Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN TRUNG KIÊN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU VÀ ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ CẶP LAI TẰM
DÂU MỚI CHỌN TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số : 60 62 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN LONG
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu và điều tra được trinh bày trong luận văn là do tôi thực hiện, các số liệu công bố hoàn toàn trung thực
và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Kiên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Long; cán bộ giảng dạy - Bộ môn Hệ thống nông nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp - Hà nội, TS Nguyễn Thị Đảm - Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ đã tận tình hướng dẫn dìu dắt, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc và toàn thể cán bộ công nhân viên Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo Bộ Môn Bộ môn Hệ thống nông nghiệp Trường Đại học nông nghiệp - Hà nội đã giúp
đỡ tôi trong suất quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Do điều kiện cơ sở vật chất, thời gian và trình độ của bản thân có hạn nên trong bản luận văn của tôi chắc chắn còn có thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các đồng nghiệp Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Kiên
Trang 44.1 Đánh giá đặc điểm sinh học của các cặp tằm lai mới chọn tạo nuôi
Trang 54.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến khả
4.2.1 Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh của các cặp tằm lai ở điều
4.2.2 Nghiên cứu sức chống chịu của các cặp tằm lai do ảnh hưởng của
4.2.3 Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai do ảnh hưởng
4.2.4 Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh Virus (Nuclear
4.2.5 Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh vi khuẩn đường ruột
(Bacterial Gastro-enteric Deseases) của các cặp lai 50 4.3 Kết quả thí nghiệm, điều tra nuôi tằm tại các HTX 57
4.3.3 Kết quả điều tra tình hình bệnh của các cặp lai tại một số hộ gia
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
4.5 ảnh hưởng của điều kiện nhiệt, ẩm độ giữa các công thức 334.6 ảnh hưởng của điều kiện nhiệt, ẩm độ khác nhau đến các chỉ tiêu
4.15 Kết quả nuôi tằm ở HTX Ngọc lũ- Bình Lục -Hà Nam 59
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
4 4 ảnh hưởng của chất lượng thức ăn đến sức sống tằm nhộng 40
Trang 91 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trên thế giới hiện nay có trên 50 nước phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, trong đó Trung Quốc sản xuất với khối lượng tơ chiếm trên 74% sản lượng tơ thế giới
Ở nước ta, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa là một nghề có từ lâu đời Theo giáo sư Trần Quốc Vượng trích dẫn trong cuốn sách "Di vật chí" của Dương Phú đời nhà Hán thế kỷ I sau công nguyên có ghi " ở vùng Bắc Bộ và Trung Bộ có nuôi 8 lứa tằm trong một năm" Dấu hiệu trên chứng tỏ hai nghìn năm trước nghề trồng dâu nuôi tằm của nước ta đã phát triển mạnh mẽ (1953)[27] Chính vì thế từ Miền Bắc đến Miền Nam đã hình thành những vùng ươm tơ, dệt lụa nổi tiếng như Lĩnh Bưởi ở Trích Sài, Lương The ở La Cả (Hà Đông), Nhiễu Hồng Đô (Thanh Hoá), Lụa Hạ (Hà Tĩnh), Lụa Lĩnh(Quảng Nam), Lụa Tân Châu (Châu Đốc)
Cho đến ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, con người đã nghiên cứu
và sản xuất ra khá nhiều loại tơ sợi nhân tạo
Tuy nhiên chưa có một loại sợi nào thay thế được sợi tơ tằm vì nó có những đặc tính quý báu như độ bóng cao, bền (sức chịu kéo 3,8-4gr/d), nhẹ (tỷ trọng 1,34 - 1,38), độ đàn hồi khá (18 - 23%), mềm mại, xốp Sức hút ẩm cao tới 80% ở nhiệt độ 24oC, khả năng cách nhiệt, cách điện tốt Quần áo may bằng lụa
tơ tằm vừa nhẹ, mềm mại, vừa bền đẹp, mặc mùa hè cảm thấy mát mẻ, mặc mùa đông cảm thấy ấm áp Vì vậy tơ tằm vẫn được gọi là “Nữ hoàng của ngành đệt” mặc dù sản lượng sợi tơ sản xuất ra thấp hơn nhiều so với các loại sợi khác nhưng nó vấn chiếm vị trí quan trọng trong ngành dệt, nó tô đậm màu sắc hàng đầu thế giới về mốt thời trang tơ tằm
Tơ tằm không chỉ là nguyên liệu phục vụ may mặc của con người, mà còn
là nguyên liệu làm chỉ dù, lốp máy bay, vật liệu cách điện, chỉ khâu mổ vv Với
Trang 10những đặc tính quí báu đó tơ tằm trước kia cũng như ngày nay vẫn là mặt hàng
có giá trị kinh tế cao không thể thiếu của con người[2]
Nghề dâu tằm đã mang lại lợi ích về nhiều mặt cho các nước sản xuất và xuất khẩu tơ tằm Lơị ích này được xác nhận ở chỗ nó đã đóng góp một cách có
ý nghĩa vào việc tích luỹ ngoại tệ trong bước đi ban đầu cho một số nước đang tiến hành công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân, ở chỗ nó đã tạo ra công việc làm, tăng thêm thu nhập cho hàng triệu người lao động ở các nước này, giúp các nước này tận dụng được lực lượng lao động nhất là lao động phụ và lao động ngoài tuổi
Dâu tằm vẫn là một nghề phát triển ở các nước phát triển như Trung Quốc, Nhật, Nga, Hàn Quốc, Ấn Độ
Ở những nước nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam dâu tằm là một nghề rất quan trọng, nhất là ở các vùng nông thôn Trồng dâu nuôi tằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các cây trồng khác, vì sản phẩm dâu tằm
có giá trị cao, vòng quay lứa tằm ngắn chỉ có 20-25 ngày Đồng thời, cây dâu tằm có thể trồng được ở những vùng có điều kiện đất đai xấu và khí hậu khắc nghiệt mà vẫn sinh trưởng tốt, cho sản lượng lá cao để cho tằm ăn và đem lại thu nhập thường xuyên cho người nông dân
Ở vùng nhiệt đới, trồng dâu nuôi tằm không chỉ đáp ứng thu nhập quanh năm mà nó còn giải quyết nhiều lao động nhàn rỗi tại nông thôn Mặt khác, trồng dâu nuôi tằm còn làm tăng độ che phủ xanh trên các bãi đất trống(đất hoang) , tham gia vào điều hoà khí hậu vùng đó
Theo báo cáo của Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam, trong những năm qua ngành dâu tằm tơ đã đóng góp một phần tích cực trong quá trình phát triển
cơ cấu nông nghiệp của nước ta, hàng năm xuất khẩu được hàng trục triệu đô la
và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người
Năm Tổng doanh
thu(1000đ)
Kim ngạch xuất khẩu(USD)
Tơ tằm các loại(tấn)
ổ tằm giống gốc
Trứng giống cấp
Trang 11(Nguồn: Tổng công ty Dâu tằm tơ Việt Nam)
Thống kê của Lê Quang Chút và công sự (1996)[4] Vùng Tây nguyên có 1.6 triệu ha đất chưa sử dụng trong đó đất bằng 40.000 ha và đất đồi 125.000 ha
Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đất có thể trồng dâu được là 19.600 ha Khả năng phát triển diện tích trồng dâu là rất lớn và cho năng suất cao do điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm Điều tra của Viện Quy hoạch Thiết kế nông nghiệp :Toàn quốc có diện tích 4.926 nghìn ha thích nghi với các mức độ khác nhau cho trồng dâu nuôi tằm (trong đó: có 861 nghìn ha rất thích hợp, 1.628 nghìn ha thích hợp, 2.437 nghìn ha ít thích hợp Trong số đất thích hợp có 160 nghìn ha hiện đang là đất trống đồi núi trọc Ngoài ra, có thể chuyển đổi 10% đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày kém hiệu quả sang trồng dâu
Tuy nhiên nước ta nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện thời tiết biến động thất thường Ở mỗi vùng khác nhau có những đặc điểm khí hậu (Nhiệt độ,ẩm độ) rất khác nhau, ngay trong giới hạn một ngày nhiệt độ và
ẩm độ có sự chênh lệch lớn giữa ngày và đêm, do vậy khi nuôi tằm dễ bị bệnh dẫn đến tỷ lệ kén bị thất thu khá lớn Mặt khác ta thường sử dụng các giống tằm truyền thống kén nhỏ, năng suất thấp chính vì vậy sản lượng kén bình quân của
cả nước mới đạt 700-1000kg/ha và chất lượng tơ còn ở mức thấp (Phạm Văn Vượng, 1995[28] Do đó việc nâng cao năng suất kén và chất lượng tơ là biện pháp hàng đầu để góp phần ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất của ngành dâu tằm Để đạt được mục tiêu này cùng với một số biện pháp kỹ thuật khác,
Trang 12việc tạo ra giống tằm mới chống chịu bệnh cho năng suất chất lượng kén cao thích ứng với khí hậu địa phương là bước đi cơ bản nhất Ngay từ 1930 khi điều tra khảo sát tiềm năng phát triển dâu tằm Việt Nam nhà chuyên môn người Pháp
là M.Ressen Cort đã khẳng định ở Việt Nam phải tạo ra các giống tằm địa phương (Phạm Văn Vượng, 1995)[28]
Công tác nghiên cứu về dâu tằm nói chung và chọn tạo giống tằm nói riêng mới bắt đầu từ năm 1965 Từ đó đến nay các nhà chọn giống đã lai tạo ra nhiều giống tằm lưỡng hệ kén trắng có năng suất cao, phẩm chất tơ kén tốt như 644,
621, 7042, LNB, N12, N16 vv Tuy nhiên sau một thời gian dài sử dụng các giống tằm như 621, 644, 7042 vv đã có biểu hiện thoái hoá, năng suất và phẩm chất tơ kén không đáp ứng được với yêu cầu sản xuất Hơn nữa từ 1994 trứng tằm Trung Quốc đã nhập ồ ạt vào nước ta bằng nhiều con đường Giống tằm Trung Quốc có chất lượng tơ kén cao nhưng nó chỉ thích hợp nuôi vào đầu xuân, cuối thu Nếu nuôi tằm Trung Quốc cuối xuân, đầu thu thường bệnh nhiều, đặc biệt vào vụ hè dẫn tới năng suất thấp và rất bấp bênh
Do phải nhập nội trứng tằm hàng năm Nhà nước phải chi khoản ngoại tệ không nhỏ và không chủ động được kế hoạch sản xuất, không kiểm soát được chất lượng trứng giống và nguồn dịch bệnh Xuất phát từ thực tế trên từ năm
2000 đến nay Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ đã tiến hành nghiên cứu chọn tạo một số cặp lai có năng suất cao, có khả năng chống chịu bệnh và các yếu tố ngoại cảnh bất lợi thích ứng với điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam
Để đánh giá khả năng chống chịu của các cặp tằm lai, có kkả năng ứng
dụng rộng rãi vào sản xuất Chúng tôi thực hiện đề tài " Nghiên cứu khả năng
chống chịu và ứng dụng trong sản xuất của một số cặp lai tằm dâu mới chọn tạo"
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài nhằm
Trang 13- Xác định khả năng chống chịu bệnh trong điều kiện nuôi tằm bất lợi của một số cặp tằm lai mới chọn tạo
-Khảo sát kết quả triển khai ứng dụng nuôi tằm trong điều kiện sản xuất của hợp tác xã
- Dựa trên kết quả đánh giá lựa chọn ra những cặp lai tốt đưa vào sản xuất
1.2.2 Yêu cầu
Nghiên cứu đặc tính sinh học, kinh tế của các cặp tằm lai ở các mùa vụ Xác định khả năng chống chịu của các cặp tằm lai ở điều kiện ngoại cảnh bất lợi Nhiệt độ cao, ẩm độ cao
Xác định khả năng chống chịu của các cặp lai do ảnh hưởng của chất lượng, số lượng thức ăn
Khả năng ứng dụng trong sản xuất của một số cặp tằm lai có triển vọng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Theo Ly- Bao - Wu- Trung Quốc(2004), những giống tằm có chất lượng tơ cao thường thể chất tằm yếu, đẻ trứng ít, hệ số nhân giống thấp Để giải quyết mâu thuẫn này cần phải sử dung giống tằm đa nguyên Giống tằm Lượng Quảng
2 (LQ2) đang được sử dụng rộng rãi ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây(Trung Quốc) và hiện nay đang nhập nôị nhiều vào Việt Nam Giống này được hình thành do hai cặp lai F1, một cặp có nguồn gốc từ Nhận Bản (kén eo) và cặp còn lại có nguồn gốc từ Trung Quốc(kén bầu)
Áp dụng vào thức tế Trung tâm nghiên cứu dâu tằm đã sử dụng nhiều phương pháp lai để nhanh chóng tìm ra những tổ hợp lai thích hợp nhất Đồng thời sử dung cặp lai tứ nguyên để đưa ra ngoài sản xuất
Cặp lai GQ 1862 là tên viết tắt của cặp lai tứ nguyên (A1 x 810) x (B42 x B46) Trong đó
B42, B46 là giống có dạng kén bầu mới được chọn tạo bằng phương pháp thuần dòng, chọn lọc, huấn luyện, bồi dục giống nguyên
A1 là giống Lưỡng hệ kén trắng, dạng kén thắt eo (Được nhập về từ
Trang 14Trung Quốc năm 1993)
810 là giống Lưỡng hệ kén trắng, dạng kén thắt eo ngắn nguồn gốc từ Nhật Bản
Cặp lai GQ 2618 là tên viết tắt của cặp lai tứ nguyên(B42 x B42) x(A1 x 810)
Cặp lai GQ 2218 là tên viết tắt của cặp lai tứ nguyên (Đ2xB42) x (A1xE38) Trong đó Đ2, E38 là 2 giống được tạo ra bằng phương pháp lai tạo
và chọn lọc
Đ2 là giống Lưỡng hệ kén trắng, dạng kén bầu
E38 là giống Lưỡng hệ kén trắng, dạng kén thắt eo
Sơ đồ lai tạo giống tứ nguyên GQ2218
GQ2218
Trang 15Nhờ sử dụng cặp tằm lai tứ nguyên nên khả năng chống chịu với điều kiện sinh thái bất lợi (nóng ẩm và môi trường có nguồn bệnh) khoẻ hơn, lượng lá dâu giảm khoảng 4.39%-5.89%, chiều dài tơ đơn tăng 11%, khối lượng kén tăng 10.40% và năng suất kén vượt từ 12-30% so với giống bố mẹ
Sự thành công của đề tài góp phần củng cố và làm phong phú thêm cơ sở khoa học chọn tạo giống tằm mới
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ở nước ta khoảng 60% tổng sản lượng lá dâu thu hoạch được trong năm là tập trung vào vụ hè Vì thế trong sản xuất hiện nay đòi hỏi phải có cơ cấu giống, cặp lai thích hợp cho vụ hè để không ngừng nâng cao năng suất và phẩm chất tơ kén trong năm
Diện tích dâu tằm của ta hiện nay khoảng 20.000ha Số lượng trứng giống tằm cần cung ứng cho diện tích trên từ 2.500.000 – 3.000.000 vòng/năm Trong
đó trứng giống tằm cần cung ứng khoảng 60% là cặp tằm lai F1 kén vàng sản xuất trong nước, còn lại khoảng 40% là cặp tằm lai kén trắng tứ nguyên chất lượng tơ kén cao vừa tự sản xuất trong nước vừa nhập ngoại từ Trung Quốc Tuy nhiên việc nhập ngoại chủ yếu là do tiểu ngạch, hàng không rõ nguồn gốc
do vậy chất lượng không đảm bảo, bệnh tật phát sinh nhiều, giá chi phí cao, kế hoạch sản xuất không chủ động được
Xuất phát từ những yêu cầu đó các nhà chọn giống tằm dâu đã tạo ra các giống kén trắng và cặp lai cho sản sản xuất Thay thế một phần cặp lai F1 kén vàng, hạn chế nhập khẩu giống Trung Quốc, góp phần nâng cao sản lượng kén
từ 1000-1200kg lên 1500-2000kg/ha dâu Bảo đảm sản xuất dâu tằm ổn định và bền vững
Trang 162 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Lịch sử ngành dâu tằm
Trung Quốc là nước có nghề trồng dâu nuôi tằm sớm nhất trên thế giới, sau đó dâu tằm mới được phát triển và lan rộng đến các vùng khác trên thế giới Cách đây 4- 5 nghìn năm người Trung Quốc đã biết nuôi tằm và thuần hoá giống tằm, Cuốn Biên niên sử đã đề cập tới dâu tằm vào triều vua Châu Vương (2200 trước công nguyên) Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và tầng lớp quí tộc, nó thể hiện sự thuần phục của dân đối với vua Bí mật của ngành dâu tằm được người Trung Quốc giữ kín rất lâu, phải gần 1000 năm sau ngành nghề này mới được lan truyền sang các nước lân cận
Theo một số tài liệu khác cho rằng nghề dâu tằm được lan truyền sang Triều Tiên vào khoảng năm 1200 trước công nguyên, sau đó là Nhật Bản thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, Ấn Độ giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên
Theo các nhà lịch sử phương Tây, cây dâu được trồng phát triển ở Ấn Độ thông qua Tây Tạng vào khoảng năm 1400 trước Công nguyên và nghề trồng dâu, nuôi tằm bắt đầu ở vùng châu thổ Sông Hằng Theo lịch sử Ấn Độ, nơi nuôi tằm đầu tiên ở đây thuộc vùng núi Hymalaya Khi người Anh đến Ấn Độ, do buôn bán tơ lụa mà nghề dâu tằm được phát triển và lan rộng sang các vùng khác như Mysore, Jamu, Kashmir
Ả Rập do nhập trứng tằm và hạt dâu từ Ấn Độ nên cũng là một trong những nơi sớm có nghề dâu tằm
Vào thế kỷ thứ 4, nghề dâu tằm được thiết lập ở Ấn Độ như là trung tâm của Châu Á và tơ lụa được xuất khẩu tới Roma(Ý) , nhưng đến thế kỷ 6 người Roma đã học được kỹ nghệ sản xuất tơ và tơ đã được sản xuất ở châu Âu, người Roma đã hoàn toàn chiếm lĩnh trong lĩnh vực sản xuất này Từ Ý , dâu tằm đã được phát triển tới Hy Lạp, Áo và Pháp
Ở Áo, dâu tằm được phát triển mạnh vào thế kỷ 9-11, ở Pháp trồng dâu
Trang 17nuôi tằm được bắt đầu từ năm 1340 Ngành dâu tằm của Pháp được thành lập vào cuối thế kỷ 17 và phát triển tới giữa thế kỷ 18
Trong thế kỷ 19 , dâu tằm Pháp bị bệnh tằm gai (Nosema) và bệnh đã lan truyền sang Châu Âu và Trung Đông Do đó ngành dâu tằm đã bị khủng hoảng do bệnh dịch này Năm 1870 Louis Pasteur đã phát hiện ra bào tử gai là nguyên nhân gây bệnh và ông đã đưa ra cách loaị trừ bệnh dịch này, do vậy mà ngành dâu tằm
đã thoát khỏi khủng hoảng và được tiếp tục mở rộng và phát triển Vì lợi ích kinh
tế đem lại nên ngành dâu tằm được nhiêu nước quan tâm
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.2.1 Nghiên cứu sử dụng ưu thế lai ở tằm dâu
Những năm gần đây công tác chọn giống và sử dụng ưu thế lai của chúng được sử dụng như một công cụ để nâng cao hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp So với nhiều ngành chăn nuôi khác, ưu thế lai ở tằm dâu được sử dụng rất sớm tại Italia và Trung Quốc Công trình nhiên cứu đầu tiên về vấn đề này được đề cập trong cuốn "sinh học" của Cacimile vào năm 1846 Theo ông con lai cho năng suất tơ cao hơn và chống chịu bệnh hoại huyết cũng tốt hơn.[10] Ngày nay ở Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Xô, Bungari, Triều tiên.vv việc sử dụng con lai F1 trong chăn nuôi đại trà là một pháp lệnh nhờ vậy mà sản lượng
tơ của các nước này không ngừng tăng lên
Theo Ctpynikov, Kovalev(Liên xô), Kpemky(Rumani), Kanarev, Petkov(Bungari) và nhiều tác giả khác thì con lai F1 của 2 giống tằm hay nhiều giống khác nhau thường cho sức sống cao hơn, phát dục đều, chống bệnh tốt hơn và thời gian phát dục và sử dụng lá dâu ít hơn, nhưng lại cho năng suất kén cao hơn và chất lượng tơ kén cũng tốt hơn
Năm 1946 Kaphonova thông báo: ở những điều kiện sinh hoạt bất lợi (nóng, ẩm, môi trường nhiễm bệnh ) tính chống chịu của con lai ổn định hơn nhiều so với giống nguyên (sức sống 86,17 so với 60,8%) [10]
Mặc dù ưu thế lai ở tằm dâu được các nhà nuôi tằm biết đến rất sớm nhưng
Trang 18phải đến nửa thế kỷ cuối thế kỷ 19 mới được mang vào để sử dụng chăn nuôi tằm Đầu tiên là ở Italia, để tăng sức đề kháng cho tằm, khắc phục hàng loạt tằm bị bệnh và chết do nuôi tằm giống nguyên, người ta đã nhập các giống tằm của Nhật Bản, cho lai với các giống địa phương, sau đó vào năm đầu thế kỷ 20 cũng ở Italia bắt đầu thành lập các xí nghiệp sản xuất trứng tằm giống lai F1
Theo Hyrobe (1968), Strynhixov(1970) và Kanru(1972), hiệu quả ưu thế lai phụ thuộc rất nhiều và việc chọn lọc các giống nguyên, sơ đồ lai và hướng lai Hiệu quả ấy càng cao khi lai các giống có nguồn gốc địa lý và hoá tính khác nhau Các tác giả cũng thừa nhận rằng con lai có sức sống và phẩm chất tốt nhất
là cặp lai giữa các giống có nguồn gốc Nhật Bản và Trung Quốc (Lưỡng Quảng 2)
Ở Bungari dùng giống tằm lai F1 từ năm 1923 (Kodukharov, 1956)[38] nhờ sử dùng giống tằm lai F1 trong sản xuất đã làm tăng năng xuất kén thúc đẩy
và mở rộng nghề sản xuất dâu tằm tơ Kết quả của nghiên cứu của Kanarev (1976) [35] cho thấy con tằm lai sử dụng lượng thức ăn ít hơn giống bố mẹ khoảng 4,39% nhưng chiều dài sợi tơ của kén tăng 11% và trọng lượng kén tăng 10,40% cũng từ kết quả này ông đưa ra nhận xét trong điều kiện sinh thái bất lợi (nóng, ẩm mà môi trường có nguồn bệnh tính chống chịu của tằm lai khoẻ hơn
so với giống bố mẹ của nó)
- Hiệu quả ưu thế lại phụ thuộc vào điều kiện chọn lọc các giống sử dụng làm nguyên liệu lai Hiệu quả này càng nâng cao khi tiến hành lai giữa các giống
có nguồn gốc địa lý khác nhau (Ankov, 1967) [37] cho rằng lai giữa các giống tằm có nguồn gốc khác nhau về hệ tính như: Độc hệ, lưỡng hệ, đa hệ thì giống lai sẽ được tăng cường các Genotip khác nhau Do vậy giống lai sẽ có ưu thế cả
về năng xuất chất lượng tơ kén và sức chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi
2.2.2 Nghiên cứu bệnh hại tằm do ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh
Một trong những khó khăn cho ngành sản xuất dâu tằm đó chính là bệnh tằm Theo Mantrep (1978[39] ở Bungari, sự tổn thất về năng xuất kén do bệnh
Trang 19hại và một số độc tố khác là lớn nhất, chiếm trên 90% tổng số tổn thất chung (trong đó tổn thất bệnh hại chiếm trên 50% ở Liên Xô tằm chết do vi khuẩn thường chiếm từ 20 - 40% trong tổng số bệnh hại)
Theo Niu - Hong và cộng sự 1995[31] Trung Quốc từ những năm 50 trở về trước do kỹ thuật nuôi tằm còn lạc hậu, công tác phòng trừ bệnh chưa triệt để nên bệnh nấm và bệnh bủng phát triển mạnh Vì vậy mức độ thiệt hại do bệnh gây ra đến 40% sản lượng kén Nhưng hiện nay nhờ công tác chọn tạo giống tằm
và cải tiến kỹ thuật nuôi nên mức độ thiệt hại chỉ còn dưới 10%
Ganieva (1966) [36] cho rằng hàm lượng nước trong lá dâu tăng sẽ làm xuất hiện bệnh ở tằm Thí nghiệm cho thấy tằm ăn lá dâu có hàm lượng nước là 66% tằm bị bệnh thấp hơn so với tằm ăn lá dâu có hàm lượng nước từ 70- 75% Kuirto và cộng sự (1975) [33] cho rằng thức ăn cho tằm ăn không đủ và không phù hợp với từng tuổi tằm cũng là nguyên nhân làm thay đổi độ PH của dịch ruột từ đó tăng nhanh các vi khuẩn gây bệnh ở trong ruột làm cho sức đề kháng của cơ thể tằm giảm đi, khiến cho tằm dễ bị nhiễm bệnh
(Theo Vương Chấn Trình(1988) ở Liêu Ninh-Trung Quốc đã cho tằm tuổi
5 ăn lá dâu non trong 2 ngày , ngay ở trong điều kiện thích hợp, tỉ lệ bệnh tằm đã lên tới 87.5%)
Về sự tác động của nhiệt độ đến con tằm theo Auruga (1963) [30] trong điều kiện bất thường do nhiệt độ thấp hoặc do nhiệt độ thay đổi một cách đột ngột đều có ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh ở tằm
Wen - Ming - Lu (1996) [44] cho rằng sự phát sinh phát triển của bệnh vi khuẩn đường ruột ở tằm là do trong quá trình nuôi bị tác động của nhiệt độ cao hoặc do tằm bị đói, chất lượng lá dâu không tốt Từ đó làm cho quá trình trao đổi chất giảm, nên thể chất con tằm yếu đi Đồng thời việc vệ sinh sát trùng không tốt, nguồn vi khuẩn gây bệnh từ môi trường xâm nhập vào trong cơ thể con tằm
Độ ẩm cũng là nhân tố ngoại cảnh quan trọng làm xuất hiện và phát triển bệnh tằm Độ ẩm cao hay thấp không chỉ liên quan đến sự thoát nhiệt của cơ thể
Trang 20con tằm mà còn ảnh hưởng tới sự phát sinh phát triển các loại vi khuẩn khác nhau
Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ tới sức sống của con tằm còn tuỳ thuộc từng giai đoạn phát dục khác nhau Thời kỳ tằm con sức đề kháng với nhiệt độ,
ẩm độ cao tốt hơn thời kỳ tằm lớn Theo Liu-Xi-Kang(1981) [42] có nhiều nhân
tố ảnh hưởng đến sức kháng bệnh của con tằm trong đó đáng chú ý nhất là giống tằm, giai đoạn phát dục và giới tính của tằm Theo ông trong cùng một nguồn bệnh nếu tằm nhỏ nhiễm phải thì tỷ lệ tằm bệnh cao hơn tằm lớn bị nhiễm Giai đoạn tằm ăn yếu tỷ lệ cao hơn tằm ăn khoẻ
Theo giới tính tằm đực bao giờ cũng có sức đề kháng cao hơn tằm cái (Xtrunhicov và cộng sự 1978) [40] Vì thế nên Belov (1977) [41] cho rằng lai giữa con ngài đực có sức chống bệnh cao với con cái có tính chống chịu yếu sẽ nâng cao được tính chông chịu ở thế hệ sau
Zhen-Cong-Ying (Ly-Long) (1995) [43] Xác định giống tằm đa hệ 115N
có tính đề kháng với bệnh CPV cao hơn CBH (Cửu Bạch Hải) Nếu giống 115N dùng làm mẹ thì tính đề kháng bệnh của con lai với bệnh CPV cao hơn rõ rệt Từ kết quả này ông cho rằng tính đề kháng bệnh có ưu thế về sự di truyền tính mẹ Ông cũng đã sử dụng giống tằm có tính đề kháng với bệnh vius lai với giống tằm có chất lượng tơ kén cao Từ trong bảy tổ hợp lai ông đã chọn ra cặp lai vừa
có sức đề kháng với bệnh virus vừa có năng suất chất lượng tơ tương đương với giống tằm nuôi trong sản xuất
2.3 Nghiên cứu trong nước:
2.3.1 Nghiên cứu lai tạo chọn lọc giống tằm
Nghề trồng dâu nuôi tằm ở nước ta tuy có lịch sử lâu đời nhưng công tác nghiên cứu về tằm dâu nói chung và chọn tạo giống nói riêng mới bắt đầu từ năm 1965 (Lê Văn Liêm, 1986) [16] Từ năm 1964 trở về trước ở các vùng sản xuất dâu tằm nhân dân ta chỉ quen nuôi giống tằm nguyên đa hệ kén vàng quanh năm (Lê Văn Liêm và cộng sự 1973)[13] Giống tằm đa hệ kén vàng tuy có sức chống chịu cao và thích ứng với điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao nhưng năng
Trang 21suất và phẩm chất tơ lại thấp
Để tạo được giống tằm tốt thích hợp cho vùng khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới, theo kinh nghiệm của các nhà chọn giống tằm Quảng Đông (Trung Quốc) nên sử dụng giống tằm lưỡng hệ nhập nội làm mẹ lai với giống tằm đa hệ làm
bố Bằng phương pháp này các nhà chọn giống tằm Quảng Đông đã lai tạo ra các giống tằm như Cửu Bạch Hải và 115 N (Ye- Yukun và cộng sự (1986 )[34] Nhưng theo Giáo sư Lê Văn Liêm khi sử dụng tằm lưỡng hệ làm mẹ thì ưu thế
đề kháng của con lai ở thế hệ đầu sẽ yếu Từ đó việc nuôi và huấn luyện con lai gặp khó khăn và cần thời gian dài (Lê Văn Liêm (1979) [14] vì vậy theo ông cần chọn và sử dụng giống tằm đa hệ có sức sống khoẻ để làm mẹ lai với giống tằm lưỡng hệ nhập nội, nhưng cần phải vận dụng phương pháp lai hỗn tinh để nhanh chóng chọn được tổ lai thích hợp nhất Đồng thời lai lại nhiều lần với giống tằm lưỡng hệ để tăng cường tính trạng di truyền về sản lượng, chất lượng kén Ngoài
ra cần sử dụng điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao để huấn luyện con lai Ông cho rằng con lai nếu có tính di truyền dao động lại được lai với nhiều đực, lai lại liên tiếp với giống lưỡng hệ thì mâu thuẫn nội tại càng tăng, trạng thái dao động càng lớn Có thế hệ ở đời sau sự phân ly mạnh cho phép chúng ta có điều kiện chọn lọc các dòng theo mục tiêu tạo giống Bằng phương pháp này ông đã lai tạo thành công các giống tằm lưỡng hệ Việt Nam là 7042, 621, 644, 618, 620 (Phan Thị Khương, 1973 [11], Lê Văn Liêm, 1973 [12) các giống tằm lưỡng hệ này thích hợp nuôi trong vụ thu và xuân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
Vùng ven biển miền trung ở Quảng Nam, Đà Nẵng cặp lai Tam nguyên giữa giống 79 x (644 x 621) đã biểu hiện ra sự thích ứng với điều kiện nóng khô
và có năng suất ổn định
Khí hậu nhiệt đới của Việt Nam phân ra thành 3 mùa rõ rệt trong đó là mùa
hè nhiệt độ, ẩm độ cao Đặc biệt ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ sông Hồng nhiệt độ bình quân mùa hè thường trên 300 và độ ẩm trên 85% Điều kiện khí hậu này rất phù hợp cho sự sinh trưởng của cây dâu nhưng không thích hợp cho nhu cầu sinh lý của con tằm (Nguyễn Văn Long, 1995[17] Sản lượng lá dâu của vụ hè
Trang 22thường chiếm từ 60-70% sản lượng lá cả năm (Đỗ Thị Châm và Hà Văn Phúc, 1995) [3] nhưng các lứa tằm ở vụ hè thường bị bệnh hại nhiều (Nguyễn Huy Trí, 1987) [22] Trong số 30 - 40% sản lượng kén bị tổn thất do bệnh hại thì chủ yếu
ở vụ hè (Phạm Thị Hồng Nga, 1982) [19] Chính vì thế việc lai tạo chọn lọc ra giống tằm có năng suất phẩm chất kén cao, thích hợp nuôi trong vụ hè là yêu cầu cấp bách của sản xuất
Võ Thị KimThoa 1975 [20] cho rằng để tạo ra giống tằm khoẻ cần phải sử dụng phương pháp lai giữa giống tằm đa hệ kén vàng với giống tằm lưỡng hệ hoặc độc hệ Trong quá trình chọn lọc các dòng lai ở các thế hệ cần phải chú ý tới chỉ tiêu về thời gian phát dục Bởi vì giống tằm có sức sống cao có quan hệ mật thiết tới thời gian phát dục ngắn Ngoài ra thời gian phát dục ngắn không những tiết kiệm được lá dâu, sức lao động, tằm thức ngủ đều, cơ hội mắc bệnh
sẽ ít
Do mục tiêu tạo giống là tạo ra các giống tằm lưỡng hệ kén trắng nuôi ở vụ
hè và các vùng sinh thái khác nhau Nên trong số các giống tằm mới tạo ra để nuôi ở vụ hè có giống BV và 4792 nuôi ở các tỉnh Tây Nguyên, giống BL và
4792 thích ứng được với điều kiện nóng ẩm, ở đầu mùa hè nên được nuôi ở các vùng Đồng Bằng Sông Hồng (Phạm Văn Vượng và cộng sự , 1990 [26]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nam Anh (1973) [1] cho thấy giống tằm 79 thích ứng với khí hậu nóng và khô Nên trong những năm qua cặp lai (79
x QĐ88) được sử dụng rộng rãi ở mùa hè thuộc các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định Còn giống tằm đa hệ kén trắng có đánh dấu giới tính ở giai đoạn tằm
là BV thích ứng với khí hậu nóng khô ở Tây Nguyên (Tô Tường Vân, 1995[24] Dựa trên kết quả các thí nghiệm nghiên cứu về đặc tính chống chịu của một
số giống tằm đa hệ có những đặc tính tốt lai với giống tằm Lưỡng hệ Trung Quốc là 09 Kết quả cho thấy các cặp lai xuôi (mẹ là giống đa hệ) tỷ lệ tằm bệnh dao động từ 5,97 - 11,71% và tỷ lệ kén có nhộng sống từ 86,00- 97,60% Các cặp lai ngược (mẹ là giống lưỡng hệ) tỷ lệ tằm bệnh giao động từ 8.36- 20.31%,
tỷ lệ nhộng sống là 78,32 - 91, 78% Như vậy các cặp lai xuôi có tỷ lệ tằm
Trang 23nhiễm bệnh thấp tỷ lệ kén có nhộng sống cao hơn các cặp lai ngược (Nguyễn Thị Đảm, 2000) [6]
Năm 2000 chọn tạo thành công cặp lai tứ nguyên lưỡng hệ TQ112 (được cấu thành từ 04 giống tằm lường hệ O1, A2, BV11, BV12, có thể nuôi vào mùa mưa hoặc nuôi quanh năm ở Lâm Đồng Kết qủa cho thấy cặp lai TQ112 có sức sống cao, cho năng suất và phẩm chất kén tốt, thích nghi tốt với điều kiện mùa mưa ở Lâm Đồng (Tô Thị Tường Vân, 2003)[25]
Kết quả nghiên cứu của Đặng Đình Đàn, Nguyễn Thị Đảm, Phạm Văn Vượng và cộng sự , 2001 [8] , đánh giá giống nguyên B42, B46 và cặp lai F1 có sức chống chịu tốt với bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất lợi Năng suất kén
ổn định, chất lượng kén xấp xỉ giống Trung Quốc Đạt tiêu chuẩn ươm tơ xuất khẩu, được áp dụng nuôi trong sản xuất vụ xuân thu, đầu hè ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, quanh năm ở các tỉnh miền núi Phía Bắc
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với các con lai mẹ là giống đa hệ tỷ lệ tằm bị bệnh vi khuẩn và bệnh bủng do virus của các con lai dao động từ 5,97 - 10,89%, còn tỷ lệ kén có nhộng sống là 88,00 - 97,60% Ở các con lai mẹ là giống lưỡng hệ, tỷ lệ tằm bệnh là 8,36 - 17,13%, tỷ lệ kén có nhộng sống là 82,66 - 91,78% Như vậy các cặp lai mẹ là giống đa hệ có tỷ lệ tằm nhiễm bệnh thấp và tỷ lệ kén có nhộng sống cao hơn so với con lai ngược (Phạm Văn Vượng, 2000 [29]
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến con tằm
Ở nước ta do ảnh hưởng của nhiệt độ cao, ẩm độ cao nên bệnh tằm phát triển khá mạnh, sản lượng kén bị tổn thất do bệnh khá lớn Nhưng các công trình nghiên cứu về bệnh còn ít Công trình nghiên cứu về bệnh nấm hại tằm của Nguyễn Mậu Tuất và cộng sự 1995: Bằng phương pháp lây bệnh với nồng độ 1.000.000 bào tử nấm/ml dung dịch cho một số giống tằm lưỡng hệ, ông đã đi đến kết luận khả năng đề kháng với bệnh nấm trắng phụ thuộc vào đặc tính của giống tằm[23] Các giống có hình dạng kén bầu thì sức đề kháng với bệnh cao hơn các giống tằm có hình kén eo Nhận xét này cũng phù hợp với ý kiến của
Trang 24Nguyễn Hữu Thọ (1980) [21]
Bệnh tằm Vôi Beauveria bassiana trong năm 2002 đã phát sinh phát triển quanh năm và đã trở thành dịch bệnh gây tổn thất nặng nề đối với các hộ trồng dâu nuôi tằm thuộc đội 12/7 của Công ty Dâu tằm Mộc châu Bệnh thường xuất hiện nhiều vào giai đoạn tằm ngủ tuổi 3 dậy tuổi 4, giai đoạn tằm tuổi 5 và giai đoạn đoạn nhộng Nhiệt độ thích hợp cho nấm bệnh phát triển là 22oc - 26oc, ẩm
độ thích hợp là trên 80% (Nguyễn Thanh Nam, 2003) [18]
Bệnh vi khuẩn là bệnh phổ biến của tằm dâu (Bombyx Mori) Bệnh này thường được phân loại theo các dạng vi khuẩn như bệnh nhiễm trùng máu (Bactevial) bệnh vi khuẩn độc tố (Bectirial Toxicosis) và bệnh vi khuẩn đường ruột (Bactevial GaStro - enterie) (Nguyễn Huy Trí, 1987) [22]
Nuôi tằm ở vụ hè do nhiệt độ và ẩm độ cao, nên con tằm thường bị nhiễm các bệnh vi khuẩn và bệnh bủng do vi rút làm cho con tằm chết trước khi làm kén hoặc chết ở thời kỳ nhộng, gây ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất kén
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Đảm, Phạm Văn Vượng, Lê Thị Linh Lan và cộng sự (2006) [7] cho biết bệnh hại tằm xuất hiện ở cả 3 vụ xuận, hè, thu Tập trung vào các bệnh tằm vôi, bủng, trong Vụ xuân bệnh tằm vôi và bệnh bủng phát triển mạnh Bệnh tằm vôi tỷ lệ chiếm 17,2% Còn bệnh bủng là 21,6% Vụ hè thời tiết nóng ẩm kéo dài, nên bệnh phát sinh nhiều tập trung vào bệnh trong đầu (43,14%) và bệnh bủng (20,91%) bệnh vôi xuất hiện không đáng
kể (1,45%) Tỷ lệ bệnh ở vụ thu là thấp nhất (7,32%)
Trang 253 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ - Long Biên - Hà Nội
Thu thập mẫu tằm bệnh được tiên hành tại Xã Hải Bối - Đông Anh và Xã
Lệ Chi - Gia Lâm, Hà Nội
Phân lập vi khuẩn, pha chế dung dịch được thực hiện tại Trung tâm chuẩn đoán Thú y Trung ương Phương Phương Mai - Đống Đa- Hà Nội
Nuôi tằm kiểm định tại HTX Ngọc Lũ -Bình lục Hà Nam, HTX Vĩnh Ninh- Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 01/08/2007 đến 30/08/2008
3.2 Vật liệu nghiên cứu
- Là một số cặp tằm lai mới chọn tạo:
Trang 26* Đánh giá đặc điểm sinh học của các cặp lai mới chọn tạo nuôi trong điều kiện vụ xuân 2008
* Nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng chống chịu bệnh của các cặp tằm lai
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai ở các điều kiện nhiệt
độ, ẩm độ khác nhau
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai do ảnh hưởng của chất lượng, lượng dâu cho tằm ăn
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai đối với bệnh virus
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai đối với bệnh vi khuẩn
* Điều tra khảo sát kết quả nuôi của các cặp tằm lai mới chọn tạo ở các HTX
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu nông sinh học của các cặp lai
Thí nghiệm: Nuôi tằm trong điều kiện tự nhiên của vụ xuân 2008 tại Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ
Thí nghiệm gồm 9 cặp lai, mỗi cặp lai là một công thức Mỗi công thức có
3 lần nhắc lại là, mỗi lần nhắc lại là 300 con tằm tuổi 4
3.4.2 Nghiên cứu đánh giá khả năng chống chịu của các cặp tằm lai nuôi trong điều kiện bất lợi (Thí nghiệm tại Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ)
Thí nghiệm 1 Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh của cặp lai với điều kiện nhiệt độ, ẩm độ khác nhau
Thí nghiệm 1 gồm 3 công thức: (Bố trí theo kiểu Split-plot)
Công thức I1 (đ/c): Nuôi tằm trong phòng ở điều kiện tự nhiên của vụ xuân 2008, có nhiệt độ 26. oC - ẩm độ 91.06%
Công thức II1: Nuôi tằm trong điều kiện nhiệt ẩm độ hợp lý (27 ± 1)oC ,
Trang 27Thí nghiệm 2 được bố trí với 3 công thức
+ Công thức I2(đ/c): Cho tằm ăn dâu bình thường đúng tuổi
+ Công thức II2 : Cho tằm ăn lá dâu non 3 bữa liên tục/ngày vào các ngày thứ 2-3 của tuổi 4 và ngày 2,3,4 của tuổi 5
+ Công thức III2 : Cho tằm ăn lá dâu già, dâu ôi 3 bữa liên tục/ngày vào ngày thứ 2-3 của tuổi 4 và ngày 2,3,4 của tuổi 5
Mỗi công thức bố trí 3 lần nhắc lại mỗi lần nhắc lại 300 con tằm tuổi 4
Phương pháp giám định lá dâu non, dâu thành thục, dâu già được giám định bằng tay và mắt dựa vào hình thái lá
- Dựa vào vị trí của lá, màu sắc lá, độ nhám, độ sáng của lá và kiểm tra độ mềm cứng của lá mà chọn lá có độ thành thục thích hợp cho từng tuổi tằm
Thí nghiệm 3 Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai khi cho
Trang 28tằm ăn đói ngủ đói dâu
Dựa trên cơ sở khả năng chống chịu (sức sống tằm) thể hiện gián tiếp thông qua tỷ lệ tằm ngủ, lột xác và kết qủa cuối cùng giai đoạn nuôi tằm khi cho tằm ngủ đói dâu
Thí nghiệm được tiến hành như sau:
Tuổi 1-3 nuôi tằm ăn no dâu bình thường Khi tằm ngủ 3 dậy tuổi 4 ăn dâu được 2 bữa tiến hành đếm tằm phân lô thí nghiệm:
Thí nghiệm 3 gồm 2 công thức Mỗi công thức có 3 lần nhắc lại , mỗi lần nhắc lại là 300 con tằm tuổi 4
Công thức I3(đ/c): Cho tằm ăn ngủ no dâu bình thường Công thức II3: Cho tằm ăn ngủ đói dâu
Thời gian phát dục của tuổi 4 trong điều kiện thí nghiệm là 4 ngày
Ở công thức II3 thí nghiệm cho tằm ăn dâu 85% lượng dâu cho tằm ăn của tuổi 4 Cụ thể cho tằm ăn dâu 3,5 ngày (ngừng cho tằm ăn 3 bữa trước khi tằm ngủ) để tiến hành điều tra theo dõi tình hình tằm ngủ, tằm lột xác
Nhiệt và ẩm độ, chất lượng thức ăn cho thí nghiệm bảo đảm như nhau
Thí nghiệm 4 Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp lai đối với lây nhiễm nhân tạo bệnh Virus (Nuclear Polyhedrosis)
Phương pháp: Phân lập mầm bệnh
Thu thập và xử lý mầm bệnh Các mẫu tằm bệnh virus NPV được thu thập tại Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ, HTX Lệ Chi - Gia Lâm và Hải Bối - Đông Anh Dựa vào triệu chứng bên ngoài để thu thập mẫu, tằm bị bệnh virus NPV thường biểu hiện các triệu trứng sau; tằm bị bệnh bỏ ăn, bò lung tung và lên bò cạp nong Khi bị bệnh nặng các đốt tằm sưng phồng lên Phần tiếp giáp giữa các đốt vỡ ra và chảy nước có màu trắng sữa Mẫu được thu về và kiểm tra bằng kính hiển vi
Thu tằm bị nhiễm bệnh Virus NPV, tằm bệnh được nghiền trong 20ml
Trang 29nước muối sinh lý (NaCL 0,9%) huyễn dịch mang mầm bệnh virus được lý tâm
1000 vòng/phút trong 10 phút Bỏ cặn, thu lấy phần dịch thô Xử lý kháng sinh với liều : Pennicilin 100UI/1ml, Streptomycin 50mg/ml
Dùng buồng đếm hồng cầu để xác định lượng đa giác thể có trong mẫu bệnh Sau khi li tâm lấy được phần dịch thể có chứa bào tử vius chúng tôi tiến hành lây bệnh trên tằm ở 4 cặp lai là GQ1826, GQ 2618, GQ 2218 và LQ2 (đ/c)
Công thức thí nghiệm được cho ăn lá dâu đã nhiễm NPV với hàm lượng 5 x
Mỗi công thức có 3 lần nhắc lại , mỗi lần nhắc lại là 300 con tằm tuổi 4
Thí nghiệm 5 Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp lai đối với lây nhiễm bệnh nhân tạo bệnh Vi khuẩn đường ruột (Bacterial Gastro-enteric Deseases)
- Phương pháp phân lập
Lấy con tằm còn sống bị nhiễm bệnh vi khuẩn đường ruột đem khử trùng
bề mặt bằng cồn 96oc trong 30 giây Sau đó khử trùng tiếp lần thứ 2 bằng hypoclosit canxi 0,1% trong 2 phút Rủa sạch mẫu bằng nước cất vô trùng, thấm khô Dùng dao giải phẫu cắt phần ruột cuối, lấy dịch ruột pha loãng cấy hỗn hợp với môi trường dinh dưỡng trong đĩa petri Sau 2 ngày phân lập riêng từng khuẩn lạc vi khuẩn thuần khiết cấy truyền trên môi trường P.P.S.A trong ống nghiệm
Trang 30Đặt ống nghiệm trong tủ định ôn ở nhiệt độ 300C
Môi trường P.P.S.A gồm:
+ Khoai tây củ: 200 gam + Bacto pepton: 5 gam + Đường Sacharose: 20 gam + Agar: 20 gam
+ Nước cất: 1 lít Môi trường Sabouraud và P.P.S.A pha chế, lọc và hấp vô trùng trong nồi hấp điện ở áp lực 1 atm với nhiệt độ 1200C trong 30 phút
- Phương pháp lây bệnh nhân tạo
Mẫu vi khuẩn đã phân lập và nuôi cấy thuần khiết được sử dụng pha chếdung dịch huyền phù vi khuẩn với nước cất vô trùng, liều lượng 5 triệu tế bào
vi khuẩn/ml Nhúng lá dâu vào dung dịch huyền phù vi khuẩn, để ráo nước sau đó cho tằm ăn
Mỗi công thức có 3 lần nhắc lại , mỗi lần nhắc lại là 300 con tằm tuổi 4 Thí nghiệm thực hiện vào đầu vụ hè 2008
3.4.3 Điều tra khảo sát thu thập thông tin về kết quả nuôi tằm tại các HTX
Để xác định khả năng chống chịu bệnh và tính thích của các cặp lai cho từng vùng sinh thái khác nhau trong điều kiện sản xuất của nông dân Tiến hành điều tra khảo sát, thu thập thông tin kết qủa nuôi tằm của các cặp lai mới chọn tạo ở các mùa vụ khác nhau tại các HTX
Thời gian được tiến hành từ tháng 3 năm 2007 đến năm 2008
Trang 31* Điều tra tỷ lệ bệnh của các cặp tằm lai
- Mỗi HTX điều tra 3 hộ đại diện, mỗi hộ điều tra 3 nong tằm , mỗi nong điều tra 5 điểm chéo góc Mỗi điểm trên nong điều tra số tằm và tằm bệnh có trong ô vuông 1 dm2
3.5 Các chỉ tiêu điều tra, công thức tính toán
3.5.1 Theo dõi nhệt độ, ẩm độ trong phòng nuôi
Dùng nhiệt ẩm kế treo trên cũi tằm để đo nhiệt độ, ẩm độ vào các thời điểm 6 giờ, 9 giờ, 12 giờ, 15 giờ, 18 giờ, 21 giờ, 24 giờ Từ đó tính nhiệt độ, ẩm
độ trung bình, tối cao, tối thấp trong quá trình nuôi tằm thí nghiệm
3.5.2 Các chỉ tiêu điều tra, công thức tính toán
Các chỉ tiêu điều tra, phương pháp điều tra và công thức tính toán các chỉ tiêu nghiên cứu về tằm theo qui định tiêu chuẩn ngành dâu tằm 10 TCN/2003
Cụ thể :
- Thời gian phát dục của tằm: Thời gian phát dục của tằm được tính từ thời điểm bang tằm đến chín rộ Thời gian phát dục của từng tuổi là khoảng thời gian từ dậy của tuổi, đến dậy của tuổi sau
Trang 32Tổng số tằm bị bệnh virus
Tổng số tằm thí nghiệm Tổng số tằm bị bệnh vi khuẩn
Tổng số tằm thí nghiệm
- Năng suất kén: Khi tằm chín, bắt tằm lên né theo từng công thức và từng lần nhắc lại Khi tằm hoá nhộng được 1 ngày tiến hành gỡ kén và điều tra năng suất kén của từng lần nhắc lại(300 con tằm tuổi 4)
- Tỷ lệ kén tốt: Sau khi gỡ kén tiến hành phân loại kén tốt, kén xấu, kén đôi
Số kén tốt
Số kén thu
Trang 334 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đánh giá đặc điểm sinh học của các cặp tằm lai mới chọn tạo nuôi trong
điều kiện vụ xuân 2008
4.1.1 Các chỉ tiêu sinh học của các cặp tằm lai
Từ những kết quả nuôi giữ, bồi dục và tạo giống tằm lưỡng hệ kén trắng
có chất lượng cao và thử khả năng phối hợp của chúng nhằm tìm ra những cặp lai có ưu thế cao để phục vụ sản xuất đại trà Chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm
so sánh các cặp lai ở trong phòng Qua theo dõi các chỉ tiêu số liệu được trình bày ở bảng 4-1
+ Thời gian phát dục của tằm là một chỉ tiêu quan trọng trong công tác chọn tạo giống tằm mới vì nó chi phối hiệu quả của cả lứa tằm Thời gian phát dục dài hay ngắn phụ thuộc vào đặc tính của gống tằm, số lượng và chất lượng thức ăn, điều kiện nhiệt, ẩm độ trong quá trình nuôi tằm Nếu thời gian phát dục của con tằm quá dài sẽ tiêu tốn nhiều lá dâu và công lao động làm cho chi phí kinh tế cao Ngược lại nếu thời gian phát dục quá ngắn quá trình tích luỹ chất dinh dưỡng của con tằm ít dẫn tới năng suất và chất lượng kén giảm
Số liệu bảng 4.1 cho thấy các cặp lai có thời gian phát dục từ 21 dến 25 ngày Cặp lai GQ18, có thời gian phát dục là dài nhất tương đương với đối chứng (25 ngày), các cặp lai khác còn lại ngắn hơn 1-2 ngày Các cặp tằm lai
GQ 1826, GQ 2618 ,GQ 2638, GQ13, GQ44 có thời gian phát dục là tương đương nhau là 23 ngày tằm phát dục đồng đều, thời gian tằm ngủ và dậy tập trung Nhìn chung các cặp lai có mẹ là kén bầu thì thời gian phát dục ngắn hơn 1-2 ngày, còn các cặp lai có mẹ là kén eo thì thời gian phát dục kéo dài hơn
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu sinh học của các cặp lai
Trang 34Chỉ tiêu
Cặp lai
Số trứng/ổ (quả)
Tỷ lệ
nở (%)
Sức sống tằm(%)
Sức sống nhộng (%)
Thời gian phát dục (ngày)
Năng suất 300 tằm tuổi 4(gr)
tỷ lệ trứng nở cao (564 ; 95.23%) , (551;95.71%), tương đương với cặp đối chứng LQ2 (569; 95.78%) Riêng số quả trứng của các cặp tứ nguyên cao hơn các cặp lai nhị nguyên từ 70- 90 quả điều này rất có ý nghĩa với năng suất kén (số quả trứng/ổ thường tỷ lệ với năng suất kén, trong điều kiện tỷ lệ trứng nở và sức sống không chênh lệch nhau nhiều)
+ Sức sống tằm, số liệu ở bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy các cặp lai nhị nguyên có sức sống tằm đạt (83.00%-92.40%), sức sống nhộng (85.14% -94.46%) Cặp lai GQ18 có các chỉ tiêu đạt cao nhất trong các cặp nhị nguyên, tỷ
lệ trứng nở (96.46%) Cặp lai GQ22 có sức sống tằm, sức sống nhộng thấp nhất,
Trang 35kém hơn so với cặp lai đối chứng LQ2 ở mức tin cậy là 0.05
Hình 4.1: Sức sống tằm, sức sống nhộng các cặp lai
Các chỉ tiêu ở cặp lai tứ nguyên đạt tương đối cao, nhìn chung đều cao hơn các cặp lai nhị nguyên, sức sống tằm lớn đạt 93.77-94.53%, sức sống nhộng đạt 90.75- 98.30% Trong các cặp lai nhị nguyên, GQ18 có sức sống tằm cao hơn cặp lai LQ2(đ/c) 4.06% ở mức tin cậy 0.05%, còn sức sống tằm, sức sống nhộng của các cặp lai nhị nguyên GQ 26, GQ13, GQ 44 tương đương với cặp lai LQ2(đ/c) Các cặp lai tứ nguyên GQ 1826, GQ2218 có sức sống tằm, sức sống nhộng cao hơn hẳn cặp lai LQ2(đ/c), trong đó cặp lai GQ2218 cao hơn cặp lai đối chứng tuy nhiên nó không có ý nghĩa ở mức tin cậy 0.05% Từ những nhận định trên chúng tôi thấy sức sống tằm, sức sống nhộng cao hay thấp phụ thuộc hệ giống, nguồn gốc của giống
+ Năng suất kén là kết quả phản ánh hiệu quả kinh tế của lứa tằm Thông qua quá trình nuôi tằm năng suất kén được cấu thành nên từ nhiều yếu tố, đó là
tỷ lệ nở của trứng, sức sống tằm, tỷ lệ kết kén và khối lượng toàn kén
GQ 2218
LQ2 (®/c)
Trang 36Kết quả ở bảng 4.1 cho thấy năng suất kén của các cặp lai nhị nguyên dao động từ 341 - 430 gr/300 con tằm tuổi 4 Trong đó 2 cặp lai có năng suất kén cao hơn cặp lai đối chứng ( 4gr- 29gr) là GQ18(430gr), GQ44 (405gr), trong khi
đó cặp lai LQ2(đ/c) (401gr) nhưng sự khác nhau không có ý nghĩa ở mức tin cậy 0.05%
Các cặp lai tứ nguyên đều cho năng suất cao hơn đối chứng, cao nhất là GQ1826 (460gr), tiếp đến là các cặp lai, GQ2218 (452gr), GQ2618(449gr) So với cặp lai LQ2(đ/c) (401gr) có ý nghĩa ở mức tin cậy 0.05%
4.1.2 Chất lượng kén
Trong thực tế sản xuất để tìm ra một cặp lai tốt ngoài sức sống tằm, nhộng, tỷ lệ kết kén, năng suất cao thì chất lượng kén là một chỉ tiêu kinh kế quan trọng tỷ lệ thuận với năng suất kén Qua nghiên cứu chúng tôi thu được các chỉ tiêu về khối lượng toàn kén, khối lượng vỏ kén và tỷ lệ vỏ kén của các cặp lai được trình bày ở bảng 4.2 Kết quả cho thấy khối lượng toàn kén của các cặp lai có sự chênh lệch nhau không nhiều, nhưng khối lượng vỏ kén có sự chệnh lệch rõ rệt Điều này dẫn tới tỷ lệ vỏ kén giữa các cặp lai khác nhau
Trong 5 cặp lai nhị nguyên cặp GQ18 có chỉ tiêu cao nhất tỷ lệ vỏ kén đạt (21.88 %), Cặp lai GQ22 tỷ lệ vỏ kén đạt 19.40% Ở Các cặp lai tứ nguyên, tỷ
lệ vỏ kén dao động từ 21.21% – 22.72% cao hơn các cặp nhị nguyên nhưng vẫn kém hơn so với cặp lai LQ2(đ/c) (22.93%) Riêng cặp lai có tỷ lệ vỏ kén tương đương so với đối chứng là GQ1826(22,72%) Tuy nhiên sự sai khác không nhiều ở mức tin cậy 0.05%
Trang 37Bảng 4.2: Chất lượng kén của các cặp lai
Chất lượng kén Chỉ tiêu
Tỷ lệ vỏ kén (%)
Các cặp lai đều có tỷ lệ lên tơ đạt trên 80% (thấp hơn đối chứng 0.17 – 13,92%), thấp nhất là cặp lai nhị nguyên GQ31(80.64%) Cặp lai tứ nguyên GQ1826(94,39%) có tỷ lệ lên tơ cao tương đương so với cặp lai LQ2(đ/c) (94.56
%)
Trang 38Bảng 4.3: Chất lượng tơ của các cặp lai
Hệ số tiêu hao (kg)
4.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
chống chịu của các cặp lai
Bệnh tằm ảnh hưởng trực tiếp đến sức sống của tằm, sức sống nhộng, tỷ
lệ tằm kết kén nó là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất
Trang 39và chất lượng kén Vì vậy, để nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp lai, chúng tôi tiến hành thực nghiệm đánh giá kết quả nuôi tằm trong những điều kiện bất lợi
- Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh của các cặp tằm lai ở điều kiện nhiệt, ẩm độ khác nhau
- Nghiên cứu sức chống chịu của các cặp tằm lai do ảnh hưởng của chất lượng lá dâu
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các cặp tằm lai do ảnh hưởng của cho tằm ngủ đói
- Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh Virus (Nuclear Polyhedrosis) của
các cặp tằm lai
- Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh vi khuẩn đường ruột (Bacterial
Gastro-enteric Deseases) của các cặp tằm lai
4.2.1 Nghiên cứu khả năng chống chịu bệnh của các cặp tằm lai ở điều kiện nhiệt, ẩm độ khác nhau
Tằm dâu là một loại côn trùng máu lạnh được con người nuôi dưỡng và thuần hoá qua nhiều thế kỷ, nên trong quá trình sinh trưởng và phát triển nó rất mẫn cảm với điều kiện môi trường bất lợi Trong các điều kiện môi trường thì yếu tố nhịêt độ có ảnh hưởng lớn nhất đến sinh trưởng và phát dục của chúng Ở côn trùng nói chung và tằm nói riêng sinh trưởng và phát dục tốt ở một phạm vi nhiệt độ nhất định Khi nhiệt độ tăng hay giảm ngoài phạm vi thích hợp thì chức năng sinh lý của con tằm yếu làm cho con tằm phát dục khó khăn, sức sống giảm dẫn tới tình trạng tằm dễ mẫn cảm với các loại bệnh hại và các điều kiện bất lợi khác
Cũng như nhiệt độ, ẩm độ đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi tằm tuy ít hơn nhiệt độ nhưng nó có ảnh hưởng đến quá trình bay hơi, trao đổi chất trong cơ thể con tằm và sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến
độ tươi héo của lá dâu Trong tự nhiên giữa hai yếu tố nhiệt độ và ẩm độ có quan hệ
Trang 40mật thiết với nhau và tác dụng tổng hợp lên cơ thể con tằm
Nhiệt độ ẩm, độ thích hợp cho tằm sinh trưởng và phát dục còn phụ thuộc vào giống tằm và thời kỳ phát dục ở từng giai đoạn
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt, ẩm độ đến các cặp lai
Chỉ tiêu năng suất đánh giá hiệu quả kinh tế của các cặp lai Cặp lai