Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp I
-
đinh xuân nghiêm
những giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề
ở huyện yên mô - tỉnh ninh bình
luận văn thạc sĩ kinh tế
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: ts phạm thị minh nguyệt
Hà nội – 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Đinh Xuân Nghiêm
Trang 3Lời cảm ơn
Lời cảm ơn chân thành tôi xin gửi tới các nhà khoa học trong khoa kinh
tế và phát triển nông thôn, Khoa Sau đại học-Trường ðại học Nông nghiệp
I-Hà nội, và toàn thể các thầy cô tham gia giảng dạy khoá cao học K14 tại Trường ðại học Nông nghiệp I-Hà nội
Đặc biệt tôi xin chân trọng cám ơn TS Phạm Thị Minh Nguyệt - người hướng dẫn khoa học, đ9 nhiệt tình giúp đỡ và có trách nhiệm của đối với tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm sự giúp đỡ nhiệt tình của phòng kinh tế tổng hợp, các làm nghề huyện Yên Mô, sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè để tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đối với sự quan tâm, động viên và giúp đỡ quý báu đó
Tác giả
Đinh Xuân Nghiêm
Trang 4Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 5Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ
Trang
Bảng 4.1 Tình hình cơ bản của các làng nghề của huyện yên Mô (năm 2006) 59
Bảng 4.3 Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề (năm 20060 62 Bảng 4.4 Bình quân đất đai của 1 hộ trong làng nghề (năm 2006) 63
Bảng 4.7 Tình hình huy động vốn của bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2006) 70
Bảng 4.9 Diện tích nhà xưởng và giá trị thiết bị bình quân một hộ điều tra 76
Bảng 4.11 Số lượng sản phẩm chính bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2006) 82 Bảng4.12 Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2006) 85 Bảng 4.13 Hiệu quả SXKD bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2006) 87 Bảng 4.14 Tình hình đóng góp cho ngân sách của các làng nghề ở Yên Mô năm 2006 89
Bảng 4.16 Dự kiến một số kết quả phát triển làng nghề của huyện Yên Mô 109 Biểuđồ 4.1 Nguồn huy động vốn bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2006) 72 Biểu đồ 4.2 Cơ cấu thu nhập hỗn hợp bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2006) 86
Trang 6Môc lôc
Trang 72.5.2 Làng nghề truyền thống trong quá trình hình thành và phát triển nền đại công nghiệp
cơ khí
25
Trang 84.1.3 VÒ tæ chøc s¶n xuÊt trong c¸c lµng nghÒ 60
4.1.10 KÕt qu¶ vµ hiÖu qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh cña hé trong c¸c lµng nghÒ 81
Trang 91 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – x1 hội của nước ta Để góp phần cho sự thành công của sự nghiệp đó cũng như phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền thì phát triển làng nghề là hình thức đ1 và đang được mở rộng khắp nơi Làng nghề là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị giữa truyền thống và hiện đại Phát triển làng nghề là một trong những biện pháp cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Việc đẩy mạnh phát triển làng nghề ở nông thôn nhằm hạn chế việc di dân từ nông thôn ra thành thị, tạo điều kiện giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn, huy động nguồn lực trong dân, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có tại địa phương đặc biệt là sản phẩm của nông nghiệp Phát triển làng nghề góp phần quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo, tăng GDP
ở khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn và giữa thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần ổn định x1 hội giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Hiện nay nước ta có khoảng 2017 [2] làng nghề gồm nhiều nhóm ngành nghề khác nhau thuộc nhiều nhóm ngành nghề chính như gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, dệt, sơn mài, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá được tồn tại trong hàng triệu cơ sở sản xuất hộ gia đình tổ hợp tác x1 và các loại hình doanh nghiệp và thu hút gần 10 triệu lao động Sản phẩm của làng nghề được bán trên 100 nước Điều đó nói lên tiềm năng phong phú, đa dạng to lớn để phát triển làng nghề Những năm qua làng nghề đ1 và đang khởi sắc và có nghiều đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế
Trang 10Bên cạnh những làng nghề tồn tại và phát triển mạnh, đồng thời còn lan toả sang khu vực lân cận tạo nên các cụm làng nghề còn tồn tại nhiều làng nghề phát triển cầm chừng không ổn định và đứng trước nhiều khó khăn trong việc duy trì và phát triển sản xuất như thị trường không ổn định và thu hẹp, công nghệ kỹ thuật sản xuất thô sơ lạc hậu, không đồng bộ, tổ chức sản xuất còn phân tán quy mô nhỏ, trình độ tay nghề của người lao động, năng lực quản lý của chủ cơ sở còn hạn chế, cơ sở kết cấu hạ tầng ở nông thôn nghèo nàn và thấp kém tình trạng ô nhiễm môi trường thường xuyên xảy ra trong các làng nghề và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất của người dân vùng lân cận
Tiềm năng phát triển làng nghề của Việt Nam khá lớn Do vậy, làm thế nào để tạo điều kiện khôi phục và thúc đẩy mạnh sự phát triển làng nghề trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo là vấn đề cần thiết cần được các cấp các ngành nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó nêu ra những giải pháp thích hợp để phát huy tiềm năng của làng nghề
Yên mô là huyện có ngành nghề thủ công phát triển mạnh mẽ, sản phẩm sản xuất ra phong phú đa dạng Phát triển làng nghề hiện đang là chiến lược phát triển kinh tế nhằm mục tiêu qua trọng để thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn của huyện Trong điều kiện hiện nay nền kinh tế phát triển theo hướng kinh tế thị trường, mỗi thành phần kinh tế là một đơn vị kinh tế độc lập trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh, do đó sản phẩm được sản xuất ra theo hướng sản xuất hàng hoá thì các làng nghề vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề cần được tháo gỡ
Để nhìn nhận đầy đủ về thực trạng phát triển làng nghề, các tiềm năng và những khó khăn của hộ làm nghề, làng nghề của người dân, của địa phương, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Những giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề ở huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình”
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề tại huyện Yên Mô, đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển làng nghề nhằm giải quyết lao động việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung đề ra, đề tài hướng tới giải quyết các mục tiêu
cụ thể sau:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển làng nghề
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề của huyện Yên Mô- Ninh Bình
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển làng nghề
ở huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình
1.3 Đối Tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề kinh tế phát triển làng nghề ở Yên Mô như: Quy mô phương hướng sản xuất, hình thức tổ chức kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nghiên cứu của đề tài trên phạm vi tại các làng nghề trên địa bàn huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình
Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghề tại huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình năm 2004-2006 phương hướng và giải pháp phát triển các năm tiếp theo
Trang 122 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học
2.1 một số Khái niệm cơ bản
2.1.1 Phát triển
Theo Tác giả Raman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình liên tục làm thay đổi mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong x1 hội” [29]
Ngân hàng thế giới (WB) đ1 đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng lớn hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: “Phát triển là sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế Sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc một quốc gia trong quá trình tạo ra thay đổi nói trên là những nội dung của phát triển Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân, củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người, trong mối quan hệ với Nhà nước…” [30]
Một quan niệm khác cho rằng “Phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi nào đều thoả m1n các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có trình
độ học vấn cao, được hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần, có đủ
điều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh an toàn không có bạo lực” [4]
Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về phát triển, nhưng các ý kiến đều thống nhất rằng, phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, x1 hội và quyền tự do công dân của mọi người dân
Trang 13Phát triển với nghĩa rộng hơn, bao gồm các những thuộc tính quan trọng
và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng hơn về cơ hội về chính trị về các quyền tự do công dân của con người
Phát triển thể hiện ở phát triển chiều sâu và chiều rộng Phát triển chiều sâu phản ánh về sự thay đổi về chất lượng của ngành sản xuất và của nền kinh
tế và x1 hội để phân biệt các trình độ khác nhau trong sự tiến bộ của x1 hội Phát triển theo chiều rộng là việc tăng về quy mô, số lượng, đa dạng hiện tượng kinh tế- x1 hội
Sự phát triển được đánh giá không những chỉ bằng GNP hoặc GDP tính bình quân trên đầu người dân, mà còn bằng một số chỉ tiêu khác phản ánh
sự tiến bộ của x1 hội như cơ hội về giáo dục, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, tình trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị cuộc sống, công bằng x1 hội, bảo vệ môi trường
Vào nửa cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, loài người đ1 phải đương đầu với những thử thách lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp môi trường Trong quá trình đó, quan niệm mới về sự phát triển đ1 được đặt ra, do phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ
Điều then chốt đối với phát triển bền vững không chỉ là sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất đi đôi với việc tiết kiệm các nguồn lực tài nguyên và bảo vệ môi trường [17]
2.1.2 Phát triển kinh tế
* Khái niệm
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng tưởng Nhưng không phải tăng trưởng nào cũng dẫn đến phát triển Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện 3 nội dung cơ bản sau [17]:
Trang 14Một là, các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế được xác định theo chỉ tiêu hệ thống tài sản quốc gia (SNA) gồm chỉ tiêu: Tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNP); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập quốc dân sử dụng (NDI); thu nhập bình quân đầu người; chỉ số về liên kết kinh tế; chỉ số về mức tiết kiệm đầu tư Nội dung này phản
ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
Hai là, sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong GNP tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất để có thể đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh
tế bền vững
Ba là, mức độ thoả m1n các nhu cầu cơ bản của x1 hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng GD, y tế mà mỗi người dân được hưởng Nhu cầu cơ bản của con người như mức sống, giáo dục, trình độ dân trí, tuổi thọ bình quân, chăm sóc sức khoẻ, dân số và việc làm: chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng
Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là: + Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số
+ Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để
đảm bảo tăng trưởng bền vững
+ Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng x1 hội, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết quả của tăng trưởng kinh tế
+ Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con người và x1 hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
Trang 15x1 hội Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ bản để giải quyết công bằng x1 hội, công bằng x1 hội vừa là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển Mức độ công bằng x1 hội càng cao thì trình độ văn minh của x1 hội càng có cơ sở bền vững
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
Những yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất( LLSX): phát triển kinh tế suy cho cùng là sự phát triển LLSX (bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động) Vì vậy muốn phát triển kinh tế, phải tập trung phát triển LLSX Trong đó, cùng với việc bảo tồn và sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, cần phải nhấn mạnh vai trò của con người, khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ (KHCN) là thành tựu của văn minh nhân loại, nhưng hiệu quả sử dụng KHCN lại tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nước Nếu biết lựa chọn những công nghệ phù hợp với tiềm năng nguồn lực của đất nước, trình độ vận dụng và quản lý… thì sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững Muốn vậy, cần phải có chính sách KHCN đúng đắn; tạo những điều kiện cần thiết khuyến kích sáng tạo và ứng dụng KHCN; tăng cường mở rộng hợp tác, liên kết chuyển giao KHCN tiên tiến để hoà nhập với sự phát triển chung của thế giới
Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, đồng thời cũng là sản phẩm và kết quả thường xuyên của phát triển lịch sử Con người thông qua hoạt động của mình trở thành nguồn lực chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế x1 hội, trong đó có sự phát triển của chính bản thân nó Ngày nay, khi KHCN đang trở thành LLSX trực tiếp, càng tỏ rõ vai trò quyết định của con người đối với
sự phát triển kinh tế – x1 hội Tuy vậy, trong các hình thái kinh tế – x1 hội khác nhau, vai trò động lực phát triển của nhân tố con người có mức độ khác nhau Chẳng hạn trong x1 hội tư bản chủ nghĩa (TBCN), những người lao động làm thuê bị bóc lột, chỉ được xem là phương tiện cho sự tăng trưởng kinh tế, thiếu những điều kiện cơ bản để thoả m1n nhu cầu văn hoá, x1 hội Chỉ có x1 hội phát triển cao hơn, tiến bộ hơn x1 hội tư bản là x1 hội XHCN mới tạo cho
Trang 16con người những điều kiện phát triển toàn diện, con người mới thực sự trở thành mục đích và động lực của sự phát triển
Những yếu tố về quan hệ sản xuất (QHSX): Vai trò của QHSX đối với phát triển kinh tế thể hiện khi QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX thì nó tạo ra động lực thúc đẩy LLSX phát triển, ngược lại, khi
nó không phù hợp sẽ là nhân tố cản trở, kìm h1m sự phát triển đó
Sự phát triển của nền sản xuất x1 hội phụ thuộc vào nhiều động lực, những
động lực kinh tế giữ vai trò quyết định, trong đó lợi ích kinh tế của người lao
động là động lực trực tiếp Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện của QHSX được phản ánh trong ý thức thành động cơ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) nhằm thoả m1n một cách tốt nhất nhu cầu kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế Vì vậy, QHSX (quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối) trực tiếp quy định hệ thống lợi ích kinh tế tạo
động lực cho sự phát triển kinh tế
Cơ chế kinh tế cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế Thực tiễn lịch sử cho thấy kinh tế tự nhiên hay cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đều cản trở sự phát triển kinh tế Cơ chế thị trường với tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, cung cầu kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, mang lại hiệu quả sản xuất và tăng tưởng kinh tế nhanh Những cơ chế thị trường cũng có khuyết tật, gây bất bình đẳng x1 hội, làm cạn kiệt tài nguyên môi trường…nên đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước Vì vậy, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng x1 hội chủ nghĩa (XHCN) là cơ chế kinh tế thích hợp nhất đối với sự phát triển nền kinh tế quá
Trang 17phát triển x1 hội bằng nhiều hình thức khác nhau và những cơ chế khác nhau Tác dụng của KTTT sẽ là tích cực khi nó tác động cùng chiều với sự vận động của quy luật kinh tế khách quan Trái lại, nếu tác động ngược chiều với những quy luật đó thì nó sẽ là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển sản xuất, cản trở
sự phát triển kinh tế-x1 hội Trong sự tác động đó, chính trị có ảnh hưởng sâu sắc nhất và ngày càng tăng đối với sự phát triển kinh tế Bởi vì, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
2.1.3 Ngành nghề truyền thống
* Khái niệm
- Ngành nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú và đa dạng và tồn tại hàng nghìn đời nay Nhiều mặt hàng nghề truyền thống của ta đ1 từng nổi tiếng trên thế giới từ nhiều thế kỷ Song cho đến nay chưa thấy một định nghĩa chính thống nào về ngành nghề Gần đây một số công trình nghiên cứu về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng như quan điểm của các nhà sử học đều thống nhất cho rằng:
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đ1 xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của đất nước ta, còn tồn tại đến ngày nay bao gồm những ngành nhề tiểu thủ công nghiệp có trước thời Pháp thuộc còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những ngành nghề đ1 cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống
- Ngành nghề mới là những ngành mới xuất hiện do tự nảy sinh hoặc du nhập từ nước ngoài vào nhưng đ1 thể hiện được trình độ và đặc biệt dân tộc Việt Nam
* Phân loại ngành nghề
Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống kinh tế x1 hội, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng đ1 tạo ra nhiều vật liệu mới, sản phẩm mới thay thế những sản phẩm cũ Mặt khác nhu cầu tiêu dùng cũng có biến động nhất định tác động trở lại đối với các ngành,
Trang 18làm cho quá trình sản xuất ngày càng phong phú với những đòi hỏi của thị trường mà trước hết là cơ cấu chủng loại sản phẩm
Từ thực tiễn trên cho thấy tính chất khó khăn và phức tạp trong quá trình phân loại và thống kê các ngành nghề truyền thống Điều đó rất dễ xảy
ra tình trạng đôi khi có nơi thống kê không đúng chủng loại ngành nghề, nhưng cũng có nơi lại bỏ sót
Mặc dù vậy chúng ta có thể phân chia các ngành nghề truyền thống thành các nhóm chính sau đây:
- Nhóm 1: Các mặt hàng sản xuất phục vụ tiêu dùng thông thường gồm: dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ rá, bồ, sọt, thừng ch1o, dệt vải các loại
- Nhóm 2 : Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, sơn mài, thêu, ren, thảm, chạm khắc gỗ, chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại…
- Nhóm 3: Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nề, mộc, rèn, hàn, đúc,…
- Nhóm 4: Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm: làm bún, bánh, đường, mật, làm tương, chế biến hải sản các loại,………
- Nhóm 5: Bao gồm các loại ngành nghề khác
Đối với những ngành nghề được xếp vào ngành nghề thủ công truyền thống nhất thiết phải có các yếu tố sau:
+ Đ1 hình thành, tồn tại và phát triển từ lâu đời ở nước ta
+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề
+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo + Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam
+ Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước là chủ yếu
+ Là nghề nuôi sống một bộ phận dân cư công đồng, đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước
Trang 19+ Sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của người Việt Nam, có giá trị về chất lượng cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật,
mỹ thuật, thậm chí trở thành di sản văn hoá dân tộc, mang bản sắc dân tộc Việt Nam
2.1.4 Làng nghề
* Khái niệm
Làng x1 Việt Nam là nơi sản sinh ra các nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc Qúa trình phát triển của làng nghề là một qúa trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp nông thôn Lúc đầu từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan rộng ra cả làng Lâu nay các quan niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống còn có nhiều ý kiến khác nhau [16]
Quan niệm thứ hai: Làng nghề là cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng là người làm nông nghiệp Nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đ1 tạo những người thợ chuyên môn sản xuất thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề nơi khác Với quan niệm như vậy chưa
Trang 20đủ Không không phải bất cứ làng nào có vài gia đình làm nghề nào đó đều là làng nghề Để xác định làng đó có phải là làng nghề hay không cần xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với thu nhập của làng
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy
tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm là nghề truyền thống lâu
đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá- x1 hội một cách tích cực
Từ cách tiếp cận trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về làng nghề như sau: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng
- Quan niệm về làng nghề truyền thống
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư cư trú trong một phạm vi một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi
Quan niệm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ
Quan niệm thứ ba: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền, nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu
đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cùng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính
Trang 21tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa Đồng thời sản xuất ra những sản phẩm mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh sảo, nổi tiếng, đậm nét văn hoá dân tộc
Nhìn chung các quan điểm về làng nghề truyền thống nói trên chưa đầy
đủ Các quan niệm mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời nhưng chưa
đề cập đến những làng nghề mới nhưng tuân thủ các yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức sau:
+ Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng
+ Giá trị sản xuất và thu nhập từng ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng
+ Sản phẩm làm ra có tính mỹ thuật cao mang đậm nét văn hoá và bản sắc Việt Nam
+ Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
Từ việc tiếp cận trên chúng tôi có định nghĩa về làng nghề truyền thống như sau: Làng nghề truyền thống là làng có một hay nhiều nghề thủ công
được truyền từ đời này qua đời khác không tách khỏi nông nghiệp Có sản xuất tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa, có quy trình công nghệ nhất định
và chủ yếu sống bằng nghề đó Sản phẩm làm ra tinh xảo có tính mỹ thuật nổi trội và trở thành hàng hoá có giá trị cao trên thị trường
Trang 22+ Một số người trong làng có cơ hội giao tiếp, học được nghề và thấy
được cơ hội, lợi thế phát triển nghề đó Sau khi học được họ quay về để sản xuất ở quê mình đ1 đem truyền nghề ở làng
- Các làng nghề được hình thành do yêu cầu bức xúc tại địa phương Trước tình trạng sức ép tăng dân số ngày càng cao làm cho đất nông nghiệp ngày một hẹp dần, lao động dư thừa ngày càng nhiều đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực Một số người có kỹ thuật nhất định bằng những nguyên liệu sẵn có, sáng tạo ra công nghệ sản xuất
và tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho gia đình và những người xung quanh Trong qua trình phát triển yêu cầu của thị trường ngày càng lớn chất lượng đòi hỏi ngày càng cao nên công nghệ ngày càng hoàn thiện và số người làm ngày càng nhiều tiến tới trở thành làng nghề Mặt khác thu nhập từ làm nghề thường cao hơn từ sản xuất nông nghiệp
- Các làng nghề còn được hình thành và phát triển do vị trí giao thông thuận tiện: để chuyên chở nguyên vật liệu, hàng hoá và giao lưu giữa người sản xuất và người tiêu thụ hàng hoá Hầu hết các làng nghề đều nằm ở vị trí giao thông thuận lợi như làng gốm Bát Tràng có cảng trên Sông Hồng và gần
đường quốc lộ 5 quốc lộ 1A và đường 18… Qua tìm hiểu các làng nghề không chỉ có giao thông bên ngoài thuận lợi mà còn hệ thống giao thông trong làng ngày càng đươc mở rộng tạo thuận lợi cho phương tiện hoạt động tốt
- Các làng nghề còn được hình thành và phát triển do nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó ngày càng lớn do đó tạo thành một số làng nghề, nhiều nơi trở thành x1 nghề như nghề đồ gỗ không chỉ có ở Đồng Kỵ
mà mó được lan toả sang các làng nghề xung quanh
- Các làng nghề được hình thành và phát triển còn do chủ chương của Nhà nước Trong quá trình phát triển đất nước do dân số, quá trình đô thị hoá phát triển mạnh và đất nông nghiệp bị thu hẹp, do chuyển đổi kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH, nhu cầu trong nước và xuất khẩu ngày càng
Trang 23lớn Nhà nước có chủ chương xây dựng và hỗ trợ phát triển nghành nghề ở một số địa phương như dệt thổ cẩm ở Bình Định, chế biến dừa ở Bến Tre…
- Ngoài các yếu tố trên còn kể đến tác động của yếu tố thị trường đến việc mở rộng qui mô sản xuất của làng nghề cũ và hình thành làng nghề mới
* Phân loại làng nghề
Cho đến nay ở nông thôn Việt nam có trên 100 ngành nghề khác nhau, mỗi ngành nghề tạo ra hàng chục sản phẩm và mặt hàng khác nhau Do vậy, việc phân loại làng nghề là rất khó khăn và phức tạp Tuỳ từng mục đích nghiên cứu cụ thể mà phân loại làng nghề theo các tiêu thức, cách nhìn khác nhau nhưng nhìn chung khi phân loại làng nghề có tiêu thức sau:
- Theo sự hình thành của làng nghề
+ Làng nghề truyền thống: Là những làng nghề có lịch sử phát triển lâu
đời và truyền lại cho đời sau, trải qua thời gian của lịch sử nó vẫn được bảo tồn gìn giữ và phát triển Sảm phẩm của làng nghề nối tiếng được nhiều người biết đến và được tiêu thụ ở nhiều nơi Làng nghề mang bản sắc dân tộc độc
đáo của địa phương, sảm phẩm chứa đựng cảu yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần Ngày nay ở các làng nghề truyền thống xuất hiện các công cụ sản xuất hiện đại, nhưng lao động thủ công vẫn là chủ yếu
+ Làng nghề mới hình thành: do nhu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao
đới sống trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế sản xuất của địa phương
- Theo sản phẩm sảm xuất ra: Xuất phát từ nhiều yếu tố nguồn nguyên liệu, sản phẩm tạo ra có thể phân làng nghề thành các loại sau:
+ Các nghề sản xuất ra công cụ sản xuất thủ công phục vụ nông nghiệp
và nguyên liệu cho công nghiệp: Bao gồm chế tạo công cụ cho sản xuất nông nghiệp như cày bừa, cuốc, liềm,… Các làng nghề có hầu hết ở các địa phương trên cả nước và có nguy cơ thu hẹp qui mô sản xuất kể cả làng sản xuất thép như Đa Hội, sản xuất đồ điện Quảng Bố – Gia Lương
Trang 24+ Làng nghề sản xuất nông, lâm sản, dược phẩm Nguyên liệu của làng nghề là sảm phẩm chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp như chế biến thực phẩm
và gỗ thông dụng, như bánh bún, rượu, bàn ghế, mây tre đan Vai trò của công nghệ chế biến rất quan trọng và gắn liền với công nghệ bảo quản Sản phẩm rất phong phú đa dạng Việc hình thành nên các làng này là rất khó khăn trước hết là về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, khó khăn nữa là việc đảm bảo nguyên liệu sạch cho sản xuất và công nghệ bảo quản sản phẩm lâu dài
+ Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng: Như làng nghề đúc đồng, sản xuất mặt hàng từ nhựa, từ gỗ, gốm sứ chất lượng sản phẩm trong làng có nhiều cấp độ khác nhau Những mặt hàng chủ yếu tiêu thụ trong nước một số dùng cho xuất khẩu
+ Nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ: chủ yếu sản xuất mặt hàng cao cấp
đòi hỏi trình độ tay nghề tinh xảo như chạm khắc gỗ, khảm trai, đồ trang sức
+ Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng như: sản xuất gạch, ngói, đốt vôi + Các làng nghề thêu, dệt, may
* Bản chất của làng nghề trong nông thôn
Các nghề thủ công ra đời trên cơ sở phục vụ nông nghiệp, nó tồn tại gắn liền với nông nghiệp và phục vụ trực tiếp cho đời sống nông thôn một cách kịp thời và chặt chẽ Người nông dân và người thợ thủ công nhiều khi thống nhất với nhau trong một con người sau luỹ tre xanh của nông thôn Việt Nam Trong mỗi nghề thủ công chúng ta nhận thấy rằng không ít sự gắn bó của một nghề với nhiều nghề, gắn bó nghề thủ công với nghề nông Những thành tựu và tiến
Trang 25bộ của nghề này là cơ sở thúc đẩy của nghề kia, thành phần của nghề này là nguyên vật liệu sản xuất của nghề khác Lao động ngành nghề phẩn lớn là sủ dụng lao động của nông nghiệp nhàn rỗi tại chỗ Khắp mọi nơi trong nông thôn Việt Nam đều chứa nguồn tài nguyên phong phú để có thể là nguyên liệu cho các ngành, các nghề tiểu thủ công nghiệp tương ứng và cũng chính ở đây tiêu thụ sản phẩm của làng nghề
Phần lớn làng nghề thường chuyên sâu vào một nghề với nghệ nhân, thợ cả có kỹ thuật có bí quyết nghề nghiệp tạo ưu thế cạnh tranh với số sản phẩm phi nông nghiệp ở nông thôn, bằng nguồn vốn và lao động của nông dân trước hết là phục vụ đời sống trong phạm vi địa phương sau đó mới bán ra ngoài và xuất khẩu
Làng nghề truyền thống xưa nay mang tính chất phường hội, các bí quyết kỹ thuật sản xuất được bảo vệ và giữ gìn truyền lại cho đời sau theo huyết thống và thân tộc Ngày nay ta gọi làng nghề chuyên môn một nghề nào
đó, chúng hình thành và phát triển dẫn tới sự phân công lao động trong một chừng mực nhất định
2.2 Quan điểm của một số nhà kinh tế về phát triển làng nghề
Làng nghề là một mô hình kinh tế đặc biệt và là một bộ phận cấu thành
sự phát triển kinh tế ở nông thôn Việt Nam hiện nay Phát triển làng nghề là một trong những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn Mặc dù tồn tại lâu đời, qua sự thăng trầm của nền kinh tế đất nước Hiện nay làng nghề đang dần trở lại vị trí của nó trong nền kinh tế của đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng, đang là vấn đề được nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu để phát triển
Theo Nguyễn Ngọc Dũng: (1997), “ Phát triển làng nghề là bảo tồn văn hoá tộc Bảo vệ truyền thống không phải chỉ là nhiệm vụ lưu trữ các sản phẩm
Trang 26truyền thống trong bảo tàng mà quan trọng hơn là bảo tồn tay nghề cho các nghệ nhân”[6]
Theo ông Lưu Duy Dần (1997) cho rằng “ Trong quá trình CNH-HĐH nông thôn chúng ta không thể xem nhẹ vai trò của nghề truyền thống, của làng nghề mà ngược lại phải có sự đầu tư, có chính sách cụ thể khuyến khích
và hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để những người thợ có bàn tay vàng sáng tạo đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và thế giới Có được những sản phẩm của làng nghề độc đáo, tinh xảo, chất lượng cao chính là góp phần vào công cuộc CNH- HĐH nông thôn và giữ gìn bản sắc dân tộc”[5]
Nguyễn Huy Oánh (1998)cho rằng: “ Việc phát triển làng nghề là một nội dung quan trọng trong quá trình CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn Nó klhông chỉ là việc của bản thân các làng nghề mà là sự nghiệp chung của con
đường CNH-HĐH đất nước Vì vậy đòi hỏi mọi ngành cần quan tâm đúng mức
và có những biện pháp thúc đẩy mạnh nhanh chóng, có hiệu quả”[21]
Như vậy, qua một số ý kiến của các nhà kinh tế về phát triển làng nghề như trên cho thấy việc phát triển làng nghề nằm trong sự phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá công nghiệp nông thôn, là vấn đề cần được quân tâm của mọi cấp mọi ngành nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng và đất nước nói chung đồng thời giữ gìn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc
2.3 Đặc điểm của làng nghề
2.3.1 Nguồn nguyên liệu cho làng nghề
Nguyên liệu là một trong yếu tố quan trọng để phát triển do đó phần lớn những làng nghề đều tồn tại và phát triển ở những nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào Trong mọi qúa trình sản xuất, nguồn nguyên liệu đều là yếu tố xuất phát ban đầu cho sự phát triển như nghề chiếu cói nổi tiếng Kim Sơn - Ninh Bình là vùng trồng cói chủ yếu của nước ta; nghề đúc ngói Hương Canh, ngói Hạ Long Trong thời đại ngày nay do điều kiện giao thông và phương tiện
Trang 27khó khăn, nguồn nguyên liệu tại chỗ cạn kiệt do vậy nguyên liệu phải nhập cách xa so với làng nghề nhưng nghề vẫn phát triển, điển hình là hàng thủ công mỹ nghệ
2.3.2 Kỹ thuật công nghệ trong làng nghề
Hầu hết các làng nghề Việt Nam bây giờ vẫn sử dụng công nghệ thủ công và thô sơ, kỹ thuật qua kinh nghiệm nhiều đời và sáng tạo thực tế Do đó, cùng một nghề trong mỗi làng, mỗi địa phương mỗi nghệ nhân có một kỹ thuật và kinh nghiệm riêng và tạo ra sản phẩm mang tính văn hoá nghệ thuật dân tộc ví dụ như gốm Bát Tràng khác với gốm Đông Triều…
Tuy nhiên trong những năm gần đây do công cuộc đổi mới của đất nước theo hướng CNH- HĐH một số khâu được cơ giới hoá, sức lao động thủ công
được giảm nhưng một số công đoạn vẫn phải nhờ vào bàn tay khéo léo kỹ thuật tinh xảo thủ công của thợ cả và nghệ nhân
2.3.3 Lao động trong làng nghề
Làng nghề là một yếu tố không thể tách rời với nông nghiệp nông thôn
Do đó, lao động ngành nghề phần lớn là lao động nông nhàn với quy mô sản xuất nhỏ hộ gia đình Do nhu cầu phát triển của làng nghề ngày càng lớn nên lao động dần dần mở rộng ra khỏi phạm vi hộ gia đình và một phần thuê ngoài 2.3.4 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm trong làng nghề
Sản phẩm làng nghề mang tính đơn chiếc, nó là một tác phẩm nghệ thuật Do vậy quá trính sản xuất phải thuân thủ tính truyền thống và tính mỹ thuật cao Sản phẩm của làng nghề là kết tinh tinh hoa, tâm hồn của những người thợ và chứa đựng tâm hồn bản sắc của dân tộc mà những công nghệ máy móc hiện đại không tạo ra được Nó vừa là vật tiêu dùng vừa là đồ dùng trang trí sang trọng như chạm khắc gỗ, sảm phẩm từ gốm sứ…
Thị trường tiêu thụ của sản phẩm làng nghề rất phong phú và đa dạng Sản phẩm được tiêu thụ ở mọi nơi trong nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
Trang 28mọi cá nhân, mọi lình vực, đặc biệt có sản phẩm có giá trị cao được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới
2.3.5 Tổ chức sản xuất kinh doanh trong làng nghề
Qua tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy, hiện nay làng nghề Việt Nam được tổ chức sản xuất dưới hình thức hộ gia đình là chủ yếu Ngoài ra ở một số nơi đ1 xuất hiện hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, tổ hợp, hợp tác x1 sản xuất
2.4 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển nông thôn
- Làng nghề gúp phần thỳc ủẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nụng nghiệp, nụng thụn theo hướng cụng nghiệp hoỏ, hiện ủại hoỏ Nú gúp phần tăng tỷ trọng của cụng nghiệp, tiểu thủ cụng nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng nụng nghiệp giảm dần một cỏch tương ứng, chuyển lao ủộng (cú tớnh chất mựa vụ) từ sản xuất nụng nghiệp cú thu nhập thấp sang ngành nghề phi nụng nghiệp cú thu nhập cao hơn Trong thực tế, sự ra ủời và phỏt triển của cỏc làng nghề ủó làm biến ủổi sõu sắc cơ cấu kinh tế nụng thụn ðiều ủú cú nghĩa là ở nụng thụn khi nghề thủ cụng xuất hiện thỡ kinh tế nụng thụn khụng chỉ cú ngành nụng nghiệp thuần nhất, mà bờn cạnh ủú cũn cú cỏc ngành tiểu thủ cụng nghiệp, ngành thương mại và dịch vụ cựng tồn tại và phỏt triển
Trờn gúc ủộ phõn cụng lao ủộng thỡ làng nghề cú tỏc ủộng rất tớch cực tới sản xuất nụng nghiệp Nú khụng chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho nụng nghiệp mà nú cũn cú tỏc dụng chuyển dịch sõu sắc cơ cấu kinh tế nụng nghiệp Chẳng hạn, ngành chế biến lương thực, thực phẩm phỏt triển thỡ yờu cầu nguyờn liệu từ nụng nghiệp phải nhiều hơn, ủa dạng hơn và chất lượng cao hơn Vỡ vậy, trong nụng nghiệp hỡnh thành những khu vực nụng nghiệp chuyờn mụn hoỏ, ứng dụng tiến bộ khoa học cụng nghệ, tạo ra năng suất lao ủộng cao và nhiều sản phẩm hàng hoỏ ðồng thời, người nụng dõn trước yờu cầu tăng lờn của sản xuất sẽ tự thấy nờn ủầu tư vào lĩnh vực nào là cú lợi
Trang 29nhất (không xét tới cạnh tranh giữa các ngành và trong nội bộ ngành nông nghiệp) Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ñã ñược thực hiện dưới tác ñộng của sản xuất và nhu cầu thị trường
Sản xuất phi nông nghiệp ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp Người lao ñộng từng bước tiếp cận với nền kinh tế thị trường và chuyển sang ñầu tư vào các ngành, nghề phi nông nghiệp, ñặc biệt là các ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ðiều ñó có nghĩa là khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại, khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ñược tăng lên Sự phát triển này ñã khẳng ñịnh một hướng ñi ñúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế phi nông nghiệp cho những vùng thuần nông trước ñây chỉ chuyên trồng trọt và chăn nuôi Ở ñây, không có nghĩa khi khu vực sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp thì sản lượng hàng hoá nông sản sẽ giảm và giá cả hàng hoá thiết yếu tăng, vì khi áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm năng suất tăng lên (không xét tới ảnh hưởng của quy luật lợi suất giảm dần) và vẫn ñảm bảo an ninh lương thực Thực tế ñã chứng minh rằng, hiện nay diện tích ñất canh tác có xu hướng giảm, nhưng tổng sản lượng lương thực vẫn tăng lên Các làng nghề phát triển ñã tạo cơ hội cho hoạt ñộng dịch vụ ở nông thôn mở rộng qui mô và ñịa bàn hoạt ñộng, thu hút nhiều lao ñộng và tăng thu nhập cá nhân Sản xuất trong các làng nghề
là một quá trình liên tục, vì vậy ñòi hỏi dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm phải thường xuyên Do ñó, dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú, ña dạng Như vậy, sự phát triển làng nghề có tác dụng quan trọng ñối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện ñại hoá
- Hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh của các làng nghề làm tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế Phát triển làng nghề có ý nghĩa rất
Trang 30quan trọng ñối với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Với qui mô nhỏ bé ñược phân bố rộng khắp ở các vùng nông thôn nhưng hàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá to lớn, ñóng góp ñáng kể cho nền kinh tế nói chung và cho từng ñịa phương nói riêng Sản phẩm của các làng nghề là nhân tố quan trọng thúc ñẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn Thực tế cho thấy ở ñịa phương nào có nhiều làng nghề thì ở ñó kinh tế hàng hoá phát triển
- Làng nghề góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, tận dụng thời gian
và lực lượng lao ñộng ở nông thôn Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn là vấn ñề bức xúc ở nước ta hiện nay Bởi lao ñộng nông nghiệp chiếm khoảng 70% lao ñộng của cả nước, diện tích ñất canh tác bình quân ñầu người thấp, người nông dân chỉ sử dụng khoảng 67% thời gian làm nông nghiệp Vì vậy, tình trạng thiếu việc làm là phổ biến Với vai trò ñặc biệt, làng nghề ñã tạo ñược một khối lượng lớn công việc, thu hút nhiều lao ñộng ở nông thôn Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm cho người lao ñộng không những cho riêng làng ñó mà còn cho dân cư của làng khác ñến làm thuê
Sự phát triển của làng nghề kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, tạo ra nhiều việc làm cho người lao ñộng Bởi vì, khi phát triển làng nghề, ñưa những nghề thủ công nghiệp vào các vùng nông thôn sẽ tạo ñiều kiện cho các ngành nghề khác phát triển hơn Chẳng hạn như ngành chế biến lương thực, thực phẩm phát triển sẽ tạo ñiều kiện cho ngành cơ khí chế tạo công cụ, ngành chăn nuôi phát triển; ngành tái chế nguyên vật liệu phát triển ñã tạo ñiều kiện cho mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển và nó còn có tác dụng làm sạch môi trường…
Do ñặc ñiểm sản xuất của các làng nghề hiện nay ở qui mô hộ gia ñình
là chủ yếu, ñồng thời nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao ñộng
Trang 31nên có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao ñộng, từ lao ñộng thời
vụ, nông nhàn ñến lao ñộng trên hay dưới ñộ tuổi lao ñộng vào quá trình sản xuất Lực lượng lao ñộng này chiếm một tỷ lệ rất ñáng kể trong tổng số lao ñộng làng nghề
+ Làng nghề góp phần thu hút vốn nhàn rỗi Qui mô các cơ sở kinh tế trong các làng nghề chủ yếu là hộ gia ñình và ñang hình thành một số doanh nghiệp vừa và nhỏ, cực nhỏ ðồng thời, hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề ñều dành một phần diện tích nhà ở của gia ñình làm nơi sản xuất, kinh doanh, nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công nhỏ, thô
sơ cho nên mức ñầu tư cho một lao ñộng và qui mô vốn cho một cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề không nhiều Vì vậy, cách tổ chức này rất phù hợp với khả năng huy ñộng vốn và các nguồn lực vật chất của các
hộ gia ñình Vốn ñầu tư không lớn, trong ñiều kiện hiện nay thì ñó là một lợi thế ñể các làng nghề có thể huy ñộng các loại vốn nhàn rỗi nhỏ trong dân vào hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh
+ Làng nghề góp phần cải thiện ñời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới Việc cải thiện và nâng cao ñời sống nhân dân chỉ có thể thực hiện ñược trên cơ sở ổn ñịnh việc làm và nâng cao thu nhập Ở nông thôn, vấn ñề này ñược phản ánh rất rõ thông qua tác ñộng của phát triển làng nghề Những vùng có làng nghề phát triển ñều thể hiện sự văn minh giàu có, dân trí cao hơn hẳn những vùng thuần nông Ở các làng nghề, tỷ lệ hộ khá và giàu khá cao, tỷ lệ hộ nghèo thấp và hầu như không có hộ ñói Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập, ñã ñem lại cho người dân các làng nghề một cuộc sống ñầy ñủ, phong lưu hơn cả về vật chất lẫn tinh thần, số hộ có nhà cao tầng, các loại ñồ dùng tiện nghi ñắt tiền chiếm tỷ
lệ khá Chẳng hạn như ở khu công nghiệp làng nghề Phong Khê - Bắc Ninh
số hộ giàu chiếm 50%, số hộ có xe ô tô chiếm 30%, số hộ có xe máy chiếm 90% tổng số hộ; ở làng nghề Bát Tràng - Hà Nội mức thu nhập bình quân
Trang 32của các hộ khoảng 50 triệu ñồng/năm chiÕm trªn 60%, còn các hộ có thu nhập cao thì ñạt tới hàng trăm triệu ñồng/năm…Phát triển làng nghề sẽ góp phần tăng thu nhập của người dân ñồng thời tạo ra nguồn tích luỹ khá lớn và
ổn ñịnh cho ngân sách ñịa phương cũng như các hộ gia ñình Vì vậy, nguồn vốn ñể xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ñược huy ñộng từ sự ñóng góp của người dân tại các ñịa phương này khác hẳn với các ñịa phương không
có nghề Ở làng nghề, ñặc biệt là các làng nghề vùng ñồng bằng sông Hồng, gần như 100% ñường làng, ngõ xóm ñều ñược bê tông hoá hoặc lát gạch hoặc trải xỉ vôi Các ñịa phương này ñều có trường mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở khang trang Hệ thống ñiện nước ñược cải tạo và nâng cấp ðời sống vật chất, tinh thần của người dân ñược cải thiện và từng bước nâng cao Sức mua của người dân có xu hướng tăng, góp phần tạo thị trường sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ phát triển Thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị
và nông thôn và góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện ñại hoá
Vai trò to lớn của làng nghề ñã rõ, nhưng hiện nay việc phát triển làng nghề, còn bộc lộ một số bất cập như thị trường của làng nghề chưa ổn ñịnh, sản phẩm còn mang tính thủ công Quá trình sản xuất, tiêu thụ còn mang tính
tự phát và chưa dự báo tốt ñược nhu cầu của thị trường Công nghệ nhìn chung còn lạc hậu, một số làng nghề ñã ñầu tư thiết bị mới nhưng chưa phải
là tiên tiến và tốn nhiều năng lượng Môi trường sinh thái của một số làng nghề bị ô nhiễm nặng Thiếu vốn ñể ñổi mới công nghệ vẫn là bức xúc của các làng nghề cũng như thiếu lao ñộng có kỹ thuật cao, lao ñộng có ñủ trình
ñộ quản lý…Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện ñại hoá nông nghiệp, nông thôn, ñể khôi phục và phát triển làng nghề ñòi hỏi các cấp chính quyền phải nhận thức ñúng ñắn về tầm quan trọng của làng nghề; kịp thời có những biện pháp hỗ trợ các làng nghề phát triển phù hợp với ñặc ñiểm từng ñịa phương cũng như yêu cầu của thị trường
Trang 332.5 Sự tất yếu của phát triển làng nghề
2.5.1 Phát triển làng nghề gắn liền với sự hợp tác và phân công lao động xã hội
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế lúc đầu lực lượng sản xuất chưa phát triển, sản xuất công nghiệp tiêu thủ công nghiệp gắn liền với sản xuất nông nghiệp Khi đó nông dân tự tạo ra công cụ lao động để sản xuất, Lê nin cho rằng: “ Công nghiệp gia đình là cái phụ thuộc tất nhiên của nền kinh
tế tự nhiên mà những tàn dư hầu như luôn luôn vẫn rớt lại ở những nơi có tiểu nông và đứng về mặt nghề nghiệp thì công nghiệp vẫn tồn tại dưới hình thức
đó, ở đây thủ công và nông nghiệp chỉ là một mà thôi”[25] Khi khối lượng sản xuất phát triển thì sự phân công lao động x1 hội phát triển
Phân công lao động theo hướng hợp tác giản đơn không còn phù hợp nữa dần dần nhường chỗ cho sự phân công lao động trong công trường thủ công Đây là một bước tiến của nền sản xuất x1 hội, nó cho phép sử dụng được lao động nhiều hơn việc tổ chức phân công và hợp tác lao động được tiến hành tốt hơn, hợp lý hơn, cho phép ứng dụng các tiến bộ công nghệ vào sản xuất nhanh hơn Lênin viết : “ Đặc điểm của tiểu sản xuất hàng hoá là kỹ thuật thủ công hoàn toàn nguyên thuỷ từ xưa đến này kỹ thuật vẫn không thay đổi Người làm nghề thủ công vẫn là người dân, hộ chế biến nguyên liệu theo phương pháp truyền thống Công trường thủ công áp dụng lối phân công lao
động, do đó kỹ thuật được cải tiến, về căn bản nông dân biến thành người thợ, thành công nhân sản xuất bộ phận”[27]
Như vậy, quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là quá trình phát triển các làng nghề truyền thống Thực chất các làng nghề là các làng thủ công truyền thống kết hợp với sản xuất nông nghiệp và trên cơ sở nông nghiệp,
sự phát triển đó gắn liền với sự hợp tác và phân công lao động x1 hội
2.5.2 Làng nghề truyền thống trong quá trình hình thành và phát triển nền đại công nghiệp cơ khí
Đại công nghiệp cơ khí đ1 có tác dụng chủ yếu làm cho năng suất lao
động x1 hội tăng vọt Nó thúc đẩy sự ra đời trung tâm công nghiệp và những
Trang 34đô thị lớn, đồng thời tạo ra tiền đề vật chất kỹ thuật và x1 hội cho một hình thái kinh tế x1 hội cao
Với sự phát triển của máy móc kỹ thuật thay đổi căn bản hiện nay làm cho phân công lao động trực tiếp phát triển, có thêm nhiều ngành nghề mới, mối quan hệ trao đổi ngày càng đa dạng phức tạp Sự phân công lao động x1 hội phát triển đến mức nào đó thì mới tạo ra tiền đề cho máy móc ra đời Sự phân công lao động của công trường đ1 tạo ra những người thợ khéo léo, lành nghề và như vậy đ1 đẩy nhanh quá trình phát triển của nền công nghiệp đại cơ khí
Mặc dù sản xuất bằng máy móc ra đời dần dần thay thế lao động thủ công nhưng không vì thế mà nghề thủ công mất đi, mà trái lại đ1 thúc đẩy một số nghề thủ công phát triển Bên cạnh đó có những ngành nghề nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật đ1 làm cho thay đổi công nghệ sản xuất hoặc hình thành công nghệ sản xuất mới Nhiều làng nghề trở thành vệ tinh hoặc làm gia công cho công nghiệp lớn ở thành thị Lênin khẳng định:
“Chỉ có đại công nghiệp cơ khí mới tiến hành thay đổi triệt để, gạt bỏ kỹ thuật thủ công cải tạo cơ sở mới, hợp lý, vận dụng một cách có hệ thống tri thức khoa học sản xuất”[28]
Khi nền công nghiệp phát triển đến giai đoạn công nghiệp cơ khí trong nhiều trường hợp làng nghề truyền thống không những không mất đi vai trò và vị thế mà còn phát huy được ưu thế sơ với xí nghiệp lớn Vì trong diều kiện của Việt nam, nguồn nguyên liệu phân tán, lao động nhàn rỗi ở nông thôn nhiều, thu nhập dân cư thấp, giao thông đi lại khó khăn thì hoạt động của làng nghề là rất phù hợp Hơn nữa hoạt động của làng nghề trong hộ gia đình rất cần thiết, vừa giải quyết việc làm, vừa tận dụng tiềm năng sẵn có của địa phương, tạo ra của cải cho x1 hội
Tóm lại, nghề thủ công hay làng nghề truyền thống không những tồn tại và phát triển trong nền sản xuất nhỏ mà nó tồn tại và phát triển trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại
Trang 352.5.3 Làng nghề truyền thống trong tiến trình phát triển của khoa học công nghệ hiện đại
Trong điều kiện hiện nay, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển như vũ b1o tác động mạnh mẽ vào quá trình CNH- HĐH và quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta Việc kết hợp chặt chẽ công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại nhằm phát triển nhanh chóng công nghiệp ở nông thôn có ý nghĩa chiến lược trong quá trình CHN- HĐH nông nghiệp nông thôn Chúng
ta tận dụng cơ hội này để khôi phục bảo tồn gìn giữ thúc đẩy sự phát triển làng nghề truyền thống cũng như xây dựng các làng nghề mới dựa trên các ngành nghề truyền thống Một mặt giữ gìn giá trị văn hoá dân tộc Mặt khác đáp ứng yêu cầu chuyên môn hoá, phân công hợp tác với công nghiệp lớn để sản xuất các chi tiết sản phẩm hoặc sản xuất những sản phẩm có khối lượng ít, tinh xảo
mà đại công nghiệp làm kém hiệu quả hơn Vì vậy phát triển làng nghề vừa phải tuân thủ theo quy luật đi từ thô sơ đến hiện đại, từ kỹ thuật thấp đến kỹ thuật cao vừa có sự phát triển nhảy vọt, tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển một số ngành nghề quan trọng
2.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề
Sự phát triển của làng nghề chịu sự ảnh hương của rất nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố chủ yếu sau:
2.6.1 Vốn đầu tư cho sản xuất
Vốn là một trong những yếu tố căn bản quan trọng không thể thiếu trong mọi quá trình sản xuất Thế nhưng trong điệu kiện hiện nay nhiều nghề thủ công gặp rất nhiều khó khăn về vốn cho quá trình mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, thuê nhân công lao động, dẫn đến việc tổ chức sản xuất kinh doanh kém hiệu quả kéo theo một số làng không giữ được nghề
2.6.2 Nguồn nguyên liệu
Hiện nay sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiêu tốn nhiều nguyên liệu,
đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng nguyên liệu, do vậy, khả năng cung cấp nguyên liệu ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của làng nghề Việc tổ chức
Trang 36sản xuất trong làng nghề như thế nào để sử dụng tiết kiệm hợp lý, hiệu quả
là một vấn đề cần quan tâm giải quyếtt thường xuyên
2.6.3 Trang thiết bị, công nghệ sản xuất trong làng nghề
Công nghệ trong làng nghề là một yếu tố quan trọng có tính bí quyết gia truyền, mang tính bảo thủ cao Nhìn chung công cụ trang thiết bị khá
đơn giản so với nhiều ngành ví dụ như nghề đan lát chế biến sản phẩm từ nông nghiệp…, dẫn đến năng suất lao động rất thấp nhưng vẫn đảm bảo cho
sự nguyên vẹn giá trị tinh thần của sản phẩm Trong điều kiện cách mạng công nghệ kỹ thuật phát triển hiện đại việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất một số khâu hoặc nhiều khâu là việc làm rất cần thiết giúp cho làng nghề hạ giá thành, hạ giá bán nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường
2.6.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường là một yếu tố quyết định sự tồn tại của sản phẩm của do đó chi phối đến sự tồn tại và phát triển làng nghề Trong thời đại hiện nay, thị trường của làng nghề chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là thị trường vật tư dịch vụ và thị trường sản phẩm hàng hoá, đó là hạn chế rất lớn nhất của làng nghề hiện nay Mặc dù đ1 hình thành và tồn tại rất lâu ở nông thôn nhưng thị trường của làng nghề phát triển rất chậm mang tính chất phân tán nhỏ lẻ và sức mua hạn chế
Thị trường tiêu thụ chủ yếu là tiêu thụ tại chỗ, phương thức thanh toán chủ yếu là bán chịu, thanh toán một phần tạo nên rủi ro rất lớn Mặt khác do
đặc thù của sản phẩm làng nghề và sự cạnh tranh trên thị trường khốc liệt làm cho không ít sản phẩm của làng nghề ứ đọng Nguyên nhân là mẫu m1 ít thay
đổi, hàng hoá kém chất lượng giá cả hàng hoá lên xuống thất thường
Làng nghề và chủ cơ sở làm nghề thiếu thông tin về thị trường đặc biệt trong giai đoạn hiên nay khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hàng hoá của các nước trên thế giới tràn vào với chất lượng cao, mẫu m1 đẹp, giá rẻ Do vậy
Trang 37sản phẩm của các làng nghề không canh tranh nổi và có nguy cơ thu hẹp thị trường, sản xuất bị đình đốn, quy mô sản xuất bị thu hẹp dần
2.6.5 Chính sách
Ngành nghề là một trong những bộ phận cấu thành kinh tế, có đóng góp
đáng kể cho đời sống kinh tế x1 hội của nông thôn Trong những năm gần đây
Đảng và Nhà nước đ1 có hàng loạt chính sách có tác động đến sự phát triển của làng nghề Với chương trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn vai trò chỉ đạo của các cơ quan Nhà nước là rất quan trọng trong việc bảo đảm sự sống của ngành nghề
ở thị trấn, thị tứ ở nông thôn để làm vệ tinh cho những xí nghiệp lớn ở đô thị
Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của Nhật Bản bao gồm: Chế biến lương thực, thực phẩm, đan lát, dệt chiếu, thủ công mỹ nghệ, dệt lụa và rèn nông cụ…,
Điều đáng chú ý là công nghệ chế tạo nông cụ của Nhật từ thủ công dần dần
được hiện đại hoá với các máy gia công tiến bộ và kỹ thuật tiên tiến Thị trấn Takêô có trung tâm nghiên cứu mẫu m1 và chất lượng công cụ với đầy đủ thiết
bị đo lường hiện đại theo tiêu chuẩn quốc gia Mặc dù hiện nay Nhật Bản đ1 trang bị đầy đủ máy móc nông nghiệp và đạt trình độ cơ giới hoá các khâu canh tác dưới 95% nhưng nghề sản xuất nông cụ cũng không giảm sút nhiều Nông
cụ của Nhật Bản với chất lượng tốt, mẫu m1 đẹp, không chỉ được tiêu thụ ở trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài
Trang 38Vào những năm 70 thế kỷ 20 ở tỉnh Ôita (miền Tây Nam Nhật Bản) đ1
có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triển ngành nghề cổ truyền trong nông thôn, do đích thân ông tỉnh trưởng phát động và tổ chức Kết quả cho thấy, ngay những năm đầu tiên họ đ1 sản xuất được 143 loại sản phẩm, thu được 1,2 tỷ USD trong đó 378 triệu USD thu từ bán rượu đặc sản Sakê của địa phương, 114 triệu USD thu từ bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào phát triển ngành nghề cổ truyền “mỗi thôn làng một sản phẩm” đ1 nhanh chóng lan rộng ra khắp nước Nhật [10]
* Hàn Quốc
Sau chiến tranh, Chính phủ Hàn Quốc đ1 chú trọng đến công nghiệp hoá nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống
Đây là một chiến lược quan trọng để phát triển nông thôn Các mặt hàng
được tập trung sản xuất là hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch và xuất khẩu, đồng thời tập trung chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền
Ngành nghề thủ công truyền thống được phát triển rộng khắp từ những năm 1970 đến 1980, đ1 xuất hiện 908 xưởng thủ công dân tộc chiếm 2,9% các
xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23.000 lao động, hoạt động theo hình thức sản xuất tại gia là chính Đây là loại hình nông thôn với 79,4% dựa vào các hộ gia
đình riêng biệt, sử dụng nguyên vật liệu địa phương và bí quyết truyền thống
Để phát triển công nghiệp thủ công truyền thống, Chính phủ đ1 thành lập 95 h1ng thương mại về những mặt hàng này Tương lai của các nghề thủ công truyền thống còn đầy hứa hẹn do nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm dân gian bắt
đầu tăng Qua đây có thể đánh giá được hiệu quả lao động của chương trình ngành nghề thủ công truyền thống là rất thiết thực [7]
* Trung Quốc
Nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và rất nổi tiếng như đồ gốm, dệt vải, dệt tơ lụa, luyện kim, nghề làm giấy Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc có
Trang 39khoảng 10 triệu thợ thủ công, làm việc trong các hộ gia đình, trong phường nghề và làng nghề Đến năm 1954 số người làm nghề tiểu thủ công nghiệp
được tổ chức vào hợp tác x1 Sau này phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn
và cho đến nay vẫn còn tồn tại ở một số địa phương
Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, thương nghiệp, xây dựng, vv… hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệp
“Hương Trấn” phát triển mạnh mẽ đ1 góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn Những năm 80, các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp cá thể tạo ra có phần đóng góp đáng kể từ làng nghề Trong các hàng thủ công xuất khẩu, hàng thảm có vị trí đáng kể (chiếm 75% số lượng thảm ở thị trường Nhật) [14]
- Kế hoạch 5 năm lần thứ ba: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan để quản lý, chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư thiết bị, tiêu thụ sản phẩm
Chính phủ Inđônêxia đ1 đứng ra tổ chức một số trung tâm trợ giúp công nghiệp nhỏ, đề ra các chính sách khuyến khích hỗ trợ công nghiệp nhỏ phát triển; trong đó chú ý đến chính sách khuyến khích về thuế và ưu tiên công nghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu Sự nỗ lực của Chính phủ trong việc
Trang 40phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đ1 đem lại hiệu quả thiết thực ở đảo Java, số liệu điều tra 10 làng nghề thủ công cho thấy 44% lao động nông thôn có tham gia ít hoặc nhiều vào hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp (19% làm ở các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và 16% làm các dịch vụ nông thôn) Thu nhập của nông dân ở đây từ nguồn ngoài nông nghiệp trong những năm gần đây tăng từ 12% lên 23% tổng thu nhập [11]
Các ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm được chú ý hơn cả để tập trung và xuất khẩu Chẳng hạn, nghề chế biến NATA – nước dừa tinh khiết,
là món ăn lâu đời của người dân Cả nước có khoảng 300 gia đình chế biến NATA cung cấp cho Công ty thực phẩm Inter Food để xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cổ truyền này năm 1993 là 14 triệu USD trong đó 85% xuất khẩu sang Nhật Bản [12]