Vì thế nhu cầu thẩm mỹ của người dân cũng được nâng cao, việc làm đẹp các khu vườn quanh nhà, cây trồng trong nhà ngày càng được chú trọng đặc biệt ở các thành phố lớn, Thành phố Hồ Chí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN MINH LUÂN
ĐIỀU TRA, ĐỊNH DANH MỘT SỐ LOÀI TRONG NGÀNH DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA) CÓ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CẢNH QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2009
Trang 2MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY OF HO CHI MINH CITY
TRAN MINH LUAN
INVESTIGATING, IDENTIFYING THE NAME OF SOME SPECIES IN FERN PHYLUM (POLYPODIOPHYTA)
WHICH HAVE LANDSCAPE VALUE
IN HO CHI MINH CITY
REPORT FOR UNIVERSITY GRADUATION LANDSCAPING AND ENVIRONMENTAL HORTICULTURE
Ho Chi Minh City July/2009
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN MINH LUÂN
ĐIỀU TRA, ĐỊNH DANH MỘT SỐ LOÀI TRONG NGÀNH DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA) CÓ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Cảnh quan & Kỹ Thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: KS VƯƠNG THỊ THỦY
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng7/2009
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy cô trong bộ môn Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên trường Đại học Nông Lâm- Thành phố Hồ Chí Minh
Đặc biệt, đối với cô Vương Thị Thủy, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Trần Hợp đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu
Cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và tất cả các thầy cô đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tại trường
Cảm ơn tập thể lớp Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên 31 và các bạn thân đã chia sẻ cùng tôi trong quá trình học tập và sinh hoạt
Xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn sát cánh, chia sẻ, cổ vũ và giúp đỡ để tôi có được như ngày hôm nay
Sinh viên Trần Minh Luân
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu: “ Điều tra, định danh một số loài trong ngành dương xỉ có giá trị cảnh quan tại thành phố Hồ Chí Minh” Thời gian từ tháng 2/2009 đến tháng 6/2009
Kết quả đạt được:
1 Định danh được 29 loài thuộc ngành dương xỉ có giá trị cảnh quan tại thành phố Hồ chí Minh
2 Đưa ra phương pháp chăm sóc bảo dưỡng các loài dương xỉ
3 Đề xuất một số mô hình sử dụng loài dương xỉ trong thiết kế cảnh quan
Trang 62 Advancing some method about looking and maintaining fern species
3 Proposing some model about using fern species in landscape design
Trang 7MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA …i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI iii
SUMMARY iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG ……… xii
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 TỔNG QUAN 2
2.1 Ngành dương xỉ polypodiophyta 2
2.2 Đặc điểm sinh sản, sinh trưởng ở dương xỉ 4
2.3 Dương xỉ trên thế giới 7
2.4 Những lợi ích mà dương xỉ mang lại 8
2.5 Điều kiện tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh 9
2.5.1 Vị trí địa lý 9
2.5.2 Địa giới hành chính 10
2.5.3 Diện tích 10
2.5.4 Thổ nhưỡng 10
2.5.5 Thảm xanh thực vật 10
2.5.6 Khí hậu 11
2.5.7 Nhiệt độ 11
2.5.8 Độ ẩm không khí 11
2.5.9 Nắng 11
Trang 82.5.10 Mưa 11
2.5.11 Bốc hơi 11
2.5.12 Gió 11
Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Mục tiêu 13
3.2 Nội dung thực hiện 13
3.2.1 Khảo sát hiện trạng, phân vùng điều tra và lập phiếu điều tra 13
3.2.2 Điều tra, lấy mẫu và định danh các loài dương xỉ tại Tp.Hồ Chí Minh 13
3.2.3 Điều tra, đánh giá tình hình sử dụng, sinh trưởng và phát triển của loài dương xỉ tại TP.HCM 13
3.2.4 Đề xuất giải pháp chăm sóc và bảo dưỡng các loài dương xỉ đã định danh 13
3.2.5 Đề xuất mô hình sử dụng các loài dương xỉ trong thiết kế cảnh quan
13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp ngoại nghiệp 14
3.3.2 Phương pháp nội nghiệp 14
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15
4.1 Hiện trạng sử dụng và chăm sóc các loài thuộc ngành dương xỉ tại thành phố Hồ Chí Minh (phụ lục 1) 15
4.1.1 Hiện trạng sử dụng 15
4.1.1.1 Một số loài phổ biến thường thấy tại TP Hồ Chí Minh 16
4.1.1.2 Một số vị trí trồng dương xỉ điều tra được tại thành phố Hồ Chí Minh 18
4.1.2 Tình hình chăm sóc 20
4.2 Định danh mô tả một số loài thuộc ngành dương xỉ 21
4.2.1 Acrostichum aureum L 21
4.2.2 Adiantum capillus-veneris L 22
Trang 94.2.3 Adiantum macrophyllum 23
4.2.4 Asplenium nidus L 23
4.2.5 Bobitis heudelotii 24
4.2.6 Cryosinus nigrovenius (Ching) Tagawa 25
4.2.7 Cyrtomium vittatum C.Christ 26
4.2.8 Ctenitopsis colaniae C.Chr.&Tard 27
4.2.9 Davallia elegans Swartz 28
4.2.10 Davallia solida (Forst.) Sw var Sinensis (Ching) 28
4.2.11 Drynaria fortunei (Mett.) J.Sm 29
4.2.12 Drynaria quercifolia (L) J.Smith 30
4.2.13 Lygodium scandens (L) Sw 31
4.2.14 Microsorium pteropus (Bl.) Copel 32
4.2.15 Microsorium pteropus 'Windelov' 33
4.2.16 Nerphrolepis biserrata var.furcans Bail 34
4.2.17 Nephrolepis hirsutalla (Forst.) Presl 35
4.2.18 Nephrolepis cordifolia var duffii Moore 35
4.2.19 Nephrolepis cordifolia (L.) Presl 36
4.2.20 Nephrolepis cordiflolia 'Sword fern dwarf' 37
4.2.21 Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn 38
4.2.22 Phymatosorus spp 39
4.2.23 Platycerium coronarium (Koen.) Desv 40
4.2.24 Platycerium grande A Cunn 41
4.2.25 Pteris ensiformis var victoriae 41
4.2.26 Pteris vittata L 42
4.2.27 Pyrrosia piloselloides (L) Price 43
4.2.28 Salvinia cucullata Roxb 44
4.2.29 Stenochalaena palustris ( Burm f.) Bedd 45
4.3 Đề xuất giải pháp chăm sóc các loài dương xỉ 46
4.3.1 Điều kiện trồng cây 46
Trang 104.3.2 Chăm sóc 47
4.4 Đề xuất mô hình sử dụng các loài dương xỉ trong thiết kế cảnh quan 48
4.4.1 Giếng trời 49
4.4.2 Ban công cửa sổ 51
4.4.3 Cổng vào 51
4.4.4 Trong các vườn hoang dã 52
4.4.5 Hồ bơi hồ nước 53
4.4.6 Tiểu cảnh vườn 54
4.4.7 Giàn hoa 55
4.4.8 Chân cầu 56
4.4.9 Che phủ chân rào 56
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Vòng đời của cây dương xỉ 5
Hình 2.2: Hình thái cơ bản dương xỉ 7
Hình 2.3: Vườn dương xỉ gỗ có máy che 8
Hình 2.4: Dương xỉ phối kết với các loài hoa dại 8
Hình 4.1: Dương xỉ lá me hay móng trâu_ Nephrolepis cordifolia (L.) Presl 16
Hình 4.2: Dương xỉ đuôi cá hay móng trâu xẻ_ Nerphrolepis biserrata ‘Furcans’ 17 Hình 4.3: Ráng ổ phụng_ Asplenium nidus L 17
Hình 4.4: Dương xỉ chân thỏ hay dương xỉ đá_ Davallia elegans Swartz 17
Hình 4.5: Trồng trên các chậu treo 18
Hình 4.6: Các chậu đất bố trí trong ngoài nhà 18
Hình 4.7: Trồng viền hàng rào, che phủ dưới gốc cây 18
Hình 4.8: Dọc theo các con suối nhỏ trong vườn 19
Hình 4.9: Cho phụ sinh trên các thân cây khác 19
Hình 4.10: Một số loài thủy sinh được áp dụng rất đẹp trong các hồ cá cảnh 19
Hình 4.11: Trồng xen trong các tiểu cảnh vườn, công viên 20
Hình 4.12: Trồng xen kẽ trong hóc đá, tô điểm cho các hòn non bộ 20
Hình 4.13 Ráng đại _ Acrostichum aureum L 21
Hình 4.14 Tóc vệ nữ _ Adiantum capillus-veneris L 22
Hình 4.15: Dương xỉ huyền _ Adiantum macrophyllum 23
Hình 4.16: Ráng tổ phụng _ Asplenium nidus L 24
Hình 4.17: Dương xỉ châu Phi _ Bobitis heudelotii 25
Hình 4.18: Ráng ẩn thùy gân-đen _ Cryosinus nigrovenius (Ching) Tagawa 26
Hình 4.19: Cung xỉ đại _ Cyrtomium vittatum C.Christ 26
Trang 12Hình 4.20: Ráng song trâm xỉ Colani _ Ctenitopsis colaniae C.Chr.&Tard 27
Hình 4.21: Dương xỉ chân thỏ _ Davallia elegans Swartz 28
Hình 4.22: Ráng Đà hoa Trung Quốc _ Davallia solida (Forst.) Sw var sinensis 29 Hình 4.23: Cốt toái bổ _ Drynaria fortunei (Mett.) J.Sm 30
Hình 4.24: Ráng đuôi phụng lá sồi _ Drynaria quercifolia (L) J.Smith 31
Hình 4.25: Bòng bong leo _ Lygodium scandens (L) Sw 32
Hình 4.26: Dương xỉ Java _ Microsorium pteropus (Bl.) Copel 32
Hình 4.27: Dương xỉ sừng hươu _ Microsorium pteropus 'Windelov' 33
Hình 4.28: Dương xỉ đuôi cá _ Nerphrolepis biserrata var.furcans Bail 34
Hình 4.29: Ráng thận-lân có lông _ Nephrolepis hirsutalla (Forst.) Presl 35
Hình 4.30: Dương xỉ lá tròn _ Nephrolepis cordifolia var duffii Moore 36
Hình 4.31: Dương xỉ lá me _ Nephrolepis cordifolia (L.) Presl 37
Hình 4.32: Nephrolepis cordiflolia 'Sword fern dwarf' 38
Hình 4.33: Ráng thận-lân đâm rễ _ Nephrolepis radicans (Burm.f.) Kuhn 39
Hình 4.34: Dương xỉ lò xo _ Phymatosorus spp 39
Hình 4.35: Ổ rồng tràng _ Platycerium coronarium (Koen.) Desv 40
Hình 4.36: Ổ rồng _ Platycerium grande A Cunn 41
Hình 4.37: Ráng chân xỉ hình gươm _ Pteris ensiformis var victoriae 42
Hình 4.38: Ráng chân sỉ có sọc _ Pteris vittata L 43
Hình 4.39: Ráng hỏa mạc dực xỉ _ Pyrrosia piloselloides (L) Price 44
Hình 4.40: Bèo tai chuột _ Salvinia cucullata Roxb 44
Hình 4.41: Dây choại _ Stenochalaena palustris ( Burm f.) Bedd 45
Hình 4.42: Tiểu cảnh giếng trời 1 49
Hình 4.43: Tiểu cảnh giếng trời 2 49
Hình 4.44: Tiểu cảnh giếng trời 3 & 4 50
Hình 4.45: Dương xỉ phối kết trên ban công 51
Hình 4.46: Ráng tổ phụng đặt ở vị trí cổng vào 52
Hình 4.47: Dương xỉ bên bờ suối đá 52
Hình 4.48: Dương xỉ đinh hướng lối đi trong vườn hoang dã 53
Trang 13Hình 4.49: Dương xỉ cạnh hồ bơi 53
Hình 4.50: Dương xỉ cạnh hồ nước 53
Hình 4.51: Dương xỉ kết hợp đá và rêu trong tiểu cảnh vườn 54
Hình 4.52: Dương xỉ trong tiểu cảnh khô 54
Hình 4.53: Ráng tổ phụng treo dưới giàn hoa 55
Hình 4.54: Dương xỉ che phủ chân cầu 56
Hình 4.55: Dương xỉ che phủ chân rào 56
Hình 4.56: Dương xỉ trồng viền hàng rào 57
Hình 4.57: Một số mô hình dương xỉ đẹp đã được áp dụng trong sân vườn 58
Trang 14DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1: Liều lượng phân đảm bảo cho sự phát triển của dương xỉ 48
Trang 15Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân dần được cải thiện Vì thế nhu cầu thẩm mỹ của người dân cũng được nâng cao, việc làm đẹp các khu vườn quanh nhà, cây trồng trong nhà ngày càng được chú trọng đặc biệt ở các thành phố lớn, Thành phố Hồ Chí Minh là một điển hình Việc tìm kiếm bổ sung những giống loài cây mới là một việc cần thiết của các nhà vườn Hiện cũng đã có nhiều loài ngoài tự nhiên được đưa vào trồng trong các khu vườn
và được đánh giá là có giá trị thẩm mỹ cao, những loài thuộc ngành dương xỉ là một trong số đó
Dương xỉ là loài cây rất đẹp, mọc hoang dã, và đã được nhiều người trồng làm cảnh Cây xum xuê, có lá cuộn tròn như con cuốn chiếu, mỗi ngày nở rộng một chút thành những tấm khăn hình chữ V, những chiếc lược xanh nổi bật trên những loài hoa cỏ Dương xỉ thích hợp trồng trong mát, trong nhà, cạnh hồ nước và đặc biệt ít tốn công chăm sóc mà vẫn đẹp nên đã dần khẳng định được giá trị Tuy nhiên mức độ phổ biến của các loài này còn ít, cũng như việc chăm sóc ứng dụng chúng vào sân vườn còn nhiều hạn chế nên chưa khai thác được hết cái đẹp của các loài này.Việc chăm sóc và phổ biến chúng cũng như giới thiệu nét đẹp đặc biệt của các loài cây này là cần thiết vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Điều tra, định danh một số loài trong ngành dương xỉ (polypodiophyta) có giá trị cảnh quan tại thành phố Hồ Chí Minh.”
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Ngành dương xỉ polypodiophyta
Ngành dương xỉ đặc trưng bởi bào tử thực vật có rễ, thân và lá xếp thành đường xoắn ốc; lá thường là một phức hợp rõ rệt và đựơc mô tả như là lá lược
Ngành dương xỉ xuất phát từ dương xỉ trần, điều đó được chứng tỏ bằng sự
có mặt những dạng hóa thạch vừa rất gần với dương xỉ trần, vừa có đủ các bước quá
độ đi tới những đại diện hoàn thiện nhất của ngành này Trong dương xỉ trần có những dạng có kiểu phân nhánh đôi và có những chồi cành khít nhau lại, thể hiện bước chuyển biến sang lá của ngành dương xỉ
Ngành dương xỉ gồm những cây thuộc mộc hay thuộc thảo, có thân cây thấp phát triển yếu dưới dạng thân rễ, hệ rễ phát triển mạnh
Sự sinh trưởng của lá ở đỉnh là đặc trưng cho ngành này; điều đó cũng xác nhận nguồn gốc những đại diện của ngành này từ những cây sinh trưởng bằng ngọn chồi cành Sự khít nhau của lá có liên quan tới sự hình thành tính chất lưng_bụng
Rễ dương xỉ do sự biến đổi hình dạng những rễ giả ở dưới đất của tổ tiên dương xỉ trần
Ngành dương xỉ gồm những cây có lá lớn trong thành phần của thảm thực vật ngày nay, chúng gồm tới gần 300 chi khoảng 10000 loài Đối với một nhóm thực vật lớn như vậy các nhà thực vật học có nhiều cách phân loại khác nhau
Sau đây là bảng thống kê thể hiện sự phong phú các loài trong ngành dương xỉ (theo Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, 1991-1993)
Ngành dương xỉ_Polypodiophyta
Lớp lưỡi rắn_Ophioglossopsida
Trang 18o Họ bèo hoa dâu_Azollaceae
2.2 Đặc điểm sinh sản, sinh trưởng ở dương xỉ
Dương xỉ sinh sản bằng bào tử Túi bào tử nằm ở trên lá Ở những dạng nguyên thuỷ hơn, túi bào tử ở trên đầu của những đoạn lá hoặc bám vào mép phiến
lá Ở những dạng hoàn thiện hơn túi bào tử sắp xếp thành những nhóm gọi là ổ túi,
có hay không có bọc đặc biệt gọi là áo túi
Ổ túi có vách gồm một lớp tế bào với một vòng cơ gồm những tế bào phân hóa khác các tế bào còn lại và thường nhiễm thêm lignin tại màng trong và màng bên, làm thành bộ máy mở của túi bào tử giúp cho việc phát tán những bào tử đã chín Khi túi bào tử chín và gặp thời tiết hanh, mặt ngoài của vòng (bằng xenluloza)
sẽ khô đi và co lại nhiều hơn mặt trong (bằng lignin) làm cho vòng bật rách vách túi bào tử để bào tử phát tán ra ngoài Vị trí của vòng này có thể nằm ngang, xiên hay
Trang 19thẳng đứng Điều đó giải thích bằng sự cơ khí hóa của vòng không những về sự mở
ra mà cả về sự phát tán của bào tử đã chín
Túi tinh và số lượng tinh trùng cũng khác nhau ở các dương xỉ khác nhau Ở dạng đơn giản túi tinh bao trong thể giao tử và chứa nhiều tinh trùng; còn ở những dạng hoàn thiện hơn, túi tinh bé nằm trên bề mặt của nguyên tản và chứa một số ít tinh trùng
Hình 2.1 Vòng đời của cây
dương xỉ
1 Lá chứa ổ túi bào tử
2 Cắt ngang ổ túi bào tử
3 Bào tử rơi từ túi bào tử
Trang 20Thể giao tử của nhiều dương xỉ ở trên mặt đất có màu lục, thường lưỡng tính, tuy nhiên ở một số ít có khuynh hướng phân tính Túi tinh trồi lên trên bề mặt của nguyên tản nhiều hay ít Túi noãn có bụng bị bao trong mô của nguyên tản; ở những loài hoàn thiện hơn thì có cổ ngắn Các cơ quan hữu tính nằm ở mặt dưới của thể giao tử Phôi phát triển trên nguyên tản Phôi này phân hóa và hình thành rễ sơ cấp
và chân bị bao quanh trong mô của nguyên tản Ở một số dương xỉ bì sinh không hình thành rễ Chúng bám chặt nhờ những lông rễ mọc trên thân và lá hoặc nhờ những thân rễ; chúng dùng bề mặt của lá để hút nước
Lá mọc cách, sinh trưởng bằng ngọn và khi ở trạng thái non thì cuộn lại thành hình xoắn ốc Phần xoắn này nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng tùy theo mức sinh trưởng mà lá mở rộng dần ra Trong nách lá không có chồi lá có thể biến đổi phù hợp với điều kiện sinh sống; ở một số thì chún quấn lấy thân của những cây
khác, chúng có thể có lá dị hình (Ổ rồng _ Platycerium), trong một số lá tạo ra cơ
quan dự trữ nước và các chất khác
Vảy hoặc lông màu nâu hay vàng phát triển trên thân và trên lá Đó là những dấu hiệu đặc trưng của dương xỉ
Trang 21Hình 2.2 Hình thái cơ bản dương xỉ
1-Lá lược 2-5 Các túi bào tử dưới lá
6 Lá thụ
7 Nguyên tản
8 Lá chét (thứ diệp) 9-10 Lá chét con( tam diệp) 11-12 Căn hành
( Herbert Durand, 1949 Field Book
Of Common Ferns Tủ sách Đại học Nông Lâm TP HCM.)
2.3 Dương xỉ trên thế giới
Có khoảng 6000 loài dương xỉ được biết đến rải rác khắp thế giới, chúng phân bố phần lớn ở các nước nhiệt đới Nhiều nhà địa chất cho rằng, con số đó là ít
so với số lượng rất lớn các loài ngành này khi chúng còn hưng thịnh, khi mà vỏ Trái Đất mới hình thành
Trên thế giới, các rừng dương xỉ tuổi cao hiện nay chủ yếu ở Châu Phi, đặc biệt là rừng rậm nước Tanzania, Kenia – hai di sản tự nhiên thế giới, không những quần tụ số lượng động vật đồng nhất mà còn có nhiều loại thực vật kỳ lạ Một nơi nữa là rừng Madagasca cũng thuộc Châu Phi, do cách biệt với thế giới nên hệ thực vật rừng giữ nguyên thủy hoang sơ, cùng nhiều loài chuột, sóc cây và đặc biệt là loài voọc thường nghịch ngợm trên những tán dương xỉ rậm Người châu Phi rất yêu quý rừng già, coi đây là kho thuốc tiên huyền bí, và họ hay vào rừng hái thuốc, tìm những loài hoa cỏ mọc bên dương xỉ
Trang 22Ở châu Á, cũng có các rừng đại thụ còn lưu giữ loài dương xỉ cổ Rừng Borneo của Malaysia có loài dương xỉ cao tới 2-3m, lá uốn cong như chiếc vòi voi, làm ô che đầu được, nó còn chữa khỏi các bệnh phụ nữ Hay như Nhật Bản, có hai
loại dương xỉ gỗ lớn, mọc um tùm ở phía bắc Owase huyện Mie, tên là Cyathea
lephifera thân gỗ, cao 10m Trẻ con thường nhảy nhót bám vào lá cây đu chơi,
khách tham quan thường trải chiếu nằm nghỉ dưới bóng dương xỉ êm mượt, thơm ngây ngất mà nghe tiếng côn trùng, tiếng chim ca thanh bình
Dương xỉ được áp dụng rất phổ biến trong thiết kế cảnh quan, từ những loài dương xỉ nhỏ đến các loài dương xỉ thân gỗ lớn Dương xỉ thường được trồng thành vườn lớn, và chăm sóc rất tốt Các vườn mang phong cách hoang dã ở nước ngoài thường ưu tiên đối với loài dương xỉ
Ở Việt Nam, các loài dương xỉ đã được áp dụng nhiều vào trang trí sân vườn, các loài hoang dã đem về từ các vườn quốc gia, hiện nay có nhiều loài được nhập về làm phong phú thêm cho thị trường hoa kiểng trong nước
2.4 Những lợi ích mà dương xỉ mang lại
Giá trị thẩm mỹ: dương xỉ không có hoa, nét đẹp của lá là đặc trưng của các loài này Như những loài hoa kiểng khác dương xỉ làm tăng tính thẩm mỹ cho khu vườn, góc nhà, dòng suối … với những chiếc lá xanh quanh năm
Hình 2.3 Vườn dương xỉ gỗ có máy che Hình 2.4 Dương xỉ phối kết với các loài hoa dại
(www.nab.usace.army.mil/ /december132005.htm)
Trang 23Dương xỉ có khả năng che phủ rất tốt, những khuyết điểm dưới những góc tường, bờ rào, các thân cây sẽ trở nên thu hút nếu được bố trí một cụm dương xỉ
Hệ rễ phát triển mạnh nhờ đó có thể giữ được đất, chất dinh dưỡng, chống xói mòn, giữ ẩm cho đất
Như những loài cây khác, dương xỉ có công dụng điều hoà khí hậu
Một số loài phụ sinh là nơi trú ngụ cho các loài động vật hoang dã ở đô thị Các loài thuỷ sinh có tác dụng trang trí, lọc nước, cung cấp oxi là nơi trú ngụ cho các loài động vật thuỷ sinh
Dương xỉ có khả năng cải tạo đất: Tiến sĩ Lena Ma, Đại học Florida (Mỹ) và
các đồng nghiệp đã phát hiện ra loài dương xỉ (Pteris vittata) mọc tại một khu rừng
được bảo tồn nhưng đã bị bỏ hoang do nhiễm độc asen Khi phân tích lá của chúng,
họ phát hiện thấy nồng độ asen lớn gấp 200 lần so với vùng đất xung quanh Các
nhà khoa học ở Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ thuật trồng cây dương xỉ (Pteris vittata L.) để hút các nguyên tố kim loại nặng trong đất như thạch tín, đồng, kẽm…
Với kỹ thuật này, họ hy vọng có thể giải quyết về cơ bản vấn đề ô nhiễm kim loại nặng Khả năng hút thạch tín của loài cây này không ngừng tăng mạnh theo sự phát triển của cây, chúng còn có thể di truyền đặc tính này cho các cây thế hệ sau
Trong nghệ thuật cắm hoa, người ta thường nói nhiều đến dương xỉ, lá xanh
độ bền cao dễ sử dụng, tôn thêm nét đẹp của bó hoa
Ngoài ra, một số loài dương xỉ được dùng làm dược liệu:
Cốt toái bổ_ Dryanria fortunei (Mett) J.Sm: Thân rễ làm thuốc chữa
đau lưng, các bệnh về xương khớp bong gân
Ráng ổ phụng_ Asplenium nidus L: Vị đắng, tính ấm; có tác dụng
cường cân tráng cốt, lợi thuỷ thông lâm Dân gian dùng lá chữa bệnh
về tóc và da dầu Cũng có khi được dùng chữa bong gân, sai khớp Ở Vân Nam (Trung Quốc), cây được dùng trị đòn ngã tổn thương, gãy xương, liệt dương
2.5 Điều kiện tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh
2.5.1 Vị trí địa lý
Trang 242.5.5 Thảm xanh thực vật
Toàn thành phố có thảm xanh che phủ 17% diện tích tự nhiên Bình quân 75
m2/người được thảm xanh che phủ Trong đó, nội thành 8 m2/người Ngoại thành bình quân 227 m2/người
Như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh có khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ lí tưởng (25-270C),độ ẩm tương đối, mưa nhiều, cường độ ánh sáng tốt: đó chính là môi trường sinh trưởng phát triển thuận lợi của nhiều loài thực vật
Thành phố Hồ Chí Minh có sự đa dạng về chủng loại đất đai ( đất phù sa, đất xám, đất mặn, đất phèn…), cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc phát triển đa dạng chủng loại thực vật
Vì thế, việc đưa vào trồng bổ sung trên một số loài cây mới ngoài tự nhiên là vấn đề cần thiết Nó góp phần tăng cường mảng xanh, đa dạng hóa thảm thực vật trong thành phố, làm con người ngày càng gắn bó với thiên nhiên hơn
Trang 2550C Những ngày nóng nhất trong năm thường rơi vào tháng 4
2.5.8 Độ ẩm không khí
Trung bình cả năm khoảng 76,4%; cao nhất vào tháng 9 (83%), thấp nhất vào tháng 3 (71%) Sự chênh lệch độ ẩm không khí giữa 2 mùa vào khoảng từ 10-15%
2.5.11 Bốc hơi
Do nhiệt độ cao nên lượng bốc hơi trung bình/năm cũng tương đối cao, tổng lượng bốc hơi trung bình cả năm vào khoảng 1294 mm/năm, chiếm gần 72% lượng mưa
2.5.12 Gió
Địa bàn thành phố chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
Gió Tây – Tây Nam (gió mùa Tây Nam) thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, thường thổi mạnh nhất vào tháng 7-8 và gây ra mưa
Trang 26 Gió Bắc – Đông Bắc thổi vào mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 thổi mạnh nhất vào tháng 2-3, làm tăng lượng bốc hơi
(Nguồn: Theo tài liệu thu thập từ Trung tâm khí tượng Miền Nam, năm 2006)
Trang 27Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề xuất mô hình sử dụng loài dương xỉ trong thiết kế cảnh quan
3.2 Nội dung thực hiện
3.2.1 Phân vùng điều tra và lập phiếu điều tra
3.2.2 Điều tra, lấy mẫu và định danh các loài dương xỉ tại Tp.Hồ Chí Minh
Chụp hình, lấy mẫu, mô tả tại chỗ các loài dương xỉ tại khu vực điều tra Phỏng vấn người dân lấy thông tin về các loài dương xỉ tại khu vực điều tra Phân tích, tra cứu, định danh các loài dương xỉ
3.2.3 Điều tra, đánh giá tình hình sử dụng, sinh trưởng và phát triển của loài dương xỉ tại TP.HCM
Chụp hình hiện trạng sử dụng loài dương xỉ tại khu vực điều tra
Phỏng vấn người dân, các nhà vườn, lấy thông tin về tình hình chăm sóc, sử dụng (vị trí trồng, mức độ thường xuyên,….) các loài dương xỉ trong thiết kế cảnh quan
3.2.4 Đề xuất giải pháp chăm sóc và bảo dưỡng các loài dương xỉ đã định danh 3.2.5 Đề xuất mô hình sử dụng các loài dương xỉ trong thiết kế cảnh quan
Trang 28Sử dụng các loài dương xỉ đã định danh trong mô hình thiết kế cảnh quan (nhà phố, vườn treo, giếng trời, vườn kiểng, hồ nước…) trên phần mềm Photoshop
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp ngoại nghiệp
Phương pháp điều tra theo vùng, lập phiếu điều tra
Phương pháp phỏng vấn, tham vấn chuyên gia
Phương pháp mô tả
3.3.2 Phương pháp nội nghiệp
Phương pháp phân tích, đánh giá
Phương pháp thiết kế
Các phương pháp chính áp dụng cho từng mục tiêu cụ thể:
1 Định danh, mô tả ít nhất 10 loài
dương xỉ tại Tp.Hồ Chí Minh
Phương pháp điều tra, Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp mô tả
2 Điều tra, đánh giá tình hình sử
dụng, sinh trưởng và phát triển từ đó
đề xuất giải pháp chăm sóc, bảo
dưỡng và phát triển của loài dương xỉ
tại TP.HCM
Phương pháp tham vấn chuyên gia, Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp phân tích, đánh giá,
3 Đề xuất mô hình sử dụng loài
dương xỉ trong thiết kế cảnh quan
Phương pháp tham vấn chuyên gia, Phương pháp phân tích, đánh giá, Phương pháp thiết kế
Trang 29Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng sử dụng và chăm sóc các loài thuộc ngành dương xỉ tại thành phố Hồ Chí Minh (phụ lục 1)
4.1.1 Hiện trạng sử dụng
Dương xỉ là một trong những loài phổ biến nhất được chọn để trồng trong nhà vì có khả năng sống trong bóng mát, với dáng thấp, bộ lá màu xanh tươi hình răng lược duyên dáng và đẹp đẽ, nó sẽ mang đến cho bạn một cảm giác nhẹ nhàng
và yên bình
Do đặc tính dễ trồng dễ chăm sóc cũng như nét đẹp không thua gì các loại kiểng có hoa, các loài dương xỉ cũng dần dần được ưa chuộng tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng chỉ phổ biến đối với một số rất ít loài
Tại các quận nội thành dương xỉ được sử dụng ở các nơi như:
Các quán cà phê: những nơi này đủ mát rất thích hợp trồng dương xỉ, chúng được bố trí ở các tiểu cảnh nhỏ, dạng chậu treo
Các công viên: trong nội thành chỉ có những nơi này là có được mặt bằng trồng được nhiều cây, dương xỉ được bố trí riêng thành cụm có thể có nhiều loài, các tiểu cảnh nước, phối kết với các loài hoa cỏ, cho phụ sinh trên thân cây gỗ lớn
Trong nhà dân: do đa phần không có diện tích trồng cây nên dương xỉ thường được bố trí dạng chậu đặt hoặc treo trong nhà, ban công cưa sổ, tiểu cảnh giếng trời, hòn non bộ, có khi được trồng trong những bao lơn nhỏ trước nhà
Trang 30 Các loài thủy sinh cũng đã xuất hiện nhiều trong các hồ cá cảnh ở các gia đình
Trong khuôn viên các công ty, dương xỉ cũng được bố trí chung với các loài cây hoa khác tại một gốc tiểu cảnh, có khi trồng chậu đặt trong văn phòng Tại các quận ngoại thành, khu vực thưa dân cư hơn khoảng không diện tích đất trồng cũng nhiều hơn:
Phải kể đến trước tiên là ở các vườn biệt thự, dương xỉ được trồng với nhiều hình thức, trong nhà lẫn ngoài nhà, với mật độ nhiều hơn so với nội thành Các biệt thự ở Phú Mỹ Hưng quận 7, quận 2
Ngoại thành xuất hiện thêm nhiều hơn các cơ sở kinh doanh hoa kiểng, với các loài đa dạng phong phú hơn cho khách hàng lựa chọn, dĩ nhiên là không thiếu các loài dương xỉ nhưng chỉ xuất hiện một số loài phổ biến Các vườn chuyên về kiểng lá và cây nội thất ở quận 12 xuất hiện nhiều loài hơn
Ngoài việc được trồng và chăm sóc, dương xỉ cũng xuất hiện nhiều ngoài tự nhiên, chúng mọc ở ruộng, ven sông rất nhiều, ở các huyện như Củ Chi, Nhà
Bè, Cần Giờ
4.1.1.1 Một số loài phổ biến thường thấy tại TP Hồ Chí Minh
Hình 4.1 Dương xỉ lá me hay móng trâu_ Nephrolepis cordifolia (L.) Presl
Trang 31Hình 4.2 Dương xỉ đuôi cá hay móng trâu xẻ_ Nerphrolepis biserrata ‘Furcans’
Hình 4.3 Ráng ổ phụng_ Asplenium nidus L
Hình 4.4 Dương xỉ chân thỏ hay dương xỉ đá_ Davallia elegans Swartz
Trang 32Các loài trên thường được bắt gặp nhiều hơn tại các cơ sở hoa kiểng, nhà vườn, trong các sân vườn , công viên
4.1.1.2 Một số vị trí trồng dương xỉ điều tra được tại thành phố Hồ Chí Minh
Hình 4.5 Trồng trên các chậu treo
Hình 4.6 Các chậu đất bố trí trong ngoài nhà
Hình 4.7 Trồng viền hàng rào, che phủ dưới gốc cây
Trang 33Hình 4.8 Dọc theo các con suối nhỏ trong vườn
Hình 4.9 Cho phụ sinh trên các thân cây khác
Hình 4.10 Một số loài thủy sinh được áp dụng rất đẹp trong các hồ cá cảnh
Trang 34Hình 4.11 Trồng xen trong các tiểu cảnh vườn, công viên
Hình 4.12 Trồng xen kẽ trong hóc đá, tô điểm cho các hòn non bộ
4.1.2 Tình hình chăm sóc
Dương xỉ là loài thích nghi tốt với nhiều môi trường sống khác nhau, ít tốn công chăm sóc của con người hơn so với những loài cây khác mà vẫn đẹp Dương
xỉ đã chinh phục được nhiều khách hàng khó tính
Nhiều người rất thích hoa kiểng nhưng không có thời gian chăm sóc đã chọn cây dương xỉ để tô điểm cho căn nhà của mình Vì thế việc bỏ bê không chăm sóc chúng là điều khó tránh khỏi
Tại nhiều nhà vườn dương xỉ được trồng, vào chậu nhưng thường bị bỏ ở một góc nào đó, không được chọn đặt vào những vị trí ưu tiên trong vườn
Dương xỉ chỉ được chăm sóc tốt ở những công viên, sân vườn biệt thự, mảng xanh các công ty Thường thì những nơi này rất chú trọng về cảnh quan nên việc chăm sóc bảo dưỡng được đặt lên hàng đầu, và dĩ nhiên cây được chăm sóc tốt thì
sẽ tốt hơn
Trang 35Một điều thường thấy không chỉ đối với dương xỉ mà đối với đa số loài hoa kiểng là cây được chăm sóc tốt ở những nơi trồng sản xuất, kinh doanh hoa kiểng; khi được mua về trồng thì đa phần chúng mất dần sự sống, vẻ đẹp vốn có Nguyên nhân chính là do người dân thiếu kiến thức chăm sóc bảo dưỡng cây, cũng có thể do công việc nên cây không được quan tâm chăm sóc thường xuyên và đúng cách Mặc
dù dương xỉ ít tốn công chăm sóc, nhưng nếu ta biết quan tâm chăm sóc đúng cách
thì chắc chắn chúng sẽ đẹp hơn, giá trị hơn
4.2 Định danh mô tả một số loài thuộc ngành dương xỉ
Đã điều tra, thu thập và định danh được 29 loài thuộc ngành dương xỉ sắp xếp theo vần ABC của tên khoa học như sau (phụ lục1)
Hình 4.13 Ráng đại _ Acrostichum aureum L
(Phạm Hoàng Hộ, 1991-1993 Cây cỏ Việt Nam) Hình thái: Ráng thành bụi có thể cao 2 m Thân ngắn, đứng, to, cho ra nhiều chồi Lá một lần kép, thứ diệp dày, gân phụ hình mạng
Trang 36Đặc điểm sinh học: thích hợp nơi ẩm ướt, vùng nước lợ hay còn triều
Giá trị sử dụng: Cây được bố trí trong các tiểu cảnh nước, hòn non bộ; sóng
lá thường dùng làm chổi, đọt non ăn được
Phân bố: ngoài tự nhiên tìm thấy nhiều ở vùng ngập mặn Cần Giờ, Nhà Bè, ven các sông, kênh rạch Thỉnh thoảng thấy được trồng trong các tiểu cảnh nước, nhưng chưa phổ biến lắm
Hình 4.14 Tóc vệ nữ _ Adiantum capillus-veneris L
(Herbert Durand, 1949 Field Book Of Common Ferns)
Trang 37Đặc điểm sinh học: Sống tốt trên các hóc đá, kẻ đá cùng với rêu Ưa ẩm, ánh sáng yếu
Giá trị sử dụng: cây được trồng làm kiểng, bố trí trong các chậu nhỏ đặt hoặc treo trong nhà rất đẹp; cây cũng được trồng chen trong các tiểu cảnh đá và rêu
Hình thái: bụi nhỏ thưa Cuống đen, láng, cao 5-10 cm, rộng 1mm; phiến
15-30 cm; thứ diệp mỏng, rộng thường khoãng 5 cm, có cuống dài 1-2 cm, bìa trên có khía
Đặc điểm sinh học: thích hợp khí hậu mát
Giá trị sử dụng: được trồng làm kiểng trong các chậu đặt hay treo trong nhà
4.2.4 Asplenium nidus L
Tên thông thường: Ráng ổ phụng
Họ Tổ chim – Aspleniaceae
Bộ áo khiên _ Aspidiales
Hình 4.15 Dương xỉ huyền _ Adiantum macrophyllum
Trang 38Phân lớp màng màng _ Hymenophyllaceae
Lớp dương xỉ _ Polypodiopsida
Hình thái: Có thân rễ ngắn Lá dày, to, mọc thành hình hoa thị nom như một
tổ chim; cuống lá rất ngắn, dày, phủ nhiều vẩy dài ở gốc; phiến lá dày, thuôn hình ngọn giáo, dài 30-90cm, rộng đến 20 cm, màu lục nhạt, có mép nguyên Ổ túi bào
tử mỏng, xếp chéo góc với gân chính ở mặt dưới lá Bào tử hình trái xoan, màu vàng sáng
Đặc điểm sinh học: sống nơi ẩm ướt khí hậu mát mẻ, dưới bóng các cây lớn; sống tốt trên đất ẩm vừa đủ nước, trên các chất trồng như xơ dừa, dớn Ánh sáng nhẹ, hay khuếch tán
Hình 4.16 Ráng tổ phụng _ Asplenium nidus L
Giá trị sử dụng: lá to dài nhẵn bóng, dễ chăm sóc nên rất được ưa chuộng Cây được trồng ở các tiểu cảnh công viên, hồ nước, có khi treo hay cho phụ sinh trên thân cây Phân bố rộng khắp, các vườn kiểng lá quận 12, trồng rải rác khắp thành phố, nhiều ở các công viên, vườn biệt thự quận 2, quận 7 Cây còn dùng làm thuốc