LỜI NÓI ĐẦU Thế giới ngày càng phát triển đưa con nguời đến những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật và công nghệ nhưng cũng làm con người phải đối mặt với những vớinhững thách thức mới.Mộ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới ngày càng phát triển đưa con nguời đến những tiến bộ mới về khoa học
kỹ thuật và công nghệ nhưng cũng làm con người phải đối mặt với những vớinhững thách thức mới.Một trong những thách thức lớn mang tính toàn cầu đó làthách thức về môi trường.Thế giới ngày càng phát triển nhưng sự phối hợp quản lýmôi trường ở qui mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế xãhội.Những thành quả về môi trường thu được nhờ công nghệ và những chính sáchmới đang không theo kịp nhịp độ và qui mô gia tăng dân số và phát triển kinhtế.Thách thức về môi trường thể hiện ở:
Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng ;
Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần suất thiên tai gia tăng;
Sự suy giảm tầng ozon;
Tài nguyên bị suy thoái ;
Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở qui mô rộng và ngày càng nghiêm trọng;
Sự gia tăng dân số mạnh mẽ ;
Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên trái đất
Trong đó hiệu ứng nhà kính là một vấn đề nóng bỏng,thực trạng cứ tiếp diễn sẽảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng tới tất cả các quốc gia
Bài tiểu luận này em sẽ tìm hiểu về hiệu ứng nhà kính.Qua đó để giúp em hiểubiết hơn về hiệu ứng nhà kính,những nguyên nhân gây nên hiệu ứng nhà kính,nó
có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường,cuộc sống của con người và phản ứngcủa thế giới cũng như Việt Nam đối với vấn đề này
Bài tiểu luận gồm 4 phần: Phần 1: Hiệu ứng nhà kính là gì?;
Phần2: Nguyên nhân gây nên hiệu ứng nhà kính; Phần3: Những ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính; Phần 4: Các giải pháp giảm thiểu hiệu ứng nhà kính.Tuy đã cố gắng nhưng chắc chắn bài viết vẫn còn nhiều thiếu sót,em rất mong được sự chỉ dẫn thêm của thầy để bài viết được hoàn thiện hơn!
Trang 2PHẦN 1
Hiệu ứng nhà kính là gì?
Theo một nghĩa hẹp cụ thể, hiệu ứng nhà kính là hiện tượng làm cho nhiệt độ củakhông gian bên trong của một nhà trồng cây làm bằng kính tăng lên khi Mặt Trờichiếu vào Nhờ vào sức ấm này mà cây có thể phát triển mạnh,đâm chồi, ra hoa vàkết trái sớm hơn Nhà kính hoạt động bằng cách hấp thu sức nóng của mặt trời.Những tấm thủy tinh của nhà kính sẽ cho ánh sáng đi qua và giữ lại sức nóng củachúng thoát ra Bởi lý do đó nên nhà kính nóng lên, giống như là bên trong củachiếc xe ô tô để dưới ánh sáng mặt trời, và giữ cho thực vật đủ ấm để sống vàomùa đông Hiệu ứng này đã được sử dụng từ lâu trong các nhà kính trồngcây.Ngoài ra hiệu ứng nhà kính còn được sử dụng trong kiến trúc, dùng năng lượngmặt trời một cách thụ động để tiết kiệm chất đốt sưởi ấm nhà ở
Ngày nay người ta hiểu khái niệm này rộng hơn,xuất phát từ khái niệm đó để miêu
tả hiện tượng nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển của Trái Đất được Mặt Trời chiếusáng là hiệu ứng nhà kính khí quyển
Trang 3Như chúng ta đã biết,trái đất tiếp nhận năng lượng từ vũ trụ,chủ yếu là nănglượng mặt trời.Theo tính toán,dòng năng lượng đến từ mặt trời ở tầng cao khíquyển là 2 cal ∕cm 2 phút nhưng 30-40% bị khí quyển phản xạ vào vũ trụ,60-70% bịkhí quyển hấp thụ.Hàng năm trái đất nhận được 1,4.10 13 kcal năng lượng mặttrời,khoảng 1-2% số lượng đó ứng với bước sóng 6700-7000 A o được cây xanh sửdụng để tạo sinh khối.Trái đất trả lại vũ trụ một phần năng lượng từ mặt trời dướidạng bức xạ nhiệt sóng dài.Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo thành bởi sự cânbằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và năng lượng bức xạ nhiệt củamặt đất phản xạ vào khí quyển.Bức xạ mặt trời là bức xạ ngắn nên dễ dàng xuyênqua các lớp khí CO2 và tầng ozon rồi xuống mặt đất.Ngược lại,bức xạ nhiệt từ mặtđất phản xạ vào khí quyển là bức xạ sóng dài,nó không có khả năng xuyên qua cáclớp khí CO2 và lại bị các khí nhà kính hấp thụ,do đó nhiệt độ của khí quyển baoquanh trái đất sẽ tăng lên làm tăng nhiệt độ bề mặt trái đất.Như vậy,kết quả của sựtrao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xungquanh,dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất.Hiện tượng này diễn ratheo cơ chế tương tự nhà kính trồng cây và được gọi là hiệu ứng nhà kính.Hiệu ứngnhà kính được khám phá bởi nhà khoa học Joseph Fourier vào năm 1824, thínghiệm đầu tiên có thể tin cậy được là bởi nhà khoa học John Tyndall vào năm
1858, và bản báo cáo định lượng kĩ càng được thực hiện bởi nhà khoa học SvanteArrhenius vào năm 1896
Theo đánh giá của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu toàn cầu thì có bằngchứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của hiệu ứng nhà kính đến khí hậu toàncầu.Các nhà khoa học cho biết rằng trong vòng 100 năm trở lại đây trái đất đã nónglên khoảng 0,5oC và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5oC-4,5oC so với nhiệt độ ở thế
kỷ XX
Trang 4PHẦN 2
Tác nhân gây hiệu ứng nhà kính
Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài được phản
xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tánnhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính Các khí nhà kính chủ yếu baogồm: hơi nước, CO2, CH4, NOx, O3, các khí CFC.Khí nhà kính ảnh hưởng mạnh mẽđến nhiệt độ của Trái Đất, nếu không có chúng nhiệt độ bề mặt Trái Đất trung bình
sẽ lạnh hơn hiện tại khoảng 30oC
Sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ yếu do hoạt động của conngười:
* Sử dụng năng lượng:
- Do sử dụng năng lượng như than đá dầu hoả, khí đốt ở các nhà máy điện, lọc dầu…Nguồn thải này phát ra khí CO2,CH4, O3…
* Giao thông vận tải:
- Các phương tiện giao thông thải ra các khí CO2, NOx, N2O, CFC
- Khoảng 20% CO2 toàn cầu sinh ra từ khí thải giao thông vận tải
- NOx do giao thông vận tải phát ra chiếm 2/3 khí thải NOx toàn cầu
* Sự phá rừng: phát ra khí CO2 và các khí khác là N2O và CO
*Hoạt động công nghiệp:
- Thải ra các khí CFCs, trong công nghiệp làm lạnh do nó là tác nhân làm lạnh cho
tủ lạnh, chất tạo xốp cho sản xuất đệm, chất trong các bình xịt
-Thải ra các khí CO2 trong quá trình sản xuất vật liệu xây dựng, quá trình luyện
Trang 5kim, đốt nhiên liệu.
*Hoạt động nông nghiệp và các nguồn thải khác: thải ra các khí như CH4 , NO2,
CO2…
Theo tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) thì ngành chăn nuôi tạo ranhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính hơn ngành vận tải Gia súc cũng là một trongnhững tác nhân chính gây thoái hóa đất nông nghiệp và làm ô nhiễm nguồn nước.Báo cáo của FAO ghi rõ: "Nếu quy đổi ra khí CO2, ngành chăn nuôi tạo ra lượngkhí gây hiệu ứng nhà kính nhiều hơn tất cả những xe ôtô cộng lại;Nếu tính theo khí
CO2, lượng khí gây hiệu ứng nhà kính mà gia súc trên toàn thế giới thải ra chiếmtới 18% tổng lượng khí thải;Nếu tính cả những khí thải do việc sử dụng đất gây ra,gia súc trên hành tinh phải chịu trách nhiệm về 9% lượng khí CO2 toàn cầu, nhưng
tỷ lệ các loại khí thải khác mà chúng tạo ra còn lớn hơn nhiều".Cụ thể, gia súc tạo
ra 65% lượng đinitơ oxit N2O Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặttrời cao gấp 296 lần so với CO2 và phần lớn được tạo ra từ phân động vật Độngvật nuôi cũng thải ra khoảng 37% lượng khí methane CH4 - có khả năng giữ nhiệtcao gấp 23 lần CO2 - và 64% khí amoniac NH3, thủ phạm chính của những trậnmưa axit.Nhu cầu sữa và thịt ngày càng cao là nhân tố chính dẫn đến tình trạngtrên Năm 2001, loài người tiêu thụ 229 triệu tấn thịt Nhưng tới năm 2050, theo dựđoán của FAO, con số này sẽ tăng gấp đôi, đạt 465 triệu tấn Lượng sữa tiêu thụcũng sẽ tăng từ 580 triệu tấn lên 1.043 triệu tấn trong cùng thời kỳ
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụngngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than,dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệuứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất
Trang 6Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõibăng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà vàtan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉkhoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳtiền công nghiệp (280ppm) Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầutăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng
650 nghìn năm qua.Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxitnitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiềncông nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chấtkhí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lêntoàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉmới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh,hóa mỹ phẩm phát triển.Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 củacác nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ởHoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ởTrung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ
2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, NhậtBản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh
580 triệu tấn Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát
Trang 7thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanhtrong khoảng 15 năm qua Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nướcđang phát triển cũng phải cam kết theo Công ước Biến đổi khí hậu.
Nồng độ CO 2 trong khí quyển, đo tại Maunaloa Sự thải khí CO 2 toàn cầu từ năm1751đến năm 2004 Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2 Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/năm, Singapo 12,4 tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn) Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2
tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu; các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu.Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto Vào thời điểm năm 2004, khí quyển Trái Đất chứa khoảng 0,038% theo thể tích (380 µL/L hay ppmv) hoặc 0,053% theo trọng lượng là CO2 Nó tương đương với 2,7 × 1012 tấn CO2.Mặc dù nồng độ thấp nhưng CO2 trong khí quyển Trái Đất,nó hấp thụ bức xạ hồng ngoại và làm tăng hiệu ứng nhà kính.Điôxít cacbon nguyên thủy trong khí quyển của Trái Đất được tạo ra trong hoạt động của các núi lửa; nó
có vai trò chủ yếu để làm ấm và ổn định khí hậu dẫn đến sự sống
Trang 8Hoạt động núi lửa ngày nay giải phóng khoảng 130-230 triệu tấn điôxít cacbonmỗi năm Lượng khí này xấp xỉ 1% lượng điôxít cacbon do các hoạt động của conngười tạo ra Từ đầu thời kỳ cách mạng công nghiệp,nồng độ CO2 trong khí quyển
đã tăng khoảng 110 µL/L hay khoảng 40%, phần lớn trong số này được giải phóng
từ năm 1945 đến nay.Theo các nghiên cứu, chỉ ra sự tăng từ 316 µL/L từ năm 1958tới 376 µL/L năm 2003, tổng thể tăng 60 µL/L trong lịch sử 44 năm đo đạc
Các nhiên liệu hóa thạch như than và dầu mỏ bị đốt là nguyên nhân chính trong
sự gia tăng của CO2 do con người tạo ra; Đánh giá khoa học của Ban liên chínhphủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiênliệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vậntải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phárừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngànhsản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt độngkhác.Sự tàn phá rừng là nguyên nhân thứ hai Ví dụ:Năm 1997, các đám cháy thanbùn ở Indonesia giải phóng khoảng 13%–40% lượng điôxít cacbon do nhiên liệuhóa thạch tạo ra các đám cháy than bùn
Mêtan là thành phần chính của khí tự nhiên, khí dầu mỏ, khí bùn ao, đầm lầy Nóđược tạo ra trong quá trình chế biến dầu mỏ, chưng cất khí than đá,hoạt động nôngnghiệp Mật độ của nó đã tăng khoảng 150% từ năm 1750 và đến năm 1998, mật
độ trung bình của nó trên bề mặt Trái Đất là 1745 ppb Mật độ ở bán cầu Bắc caohơn vì ở đó có nhiều nguồn mêtan hơn (cả thiên nhiên lẫn nhân tạo) Mật độ củamêtan thay đổi theo mùa, thấp nhất vào cuối mùa hè.Mêtan trong khí quyển là mộtkhí gây hiệu ứng nhà kính mạnh trung bình cứ 100 năm mỗi kg mêtan làm ấm TráiĐất gấp 23 lần 1 kg CO2
Ở áp suất lớn, ví dụ như ở dưới đáy đại dương, mêtan tạo ra một dạng sàng rắn với nước, được gọi là mêtan hydrat Một số lượng chưa xác định nhưng có lẽ là rất nhiều mêtan bị giữ lại dưới dạng này ở đáy biển Sự giải phóng đột ngột của một thể tích lớn mêtan từ những nơi đó vào khí quyển là một giả thuyết về nguyên nhândẫn tới những hiện tượng Trái Đất nóng lên trong quá khứ xa, đỉnh cao là khoảng
55 triệu năm trước
Một tổ chức đã ước tính trữ lượng quặng mêtan hydrat dưới đáy đại dương vào khoảng 10 triệu triệu tấn Giả thuyết rằng nếu Trái Đất nóng lên đến một nhiệt độ nhất định, toàn bộ lượng mêtan này có thể một lần nữa bị giải phóng đột ngột vào
Trang 9khí quyển, khuếch đại hiệu ứng nhà kính lên nhiều lần và làm Trái Đất nóng lên đến mức chưa từng thấy.
CFCs: Gồm CFC-11 (CCl3F), CFC-12 (CCl2F2), CFC-113 (C2Cl3F3),CFC-115 (C2ClF5)…Trong các khí CFC trên thì CFC-11 và CFC-12 là khí có nồng độ lớn nhất trong khí quyển đóng góp vào hiệu ứng nhà kính rất lớn CFC-11 là 0.280ppm,CFC-12 là 0.484ppm Hằng năm các khí CFC tăng 4%(năm 1992)
N2O: là chất khí không màu ít hoạt động hoá học nên có thời gian lưu trong tầng đối lưu lớn,phân bố khắp trong tầng này Hằng năm tăng khoảng 2%, có nồng độ trung bình khoảng 0.3ppm
Hơi nước: Mặc dù khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại nhiều hơn các khí khác nhưng do nồng độ của nó trong tầng đối lưu hầu như không thay đổi Do đó, hơi nước không phải là yếu tố chính gây nên hiệu ứng nhà kính
P
HẦN 3
Ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính
Phần lớn các nhà khoa học cho rằng việc tăng nồng độ các khí nhà kính do loài người gây ra, hiệu ứng nhà kính nhân loại, sẽ làm tăng nhiệt độ trên toàn cầu (sự nóng lên của khí hậu toàn cầu) và như vậy sẽ làm thay đổi khí hậu trong các thập
kỷ và thập niên kế đến.Một số hậu quả liên đới với việc thay đổi khí hậu do hiệu ứng nhà kính thể gây ra:
(Sóng thần tại Nhật Bản ngày 11∕3∕2011)
Trang 101.Tác động của hiệu ứng nhà kính đến môi trường:
Các nguồn nước: Chất lượng và số lượng của nước uống, nước tưới tiêu, nước cho kỹ nghệ và cho các máy phát điện, và sức khỏe của các loài thủy sản có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự thay đổi của các trận mưa rào
và bởi sự tăng khí bốc hơi Mưa tăng có thể gây lụt lội thường xuyên hơn Khí hậu thay đổi có thể làm đầy các lòng chảo nối với sông ngòi trên thế giới;
Các tài nguyên bờ biển: Chỉ tại riêng Hoa Kỳ, mực nước biển dự đoán tăng
50 cm vào năm 2100, có thể làm mất đi 5.000 dặm vuông đất khô ráo và4.000 dặm vuông đất ướt;
Nhiệt độ tăng lên làm tăng các quá trình chuyển hóa sinh học cũng như hóahọc trong cơ thể sống, gây nên sự mất cân bằng;
Nhiệt độ trung bình toàn cầu đến năm 2050 sẽ cao nhất trong vòng 150.000năm gần đây;
Trong thế kỷ XXI tốc độ thay đổi nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ cao nhất sovới 10.000 năm gần đây;
Những khối băng ở Bắc cực và nam cực đang tan nhanh trong những nămgần đây và do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồngthủy.Một số quốc gia và các đảo nhỏ, các vùng đất thấp ven bờ sẽ bị nhấnchìm trong nước (ví dụ Hà Lan) Những thay đổi này dự đoán có thể xẩy ratrong thế kỷ XXII;Băng tan, lượng nước cung cấp cho các sông cũng sẽ bịảnh hưởng Ở Châu Âu, 8/9 khu vực phủ băng đã bị thu hẹp trông thấy.Trong thời kỳ 1850-1980, các dải băng trên các dãy núi ở Châu Âu đã mấtgần 1/3 diện tích và 1/2 số lượng Ở Trung Quốc, Viện Hàn lâm khoa họcTrung Quốc cho rằng có đến 7% các sông băng trên toàn nước này bị biếnmất hằng năm, đến năm 2050, sẽ có đến 64% sông băng của Trung Quốcbiến mất Ước tính hiện có khoảng 300 triệu dân sống ở miền tây khô cằn vàphụ thuộc vào nguồn nước từ các sông băng để duy trì cuộc sống của họ;
Trang 11 Mực nước một số hồ sẽ bị giảm đáng kể do tốc độ bay hơi tăng;một số hồ sẽbiến mất:125 hồ ở Bắc Cực đã biến mất trong vài thập kỷ qua Điều nàycàng khiến người ta tin rằng hiệu ứng nhà kính đã tác động tới hai địa cựccủa Trái Đất Các nghiên cứu chỉ ra rằng các hồ biến mất vì tầng băng vĩnhcửu bên dưới chúng đã tan chảy Khi lớp băng dưới hồ - vốn đã tồn tại từhàng triệu năm - tan chảy, nước sẽ thấm qua đất, khiến hồ cạn đi Khi các hồbiến mất, các hệ sinh thái phụ thuộc vào chúng cũng biến mất theo;
vĩnh cửu dưới lòng đất có thể gây lở đá và sạt đất ở trên đồi, núi;
Trang 12 Sự ấm lên toàn cầu sẽ xảy ra không đồng nhất cả về không gian lẫn thờigian Lục địa sẽ bị ấm lên mạnh hơn đại dương, đặc biệt đáng lưu ý ở các vĩtuyến cao ở phái bắc vào mùa đông, do đó làm giảm sự chênh lệch nhiệt độgiữa các cực với vùng xích đạo có thể dẫn đến sự suy giảm các dòng đối lưucủa trái đất;
Sự thay đổi thời tiết của địa phương hay khu vực, phạm vi tác động của cáccơn bão nhiệt đới và tần suất bão ở khu vực vĩ tuyến trung bình;
Thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh vật trên trái đất:
Nhịp sinh học của động vật thay đổi Hiệu ứng nhà kính khiến mùa xuân bắt đầu sớm hơn nên chim có thể sẽ không cósâu mà bắt Do thực vật nở hoa sớm hơn, những động vật ăn cây cỏ, dưới tác động của nhịp sinh học, sẽ không kịp sinh con vào thời gian mà lượng thức ăn dồi dào Chỉ những loài điều chỉnh được nhịp sinh học để bắt nhịp với chu kỳ sinh sản của cây cối mới có cơ hội duy trì nòi giống và truyền thông tin di truyền cho thế hệ sau
Động vật di cư lên đồi núi Các nhà khoa học phát hiện ra rằng nhiều loài động vật đã di chuyển lên những
vị trí cao hơn để sinh sống, có lẽ là do những thay đổi khí hậu ở môi trường Tiêu biểu cho sự thay đổi vị trí sống là chuột, sóc chuột và sóc
Những biến động khí hậu cũng đang là mối hiểm họa đối với những động vật ởvùng cực, chẳng hạn như chim cánh cụt hay gấu Bắc Cực, trong bối cảnh băngđang tan dần đi Loài gấu bắc cực cần những hành lang băng biển tốt trong mùaxuân cho sự sinh tồn nhưng trong suốt 2 thập kỷ qua, các điều kiện cho gấu trưởngthành ở khu vực vịnh Hudson, Canada đang suy giảm kéo theo là giảm từ 15 đến26% trọng lượng cơ thể trung bình của gấu trưởng thành và số lượng con non đượcsinh ra (từ 1981-1998) Một số kiểu loại khí hậu được tiên đoán có thể làm biếnmất toàn bộ các vùng băng trong mùa hè ở khu vực Bắc cực cuối thế kỷ này Nếu