feralitic biến đổi do trồng lúa: Có diện tích 94,56 ha chiếm 0,50% tổng diện tích đã điều tra, phân bố ở các xã Nội Hoàng, Yên Lư, Nham Sơn, Trí Yên
5 Đất feralit nâu vàng, vàng nâu, vàng đỏ: Có diện tích 2435,44 ha chiếm 13,00% tổng diện tích đã điều tra, phân bố ở các xã Tân An, Quỳnh Sơn, Xuân Phú, Tiền Phong, Yên Lư, Nham Sơn, Tân Liễu
6 Đất feralit xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Có diện tích 491,24 ha, chiếm 2,62% tổng diện tích đã điều tra, phân bố chủ yếu trên các chỏm núi thuộc dãy Nham Biền Nhìn chung đất đai của huyện Yên Dũng có hàm lượng dinh dưỡng trung bình đến nghèo, thích hợp để trồng nhiều loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai lang, các loại rau, đậu, đỗ, lạc và trồng một số loại cây ăn quả như nhãn, vải, táo, cam, quýt
Nhóm đất có ý nghĩa lớn cho sản xuất nông nghiệp (bao gồm đất phù sa được bồi hàng năm, đất phù sa ít được bồi và không được bồi hàng năm) chiếm trên 60%,
tỷ trọng này lớn hơn nhiều so với nhiều huyện miền núi khác trong cả nước
Đất canh tác cây hàng năm chiếm khoảng 94- 95 % diện tích đất nông nghiệp của huyện Trong những năm qua diện tích này có xu hướng giảm, năm
2004 giảm 306,06 ha so năm 2000, bình quân mỗi năm giảm 1,19% Trong đó đất lúa- màu giảm 176,67 ha, mỗi năm giảm 0,8%; đất lúa giảm 163,22 ha, mỗi năm giảm 1,83%; đất khác giảm 36,17 ha, mỗi năm giảm 5,08%
Diện tích đất giảm là do trong những năm qua nhà nước lấy đất canh tác chuyển đổi mục đích sử dụng để làm các công trình phúc lợi, đường giao thông, đất
ở cho dân và xây dựng các khu, cụm công nghiệp
Trang 33Bảng 3.2: Đất canh tác cây hàng năm của huyện
2 Đất trồng cây lâu năm 642,30 539,16 532,20 528,69 526,17
II Khu Đông Bắc 3.819,62 3.789,62 3.770,32 3.739,62 3.713,76
1 Đất trồng cây hàng năm 3.601,20 3.571,68 3.553,18 3.523,61 3.498,44 Đất lúa- màu 2.490,62 2.465,71 2.452,64 2.429,83 2.418,55 Đất lúa 1.028,21 1.023,60 1.018,74 1.013,02 1.000,48 Đất cây hàng năm khác 82,37 82,37 81,80 80,76 79,41
2 Đất trồng cây lâu năm 218,42 217,94 217,14 216,01 215,32
III Khu Tây Bắc 2.473,29 2.412,50 2.329,26 2.216,05 2.172,45
1 Đất trồng cây hàng năm 2.325,63 2.269,87 2.191,72 2.081,87 2.041,19 Đất lúa- màu 1.575,12 1.537,48 1.476,75 1.411,62 1.385,05 Đất lúa 696,10 681,10 667,29 630,12 617,94 Đất cây hàng năm khác 54,41 51,29 47,68 40,13 38,20
2 Đất trồng cây lâu năm 147,66 142,63 137,54 134,18 131,26
IV Khu Ba Tổng 5.014,52 5.000,31 4.982,55 4.956,87 4.929,03
1 Đất trồng cây hàng năm 4.738,30 4.821,72 4.805,03 4.778,37 4.749,44 Đất lúa- màu 3.325,64 3.414,22 3.413,24 3.432,08 3.411,11 Đất lúa 1.299,85 1.300,57 1.288,60 1.240,03 1.242,52 Đất cây hàng năm khác 112,81 106,93 103,19 106,26 95,81
2 Đất trồng cây lâu năm 276,22 178,59 177,52 178,50 179,59
Nguồn: Phòng Nông nghiệp- Địa chính huyện Yên Dũng
Điều kiện đất đai của huyện cho phép có thể phát triển một nền nông nghiệp
đủ mạnh Tuy nhiên, với mật độ dân số ngày càng tăng cần phải quan tâm bảo vệ quỹ đất nông nghiệp trong tương lai, cần bố trí sắp xếp hợp lý theo quy mô phát triển của các ngành công nghiệp và đô thị hoá Vấn đề thâm canh tăng vụ, tăng hệ
số sử dụng ruộng đất canh tác cây hàng năm đang là đòi hỏi bức thiết
3.1.1.4 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: chủ yếu do 3 con sông chính cung cấp, đó là: Sông Cầu
Trang 34chạy dọc ranh giới giữa huyện Yên Dũng với huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh dài 25 km; sông Thương cắt ngang lãnh thổ huyện theo chiều Tây Bắc xuống Đông Nam
có chiều dài 34km; sông Lục Nam chạy dọc ranh giới của huyện Yên Dũng với huyện Lục Nam có chiều dài 6,7 km Cả 3 sông này đều thuộc hệ thống Lục đầu giang, hợp lưu với nhau ở Phả Lại phần ranh giới phía đông của huyện
Ngoài nguồn nước mặt của 3 con sông trên, huyện Yên Dũng còn có 1.403,94 ha ao hồ, đầm các loại với trữ lượng nước khá lớn, không chỉ phục vụ cho các nhu cầu nước tại chỗ mà còn có ý nghĩa lớn đối với phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Nguồn nước ngầm: Theo kết quả khảo sát sơ bộ nước ngầm có trữ lượng và chất lượng khá tốt, phân bố ở độ sâu 15-25m Nguồn nước ngầm hiện chưa cần phải khai thác, đây là nguồn nước dự trữ cho phát triển trong tương lai
Nghiên cứu điều kiện thuỷ văn và nguồn nước của huyện có thể rút ra một số nhận xét sau:
Với tổng chiều dài 3 dòng sông chảy qua lãnh thổ huyện Yên Dũng là 65,7
km, nguồn nước của 3 con sông này cùng với nguồn nước mặt ao hồ và nguồn nước ngầm chưa khai thác rất dồi dào, có thể dùng cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, và sinh hoạt của người dân trong cả năm Ba con sông chảy qua huyện, ngoài là nguồn cung cấp nước, còn là hệ thống sông tiêu thoát nước của phần lớn các xã trong huyện vào mùa mưa Tuy nhiên, các sông này cũng là nguy cơ đe doạ
lũ lụt hàng năm vào mùa mưa bão, đòi hỏi huyện cần chủ động phòng ngừa
Ba con sông này có ý nghĩa rất lớn về giao thông thuỷ, một số vị trí có thể xây dựng cảng sông nhỏ, phục vụ vận chuyển hàng hoá trong huyện Tại xã Đồng Sơn có thể xây dựng một cảng lớn phục vụ vận chuyển hàng hoá cho thành phố Bắc Giang và 5 xã lân cận
Mặc dù có nguồn nước phong phú nhưng do địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng nên khó khăn trong việc dẫn nước (một số nơi phải tới 6 bậc thang mới đưa được nước đến ruộng) do vậy tình trạng thiếu nước cục bộ còn tồn tại ở một số vùng
Trang 353.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
3.1.2.1 Dân số, lao động
Bảng 3.3 cho thấy dân số trung bình của huyện năm 2004 là 163.609 người, mật độ dân số ở mức cao, bình quân 766 người/km2, cao hơn rất nhiều so huyện miền núi khác Dân số phân bổ không đều, khu Đông Bắc có 52.954 người, chiếm 32,4% dân số, mật độ 837 người/km2; khu Tây Bắc có 41.056 người, chiếm 25,1% dân số, mật độ 851 người/km2; khu Ba Tổng có 69.599 người, chiếm 42,5 % dân số
Bảng 3.3: Tình hình dân số của huyện qua các năm
Nông thôn (người) 52.718 52.759 52.768 53.404 52.954
2 Khu Tây Bắc
Dân số trung bình (người) 40.560 40.580 40.713 40.891 41.056 Mật độ dân số (ng/km2) 841 842 844 848 851
Nông thôn (người) 40.560 40.580 40.713 40.891 41.056
3 Khu Ba Tổng
Dân số trung bình (người) 69.023 69.198 69.401 69.090 69.599 Mật độ dân số (ng/km2) 574 575 577 575 579
Thành thị (người) 5.312 5.332 5.354 5.351 5.185
Nông thôn (người) 63.711 63.866 64.047 63.739 64.414
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Yên Dũng năm 2000-2004
Dân số của huyện tăng tương đối nhanh, bình quân tốc độ dân số tăng 0,2% năm Song dân số của huyện chủ yếu là dân số nông thôn, năm 2004 có: 158.424
Trang 36người dân nông thôn, chiếm 96.83% dân số; 5185 người dân thành thị, chiếm 3,17% dân số 100% dân số khu Đông Bắc và khu Tây Bắc là dân số nông thôn
Yên Dũng có nguồn lao động rồi dào, song hầu hết là lao động nông nghiệp Trong số 79.574 lao động trong độ tuổi có khả năng lao động, có 2.139 lao động công nghiệp, chiếm % lao động Mặt khác, hầu hết lao động của huyện là những lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, chất lượng lao động còn thấp kém Do công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề của huyện chưa phát triển nên chưa thu hút được nguồn lao động nông thôn, do đó lao động nông thôn còn dư thừa, thiếu việc làm Trong số 79.574 lao động năm 2001, có 73.753 lao động chưa qua đào tạo [16] Đây là vấn đề bức xúc đặt ra đối với huyện
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội
a/ Hệ thống giao thông: Yên Dũng có hệ thống giao thông đường bộ và
đường thủy khá thuận tiện cho việc đi lại và lưu thông hàng hóa Đường bộ có 8 km
đường quốc lộ 1, 43 km đường tỉnh lộ và 68,4 km đường liên xã Tỉnh lộ 284 nối từ quốc lộ 1 chạy qua khu Tây Bắc đến thị trấn Neo, qua khu Ba Tổng đến Đồng Việt thông sang Chí Linh, tỉnh Hải Dương; tỉnh lộ 299 nối quốc lộ 31(Bắc Giang- Đình Lập) chạy qua khu Đông Bắc đến thị trấn Neo Đường thủy gồm sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam chảy qua địa phận của huyện, hợp lưu ở Phả Lại
Hệ thống giao thông của huyện cho phép phát triển ngành dịch vụ vận tải đa dạng, bảo đảm giao lưu hàng hóa thuận tiện Quốc lộ 1 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, đường liên xã và hệ thống đường sông là những mạch máu chính gắn kết Yên Dũng với các huyện, tỉnh khác trong cả nước Đường quốc lộ 1A mới chạy qua huyện ngoài việc làm xích gần Yên Dũng với Hà Nội còn là một nhân tố quyết định
ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thương mại và dịch vụ của các xã ven đường
b/ Hệ thống thuỷ lợi: Yên Dũng có hai hệ thống thủy nông chính là: hệ
thống thủy nông Cầu Sơn và Hệ thống thủy nông nam Yên Dũng, ngoài ra còn có một số trạm bơm phục vụ tưới, tiêu cục bộ ở các xã trong huyện
Hệ thống thủy nông Cầu Sơn đảm bảo tưới, tiêu cho huyện Lạng Giang và
Trang 37khu Đông Bắc của huyện Yên Dũng, với 10.000 mét kênh tưới cấp 1; 42.000 kênh tưới cấp 2; 2 trạm bơm tiêu, 27.000 mét kênh tiêu cấp 1, đảm bảo nước tưới chủ
động cho 58% diện tích đất canh tác, tiêu nước chủ động cho 62 % diện tích
Hệ thống thủy nông nam Yên Dũng đảm bảo tưới tiêu cho khu Ba Tổng, khu Tây Bắc và một phần diện tích của huyện Việt Yên Hệ thống bao gồm 8 trạm bơm, 33.175 mét kênh tưới cấp 1; 119.985 mét kênh tưới cấp 2; 64.720 mét kênh tiêu cấp
1, 64.000 mét kênh tiêu cấp 2, đảm bảo tưới chủ động 65% diện tích, tiêu chủ động 70% diện tích
Với hai hệ thống thủy nông và một số trạm bơm cục bộ đã cơ bản đáp ứng
được nhu cầu về tưới, tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp của huyện Tuy nhiên, do
địa hình đồi núi nằm xen kẽ với đồng bằng nên còn có khó khăn trong việc cung cấp nước tưới cho số chân ruộng cao, nhất là vào những năm khô hạn và tiêu nước cho những chân ruộng thấp vào năm có mưa nhiều, lượng mưa tập trung Để nâng cao tỷ lệ diện tích tưới, tiêu chủ động, trong những năm tới huyện cần chú trọng đầu tư cải tạo, nâng cấp các công trình thủy nông, nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống thủy nông hiện có
c/ Hệ thống dịch vụ nông nghiệp: Hệ thống dịch vụ nông nghiệp phát triển
rộng khắp trên địa bàn toàn huyện, đến tận các thôn xóm Tại huyện có chi nhánh của công ty cổ phần vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang là nguồn cung cấp chủ yếu vật tư, phân bón cho sản xuất Ngoài ra hầu hết các xã đều có các đại lý phân bón, trong mỗi xóm làng đều có 1 hoặc 2 hộ kinh doanh phân bón Hệ thống này có phương thức bán hàng phong phú và đa dạng và đã cung cấp đầy đủ và kịp thời nhu cầu về vật tư, phân bón cho sản xuất của nông dân
Trên địa bàn toàn huyện có 11 chợ, bình quân cứ 2,46 xã có một chợ Tổng diện tích chợ là 17.800 m2, bình quân mỗi chợ rộng 4.246 m2, trong đó chợ xây lợp ngói 5.590 m2, chợ cầu tranh tre 630 m2 Các chợ này phân bổ đều ở các khu vực của huyện, ngoài việc cung cấp các hàng tiêu dùng, các chợ này là nơi tiêu thụ phần lớn các nông sản của nông dân trong vùng
Trang 38d/ Cơ sở công nghiệp chế biến: Yên Dũng là một huyện thuần nông, công
nghiệp chưa phát triển Bảng 3.4 cho thấy những năm qua, số cơ sở chế biến phát triển tương đối nhanh, bình quân tăng 4,5% năm, trong đó số cơ sở chế biến thực phẩm và đồ uống tăng 1,4% năm, song giá trị sản xuất ra còn quá nhỏ bé, thu hút lao động không nhiều
Bảng 3.4: Cơ sở và giá trị công nghiệp chế biến
IV Sản phẩm ch biến chủ yếu
Gạo, Ngô xay xát ( 1000 tấn) 42,2 41,2 48,5 49,5 37,5 97,1
Rượu trắng (1000 lít) 177 215 276 329 232 107,0
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Yên Dũng năm 2000- 2004
Tuy số cơ sở chế biến thực phẩm và đồ uống tăng, nhưng quy mô sản xuất của các cơ sở vẫn ở trong phạm vi gia đình, mang tính chất là nghề phụ của gia đình Sản phẩm chế biến chủ yếu là gạo, ngô xay xát, đậu phụ và rượu trắng, phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, không vươn ra tiêu thụ được ở thị trường ngoài huyện Để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất trồng trọt nói riêng phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao, Yên Dũng cần phải kiến tạo những cơ sở chế biến thực phẩm với công nghệ hiện đại tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
e/ Hệ thống khuyến nông: Thực hiện chủ trương của tỉnh về tăng cường
khuyến nông cơ sở, đến nay hệ thống khuyến nông của huyện đã được kiện toàn, bao gồm: 1 trạm khuyến nông huyện có 6 cán bộ và 24 cán bộ khuyến nông ở 24 xã, thị trấn, trong đó 15 cán bộ có trình độ đại học, 1 cán bộ có trình độ cao đẳng, 14 cán bộ có trình độ trung cấp Năm 2004, đã tổ chức được 58 lớp tập huấn về kỹ
Trang 39thuật trồng trọt, chăn nuôi với 3.930 người tham gia; xây dựng được 9 mô hình trình diễn Hoạt động của hệ thống khuyến nông đã góp phần đáp ứng nhu cầu hiểu biết
và nâng cao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho nông dân, giúp nhiều nông dân sản xuất mang lại kết quả cao hơn Tuy vậy, hoạt động của hệ thống khuyến nông còn
có những tồn tại cần được khắc phục như: chưa thực sự sâu sát với sản xuất của người nông dân, hầu như mới chỉ phổ biến kiến thức, kỹ thuật cho người dân ở trên lớp chứ chưa xem người dân áp dụng trong thực tế như thế nào, xây dựng được các mô hình song chưa sát với điều kiện sản xuất của nông dân, người dân khó áp dụng làm theo mô hình
3.1.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực, tiềm năng về đất đai, lao động được khai thác có hiệu quả hơn; năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi tăng đều qua các năm
Bảng 3.5 cho thấy giá trị sản xuất nông nghiệp ở huyện tăng liên tục qua các năm, năm 2000 đạt giá trị 279.291 triệu đồng, năm 2004 đạt 393.472 triệu đồng, bình quân hàng năm tăng 7,38% Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện trong những năm qua tăng cả ở 3 bộ phận: trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp Giá trị sản xuất trồng trọt năm 2000 đạt 175.766 triệu đồng, năm 2004 đạt 257.779 triệu đồng, tăng bình quân 7,64% Giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2000 đạt 84.275 triệu đồng, năm 2004 đạt 115.706 triệu đồng, tăng bình quân 7,46% Giá trị sản xuất dịch vụ năm 2000 đạt 19.250 triệu đồng, năm 2004 đạt 19.987 triệu đồng, tăng bình quân 4,52%
Cùng sự gia tăng hàng năm về giá trị sản xuất nông nghiệp, bản thân nội bộ sản xuất nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực về cơ cấu ngành trong sản xuất nông nghiệp Sản xuất trồng trọt tăng trưởng qua các năm, song tỷ trọng trong giá trị sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm qua các năm Năm 2000 giá trị sản xuất trồng trọt chiếm 75,1%, năm 2004 giảm xuống còn % giá trị sản xuất nông nghiệp
Trang 40Tỷ trọng giá trị chăn nuôi tăng đều qua các năm, năm 2000 chiếm 34,9%, năm 2004
chiếm 30,3% giá trị sản xuất nông nghiệp
Bảng 3.5 : Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp ở huyện
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Yên Dũng năm2000-2004
Đạt được kết quả trên là do huyện đã thực hiện có kết quả việc chuyển đổi cơ
cấu giống và cơ cấu mùa vụ Diện tích cây trồng hàng năm tăng, nhất là ở các xã
vùng ngoại đê, diện tích lúa tái giá tăng rõ rệt, góp phần làm tăng diện tích và sản
lượng lúa của huyện Trên 80% diện tích lúa được cấy bằng giống lúa lai, lúa thuần
có năng xuất cao Một số xã đã đẩy mạnh sản xuất cây rau vụ đông, trồng các loại
rau như: Su hào, bắp cải, cà chua đem lại hiệu quả kinh tế cao
Trong chăn nuôi, huyện đã thực hiện có hiệu quả chương trình Sind hóa đàn
bò, nạc hóa đàn lợn, đưa một số gia cầm có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất
Một số mô hình chăn nuôi công nghiệp, bán công nghiệp có hiệu quả đang được
triển khai nhân rộng
Trong nuôi thủy sản: phong trào cải tạo mặt nước, ao, hồ để nuôi thả cá và
con đặc sản phát triển mạnh Một số mô hình cấy lúa kết hợp thả cá bước đầu mang