1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ

112 437 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi Ro Và Quản Lý Rủi Ro Trong Các Doanh Nghiệp Nhà Nước Tại Tỉnh Phú Thọ
Tác giả Lê Thị Hải Lý
Người hướng dẫn GS.TS. Phạm Thị Mỹ Dung
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Thị Hải Lý

i

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế

và Phát triển nông thôn, Khoa Sau đại học, Bộ môn Kế toán trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND Tỉnh Phú Thọ, Sở Tài Chính vật giá,

Sở kế hoạch đầu tư, Ban lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh Phú thọ đã cung cấp tư liệu, tạo mọi điều kiện giúp

đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục- Đào tạo Phú Thọ, Trường trung học kinh tế và Kỹ nghệ thực hành Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ kinh phí cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên khích

lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến GS.TS Pham thị Mỹ Dung

đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Tác giả luận văn

Lê Thị Hải Lý

ii

Trang 4

2.2 Quản lý rủi ro 172.3 Biện pháp quản lý rủi ro đã và đang được áp dụng trên thế giới và việt

nam 282.4 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 34

3 Một số đặc điểm doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh phú thọ

và phương pháp nghiên cứu 35

3.1 Tình hình doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh phú thọ năm 2004 353.2 Phương pháp nghiên cứu 40

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 42

4.1 Năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 424.1.1 Đất đai 424.1.2 Tình hình lao động và tiền lương của các doanh nghiệp điều tra 444.1.3 Tài sản cố định của các doanh nghiệp điều tra 464.1.4 Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp điều tra 474.2 Thực trạng rủi ro trong các doanh nghiệp 49

iii

Trang 5

4.2.1 Các loại rủi ro chủ yếu thường xuất hiện 494.2.2 Mức độ ảnh hưởng của rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp 514.2.3 Các yếu tố hình thành rủi ro và cách ứng xử rủi ro của các doanh

nghiệp tại tỉnh Phú Thọ 704.3 Những biện pháp quản lý rủi ro của doanh nghiệp 764.3.1 Mua bảo hiểm 764.3.2 Tự bảo hiểm 814.3.3 Sự hỗ trợ của chính quyền trong quản lý rủi ro 874.4 Đề xuất một số giải pháp giúp doanh nghiệp giảm rủi ro 874.4.1 Định hướng 874.4.2 Đề xuất một số giải pháp giúp doanh nghiệp giảm rủi ro 88

5 Kết luận 92 Tài liệu tham khảo 94

iv

Trang 6

Danh mục các biểu

Biểu 4.1 Tình hình đất đai của các doanh nghiệp điều tra 42Biểu 4.2 Tình hình lao động và tiền lương của các hộ điều tra 45Biểu 4.3 Tài sản cố định của các doanh nghiệp điều tra 46Biểu 4.4 Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp điều tra 47Biểu 4.5 Mức độ xuất hiện từng loại rủi ro của các doanh nghiệp điều tra

Năm 2004 54Biểu 4.6 Đo lường rủi ro 55Biểu 4.7 Thiệt hại về vật chất do các loại rủi ro gây ra đối với các doanh

nghiệp điều tra năm 2004 57Biểu 4.8 Mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến doanh thu của các doanh nghiệp

điều tra 59Biểu 4.9 Phân tích tình hình tăng (giảm) tài sản qua 2 năm 61Biểu 4.10 Phân tích tình hình tăng (giảm) nợ phải thu qua 2 năm 62Biểu 4.11 Dự kiến lãi vay vốn phải trả năm 2005 63Biểu 4.12 Phân tích tình hình tăng (giảm) nguồn vốn qua 2 năm 64Biểu 4.13 Phân tích tình hình tăng (giảm) nợ phải trả qua 2 năm 65Biểu 4.14 Dự kiến mất vốn của các doanh nghiệp 65Biểu 4.15 Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp điều tra 67Biểu 4.16 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp điều tra 69Biểu 4.17 Phân tích tình hình vay vốn của các doanh nghiệp 74Biểu 4.18 Kết quả kinh doanh qua 2 năm 75Biểu 4.19a Bảo hiểm tài sản 78Biểu 4.19b Bảo hiểm hàng hoá 79Biểu 4.19c Bảo hiểm cháy 80Biểu 4.20 tình hình lập dự phòng giảm giá tài sản 83Biểu 4.21 Tình hình tăng (giảm) quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự phòng tài chính85Biểu 4.22 Tình hình trích lập và sử dụng quỹ dự phòng tài chính 86

v

Trang 7

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu đất đai của các doanh nghiệp điều tra phân theo

ngành kinh tế 43Biểu đồ 4.2 Diện tích đất bình quân 1 doanh nghiệp phân theo ngành

kinh tế 43Biểu đồ 4.3 Vốn bình quân 1 doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế 48

vi

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước có rất nhiều loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ra đời hoạt động trên mọi lĩnh vực kinh tế khác nhau Vì thế mỗi loại hình doanh nghiệp có một phương thức sản xuất kinh doanh riêng với mục đích kiếm lời

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vấn đề làm cho các nhà doanh nghiệp quan tâm và trăn trở là làm thế nào để thắng thế trong cạnh tranh và hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất với số vốn bỏ ra ít nhất Thực tế không ít các chủ doanh nghiệp đã tìm mọi phương sách để tạo cho mình một lợi thế tối ưu, song không phải ai cũng làm được điều đó mà chỉ có những người nắm bắt được quy luật kinh doanh, am hiểu tường tận phương thức quản lý và có quyết định đúng trong sản xuất kinh doanh mới có thể dành

được thắng lợi

Mỗi doanh nghiệp đều mong muốn tạo cho mình những cơ hội thuận lợi nhất trong kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa theo chiến lược phát triển của doanh nghiệp Tìm kiếm lợi nhuận tối đa trong kinh doanh là mục tiêu chung của các doanh nghiệp, đó là sự kết hợp hài hoà các yếu tố sản xuất kinh doanh trong quan hệ với thị trường và môi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chúng luôn bị ảnh hưởng của những vấn đề mà người quản lý không thể biết trước được Trong thực tế không ai lường trước được biến động

về giá cả, thời tiết, chi phí ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Mặt khác, các chính sách kinh tế (thuế, tín dụng, xuất nhập khẩu ) cũng luôn làm thay

đổi cơ cấu kinh doanh và cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra các tai hoạ hay rủi ro bất thường có thể làm thay đổi chiến lược kinh doanh của

1

Trang 9

doanh nghiệp Trước những rủi ro như vậy thì các doanh nghiệp kinh doanh phải làm gì và phải giải quyết như thế nào khi đối mặt với rủi ro Đây chính là vấn đề mà hiện nay các doanh nghiệp đều quan tâm, đặc biệt rủi ro đặt ra cho người quản lý một nhiệm vụ hết sức nặng nề và phức tạp Các quyết định có thể

đem đến cho doanh nghiệp kết quả tốt nhưng cũng có thể dẫn đến hậu quả đưa doanh nghiệp đến chỗ phá sản, bởi vì trong mỗi quyết định đó lại tiềm ẩn những rủi ro Để thành công thì doanh nghiệp không phải chỉ tìm cách lẩn tránh những rủi ro mà phải mạnh dạn đối mặt với rủi ro và kiểm soát được chúng

Được sự nhất trí của Khoa Sau đại học, Khoa kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng với sự hướng dẫn giúp đỡ của GS.TS Phạm Thị Mỹ

Dung tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Phú Thọ"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế về rủi ro và cách thức quản lý rủi ro trong các doanh ngiệp nhà nước tại tỉnh Phú Thọ để nêu lên những đặc

điểm chung và riêng, từ đó đề ra các giải pháp giúp doanh nghiệp quản lý rủi

ro có hiệu quả

* Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp

- Đánh giá thực trạng một số rủi ro chủ yếu và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm rủi ro cho doanh nghiệp

2

Trang 10

1.3 Đối tượng và phạm vi ngiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận rủi ro và quản lý rủi ro với doanh nghiệp

Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các ngành kinh tế khác nhau

Trang 11

2 Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro

2.1 Rủi ro

2.1.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là một sự kiện không may mắn, hết sức đa dạng, phức tạp luôn

gắn liền với hoạt động của con người Chính vì vậy, mà vấn đề rủi ro ngày càng trở thành vấn đề mà cá nhân, đơn vị kinh doanh phải quan tâm hơn Từ rủi ro trong tài chính thể hiện những điều kiện mà kết quả xảy ra theo những luật phân bố có thể biết trước được Còn trong phân tích kinh tế từ rủi ro được dùng để đề cập đến tình trạng một quyết định có thể có nhiều kết quả với các khả năng khác nhau Nhưng trước tiên cần phân biệt hai thuật ngữ "rủi ro" và

"không chắc chắn"

2.1.1.1 Rủi ro (Risk)

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mặc dù đã luôn chú ý ngăn ngừa

và đề phòng nhưng có thể gặp rất nhiều rủi ro bất ngờ xảy ra Rủi ro có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực Việc ra quyết định trong các hoạt

động kinh tế đều gặp phải rủi ro, bởi vì việc ra quyết định được tiến hành trước khi biết được kết quả của quyết định đó Mức độ rủi ro phụ thuộc vào tác động của các yếu tố và khả năng kiểm soát các yếu tố trong giai đoạn từ quyết định

đến kết quả Trong khi đó, từ quyết định đến kết quả là một quá trình bị tác

động bởi nhiều yếu tố, trong đó rất nhiều yếu tố nằm ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của người ra quyết định nên mức độ rủi ro là rất lớn

Vậy rủi ro là gì? Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi

ro, những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định

4

Trang 12

nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú nhưng

có thể chia ra làm 2 trường phái:

*Theo trường phái truyền thống

Thuộc trường phái này ta có các định nghĩa [dẫn theo 22]:

- Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến [20]

- Rủi ro là sự không may [21]

- Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại [22]

- Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại [22]

- Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn [22]

- Rủi ro là sự tổn thất về tài sản là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến [22]

Tóm lại, theo cách hiểu truyền thống thì "Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người"[20]

Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng

đa dạng, phong phú và phức tạp thì rủi ro ngày càng nhiều, mỗi ngày lại xuất hiện những rủi ro mới, những rủi ro chưa từng có trong quá khứ Con người cũng quan tâm đến việc nghiên cứu rủi ro và quá trình nghiên cứu, nhận thức

về rủi ro cũng thay đổi và trở nên trung hoà hơn

* Theo trường phái trung hoà

Theo trường phái này có các định nghĩa về rủi ro như sau [dẫn theo 22]:

- Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được

- Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi

5

Trang 13

- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất

- Diễn giải một cách đầy đủ hơn về rủi ro trong cuốn “Risk management and insurance” tác giả Arthur William, Micheal, Smith cho rằng rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự

đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước [dẫn theo 22]

Như vậy, theo trường phái này "Rủi ro là tình trạng trong đó xác suất có thể xảy ra các sự kiện làm ảnh hưởng đến kết quả của một quá trình ra quyết định"[dẫn theo 22]

Rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bất kể là do nguyên nhân gì thì khi xảy ra rủi ro đều gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản làm ngừng trệ sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung Hay nói cách khác rủi ro là những

đe doạ nguy hiểm có khả năng gây tổn thất mà con người không lường trước

được Mọi rủi ro là bất ngờ, cho dù mức độ bất ngờ có thể khác nhau Nếu như người ta không nhận dạng, không thể dự đoán được loại rủi ro thì khi rủi ro xảy

ra nó hoàn toàn bất ngờ đối với con người Nếu khoa học nhận dạng, dự báo phát triển giúp cho con người dự đoán chính xác rủi ro xảy ra thì tính bất ngờ của rủi

ro giảm tới mức được coi là sự kiện không chắc chắn Ngày nay khoa học đã giúp cho con người dự báo khá chính xác nhiều loại rủi ro, nhờ đó con người có thể giảm đi tính bất ngờ của rủi ro Rủi ro là những sự cố bất ngờ gây tổn thất Tổn thất có nguyên nhân từ rủi ro tồn tại dưới nhiều hình dạng hữu hình hoặc vô hình,

có thể là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần, sức khoẻ hoặc pháp lý Mọi

tổn thất đều có đặc tính chung là gây thiệt hại, là giảm sút lợi ích của con người

6

Trang 14

2.1.1.3 Phân biệt rủi ro với không chắc chắn

Tình hình thua lỗ tiềm tàng của một cá nhân hay của một doanh nghiệp trong tài sản và đầu tư do hoạt động sản xuất kinh doanh trong một môi trường kinh tế không chắc chắn Một rủi ro có thể bảo hiểm (rủi ro về cháy hay trộm cắp kho hàng) nhưng lại không thể bảo hiểm về khả năng tồn tại và hưng thịnh

có thể có Chính doanh nghiệp phải nhận lấy các rủi ro của thị trường Nếu không bán được sản phẩm làm ra sẽ bị phá sản và nếu thành công thì doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận Như vậy lấy rủi ro như là một phần của quá trình cung cấp hàng hoá và dịch vụ, và trong việc tạo ra các sản phẩm mới Lợi nhuận, là phần thưởng dành cho sự nhận rủi ro được thành công

Khi các nhà quản lý doanh nghiệp không biết chắc chắn điều gì sẽ xảy

ra trong tương lai, bắt buộc họ phải có các dự đoán hoặc phán đoán được hậu quả của mọi quyết định thích hợp nhất định, theo phương pháp xác suất thống

kê một cách hiệu quả, về khả năng của các biến cố xảy ra trong tương lai Mọi

ước tính các biến cố xảy ra trong tương lai phải theo đúng tính chất của chúng một cách khách quan, mặc dù một số ước tính có thể tốt hơn một số khác, tuỳ thuộc vào số lượng thông tin thu nhận được Khi một số lượng lớn thông tin có giá trị để làm cơ sở cho các ước tính, do vậy người ta có thể thiết lập được tính xác suất thống kê chính xác để có thể nói đến sự rủi ro hơn là tính không chắc chắn

7

Trang 15

Sự không chắc chắn khác với rủi ro, phát sinh từ sự thay đổi khó mà tiên

đoán được, hoặc do các biến cố không thể tính được một cách chính xác Có rất nhiều quyết định quản lý lại rơi vào loại này, vì chúng ít được lặp lại và chỉ

có ít dữ liệu trong quá khứ có giá trị để dùng vào các hướng dẫn cho tương lai

Sự không chắc chắn trên thị trường cũng như mức độ thua lỗ có thể phát sinh trong việc đưa ra một sản phẩm mới, chỉ có thể đo được qua kết hợp các dữ liệu hạn chế về giá trị, với sự phán đoán và kinh nghiệm riêng của nhà quản lý doanh nghiệp

Từ các khái niệm trên ta nhận thấy rằng, rủi ro là khách quan và nếu có

đầy đủ thông tin thì có thể tính được xác suất các sự kiện xảy ra Còn không chắc chắn đề cập đến nhiều khả năng xảy ra mà không biết được tần suất của từng khả năng Hay nói cách khác là không chắc chắn đề cập đến tình trạng mất mát không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện, nó không còn là khách quan như ý nghĩa ban đầu mà gắn với chủ quan của người ra quyết

định Có nghĩa là con người có thể tác động giảm bớt sự thua thiệt cho doanh nghiệp Đó cũng là nguyên tắc cho việc ra quyết định trong quản lý rủi ro phải dựa vào suy nghĩ chủ quan của từng người

Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả, mỗi kết quả có thể xảy ra với các khả năng khác nhau Khả năng của một kết quả nào đó nghĩa là tần suất trung bình xảy ra kết quả đó Trong khi đó không chắc chắn đề cập đến tình trạng có nhiều kết quả có thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khả năng sẽ xảy ra của từng kết quả Cùng một vấn đề đối với người này có thể là rủi ro,

đối với người khác lại là không chắc chắn vì thông tin của mọi người nhận

được là không giống nhau Trên thực tế rủi ro được hiểu chung là những kết quả xấu hơn mong muốn sẽ xảy ra Như vậy, "rủi ro" và "không chắc chắn" chỉ khác nhau ở việc có đánh giá được khả năng (hay còn gọi là xác suất) xảy

ra các kết quả khác nhau hay không

8

Trang 16

Rủi ro mang đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người

và cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhưng có thể mang đến những cơ hội nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhân dạng, đo lường rủi ro thì có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang đến kết quả tốt đẹp cho tương lai

2.1.2 Phân loại rủi ro trong doanh nghiệp

Trong quá trình kinh doanh mỗi doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ rủi ro ở tất cả các lĩnh vực khác nhau thuộc môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, tức là bao gồm rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng thuộc nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan tác động làm gia tăng rủi ro và tổn thất Từ đó cho thấy rằng rủi ro và tổn thất trong kinh doanh thường xảy ra thường xuyên với tần suất lớn Mặt khác trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp thường gặp phải những hiểm hoạ, nguy cơ nghiêm trọng như: hiểm hoạ

tự nhiên, cầm giữ của chính quyền, ảnh hưởng của các thế lực chính trị, khủng hoảng kinh tế, sụt giá, cạnh tranh quốc tế cũng làm gia tăng mức độ rủi ro

và tổn thất

Hoạt động kinh doanh diễn ra rất đa dạng, phong phú liên quan đến các yếu tố như chủ thể kinh doanh, ngôn ngữ, luật pháp, phong tục tập quán, sự di chuyển hàng hoá, các hoá đơn chứng từ sử dụng trong kinh doanh và phương thức thanh toán do đó rủi ro, tổn thất cũng hết sức đa dạng và phức tạp Trên thực tế cho thấy trong kinh doanh luôn gặp phải những rủi ro mang tính bất ngờ cao, thậm chí chưa hề gặp bao giờ nên đã gây không ít khó khăn cho

doanh nghiệp

Thành công lớn của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có khả năng mạo hiểm và chế ngự rủi ro hay không Chính vì vậy mà doanh nghiệp phải xác định được các loại rủi ro xảy ra

9

Trang 17

Rủi ro trong doanh nghiệp bao gồm:

2.1.3.2 Rủi ro kinh doanh

Là những thay đổi của thu nhập phát sinh từ đặc tính các ngành kinh doanh ảnh hưởng đến ngành kinh doanh Rủi ro kinh doanh có quan hệ chặt chẽ tới lợi nhuận Thông thường trong kinh doanh nơi nào có lợi nhuận cao thường chứa đựng rủi ro cao, đó là mối quan hệ tỷ tệ thuận giữa lợi nhận và rủi

ro Quá trình hoạt động kinh doanh thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà các yếu tố này thường mang tính ngẫu nhiên, không thể lường trước được Ngày nay, các loại rủi ro thường có xu thường trầm trọng hơn, do nhiều nguyên nhân như:

Trang 18

mang tính bước ngoặt đối với doanh nghiệp, hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận hơn Nhưng nếu doanh nghiệp không biết phân tích rủi ro một cách chính xác thì rất có thể sự đầu tư đó là mù quoáng và liều lĩnh

Khái niệm liều lĩnh ở đây không phải là các chủ doanh nghiệp dám làm những điều mà người khác không dám làm, mà liều lĩnh ở đây là những quyết

định vượt quá sự hiểu biết về rủi ro mà nó đem lại Trên thực tế nhiều chủ doanh nghiệp có các quyết định tưởng chừng mạo hiểm, nhưng những quyết

định đó đã được phân tích kỹ càng nhờ các thông tin thu thập và phân tích đầy

đủ Như vậy đầu tư mạo hiểm hay không mạo hiểm phải được căn cứ vào các thông tin thu thập được và quan trọng hơn là cách xử lý thông tin đó để đi đến các quyết định hợp lý về đầu tư

* Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường là sự mất mát về vị thế của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì rủi ro về thị trường là điều tất yếu Các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều phải cạnh tranh gay gắt để dành lấy thị phần cho mình Có thể nói thị trường

là sự sống còn của một doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường gặp phải những loại rủi ro thị trường như:

Thứ nhất; Mất thị phần trên thị trường Thị phần thể hiện uy tín của

doanh nghiệp trên một mảng sản phẩm nào đó Thị phần lớn cũng có nghĩa là doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, có hiệu quả kinh tế với mức sản lượng cao, công suất máy được khai thác tốt nhất Khi thị phần của doanh nghiệp giảm xuống, điều đầu tiên nhận thấy là chi phí cố định bình quân cho sản phẩm tăng lên ảnh hưởng đến hiệu quả đơn vị của sản phẩm Tổng sản lượng giảm xuống làm giảm các đơn vị sản phẩm gây nên ảnh hưởng giao thoa đối với thu nhập của doanh nghiệp

11

Trang 19

Thứ hai; Thị phần của doanh nghiệp bị giảm xuống do các nguyên nhân

như bị đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp bị thị trường đào thải, trường hợp này là doanh nghiệp tự đánh mất thị trường

Thứ ba; Mất uy tín do bị làm giả làm nhái Đây là hiện tượng phổ biến

trên thị trường hiện nay Các doanh nghiệp có các sản phẩm tiêu thụ tốt thì lập tức một thời gian ngắn sau đã xuất hiện hàng giả, hàng nhái

Thứ tư; Mất giá của sản phẩm trên thị trường cũng là hiện tượng khá

phổ biến, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nông ngiệp Chúng ta vẫn thấy các hiện tượng như giá cafê, giá điều… giảm xuống liên tục trong mấy năm qua Nhiều khi sự mất giá trên thị trường còn do các yếu tố chủ quan khác Ví dụ,

do không dự đoán được giá cả gạo nên chúng ta đã ký các hợp đồng xuất khẩu gạo theo giá định trước, nhưng vào thời điểm xuất khẩu giá gạo trên thị trường thế giới và giá thu mua trong nước đều tăng cao nên các doanh nghiệp xuất khẩu đã bị lỗ vốn

*Rủi ro công nghệ

Công nghệ phát triển nhanh các doanh nghiệp muốn khẳng định ưu thế của mình, kéo theo cường độ cạnh tranh trở nên căng thẳng hơn, và như vậy nhiều rủi ro mới ra đời: rủi ro đầu vào Việc sử dụng công nghệ mới khi chưa nắm bắt được nó toàn bộ, các hiệu ứng phụ chưa được biết cụ thể, sẽ tạo ra những tình huống mà không phải ai cũng dự báo trước được Hơn nữa loại rủi

ro cũng xuất hiện ngay khi doanh nghiệp mới thành lập đó là công nghệ sản xuất kém chất lượng, lạc hậu Nó rất phổ biến vì chúng ta chưa có thị trường công nghệ Các doanh nghiệp có rất ít thông tin hoặc thông tin không chính xác về công nghệ nên đa số đều mua những công nghệ lạc hậu được tân trang lại Vấn đề này đã xuất hiện từ rất lâu nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa khắc phục được Nguyên nhân quan trọng nhất là chúng ta chưa tự sản xuất được công nghệ cho mình nên chưa có nhiều thông tin và sự lựa chọn cho các

12

Trang 20

doanh nghiệp Ngoài ra nó còn ngăn trở việc sử dụng vốn nhàn rỗi vì nhiều người có tiền nhưng không biết sử dụng vào việc gì Công nghệ sản xuất kém cũng là nguyên nhân dẫn đến lối làm ăn chụp giật của các doanh nghiệp Nó buộc các doanh nghiệp phải sản xuất hàng kém chất lượng không ổn định và buộc phải đi lừa người khác để thu hồi vốn

*Rủi ro nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu cho sản xuất phải đảm bảo được các yếu tố như chất lượng ổn định, đều đặn, giá cả ổn định Nhưng các doanh nghiệp hiện nay

đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về nguyên liệu, vật liệu cho sản xuất Phổ biến là tình trạng nguyên liệu kém chất lượng và không đồng đều

Giá nguyên liệu tăng là một khó khăn rất lớn đối với các doanh nghiệp, ngay lập tức nó làm cho hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp giảm xuống

Năng lực tài chính của các doanh nghiệp thấp thì thường không có đủ khả năng nhập khẩu trực tiếp và dự trữ nguyên liệu Nguyên nhân trên dẫn tới tình trạng giá nhập cao và không ổn định

Chất lượng nguyên vật liệu cũng là điều cần được lưu ý Hiện nay hệ thống quản lý chất lượng của nhà nước rất yếu và thiếu nên các quy định về chất lượng không được tuân thủ Khi chất lượng nguyên liệu thay đổi thì

đường nhiên chất lượng sản phẩm thay đổi Sự thiếu ổn định này làm ảnh hưởng đến các mặt đã phân tích ở trên như: mất thị trường, mất uy tín doanh nghiệp, nợ khó đòi như vậy ta thấy các loại rủi ro không tách rời mà có liên quan chặt chẽ với nhau chúng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau

Do vậy muốn giải quyết được các vấn đề về rủi ro doanh nghiệp cần phải chú

ý đến tất cả các yếu tố Đây cũng là nhiệm vụ của các doanh nghiệp, nhưng nó cũng phải được chú ý ở tầm vĩ mô để giải quyết các nguyên nhân vĩ mô

13

Trang 21

* Rủi ro nhân sự

Nhân sự trong doanh nghiệp giữ một yếu tố quan trọng đến sự thành công của các doanh nghiệp, vai trò của nó thể hiện ở chỗ khả năng giải quyết công việc tốt hay không tốt Một doanh nghiệp mạnh là một doanh nghiệp có

đội ngũ nhân viên có năng lực và biết phát huy tối đa năng lực của họ Thông thường phải trải qua một thời gian các nhân viên mới bắt nhịp được với công việc Doanh nghiệp vừa là nơi làm việc vừa là nơi đào tạo nhân lực Nhưng khi các nhân viên trở nên thành thạo công việc thì cơ hội tìm kiếm việc làm khác

có nhiều thu nhập hơn cũng tăng lên, dẫn tới nhân sự của doanh nghiệp giảm,

do đó gây nên sự xáo trộn rất lớn thậm chí còn đe doạ đến sự tồn tại của doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp còn gặp phải rủi ro khác về nhân sự như trình độ nhân công nhân viên thấp, ý thức kỷ luật kém

* Rủi ro, tổn thất do bị lừa đảo

Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại rủi ro trong đó có rủi ro lừa đảo Tuy không nghiêm trọng như thảm hoạ tự nhiên, sự biến đổi nhanh về giá cả hàng hoá, mất thị trường tiêu thụ nhưng rủi ro lừa đảo luôn là một nguy cơ lớn đe doạ đến hiệu quả kinh doanh, thậm chí đến cả sự tồn tại của doanh nghiệp [19]

* Rủi ro do toàn cầu hoá

Việc toàn cầu hoá đánh dấu một bước ngoặt lớn trong thập kỷ vừa qua,

nó làm giảm chi phối của doanh nghiệp đối với môi trường hoạt động của doanh nghiệp đó, cũng như nó không ngừng đòi hỏi doanh nghiệp đó phải có những sáng kiến mới Hai yếu tố này làm cho vùng rủi ro của doanh nghiệp gia tăng và làm cho vai trò của nhà quản trị rủi ro thêm nặng nề hơn [9]

* Rủi ro do tác động của thông tin truyền thông

Thông tin truyền thông không chỉ đơn thuần có thể tạo ra những rủi ro

14

Trang 22

mà còn có thể làm cho chúng trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều Với một thông tin cho trước cùng với sức mạnh của thông tin truyền thông, một biến cố nhỏ cũng có thể nhanh chóng trở thành một thảm hoạ [9]

2.1.3.3.Rủi ro tài chính

Có thể nói rủi ro tài chính là mầm mống của khủng hoảng kinh tế Rủi

ro tài chính trong một phạm vi, một lĩnh vực nhạy cảm có thể bùng nổ tức thời không chỉ trong phạm vi một nước mà còn lan nhanh ra các nước trong khu vực và trên thế giới Rủi ro tài chính là một trạng thái biểu hiện nguy cơ bất ổn xảy ra trong hoạt động đầu tư dẫn đến lợi nhuận thực tế không đạt được như

dự kiến, khiến cho hoạt động tài chính của người đầu tư lâm vào trạng thái khó khăn như:

*Nợ khó đòi

Nợ khó đòi phát sinh trong quá trình kinh doanh, là điều mà không doanh nghiệp nào muốn nhưng rất khó tránh khỏi Nợ khó đòi đặc biệt phổ biến đối với các doanh nghiệp bán hàng cho mạng lưới các đại lý theo hình thức trả chậm, khi các đại lý này phát triển thị trường vượt quá khả năng tài chính của mình, ngoài ra nó còn do các nguyên nhân như đối tác lâm vào tình trạng phá sản mất khả năng thanh toán hoặc cố tình không thanh toán Khi tung sản phẩm của mình ra thị trường và muốn chiếm được thị phần nhanh nên các doanh nghiệp bán hàng trả chậm một cách tràn lan, đây là điều hết sức nguy hiểm đối với tài chính của doanh nghiệp Khoản tiền nợ đọng làm cho doanh nghiệp yếu đi về mặt tài chính dẫn tới các vấn đề sau:

Doanh nghiệp không có đủ tiền để tái đầu tư sản xuất Việc không chủ

Trang 23

mát do nợ khó đòi gây nên, doanh nghiệp còn phải chi tiền cho các khoản tiền

"đã chết" này bao gồm chi phí đòi nợ, chi cho tiền lãi đi vay Những mất mát này ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của doanh nghiệp

* Bị chiếm dụng vốn

Đây là tình trang khá phổ biến trong các doanh nghiệp, để tăng doanh thu các doanh nghiệp đã tăng các khoản tín dụng cho khách hàng, khi các khoản tín dụng cho khách hàng tăng đồng nghĩa với việc vốn bị chiếm dụng, thời gian bị chiếm dụng vốn dài hay ngắn phụ thuộc vào năng lực thanh toán của khách hàng, nếu thời gian chiếm dụng vốn bị kéo dài thì doanh nghiệp không đủ lượng vốn cần thiết để tái sản xuất kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải tăng vốn của mình là đi vay các tổ chức tài chính và đương nhiên doanh nghiệp phải chịu lãi của phần vốn vay đó

Tuy nhiên, hiện nay quan niệm của các nhà kinh tế học về rủi ro tài chính cũng chưa thống nhất, có người phân tích rủi ro tài chính từ góc độ tài chính là

điều kiện cơ bản của tái sản xuất xã hội, có người phân tích rủi ro tài chính dưới góc độ cơ chế và hệ thống pháp luật

Do vậy, rủi ro tài chính là rủi ro đặc điểm nguồn tài chính của doanh nghiệp tạo ra [6]

2.1.3.4 Rủi ro pháp lý (Legal Risk)

Rủi ro liên quan đến cơ chế chính sách, pháp lý thường đưa đến tranh chấp kiện tụng kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp [9] Rủi ro pháp lý do các nguyên nhân:

- Do sự thay đổi về cơ chế chính sách, luật pháp liên quan đến kinh doanh như quy định về nhãn hiệu hàng hoá, môi trường, lao động

- Thiếu kiến thức về pháp luật, vi phạm pháp luật

- Thiếu chặt chẽ trong những hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư

16

Trang 24

2.2 Quản lý rủi ro

2.2.1 Quản lý và quản lý rủi ro

Trong tiếng Anh từ "management" vừa có ý nghĩa là quản lý, vừa có ý nghĩa là quản trị [3]

Sự tồn tại và phát triển của loài người đều gắn liền với sự quản lý Một cộng đồng loài người muốn đi theo một con đường nhất định đều phải có sự quản lý Trong mọi lĩnh vực quản lý là một khâu quan trọng hàng đầu, có tổ chức quản lý tốt thì mới đem lại hiệu quả cao, nhìn chung việc quản lý là rất khó khăn và phức tạp Như vậy, khoa học quản lý là kiến thức cơ bản, không thể thiếu được đối với người làm quản lý, đặc biệt là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp Nhưng do nhiều nguyên nhân mà việc tiếp nhận và ứng dụng khoa học quản lý ở nước ta còn nhiều thiếu sót và phiến diện Vai trò của các nhà quản lý doanh nghiệp là “phấn đấu hoàn thành kế hoạch” cách này khơi dậy được nhiệt tình trí tuệ của cán bộ quản lý và người lao động nhưng lại phát sinh nhiều tệ nạn tiêu cực Do đó, bản chất của quản lý là hướng vào con người mà khai thác và phát triển nguồn lực vì trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố của môi tường kinh doanh

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (cấp trên, người lãnh đạo) đến đối tượng bị quản lý (cấp dưới, tập thể, cá nhân người lao động) nhờ đó mà có thể duy trì được tính trồi của hệ thống

và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu đã định một cách tốt nhất [14]

Quản lý rủi ro (quản trị rủi ro) không phải là thuật ngữ diễn đạt hay nhất để định nghĩa vai trò của nhà quản lý Việc ra quyết định khi bị giới hạn thông tin, dự phòng là mối bận tâm thường xuyên của người biết chịu trách nhiệm trong doanh nghiệp Trên quan điểm này, quản lý rủi ro có vẻ là một lĩnh vực sâu rộng, người ta có thể nghi ngờ về chính chuyên môn của nó Tuy

17

Trang 25

nhiên trên thực tế, chức năng quản lý rủi ro luôn được giới hạn, tương ứng với một tập hợp rủi ro riêng biệt, mang tính "ngoại lệ" và cần được quản lý riêng Tuy nhiên quan điểm này lại không đưa ra một định nghĩa khách quan và chính xác về chức năng của quản lý rủi ro Chính vì vậy, sự bất đồng trong

đánh giá còn tồn tại tuỳ theo bản chất của hoạt động, khả năng và kinh nghiệm tích luỹ Trong những điều kiện như vậy, người ta thường bắt gặp những khái niệm về quản lý rủi ro khác nhau của các doanh nghiệp

Dựa vào lý thuyết của A.M Mowbray (1930) mà người ta phân biệt giữa rủi ro mang tính đầu cơ với những rủi ro thuần tuý để từ đó xác định lĩnh vực của quản trị rủi ro và làm rõ những đặc tính riêng biệt của nó Mọi doanh nghiệp đều bị buộc phải chấp nhận ít nhất một rủi ro mang tính đầu cơ, ngay khi họ đăng ký kinh doanh và hy vọng có lãi, mặc dù biết rõ là cũng có thể bị

lỗ Rủi ro mang tính đầu cơ là lý do tồn tại của doanh nghiệp, nó có thể chấp nhận những cơ hội tạo ra lợi nhuận đáng kể so với các khoản lỗ có thể có Ngược lại, rủi ro thuần tuý là chỉ mang lại cho người ta những thiệt hại như: hoả hoạn, bị mất cắp, tai nạn lao động Như vậy, rủi ro thuần tuý đồng nghĩa với một chi phí bấp bênh Điều này lý giải sự khác biệt trong thái độ của các doanh nghiệp về hình thức này hay hình thức khác của rủi ro: rủi ro mang tính

đầu cơ là một nguồn lợi nhuận được chấp nhận; rủi ro thuần tuý thì tạo ra chi phí, như vậy người ta cần tránh nó hay ít ra giảm thiểu mức độ tổn thất mà nó gây ra [dẫn theo 9]

Sự phân biệt này trước hết cho phép kiểm chứng vai trò chính của bảo hiểm Làm cách nào để quản lý rủi ro thuần tuý, những yếu tố thất thường không thể kiểm soát, nếu không phải là chuyển giao nó sang một đại lý bảo hiểm và trả cho họ một khoản phí Việc thanh toán một khoản lệ phí bảo hiểm nào đó thay thế cho một chi phí bất ổn, là một thuận lợi làm cho luồng tiền mặt thông suốt và tránh những khả năng mất cân đối trầm trọng về tài chính một khi biến cố bất thường xảy ra Trong một thời gian dài, nhiều nhà quản trị

18

Trang 26

rủi ro bị lẫn lộn với vai trò của nhà bảo hiểm, đây cũng là một khái niệm sẽ tồn tại rất lâu

Theo C A.William và R M Heins (1985), trong lần xuất bản thứ 5 cuốn sách viết về quản trị rủi ro, đã giới hạn lĩnh vực rủi ro " được bảo hiểm

và gần như được bảo hiểm" Cuộc điều tra của 188 nhà quản trị châu Âu của J Charbonnier năm 1985 cũng xác nhận khái niệm: "Trong các loại rủi ro mà nhà quản trị chịu trách nhiệm được kể đến nhiều nhất đó là những rủi ro liên quan đến: tổn thất vật chất, rủi ro ngừng hoạt động, tai nạn lao động, trách nhiệm chung và nghề nhiệp, trách nhiệm về sản phẩm"[dẫn theo 9]

Quản lý rủi ro là phải quan tâm đến những hiện tượng bất ổn, không thể kiểm soát, nhằm tránh cho những mối cân bằng hiện hữu bị rối loạn

Vậy, quản lý rủi ro chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro [22]

Quản lý rủi ro là một khái niệm mới đưa vào sử dụng trong những năm gần đây Trước hết, cần phải phân biệt hai khái niệm: Quản lý rủi ro (Risk management) và khắc phục rủi ro (Coping with risk)

Quản lý rủi ro đề cập đến việc điều chỉnh trong sản xuất và sử dụng nguồn lực trước khi xảy ra các biến cố về sản xuất kinh doanh, tức là trước khi rủi ro xảy ra Quản lý rủi ro không chỉ bao hàm ý chống rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm thích ứng với rủi ro [12]

Chống rủi ro là những biện pháp, những ứng xử nhằm tránh rủi ro ứng

xử của doanh nghịêp với rủi ro với 3 trạng thái:

- Chấp nhận rủi ro để có thể thu được lợi nhuận cao nhất, mặc dù họ biết rằng cơ hội cho khả năng này chỉ có một xác suất nhất định

- Chống hoặc không chấp nhận rủi ro để đảm bảo an toàn các hoạt động

19

Trang 27

của doanh nghiệp trong trường hợp khả năng xấu xảy ra, mặc dù khả năng xảy

nhất cho doanh nghiệp [22]

2.2.2 Nội dung quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro gồm các nội dung [22]:

- Nhận dạng rủi ro, phân tích, đo lường rủi ro

- Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro

- Tài trợ rủi ro khi nó đã xuất hiện

2.2.2.1 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

* Nhận dạng rủi ro

Để quản lý rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong sản xuất kinh doanh Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động nhằm thống kê các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi

ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp [22]

20

Trang 28

Phương pháp nhận dạng rủi ro: Để nhận dạng rủi ro phải lập được các

bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ xuất hiện, có thể sử dụng các phương pháp sau:

+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi có thể được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro hoặc môi trường tác động Các câu hỏi xoay quanh vấn đề như:

• Doanh nghiệp đã gặp những rủi ro nào?

• Tổn thất là bao nhiêu?

• Số lần xuất hiện các loại rủi ro đó trong một khoảng thời gian nhất định ( thường là 1 năm)?

• Những biện pháp phòng ngừa, biện pháp tài trợ rủi ro được sử dụng? Kết quả đạt được?

• Những rủi ro chưa xảy ra nhưng có thể xuất hiện? Lý do?

• Những ý kiến đánh giá và đề xuất về công tác quản lý rủi ro + Phân tích báo cáo tài chính: Đây là phương pháp thông dụng, mọi tổ chức đều thực hiện nhưng ở mức độ và sử dụng vào mục đích khác nhau Trong công tác quản trị rủi ro, bằng cách phân tích bảng tổng kết tài sản, các báo cáo hoạt động kinh doanh, các tài liệu bổ trợ khác, người ta có thể xác

định được mọi nguy cơ rủi ro của tổ chức về tài sản, nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý Ngoài ra, bằng cách kết hợp phân tích các số liệu trong kỳ báo cáo có so sánh với các số liệu dự báo cho kỳ kế hoạch ta có thể còn phát hiện

được các rủi ro có thể phát sinh trong tương lai Phương pháp phân tích các báo cáo tài chính không chỉ giúp thấy được các rủi ro thuần tuý, mà còn giúp nhận dạng được những rủi ro suy đoán

+ Thanh tra hiện trường: Quản lý rủi ro đòi hỏi phải thường xuyên

21

Trang 29

thanh tra hiện trường Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hiện trường giúp tiến

hành phân tích, đánh giá, nhận dạng rủi ro

* Phân tích rủi ro

Nhận dạng rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể xảy ra, đây

là công việc quan trọng, không thể thiếu nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của

công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro là

phải xác định được các nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể

tìm ra các biện pháp phòng ngừa Đây là một công việc rất phức tạp bởi vì mỗi

loại rủi ro thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân trực tiếp

và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa [22]

* Đo lường rủi ro

Đây là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong một khoảng

thời gian nhất định và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Trên cơ sở đó

có thể lập được ma trận đo lường rủi ro

Tần suất xuất hiện

- (I) Tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất

xuất hiện cũng cao

- (II) Tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao, nhưng tần

suất xuất hiện thấp

- (III) Bao gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp, nhưng tần

suất xuất hiện cao

22

Trang 30

- (IV) Bao gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp, nhưng tần suất xuất hiện thấp

Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro người ta sử dụng cả hai tiêu chí là mức độ nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó mức độ tổn thất nghiêm trọng đóng vai trò quyết định Vì vậy, sau khi đo lường, phân loại các rủi ro sẽ tập trung quản lý trước hết những rủi ro thuộc nhóm I sau đó đến nhóm II, III và sau cùng là nhóm IV [22]

Có hai cách tiếp cận chính về đo lường mức độ rủi ro[22]:

- Cách tiếp cận phương sai - thu nhập và phòng tránh thảm hoạ hay còn gọi là cách tiếp cận an toàn trước tiên Cách tiếp cận thứ nhất dùng độ phân tán của các kết quả, chẳng hạn như phương sai hay hệ số sai lệch làm thước đo rủi ro Hệ số sai lệch càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại

- Cách tiếp cận thứ hai, rủi ro được đo bằng xác suất để các kết quả của một hành động nào đó có giá trị nhỏ hơn một giá trị định trước, hay nói cách khác là xác suất của một hành động tạo ra kết quả nhỏ hơn một giá trị lựa chọn nào đó

Trong việc nghiên cứu hành vi ra quyết định, mô hình thông dụng và

được công nhận nhất hiện nay là mô hình được xây dựng theo giả thuyết độ thoả dụng mong đợi Nội dung cơ bản của mô hình này là các cá nhân sẽ ra quyết định lựa chọn các phương án khác nhau sao cho có thể tối đa được độ thoả dụng mong đợi Việc ra quyết định dựa trên các tiêu thức kỳ vọng và phương sai tỏ ra phù hợp với giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi, do vậy cách tiếp cận phương sai - thu thập thường được sử dụng Điều này có nghĩa là mức độ rủi ro thường được thể hiện bằng hệ số biến động

23

Trang 31

2.2.2.2 Kiểm soát và tài trợ rủi ro

*Kiểm soát rủi ro

Công việc trọng tâm của quản lý rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến [22]

Kiểm soát rủi ro đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo bao gồm các biện pháp sau:

- Các biện pháp né tránh rủi ro: Là các biện pháp né tránh những hoạt

động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây

là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Mỗi người, mỗi đơn

vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh rủi

ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Né tránh rủi ro chỉ với những rủi ro có thể né tránh được, nhưng trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro không thể né tránh được

- Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Là sử dụng các biện pháp giảm

thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại

- Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: Là những biện pháp cứu vớt những

tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ

dự phòng, phân tán rủi ro

- Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Là những biện pháp chuyển rủi ro

đến cho người khác, tổ chức khác thông qua con đường ký hợp đồng

- Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với biện pháp giảm thiểu

tổn thất là phân tán rủi ro, bao gồm: đa dạng hoá mặt hàng, da dang hoá khách hàng, đa dạng hoá thị trường để phòng chống rủi ro

24

Trang 32

* Tài trợ rủi ro

Rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi, rủi

ro có thể đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào Do đó, dù phòng bị kỹ đến đâu, kiểm soát rủi ro chặt chẽ đến mức nào thì cũng không tránh được tất cả mọi tổn thất Vì vậy, khi tổn thất xảy ra phải có các biện pháp để tài trợ rủi ro thích hợp bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm [8],[22]

* Chấp nhận rủi ro

Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó hay tự khắc phục rủi ro xảy ra Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro là tự bảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể chia là 2 nhóm:

+ Chấp nhận rủi ro thụ động là khi gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trước và có thể phải vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất

+ Chấp nhận rủi ro chủ động là khi gặp tổn thất đã có sự chuẩn bị trước bằng cách lập quỹ dự trữ, dự phòng để sử dụng bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra

Tuy nhiên, nếu lập quỹ dự trữ, dự phòng thì dẫn đến nguồn vốn không

được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đi vay sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi suất [4],[22]

* Bảo hiểm

Trong cuộc sống, có rất nhiều loại rủi ro đã xuất hiện, tồn tại và chi phối đến cuốc sống của mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội Những rủi

ro bất thường xảy ra thì không phải lúc nào con người cũng có thể biết trước

và phòng ngừa được Như một nhu cầu tất yếu của đời sồng bảo hiểm ra đời nhằm mục đích dự phòng trước, khắc phục và giải quyết một phần những hậu quả sau khi các biến cố rủi ro gây ra Có thể nói, chính sự tồn tại của các loại rủi ro là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự trữ, bảo hiểm [4]

25

Trang 33

Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các cá nhân và các tổ chức Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh doanh Bảo hiểm đã mang lại lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm

Bảo hiểm có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:

- Theo quan điểm cộng đồng: Bảo hiểm có thể được hiểu là phương thức

xử lý rủi ro thông qua việc dự trữ đề phòng rủi ro, chuyển giao, phân tán rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình tái sản xuất và đời sống của con người trong xã hội [4]

- Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro: Bảo hiểm là sự chuyển giao trên cơ sở hợp đồng

- Theo quan điểm xã hội: Bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà

là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên

đoán về tổn thất khi chúng xảy ra [8]

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: Bảo hiểm cho phép mọi người đổi rủi ro của việc thua thiệt lớn để lấy sự chắc chắn của thua thiệt nhỏ Những thua thiệt được bảo hiểm một cách rộng rãi nhất là những mất mát về tài sản, cuộc sống và thu nhập Việc mua bảo hiểm thông qua việc đóng tiền bảo hiểm đã dàn trải rủi ro của một sự kiện ngẫu nhiên nào đó cho nhiều người [5],[8]

Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau, nghĩa là không phải ai tham gia bảo hiểm cũng được phân phối và phân phối số tiền như nhau Phân phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia

26

Trang 34

bảo hiểm không may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm Điều đó có nghĩa là phân phối trong bảo hiểm không mang tính chất bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp và quỹ bảo hiểm nhưng không tổn thất thì không được phân phối

Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc "số đông bù số ít", nguyên tắc này quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trữ bảo hiểm cũng như quá trình phân phối bồi thường, quá trình phân tán rủi ro

Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng đối với người tham gia bảo hiểm và tác dụng quan trong nhất là bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia bảo hiểm trước tổn thất do rủi ro gây ra Rủi ro xảy ra đều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanh của mọi cá nhân, của mọi đơn vị sản xuất kinh doanh Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính để người tham gia bảo hiểm nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, ổn định sản xuất kinh doanh Từ đó, họ khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác một cách bình thường Tác động này phù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút được số

đông người tham gia Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi

ro gây ra có hiệu quả nhất [8]

Để đánh giá hiệu quả của hoạt động bảo hiểm, thường đánh giá trên hai khía cạnh: số lượng người tham gia bảo hiểm và hiệu quả tài chính Việc xem xét hiệu quả tài chính được dựa trên các chỉ tiêu:

Hệ số tổn thất = Tiền đền bù / Phí thu được

Hệ số IPS = Tiền đền bù / Tổng giá trị bảo hiểm

Hệ số trợ cấp = Trợ cấp của chính phủ / Tổng chi phí

27

Trang 35

2.3 Biện pháp quản lý rủi ro đ∙ và đang được áp dụng trên thế giới và việt nam

2.3.1 Tự khắc phục rủi ro

Là phương pháp mà người (tổ chức) bị rủi ro tự mình thanh toán các tổn thất Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự có của chính tổ chức đó, cộng với các nguồn mà tổ chức đó đi vay và có trách nhiệm hoàn trả ở Việt Nam các doanh nghiệp tự khắc phục rủi ro bằng cách lập các quỹ để tài trợ tổn thất như: Quỹ

dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, trích dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, dài hạn

2.3.2 Bảo hiểm

Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, con người có thể gặp vô số các

sự kiện rủi ro tự nhiên bất thường như lũ lụt, hạn hán, động đất, hoả hoạn bệnh tật, tai nạn dẫn đến những thịêt hại nhất định về tính mạng, sức khoẻ, tài sản Những thiên tai và rủi ro khách quan nằm ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con người Do vậy mà trên thế giới và Việt Nam đã dùng biện pháp chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm Xuất phát từ tính chất đa dạng của các loại rủi ro có thể xâm hại đến các lợi ích của con người về sức khoẻ, về tính mạng, về tài sản dẫn đến sự hình thành các loại bảo hiểm khác nhau như bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm tính mạng, bảo hiểm tài sản.v.v

Căn cứ vào tính chất, đối tượng và mục đích của từng hoạt động bảo hiểm chia hoạt động bảo hiểm thành hai nhóm là bảo hiểm mang tính chất kinh doanh thương mại và bảo hiểm mang tính chất xã hội

Bảo hiểm mang tính chất kinh doanh thương mại được hiểu là các loại hình bảo hiểm được tiến hành bởi các chủ thể kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được tiến hành thông qua

28

Trang 36

việc lập quỹ bảo hiểm từ nguồn phí bảo hiểm thu được của các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bảo hiểm Các nhà kinh doanh bảo hiểm thu lợi nhuận dựa tên nguyên tắc thu của đa số chi cho thiểu số Nhà kinh doanh sử dụng quỹ bảo hiểm để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc diện bảo hiểm trên nguyên tắc chi trả cho những trường hợp thoả mãn các điều kiện bảo hiểm Ngoài ra, quỹ bảo hiểm còn được sử dụng để đầu tư tạo ra những khoản lợi nhuận lớn cho nhà kinh doanh bảo hiểm Hình thức bảo hiểm này hiện nay

được khai thác hầu hết ở các quốc gia trên thế giới như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài sản, v.v ở Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi luật kinh doanh bảo hiểm ra đời, hoạt động bảo hiểm đã trở thành ngành nghề kinh doanh hấp dẫn với sự có mặt của các tập đoàn bảo hiểm lớn trên thế giới tại Việt Nam như tập đoàn AIA, PRUDENTIAL, CHINFON MANULIFE công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam (VIA), công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

Bảo hiểm mang tính chất xã hội là hoạt động bảo hiểm được tiến hành bởi các chủ thể không vì mục tiêu lợi nhuận Các loại bảo hiểm này được sử dụng như là một công cụ của Nhà nước nhằm thực hiện các chính sách xã hội

để giúp đỡ các cá nhân trong cuộc sống cộng đồng khi họ gặp phải những rủi ro nhất định Một trong các loại bảo hiểm mang tính chất xã hội được áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam hiện nay là Bảo hiểm xã hội

Hệ thống Bảo hiểm xã hội lần đầu tiên là công trình của Chính phủ

Đức, dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên: Nhà nước - Giới chủ - Giới thợ cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp rủi ro Sau đó, trước những tác động tích cực và khả năng

hỗ trợ to lớn của Bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động thì nhiều nước trên thế giới bắt đầu học hỏi và áp dụng phương pháp này ở Việt Nam, Bảo hiểm xã hội cũng được biết đến từ rất sớm và cũng được coi là một trong những công cụ đắc lực trợ giúp cho lực lượng lao động Cơ chế thực hiện Bảo hiểm

29

Trang 37

xã hội ở nước ta hiện nay là cơ chế ba bên: Nhà nước – người sử dụng lao động

- người lao động trên cơ sở những cam kết đóng góp của người sở dụng lao

động và người lao động cho một bên thứ ba là cơ quan nhà nước tiến hành hoạt

động bảo hiểm (cơ quan Bảo hiểm xã hội từ Trung ương đến địa phương) [10]

Ngoài ra, còn có các loại hình mang tính chất xã hội như Bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi, bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc

2.3.3 Biện pháp quản lý rủi ro do thị trường

Các biện pháp này chủ yếu xem xét sự biến động của giá cả Để giảm rủi ro do giá cả mang lại có thể sử dụng các công cụ sau:

- Các biện pháp truyền thống đối với các nước đang phát triển Các biện pháp này thường mang tính phi thị trường

- Các biện pháp mới đối với các nước đang phát triển Các biện pháp này thường là dựa vào thị trường, đặc biệt là thị trường về bảo hiểm và tài chính

2.3.3.1 Biện pháp phi thị trường

Biện pháp này được sử dụng phổ biến với các loại hàng hoá là bình ổn giá cả Có nhiều biện pháp để bình ổn giá cả như các điều chỉnh mang tính vĩ mô, sử dụng dự trữ ngoại tệ, ngân sách chính phủ hoặc kho đệm

Các biện pháp bình ổn giá cả thường hướng thực hiện các mục tiêu:

- Làm cho giá cả ít giao động hơn

- Với cùng một mức giao động của giá cả, làm cho giá cả và thu nhập

Trang 38

vì thế, các chính sách vĩ mô thường không phải là giải pháp hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề rủi ro do giá cả gây ra

Việc lựa chọn biện pháp bình ổn giá cả phụ thuộc vào loại hàng hoá cần

ổn định giá Các hình thức đã và đang áp dụng là kho đệm, quỹ dự phòng tài chính, trợ giá, quy định hành lang giá, kiểm soát về số lượng và các hành động can thiệp trực tiếp Phần lớn các cơ chế ổn định giá này với mục đích thực sự không chỉ giới hạn ở pham vi hạn chế sự biến động giá cả mà thường bao gồm cả hai mục tiêu là tái phân phối thu nhập và quản lý nhu cầu

Qua nghiên cứu thực tế, các biện pháp phi thị trường tỏ ra có nhiều nhược điểm: không có cơ sở bền vững về mặt dài hạn, gây ra sự méo mó trong phân phối nguồn lực, do vậy làm cho việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả Nhiều nước đã phải bỏ quỹ bình ổn giá và các công cụ truyền thống khác sau nhiều năm áp dụng chúng như Nigeria đã thôi không sử dụng các công cụ này

đối với sản phẩm ca cao vào năm 1986 Madagascar, Burundi và Uganda thôi không áp dụng công cụ này với sản phẩm cà phê tương ứng vào các năm 1989,1990 và 1992 Cameroon đã thôi áp dụng đối với sản phẩm cà phê và ca cao vào năm 1994 [13]

Nguyên nhân thất bại của những công cụ truyền thống ở các nước đang phát triển có thể lý giải bởi hai nguyên nhân:

+ Quỹ bình ổn giá được sử dụng không chỉ cho mục tiêu giữ giá ổn định

mà cho nhiều mục tiêu xã hội khác, khó khăn về phương tiện thanh toán, xảy

ra tham nhũng và nhiều sai phạm trong quản lý

+ Nguyên nhân quan trọng hơn là sau khi giá cả biến động thì giá cả của một số hàng hoá phải mất một thời gian dài mới quay trở lại ổn định

Như vậy, quỹ bình ổn giá phải rất lớn và điều này rất tốn kém Do đó

mà khó có thể duy trì việc sử dụng các công cụ bình ổn giá truyền thống trong

một thời gian dài

31

Trang 39

2.3.3.2 Các biện pháp thị trường

Thực chất là các biện pháp được sử dụng trong thị trường tài chính để khắc phục rủi ro về tỷ giá và lãi suất Các biện pháp quản lý rủi ro trên thị trường tài chính nhằm mục đích trao đổi rủi ro

Các biện pháp quản lý rủi ro thị trường rất đa dạng, bao gồm cac loại sau [13]:

+ Hợp đồng kỳ hạn: Là một thoả thuận mua hoặc bán một sản phẩm

vào một thời điểm trong tương lai với một mức giá đã xác định trước Khi đến hạn hợp đồng, nếu giá cả tại thời điểm đó cao hơn mức giá theo hợp đồng thì người mua hàng được hưởng lợi và ngược lại Do giá cả được xác định từ trước nên hợp đồng kỳ hạn có thể hạn chế sự biến động về giá cả Tuy nhiên, do nhiều điều kiện đã được xác định, hợp đồng kỳ hạn tương đối cứng nhắc và không thể mua bán lại Vì thế, trong trường hợp tình hình cung cầu giá cả thực

tế có nhiều thay đổi, các bên tham gia vẫn có động lực để phá bỏ hợp đồng

32

Trang 40

+ Quyền chọn: là quyền mua hoặc quyền bán một loại sản phẩm nào

đó vào một thời điểm trong tương lai với một mức giá định trước Nó có một

số khác biệt với hai loại hợp đồng trên là:

Thứ nhất, Các hợp đồng quyền chọn hạn chế tối đa các khoản thiệt hại, nhưng lại mở ra một cơ hội để tận dụng tối đa điều kiện thuận lợi về giá cả

Thứ hai, người mua quyền chọn phải trả một khoản phí ngay tại thời

điểm mua

Thứ ba, mặc dù người mua quyền chọn gặp phải vấn đề rủi ro phá vỡ

hợp đồng, người bán quyền chọn không phải chịu rủi ro này

+ Hợp đồng SWAP: là việc kết hợp một loạt các hợp đồng kỳ hạn Các

hợp đồng SWAP có thể hạn chế được rủi ro giá cả một cách hữu hiệu thông qua việc xác định giá cố định

Các công cụ trên tuy có sự khác biệt nhưng chúng có điểm chung là tác dụng loại bỏ các ảnh hưởng bất lợi của những biến động về giá cả trong ngắn hạn thông qua thoả thuận trước về mức giá cho sản phẩm sẽ được giao cho tương lai Có 4 ưu điểm chính của các công cụ này là:

- Giảm bớt bất định của thu nhập hay chi tiêu trong tương lai

- Các công cụ này dựa vào giá thị trường chứ không phải là giá được đặt

ra bằng các biện pháp hành chính phi thị trường

- Các công cụ này có thể chuyển rủi ro từ trong nước ra quốc tế

- Giúp giảm chi phí tài trợ cho sản xuất và tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu vì giúp làm giảm rủi ro và tăng uy tín của các bên tham gia hợp đồng

Hiện nay, các nhà kinh doanh và xuất khẩu thuộc các khu vực tư nhân ở một số nước có nhều mặt hàng có độ rủi ro cao như Brazil, Colombia, Inđônêxia

và Malaysia đã sử dụng công cụ này để bảo hiểm chống rủi ro về giá cả [13]

33

Ngày đăng: 08/08/2013, 21:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mỹ Bình (2005), “Dịch vụ: quyền giao dịch hợp đồng tương lai”, Kinh tế Việt Nam và Thế giới. Số 1790- ngày 07/01/2005, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ: quyền giao dịch hợp đồng tương lai”", Kinh tế Việt Nam và Thế giới
Tác giả: Mỹ Bình
Năm: 2005
2. Nguyễn Tấn Bình (2004), Phân tích quản trị tài chính, NXB Thống kê, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích quản trị tài chính
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
3. Mai Văn Bưu, Phan Kim Chiến (1999), Giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh - Tr−ờng ĐH Kinh tế quốc dân, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh
Tác giả: Mai Văn Bưu, Phan Kim Chiến
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
4. D−ơng Đăng Chinh (2000), Lý thuyết tài chính - Tr−ờng ĐH Tài chính Kế toán, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính
Tác giả: D−ơng Đăng Chinh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
5. David Bland (1998), Bảo hiểm - Nguyên tắc và thực hành, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm - Nguyên tắc và thực hành
Tác giả: David Bland
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1998
6. David W. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, (tổ chức Sida - Thuỵ Điển dịch), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế học hiện đại
Tác giả: David W. Pearce
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
7. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Giáo trình Phân tích kinh tế nông nghiệp - Tr−ờng ĐH Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
8. Nguyễn Văn Định (2004), Giáo trình Bảo hiểm - Tr−ờng ĐH Kinh tế quốc dân, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
9. Ngô Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Hồng Thu, Lê Tấn Bửu, Bùi Thanh Tráng (2002), Rủi ro kinh doanh, NXB Thống kê, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro kinh doanh
Tác giả: Ngô Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Hồng Thu, Lê Tấn Bửu, Bùi Thanh Tráng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
10. Luật Bảo hiểm Việt Nam (2002), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm Việt Nam
Tác giả: Luật Bảo hiểm Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
11. Văn Mạch (2005), Phú Thọ: “Thực trạng và những giải pháp để các doanh nghiệp t− nhân phát triển”, Kinh tế Việt Nam và Thế giới, số 1850, ngày 23/3/2005, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và những giải pháp để các doanh nghiệp t− nhân phát triển”, "Kinh tế Việt Nam và Thế giới
Tác giả: Văn Mạch
Năm: 2005
12. Nguyễn Đăng Nam, Nguyễn Đình Kiệm (2001), Quản trị tài chính doanh nghiệp - Tr−ờng ĐH Tài chính Kế toán, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đăng Nam, Nguyễn Đình Kiệm
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2001
13. Bùi Thị Minh Nguyệt (2004), Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi L−ơng Sơn - tỉnh Hoà Bình, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi L−ơng Sơn - tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Bùi Thị Minh Nguyệt
Năm: 2004
14. L−ơng Xuân Quỳ (1991), Một số kiến thức cơ bản về quản lý kinh doanh, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến thức cơ bản về quản lý kinh doanh
Tác giả: L−ơng Xuân Quỳ
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1991
15. Sở Kế hoạch Đầu t− (2005), Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004. Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004
Tác giả: Sở Kế hoạch Đầu t−
Năm: 2005
16. Sở Tài chính (2004), Báo cáo tổng hợp phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2003, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2003
Tác giả: Sở Tài chính
Năm: 2004
17. Sở Tài chính (2005), Báo cáo tổng hợp phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004
Tác giả: Sở Tài chính
Năm: 2005
18. Lê Văn Tề (1996), Từ điển kinh tế Tài chính - Ngân hàng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế Tài chính - Ngân hàng
Tác giả: Lê Văn Tề
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Nguyễn Anh Tuấn (2001), “Rủi ro, tổn thất do lừa đảo trong kinh doanh th−ơng mại quốc tế”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 45(3), tr. 51-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro, tổn thất do lừa đảo trong kinh doanh th−ơng mại quốc tế”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2001
21. Từ điển từ và ngữ Việt Nam (1998), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nhận dạng rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể xảy ra, đây là công việc quan trọng, không thể thiếu nh−ng mới chỉ là b− ớc khởi đầu của  công tác quản lý rủi ro - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
h ận dạng rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể xảy ra, đây là công việc quan trọng, không thể thiếu nh−ng mới chỉ là b− ớc khởi đầu của công tác quản lý rủi ro (Trang 29)
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp- phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004)  - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
gu ồn: Báo cáo tổng hợp- phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004) (Trang 45)
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp- phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004)  - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
gu ồn: Báo cáo tổng hợp- phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004) (Trang 45)
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp- phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004)  - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
gu ồn: Báo cáo tổng hợp- phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhà n−ớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2004) (Trang 46)
* Tình hình lao động và tiền l−ơng - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
nh hình lao động và tiền l−ơng (Trang 46)
Biểu 4.1. Tình hình đất đai của các doanh nghiệp điều tra - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.1. Tình hình đất đai của các doanh nghiệp điều tra (Trang 49)
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (Trang 49)
Biểu 4.2. Tình hình lao động và tiền l−ơng của các hộ điều tra - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.2. Tình hình lao động và tiền l−ơng của các hộ điều tra (Trang 52)
Biểu 4.9. Phân tích tình hình tăng (giảm) tài sản qua 2 năm - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.9. Phân tích tình hình tăng (giảm) tài sản qua 2 năm (Trang 68)
Biểu 4.10 Phân tích tình hình tăng (giảm) nợ phải thu qua 2 năm - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.10 Phân tích tình hình tăng (giảm) nợ phải thu qua 2 năm (Trang 69)
Biểu 4.12. Phân tích tình hình tăng (giảm) nguồn vốn qua 2 năm - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.12. Phân tích tình hình tăng (giảm) nguồn vốn qua 2 năm (Trang 71)
Biểu 4.13. Phân tích tình hình tăng (giảm) nợ phải trả qua 2 năm - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.13. Phân tích tình hình tăng (giảm) nợ phải trả qua 2 năm (Trang 72)
Biểu 4.17. Phân tích tình hình vay vốn của các doanh nghiệp - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.17. Phân tích tình hình vay vốn của các doanh nghiệp (Trang 81)
2 CN chế biến 22 4146 1686 1037986 18642 20328 4177 1686 875214 1686 - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
2 CN chế biến 22 4146 1686 1037986 18642 20328 4177 1686 875214 1686 (Trang 90)
Biểu 4.20. tình hình lập dự phòng giảm giá tài sản - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.20. tình hình lập dự phòng giảm giá tài sản (Trang 90)
Biểu 4.21. Tình hình tăng (giảm) quỹ đầu t− phát triển và quỹ dự phòng tài chính - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.21. Tình hình tăng (giảm) quỹ đầu t− phát triển và quỹ dự phòng tài chính (Trang 92)
2 CN chế biến 22 77441 46221 -31220 -40.3 30350 32532 2182 7.2 - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
2 CN chế biến 22 77441 46221 -31220 -40.3 30350 32532 2182 7.2 (Trang 92)
Theo kết quả điều tra, tổng hợp thì tình hình tăng (giảm) quỹ đầu t− - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
heo kết quả điều tra, tổng hợp thì tình hình tăng (giảm) quỹ đầu t− (Trang 93)
Biểu 4.22. Tình hình trích lập và sử dụng quỹ dự phòng tài chính - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
i ểu 4.22. Tình hình trích lập và sử dụng quỹ dự phòng tài chính (Trang 93)
Tình hình đất đai, vốn và lao động của các doanh nghiệp điều tra - [Luận văn]rủi ro và quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh phú thọ
nh hình đất đai, vốn và lao động của các doanh nghiệp điều tra (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w