DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC Phụ lục 1: Danh mục các loài hoa dại đã điều tra được tại thành phố Đà Lạt Phụ lục 2: Danh mục nhóm hoa hoang dại chưa được chú ý sử dụng trong cảnh quan Phụ lục 3:
Trang 2
PHAM THI THU HA
DETERMINING THE NAME, CONSERVING AND DEVELOPING THE WILDFLOWERS WHICH HAVE LANDSCAPING VALUE IN DA LAT CITY - LAM ĐONG
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: KS VƯƠNG THỊ THỦY
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5Cám ơn tập thể lớp Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên 31 và các bạn thân
đã chia sẻ cùng tôi trong quá trình học tập và sinh hoạt
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình luôn sát cánh, chia sẻ, cổ vũ và giúp đỡ để tôi có được như ngày hôm nay
Chân thành Cảm ơn!
Sinh viên Phạm Thị Thu Hà
Trang 6- Đánh giá tổng quát hiện trạng các loài hoa dại tại thành phố Đà Lạt
- Định danh, mô tả được 62 loài hoa dại có giá trị cảnh quan
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển các loài hoa dại đã được định danh
Trang 7SUMMARY
The subject “Determining the name, conserving and developing the wildflowers which have landscaping value in Da Lat city – Lam Dong province” be made in Da Lat City from February to July 2007
Result:
- Evaluating general the actual state of wildflower species in Da Lat city
- Determining, describing 62 species of the wildflower which have landscaping value
- Proposing the solution to conserving and developing the wildflowers were determined
Trang 8name-MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA …… i
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
SUMMARY iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC xiii
Chương 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lý do, tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 1
1.3 Giới hạn của đề tài 1
Chương 2 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nội dung thực hiện 2
2.3 Phương pháp thực hiện 2
Chương 3 4
TỔNG QUAN 4
3.1 Tổng quan về hoa dại 4
3.1.1 Giới thiệu chung 4
3.1.2 Đánh giá tiềm năng của hoa dại 4
3.1.3 Nguyên nhân các loài hoa dại bị đe dọa 5
3.2 Tổng quan tài liệu 6
Trang 93.3 Tổng quan về thiên nhiên - cảnh quan thành phố Đà Lạt 7
3.3.1 Vị trí, diện tích 7
3.3.2 Địa hình 7
3.3.3 Tài nguyên thực vật 8
3.3.4 Khí hậu 9
3.3.5 Thổ nhưỡng 10
3.3.6 Thủy văn 11
Chương 4 12
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12
4.1 Tổng quát hiện trạng các loài hoa dại tại thành phố Đà Lạt hiện nay 12
4.2 Định danh, mô tả các loài hoa dại có giá trị cảnh quan tại thành phố Đà Lạt 12
4.2.1 Nhóm hoa hoang dại chưa được chú ý sử dụng trong cảnh quan 12
4.2.1.1 Bồ công anh, diếp trời, rau bồ cóc, cây mũi mác 12
4.2.1.2 Bồ công anh cao, miêu nhĩ 14
4.2.1.3 Bồ công anh lùn 15
4.2.1.4 Cúc dại, qui trâm thảo, đơn thức, song nha 16
4.2.1.5 Cúc đồng tiền dại 17
4.2.1.6 Diếp dại, hoàng đương 18
4.2.1.7 Rau khúc, hoàng nhung gần 19
4.2.1.8 Móc tai tàu 20
4.2.1.9 Cỏ tro buồn 21
4.2.1.10 Ban, nọc sởi 22
4.2.1.11 Bìm mờ 23
4.2.1.12 Trường lệ, bắt ruồi, trói gà, bèo đất 24
4.2.1.13 Cỏ dùi trống Nam 24
4.2.1.14 Chàm, chàm nhuộm, đại chàm 25
Trang 104.2.1.15 Chàm gié, chàm bông 26
4.2.1.16 Muồng ngọt, muồng lá hòe 27
4.2.1.17 Sục sạc 27
4.2.1.18 Sục sạc tái 28
4.2.1.19 Sâm cau, ngải cau, cồ nốc lan 29
4.2.1.20 Ích mẫu 30
4.2.1.21 Nhĩ cán chẻ hai, rong ly chẻ hai 31
4.2.1.22 Nhĩ cán sọc 32
4.2.1.23 Hồng nhung 33
4.2.1.24 Viễn chí lá nhỏ 33
4.2.1.25 Vấn vương 34
4.2.1.26 Tô liên cùng màu, cỏ bướm cùng màu 35
4.2.1.27 Cỏ vàng, hoàng đầu 36
4.2.2 Nhóm hoa dại đã được sử dụng làm cảnh 37
4.2.2.1 Cỏ thi, cúc vạn diệp 37
4.2.2.2 Cơm cháy 38
42.2.3 Bìm bìm, bìm đẹp, bìm Hi Lạp 39
4.2.2.4 Mua lông 40
4.2.2.5 Mua thường 40
4.2.2.6 An bích tro 40
4.2.2.7 Sim 41
4.2.2.8 Me đất hoa vàng, me đất nhỏ 43
4.2.2.9 Me đất hường 43
4.2.2.10 Bạch hoa xà, đuôi công hoa trắng 45
4.2.2.11 Tầm xuân 46
4.2.2.12 Bướm bạc lá 47
Trang 114.2.3.1 Cát đằng cánh 48
4.2.3.2 Phong huệ hồng, phong vũ hoa, tóc tiên hồng 49
4.2.3.3 Phong huệ đỏ, huệ đất 49
4.2.3.4 Bông tai, ngô thi 50
4.2.3.5 Cúc hôi tím 51
4.2.3.6 Cúc sợi tím, tâm nhầy 51
4.2.3.7 Cúc bất tử 53
4.2.3.8 Cúc liên chi dại, cúc ngàn sao 53
4.2.3.9 Dã quỳ 55
4.2.3.10 Thu thảo, cúc mui 55
4.2.3.11 Lưu ly thảo, forget me not 57
4.2.3.12 Hồng ri 58
4.2.3.13 Bìm bìm tím đậm 59
4.2.3.14 Bìm bìm tía 59
4.2.3.15 Tóc tiên 61
4.2.3.16 Nghệ hương 61
4.2.3.17 Đom đóm tím, lỗ bình hay lô biên 62
4.2.3.18 Tiểu đình hồng, la hoa, thục quỳ 63
4.2.3.19 Hoa phấn 64
4.2.3.20 Cà độc dược kiểng 65
4.2.3.21 Câu kỷ, khủ khởi 66
4.2.3.22 Sen cạn 66
4.2.3.23 Ngũ sắc, thơm ổi 68
4.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn các loài hoa dại đã được định danh 69
4.3.1 Tiêu chí bảo tồn 69
4.3.2 Các hình thức bảo tồn 69
4.3.3 Đề xuất phương án bảo tồn cụ thể 70
Trang 124.2.3.1 Tạo môi trường tự nhiên tốt nhất để các loài hoa dại phát triển 70
4.2.3.2 Lập vườn sưu tập hoa dại 71
4.3.4 Những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện phương án bảo tồn các loài trên 71
4.4 Đề xuất giải pháp phát triển các loài hoa dại đã được định danh 72
4.4.1 Giải pháp phát triển cho từng nhóm hoa dại 72
4.4.2 Giải pháp phát triển trong cảnh quan 73
4.4.2.1 Giải pháp phát triển tự nhiên và hoang dã 74
4.2.2.2 Giải pháp tăng không gian hoa ngày thường cho thành phố Đà Lạt
82
Chương 5 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 4.1 Diếp trời (Lactuca indica L.)
Hình 4.2 Miêu nhĩ (Hypocheris radicata L.)
Hình 4.3 Bồ công anh lùn (Taraxacum officinalis Weber.)
Hình 4.4 Cúc dại (Bidens pilosa L.)
Hình 4.5 Cúc đồng tiền dại [Gerbera piloselloides (L.) Cass.]
Hình 4.6 Diếp dại [Youngia japonica (L.) DC.]
Hình 4.7 Rau khúc (Gnaphalium affine D Don.)
Hình 4.8 Móc tai tàu ( Impatiens chinensis L.)
Hình 4.9 Cỏ tro buồn (Cynoglossum lanceolatum Forssk.)
Hình 4.10 Ban (Hypericum japonicum Thunb.ex Marray.)
Hình 4.11 Bìm mờ [Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.]
Hình 4.12 Trường lệ (Drosera burmann Vahl.)
Hình 4.13 Cỏ dùi trống Nam (Eriocaulion australe R Br.)
Hình 4.14 Chàm (Indigofera tinctoria L.)
Hình 4.15 Chàm gié (Indigofera spicata Forssk.)
Hình 4.16 Muồng ngọt (Cassia sophera L.)
Hình 4.17 Sục sạc (Crotalaria sp.)
Hình 4.18 Sục sạc tái (Crotalaria pallida Aiton.)
Hình 4.19 Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.)
Hình 4.20 Ích mẫu (Leonurus japonicus Houtt.)
Hình 4.21 Nhĩ cán chẻ hai (Utricularia bifida L.)
Hình 4.22 Nhĩ cán sọc (Utricularia striatula J.E.Smith.)
Hình 4.23 Hồng nhung [Rhynchostytrum repens (Willd.) C.E Hubb.]
Trang 14Hình 4.24 Viễn chí lá nhỏ (Polygala paniculata L.)
Hình 4.25 Vấn vương (Galium sp.)
Hình 4.26 Tô liên cùng màu (Torenia concolor Lindl.)
Hình 4.27 Cỏ vàng (Xyris indica L.)
Hình 4.28 Cỏ thi (Achillea millifolium L.)
Hình 4.29 Cơm cháy (Sambucus javanica Reinw.ex Blume.)
Hình 4.30 Bìm bìm [Ipomoea cairica (L.) Sw.]
Hình 4.31 Mua lông [Melastoma saigonense (Kuntze.) Merr.]
Hình 4.32 Mua thường (Melastoma candidum D.Don.)
Hình 4.33 An bích tro [Osbeckia stellata var.crinita (Naud.) C.Hans.]
Hình 4.34 Sim (Rhodomyrtus tomentosa Wight.)
Hình 4.35 Me đất vàng (Oxalis corniculata L.)
Hình 4.36 Me đất hường (Oxalis corymbosa DC.)
Hình 4.37 Bạch hoa xà (Plumbago zeylanica L.)
Hình 4.38 Tầm xuân (Rosa multiflora Thunb.)
Hình 4.39 Bướm bạc lá (Mussaenda frondosa L.)
Hình 4.40 Cát đằng cánh (Thunbergia alata Boj ex Sims.)
Hình 4.41 Phong huệ hồng (Zeyphyranthes grandiflora Lindl.)
Hình 4.42 Phong huệ đỏ [Zeyphyranthes rosea (Spreng.) Lindl.]
Hình 4.43 Bông tai (Asclepias curassavica L.)
Hình 4.44 Cúc hôi tím ( Ageratum houstonianum Mill.)
Hình 4.45 Cúc sợi tím (Centratherum intermedium Less.)
Hình 4.46 Cúc bất tử [Helichrysum bracteatum (Vent.) Andrews.]
Hình 4.47 Cúc liên chi dại (Parthenium hysterophorus L.)
Hình 4.48 Dã quỳ [ Tithonia diversifolia (Hemsl.) A.Gray.]
Hình 4.49 Thu thảo (Tridax procumbens L.)
Trang 15Hình 4.51 Hồng ri (Cleome speciosa Rafin.)
Hình 4.52 Bìm bìm tím đậm ( Ipomoea congesta R Br.)
Hình 4.53 Bìm bìm tía [ Ipomoea purpurea (L.) Kunth.]
Hình 4.54 Tóc tiên (Ipomoea quamoclit L.)
Hình 4.55 Nghệ hương [ Tritonia crocosmaeflora (Lem.) Nich.]
Hình 4.56 Lỗ bình ( Lobelia erinus L.)
Hình 4.57 Tiểu đình hồng ( Lavatera trimestris Linn.)
Hình 4.58 Hoa phấn (Mirabilis jalapa L.)
Hình 4.59 Cà độc dược kiểng [Brugmansia suaveolens (Willd.) Bercht.et Presl.] Hình 4.60 Câu kỷ (Lycium ruthenicum Murr.)
Hình 4.61 Sen cạn ( Tropaeolum majus Linn.)
Hình 4.62 Ngũ sắc (Latana camara L.)
Hình 4.63 Thảm 1: thảm cỏ và cúc ngàn sao (Parthenium hysterophorus L.)
Hình 4.64 Thảm 2: thảm bồ công anh cao ( Hypocheris radicata L.) và bồ công anh
lùn (Taraxacum officinalis Weber.)
Hình 4.65 Thảm 3: thảm cỏ, cúc hôi tím (Ageratum houstonianum Mill.)
Hình 4.66 Thảm 4: Thảm cỏ, diếp dại [Youngia japonica (L.) DC.] và chàm gié
(Indigofera spicata Forssk.)
Hình 4.67 Thảm 5: cỏ và viễn chí (Polygala paniculata L.) mọc xen trong kẽ đá
Trang 16Hình 4.81 Tầm xuân (Rosa multiflora Thunb.) leo quấn xích đu
Hình 4.82 Tầm xuân (Rosa multiflora Thunb.) trang trí tường rào gỗ
Hình 4.83 Mái nhà 1
Hình 4.84 Mái nhà 2
Hình 4.85 Triền dốc với bìm bìm
Hình 4.86 Bảng hiệu với bìm bìm
Hình 4.87 Dã quỳ vàng rực - nét đặc tr ưng của Đà Lạt
Hình 4.88 Thảm cúc hôi tím tô điểm thêm cho cảnh quan Đà Lạt
Trang 17DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh mục các loài hoa dại đã điều tra được tại thành phố Đà Lạt
Phụ lục 2: Danh mục nhóm hoa hoang dại chưa được chú ý sử dụng trong cảnh quan
Phụ lục 3: Danh mục nhóm hoa dại đã được sử dụng làm cảnh
Phụ lục 4: Danh mục nhóm hoa được nhập trồng đã phát tán thành hoang dại
Trang 18Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do, tính cấp thiết của đề tài
Đà Lạt – một thành phố du lịch đầy quyến rũ với hàng ngàn chủng loại hoa đầy màu sắc Trong các loài hoa làm nên đặc trưng văn hóa, tạo bản sắc, làm tăng giá trị của Đà Lạt không thể thiếu các loài hoa dại Hoa dại mọc khắp nơi, trên những sườn đồi, bên vệ đường, trên những mái nhà, bên hàng dậu sau hè hay bạt ngàn trong những thung lũng…Đó là nét duyên thầm mà thiên nhiên đã ban tặng cho thành phố này
Thế nhưng cùng với việc đô thị hóa ồ ạt và tư tưởng tôn sùng các loài hoa ngoại của người dân thành phố mà những loài hoa hoang dại đang dần biến mất ở Đà Lạt Điều này đã phá hủy cảnh quan tự nhiên, làm mất đi vẻ quyến rũ vốn có nơi đây Trước tình hình đó, việc khôi phục, bảo tồn và phát triển các loài hoa hoang dại ở thành phố này là rất cần thiết để thu hút du lịch cũng như để bảo tồn nguồn gen phục vụ cho công nghiệp lai tạo hoa cảnh
Vì vậy, tôi đã chọn thực hiện đề tài: “Định danh, bảo tồn và phát triển các loài hoa dại có giá trị cảnh quan tại thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng”
1.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Các loài hoa dại có giá trị cảnh quan
- Môi trường cảnh quan Đà Lạt
1.3 Giới hạn của đề tài
- Giới hạn trong thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng
- Giới hạn định danh một số loài hoa dại phổ biến có giá trị cảnh quan tại thành phố
Trang 19Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1 Mục tiêu
- Định danh, mô tả ít nhất 10 loài hoa dại có giá trị cảnh quan tại thành phố Đà
Lạt
- Đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển các loài hoa dại đã định danh
2.2 Nội dung thực hiện
2.2.1 Khảo sát hiện trạng, phân vùng điều tra và lập phiếu điều tra
2.2.2 Điều tra, lấy mẫu và định danh các loài hoa dại có tại TP.Đà Lạt
- Chụp hình, lấy mẫu, mô tả tại chỗ các loài hoa dại tại khu vực điều tra
- Phỏng vấn người dân địa phương lấy thông tin về các loài hoa dại tại khu vực điều tra
- Phân tích, vẽ hình, tra cứu, định danh các loài hoa dại
2.2.3 Đánh giá và chọn ra ít nhất 10 loài hoa dại có giá trị cảnh quan
2.2.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cụ thể
- Đề xuất phương án bảo tồn gen các loài hoa dại đã được định danh
- Đề xuất giải pháp phát triển sử dụng các loài hoa dại đã được định danh Đưa
ra mô hình giải quyết đề xuất trên phần mềm Photoshop
2.3 Phương pháp thực hiện
2.3.1 Phương pháp ngoại nghiệp
- Phương pháp điều tra theo vùng, lập phiếu điều tra
- Phương pháp phỏng vấn, tham vấn chuyên gia
Trang 20- Phương pháp mô tả
2.3.2 Phương pháp nội nghiệp
- Phương pháp phân tích, đánh giá
- Phương pháp thiết kế
Các phương pháp chính áp dụng cho từng mục tiêu cụ thể:
1 Định danh, mô tả ít nhất 10 loài
hoa dại có giá trị cảnh quan tại
thành phố Đà Lạt
Phương pháp điều tra, Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp mô tả, Phương pháp phân tích, đánh giá
2 Đề xuất biện pháp khôi phục, bảo
tồn và phát triển các loài hoa dại
trên
Phương pháp tham vấn chuyên gia, Phương pháp phân tích, đánh giá, Phương pháp thiết kế
Trang 21Chương 3 TỔNG QUAN
3.1 Tổng quan về hoa dại
3.1.1 Giới thiệu chung
Hoa dại là loài thực vật có hoa mọc trong điều kiện tự nhiên, không có sự tác động, chăm sóc nào từ con người Chúng có thể là loài thực vật bản địa, cũng có thể
là loài nhập nội đã phát tán hoang dại trong môi trường tự nhiên Tuy khái niệm hoa dại là nói đến các loài không chịu sự tác động của con người, nhưng hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, các loài hoang dại ngày nay đang sống trên khắp trái đất đều chịu một sự tác động với một mức nhất định nào đó bởi các hoạt động của con người
Về mặt sinh thái hoa dại mọc hoang dại khắp nơi như: ven đường, rìa rừng, ven sông suối, bãi hoang, đất trống, bãi cát, bãi cỏ, bờ ruộng, dưới tán rừng, trên núi…hay sau hè, trước sân nhà Chúng tồn tại, phát triển hay tàn lụi hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên
Về mặt cảnh quan hoa dại là một thành phần quan trọng trong hệ thực vật, đóng vai trò là một đại lượng cảnh quan, góp phần tạo nên giá trị ngắm nhìn của cảnh quan
3.1.2 Đánh giá tiềm năng của hoa dại
Đối với cảnh quan tự nhiên: góp phần làm tăng sự đa dạng, phong phú cho hệ thực vật, đồng thời làm tăng giá trị ngắm nhìn cho cảnh quan, tạo nét quyến rũ riêng cho cảnh quan đặc trưng
Đối với ngành thiết kế cảnh quan và du lịch: Thực trạng ở những khu cảnh quan nhân tạo hay khu du lịch sinh thái thường sử dụng những loài cây nhập nội
Trang 22với màu sắc sặc sỡ, bắt mắt Nhưng nó đã trở nên quá quen thuộc với du khách nước ngoài, gây phá hoại sinh thái của những loài hoa bản địa đặc sắc Việc sử dụng
và phát triển hoa dại trong thiết kế cảnh quan và du lịch là một xu hướng đáng quan tâm Điều này sẽ giảm thiểu chi phí chăm sóc cảnh quan, tăng hiệu quả thẩm mỹ và
3.1.3 Nguyên nhân các loài hoa dại bị đe dọa
- Mất môi trường sống: sự tăng dân số, phát triển nông nghiệp, sự đô thị hóa, công nghiệp hóa, mở rộng đường xá, sự ô nhiễm…là nguyên nhân chính làm mất dần môi trường sống của các loài hoang dại Dân số tăng, nhu cầu con người càng tăng kéo theo nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng thu hẹp Sự phát triển nông nghiệp
là mối đe dọa chính đối với đa dạng sinh học trong tự nhiên Bề mặt trái đất đang dần bị phá hủy, phân mảnh, xáo trộn và ô nhiễm bởi các thành phố, con đường, bởi
sự khai thác mỏ và bởi các cơ sở hạ tầng của văn minh loài người
- Thói quen sưu tập của người chơi hoa cảnh: việc sưu tập là đúng đối với sự nghiên cứu của các nhà khoa học Tác động của việc sưu tập một loài thực vật nào đó dường như không nghiêm trọng, nhưng nếu có nhiều người sưu tập riêng rẽ có thể dẫn đến sự tuyệt chủng của loài đó Việc săn lùng thu hái hoa cảnh vô tội vạ càng làm gia tăng sự tuyệt chủng Cùng với sự phát hiện một loài cây có ích nào đó thì
cũng đánh dấu sự tuyệt chủng của chúng Ví dụ loài lan hài bóng (Paphiopedilum
vietnamense ) lúc trước được phát hiện giá không quá 30.000đ/cây, người ta thu hái
bán như rau cải, nay thì 1000.000đ/cây cũng không dễ kiếm
Trang 23- Sự xâm lấn của các loài ngoại lai: ngày nay với sự phát triển của ngành hoa cảnh kéo theo việc nhập nội hoa cảnh tràn lan không kiểm soát đã đe dọa đến các loài bản địa Khi một loài thực vật được mang ra khỏi bản xứ, nhập nội đến một nơi khác, chúng thường xâm lấn rất mạnh, cuối cùng chúng thay thế cả loài bản địa
- Sự biến đổi khí hậu: sự biến đổi khí hậu sẽ tác động lớn lên hầu hết hoặc tất cả các
hệ sinh thái vào thế kỷ 21, làm thay đổi sự phân bố tự nhiên của nhiều loài Các môi trường sống như rừng, đồng cỏ…có thể chuyển đến vùng cao hơn nếu nhiệt độ trung bình tiếp tục tăng
3.2 Tổng quan tài liệu
- Theo Phạm Hoàng Hộ, 1993, Cây cỏ Việt Nam (3 tập), nhà xuất bản Trẻ: đã định
danh, mô tả chung các loài cây cỏ có ở Việt Nam, trong đó có định danh mô tả nhiều loài hoa mọc hoang dại
- Theo Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999, 2002, Cây cỏ có ích ở Việt Nam, nhà xuất bản
Giáo Dục Hà Nội: đã định danh, mô tả nhiều loài cây cỏ có ích như cây lấy gỗ, sợi, dầu, chất nhuộm, làm thuốc, làm lương thực thực phẩm…chưa đề cập đến các loài cây mọc hoang dại có giá trị cảnh quan
- Các sách khác: Võ Văn Chi, 2003, 2004, Từ điển thực vật thông dụng (2 tập), nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật; Trần Hợp, 2000, Cây cảnh hoa Việt Nam, nhà xuất
bản Nông Nghiệp…đã định danh, mô tả một số loài hoa dại được sử dụng làm cảnh
- Báo Việt Nam Hương Sắc số 144 tháng 9/2005 có đăng bài: Hoa hoang dại - di sản thiên nhiên của Phạm Ngọc Tường đề cập đến thực trạng hoa dại Đà Lạt đang dần mất đi và kêu gọi khôi phục, bảo tồn các loài hoa hoang dại ấy
- Báo Hoa Cảnh, số 12/2003 có đăng bài: Lai tạo hoa cảnh – nền tảng cơ bản của công nghiệp hoa cảnh của Ngô Quang Vũ đề cập đến việc nghiên cứu, khai thác nguồn gen hoa hoang dại phong phú để phục vụ cho nền công nghiệp hoa cảnh
- Báo Hoa Cảnh, số 9/2007 có đăng bài: Phát triển hoa dại để làm du lịch của Chí Thiện đề cập đến việc “phát triển hoa dại để tạo bản sắc, gia tăng giá trị của Đà Lạt, hấp dẫn với du khách” và giới thiệu một số loài cây cỏ hoang dại ở Lâm Đồng có khả năng làm đẹp cho Đà Lạt
Trang 243.3 Tổng quan về thiên nhiên - cảnh quan thành phố Đà Lạt
3.3.1 Vị trí, diện tích
Hiện nay tọa độ thành phố Đà Lạt được xác định như sau:
- Điểm cực Bắc: 12o04' độ vĩ Bắc
- Điểm cực Nam: 11o52' độ vĩ Bắc
- Điểm cực Tây: 108o20’ độ kinh Đông
- Điểm cực Đông : 108o35’ độ kinh Đông
Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng
Diện tích tự nhiên: 424 km2
3.3.2 Địa hình
Địa hình thành phố Đà Lạt là địa hình của đồi núi Cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) với bề rộng 12 km có địa hình rất đặc biệt gồm những chuỗi đồi thoai thoải dạng cong tròn nhấp nhô, xen kẽ nối tiếp nhau trải dài 18 km đến tận chân rặng núi Lang Biang
Bên trong cao nguyên, địa hình Đà Lạt phân thành hai bậc rõ rệt:
Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo bao gồm các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải có độ cao tương đối từ 25-100 m, lượn sóng nhấp nhô,
độ phân cắt yếu, độ cao trung bình khoảng 1.500 m
Bao quanh khu vực lòng chảo này là các đỉnh núi với độ cao khoảng 1.700 m tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm Phía Đông Bắc có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738 m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam 1.709 m) Ở phía Bắc, ngự trị cao nguyên Lang Biang là dãy núi Bà (Lang Biang), cao 2.165 m, kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ suối Đa Sar (đổ vào Đa Nhim) đến Đa Me (đổ vào Đạ Đờng) Phía Đông án ngữ bởi dãy núi đỉnh Gió Hú (1.644 m) Về phía Tây Nam, các dãy núi hướng vào Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng mà các đỉnh cao tiêu biểu là Pin Hatt (1.691 m) và You Lou Rouet (1.632 m)
Trang 25Bên ngoài cao nguyên là các dốc núi từ hơn 1.700 m đột ngột đổ xuống các cao nguyên bên dưới có độ cao từ 700 m đến 900 m
3.3.3 Tài nguyên thực vật
Tài nguyên cây gỗ quan trọng nhất là những rừng Thông ba lá thuần loại
Quần thụ Thông ba lá có khả năng phát triển công nghiệp khai thác và chế biến gỗ Thông ba lá ở Đà Lạt có mức độ sinh trưởng tốt, sản lượng gỗ đạt trên 130m3/ha Với diện tích trên 15.818 ha rừng thông, trữ lượng gỗ thông của Đà Lạt là trên 2 triệu m3 Bên cạnh gỗ thông, rừng Đà Lạt còn nhiều cây lấy gỗ khác, trữ lượng cũng rất đáng kể, đó là những cây Dẻ, Giổi, Xoan, Ngọc lan, Kim giao Người ta đã thống kê được vài chục loài gỗ quý, đặc biệt có nhiều loài rất có giá trị trên thị trường thế giới như: Bách tùng, Hoàng đàn, Thông đỏ (còn gọi là Hồng tùng, Thông
2 lá dẹp), Pơ mu, Đỉnh tùng
Tài nguyên cây thuốc: Rừng Đà Lạt cũng giàu về tài nguyên cây thuốc Thành
phần cây thuốc tự nhiên ở đây rất đa dạng nhưng khả năng khai thác và phát triển một cách có hiệu quả kinh tế cao phù hợp với hoàn cảnh hiện nay chỉ tập trung vào một số loài sau: Kinh giới, Đơn buốt, Đại bi, Nam sâm, Ngưu tất nam, Thu hải đường dại là những loài mọc ở khắp nơi, có trữ lượng lớn Bên cạnh đó, cũng có một số loài cây thuốc rất dễ tìm ở Đà Lạt, là đặc sản của địa phương như Lông cu li,
Bổ cốt toái, Hoàng liên ô rô
Các loại cây cảnh: Riêng về các loại cây cảnh, rừng Đà Lạt xưa nay đã nổi
tiếng về sự phong phú của các loại lan rừng Với số lượng hơn 300 loài, nghề kinh doanh Lan ở đây đã có từ lâu đời Các loài Lan quý của địa phương đã được nhiều người biết đến là Thanh lan, Hoàng Lan, Hồng lan….Một số loài Lan lại trổ lá rất đẹp như Lá gấm, Lan sứa Lan rừng Đà Lạt còn là một nguồn dự trữ gen đáng kể cho lai tạo
Ngoài ra, các loại cây chịu bóng rất phong phú có thể làm kiểng, nổi tiếng nhất là các loài Đỗ quyên trắng, Đỗ quyên đỏ, Đa, Si, Ngũ gia bì, Trường sinh , nhiều loại Thạch tùng, Dương xỉ, rêu cũng dễ gây trồng làm cảnh, chiếm một vị trí quan trọng trong việc trang trí vườn hoa, nội thất
Trang 26Hệ thực vật thủy sinh tại Đà Lạt, cũng khá phong phú, các loài Rong, một số
loài Rêu nước, Trạch tả, Rau mác, các loài Bèo, ngay cả Lan (Spiranthes sp.) và khá
nhiều loài tảo cũng như phù phiêu sinh vật Đây là nguồn cung cấp thức ăn, chỗ ẩn nấp cho động thực vật thủy sinh
Chế độ mưa: Mùa mưa ở Đà Lạt thường bắt đầu giữa tháng 4, mưa tháng 4 và
5 thường là mưa rào và dông vào buổi trưa - chiều Khi trường gió Tây Nam ổn định và mạnh dần lên từ tháng 6, bắt đầu có những đợt mưa kéo dài Những đợt mưa này cũng thường xảy ra khi có bão, áp thấp ở Biển Đông Mùa mưa thường kết thúc vào giữa tháng 10, đôi khi vào giữa tháng 11 Như vậy mùa mưa ở Đà Lạt kéo dài khoảng sáu tháng, tháng 4 và 11 là thời kỳ giao mùa
Độ ẩm không khí có tương quan chặt chẽ với lượng mưa ở Đà Lạt Trong
mùa mưa, độ ẩm tương đối các tháng đạt trên 85% Thời kỳ ẩm nhất trong năm vào các tháng 7, 8, 9 với độ ẩm trung bình: 90 - 92% Mùa khô, độ ẩm giảm xuống dưới 80% Độ ẩm tương đối thấp nhất vào tháng 2, 3: 75 -78%
Lượng mây: Ở Đà Lạt, lượng mây trung bình năm từ 6/10 - 7/10 bầu trời; so
với các tỉnh Bắc Tây Nguyên, lượng mây ở đây ít hơn nhiều Vào mùa mưa, các tháng 7, 8, 9 là thời kỳ nhiều mây, lượng mây trung bình 8/10 - 9/10 Thời kỳ ít mây vào tháng 1, 2, 3 có lượng mây trung bình 4,5/10 - 5/10
Lượng mây này chi phối số giờ nắng, tại Đà Lạt số giờ nắng toàn năm lên đến 2.340 giờ Tháng 6 - 10, lượng mây nhiều, số giờ nắng khoảng 140 -170 giờ Tháng
Trang 279 có số giờ nắng ít nhất: 100 - 130 giờ Tháng 1, 2, 3 là các tháng ít mây, số giờ nắng quan sát được là 250 - 270 giờ Các tháng khác có số giờ nắng trên 200 giờ
Chế độ gió: Hướng gió thịnh hành tại Đà Lạt thay đổi theo mùa Từ tháng 10 -
4, hướng gió chủ yếu là Đông - Đông Bắc Gió Đông Bắc hoạt động mạnh vào tháng 11, 12 và tháng 1 Từ tháng 5 - 9 là thời kỳ hoạt động của gió Tây - Tây Nam Gió Tây thịnh hành trong tháng 7 và 8 Tốc độ gió trung bình hàng năm ở Đà Lạt là 2,1 m/s Thời kỳ gió mạnh vào các tháng 11, 12, 1 từ 2,1 - 3,2 m/s Thời kỳ gió yếu
và lặng có tốc độ trung bình từ 1,1 -1,5 m/s (tháng 1, 2, 3, 4) Các tháng còn lại tốc
độ gió trung bình từ 1,5 -1,7 m/s Trong những tháng gió mùa Tây Nam thịnh hành kết hợp có bão, áp thấp nhiệt đới, thường có gió mạnh Tốc độ gió mạnh nhất ở Đà Lạt là 23 m/s (tháng 8) Bên cạnh đó có các đợt gió Đông Bắc tràn về, gió mạnh xảy
ra từng đợt, mỗi đợt có khi kéo dài 5 - 6 ngày Vào các tháng cuối năm, do ảnh hưởng bão đổ bộ từ Phú Yên đến Bình Thuận, ở Đà Lạt gió bão có thể mạnh đến cấp 8 - 9 Hầu hết các tháng trong năm đều có những ngày có gió mạnh từ 11 m/s trở lên
Các hiện tượng thời tiết khác: Ngoài ra, ở Đà Lạt còn có các hiện tượng thời
tiết đáng chú ý: sương mù, dông, mưa đá và sương muối
Theo bảng phân loại mới dùng cho bản đồ đất của Việt Nam, các loại đất Đà Lạt thuộc hai nhóm chính: nhóm đất feralit vàng đỏ phân bố ở độ cao 1.000 - 1.500
Trang 28m và nhóm mùn vàng đỏ trên núi phân bố ở độ cao 1.000 - 2.000 m Các nhóm khác như đất phù sa, đất than bùn, đất bồi tụ chiếm diện tích không đáng kể
3.3.6 Thủy văn
Giữa các dãy đồi thấp ở vùng trung tâm và các đỉnh núi cao chung quanh Đà Lạt là dòng chảy của các sông suối thượng nguồn sông Đa Nhim, sông Đạ Đờng, sông Cam Ly, những con sông này là các nhánh chính đổ vào sông Đồng Nai Ở đây nguồn nước phong phú trong mùa mưa nhưng rất nghèo trong mùa khô
Ở phía Bắc, các con suối đổ vào hồ Suối Vàng chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc như suối Phước Thành bắt nguồn từ Tùng Lâm, suối Đa Phú bắt nguồn từ
Đa Phú Phía Đông có các con suối nhỏ chảy về sông Đa Nhim, phần thượng nguồn
hồ Đơn Dương Các con suối phía Nam chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đổ
về suối Đạ Tam như suối Datanla, Đạ Prenn Chảy qua trung tâm thành phố là suối Cam Ly có chiều dài 20 km trong địa phận Đà Lạt, với diện tích lưu vực xấp xỉ 50
km2 Mạng lưới suối nhỏ khá dày, các dòng suối nhỏ vào mùa khô rất ít nước hoặc khô cạn Mật độ sông suối bình quân: 1,2 km/km2
Hồ ở Đà Lạt, chủ yếu là hồ nhân tạo, phân bố rải rác Hiện tại có trên dưới 16
ao hồ lớn nhỏ Các hồ lớn ở Đà Lạt được sử dụng vào việc tạo thắng cảnh, tạo nguồn nước sinh hoạt: hồ Đa Thiện, hồ Than Thở, hồ Tuyền Lâm, hồ Xuân Hương Hồ Suối Vàng được dùng trong việc tạo năng lượng điện
Trang 29Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tổng quát hiện trạng các loài hoa dại tại thành phố Đà Lạt hiện nay
Hiếm có nơi nào ở Việt Nam, các loài hoa dại lại mọc nhiều và đẹp như ở Đà Lạt Có nhiều loài hoa dại quen thuộc như: forget me not, me đất, bồ công anh, trinh
nữ, huệ đất, cúc quỳ, bìm bìm, sim, mua, sen cạn,…đã tạo nên nét riêng cho Đà Lạt Thế nhưng nét riêng đó dần dần bị mất đi bởi sự đô thị hóa Đi cùng với đô thị hóa
là việc tôn sùng các loài hoa ngoại của người dân thành phố đã làm cho các loài hoa dại ở Đà Lạt dần biến mất Việc đốt thực bì trên các triền đồi, những cánh rừng thông cũng đã thiêu trụi những hạt giống, mầm non của một số loài hoa dại
Vài năm trở lại đây, khi Đà Lạt được chú ý nhiều hơn và đặc biệt từ Lễ hội sắc hoa Đà Lạt diễn ra năm 2004, hoa dại được nhiều người chú ý hơn Bên cạnh những loài hoa rực rỡ sắc màu có nguồn gốc từ khắp nơi còn thấy có một số loài hoa dại
trong các lễ hội hoa
4.2 Định danh, mô tả các loài hoa dại có giá trị cảnh quan tại thành phố Đà Lạt
Đã định danh mô tả được 62 loài thuộc 33 họ thực vật
Dựa vào nguồn gốc, xuất xứ, đặc tính hình thái, sinh thái và giá trị sử dụng, phân chia hoa dại có giá trị cảnh quan tại thành phố Đà Lạt làm 3 nhóm: nhóm hoa hoang dại có tiềm năng chưa được chú ý sử dụng trong cảnh quan, nhóm hoa dại đã được sử dụng làm cảnh và nhóm hoa được nhập trồng đã phát tán thành hoang dại Các loài trong từng nhóm được xếp thứ tự a, b, c… theo họ thực vật
4.2.1 Nhóm hoa hoang dại chưa được chú ý sử dụng trong cảnh quan
4.2.1.1 Bồ công anh, diếp trời, rau bồ cóc, cây mũi mác (hình 4.1)
Danh pháp khoa học: Lactuca indica L
Trang 30Họ thực vật: Asteraceae
Hình thái: Cây thảo mọc đứng, cao 0.5-1 m Toàn thân có nhựa mủ màu trắng
Lá mọc so le, không cuống, rất đa dạng; những lá ở phần dưới thuôn dài khoảng 30
cm, rộng 5-6 cm, xẻ thùy không đều hẹp và sâu, mép có răng cưa, đầu nhọn;lá ở giữa và ở gần ngọn có phiến ngắn và hẹp hơn, xẻ ít răng hoặc hoàn toàn nguyên Cụm hoa mọc ở ngọn thân và kẻ lá thành chùy dài 20-40 cm, phân nhành nhiều, mỗi nhánh mang 2-5 đầu, mỗi đầu 8-10 hoa vàng, tràng hoa có ống mảnh và lưỡi dài, nhị 5, bao phấn có đỉnh tròn, tai hình dùi, vòi nhụy có gai
Quả bế, màu đen khi chín, có mào lông trắng nhạt ở đỉnh
Phân bố: rải rác khắp các tỉnh vùng núi thấp, trung du và đồng bằng
Đặc điểm sinh học – sinh thái: cây ưa ẩm, ưa sáng, ở bãi sông, nương rẫy, các bãi đất hoang, ven đường đi Cây mọc từ hạt, ra hoa tháng 4-6 Khả năng nảy mầm tốt Gây trồng bằng cách gieo hạt
Giá trị sử dụng: làm thuốc, trồng phối kết ngẫu nhiên trong các kiểu vườn thôn dã
Hình 4.1 Diếp trời (Lactuca indica L.)
Trang 314.2.1.2 Bồ công anh cao, miêu nhĩ (hình 4.2)
Danh pháp khoa học: Hypocheris radicata L
Họ thực vật: Asteraceae
Hình thái: Cỏ có thân củ to 3x1 cm, mủ trắng
Lá chụm ở gốc, phiến dài 6-8 cm, có lông nhám, trắng, bìa có thùy tròn
Phát hoa cao 20-50 cm, mang 2-3 hoa đầu cao 12 mm, vàng, lá hoa niều hàng, thon
Bế quả 2 mm có mụt mịn, từ từ hẹp thành mỏ dài, mang lông mao trắng
Đặc điểm sinh học – sinh thái: mọc dại vùng núi cao, mọc hoang ở sân, đất hoang, dọc đường đi, nơi ẩm ướt và lạnh
Trang 324.2.1.3 Bồ công anh lùn (hình 4.3)
Danh pháp khoa học: Taraxacum officinalis Weber
Họ thực vật: Asteraceae
Hình thái: Cỏ đa niên nhờ rễ phù to, có nhũ dịch trắng
Lá mọc chụm ở đất, phiến không lông, có thùy 2 bên đều, nhọn nhọn
Hoa đầu vàng trên cọng cao 10-30 cm, lá hoa hàng ngoài cong xuống, toàn hoa hình môi vàng tươi
Bế quả có mỏ dài mang lông mao trắng
Nguồn gốc và phân bố: loài của các vùng ẩm và lạnh ở nam và bắc bán cầu, phát tán vào nước ta, mọc ở Tam Đảo, Sa pa và Đà Lạt
Đặc điểm sinh học – sinh thái: mọc dại vùng núi cao, mọc hoang ở sân, đất hoang, dọc đường đi, nơi ẩm ướt và lạnh Ra hoa vào tháng 2-3 đến tháng 10 Hạt có lông nên phát tán khắp nơi, khả năng nẩy mầm tốt nên nhân giống bằng hạt rất thuận lợi Giá trị sử dụng: làm dược liệu, có thể cắt hoa cắm lọ, trồng thảm
Hình 4.3 Bồ công anh lùn (Taraxacum officinalis Weber.)
Trang 334.2.1.4 Cúc dại, qui trâm thảo, đơn thức, song nha (hình 4.4)
Danh pháp khoa học: Bidens pilosa L
Họ thực vật: Asteraceae
Hình thái: Cỏ nhất niên, cao 0.5-1 m
Lá mọc đối, phiến mang 3 thứ diệp bầu dục, bìa có răng, không lông hay có lông ngắn Hoa đầu trên cọng dài, vàng với 5 hoa hình môi trắng, bất thụ, hoa hình ống lưỡng phái Bế quả cao 0.5-1.3 cm, chót có 2 răng móc
Nguồn gốc và phân bố: Loài của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Mọc hoang nhiều ở Huế, Bảo Lộc, Đà Lạt
Đặc điểm sinh học – sinh thái: mọc ven đường, ven đồi, bãi hoang bờ ruộng Mùa hoa từ tháng 3-5 đến tháng 8-10 Cây trồng bằng hạt dễ dàng
Giá trị sử dụng: làm rau ăn và dược liệu Có thể sử dụng trồng cụm hoặc thảm trong các kiểu vườn hoang dã
Hình 4.4 Cúc dại (Bidens pilosa L.)
Trang 344.2.1.5 Cúc đồng tiền dại (hình 4.5)
Danh pháp khoa học: Gerbera piloselloides (L.) Cass
Họ thực vật: Asteraceae
Hình thái: Cây thân thảo sống lâu năm có gốc dày
Lá hình mũi mác hay trái xoan, đầu tròn, mặt trên phiến có lông thưa, mặt dưới có lông mềm dày
Cụm hoa đầu to, lá bắc hình sợi nhọn, có lông nhiều ở mặt ngoài Hoa trắng ở trong tím hồng ở ngoài
Quả bế hình thoi dẹp, có 4-5 cạnh mang mào lông
Phân bố: loài của Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Việt Nam Ở nước ta gặp ở Lào Cai, Lai Châu, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng
Đặc điểm sinh học- sinh thái: cây mọc trên đất núi đá vôi, rừng thưa
Hoa tháng 2-6
Giá trị sử dụng: làm dược liệu Hoa đẹp, có thể sử dụng phối kết trong cảnh quan
Hình 4.5 Cúc đồng tiền dại [Gerbera piloselloides (L.) Cass.]
Trang 354.2.1.6 Diếp dại, hoàng đương (hình 4.6)
Danh pháp khoa học: Youngia japonica (L.) DC
Họ thực vật: Asteraceae
Hình thái: Cây thảo sống hàng năm, cao 20-70 cm thân có cạnh, phân cành ở ngọn
Lá thường mọc chụm ở gốc có thùy, các lá ở thân tiêu giảm Hoa đầu mọc ở ngọn thành ngù kép, cuống và bao chung không lông, nhị 5, bầu hình trứng Quả bế thuôn, cao 1.5 mm, không có mỏ rõ rệt, có mào lông trắng
Phân bố: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Lào, Campuchia Ở nước ta mọc phổ biến nhiều nơi
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Cây mọc ven đồi, trên các bãi hoang, bờ ruộng, bãi cát ven sông suối, nơi ẩm ở vùng núi, trung du, đồng bằng Ra hoa gần như quanh năm, nhiều vào tháng 11 đến tháng 4
Giá trị sử dụng: làm dược liệu, có thể cắt hoa cắm lọ, trồng thảm
Hình 4.6 Diếp dại [Youngia japonica (L.) DC.]
Trang 364.2.1.7 Rau khúc, hoàng nhung gần (hình 4.7)
Danh pháp khoa học: Gnaphalium affine D Don
Họ thực vật: Asteraceae
Nguồn gốc: loài của Nhật Bản, Triều Tiên, Trung quốc, Ấn Độ và Việt Nam Hình thái: Cỏ nhỏ, thân có lông như nhung
Lá mọc xen, không cuống, có phiến hẹp dài
Phát hoa ở chót nhánh dày, màu vàng tươi, to vào 2 cm, hoa đầu to 2-3 mm
Đặc điểm sinh học – sinh thái: mọc ở ruộng đất hoang, đất trống, cạnh đường đi…
Ra hoa vào tháng 8
Giá trị sử dụng: làm dược liệu Có thể sử dụng phối kết trong cảnh quan
Hình 4.7 Rau khúc (Gnaphalium affine D Don.)
Trang 374.2.1.8 Móc tai tàu (hình 4.8)
Danh pháp khoa học: Impatiens chinensis L
Họ thực vật: Balsaminaceae
Hình thái: Cỏ không lông, mập, thân thường không chia nhánh
Lá mọc đối, phiến thon hẹp, dài 3-10 cm không lông, bìa có răng, cuống rất ngắn Hoa cô độc, to, màu hường, lá đài hẹp, môi có móng dài 2-3.5 cm, cánh hoa trên nhỏ
Nang cao 2 cm, hột tròn, đen, to 3 mm
Nguồn gốc và phân bố: là loài của Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc và Việt Nam
Ở nước ta gặp tại Đà Lạt – Lâm Đồng
Đặc điểm sinh học – sinh thái: cây mọc dọc theo suối vùng cao Ra hoa vào mùa hạ Gây trồng bằng hạt
Giá trị sử dụng: làm dược liệu, trồng làm cảnh
Hình 4.8 Móc tai tàu ( Impatiens chinensis L.)
Trang 384.2.1.9 Cỏ tro buồn (hình 4.9)
Danh pháp khoa học: Cynoglossum lanceolatum Forssk
Họ thực vật: Boraginaceae
Hình thái: Cỏ nhất niên cao 10-80 cm, nhám, thân có lông trắng
Lá có phiến thon có lông trắng, đen lúc khô
Tụ tán đơn phân, thường từng cặp ở ngọn thân, hoa trắng, tâm lam tím, cao 3 mm Trái hình lưỡi cày, có lông to, ngắn như gai
Phân bố: đất hoang vùng núi cao Đà Lạt
Giá trị sử dụng: hoa đẹp giống hoa lưu ly thảo, có thể sử dụng phối kết trong cảnh quan
Hình 4.9 Cỏ tro buồn (Cynoglossum lanceolatum Forssk.)
Trang 394.2.1.10 Ban, nọc sởi (hình 4.10)
Danh pháp khoa học: Hypericum japonicum Thunb.ex Marray
Họ thực vật: Clusiaceae
Hình thái: Cây thảo nhỏ cao 30-40 cm, thân phân nhánh, có 4 cạnh
Lá mọc đối, không cuống, phiến dài 1-1.5 cm, không lông
Cụm hoa thưa hoa, có khi là hoa riêng lẻ, mọc ở ngọn thân hoặc cành Hoa màu vàng, lá đài 5, cánh hoa 5, nhị nhiều họp thành 3 nhóm, bầu hình trứng thuôn, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy nhỏ
Quả nang hình trứng cao 4 mm mở thành 3 mảnh dọc, hạt nhỏ
Phân bố: ở Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Xri Lanca, Nhật Bản, Châu Đại Dương, Châu Phi
Ở nước ta gặp nhiều nơi ở Bắc Bộ, Trung Bộ
Đặc điểm sinh học – sinh thái: Cây mọc ở những nơi đất ẩm, trên các thửa ruộng đã hết nước hơi ẩm ướt
Ra hoa tháng 2-4 trở đi, quả tháng 8-10
Giá trị sử dụng: làm dược liệu, trồng thảm trong cảnh quan
Hình 4.10 Ban (Hypericum japonicum Thunb.ex Marray.)
Trang 404.2.1.11 Bìm mờ (hình 4.11)
Danh pháp khoa học: Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl
Họ thực vật: Convolvulaceae
Hình thái: Cỏ leo quấn, cành mảnh, không lông
Lá có phiến xoan tim, gân từ đáy 5-7, mỏng, không lông hay có lông mịn
Phát hoa mang 1-2 hoa, hoa trắng có 5 tia vàng sữa, lá đài trong cao hơn ngoài, tiểu nhụy gắn ở đáy ống vành
Giá trị sử dụng: hoa trắng sử dụng làm dây leo giàn rất đẹp
Hình 4.11 Bìm mờ [Ipomoea obscura (L.) Ker.-Gawl.]