Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 11 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Du canh du cư (DCDC) là một hình thái sản xuất và sinh sống lâu đời của nhiều dân tộc ít người ở Việt Nam ở Việt Nam có khoảng 5 triệu người thuộc 50 dân tộc ít người có tập quán du canh du cư Do dân số tăng nhanh nên tập quán này đã trở thành một nguyên nhân quan trọng làm mất rừng, thoái hoá đất và kết quả đã tạo nên một vùng đất trống đồi núi trọc rộng lớn [18]
Sự tồn tại của hình thái DCDC xuất phát từ nhu cầu sinh sống Những người DCDC đi tìm vùng đất màu mỡ hơn khi nơi ở cũ đất đai đã cạn kiệt và không thể lợi dụng để sản xuất được nữa Phương thức DCDC sử dụng công cụ lao động thô sơ với những thao tác đơn giản Các hoạt động kinh tế của đồng bào DCDC chủ yếu là gieo trồng các cây lương thực như lúa nương, ngô, sắn và hái lượm các sản phẩm tự nhiên Gắn liền với hình thái sản xuất DCDC là điều kiện sống của đồng bào hết sức tạm bợ, thu nhập thấp, các tư liệu sản xuất và sinh hoạt thô sơ, nghèo nàn, cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phúc lợi công cộng hầu như không có
Vùng đồi núi Việt Nam đang nằm dưới những áp lực nặng nề, các hệ sinh thái
tự nhiên đang bị phá vỡ, tài nguyên đất, rừng đang bị suy thoái nghiêm trọng, xói mòn
và các tai hoạ thiên nhiên ngày càng gia tăng, năng suất cây trồng thấp, cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin, giao thông nghèo nàn kém phát triển, tỷ lệ che phủ thấp một trong những nguyên nhân gây ra những áp lực trên thuộc về DCDC
1
Trang 2vụ khó khăn này Vì vậy, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế miền núi, đặc biệt là
đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số là rất khó khăn, có nhiều thiệt thòi do yếu tố
địa lý mang lại
Chợ Đồn là huyện miền núi cao của tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự nhiên 91.293 ha với dân số 47.245 người, bao gồm 9 dân tộc anh em cùng chung sống, mật độ dân số 42 người/km2
Nhiều năm qua, huyện Chợ Đồn là nơi có nhiều đồng bào DCDC nhất trên
địa bàn tỉnh Bắc Kạn Chỉ tính trong vòng 8 năm trở lại đây, đồng bào di cư đã
đốt phá 275 ha rừng nguyên sinh Hiện tại toàn huyện còn 39.784 ha đất đồi núi trọc, như vậy nếu không có các biện pháp ngăn chặn làn sóng di cư tự do và có các biện pháp ổn định đời sống cho đồng bào thì diện tích đất trống, đồi trọc sẽ không ngừng tăng lên Hành vi phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy của đồng bào
di cư tự do đe doạ sự ổn định về đời sống và sản xuất của một bộ phận dân cư sở tại, đã và đang gây ra những thảm hoạ và những rủi ro to lớn về môi trường sinh thái [8]
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về công tác ĐCĐC, dưới sự chỉ đạo của các cấp, các ngành, trong những năm qua Ban ĐCĐC huyện Chợ Đồn đã tham mưu cho uỷ ban nhân dân huyện thực hiện khá tốt các chương trình ĐCĐC Tính đến hết năm 2004, toàn huyện đã ổn định được cho hơn 900 hộ người Dao
và 87 hộ người Mông trên địa bàn 12 xã trong huyện Trải qua hơn 20 năm thực hiện chương trình này, đã có nhiều các mô hình được xem là thành công như vùng ĐCĐC bản Cuôn xã Ngọc Phái, bản Lùm xã Nam Cường Vậy vấn đề sử dụng và quản lý tài nguyên đất ở địa bàn ĐCĐC như thế nào? hiệu quả của nó
đến đâu? vấn đề chính sách đất đai thực hiện như thế nào? là những vấn đề cần
được xem xét một cách đúng đắn để làm cơ sở xây dựng các mô hình khác cho hơn 300 hộ người Dao và Mông thuộc diện vận động ĐCĐC nhưng chưa thực hiện được
Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi nghiên cứu đề tài:
2
Trang 3Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp sau chương trình
ĐCĐC của đồng bào Dao huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu tình hình ĐCĐC của đồng bào Dao huyện Chợ Đồn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau chương trình định canh, định cư, phát hiện những thuận lợi, khó khăn tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của vùng,
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
3
Trang 42 Tổng quan tài liệu
2.1 Hiệu quả sử dụng đất trong phát triển nông nghiệp bền vững 2.1.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Theo trung tâm từ điểm ngôn ngữ [27], hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại
Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu thị bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con người
mà ta phải xem xét kết quả được tạo ra như thế nào? chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận
điểm triết học của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống [2] sau đây:
• Thứ nhất: bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời
gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó,
nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
• Thứ hai: theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội
là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất
Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định
4
Trang 5của con người đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
• Thứ ba: hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối
cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch và quản
lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ hơn
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà khoa học kinh tế Samuelson Nordhuas "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí" Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác" Theo các nhà khoa học Đức như: StenICn, Hanau, Rusteruyer, Simmerman, hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [23]
Hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
• Một là: mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật
"tiết kiệm thời gian"
• Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết hệ
thống
• Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá
5
Trang 6trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả về phần so sánh tuyệt
đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội [7]
* Hiệu quả xã hội
Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra [31] Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu về mặt xã hội do hoạt động sản xuất đem lại
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [25], hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật
lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến [30]
2.1.2 Sử dụng quản lý đất trong phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững mới chỉ hình thành rõ nét từ những năm 1990 thông qua các cuộc hội thảo
và xuất bản (Edwards et al; 1990; Singh et al; 1990) Điều cơ bản nhất của phát
6
Trang 7triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận
đúng đắn về môi trường để gìn giữ tài nguyên cho những thế hệ sau
Theo FAO: nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên
nông nghiệp đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái (FAO, 1989)
Theo PICre Croson (1993): một hệ hống nông nghiệp bền vững phải đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp, có hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người Đáp ứng nhu cầu là sản phẩm quan trọng cần đưa vào định nghĩa vì sản phẩm nông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong những thập kỷ tới đem lại phúc lợi cho mọi người vì phúc lợi của đa số dân trên thế giới đều còn rất thấp
Theo Nông nghiệp Canada: hệ thống nông nghiệp bền vững bao gồm quản
lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau (BaICr , 1990)
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song về nội dung thường bao gồm 3 thành phần cơ bản sau:
1/ Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường
2/ Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ con người cho cả đời sau
3/ Bền vững thể hiện tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro
Quản lý đất bền vững phải được hiểu với khái niệm rộng, bao gồm toàn bộ hoạt động nông nghiệp có tác động đến các thông số về đất (theo CGIAR)
7
Trang 82.1.2.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ
sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của loài người
Trước đây, khi dân số còn ít để đáp ứng các yêu cầu của con người việc khai thác từ đất khá dễ dàng và chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, con người phải mở mang thêm diện tích canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây lên quá trình thoái hoá
đất một cách nghiêm trọng [38]
Tác động của con người đến đất đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm và dẫn đến thoái hoá đất, lúc đó rất có khả năng phục hồi độ phì nhiêu của đất hoặc phải chi phí rất tốn kém mới có thể phục hồi được Đất với 5 chức năng chính là : '' Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá và địa hoá học; phân phối nước; tích trữ và phân phối vật chất; mang tính đệm và phân phối năng lượng'' (De Kimpe và Warkentin - 1998) [34], là những trợ giúp cần thiết cho hệ sinh thái Mục đích của sản xuất là tạo ra lợi nhuận luôn chi phối các tác động của con người lên đất đai và môi trường tự nhiên dẫn đến sự mất cân bằng lớn trong
đất và làm cho đất bị thoái hoá
Sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người, vì vậy việc tìm kiếm các giải pháp
sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật nhữ ''sử dụng đất bền vững'' (Sustainable land use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay
Nội dung của sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái
đất với tất cả các đặc trưng: khí hậu; địa hình; thổ nhưỡng; chế độ thuỷ văn; động thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai như: hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng Do đó thông qua hoạt động thực tiễn sử
8
Trang 9dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến các yếu tố tác
động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác hại đối với môi trường sinh thái [9]
Theo Fetry [36] sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là
sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân [22]
2.1.2.2 Đánh giá sử dụng đất bền vững
Vào năm 1991 ở Nairobi đã tổ chức hội thảo về '' khung đánh giá quản lý
đất bền vững'' đã đưa ra định nghĩa: '' Quản lý bền vững đất đai bao gồm các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (an toàn);
- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;
- Có hiệu quả lâu dài;
- Được xã hội chấp nhận.''
9
Trang 10Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột trong sử dụng đất đai bền vững và
là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu cần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận [11]
Vận dụng các nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:
• Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao hơn trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một
hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tuỳ mục tiêu của vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai
đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
• Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội
phát triển
Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu họ muốn quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu sống hàng ngày của người dân
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống
sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài,
đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể
10
Trang 11Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán
địa phương, ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
• Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì
nhiêu màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng việc giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
- Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng
đất bền vững
- Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
- Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn
độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )
Ba yêu cầu bền vững trên là để đánh giá và xem xét các loại hình sử dụng
đất hiện tại Thông qua việc đánh giá và xem xét các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [11]
Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể
hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc
sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn
định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật
2.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất
2.2.1 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế, xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất theo bốn nội dung sau đây:
11
Trang 12* Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) là yếu tố cơ bản để xác
định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường [25]
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch Theo N.Borrlang - người được giải Nobel về hoà bình về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng
ở các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất [21]
* Nhóm các yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản
lý, chính sách môi trường, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất [25]
Điều kiện kinh tế, xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc
sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Việc sử dụng đất
đai như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế, xã hội, kĩ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi và kinh tế
kĩ thuật; quyết định bởi nhu cầu của thị trường
* Nhóm các yếu tố về kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của
12
Trang 13sinh vật để lựa chọn các tác động kĩ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng
đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra Tuy nhiên, việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ trong canh tác còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ đầu tư các cơ sở kinh tế, hạ tầng trong nông nghiệp Đây là những tác động thể hiện
sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường Theo Frank Ellis và Douglass C.North [21], ở các nước phát triển, khi có tác
động tích cực của kĩ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng
đặt ra yêu cầu mới đối với việc tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta quy trình kỹ thuật có thể góp 30% năng suất kinh tế [6] Như vậy, nhóm các biện pháp kĩ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
* Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức
• Việc quy hoạch và bố trí sản xuất: thực hiện phân vùng sinh thái nông
nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác
đất một cách đầy đủ, hợp lý Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp [15]
• Hình thức tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp [15] Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
13
Trang 142.2.2 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và
mở rộng diện tích đất nông nghiệp [35] Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn
đề đặc biệt quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm
Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý
đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sản xuất của nó trong tương lai
2.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả [23] Do đó, tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông - lâm nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc mức tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông - lâm sản nhất định
Theo quan điểm của Hội đồng nghiên cứu sản xuất của Liên Xô (SOPS) thì chỉ nên có một chỉ tiêu duy nhất, xuất phát từ lý luận giá trị lao động của Các Mác và ăng Ghen là tăng năng suất lao động hay tiết kiệm chi phí lao động xã hội, có nghĩa là tiết kiệm tài nguyên lao động, chi phí sản xuất [31]
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường [2]
14
Trang 15Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường (FAO, 1994) [36]
2.3 Sử dụng đất nông nghiệp và tập quán canh tác của một số
đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có địa hình phức tạp trải dài trên 16 vĩ độ, nên có sự phân hoá mạnh mẽ về môi trường tự nhiên Với dân số trên 80 triệu người và 54 dân tộc anh em đã tạo nên nhiều phong tục tập quán khác nhau, gắn bó với nguồn tài nguyên đa dạng ấy đã hình thành một hệ thống trong mối tương tác xã hội - thiên nhiên vô cùng phong phú và phức tạp, trong đó mỗi hệ sinh thái có thành phần, cấu trúc, sắc thái và chức năng riêng [29]
Vùng núi phía Bắc có dân số trên 13 triệu người với 30 dân tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ chính, trong đó có gần 6,5 triệu thuộc các dân tộc ít người, chiếm quá nửa dân số đồng bào thiểu số trên cả nước Điều cần lưu ý là có rất nhiều điểm tương
đồng trong điều kiện tự nhiên khác nhau, điều đó đã góp phần bảo tồn được những tương đồng về văn hoá Họ có sự hiểu biết về môi trường địa phương thật đáng kinh ngạc nhưng còn rất ít được biết đến [29]
Cộng đồng người Dao, người Mông và một số dân tộc ít người khác ở Việt Nam cư trú chủ yếu ở những nơi cao nhất, hiểm trở nhất, thường có độ cao tuyệt
đối trên 800 m Đây được coi là những nơi sâu nhất, xa nhất về kinh tế và cũng là nơi khó khăn nhất về giao thông và giao lưu văn hoá Song họ vẫn lưu giữ hầu hết các bản sắc văn hoá và truyền thống canh tác nông nghiệp của mình [29] Về canh tác và quản lý nương rẫy trong mỗi bối cảnh văn hoá đều sản sinh ra những phương thức quản lý tài nguyên thể hiện qua các hệ canh tác hay các phương pháp sử dụng đất tương ứng với nó: Người Mông ở vùng cao núi đá Mèo Vạc -
Đồng Văn sống ở một vùng đất đai hiếm hoi, hiểm trở, thiếu nước, khí hậu khắc
15
Trang 16nghiệt Môi trường khó khăn ấy đã làm nảy sinh một hệ canh tác rất độc đáo: thổ canh hốc đá cùng với ruộng màu [29] Người Dao ở vùng giữa Yên Bái có phương thức luân canh rừng - rẫy nổi tiếng với cây quế trong thời kỳ bỏ hoá Về canh tác trên đất dốc, do đã từng trải lâu đời trên mảnh đất của mình nên người dân miền núi vùng cao tích luỹ được nhiều tri thức và kinh nghiệm trên cơ sở đó xây dựng các kỹ thuật khai thác nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu rất phù hợp với hoàn cảnh của họ Tính đa dạng và địa phương hoá cao độ của các tri thức và
kỹ thuật bản địa làm cho chúng ta rất khó khái quát hoá chúng, hơn nữa việc khái quát hoá cao độ sẽ làm mất tính địa phương và cũng làm mất luôn giá trị ứng dụng của chúng [19] Nhìn chung ở miền núi, ruộng được cày bừa nhiều lần, nếu
đã giầm thì dùng trâu quần đảo nhiều lần cho rơm rạ trộn với bùn chóng hoai mục Bờ được làm rất công phu, vít kín lỗ thủng và là nhẵn, bảo đảm giữ nước suốt vụ Trên ruộng cạn cây trồng được bón cả phân chuồng và cả rác hun khói Còn việc quản lý nuớc là một kỹ thuật rất thuần thục của cộng đồng người Dao
và người Mông ở phía Bắc Mặc dù địa hình rất phức tạp nước được dẫn vào ruộng khá chủ động và tiết kiệm
Việc chọn giống, để giống: đối với giống lúa, đồng bào dân tộc chọn từng bông ngay tại ruộng để làm giống, và cất giữ riêng từng nơi cho nên giống đã trồng vài vụ thì vấn đề để lẫn giống ít xảy ra Giống được cất giữ trên gác cao, khô ráo quanh năm, thường ở vị trí trên bếp lửa nên có độ ẩm rất thấp và tránh
được côn trùng Nhờ vậy mà giống ít bị mọt, hạt đều và tỷ lệ nẩy mầm cao Còn giống ngô cũng được bà con chọn lựa rất kỹ và bảo quản trong các quả bầu khô trộn với tro và đặt nơi cao trên bếp, tránh ẩm và nóng Về việc sắp xếp thời vụ, bảo vệ đất, nông nghiệp hữu cơ, sử dụng lao động mỗi nơi đều có kinh nghiệm riêng phù hợp với địa phương mình mà người ngoài đến phải nghiên cứu kế thừa trước khi đưa vào những cải tiến
Bên cạnh những kiến thức về kỹ thuật tiên tiến thì tri thức ở địa phương cũng rất quan trọng, bởi nó được tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc trong quá trình tiến hoá của sinh quyển
16
Trang 17và dần dần trở thành văn hoá truyền thống Trong quan niệm về văn hoá truyền thống có nhiều người cho rằng dân tộc này có nền văn hoá lạc hậu hơn, hay tiến bộ hơn dân tộc kia Quan niệm này làm lu mờ bản chất thích ứng của văn hoá Họ đã không thấy được rằng văn hoá của một tập đoàn người nào đó chính là sự thích ứng với điều kiện xã hội và sinh thái đặc thù Cái là “tốt hơn” với một tập đoàn người này ở một thời điểm và một địa điểm đặc thù nào đó có thể lại không tốt với tập đoàn người khác Mọi nền văn hoá đều phải học mới có được, là cái được chia
sẻ, là hệ thống canh tác tượng trưng, ít nhiều có khả năng thích ứng Mọi nền văn hoá đều là tổng thể của các bộ phận ít nhiều được hoà nhập
Cũng có người cho rằng người Dao và người Mông là dân DCDC, tàn phá rừng mạnh nhất Nhưng thực tế người Dao ở các tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn hiện đã ĐCĐC từ lâu, các công trình ruộng bậc thang trùng điệp, kỹ thuật cao, canh tác ổn định là một bằng chứng Đồng bào dân tộc Mông ở Hà Giang thâm canh ngô trên các hốc đá, đã chọn được giống ngô “chao đèn”, đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống và các bẹ ngô xoè ra như cái chao đèn che cho ngô không bị ướt và có thể để rất lâu trên nương Và trên các hốc đá đó khi ngô sắp chín người ta trồng luân canh đậu Đậu lấy thân ngô làm giá leo Đây là một phương thức canh tác kết hợp có trình độ cao, sử dụng rất hợp lý nguồn tài nguyên rất eo hẹp trên núi đá vôi
Nhưng cho đến nay cuộc sống của một số đồng bào vẫn phải đối mặt với những khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần Từ xưa đến nay nương rẫy vẫn là nguồn sống quan trọng của đồng bào miền núi vùng cao Đây chính là nơi xảy ra những tác động mạnh mẽ nhất giữa con người với sinh quyển Trong nông nghiệp, canh tác nương rẫy là hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất và là hình thức tàn phá tài nguyên rừng Đó là phương thức đốt phá, là khởi đầu của nền trồng trọt Hiện nay nó vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng dân tộc đặc biệt là ở những nơi vùng cao biên giới Việc canh tác nương rẫy còn mang tính quảng canh, nghĩa là
họ trồng một thời gian sau đó bỏ hoá Trong quá trình bỏ hoá, họ không bồi dưỡng cho đất bằng bất kỳ hình thức nào, ngay cả việc trồng cây phân xanh,
17
Trang 18chính vì thế mà đất đai rất khó hồi phục lại như trạng thái ban đầu Trong những năm gần đây, do dân số tăng lên nhu cầu về lương thực của người dân vùng cao cũng tăng theo Hầu hết các khu đất có khả năng sản xuất nông nghiệp đều đã có chủ và được đưa vào khai thác sử dụng, nên không có đất để mở rộng diện tích canh tác nữa, đòi hỏi họ phải duy trì trên các khu đất cũ và cũng từ đây nguồn phân vô cơ mới được bà con đưa vào sử dụng Do đồng bào dân tộc ở vùng núi cao chỉ có thể tiến hành trồng một vụ một năm, người nông dân ở đây trồng nhiều lúa, ngô, khoai khác nhau Đồng thời họ đã biết trồng xen các loại rau màu
trên nương ngô Theo Nguyễn Văn Thắng (1995) [28], hiện nay người dân tại
một số địa phương đã biết trồng xen nhiều loại cây trồng trên cùng một mảnh nương, trồng cây theo băng để hạn chế xói mòn đất Phương thức canh tác này không những bảo vệ được đất mà cung cấp chất dinh dưỡng cho đất Đây chính là kinh nghiệm sản xuất quý báu, tạo nên sự đa dạng về các giống cây trồng hiện có của các cộng đồng dân tộc người Dao và Mông Nhiều địa phương, kinh tế vườn rừng đã phát triển, đem lại thu nhập đáng kể cho người dân, nhiều hộ khá lên mua sắm được xe máy, ti vi, máy xay xát Thảo quả chính là cây trồng được ưa chuộng, vì nó thích hợp với điều kiện tự nhiên, vừa được thị trường chấp nhận, giá cả cao hơn rất nhiều so với một số cây trồng khác
Dân số huyện Chợ Đồn năm 2004 là 47.245 người, trong đó ở khu vực nông thôn có 45.032 người chiếm 95,31%, với 9 dân tộc Dân tộc Dao và dân tộc Mông là hai dân tộc có đời sống rất thấp là đối tượng chính của công tác ĐCĐC, cũng như chương trình xoá đói giảm nghèo của huyện Tuy khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá tập quán canh tác, nhưng họ đã sống hoà hợp với nhau qua nhiều thế hệ
Trước đây, cộng đồng người Dao và người Mông tại huyện Chợ Đồn cũng như các dân tộc ít người sống ở miền núi phía Bắc nước ta đều sống theo phương thức DCDC, canh tác chủ yếu là đốt rừng làm rẫy Đây chính là hình thức bóc lột
đất, vì canh tác hoàn toàn dựa vào độ phì tự nhiên Họ canh tác liên tục trên một mảnh đất qua một số năm khi nào thấy đất đai xấu không thể gieo trồng được
18
Trang 19nữa thì lại tiếp tục đốt rừng làm rẫy, rồi lại canh tác trên những vạt đồi mới khai phá, chính vì thế mà những cánh rừng ngày càng bị thu hẹp, đất đai do bị xói mòn và trở nên thoái hoá, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày một gia tăng
Người Dao đã biết sử dụng phân bón từ năm 1994 còn người Mông thì phải đến năm 1998 mới đưa vào sử dụng Những người Dao và Mông đã có truyền thống độc canh lúa trên ruộng bậc thang trên các sườn đồi, tương đối lâu
và ổn định Họ đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong canh tác ruộng bậc thang mà nhiều cộng đồng dân tộc khác chưa có
2.4 DCDC là một thực trạng phát triển không bền vững
2.4.1 Một số vấn đề về du canh du cư và định canh định cư
* Du canh du cư: DCDC có thể hiểu là sống lang thang nay ở chỗ này mai
ở chỗ khác, canh tác không ổn định, làm ăn vài năm đất xấu rồi bỏ đi chỗ khác phá rừng làm nương rãy mới [3]
DCDC mang tính tự nhiên và theo chu kỳ 4 đến 5 năm, có nơi hàng chục năm Một số vùng ở nước ta hiện tượng đồng bào đang sinh sống theo lối '' một chốn hai quê'' cũng là hình thức DCDC theo chu kỳ [3] Thực tế hiện nay, DCDC
ở quy mô xã gọi là ''xã DCDC '' ít xảy ra mà chủ yếu là hộ DCDC và thôn bản DCDC
* Công tác ĐCĐC: định canh định cư là một chính sách của Đảng và Nhà
nước ta giúp đồng bào các dân tộc ở vùng cao, vùng xa xoá đói giảm nghèo ổn
định đời sống [16] Định canh định cư là việc vận động, tổ chức hướng dẫn và giúp đỡ một bộ phận các dân tộc thiểu số ở miền núi còn đang DCDC xoá bỏ lối sống cũ - du canh phá rừng để xây dựng cuộc sống mới ĐCĐC, xây dựng bản làng văn hoá có cuộc sống ổn định
2.4.2 Tác động của du canh du cư
Đến nay tập quán DCDC vẫn đang phổ biến đối với các dân tộc thiểu số trên thế giới và ở Việt Nam Cùng với các hoạt động kinh tế khác đã và đang để lại những hậu quả nghiêm trọng:
19
Trang 20• Rừng bị tàn phá nghèo kiệt: đến nay có 40% rừng nhiệt đới nguyên sinh
bị huỷ diệt Hàng năm có khoảng 11 đến 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị chặt phá và
bị đốt [1] Diện tích rừng của khu vực Đông Nam á giảm đáng kể trong suốt thập
kỷ qua Điều này đã dẫn đến suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng hiệu ứng nhà kính, làm thay đổi khí hậu toàn cầu, bề mặt trái đất bị nóng lên Tổng lượng cacbon thải vào khí quyển hàng năm khoảng 4 tỷ tấn (Andreat and Goldammer, 1992)
• Gây ra sự cố môi trường: sa mạc hoá, xói mòn, lụt lội, xạt lở đất, bồi lấp
sông hồ đồng ruộng, phá huỷ nơi cu trú và tuyệt diệt các loài, mặn hoá, rửa trôi các chất hoá học [39] Trong vòng 40 năm qua có khoảng 1/5 lớp đất màu mỡ ở các vùng nông nghiệp đã bị mất đi, khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị mất khả năng sản xuất do xói mòn rửa trôi, số lượng trầm tích đã tăng lên 3 lần ở những sông lớn và 8 lần ở các sông nhỏ [10] Có khoảng 5 - 10% loài trên thế giới bị biến mất vào năm 2050 [4] Toàn cầu có khoảng 492 chủng quần thực vật
có tính di truyền độc đáo đang bị đe doạ tuyệt chủng Từ năm 1992 đến nay đã
có 617 giống vật nuôi bị tuyệt chủng [4] ở khu vực Đông Nam á có khoảng 21% tổng diện tích đất bị thoái hoá nghiêm trọng do xói mòn của nước, một hậu quả nghiêm trọng của nạn phá rừng mà chủ yếu do DCDC gây nên
Các nguyên nhân dẫn đến chặt phá rừng ở các nước có thể khác nhau song kiểu canh tác DCDC của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn là vấn đề đáng lo ngại nhất [33]
Ngày nay với tốc độ tăng dân số ngày càng cao, yêu cầu bảo vệ rừng và phát triển trồng rừng công nghiệp đã và đang đe doạ sự sinh tồn của người dân
địa phương Chu kỳ bỏ hoá quá ngắn không đảm bảo ổn định lương thực cho người dân Kiểu quản lý tài nguyên truyền thống bị phá vỡ tạo nên dòng người di cư đi tìm vùng đất mới để canh tác ở Việt Nam vùng đồi núi đang nằm dưới những áp lực nặng nề, các hệ thống tự nhiên đang bị phá vỡ, tài nguyên đất, rừng
đang bị suy thoái trầm trọng, xói mòn và các tại hoạ thiên nhiên ngày càng gia
20
Trang 21tăng, năng suất cây trồng thấp, cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông nghèo nàn, mật độ dân số ngày càng gia tăng
Miền Bắc Việt Nam đã chứng kiến sự sa sút lớn nhất về độ che phủ của rừng, giảm từ 95% xuống còn 17% trong vòng 48 năm ở nhiều tỉnh miền núi, độ che phủ còn lại rất thấp như ở Lai Châu chỉ còn 7,88%; Sơn La 11,95%; Lao Cai 5,38% Từ năm 1995 - 1999 ở 4 tỉnh Tây Nguyên đã có hơn 18.500 ha rừng bị khai phá mà nguyên nhân chủ yếu là do DCDC [24] Hơn 40 năm qua chúng ta
đã có nhiều cố gắng để khắc phục những khó khăn trên, nhưng nạn phá rừng vẫn liên tiếp xảy ra đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên [35], đa dạng sinh học đang bị mất dần Sự tăng nhanh dân số đã rút ngắn thời gian bỏ hoá nương rẫy, bào mòn tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp Xói mòn đã làm giảm
độ màu mỡ của hàng triệu ha đất trồng trọt Những khu vực rộng lớn trước đây là rừng nay chỉ là đồi trọc Để khôi phục lại tiềm năng của vùng này, đòi hỏi phải mất thời gian dài, kể cả sự suy thoái đó có thể được dập tắt ngay lập tức, mà điều này thì khó có thể xảy ra Và như vậy sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống trước mắt cũng như lâu dài của đồng bào Chính vì vậy hoạt động sống theo lối DCDC trong điều kiện của đất nước ta hiện nay chính là sự phát triển không bền vững
2.5 Các nghiên cứu về đcđc liên quan đến sử dụng đất trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
2.5.1.1 Công tác định canh định cư ở Malaysia
Malaysia, một quốc gia Đông Nam á có diện tích 330.000km2, dân số 24,4 triệu người [37] Tỷ lệ dân số ở vùng nông thôn là 43% Malaysia có tiềm năng đất đai phong phú, đa dạng, khả năng khai hoang nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp trở thành mũi nhọn trong chương trình phát triển nông thôn Năm 1956 tổ chức hỗ trợ phát triển đất đai Liên bang được thành lập, gọi tắt là
"FELDA" Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của FELDA là phát triển đất
đai, xây dựng các khu định cư theo kiểu trang trại nhằm tăng cường sản xuất
21
Trang 22nông - lâm - công nghiệp FELDA tổ chức ĐCĐC theo mô hình toàn diện bao gồm: quy hoạch đất đai, khai hoang sản xuất nông lâm nghiệp, cung ứng tín dụng, chế biến, giao thông vận tải Các chương trình làm cơ sở cho tiếp cận thị trường và nâng cao năng lực như khuyến nông - khuyến lâm, chương trình phát triển cộng đồng được hợp nhất dưới sự lãnh đạo của FELDA Một dự án FELDA thường bao gồm: diện tích quy hoạch định cư là 200 ha, định cư cho 400
hộ gia đình Trong đó mỗi hộ được cấp 4 ha đất sản xuất và 1 ha đất thổ cư Diện tích còn lại sử dụng làm đường giao thông xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp
điện, nước, trường học, dịch vụ tiếp thị truyền thông
Mô hình của LELDA được hợp lý hoá bằng sự phát triển ban đầu do FELDA đảm nhận Sau khi người định cư tiếp quản việc quản lý được phân cấp
rõ ràng giữa FELDA và nông hộ Mô hình này đã giúp việc định cư phát triển với tốc độ nhanh và chặt chẽ Bảng 2.1; 2.2; 2.3 là kết quả đạt được của FELDA trong gần 40 năm hoạt động
Bảng 2.1 Diện tích FELDA sử dụng cho ĐCĐC
623
351
43.445 896.627
95,20
18.40 0,17 0,50 0,10
-
4,80
100
(Nguồn: Báo cáo của FELDA)
Cuối năm 1997, số lượng các gia đình đã định cư là 112.209 hộ với 304 chương trình Những người định cư phân bố theo loại hình cây trồng như trong bảng 2.2
22
Trang 23Bảng 2.2 Phân bố người định cư theo các loại cây trồng
477
112.239
65,30 34,30 0,40
100
(Nguồn: Báo cáo của FELDA)
Điểm đặc biệt trong chương trình định cư của FELDA là trong thời gian
đầu người định cư chưa có sản phẩm và thu nhập, FELDA trợ cấp tiền hàng tháng dựa vào khối lượng công việc hoàn thành theo kế hoạch và đã được thoả thuận cụ thể Sau khi có sản phẩm, người ĐCĐC sẽ hoàn trả lại tiền trợ cấp và các khoản vay bằng việc giao nông sản phẩm cho FELDA hoặc tự bao tiêu sản phẩm và hoàn trả lại bằng tiền mặt Như vậy với sự trợ giúp phù hợp sẽ giúp người nông dân có đủ vốn để phát triển sản xuất, từ đó thu nhập tăng, điều đó đã ảnh hưởng rất tốt đến sự ổn định và phát triển đời sống của nông hộ Thu nhập của người
ĐCĐC không ngừng tăng lên, mô hình ĐCĐC của FELDA thực sự là mô hình mẫu cho các nước đang phát triển
Bảng 2.3 Thu nhập hàng tháng trung bình của người ĐCĐC
Năm Các chương trình cao su Các chương trình cọ lấy dầu
(Nguồn: Báo cáo của FELDA)
23
Trang 242.5.1.2 Công tác định canh định cư ở Indonesia
Indonesia có diện tích 1919.000km2 với dân số 217 triệu người [37] Cũng giống như các quốc gia đang phát triển, sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn ở Indonesia khá cao, người dân nông thôn mà đặc biệt là ở các đảo nhiều rừng núi còn sống ở mức nghèo đói, còn tồn tại nhiều cuộc sống hoang dã DCDC tách biệt với xã hội bên ngoài Chính sách di dân và ĐCĐC ở Indonesia bắt đầu được thực hiện từ năm 1905 dưới thời cai trị của Hà Lan Chính sách di cư và định cư ở Indonesia có nhiều mục tiêu khác nhau nhưng cơ bản là: di dân
từ những vùng có mật độ dân cư cao đến những vùng có mật độ dân cư thấp, định cư tại chỗ những hộ gia đình còn DCDC Việc thực hiện di dân định cư ở Indonesia khá phức tạp, chịu nhiều chi phối của chính quyền các cấp từ trung
ương đến địa phương và của nhiều cơ quan chức năng Do đó nhiều chương trình
định cư không đạt kết quả mong muốn Tuy nhiên Indonesia cũng đã đạt được những kết quả nhất định thể hiện ở các mốc lịch sử:
Năm 1974 Tổng thống Suhacto thành lập Ban công tác quần chúng, mục tiêu nhằm mở rộng thêm 1 triệu ha đầm lầy thuỷ triều, phần đáng kể được sử dụng cho tái định cư Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu hàng đầu là nâng cao sản lượng lương thực Do các vùng đất trồng trọt nằm sâu trong các đảo đã được khai phá để trồng trọt, cần phải mở rộng diện tích canh tác bằng khai phá đầm lầy ven biển để di dân định cư Kế hoạch 1 triệu ha khai phá đầm lầy ven biển đã đạt được một số kết quả nhất định Kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1974 - 1979) bước đầu có 3100 hộ gia đình (12.345 khẩu) được định cư Kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1979 - 1984), Indonesia đã đạt được mục tiêu định cư 500.000 hộ gia đình Tuy nhiên sau đó (sau năm 1984) nhất là thập kỷ 90, các nước Đông Nam á rơi và tình trạng khủng hoảng kinh tế, nội chiến và đấu tranh sắc tộc, khủng hoảng chính trị đã làm chương trình định cư của Indonesia bị lu
mờ Theo một kết quả nghiên cứu năm 1993, dân cư Indonesia chủ yếu vẫn tập trung trên đảo Java (chiếm 7% diện tích quốc gia) Có tới 300 dân tộc và 250
24
Trang 25ngôn ngữ khác nhau, phân bố dân cư không đồng đều, đa sắc tộc là điểm hạn chế lớn nhất trong chính sách định cư ở Indonesia [14,20]
2.5.1.3 Công tác định canh định cư ở Thái Lan
Là một quốc gia ở Đông Nam á, Thái Lan có diện tích 513.000 km2 dân
số 62,6 triệu người [37], 69% dân số sống ở vùng nông thôn và vùng núi cao ở Thái Lan hiện nay còn khoảng 3 - 4 triệu người sống ở miền núi cao hẻo lánh trong tình trạng đói nghèo và DCDC Trong số đó chủ yếu là các dân tộc ít người như: Karen, Mông, Lahu 90.000 người Mông ở Thái Lan hoặc đang sống trong các trại tị nạn dọc biên giới Thái - Lào hoặc còn đang DCDC Miền bắc Thái Lan thuộc vùng Tam giác vàng, nơi trồng cây thuốc phiện nhiều nhất thế giới Việc
định cư người DCDC mang tính chất phức tạp và khó khăn riêng do ảnh hưởng của vùng Tam giác vàng
Tuy vậy, hàng chục năm qua Chính phủ hoàng gia Thái Lan dồn nỗ lực cho việc tái định cư Việc hỗ trợ phát triển miền núi được tập trung cho khoảng
15 cơ quan khác nhau của Chính phủ, trong đó có Cục Lâm nghiệp, Cục Phát triển đất đai, Cục Khuyến nông, Cục Phát triển cộng đồng, Cục Bảo vệ sức khoẻ giã vai trò chủ đạo [14,17]
Khác hẳn với Indonesia, các chương trình đầu tư định cư và phát triển nông nghiệp bền vững của Thái Lan khá rõ rệt gồm một số hoạt động sau:
- Thành lập các chương trình phát triển nông nghiệp bền vững thay thế cho
Trang 26ở Thái Lan việc ĐCĐC được tiến hành song song và đồng bộ với làn sóng
di cư từ nông thôn vào thành thị Các chương trình ĐCĐC, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu chế xuất thu hút việc làm, xây dựng các thị trường Các trung tâm này hoạt động rất có hiệu quả đã góp phần ổn định đời sống của người
định cư Trong gần 30 năm hoạt động tài trợ cho các dự án phát triển nông lâm nghiệp miền núi, Hoàng gia Thái Lan đã tài trợ hơn 300 dự án lớn nhỏ với kinh phí hơn 500 triệu USD Điển hình là dự án xây dựng khu định cư người Mông thành khu tham quan du lịch nổi tiếng ở miền Bắc Thái Lan
2.5.1.4 Công tác định canh định cư ở Srilanca
ở Srilanca hiện tượng DCDC và ĐCĐC có những nét rất riêng biệt Quá trình di dân và DCDC là sự di chuyển của các hộ nông dân từ vùng khô hạn đến vùng nhiều mưa Chương trình định cư ở Srilanca được bắt đầu từ những năm
1930 đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ [37] Nhiều tác giả khi nghiên cứu về ĐCĐC ở Srilanca đã đánh giá: Srilanca là mộtửtong số ít quốc gia Châu á thực hiện các chương trình định cư theo đất đai một cách nhất quán như một biện pháp có tính nguyên tắc bảo vệ tầng lớp nông dân, giải quyết áp lực dân
số với vùng nhiều mưa và tăng sản xuất nông nghiệp Các chương trình định cư
được tập trung chủ yếu vào xây dựng hệ thống thuỷ lợi cung cấp nước tưới cho vùng khô hạn Người dân được định cư tại chỗ và di chuyển từ vùng nhiều mưa tới vùng khô hạn theo kế hoạch cụ thể
Trong các dự án định cư ở Srilanca nổi tiếng và thành công nhất là dự án mang tên con sông Mahaweli Dự án này đã cung cấp nước tưới tiêu cho 16% diện tích của Srilanca, tái định cư cho 140.000 hộ gia đình tương đương với 5% dân số Srilanca [12]
Sau ĐCĐC, Chính phủ Srilanca còn có nhiều chính sách thiết thực giúp nông dân tiếp thị, nâng cao năng lực để phát triển bền vững Chương trình tái định cư ở Srilanca được đánh giá rất cao và đã đạt được thành công như mong đợi
26
Trang 272.5.1.5 Công tác định canh định cư ở Đài Loan
Đài Loan là hòn đảo nhỏ với mật độ dân số 36 nghìn người/km2 Tuy nhỏ nhưng đài Loan có nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ Hiện nay nông nghiệp Đài Loan được đánh giá là rất phát triển, đa số hộ nông dân có mức thu nhập khá và
ổn định Kinh nghiệm về công tác ĐCĐC được bắt đầu cách đây hơn 30 năm và
là bài học quý giá cho nhiều quốc gia Các chương trình ĐCĐC của Đài Loan chủ yếu tập trung cho người dân tộc ở vùng xa xôi hẻo lánh Chính phủ Đài Loan quan tâm đến các vấn đề: xây dựng giao thông, phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cộng đồng, đẩy mạnh việc tổ chức sản xuất và các chương trình khuyến nông khuyến lâm Điển hình cho sự thành công là việc tổ chức các hiệp hội như: Hiệp hội những người trồng nho, trồng táo, rau quả Trong mỗi Hiệp hội có các ban điều hành và văn phòng dịch vụ, chi phí phục vụ cho hoạt động của Hiệp hội, khi mới thành lập được Nhà nước trợ cấp Các hiệp hội sản xuất chủ động nhiệm
vụ bảo vệ quyền lợi của hội viên như: đóng góp bảo hiểm y tế, bảo lãnh vay tiền ngân hàng, thống nhất giá tiêu thụ để tránh bị ép giá, giao dịch mua vật tư Nhiều hiệp hội sản xuất đã thành lập các chương trình khuyến nông riêng biệt, mọi chi phí do hội viên đóng góp [14]
Tóm lại: Malaysia, Srilanca, Đài Loan là các quốc gia Châu á được đánh
giá cao trong công tác định canh, định cư Những bài học kinh nghiệm của các nước về công tác này được tổng kết như sau [14,32]:
- Định canh định cư là vấn đề khó khăn phải thực hiện lâu dài, cần phải có
kế hoạch, chiến lược và hệ thống các chính sách ĐCĐC hợp lý
- Hệ thống chính sách là đòn bẩy quan trọng điều hành xã hội nói chung
và trong công tác ĐCĐC nói riêng, hoạch định chiến lược và chính sách đúng sẽ
có tác động tích cực, sớm ổn định cuộc sống Hệ thống chính sách cần phải thể hiện đầy đủ, rõ ràng nghĩa vụ và quyền lợi của người định cư, phù hợp với lợi ích cộng đồng, với lợi ích tôn giáo và bản sắc văn hoá dân tộc Hệ thống chính sách còn đồng thời phù hợp với luật pháp quốc gia cũng như các cộng đồng quốc tế nhằm tranh thủ thu hút nguồn tài chính quốc tế
27
Trang 28- Cần phải có quy hoạch, kế hoạch hoạt động cụ thể thực hiện theo từng bước đi, từng giai đoạn một cách đồng bộ, chắc chắn
- Phải có hệ thống chỉ đạo quản lý công tác ĐCĐC từ trung ương đến địa phương, có các cơ quan chức năng đảm nhận công tác ĐCĐC và có các cơ quan
hỗ trợ chương trình này
- Nhà nước phải đóng vai trò quyết định trong công tác ĐCĐC: bài học không thành công ở Indonesia và rất thành công ở Malaysia, Srilanca cho thấy: nhà nước phải đóng vai trò đưa ra các quyết định trong công tác ĐCĐC ở Indonesia theo truyền thống đất đai được giao cho các bộ tộc quản lý, người đến
định cư gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận đất đai, họ phải quay trở lại nơi cũ hoặc đi nơi khác mặc dù họ là đối tượng định cư theo chương trình của Chính phủ Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu mang đến sự không thành công trong chương trình ĐCĐC ở Indonesia
- Nâng cao năng lực cộng đồng định cư, giáo dục người dân hiểu và làm theo pháp luật, kết hợp với việc tuyên truyền vận động, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho cộng đồng định cư tiếp cận với xã hội bên ngoài
2.5.2 Công tác định canh định cư ở Việt Nam
2.5.2.1 Một số vấn đề về công tác định canh định cư
Công tác ĐCĐC được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm và được xem là công tác của toàn xã hội Nghị quyết số 71-TW ngày 22/2/1963 của Bộ Chính trị
về phát triển nông nghiệp miền núi ghi rõ: "Phải trên cơ sở giải quyết đúng phương hướng sản xuất và phương hướng kỹ thuật dần dần tổ chức ĐCĐC từng bước, theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện nhằm ổn định, cải thiện đời sống của
đồng bào còn DCDC giảm bớt diện tích đất rừng bị phá huỷ " Thực hiện chủ trương của Bộ chính trị, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 38/CP ngày 12/3/1968 về công tác ĐCĐC Nghị quyết Đại hội Đảng IV (1976) và Đại hội Đảng IX đều khẳng định: "Quyết tâm hoàn thành việc ĐCĐC" Riêng vốn dành cho ĐCĐC
28
Trang 29trực tiếp tới các cơ quan ĐCĐC tại các địa phương trong giai đoạn 1990 - 2000 bằng 98% tổng kinh phí đầu tư của 30 năm qua Điều này nói lên sự quan tâm của Chính phủ tới công tác ĐCĐC, phát triển miền núi trong những năm gần đây:
- Giai đoạn I (1968 - 1975): công tác ĐCĐC ở miền bắc khá phát triển, việc di dân, giãn dân từ đồng bằng sông Hồng lên miền núi khai hoang được tiến hành đồng thời
- Giai đoạn II (1975 - 1990): sau khoán 100 và khoán 10, công tác ĐCĐC gần như không phát huy được hiệu quả các chính sách của nhà nước, chủ yếu trong giai đoạn này là việc di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới
- Giai đoạn III (từ 1990 đến nay): công tác ĐCĐC được quan tâm đặc biệt
và trở thành nhiệm vụ của toàn xã hội
Trải qua hơn 30 năm thực hiện công tác ĐCĐC, Việt Nam đã đạt được một
số thành tựu nổi bật sau:
+ Định cư được 43.499 hộ với 1.238.255 người, tổng kinh phí dành cho công tác này vào khoảng 921,204 tỷ đồng Nguồn kinh phí này chưa kể các dự án lớn phát triển miền núi mà trung tâm là công tác ĐCĐC đời sống đồng bào các dân tộc Kết quả thực hiện nguồn vốn và số lượng ĐCĐC thể hiện qua bảng 2.4 và 2.5
16.653
6.288 4.249 1.967 3.745
394
904.551
349.375 228.596 139.105 157.118 30.357
(Nguồn: Vụ Kế hoạch và Quy hoạch - Bộ NN & PTNT)
29
Trang 30Bảng 2.5 Kết quả công tác định cư từ 1968 - 2003 T
Tổng số
hộ gia
đình
Tổng số khẩu (người)
6.847
341.2482.5123.053
5.603
533 1.092 2.214 1.764
623.951
43.499 123.711 218.310 238.431
3.563.080
248.656729.0601.302.1091.283.255
3.185
05561.1541.475
742.356
98106.402273.601362.255
2.409
345487181.109
893.478
8306234.074274.081377.026
(Nguồn: Vụ Kế hoạch và Quy hoạch - Bộ NN & PTNT)
Qua đây cho thấy sự nỗ lực không ngừng của Chính phủ và chính quyền các cấp quyết tâm đẩy mạnh đầu tư phát triển đưa miền núi hoà nhập và tiến kịp với phát triển kinh tế chung của cả nước Trên thực tế công tác ĐCĐC còn được huy động từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau như các dự án về sức khoẻ cộng
đồng, giáo dục và các dự án phát triển miền núi khác như 135; 773; 327
Trang 31- Thiếu cán bộ có đủ năng lực để giải quyết công việc, đặc biệt là những cán bộ địa phương vùng diện vận động ĐCĐC;
- Trình độ học vấn của cộng đồng người DCDC ở mức thấp, nhiều địa phương giải quyết công việc mang tính áp đặt, không thu hút được sự quan tâm
đồng tình của người dân;
- Sự khác biệt về bản sắc văn hoá và ngôn ngữ là những khó khăn thực tế của công tác ĐCĐC;
- Cơ quan quan lý ĐCĐC bị xáo trộn, luân chuyển nhiều Việc quản lý còn
bị chồng chéo, bộ máy quản lý cồng kềnh làm hạn chế hiệu quả hoạt động;
- Cán bộ là người dân tộc, đặc biệt là cán bộ ĐCĐC là người dân tộc còn
ít, gây khó khăn trong việc tiếp cận với cộng đồng ĐCĐC;
- Công tác ĐCĐC ít có sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi, thường mang tính áp đặt từ trên xuống;
- Một số ngành, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác này
2.5.2.2 Nguyên nhân và tác động của DCDC của đồng bào dân tộc huyện Chợ Đồn
Trong những năm qua, huyện Chợ Đồn là nơi có đồng bào Dao và Mông sống DCDC nhiều nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Điều đó đã gây ảnh hưởng xấu
đến đời sống kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường sinh thái ở nơi đây đồng bào DCDC đã chặt phá và đốt đi hàng trăm ha rừng, gây thiệt hại lớn đến tài nguyên thiên nhiên của địa phương vi phạm đến việc bảo vệ các công trình quốc phòng
an ninh, ngoài ra một số ít còn có biểu hiện gây kích động làm ảnh hưởng xấu
đến trật tự xã hội và an ninh chính trị ở địa phương [8]
Đời sống của đồng bào DCDC hết sức cơ cực, điều kiện sống thiếu thốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, trẻ em thất học, dịch vụ y tế không phát triển, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng Họ rất nghèo và thiếu thốn tất cả mọi thứ, không có đủ
điều kiện để thay đổi cũng như định hướng cho cuộc sống của họ Vì vậy muốn giúp đồng bào ĐCĐC cần phải xác định rõ nguyên nhân dẫn đến DCDC, từ đó có dữ liệu phân tích thực tế, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm ổn định đời
31
Trang 32sống, xoá đói giảm nghèo, định cạnh định cư cho đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện
* Nguyên nhân dẫn đến DCDC
Đồng bào Dao và Mông DCDC ở Chợ Đồn khi được phỏng vấn họ đều giải thích lý do mà họ phải tìm những khu đất mới để sinh sống là do thiếu đất, năng suất cây trồng thấp dẫn đến tình trạng thiếu ăn nên họ buộc phải DCDC Hơn nữa điều kiện nơi ở không thuận tiện như thiếu nước, xa trung tâm, khó tiếp cận với khoa học kỹ thuật cũng như tài sản họ không có gì đáng kể nên suy nghĩ
về việc di chuyển nơi ở của họ cũng rất đơn giản
Như vậy xếp theo % số người được trả lời phỏng vấn về các lý do DCDC ở Chợ Đồn có thể xếp theo mức độ quan trọng về các nguyên nhân gây DCDC Kết quả thể hiện tại bảng 2.6
Bảng 2.6 Lý do chuyển đến nơi ở mới của dân tộc Dao và dân tộc Mông
( Nguồn: dự án nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan)
Bảng 2.6 cho thấy nguyên nhân do thiếu đất và thiếu nước là 2 nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo và thiếu ăn Như vậy có thể kết luận lý do chính dẫn đến DCDC là đói nghèo
• Đói nghèo là nguyên nhân cơ bản
Du cư là hiện tượng phức tạp, có nhiều nguyên nhân dẫn đến DCDC, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do phương thức canh tác của người dân không phù hợp với điều kiện rừng tự nhiên đã cạn kiệt như hiện nay Có thể nói cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp lại dựa trên kỹ thuật canh tác lạc hậu
32
Trang 33là nguyên nhân tất yếu dẫn đến tình trạng DCDC Như vậy, DCDC đã làm cho
đời sống của đồng bào luôn bị xáo trộn, đã nghèo nay lại càng nghèo thêm
Kinh tế của người Dao huyện Chợ Đồn mang nặng tính tự cung tự cấp Những sản phẩm sản xuất ra chỉ phục vụ cho đời sống của riêng họ Đồng bào vẫn duy trì phương thức chặt, phá, đốt cây trên nương để trồng ngô, lúa Kiểu sản xuất phụ thuộc vào mùa vụ, lấy thời gian làm thước đo chứ không dùng hiệu quả làm chuẩn mực, lấy lương thực làm mục tiêu chứ chưa lấy giá trị đồng tiền làm mục đích hướng tới Họ thường sống trên những vùng đất cao, do vậy phải canh tác ở những vùng đất dốc
Sản xuất và đời sống của đồng bào DCDC thực sự thiếu và yếu về mọi mặt Các hộ gia đình thiếu đất để sản xuất, thiếu nước, thiếu công cụ lao động vì vậy số lương thực sản xuất ra mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu sinh hoạt tối thiểu
• Thiếu đói là hậu quả trực tiếp của du canh du cư
Đói nghèo là hiện tượng phổ biến trong cộng đồng người Dao và người Mông Cuộc sống DCDC nay đây mai đó đã làm cho đời sống đã nghèo khó nay lại càng túng quẫn hơn, hoàn cảnh sống cực kỳ khó khăn từ lương thực thực phẩm hàng tiêu dùng cho đến cái mặc còn quá thiếu thốn
Nguồn sống chính của đồng bào là sản xuất nông nghiệp, số hộ thiếu ăn từ
3 - 6 tháng chiếm 82,56% [8] Nơi ở xa xôi hẻo lánh, cơ sở vật chất nghèo nàn, nhà cửa tạm bợ, tài sản không có gì đáng kể, cuộc sống không ổn định Hầu như toàn bộ thu nhập của hộ gia đình đều tập trung cho cái ăn song vẫn không đủ, thiếu
đói, bệnh tật xảy ra thường xuyên đấy là hệ quả của cuộc sống DCDC nơi đây
• Du canh du cư làm kìm hãm phát triển kinh tế
DCDC là một trong những tác nhân đẩy nền kinh tế của huyện Chợ Đồn hoạt
động theo kiểu tự cung tự cấp Hệ quả của nó chính là việc kìm hãm sự phát triển kinh tế, họ chỉ sản xuất ra cái họ cần chứ không sản xuất ra cái người khác cần
Sức ép nông nghiệp đã diễn ra nơi đây, khi mà nông nghiệp không đáp ứng nổi nhu cầu của cộng đồng Sức ép nông nghiệp không chỉ bao gồm những yếu tố
33
Trang 34xói mòn đất mà còn cả các yếu tố khác như kỹ thuật canh tác không hợp lý, thiếu cơ sở hạ tầng, áp lực dân số và đói nghèo
• Du canh du cư làm giảm năng suất cây trồng
Cùng với phương thức canh tác lạc hậu lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên,
điều kiện canh tác nương rẫy lại thực hiện trên những vùng đất dốc nên nhanh chóng làm xói mòn đất, từ đó năng suất cây trồng bị giảm sút nghiêm trọng
Bảng 2.7 Đánh giá về sự thay đổi năng suất cây trồng lúa và ngô
Sự thay đổi năng suất (%) Chỉ tiêu
(Nguồn: dự án nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan)
Đồng bào cũng đã nhận ra được các nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút về năng suất cây trồng và hệ quả của nó là dẫn đến bỏ hoá Theo kết quả điều tra của dự án nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan, nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất
- Thiếu vốn cho đầu tư sản xuất
- Chưa có biện pháp kỹ thuật bảo vệ đất
- Lạc hậu
(Nguồn: dự án nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan)
Số liệu bảng 2.8 cho thấy: khi DCDC đồng bào chỉ mang theo giống cây trồng địa phương nên năng suất thấp Hơn nữa, đồng bào ở vùng sâu vùng xa không có cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, không có biện pháp bảo vệ đất khi canh tác
34
Trang 35trên đất dốc, phương thức canh tác lại lạc hậu Bên cạnh đó đồng bào rất nghèo không có vốn đầu tư do vậy ảnh hưởng đến năng suất và việc bỏ hoá đất lại tiếp tục diễn ra
Nghèo đói là tác nhân tàn phá môi trường Do nhu cầu của đồng bào DCDC đã buộc phải khai thác tài nguyên một cách bừa bãi, gây ra sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng Đây cũng chính là nguyên nhân làm đất bị xói mòn, năng suất cây trồng giảm sau đó dẫn đến bỏ hoang hoá, điều này đã làm cho cuộc sống của đồng bào ngày càng nghèo đói hơn vì thế khó có điều kiện ổn định và nâng cao cuộc sống
* Tác động của DCDC đến tài nguyên môi trường
Du canh là một tập quán có từ lâu đời của đồng bào các dân tộc vùng miền núi nói chung và của đồng bào Dao, Mông huyện Chợ đồn nói riêng Trong điều kiện hiện nay, đất đai đã không còn đủ để canh tác theo phương thức du canh, do
đó người dân phải tìm đến nơi có rừng để khai phá làm nương rẫy Như vậy hậu quả của nó là rừng bị tàn phá, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái
Mức độ ảnh hưởng của DCDC đến tài nguyên môi trường rất khó có thể xác định được cụ thể thông qua các phương pháp điều tra xã hội Tuy nhiên có một điều không thể bàn cãi đó là rừng bị tàn phá nặng nề Theo thống kê chưa
đầy đủ thì mỗi năm ở huyện Chợ Đồn có hơn 200 ha rừng bị chặt phá, đặc biệt
họ còn chặt phá cả rừng đầu nguồn và rừng ở khu vực quốc phòng an ninh
Đối với môi trường miền núi thì rừng là tài nguyên sinh vật quý giá nhất,
đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Với địa hình hiểm trở, độ dốc lớn xen với những dãy núi đá vôi và bị chia cắt bởi hệ thống sông suối thì rừng là người bảo hộ vĩ đại nhất: hạn chế lũ lụt, chống xói mòn, điều hoà khí hậu, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm
Hiện tượng xói mòn xẩy ra thường xuyên, nhất là xói mòn bề mặt, tác hại của nó ngày càng nghiêm trọng Một trong những nguyên nhân chính là phương pháp canh tác và sử dụng đất không hợp lý, từ đó dẫn đến đất bị xói mòn rửa trôi
và thoái hoá nghiêm trọng
35
Trang 36DCDC ảnh hưởng đến sự ổn định và cân bằng của hệ sinh thái địa phương
Sự suy giảm đa dạng sinh học là minh chứng cụ thể cho vấn đề này, nó tác động gián tiếp và lâu dài cho con người và môi trường sinh thái
Trong những năm gần đây, dưới sự tác động của các chính sách do Đảng
và Nhà nước ta đề ra, đặc biệt là các chính sách ĐCĐC, chính sách giao đất, giao rừng trực tiếp đến từng hộ nông dân đã làm thay đổi tập quán canh tác của bà con nông dân vùng cao Họ đã ý thức được và đã chuyển từ hình thức du canh, du cư trước đây sang hình thức ĐCĐC, góp phần ổn định đời sống và giữ gìn cảnh quan môi trường Đối với ruộng lúa nước, hiện tại nhiều hộ gia đình đã sử dụng một số giống lúa mới, chủ yếu là giống của Trung Quốc Việc sử dụng giống lúa mới yêu cầu sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu hơn Hiện có khoảng dưới 30% hộ gia đình sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu Năng suất thu được từ giống lúa mới với đầu tư đủ phân hóa học và thuốc trừ sâu cao hơn 20 - 30% Tuy nhiên, mỗi năm ở đây vẫn chỉ canh tác một vụ là phổ biến
Cây lương thực chính trồng trên nương rẫy, trên núi cao là sắn Sắn được thu hoạch sau một đến hai năm Hiện nay người dân đã bắt đầu trồng lạc, đậu và thường trồng xen trên đất trồng sắn, ngô hoặc trong vườn nhà
Phương thức sử dụng đất của các cộng đồng người Dao ở Chợ Đồn chủ yếu bao gồm việc xây dựng ruộng bậc thang và làm nương rẫy trồng sắn, ngô Tại những nơi có đủ nguồn nước cung cấp và đất không dốc lắm, ruộng bậc thang lúa nước được xây dựng Nương rẫy được canh tác theo hình thức chọc tỉa: chọc lỗ nhỏ trên mặt đất để gieo hạt, chứ không dùng cày Thường người ta không chặt trắng toàn bộ rừng để làm rẫy, mà giữ lại một số bụi cây để chống xói mòn đất Phương pháp này tạo mô hình trồng sắn, lúa và ngô bền vững trên nương, duy trì dinh dưỡng của đất
Mặc dù các chương trình ĐCĐC đã được triển khai ở huyện Chợ Đồn từ hơn 20 năm nay, với 12 xã có chương trình này, nhưng hiệu quả của công tác
ĐCĐC nói chung và hiệu quả của việc sử dụng đất mang lại nói riêng chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào Để góp phần phục vụ cho phát triển sản
36
Trang 37xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hợp lý cho việc sử dụng đất tại các địa bàn ĐCĐC, chúng
tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp sau chương trình ĐCĐC của đồng bào Dao huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn" với
mong muốn góp một phần nhỏ cho mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái
và sử dụng đất ổn định lâu dài trên địa bàn ĐCĐC
37
Trang 383 Đối tượng Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đất nông nghiệp: với các loại cây hàng năm và cây lâu năm được trồng trên đất ruộng, đất rương rẫy và đất vườn đồi
- Đất lâm nghiệp: trồng rừng và khả năng phát triển nghề rừng
- Các hộ nông dân đồng bào Dao sử dụng đất nông lâm nghiệp ở huỵên Chợ Đồn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên phạm vi 12 xã thuộc huyện Chợ Đồn có chương trình ĐCĐC của đồng bào Dao với các nghiên cứu điển hình ở 3 xã đại diện cho 3 vùng khác nhau của huyện
• Vùng trung tâm (cụm kinh tế Bằng Lũng) gồm các xã: Ngọc Phái, Phương Viên, Đại Sảo, Bằng Lãng và thị trấn Bằng Lũng Địa hình vùng này tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 300 - 450m, cây trồng chủ yếu phát triển cây lương thực (lúa, ngô) và cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, khoai tàu); chăn nuôi và trồng rừng Người Dao ĐCĐC ở vùng này chủ yếu là dân người di cư từ Tuyên Quang, Hà Giang đến Vùng này chọn xã Ngọc Phái là nghiên cứu điểm đại diện
• Vùng núi thấp (cụm kinh tế Phong Huân) nằm ở phía nam của huyện bao gồm các xã: Lương Bằng, Nghĩa Tá, Phong Huân, Yên Nhuận, Yên Mỹ và Bình Trung Địa hình vùng này gồm núi cao, đồi bát úp và một số địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình 400 - 700m, vùng này có thế mạnh là phát triển lâm nghiệp (trồng rừng nguyên liệu giấy) cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi
Đặc điểm ĐCĐC ở vùng này là dân DCDC từ Thái Nguyên, Lạng Sơn và dân bản
địa Vùng này chọn xã Bình Trung là nghiên cứu điểm
38
Trang 39• Vùng núi cao (cụm kinh tế Quảng Bạch) nằm ở phía Bắc huyện gồm các xã: Xuân Lạc, Nam Cường, Đồng Lạc, Tân Lập, Bản Thi, Bằng Phúc, Yên Thịnh
và Quảng Bạch Địa hình vùng này khá phức tạp, chủ yếu là các dãy núi có độ cao trung bình 600 - 800 m, thế mạnh của vùng là phát triển lâm nghiệp (khoanh nuôi tái sinh rừng), cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và trồng cây công nghiệp hàng năm Đặc điểm địa bàn ĐCĐC ở vùng này là dân di cư từ Cao Bằng xuống Vùng này chọn xã Nam Cường là nghiên cứu điểm
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra, nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết, địa hình ); điều kiện kinh tế - xã hội: thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, tình hình quản lý đất đai
- Tình hình chung của huyện;
- Cơ cấu dân tộc;
- Xác định quy mô vùng định canh, định cư
3.2.2 Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất chính ở địa bàn ĐCĐC
- Đặc điểm phân bố vùng ĐCĐC
- Tình hình sử dụng đất của vùng
- Điều tra, phỏng vấn việc sử dụng đất của các hộ nông dân
- Xác định các loại loại hình sử dụng đất chính trên đất ruộng, đất nương rẫy và đất vườn đồi
3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp
- Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xã hội
- Hiệu quả môi trường
3.2.4 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất của vùng
định canh định cư
• Nhóm các giải pháp chung
39
Trang 403.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng quyết định đến tính chính xác, khách quan và tính thực tiến của kết quả nghiên cứu đề tài Việc chọn điểm nghiên cứu trong đề tài bao gồm chọn xã và chọn hộ Chọn điểm nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau:
* Chọn xã nghiên cứu
Việc chọn xã nghiên cứu phải đảm bảo yêu cầu đại diện cho tình hình sử dụng đất, đặc điểm phân bố người Dao ĐCĐC, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn 12 xã có chương trình ĐCĐC với những đặc điểm:
- Các xã nghiên cứu có bản người Dao ĐCĐC ổn định đại diện cho các bản ĐCĐC đang sinh sống trên địa bàn 12 xã
- Các xã nghiên cứu đều có các loại đất chung là: đất ruộng (gồm đất chuyên lúa; chuyên màu, lúa - màu); đất nương rẫy (lúa nương, ngô, sắn, lạc); đất vườn đồi (cây ăn quả mơ, vải và vườn tạp) và đất lâm nghiệp
- Các xã nghiên cứu nằm ở các tiểu vùng kinh tế khác nhau, có đặc trưng riêng về bản sắc văn hoá theo hình thái di cư của mình, có trình độ kỹ thuật đại diện chung cho địa bàn 12 xã
Kết quả là 3 xã đại diện được chọn như sau:
+ Vùng trung tâm chọn xã Ngọc Phái với người Dao di cư từ Tuyên Quang, Hà Giang đến là chính
+ Vùng núi thấp chọn xã Bình Trung, đặc điểm người Dao từ Thái Nguyên, Lạng Sơn và một số người Dao trên địa của tỉnh đến cư trú
40