1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng

120 709 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Ngọc Đam
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Phương Thuỵ
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 735,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i

-

nguyễn ngọc đam

Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của Trung tâm khuyến nông thành phố Hải Phòng

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3 đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 12 năm 2005 Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Đam

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn giảng viên hướng dẫn khoa học TS Vũ Thị Phương Thuỵ đ3 tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn và hoàn thành luận văn Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin cám ơn các cơ quan và cá nhân sau đây đ3 tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện:

- Bộ môn Kinh tế nông nghiệp - Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Khoa sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp I

- Trung tâm Khuyến nông Thành phố Hải Phòng

Tôi xin cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đ3 giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Hà Nội, tháng 12 năm 2005 Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Đam

Trang 4

Môc lôc

2.2.1 Chñ tr−¬ng, chÝnh s¸ch cña §¶ng vµ Nhµ n−íc nh»m ph¸t triÓn s¶n

2.2.2 C«ng t¸c khuyÕn n«ng ë mét sè n−íc trªn thÕ giíi vµ trong n−íc 30

Trang 5

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 44

3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu kết quả và hiệu quả công tác khuyến nông 46

4.1 Tình hình phát triển và kết quả hoạt động của Trung tâm khuyến nông

4.2 Kết quả hoạt động công tác khuyến nông của Trung tâm khuyến nông

4.2.8 Kết quả công tác chỉ đạo sản xuất của Trung tâm khuyến nông Hải

4.3.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp dưới tác động của công tác khuyến

Trang 6

4.3.4 Đánh giá kết quả một số mô hình khuyến nông trọng điểm trong 2

4.3.5 Tác động công tác khuyến nông đến công cuộc CNH – HĐH nông

4.4 Định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao kết quả công tác khuyến

4.4.2 Định hướng và mục tiêu của công tác khuyến nông của Trung tâm

4.4.3 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao kết quả công tác khuyến nông

Trang 7

Danh mục các chữ viết tắt

CNH - HĐH: Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

TTKNHP : Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng

Trang 8

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Quy mô diện tích đất nông nghiệp và số nông dân/1 cán bộ

Bảng 4.1: Tình hình lao động của TTKN Hải Phòng qua 3 năm

Bảng 4.3: Kết quả tập huấn tiến bộ kỹ thuật của Trung tâm khuyến nông

Bảng 4.5: Kết quả xây dựng mô hình trình diễn của Trung tâm khyến

Bảng 4.6: Kết quả tổ chức tham quan – hội thảo đầu bờ, đầu chuống của

Bảng 4.9: Kết quả xây dựng nhóm nông dân cùng sở thích của TTKN

Trang 9

Bảng 4.15: Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo trình độ kinh tế của Hải

Bảng 4.16: Kết quả mô hình thâm canh lúa chất l−ợng cao giống HYT 83 94

Bảng 4.21: Kết quả mở rộng các mô hình trình diễn của TTKNHP 4 năm

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, với 76% dân số sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm 80% Nông dân chỉ thực sự làm chủ tư liệu sản xuất của mình và có quyền quyết định với quá trình sản xuất kinh doanh của

hộ từ khi có NQ 10 của Bộ chính trị về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp năm 1988 - hộ nông dân đ2 thực sự là một đơn vị kinh tế độc lập Môt vấn đề đặt ra: khi nền kinh tế thị trường, điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới diễn ra mạnh mẽ thì nông dân sẽ phát triển sản xuất nông nghiệp như thế nào, khi mà họ hiểu biết về kiến thức sản xuất nông nghiệp, các chủ trương, chính sách của Nhà nước còn ít, thiếu thông tin thị trường, vai trò quản lý tổ chức sản xuất nông nghiệp của các HTX nông nghiệp ngày càng

mờ nhạt, yếu kém.Việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trở thành việc bức xúc đòi hỏi phải có tổ chức cán bộ khoa học kỹ thuật làm cầu nối giữa các trung tâm khoa học kỹ thuật, các trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu với các nông hộ ở nông thôn Để đáp ứng và giải quyết các yêu cầu trên, Chính phủ đ2 ban hành Nghị định 13/CP ngày 31/3/1993 về việc thành lập tổ chức khuyến nông Việt Nam Từ khi thành lập và đi vào hoạt động, công tác khuyến nông, khuyến lâm trong cả nước đ2 có nhiều phương pháp và nội dung phong phú,

đ2 đóng vai trò quan trọng đối với sản xuát nông nghiệp Khuyến nông là cầu nối nông dân với nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp, các

đoàn thể, các ngành với quốc tế và giữa các hộ nông dân với nhau Trong sản xuất, khuyến nông có nhiệm vụ hướng dẫn chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, xây dựng nông thôn mới Đối với nông dân nông thôn, khuyến nông góp phần giúp các nông

hộ xoá đói giảm nghèo, tiến lên khá và giầu Khuyến nông góp phần thúc đẩy

Trang 11

sản xuất, liên kết giữa nông dân với nhau, thúc đẩy sự hợp tác trong sản xuất

và đời sống hàng ngày của họ Mặt khác tổ chức khuyến nông đ2 huy động các lực lượng khoa học kỹ thuật từ Trung ương đến cơ sở tham gia vào các hoạt động đóng góp trí tuệ, công sức vào việc thực hiện các chương trình, dự

án phát triển nông thôn

Được thành lập tính đến nay đ2 là 10 năm với nhiều chương trình dự án và mô hình trình diễn khuyến nông, với nhiều các phương pháp đầu tư hỗ trợ, kết hợp với tuyên truyền vận động, công tác khuyến nông của Trung tâm khuyến nông Hải Phòng đ2 đạt được những thành tích đáng kể trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và xây dựng kinh tế nông thôn nói chung Công tác khuyến nông đ2 góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, xoá đói giảm nghèo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân nông thôn Bên cạnh những thành tích đ2 đạt

được, cho đến nay công tác khuyến nông của Trung tâm khuyến nông Hải Phòng vẫn còn những tồn tại: hệ thống tổ chức bộ máy chưa phát huy hết hiệu quả, các chính sách khuyến nông chưa đồng bộ, các phương pháp khuyến nông chưa hoàn chỉnh phù hợp với điều kiện của địa phương, các mô hình khuyến nông chưa thực sự là điểm sáng mang lại hiệu quả kinh tế, x2 hội rõ ràng, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và mong muốn của nông dân nông thôn

Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng

và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của Trung tâm khuyến nông thành phố Hải Phòng"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

- Nghiên cứu thực trạng công tác khuyến nông của Trung tâm khuyến nông Hải Phòng và đi sâu phân tích, đánh giá kết quả, hiệu quả của công tác khuyến nông, tác động của nó đến SXNN Hải Phòng, đồng thời phân tích

Trang 12

những nhân tố ảnh hưởng làm hạn chế kết quả hoạt động công tác khuyến nông, từ đó đưa ra định hướng đề ra giải pháp chủ yếu để nâng cao kết quả công tác khuyến nông của TTKN Hải Phòng trong những năm tới

- Đánh giá mức độ phù hợp của các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trên địa bàn thành phố

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá những lý luận và thực tiễn của công tác khuyến nông

- Đánh giá thực trạng hoạt động khuyến nông trong những năm qua

- Phân tích, đánh giá kết quả công tác khuyến nông trong những năm qua

- Đề xuất những định hướng và giải pháp nâng cao kết quả của công tác khuyến nông trong thời gian tới

1.3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hoạt động khuyến nông từ thành phố đến x2, nông hộ

- Các hộ nông dân tham gia các mô hình khuyến nông

- Những mối quan hệ được thể hiện qua các mô hình trình diễn thực hiện công tác khuyến nông trong những năm qua ở thành phố Hải phòng

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

-Thời gian nghiên cứu 9/2004 đến tháng7/2005

- Số liệu phục vụ nghiên cứu chủ yếu từ năm 2002 đến năm 2004

- Địa điểm: Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Cơ sở lý luận về kết quả và hiệu quả

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế x2 hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn x2 hội, trong khi nguồn lực sản xuất x2 hội ngày càng khan kiếm Do vậy việc nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan đối với mọi nền sản xuất x2 hội

Đối với một nên sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, trong điều kiện khai thác và sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực, đó là mong muốn của tất cả các nước trên thế giới Xuất phát từ các giác độ nghiên cứu khác nhau, cho

đến nay đ2 có nhiều ý kiến về “hiệu quả”, có thể khái quát thành các quan

điểm sau:

Quan điểm 1:

Tính hiệu quả quy luật kinh tế đầu tiên của Mác trên cơ sở sản xuất tổng thể là qui luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau

Trên cơ sở thực hiện được vấn đề “Tiết kiệm và phương pháp hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành”, theo quan điểm của Mác đó là qui luật “tiết kiệm” là “tăng năng suất lao động x2 hội” hay đó là việc tăng hiệu quả Mác cho rằng “nâng cao năng suất lao động, vượt qua nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi x2 hội” [9]

Quan điểm của Mác là đúng nhưng chưa thật đầy đủ Phát triển quan điểm này các nhà kinh tế XHCN, chủ yếu các nhà kinh tế học Liên Xô cho rằng : hiệu quả kinh tế cao được biểu hiện bằng sự đáp ứng được yêu cầu qui luật

Trang 14

kinh tế cơ bản của CNXH ở đây mới đề cập đến “nhu cầu” tiêu dùng, quĩ tiêu dùng là mục đích cuối cùng cần đạt được của nền sản xuất x2 hội, mà chưa đề cập đến quỹ “tích luỹ” để làm điều kiện phương tiện đạt được mục

đích đó Hay nói khác đi với cách hiểu, hiệu quả cao khi được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm x2 hội hoặc thu nhập quốc dân cao, quan điểm này đúng nhưng chưa được thoả đáng Bởi lẽ ở đây chưa xét đến sự đầu tư các nguồn lực và các yếu tố bên trong, bên ngoài của nên kinh tế để tạo ra tổng sản phẩm x2 hội hay thu nhập quốc dân đó Như vậy hiệu quả là mục tiêu của mọi nền sản xuất x2 hội, là cơ sở đảm bảo tính ưu việt của một chế độ x2 hội mới

Quan điểm 2:

Các nhà khoa học kinh tế Samueleson – Nordhuas đ2 trình bày trong giáo trình kinh tế học “hiệu quả có nghĩa là không l2ng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi x2 hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một lượng hàng hoá khác…” và mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường khả năng sản xuất của nó Từ nghiên cứu đường năng lực sản xuất, người ta xác định

được sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế là phần sản lượng mà nền sản xuất - x2 hội chưa được khai thác và sử dụng “phần bị l2ng phí” Quan điểm này đúng nhưng sự phản ánh còn chung chung, khó xác định

được một cách cụ thể

Quan điểm 3:

Đại diện cho tư tưởng thứ ba là các nhà khoa học kinh tế Cộng hoà liên bang Đức cho rằng: hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sáng mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt

động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của x2 hội, của nền kinh tế quốc dân

Trang 15

Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu ngày càng tăng lên của con người, nên người ta phải xem xét kết quả đó đạt được như thế nào và chi phí bỏ ra bao nhiêu, có đem lại kết quả hữu ích hay không

Với quan điểm này có ưu điểm là đ2 xét đến chi phí bỏ ra để có được kết quả và phản ánh trình độ sản xuất Nhược điểm là chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ở phương diện xác định, tính toán

Quan điểm 4:

Từ các quan điểm trên, việc xác định đúng khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải xuất phát từ những luận điểm triết học của Mác “qui luật tiết kiệm thời gian” và những luận điểm của lý thuyết hệ thống

* Sự đúng và đủ quan điểm này thể hiện cơ sở của hiệu quả là ở chỗ:

- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo qui luật “tiết kiệm”,

nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh x2 hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại

- Hai là, mặt khác theo quan điểm lý thuyết hệ thống, nền sản xuất x2 hội

là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất x2 hội bao gồm trong

nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống x2 hội Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống x2 hội, nhu cầu x2 hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó chính là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất x2 hội và môi trường [23]

- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có

Trang 16

phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất x2 hội

- Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu là với một khối lượng tài nguyên nguồn nhất định tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất; nói cách khác là ở một mức sản phẩm sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí nguồn tài lực ít nhất

Như vậy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và lượng sản phẩm đầu ra, kết quả của mối quan hệ này thể hiện tính hiệu quả của sản xuất Với cách xem xét này, hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau Có thể khái quát như sau:

- Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được

và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được

là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các yếu tố nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về so sánh tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng

đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế - kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư

- Như vậy hiệu quả kinh tế trước hết được đo bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

- Như vậy hiệu quả kinh tế trước hết được đo bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.Theo cách này

có “quan điểm cổ truyền của kinh tế học khu vực sản xuất cho rằng mục tiêu của doanh nghiệp là đặt lợi nhuận tối đa” Cách đánh giá này chưa phản ánh

đủ, đúng mức hiệu quả, vì mức lợi nhuận người ta đạt được chưa xét đến phải

Trang 17

bỏ ra bao nhiêu chi phí cho quá trình sản xuất đó

- Mặt khác đánh giá về hiệu quả kinh tế được xác định bởi so sánh tương

đối (phép chia) giữa kết quả đạt được với các chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả đó Với cách biểu hiện chỉ rõ được mức độ hiệu quả của sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau Từ đó so sánh được hiệu quả kinh tế của các qui mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh giá này là không thể hiện được qui mô hiệu quả kinh tế nói chung

- Một cách xem xét hiệu quả kinh tế nữa là so sánh giữa mức độ biến động của kết quả và mức độ biến động của chi phí để đạt được kết quả đó Biểu hiện của cách này có thể so sánh chênh lệch về số tuyệt đối và số tương đối giữa hai tiêu thức đó Cách đánh giá này có ưu thế khi xem xét hiệu quả kinh tế của

đầu tư theo chiều sâu hoặc trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, tức là nghiên cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm Tuy nhiên hạn chế của cách đánh giá này không xét đến hiệu quả kinh tế của tổng chi phí bỏ ra Với quan điểm thứ tư có các cách xem xét hiệu quả kinh tế, đặt ra cho chúng ta khi đánh giá hiệu quả kinh tế cần sử dụng nó tổng hợp các cách đó Nhưng như vậy mới chỉ nhìn nhận hiệu quả cách trực tiếp ở góc độ vi mô Hiệu quả được đánh giá bằng các tiêu thức phản ánh lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và lợi nhuận tối đa vẫn là mục tiêu chính đáng đối với người sản xuất trong thị trường cạnh tranh, nhưng chưa đề cập đến lợi ích của x2 hội

Theo Đỗ Thị Ngà Thanh, thống kê và phân tích thống kê kết quả sản xuất

là thống kê và phân tích các chỉ tiêu : giá trị sản xuất; chi phí trung gian; giá trị gia tăng Thống kê hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất là thống kê :HQKT sử dụng đất nông nghiệp; HQKT của quá trình sử dụng tài sản cố

địnhvà vốn sản xuất; năng suất lao động nông nghiệp[ 33]

Trên quan điểm toàn diện, có các ý kiến cho rằng cần đánh giá hiệu quả kinh tế không thể loại bỏ những mục tiêu nâng cao trình độ về văn hoá - x2

Trang 18

hội và đáp ứng các nhu cầu x2 hội ngày càng tốt hơn Đó là quan điểm đúng

và đủ trong mối quan hệ giữa kinh tế vi mô, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay trên thế giới

ở nước ta “thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước” Do hoạt động kinh

tế của mỗi doanh nghiệp không chỉ nhằm vào tăng hiệu quả và các lợi ích kinh

tế của mình, mà còn phải phù hợp với yêu cầu của x2 hội và đảm bảo các lợi ích chung bởi những định hướng, chuẩn mực được Nhà nước thực hiện điều chỉnh

Như vậy hiệu quả kinh tế một phạm trù kinh tệ x2 hội, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh tế và là đặc trưng của mọi nền sản xuất x2 hội Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau sẽ không giống nhau Tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế - x2 hội và mục đích yêu cầu của một nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể mà được đánh giá theo những giác độ khác nhau cho phù hợp

* Công thức tính HQKT:

- Công thức 1: Hiệu quả = Kết quả thu được - Chi phí bỏ ra

Hay: H = Q - C Trong đó: H là hiệu quả, Q là kết quả thu được, C là chi phí bỏ ra

Công thức này cho ta nhận biết quy mô hiệu quả của đối tượng nghiên cứu Loại chỉ tiêu này được thể hiện nhiều chỉ tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào phạm vi tính chi phí (C) là tổng chi phi hoặc chi phí trung gian hoặc chi phí vật chất

- Giá trị sản xuất (GO): là tổng giá trị tính bằng tiền của các loại sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian nhất định của đơn vị sản xuất, một vùng hay một ngành cụ thể

Trang 19

- Chi phí sản xuất bỏ ra, có thể biểu hiện theo các phạm vi tính toán sau: Tổng chi phí sản xuất (TC) là tổng hao phí tính bằng tiền của các nguồn tài nguyên tham gia vào quá trình sản xuất ra tổng sản phẩm đó

Tổng chi phí trung gian (IC) là toàn bộ các khoản chi phi bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch vụ sản xuất ra sản phẩm đó

Tổng chi phí vật chất (TCv) là toàn bộ các khoản chi phí bằng tiền của chi phí trung gian cộng thêm vào khoản chi phí khấu hao tài sản cố định và khoản tiền thuế, chi phí tài chính khác trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm đó

- Hiệu quả theo công tác 1 được biểu hiện qua các chi phí sau:

H = (Q – (C (1) và H = (Q/(C (2)

Trong đó: (Q là mức chênh lệch của kết quả sản xuất

(C là mức chênh lệch của chi phí bỏ ra 2.1.2 Quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội

Hiệu quả x2 hội(HQXH) là mối tương quan so sánh giữa kết quả của các lợi ích về x2 hội và tổng chi phí x2 hội Kết quả của các lợi ích x2 hội như cải

Trang 20

thiện điều kiện làm việc, điều kiện sống, tăng việc làm, giải quyết thoả đáng giữa các lợi ích trong x2 hội, cải thiện môi sinh môi trường Tổng chi phí x2 hội thể hiện toàn bộ chi phí sản xuất của x2 hội bỏ ra trong hoạt động sản xuất x2 hội

Nâng cao hiệu quả của các lợi ích về x2 hội đều dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế(HQKT) Việc giải quyết tốt các vấn đề x2 hội lại là một điều kiện quan trọng để thúc đẩy sản xuất phát triển có hiệu quả HQKT & HQXH

là phạm trù thống nhất có mối quan hệ mật thiết với nhau, là tiền đề và thúc

đẩy nhau cùng phát triển

2.1.3 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả phát triển bền vững

Nghiên cứu chủ yếu dựa vào nguyên lý kinh tế nông nghiệp[18], vận dụng phù hợp với điều kiện kinh tế - x2 hội và khả năng của từng tiểu vùng sinh thái HQKT và hiệu quả phát triển bền vững là x2 hội được phát triển với những tác động hợp lý để tạo nhịp độ tăng trưởng kinh tế tốt hơn và có những lợi ích về x2 hội, bảo vệ môi trường ở hiện tại và tương lai Đồng thời theo

định nghĩa của FAO về tác động hợp lý để phát triển lâu bền là quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả m2n liên tục các nhu cầu của con người thuộc các tế hộ hôm nay và mai sau Vấn đề này được Mác viết “… họ chỉ được phép sử dụng đất ấy và phải truyền lại cho các thế hệ tương lai sau khi đ2 làm cho đất ấy tốt hơn lên, như những người cha hiền vậy”[9]

Như vậy, việc giải quyêt thoả đáng mối quan hệ giữa HQKT & HQXH, giữa HQKT hiện tại và lâu dài là sự phát triển bền vững của nền kinh tế nông nghiệp

2.1.4 Cơ sở lý luận về khuyến nông

2.1.4.1 Khái niệm về khuyến nông

Khuyến nông là từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến

Trang 21

sự phát triển nông thôn Đó là hệ thống giáo dục trong nhà trường, trong đó có cả người già và trẻ học bằng thực hành Khuyến nông cũng còn được hiểu như một công tác tổ chức, thiết kế để cải thiện điều kiện sinh sống của các hộ nông dân, các bà con nội trợ và những người khác trong nông thôn bằng cách dạy họ thực hiện tốt hơn, cải thiện phương pháp, cách làm, công việc nội trợ

và có cuộc sống cộng đồng tốt hơn Khuyến nông bắt đầu bất cứ ở đâu mà con người hiện diện và với bất cứ cái gì họ có Từ extension được sử dụng dầu tiên

ở Anh năm 1866 có nghĩa là “ mở rộng - triển khai” còn “agricultural extension” có nghĩa là “mở rộng nông nghiệp - triển khai nông nghiệp” và dịch gọn là “khuyến nông” Do vậy “khuyến nông” là một thuật ngữ có ý nghĩa rất rộng được tổ chức thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau để phục vụ cho nhiều mục đích có quy mô khác nhau [5],[7] Khuyến nông được

định nghĩa theo các cách khác nhau:

- Theo nghĩa hẹp

Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông- lâm - ngư, các trung tâm khoa học nông nghiệp - lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu

được nhiều nông sản hơn

ở đây khuyến nông chỉ là chuyển giao kỹ thuật đơn thuần Trong thực tiễn sản xuất ở nông thôn, người nông dân không chỉ phải có yêu cầu như vậy mà sản phẩm của họ làm ra còn phải được tiêu thụ ở đâu, giá cả như thế nào để họ

có lời Cho nên tại nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới định nghĩa hẹp của khuyến nông được thay thế bằng một nghĩa rộng như sau:

- Nghĩa rộng

Khuyến nông hướng dẫn cho nông dân những tiến bộ kỹ thuật mới, ngoài

ra còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biêt các chính sách luật lệ của nhà nước, giúp người nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động x2 hội như thế nào cho

Trang 22

ngày càng tốt hơn Trước kia người Pháp hiểu khuyến nông theo nghĩa hẹp là:

“phổ cập nông nghiệp” nay họ đ2 chuyển sang nghĩa rộng là “phát triển nông nghiệp” Người Anh từ lâu đ2 hiểu khuyến nông theo nghĩa rộng là “triển khai", “mở rộng nông nghiệp”[5],[7]

Maunder (1973) định nghĩa khuyến nông “như một dịch vụ hoặc hệ thống giúp nông dân hiểu biết những phương pháp công tác và kỹ thuật cải tiến, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, làm cho mức sống của họ tốt hơn và nâng cao trình độ giáo dục của cuộc sống nông thôn”[5],[7]

Swanson và Claar định nghĩa khuyến nông là “một phương pháp động” nhận thông tin có lợi tới người nông dân và giúp họ thu được những kiến thức,

kỹ năng và những quan điểm cần thiết nhằm sử dụng một cách có hiệu quả thông tin kỹ thuật này Chu-Yuan - Wu định nghĩa khuyến nông theo nghĩa rộng là một hoạt động có tính cách giáo dục gồm từ việc tổ chức nông dân đến việc thực hiện chính sách nông nghiệp[5],[7]

ở Indonesia, quan niệm khuyến nông là giúp nông dân có tay nghề và kiến thức tốt hơn, nâng cao hơn nữa những nhận thức đúng đắn để hướng tới

đổi mới và tạo niềm tin cho họ trong sản xuất và cuộc sống Quan niệm cơ bản

là giúp nông dân tự lo cho bản thân mình, để họ giải quyết những vấn đề của chính họ bằng cách áp dụng tốt hơn trong sản xuất nông nghiệp và những hoạt

động kinh doanh

Từ những quan niệm về khuyến nông khác nhau người ta đ2 đưa khái niệm tổng quát : khuyến nông là một một hệ thống các biện pháp giáo dục nông nghiệp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới

-Tổ chức lương nông của Liên hợp quốc (FAO) đ2 đúc kết và trên cơ sở hoạt động khuyến nông của Việt Nam có thể định nghĩa khuyến nông như sau:

Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng

Trang 23

thời giúp họ hiểu những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới [5],[7],[22]

2.1.4.2 Triết lý về khuyến nông

- Khuyến nông dựa trên một triết lý là người nông đân thông minh, có năng lực, mong muốn nhận được thông tin và sử dụng thông tin đó để đem lại lợi ích cho cá nhân và cộng đồng do vậy việc tiếp cận trực tiếp với người nông dân là điều rất cần thiết

Khuyến nông bất cứ ở nơi đâu mà dân chúng có mặt với bất cứ cái gì mà

họ có, việc cải tiến bắt đầu từ đó

- Lớp học mở ra bất cứ nơi nào mà dân chúng có mặt: ở trang trại, ở nhà, trong làng ở ngoài đồng

- Chương trình khuyến nông dựa trên nhu cầu mà dân chúng đề ra, dân học để làm bằng thực hành

- Công việc khuyến nông cũng làm với dân chúng và thông qua dân, những khuyến nông viên huấn luyện cho những chỉ đạo viên ở địa phương để thông tin được truyền đạt từ người này đến người khác

- Giáo dục thực hiện với nhóm người hay với cá nhân

- Tinh thần tự lực là cốt lõi của đời sông dân chủ

- Khuyến nông làm việc với dân chúng ở bất cứ nơi đâu họ có mặt, xây dựng trên những gì mà họ có thêm những gì mà họ biết[5],[7],[22]

2.1.4.3 Mục tiêu của khuyến nông

Mục tiêu của khuyến nông có thể nghĩ như là “hướng hoạt động”, là những kết quả cuối cùng mà nỗ lực của chúng ta tiến tới Một nhà giáo dục đ2 nói: mục tiêu là “sản phẩm cuối cùng mong đạt được, đ2 được dự kiến trước” Thực tế người nông dân sống trong cộng đồng của họ hiện nay có ba vấn

Trang 24

đề bức xúc cần được giải quyết: xoá đói nghèo, hợp tác x2 và việc làm Vậy mục tiêu của công tác khuyến nông là phát triển nông nghiệp và nông thôn mà chủ thể là người nông dân mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước[5],[7],[22]

2.1.4.4 Nội dung công tác khuyến nông

- Phổ biến những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến về trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản và những kinh nghiệm điển hình sản xuất giỏi, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

- Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, thông tin về thị trường giá cả nông sản để nông dân

bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao

- Dịch vụ giống, vật tư kỹ thuật để xây dựng mô hình

2.1.4.5 Vai trò của công tác khuyến nông

- Khuyến nông là cầu nối giữa nông dân với Nhà nước, nghiên cứu, môi trường, nông dân giỏi, các doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể, các ngành có liên quan và với quốc tế

- Khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, trong nông nghiệp lấy hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ Khuyến nông có nhiệm vụ hướng

Trang 25

dẫn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng nông thôn mới cho các hộ nông dân

- Khuyến nông góp phần giúp cho hộ nông dân xoá đói giảm nghèo tiến lên khá và giầu

- Khuyến nông huy động các lực lượng cán bộ KHKT từ trung ương dến cơ sở tham gia vào các hoạt động đóng góp trí tuệ, công sức vào việc thực hiện các chương trình dự án khuyến nông và khuyến nông, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và xây dựng kinh tế nông thôn

- Khuyến nông góp phần và thúc đẩy sự liên kết giữa nông dân với nông dân, hợp tác các nông dân lại với nhau trong sản xuất và dời sống hàng ngày của họ [5],[7],[22]

2.1.4.6 Phương pháp khuyến nông

Hiện nay theo FAO) có 8 phương pháp khuyến nông cơ bản sau:

Phương pháp khuyến nông chung: Tập trung nhiều cán bộ khuyến nông và chi ngân sách khá lớn để thực hiện các chương trình dự án khuyến nông Phương pháp này do Trung tâm khuyến nông tỉnh điều hành, quản lý [39] Phương pháp khuyến nông chuyên ngành: Phương pháp khuyến nông được các cơ quan chuyên ngành xây dựng, nó mang tính chuyên môn cao được áp dụng ở các vùng chuyên canh Ưu điểm của phương pháp này sát với thực tế

do đó kỹ thuật phù hợp với yêu cầu sản xuất, kết hợp được công việc cung cấp

đầu vào - đầu ra Việc giám sát được tiến hành chặt chẽ, số lượng cán bộ phụ trách cần ít hơn Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là quyền lợi của người nông dân chưa được chú trọng [39]

Phương pháp khuyến nông đào tạo và tham quan: Phương pháp khuyến nông cho nông dân tham quan mô hình trình diễn đ2 thực hiện thành công sau

đó tập huấn cho nông dân thực hành theo mô hình Theo phương pháp này các cán bộ khuyến nông được đào tạo lại thường xuyên do đó họ nắm bắt được

Trang 26

tốt hơn về kỹ thuật, kinh nghiệm truyền đạt đến các hộ nông dân được nâng cao, các cán bộ khuyến nông cơ sở được giám sát chặt chẽ hơn về mặt kỹ thuật Các điều kiện để phục vụ cho xây dựng mô hình tham quan và việc huấn luyện được áp dụng đầy đủ [39]

Đây là phương pháp phổ biến hiện nay do tính thuyết phục cao

Phương pháp khuyến nông có sự tham gia của người nông dân (PRA) Phương pháp này được đánh giá cao trong việc đảm bảo tính khả thi của mô hình Phương pháp này có sự tham gia của nông dân dựa trên cơ sở tích hợp kiến thức và kinh nghiệm của nông dân sản xuất giỏi với những tiến bộ kỹ thuật do cán bộ nghiên cứu và cán bộ khuyến nông mang lại cùng với việc trợ giúp về vật tư và vốn Nhằm giải quyết khó khăn, bức xúc do nông dân đạt ra

Ưu điểm của phương pháp này là khi nông dân tham gia trực tiếp, họ tham gia

đóng góp ý kiến đề xuất giải pháp và động viên những nông dân khác tham gia tích cực, đồng thời phương pháp này có những chương trình phù hợp với quyền lợi của nông dân

Nhược điểm của phương pháp này là mang tính tự phát, khó tập trung vào một cơ quan chuyên trách, khó kiểm tra quá trình hoạt động và đôi khi thiếu cơ sở khoa học [39]

Phương pháp khuyến nông lập dự án: Là phương pháp khuyến nông mà nguồn tài trợ kinh phí do tổ chức cá nhân, nước ngoài tài trợ sau khi có sự thoả thuận thống nhất về chương trình và nội dung với Chính phủ Việc tuyển chọn cán bộ, địa điểm, kế hoạch do người cấp kinh phí thực hiện

Phương pháp này có ưu điểm lớn là nguồn kinh phí tương đối lớn, lại tập trung vào quy mô hẹp, thời gian ngắn, nên dễ phát huy hiệu quả Nhược điểm:

dễ xảy ra hiện tượng l2ng phí và thất thoát Khi mở rộng phạm vi áp dụng thường khó khăn vì vùng muốn mở rộng lại không có điều kiện như vùng dự

án [39]

Trang 27

Phương pháp khuyến nông phát triển hệ thống nông nghiệp

Là phương pháp khuyến nông đưa đến cho người nông dân nghèo cái mà

họ cần đó là các kỹ thuật phù hợp, dựa trên cơ sở là hệ thống sinh thái nhân văn

Mục tiêu của phương pháp này là cung cấp trang bị cho cán bộ khuyến nông bằng cách họ chuyển đến cho nông dân những kết quả nghiên cứu, đáp ứng được nhu cầu quyền lợi của đa số nông dân trong điều kiện canh tác sản xuất của từng địa phương Ưu điểm: kết quả đ2 được nghiên cứu nên phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Nhược điểm: đòi hỏi lượng cán bộ nghiên cứu lớn, tốn thời gian và kinh phí [39]

Phương pháp khuyến nông cùng chịu phí tổn

Theo phương pháp này tất cả các bên tham gia và bên hưởng lợi của dự án

đều có trách nhiệm đóng góp một phần phí tổn theo kiểu Nhà nước và nhân dân cùng làm Những vùng nông dân quá nghèo, tổ chức khuyến nông nhà nước cử cán bộ xuống địa phương giúp nông dân học tập những điều kiện cần thiết để họ đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả Chính vì vậy

mà nông dân sẵn sàng chịu một phần phí tổn khi họ thấy chương trình thiết thực với cuộc sống của họ

Ưu điểm của phương pháp này là nông dân cùng tham gia đóng góp kinh phí nên họ chịu trách nhiệm với chương trình, đồng thời phù hợp với quyền lợi của nông dân Nhược điểm: khó giám sát quản lý cán bộ, quản lý tài chính [39]

Phương pháp khuyến nông tổ chức giáo dục đào tạo Đây là phương pháp khuyến nông có sự tham gia của các cán bộ giảng dạy của các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

đến các hộ nông dân

Trang 28

Ưu điểm: Tạo cho cán bộ giảng dạy có điều kiện gắn lý thuyết với thực tiễn, là điều kiện đưa các kết quả vào thực tiễn sản xuất Tuy nhiên nhược

điểm là: nếu cán bộ giảng dạy ít kinh nghiệm hoặc ngại khó sẽ làm mất lòng tin ở nông dân

Trên đây là những phương pháp khuyến nông được tổ chức nông lương thế giới đúc kết, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng trong các phương này hỗ trợ tốt cho nhau và đều là phương pháp giáo dục không chính quy Do vậy trong cán bộ khuyến nông phải vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp để hạn chế những nhược điểm của những phương pháp riêng, có như vậy kết quả đạt được mới cao [39]

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp trước đây

Để khuyến khích phát triển nông nghiệp nói chung, không ngừng đẩy mạnh công tác khuyến nông nói riêng và nhằm từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, từ sau ngày hoà bình lập lại Đảng và Nhà nước ta luôn

đổi mới các chính sách NN & PTNT nói chung và chính sách KN & KL nói riêng

- Sau cách mạng tháng 8/1945 chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đ2 ra sắc lệnh giảm tô, tịch thu và chia cấp ruộng đất của thực dân Pháp, việt gian phản động, ruộng đất vắng chủ, công đoàn công thổ… cho nông dân

- Sau hoà bình lập lại, nhằm khôi phục kinh tế, tháng 3/1955 Chính phủ ban hành chính sách thuế sửa đổi: giảm bậc thang hạng đất, giới hạn mức thuế tối đa, miễn thuế cho hộ nông dân nghèo

- Ngày 14/7/1956, Hội đồng chính phủ ban hành quy tắc tổ chức HTX tín dụng nông thôn có nhiệm vụ: giúp vốn cho nông dân, nhất là hộ nông dân nghèo, hạn chế và xoá bỏ dần nạn cho vay nặng l2i, góp phần điều hoà vốn và

Trang 29

tham gia quản lý thị trường

- Tháng 2/1963, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 20 về cuộc vận động

“cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc”

- Tháng 9/1979, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa IV đánh dấu bước

mở đầu quan trọng của đổi mới chính sách nông nghiệp, thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

- Tháng 10/1980, Ban Bí thư đưa ra thông báo số 22 cho phép thực hiện khoán sản phẩm đối với cây lúa

- Tháng 12/1980, Hội nghị Trung ương lần thứ 9 khoá IV đ2 khẳng định

“mở rộng thực hiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp”

- Tháng 1/1981, Ban Bí thư ra chỉ thị 100, mở rộng khoán đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp Cùng với chỉ thị 100 Ban Bí thư còn ban hành một loạt các chỉ thị: chỉ thị 19 về cải tạo nông nghiệp Nam bộ, chỉ thị 29 về giao đất giao rừng, chỉ thị 56 về quan hệ sản xuất ở miền núi, chỉ thị

35 về phát triển kinh tế gia đình, chỉ thị 50 về kiện toàn các cơ sở quốc doanh nông nghiệp, chỉ thị 65 về quan hệ sản xuất nghề cá, chỉ thị 67 về hoàn thiện cơ chế khoán trong nông nghiệp

- Tháng 4/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 “Đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp”

- Tháng 3/1989 Nghị quyết Trung ương 6: Hộ nông dân là đơn vị kinh tế

tự chủ nhận khoán và sử dụng ruộng đất lâu dài, chỉ có một nghĩa vụ đối với Nhà nước là nộp thuế

- Tháng 7/1992 Bộ nông nghiệp thành lập Ban điều phối về công tác khuyến nông

- Ngày 2/3/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/CP “Quy định về

Trang 30

công tác khuyến nông”

- Ngày 2/8/1993 có Thông tư liên bộ số 02/LB/TT: hướng dẫn thi hành Nghị định số 13/CP

- Nghị định 13/CP và Thông tư 02 đ2 quy định về hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ và tài chính của công tác KN & KL

- Ngày 10/6/1993 Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII nhấn mạnh “Đẩy mạnh công tác khuyến nông (bao gồm cả công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư) Tổ chức khuyến nông thành một hệ thống mạnh và đa dạng từ Trung ương đến cơ sở”

- Tháng 7/1993 Quốc hội nước cộng hoà x2 hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và công bố luật đất đai sửa đổi

- Ngày 16/3/1995 Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 164/TTg về việc phê duyệt chương trình khuyến lâm từ năm 1995 – 2000

- Ngày 14/3/1996 Quyết định số 293/NNKNNL/QĐ của Bộ NN & PTNT

về việc ban hành “Định mức vật tư kỹ thuật chủ yếu trong chương trình khuyến lâm”

- Ngày 2/10/1996 Quyết định số 1696/NN-TC/QĐ của Bộ trưởng Bộ NN

& PTNT về nhiệm vụ quyền hạn cụ thể và tổ chức bộ máy của Cục KN&KL

- Ngày 10/11/1998 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 6 khoá VIII về một số vấn

đề phát triển nông nghiệp và nông thôn Nội dung chủ yếu của nghị quyết là

đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông thôn; chính sách về các thành phần kinh tế; chính sách về khoa học và công nghệ; chính sách về đầu tư, tín dụng và thị trường và một số chính sách x2 hội

- Tháng 4 năm 2002 Bộ NN & PTNT ra quyết định thành lập Trung tâm khuyến nông Trung ương trực thuộc Cục khuyến nông và khuyến lâm chuyên làm nhiệm vụ khuyến nông Trước tình hình mới và nhu cầu của sản xuất ngày

Trang 31

18 tháng 7 năm 2003 chính phủ ban hành Nghị định số 86 /CP cho phép tách Cục Khuyến nông và khuyến lâm thành hai đơn vị trực thuộc Bộ NN & PTNT

đó là Trung tâm khuyến nông quốc gia, chuyên làm nhiệm vụ sự nghiệp khuyến nông và Cục Nông nghiệp chuyên làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về trồng trọt và chăn nuôi

Như vậy chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông lâm nghiệp nói chung, công tác KN&KL nói riêng, tuỳ từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tuỳ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất mà đ2 ban hành những chủ trương và chính sách Nếu các chính sách phù hợp sẽ có tác dụng kích thích sản xuất phát triển và ngược lại sẽ kìm h2m sự phát triển của sản xuất Trước

sự chuyển đổi nền kinh tế của đất nước từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường những chủ trương đó về cơ bản đ2 đưa nền nông nghiệp từ tự cung,

tự cấp nhanh chóng có được sản phẩm hàng hoá (xuất khẩu gạo, cà phê, chè, các sản phẩm ngành chăn nuôi…) [2],[8]

2.2.2 Công tác khuyến nông ở một số nước trên thế giới và trong nước 2.2.2.1 Sự hình thành công tác khuyến nông ở một số nước trên thế giới

- Khuyến nông bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng (thế kỷ 14), khi mà khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất Khởi đầu là thầy thuốc và nhà giáo người Pháp Rabelais, ông sinh năm 1493 mất năm 1553 Ông chủ trương nguyên tắc gắn liền nhà trường với thực tiễn, muốn ăn hoa quả gì thì tự

đi ra đồng thu lượm về Ông chỉ dạy bảo cặn kẽ cách nhận biết từng loại rau quả đó …

- Năm 1661 giáo sư người Anh là Hartlib đ2 viết cuốn sách về “sự tiến bộ của nghề nông” Sau đó các chương trình giảng dạy trong các trường nông nghiệp đ2 được đổi mới mang tính chất thực nghiệm và ứng dụng rõ rệt

- Năm 1723 các tổ chức hiệp hội “tăng cường hiểu biết về nông nghiệp”

đầu tiên được thành lập, ở Pháp năm 1761, ở Đức năm 1764, ở Nga năm

Trang 32

1765 … Những hiệp hội này đ2 đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển khuyến nông sau này

- Năm 1977 giáo sư người Thuỵ Sĩ Heinrich Pastaiozzi thấy rằng muốn mở mang nhanh nền nông nghiệp, giúp người dân nghèo cải thiện được cuộc sống

và trở nên giàu có thì phải đào tạo được chính con em họ có học vấn và nắm

được tiến bộ kỹ thuật, biết làm một số công việc thành thạo như quay sợi bông, dệt vải, cày bừa …

- Trường Đại học nông nghiệp được thành lập sớm nhất ở châu Âu là Zarvas năm 1779 và trường Geogicon năm 1797 thuộc Hungari Sau này các trường là những Trường nông nghiệp kiểu mẫu ở Châu Âu

- Năm 1800 đ2 có trên 200 tác giả viết về “kết quả thực hiện nông nghiệp

và phát triển nông nghiệp” Năm 1806 ông Philip Emanel người Thuỵ Sỹ đ2 tự

bỏ tiền ra xây dựng hai Trường nông nghiệp thực hành tại Hofwyl Về sau này các trường ảnh hưởng rất lớn đối với nội dung và phương pháp giáo dục đào tạo cán bộ nông nghiệp ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ

Biểu hiện rõ nét trong hoạt động mang tính chất khuyến nông ở thời kỳ này phải kể đến Uỷ ban nông nghiệp của hội đồng thành phố NewYork (Hoa Kỳ) Năm 1843 Uỷ ban này đ2 đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các trường đại học nông nghiệp và viện nghiên cứu thường xuyên xuống cơ sở hướng dẫn, phổ biến KHKT mới để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ở các vùng nông thôn

- Năm 1853 Edward Hitchcock của trường đại học Amherst là một thành viên của Uỷ ban nông nghiệp bang Massachusetts đ2 đề nghị thành lập “Học viện nông dân” Ông được coi là nhà tiên phong về giáo dục khuyến nông ở

Mỹ, ông có nhiều đóng góp tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp

ở Mỹ

- Năm 1866 ở Anh, danh từ “Extension” có nghĩa là mở rộng, triển khai

Trang 33

được sử dụng đầu tiên cùng với một hệ thống giáo trình giảng dạy về nông nghiệp được các trường đại học Cambridge và Oxford biên soạn theo hướng

“mở rộng”

- Việc chính thức thành lập các hoạt động khuyến nông ở Mỹ là kết hợp, tổng hợp của các dạng triển khai và giáo dục “extension + education” Đến năm 1907 có 42 trường đại học ở 39 bang của Mỹ đ2 tham gia vào các hoạt

động theo dạng “extension” này và có nhiều trường đại học thành lập bộ môn khuyến nông Năm 1914 là thời điểm cố gắng cao nhất theo dạng này, Chính phủ Mỹ đ2 quyết định thông qua đạo luật về khuyến nông (Smith - lever) cho phép sử dụng các nguồn tài trợ liên bang - tiểu bang, của địa phương vào các hoạt động khuyến nông Các nhà khoa học đều ủng hộ đạo luật này Số người

Mỹ theo học khuyến nông và hoạt động khuyến nông đến nay lên tới 3 triệu người

- Những hoạt động khuyến nông ở châu Âu, Uc, Niu Dilân và Canada có khuynh hướng cùng với Mỹ, nhưng tổ chức của họ đ2 phát triển và có phần khác nhau Tổ chức đòi hỏi các dịch vụ khuyến nông bắt nguồn từ những hội nông nghiệp Trong một số trường hợp những hoạt động này đ2 được đặt trong cơ quan của Bộ nông nghiệp

- Khuyến nông ở ấn Độ được hình thành từ năm 1960, được tổ chức và

đào tạo theo 5 cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhờ làm tốt công tác khuyến nông

ấn Độ đ2 có một nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Mở đầu của sự phát triển mạnh là cuộc “cách mạng xanh” sau là “cách mạng trắng” và “cách mạng nâu”

- Khuyến nông ở Thái Lan được hình thành chậm, m2i đến năm 1967 mới

có Tuy chậm nhưng được Chính phủ quan tâm, đầu tư cán bộ và kinh phí hoạt

động, năm 1992 Thái Lan có khoảng 15.196 cán bộ khuyến nông, trong đó 11.933 người là cán bộ biên chế và 3.263 người cán bộ hợp đồng

Trang 34

- Khuyến nông ở Trung Quốc đ2 có từ lâu, nhưng đến năm 1933 ở Trường

đại học nông nghiệp Kim Lăng đ2 có khoa Khuyến nông Đến năm 1970 tại Trung Quốc mới chính thức có tổ chức khuyến nông Tại Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc khoá VIII năm 1991:

“Tăng cường công tác nông nghiệp và nông thôn” có mục tiêu thứ 4 nêu rõ

“phải nắm vững chiến lược khoa học công nghệ và khuyến nông” Cần đưa ngay các sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở Chú trọng đào tạo các nhân viên khuyến nông Kế hoạch 5 lần thứ 7 về phát triển nông nghiệp, Trung Quốc đ2 tập huấn 1,2 triệu lượt người về công tác khuyến nông và bồi dưỡng

được 150 triệu nông dân về kiến thức khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Cả nước Trung Quốc có 10/33 l2nh đạo tỉnh là trưởng ban khuyến nông Đến nay Trung Quốc đ2 đạt được những thành công nhất định trong các công tác khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Trung Quốc rất tự hào là đang dẫn đầu thế giới về 3 lĩnh vực: lúa lai, chẩn đoán thú y và nuôi trồng thuỷ sản

- Khuyến nông ở Indonesia được thành lập từ năm 1955 và được phân thành 4 cấp từ Trung ương, tỉnh, huyện và liên x2

* ở cấp quốc gia do Hội đồng khuyến nông quốc gia điều hành Hội đồng này có nhiệm vụ: vạch ra các chiến lược và chính sách khuyến nông quốc gia,

mở rộng chương trình khuyến nông quốc gia cũng như cải tiến các nguồn lực

và năng lực của nông nghiệp, mở rộng mối quan hệ, nghiên cứu và chỉ đạo …

* ở cấp tỉnh có diễn đàn khuyến nông cấp tỉnh (cấp 1) do giám đốc nông nghiệp làm chủ tịch Diễn đàn khuyến nông cấp 1 có nhiệm vụ trên cơ sở các yêu cầu cụ thể và điều kiện cụ thể của từng tỉnh, cụ thể hoá các chính sách, chương trình khuyến nông quốc gia thành các chính sách và chương trình khuyến nông trên địa bàn tỉnh

* ở cấp huyện có diễn đàn khuyến nông cáp 2, có nhiệm vụ thực hiện các chính sách và chương trình khuyến nông của tỉnh giao, trực tiếp điều hành và

Trang 35

quản lý các hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện

* ở cấp liên x2 có các trung tâm khuyến nông nông thôn, trung tâm thông tin nông nghiệp Mỗi trung tâm có khoảng 10 - 15 cán bộ chỉ đạo sản xuất Mỗi cán bộ phụ trách từ 2 - 3 x2 tuỳ theo diện tích, mật độ dân số và địa hình của từng vùng Các trung tâm là cơ quan chỉ đạo tuyến đầu của khuyến nông,

là cơ quan trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt những thông tin, kỹ năng mới cho nông dân và thu thập thông tin phản hồi từ nông dân

* Khuyến nông ở Nhật Bản được hình thành từ năm 1948 Tổ chức khuyến nông Nhà nước bao gồm các cấp: ở Trung ương có Ban khuyến nông và đào tạo; ở tỉnh có 47 cơ quan khuyến nông/47 tỉnh; ở cấp huyện là trạm khuyến nông [6],[7],[22],[25]

2.2.2.2 Khuyến nông ở Việt Nam

Trong lịch sử phát triển nông nghiệp và nông thôn ở nước ta công tác khuyến nông xuất hiện rất sớm Từ thời kỳ các vua Hùng dựng nước có truyền lại sự tích bánh chưng, bánh dày Đó là các hội thi để các hoàng tử và công chúa có cơ hội trổ tài chế biến các món ăn từ nông sản mặt khác hội thi có dụng ý để khuyến khích phát triển nghề trồng lúa

- Thời nhà Đinh, năm 981 Lê Hoàn đ2 tự mình xuống ruộng cày đường cày đầu tiên cho mỗi vụ sản xuất

- Năm 1226 đến năm 1400 dưới thời Trần đ2 có các chức quan: Hà đê sứ,

Đồn điền sứ và Khuyến nông sứ là chức quan trông coi về nông nghiệp, hướng dẫn chỉ bảo nông dân cày cấy, chăn nuôi gia súc

- Năm 1956 sau khi cải cách ruộng đất đ2 có các tổ chức như tổ đổi công, vần công, các HTX … tại các HTX đ2 lập ra các tổ khoa học - kỹ thuật, thực chất các tổ này làm công tác khuyến nông

- Năm 1960 ở Miền Nam - Việt Nam đ2 thành lập Nha khuyến nông trực

Trang 36

thuộc Bộ Canh nông; mạng lưới chân rết của Nha khuyến nông đến tận các làng x2

- Năm 1963 - 1964, Bộ Nông nghiệp có chủ trương thành lập các đoàn chỉ

đạo sản xuất nông nghiệp bao gồm các cán bộ, giáo viên và sinh viên xuống các cơ sở sản xuất (hợp tác x2 và nông trường quốc doanh) để chỉ đạo sản xuất, chuyển giao tiến bộ KHKT và xây dựng các mô hình về trồng trọt, chăn nuôi …

Về sau này vào cuối những năm 1970, tình trạng quan liêu bao cấp, tệ nạn tham nhũng ngày một tăng làm cho x2 viên HTX, công nhân nông trường chán nản dẫn đến nông nghiệp trì trệ kém phát triển và giảm sút Trước tình hình đó có nhiều cơ sở sản xuất ở nhiều nơi đ2 mạnh dạn đổi mới về tổ chức, hình thức sản xuất … chia đất cho các nông hộ tự sản xuất Với hình thức này

đ2 khuyến khích được nông hộ sản xuất, đ2 phần nào thúc đẩy sản xuất phát triển, năng xuất cây trồng vật nuôi tăng lên rõ rệt Đó chính là tiền đề, cơ sở

để ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 “khoán sản phẩm cuối cùng

đến nhóm và người lao động”, thời điểm này vào năm 1981, các HTX chỉ lo các khâu như cày bừa, thuỷ lợi, giống, phân bón, các khâu còn lại khoán cho người nông dân

- Ngày 5/4/1988 Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị: “Đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp”.Trước tình hình đổi mới về tổ chức sản xuất, đổi mới về quản lý kinh tế trong nông nghiệp, các viện nghiên cứu, các trường đ2 mạnh dạn cải tổ về tổ chức nông nghiệp, thành lập cơ quan khuyến nông và cơ quan này hoạt động có hiệu quả rõ rệt, được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ

- Năm 1988 Trung tâm khuyến nông tỉnh An Giang được thành lập

- Năm 1991 Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Thái dược thành lập

- Trong thời kỳ này trường đại học Cần Thơ, viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện quy hoạch và thiết kế thành lập Trung tâm khuyến nông tự nguyện

- Tháng 7/1992, trước yêu cầu thực tiễn của sản xuất nông nghiệp, trong khi

Trang 37

chờ đợi chủ trương của Chính phủ, Bộ nông nghiệp đ2 thành lập “Ban điều phối khuyến nông” gồm có 1 l2nh đạo bộ làm trưởng ban, 1 l2nh đạo cấp vụ làm phó ban, các uỷ viên là các vụ trưởng, viện trưởng các ngành có liên quan

- Ngày 2/3/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/CP “Quy định về công tác khuyến nông” và có Thông tư liên bộ số 02/LB/TT ngày 2/8/1993 hướng dẫn thực hiện nghị định 13/CP Từ đó hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam ra đời đứng thứ 200, trong số các nước có tổ chức khuyến nông quốc gia

Các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, tổ chức khuyến nông được hình thành từ 4 tổ chức sau: các hiệp hội nông dân, các tổ chức khác ở nông thôn, các trường học và các tổ chức nông nghiệp của chính quyền Quá trình phát triển của tổ chức khuyến nông trên thế giới bắt đầu từ năm 1700 có 1 nước, năm 1880 có 8 nước, năm 1910 có 14 nước, năm 1990

có 199 nước và đến năm 1993 có thêm Việt Nam Tổng số cán bộ khuyến nông trong biên chế Nhà nước ước khoảng 600.000 người/200 nước; trong số này ở châu á chiếm khoảng 70% Theo tiến sĩ Tyzama người Nhật Bản - chuyên gia khuyến nông của FAO cho biết: cán bộ khuyến nông thực hành chiếm 7,8%, cán bộ khuyến nông chuyên đề chiếm 14,1% và cán bộ khuyến nông cơ sở chiếm 78,1% [7],[ 20],[ 22], [25],[38]

Bảng 2.1 Quy mô diện tích đất nông nghiệp và số nông dân/1 cán bộ

khuyến nông cơ sở

(ha/1 cán bộ)

Nông dân (người/1 cán bộ)

Trang 38

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung

km bờ biển) Thành phố có 5 quận, 1 thị x2, 6 huyện đất liền, và 2 huyện đảo,

là một trong 7 tỉnh thuộc địa bàn trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương – Thái Bình - Hà Nam – Quảng Ninh – Hải Phòng

Với hệ thống giao thông đường bộ, đường sông, đường không, đường sắt

và có cảng biển đ2 tạo cho Hải Phòng vị thế là cửa ngõ thông ra khu vực và thế giới Đây là lợi thế rất lớn của Hải Phòng trong việc phát triển các mặt hàng nông sản phục vụ cho xuất khẩu

3.1.1.2 Khí hậu và thời tiết

Hải Phòng có khí hậu miền ven biển, một năm hai mùa rõ rệt: mùa khô (mùa lạnh) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và mùa mưa (mùa nóng) từ tháng

4 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai hướng gió, gió mùa Đông Bắc vào mùa khô và gió mùa đông Nam vào mùa mưa Hàng năm có từ 2 đến

9 cơn b2o có sức gió cấp 9- 11 và cấp 12 kèm theo mưa to có sức tàn phá lớn mùa màng cây cối Nhiệt độ không khí trung bình 230 C (cao nhất 380 C vào mùa nóng, thấp nhất là 80 C vào mùa lạnh) Vụ đông xuân, nhiệt độ trung bình

từ 160 C - 190 C (tối thấp 50 C) có thể trồng một số cây rau có nguồn gốc ôn

đới cho năng suất và chất lượng cao

Lượng mưa trung bình hàng năm 1700 mm (cao nhất 2800 mm, thấp nhất

Trang 39

806 mm), mưa nhiều vào các tháng 7, 8, 9 và mưa ít vào các tháng 12,1

Số giờ nắng trung bình / năm là 1659 giờ, độ ẩm trung bình là 86% Nhìn chung khí hậu thời tiết thuận lợi cho các loại cây trồng nhiệt đới như lúa, rau quả và chăn nuôi Điều hạn chế là lượng mưa và nhiệt độ không khí không phân bổ đều trong năm, mưa b2o gây ảnh hưởng đến cây trồng và làm cho dịch bệnh của gia súc phát triển

3.1.1.3 Thuỷ văn và nguồn nước ngọt

Với 16 con sông, trong đó có năm con sông lớn chảy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đổ ra biển và 54 hồ đập (có 3 hồ lớn) Hệ thống sông đ2 cung cấp nước ngọt, phù sa cho đồng ruộng, tiêu úng mùa nước lũ Tuy nhiên nước ngọt cung cấp cho nông nghiệp còn hạn chế do nhu cầu nước ngọt cho sinh hoạt và cho sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng, nhất là vào vụ

đông xuân ở các huyện Thuỷ Nguyên, Tiên L2ng và một phần các huyện An Dương và Kiến Thuỵ

Là một tỉnh ven biển, nguồn nước hạ lưu sông thường nhiễm mặn gây ảnh hưởng không ít cho sản xuất trong việc chống nhiễm mặn, cải tạo đồng ruộng

do nguồn nước thượng lưu xuống ít

3.1.1.4 Đất đai

Hải Phòng có diện tích đất tự nhiên là 1509,06 km2, riêng khu vực ngoại thành là 1409,6 km2 Đất nông nghiệp có 69398 ha chiếm 46,08% diện tích đất tự nhiên Trong đó đất canh tác hàng năm là 54430 ha, đất trồng cây lâu năm là 433 ha (xem bảng 3.1)

Đặc biệt diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản có 67.9% bằng 13199

ha dùng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, đây là một lợi thế của Hải Phòng so với các tỉnh trong nước để phát triển thuỷ sản Bình quân diện tích đất canh tác / lao động nông nghiệp của Hải Phòng 105,4 m2/ lao động năm 2002 Diện tích này càng giảm vào các năm sau: năm 2004 còn 97m2 do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá

Trang 40

Diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 15965 ha trong đó có 1200 ha chiếm 75,2% là diện tích rừng quốc gia Cát Bà do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý, năm 2005 đ2 giao cho Sở NN&PTNT quản lý Đất

đai Hải Phòng chủ yếu là chua phèn và mặn phèn Sau nhiều năm sử dụng và cải tạo đến nay vẫn còn trên 30% đất chua phèn đòi hỏi chi phí cao về phân bón, thuỷ lợi để tiếp tục cải tạo đất Và độ cao của đất từ 0.7 m đến 1.7 m so với mặt biển nên việc san ủi, cải tạo mặt bằng, làm thuỷ lợi đưa nước vào ruộng đòi hỏi chi phí cao

Bảng 3.1: Tình hình đất đai của Hải Phòng năm 2002-2004

Diễn giải ĐVT 2002 2003 2004

Phát triển bình quân (%) I.Tổng diện tích đất tự nhiên: km 2 1509.7 1509,7 1509,7 100,0 + Diện tích đất thành thị km 2 100.9 105,8 108,9 103,8 + Diện tích đất nông thôn km 2 1409.6 1303,8 1300,8 96,0

1 Diện tích đất nông nghiệp ha 69398 67214 65318 96,5 + Đất canh tác ha 54430 52246 50350 96,1 + Đất trồng cây lâu năm ha 380 380 380 100,0 + Đất đồng cỏ ha 330 330 330 100,0 + Diện tích mặt nước ha 13199 13199 13199 100,0

- Nước lợ ha 8958 8958 8958 100,0

- Nước ngọt ha 4241 4241 4241 100,0 + Đát khác ha 1059 1059 1059 100,0 2.2 Diện tích đất lâm nghiệp có rừng ha 15965 15965 15965 100,0 + Rừng quốc gia Cát Bà ha 12000 12000 12000 100,0 3.3 Diện tích đất chuyên dùng, đất ở ha 24947 28131 30027 109,7

4 Diện tích đất khác 40659 39416 38182 96,8

II Một số chỉ tiêu

+ Đất NN/khẩu NN m 2 /khẩu 628,1 600,7 604,8 98,1 + Đất NN/hộ NN m 2 /hộ 1871,0 1784,0 1727,0 96,0 + Đất NN/LĐNN m 2 /LĐ 1344,0 1297,8 1259,2 96,8 Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng

Ngày đăng: 08/08/2013, 21:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung á, Nguyễn Đình Tuấn (1997), Nghiên cứu x3 hội học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2. Ban biên tập lịch sử Nông nghiệp Việt Nam (1994), Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
3. Bộ Giáo dục & Đào tạo (1997), Kinh tế học vi mô, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1997), Kinh tế học vĩ mô, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Bộ Nông nghiệp và PTNT (1993), Cẩm nang công tác khuyến nông, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT (1998), Nông nghiệp Việt Nam những thành tựu, NXB Lao động, Hà Nội Khác
7. Bộ Nông nghiệp và PTNT (1999), Tài liệu tập huấn khuyến nông, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
8. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000), Một số chủ tr−ơng chính sách mới về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
9. Các Mác, (1962), T− bản, Q3, T3, NXB Sự thật, Hà Nội Khác
10. Các quy định pháp luật về đất đai (1997), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
11. Luật HTX (1996), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Cục Thống kê thành phố Hải Phòng (2000), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
13. Cục Thống kê thành phố Hải Phòng (2001), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, NXB Thống kê, Hà nội Khác
14. Cục Thống kê thành phố Hải Phòng (2002), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
15. Cục Thống kê thành phố Hải Phòng (2003), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
16. Cục Thống kê thành phố Hải Phòng (2004), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
18. David Colman và Trevo Yuong( 1994), Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, Tài liệu dịch, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
19. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Phân tích kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
20. Phạm Vân Đình (1955), Một số suy nghĩ b−ớc đầu về khuyến nông ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu và trao đổi khoa học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
22. Hội thảo quốc gia về khuyến nông và khuyến lâm (1998), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Quy mô diện tích đất nông nghiệp và số nông dân/1 cán bộ  khuyến nông cơ sở - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 2.1. Quy mô diện tích đất nông nghiệp và số nông dân/1 cán bộ khuyến nông cơ sở (Trang 37)
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của Hải Phòng năm 2002-2004 - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của Hải Phòng năm 2002-2004 (Trang 40)
Bảng 3.2: Đặc điểm dân số lao động của Hải Phòng 3 năm 2002 - 2004 - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 3.2 Đặc điểm dân số lao động của Hải Phòng 3 năm 2002 - 2004 (Trang 41)
Bảng 3.3: Cơ sở hạ tầng nông thôn Hải Phòng năm 2004 - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 3.3 Cơ sở hạ tầng nông thôn Hải Phòng năm 2004 (Trang 44)
Sơ đồ 4.1. Hệ thống tổ chức khuyến nông thành phố Hải Phòng  2.  Huyện:  toàn  thành  phố  thành  lập  6  Trạm  khuyến  nông  trực  thuộc  Trung tâm ở các huyện có diện tích đất nông nghiệp và lao động nông nghiệp - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Sơ đồ 4.1. Hệ thống tổ chức khuyến nông thành phố Hải Phòng 2. Huyện: toàn thành phố thành lập 6 Trạm khuyến nông trực thuộc Trung tâm ở các huyện có diện tích đất nông nghiệp và lao động nông nghiệp (Trang 52)
Bảng 4.8: Kết quả xây dựng các câu lạc bộ khuyến nông ở Hải Phòng - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.8 Kết quả xây dựng các câu lạc bộ khuyến nông ở Hải Phòng (Trang 73)
Bảng 4.11: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tr−ớc và sau khi thành lập   TTKN Hải Phòng - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.11 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tr−ớc và sau khi thành lập TTKN Hải Phòng (Trang 82)
Bảng 4.12: Kết quả sản xuất nông nghiệp (1991-1993) – (2002-2004)  Diễn giải  §VT  BQ 91-93  BQ 02-04  So sánh - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.12 Kết quả sản xuất nông nghiệp (1991-1993) – (2002-2004) Diễn giải §VT BQ 91-93 BQ 02-04 So sánh (Trang 83)
Bảng 4.14: Giá trị sản l−ợng nông nghiệp từng huyện năm 2002-2004 - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.14 Giá trị sản l−ợng nông nghiệp từng huyện năm 2002-2004 (Trang 87)
Bảng 4.16: Kết quả mô hình thâm canh lúa chất l−ợng cao giống HYT 83  STT  Chỉ tiêu  §VT  Tổng số  N¨m - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.16 Kết quả mô hình thâm canh lúa chất l−ợng cao giống HYT 83 STT Chỉ tiêu §VT Tổng số N¨m (Trang 95)
Bảng 4.17: Kết quả mô hình d−a hấu đặc sản giống Hắc Mỹ Nhân - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.17 Kết quả mô hình d−a hấu đặc sản giống Hắc Mỹ Nhân (Trang 96)
Bảng 4.18: Kết quả mô hình sản xuất giống lúa lai F1  N¨m - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.18 Kết quả mô hình sản xuất giống lúa lai F1 N¨m (Trang 96)
Bảng 4.19: Kết quả mô hình nuôi lợn Móng Cái thuần chủng  N¨m - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.19 Kết quả mô hình nuôi lợn Móng Cái thuần chủng N¨m (Trang 97)
Bảng 4.20: Kết quả mô hình nuôi lợn có tỉ lệ nạc cao - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.20 Kết quả mô hình nuôi lợn có tỉ lệ nạc cao (Trang 98)
Bảng 4.21: Kết quả mở rộng các mô hình trình diễn của TTKNHP   4 n¨m (2001-2004) - [Luận văn]thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả công tác khuyến nông của trung tâm khuyến nông thành phố hải phòng
Bảng 4.21 Kết quả mở rộng các mô hình trình diễn của TTKNHP 4 n¨m (2001-2004) (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w