THIẾT KẾ QUÁN CAFÉ SÂN VƯỜN PHONG LAN TRÊN ĐƯỜNG LÊ VĂN KHƯƠNG - CẦU DỪA 1 - QUẬN 12 TP. HỒ CHÍ MINHTHIẾT KẾ QUÁN CAFÉ SÂN VƯỜN PHONG LAN TRÊN ĐƯỜNG LÊ VĂN KHƯƠNG - CẦU DỪA 1 - QUẬN 12 TP. HỒ CHÍ MINHTHIẾT KẾ QUÁN CAFÉ SÂN VƯỜN PHONG LAN TRÊN ĐƯỜNG LÊ VĂN KHƯƠNG - CẦU DỪA 1 - QUẬN 12 TP. HỒ CHÍ MINH
Trang 1ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
*************
NGUYỄN THÁI CHÂU
THIẾT KẾ QUÁN CAFÉ SÂN VƯỜN PHONG LAN TRÊN ĐƯỜNG
LÊ VĂN KHƯƠNG - CẦU DỪA 1 - QUẬN 12
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: CẢNH QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
*************
NGUYỄN THÁI CHÂU
THIẾT KẾ QUÁN CAFÉ SÂN VƯỜN PHONG LAN TRÊN ĐƯỜNG
LÊ VĂN KHƯƠNG - CẦU DỪA 1 - QUẬN 12
TP HỒ CHÍ MINH Ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Ks NGUYỄN VĂN LONG
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY - HO CHI MINH CITY
*************
NGUYEN THAI CHAU
DESIGNING PHONG LAN’S GARDEN COFFEE SHOP IN
LE VAN KHUONG STREET - CAU DUA 1 WARD – DIST 12
HO CHI MINH CITY
Department of Landscaping and Environmental Horticulture
GRADUATED THESIS
Adviser: NGUYEN VAN LONG
Ho Chi Minh City
February-2009
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy cô trong bộ môn Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên, quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm - Thành phố Hồ Chí Minh
Đặc biệt đối với thầy Nguyễn Văn Long, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
và tất cả các thầy cô đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tại trường
Cảm ơn những người bạn thân thiết, tập thể lớp DH05CH đã chia sẻ những khó khăn vui buồn trong suốt 4 năm học, đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện bài tốt nghiệp
Xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn sát cánh, chia sẻ, cổ vũ và giúp đỡ để tôi có được như ngày hôm nay
Dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện bài tốt nghiệp nhưng chắc chắn không tránh những sai sót, vì vậy rất mong được sự thông cảm, chia sẻ và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để bài luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 03 năm 2009 Sinh Viên thực hiện:
Nguyễn Thái Châu
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “THIẾT KẾ QUÁN CAFÉ SÂN VƯỜN PHONG LAN TRÊN
ĐƯỜNG LÊ VĂN KHƯƠNG - CẦU DỪA 1 - QUẬN 12 TP HỒ CHÍ MINH”
được tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 10/02/2009 đến
15/07/2009
Kết quả thu được:
- Thiết lập cảnh quan sân vườn trong quán café
- Hệ thống các bảng vẽ: phối cảnh tổng thể quán café; các bảng vẽ kĩ thuật về địa hình, cây xanh, cấp thoát nước, hệ thống chiếu sáng, các bảng vẽ tiểu cảnh
- Danh mục cây trồng phù hợp với công trình
Trang 6SUMMARY
The thesis “DESIGNING PHONG LAN’S GARDEN COFFEE SHOP IN LE
VAN KHUONG STREET - CAU DUA 1 WARD – DIST 12 HO CHI MINH CITY” was carried out at Ho Chi Minh City from February 10 2009 to July 15 2009
Result:
- To establish coffee shopgarden lanscapes
- Network of drawings: Overall perspective drawing, Terrain technique
drawings, Plant, Network illuminate drawings, Network exits and drinking water supply, Network distributed generation
- Lists of plant were used in the Drawings
Trang 7MỤC LỤC
TRANG
Lời Cảm Ơn i
Tóm tắt đề tài .ii
Summary iii
Mục lục .viii
Danh sách các hình ix
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN 3
2.1 Phong cách vườn Châu Á 3
2.1.1 Giới thiệu 3
2.1.2 Thuyết âm dương trong kiến trúc Á Đông 3
2.1.2.1 Cơ bản thuyết âm dương và đặc điểm kiến trúc và sân vườn Á Đông 4
a Âm dương đối kháng 4
b Âm Dương Tương Giao 7
c Âm dương tiêu trưởng 9
2.2 Phong cách vườn Nhật 11
2.2.1 Giới thiệu 11
2.2.2 Chất liệu sử dụng trong vườn khô Nhật Bản 12
2.2.2.1 Đá trong trang trí vườn Nhật 12
2.2.2.2 Sỏi- Đá granit nhuyễn 15
2.2.2.3 Cây 16
2.3 Phong cách vườn Việt Nam 17
2.3.1 Giới thiệu 17
Trang 82.3.2 Vườn Việt Nam thời Phong Kiến 18
2.3.2.1 Vườn thượng uyển 18
2.3.2.2 Vườn tính ngưỡng 18
2.3.2.3 Vườn nhà ở dân gian 18
2.3.2 Vườn nhà ở Việt Nam thời Pháp thuộc 18
2.3.3 Vườn Việt Nam từ 1954 đến nay 19
2.4 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan và môi trường 19
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 19
2.4.1.1 Vị trí địa lý 19
2.4.1.2 Khí hậu .21
CHƯƠNG III: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Mục tiêu 23
3.2 Nội dung 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .25
4.1 Mục đích thiết kế 25
4.2 Phân tích hiện trạng 25
4.3 Thuyết minh thiết kế 25
4.3.1 Cổng ra vào 28
4.3.2 Khu vườn khô 31
4.3.3 Khu uống café trong nhà 33
4.3.4 Khu nhà chuông 33
4.3.5 Khu phục vụ 33
4.4 Lập dự toán trang trí mảng xanh công trình cho quán café sân vườn Phong Lan trên đường Lê Văn Khương – Cầu Dừa 1 – Quận 12 TP Hồ Chí Minh 37
4.4.1 Hạng mục cây xanh 37
CHUƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
Trang 95.1 Kết luận 39
5.2 Tồn tại và kiến nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Phụ lục 1 41
Hình ảnh các loài cây sử dụng trong thiết kế Phụ lục 2 47
Hình ảnh các vật liệu sử dụng trong thiết kế Phụ lục 3 48
Hồ sơ các bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ thiết kế khuôn viên quán café
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Năm hình dạng đá căn bản 13
Hình 2.2 Một số cách kết hợp đá căn bản 13
Hình 2.3 Bố trí đá trong sân vườn Nhật 14
Hình 2.4 Một số mẫu hoa văn được tạo ra từ sỏi nhuyễn hay cát sử dụng trong thiết kế vườn khô Nhật Bản .15
Hình 2.5 Trang trí sỏi trong tiểu cảnh và nền ở vườn Nhật .16
Hình 2.6: Hình ảnh dương xỉ, tre rất phổ biến trong vườn Nhật 16
Hình 2.7 Một bàn cờ từ rêu và những phiến đá ở vườn phía Bắc của đền Tofukuj, Kyoto 17
Hình 2.8 Trang trí rêu phong kết hợp giữa cây cỏ tượng đá và rêu phong .17
Hình 2.9: Bản đồ vị trí Quận 12 19
Hình 4.1: Phối cảnh tổng thể khu đất thiết kế 26
Hình 4.2: Phối cảnh thác nước chính .27
Hình 4.3:Phối cảnh thác nước phụ .28
Hình 4.4: Một số loại sỏi bày bán trên thị trường .29
Hình 4.5: Phối cảnh góc hồ .30
Hình 4.6: Phối cảnh hồ nước bên trong .30
Hình 4.7:Phối cảnh rốn hồ của hồ nước bên trong 31
Hình 4.8: Phối cảnh vườn khô 32
Hình 4.9: Phối cảnh một không gian cà phê trong nhà .34
Hình 4.10: Phối cảnh góc nhà vệ sinh 34
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính Quận 12 20
Bảng 2.2: Một số yếu tố khí hậu của Quận 12 .21
Bảng 4.1: Danh mục các loài cây trồng sử dụng trong thiết kế .35
Bảng 4.2: Dự toán hạng mục cây xanh của quán cà phê sân vườn .37
Trang 12Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Xây dựng một quán café có sức thu hút cả về phong cách thiết kế và chất lượng phục vụ luôn là mục tiêu hàng đầu của nhà thiết kế và chủ đầu tư Cái khó ở đây là để áp dụng một phong cách nào đó vào một vị trí và không gian mà đạt được hiệu quả cả về thẩm mỹ, công năng và bền vững thì đó là cả một vấn đề lớn cần có
sự nghiên cứu kỹ lưỡng Vấn đề thẩm mỹ tức là quán phải đẹp, có sức ấn tượng, muốn đạt được điều này cách bố trí và sắp đặt phải hết sức tinh vi, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ thiết kế Vấn đề công năng bao gồm sự tiện nghi của quán, tức các không gian tĩnh động được bố trí linh hoạt và phù hợp nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng Vấn đề bền vững tức là đảm bảo chất lượng công trình, sử dụng cây xanh và vật liệu hài hoà với môi trường thiên nhiên Để giải quyết vấn đề này người ta đã xây dựng lên nhiều mô hình mang đậm phong cách gần gũi thiên nhiên như vườn Trung Quốc, vườn Nhật rất phù hợp với phong thái và điều kiện cảnh quan của người Việt Nam và kết quả đạt được là rất tốt
Theo xu hướng đó, nhiều quán café với không gian yên tĩnh, gần gũi thiên nhiên với các đặc trưng vườn Nhật được xây dựng ngày càng nhiều, tuy nhiên phần lớn không gian cảnh quan của những quán café này được xây dựng mới chỉ dừng lại
ở mức gần gũi thiên nhiên nên chưa tạo được một ấn tượng đặc biệt về phong cách
để gây ấn tượng sâu sắc với người thưởng ngoạn
Mặt khác, quỹ đất trống trong nội thị không nhiều, đa số các quỹ đất trong nội thị dành cho các khu hành chính sự nghiệp, khu công nghiệp và các khu dân cư, khu chung cư cao cấp Nên nhu cầu để có một khu đất rộng để xây dựng quán café có không gian yên tĩnh, mang phong cách tự nhiên để cho người dân thư giãn sau những thời gian căn thẳng là rất khó khăn Vì vậy, nhu cầu hướng ra các khu vực
Trang 13ngoại thành tìm đến những nơi yên tĩnh, tìm đến với thiên nhiên để thư giãn là điều thiết yếu
Quận 12 là một quận ngoại thành có lợi thế với nhiều quỹ đất trống, điều kiện tiểu khí hậu, thổ nhưỡng rất thích hợp cho việc phát triển mảng xanh cảnh quan mang phong cách thiên nhiên Á Đông Do đó có thể xây dựng các quán café sân vườn với không gian rộng thoáng, yên tĩnh, với chất thi vị và âm hưởng của vườn Nhật, phục vụ nhu cầu tìm về thiên nhiên ngoại thành của cư dân thành phố
Đề tài “Thiết kế quán café sân vườn Phong Lan trên đường Lê Văn Khương, Cầu Dừa 1- Quận 12 - Tp Hồ Chí Minh” được thực hiện với mong muốn tạo ra một không gian đẹp, lạ, nhằm đáp ứng và nâng cao đời sống tinh thần cho người dân trong khu vực cũng như các quận nội thành và xung quanh
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Phong cách vườn Châu Á
2.1.1 Giới thiệu
Khu vườn Châu Á thường hay dùng mặt nước tĩnh với hòn non bộ, cây thế tạo cảm giác yên bình, tĩnh lặng Đặc trưng của kiểu vườn Châu Á mà chúng ta dễ dàng nhận ra đó là lối kiến trúc gồm một nhà thủy tạ bên bờ nước, một nửa kiến trúc ở trên bờ, một nửa kiến trúc lấn ra hồ nước và đứng trên các cây cột Ngoài ra, các lối đi thường lát gạch hay đá, những hình trang trí hay các bộ phận có kiến trúc vuông và tròn có ý nghĩa rất sâu sắc thể hiện “trời tròn đất vuông” Trong một vườn, đất là vật liệu làm nền cho những chất liệu căn bản như đá, nước và cây cối Những chất liệu thiên nhiên này với những hình dạng khác nhau kết hợp lại làm nên khu vườn
Vườn Châu Á thể hiện nét đặc biệt dựa trên nền tảng của ba học thuyết Tam tài - Âm dương - Ngũ hành, là sự kết hợp giữa thiên nhiên, triết lý, văn hoá, nghệ thuật rất cao, rất sâu sắc thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật trong không gian ba chiều của tự nhiên trong đó có hoa cảnh, cây cỏ, hồ nước, núi non,…nhằm thể hiện sự gắn
bó của con người với thiên nhiên Trong đó nguyên lý Âm dương là học thuyết về bản thể của kiến trúc Á Đông, nó là nền tảng cơ bản phân biệt một “thức” Á Đông với các phong cách khác do đó để xây dựng một công trình mang bản sắc Á Đông thì không thể không biết về Âm dương
2.1.2 Thuyết âm dương trong kiến trúc Á Đông
“Nhất âm nhất dương chỉ vị đạo”- Kinh dịch
Thuyết tam tài là một học thuyết về tổ chức trật tự vũ trụ Nó có thể giúp ta tìm hiểu về vị trí, mục đích của kiến trúc cũng như về một số nguyên tắc bố cục cơ bản
Trang 15Song muốn đi sâu vào phong thái và tính cách của kiến trúc Á Đông phải dựa vào thuyết âm dương, một số thuyết về bản thể vạn vật Trong thiết kế kiến trúc tất cả những gì liên quan đến cặp đối lập như trên dưới, trong ngoài, đặc rỗng, sáng tối, đậm nhạt, nóng lạnh, nhanh chậm,… đều dựa theo nguyên lý âm dương.
Thuyết âm dương là trung tâm của dịch lý, bao gồm ba nghĩa:
1- Âm dương đối kháng: đó là lý bất dịch
2- Âm dương tương giao: đó là lý giao dịch
3- Âm dương tiêu trưởng: đó là lý biến dịch
2.1.2.1 Cơ bản thuyết âm dương và đặc điểm kiến trúc và sân vườn Á Đông
a Âm dương đối kháng
Âm dương là hai mặt đối lập, được biểu diễn trong kinh dịch qua hai vạch cơ
và ngẫu Dương là đàn ông, bên trên, bên ngoài, là nóng, sáng, cứng,… Âm là đàn
bà, bên dưới, bên trong; là lạnh, tối, mềm,… Đó là cái tính bất biến của vũ trụ
Kiến trúc dương tính trong Nho giáo
Tuy biết âm dương là hai mặt không thể tách rời của một vấn đề, song lưỡng
nghi trên thực tế vẫn không được coi là bình đẳng, âm thì bỉ trọc tại hạ, dương thì
tôn thanh tại thượng Nho giáo dạy người quân tử theo đạo chủ động hữu vi nên
cũng dạy người ta xây nhà theo dương tính Vì nho giáo có ảnh hưởng lớn nhất đến đời sống dân gian nên dương tính trong kiến trúc cũng là phổ biến
Thuyết phong thuỷ gọi nhà cửa là dương trạch, đối lập với mồ mả là âm
trạch Đối với dương trạch việc dùng nhiều dương tính như: cao, to, sáng, rộng, đỏ,
vàng,… nhìn chung được coi là tốt Vì số lẻ là dương, chẵn là âm nên các tỷ lệ số gian bao giờ cũng lấy lẻ Số chín là dương trưởng chỉ dành cho vua Tuy nhiên không phải lúc nào cũng tích cho nhiều dương tính, mà chính là dùng âm có thể tôn dương Càng ít càng quý, nhỏ mà lại thành lớn, ít mà lai thành nhiều, một ngọn nến trong bóng đêm sáng hơn một mặt trăng ban ngày, đó chính là một nguyên lý trong kinh dịch, dạy cách lấy âm phù dương
Trang 16Kiến trúc dương tính cần sáng sủa, quang đãng thế nhưng chỗ nào đối diện
với nguồn sáng sẽ bị lu mờ, những gì ẩn trong bóng râm lại được phản quang làm cho sáng rõ lên Mắt người ta lại đảm nhận ánh sáng phản quang hơn ánh sáng trực
tiếp bởi vậy trong kiến trúc và đặc biệt là trong nội thất nên tránh ánh sáng trực tiếp
mà chỉ dùng phản quang
Kiến trúc theo đạo giáo
“Tri kỳ hùng , thu kỳ thư” - Lão tử
Đạo lý âm tính của Lão tử trái với nguyên tắc Nho giáo, đó là cả một triết lý về hơn hẳn của âm nhu so với dương cương Nếu coi người quân tử trong Nho giáo như cây tùng cây bách, kiên cường bất khuất nơi đầu sóng ngọn gió thì có thể coi người Đạo sĩ như cỏ, gió thổi cỏ rạp, gió qua cỏ đứng lên
Liệt tử nói: “Nhân tính vốn mềm mại, chỉ thuận đạo trời mà theo Tâm người
ta dịu dàng mà thân thể cũng nhẹ nhàng uyển chuyển” Nguyên lý này có ứng dụng
trực tiếp trong kiến trúc và sân vườn: Đứng trước những giao động như động đất, lũ lụt, giông bão, khủng hoảng kinh tế, thay đổi điều kiện sinh hoạt, Người ta bao giờ cũng có hai giải pháp: Một là làm những công trình kiến trúc kiên cố thiên niên vạn đại, hai là làm những thứ nhỏ nhẹ, linh động có thể thích nghi bất kì lúc nào Tính cách của âm nhu là thụ động Một kiến trúc và sân vườn bao giờ cũng nhấn mạnh phần thụ động, chẳng hạn làm sao để tận dụng năng lượng mặt trời, ánh sáng trăng sao, đèn bên ngoài, tận dụng nước mưa, gió trời,… Tính cách này gần giống phong trào kiến trúc môi trường phương Tây (ecologycal construction) Trong ứng dụng cụ thể bài học của Đạo đức kinh cho kiến trúc và sân vườn là
ở chỗ thiết kế những đặc điểm âm tính như: mặt nước, màu lạnh, khoảng trống đường cong, nguyên liệu mềm,… Kiến trúc theo âm tính lấy nước làm trung tâm, theo cách của nước mà thiết kế, dòng nước có âm, có dương; nước dương thì trong xanh sôi sục hay phun tung toé lên Nước âm thì lặng lẽ, sâu thẳm, đi liền với hoa
cỏ rêu phong
Nếu kiến trúc dương tính đề cao ánh sáng thì kiến trúc âm tính là nghệ thuật
đề cao bóng tối Để minh hoạ sự khác nhau đó, ta lấy ví dụ một nhà thờ Thiên Chúa
Trang 17kiểu Bizantin và một miếu Đạo giáo Cả hai đều khá tối và có thắp đèn nến Thế nhưng ngọn đèn trong nhà thờ tối là hiển linh của Chúa Kito, vì Chúa là ánh sáng được tôn lên trong khung cảnh của nhà thờ Trong miếu đạo giáo, thần tiên, ma quỷ không ở ngọn đèn mà ở sau hậu điện được phủ vải kín mít Ánh sáng của ngọn đèn càng làm tôn thêm độ sâu thẳm u linh của khoảng tối đằng sau Đó là dùng dương tôn âm vậy
Một nhà thiết kế sân vườn muốn thiết kế theo quan điểm Đạo giáo thì trong
từng chi tiết điều đầu tiên là cần phải đặt câu hỏi: có thật cần thiết hay không?
Trên thực tế lý luận vô vi chỉ mới được áp dụng chủ yếu và thành công trong quy hoạch vườn, tạo ra phong cách vườn Trung quốc, Nhật bản khác hẳn châu Âu
Kiến trúc cân bằng âm dương
“Trung giả thiên hạ chi đại bản giã”
Dù nói Nho giáo trọng dương, Đạo giáo trọng âm, nhưng cả hai đều nhất trí rằng tốt nhất vẫn là khi âm dương cân bằng Âm dương xét về tuyệt đối luôn cân bằng, không bao giờ có nhiều trên hơn dưới, nhiều phải hơn trái,… Tùy theo vị trí của con người mà âm dương mới mất cân bằng về tương đối Chẳng hạn, người đứng dưới đất thì coi mái nhà cao tầng là dương, đứng trên nóc nhà đó thì lại coi trời là dương, mà nhà là âm Tương tự: sáng, tối, nhanh chậm, nóng lạnh, được quy
ra âm dương hoàn toàn phụ thuộc vào trạng thái con người
Một môi trường kiến trúc bị coi là mất cân bằng khi từ vị trí của mình người
ta thấy toàn dấu hiệu của một nghi âm hoặc nghi dương Đứng dưới đất mà nhìn quanh một toà nhà cao thì thấy toàn là dương đứng trên ngọn tháp mà nhìn xuống thì thấy đâu cũng là âm
Đứng giữa khu nhà trọc trời mà nhìn lên thì có cảm giác nghẹt thở, đứng trên tháp nhìn xuống thì chóng mặt Qua những biểu hiện đó mà biết âm dương mất thăng bằng Trong trạng thái cân bằng người ta sẽ không phải gắng sức, bởi vậy kiến trúc luôn cố tạo tổng thể cân bằng, có nóng, có lạnh, có cao, có thấp, có tối, có sáng,… Người xưa xây nhà vì thế mà tránh nơi đỉnh đồi, lại tránh chỗ thung lũng, thường thích làm nhà lưng chừng núi Thực hay hư trong kiến trúc phải do người có
Trang 18kinh nghiệm, tùy từng trường hợp mà xác định, khó nói chung chung vì triệu chứng của dương thực và âm hư đều là dương tính
Về mặt không gian, những nguyên tắc về tỷ lệ đối xứng trong kiến trúc là những biện pháp cân bằng âm dương giữa trên dưới, phải trái, trong ngoài Những
bố cục đối xứng đi qua trục thường chỉ tạo cảm giác cân bằng khi người ta đứng
nhìn từ một vị trí nào đó nên việc sử dụng perspective không thể thiếu Chừng nào
người quan sát đứng trên đường thần đạo thì cân bằng dễ đươc thiết lập, nhưng một khi rời khỏi đường này thì cân bằng rất dễ mất Khi ấy biện pháp chủ yếu là thiết kế tầm nhìn Chẳng hạn nếu đứng giữa nhà cao mà không nhìn lên, đứng trên tháp mà không nhìn xuống thì ít có cảm giác mất thăng bằng hơn nhiều Bằng các dạng che chắn, người làm kiến trúc có thể cắt ra từ một tổng thể kiến trúc mất thăng bằng ra những tầm nhìn được cả âm lẫn dương Le Corbusser từng nói là những nhà cao tầng dù có đến hàng trăm mét cũng không ảnh hưởng đến cận cảnh, khi người ta trồng nhiều cây cối để chắn tầm nhìn lên trên Tương tự như vậy, việc nâng cao số tầng trong khu phố cổ không làm mất cảnh quan khu này nhiều, nếu người ta giữ được không khí xã hội và cảnh quan tầng 1 và trồng nhiều cây 2 bên đường
Vì âm dương tuyệt đối vốn cân bằng mà chỉ chênh nhau tương đối, nên càng
mở được phạm vi mở rộng ra bao nhiêu thì càng thấy thăng bằng bấy nhiêu Kiến trúc phương Tây giỏi về viễn cảnh, khi nhìn từ xa, mọi dạng nhà cửa đều trở nên cân bằng, thành phong cảnh đẹp Diệu dụng của tất cả các nghệ thuật kiến trúc Á Đông lại nằm ở chỗ không cần đi đâu, không cần nhìn ra xa mà vẫn hoà đồng con người với vũ trụ để qua đó lấy cân bằng với nội tâm, để làm như vậy có 2 cách: Cách thứ nhất là thu nhỏ một tổng thể lớn vào một không gian nhỏ như những cây thế, non bộ, bể cá,… Cách thứ hai là tìm một nguồn khởi hứng dạng xúc tác như một hơi gió đồng, một ánh trăng thanh, một tia nắng ấm qua cửa sổ để khiến cho tâm hồn vượt khỏi bốn bức tường và tự tìm thấy cân bằng Đây được coi là một thủ pháp tuyệt vời trong vườn Nhật và cũng là lý do áp dụng trong khuôn khổ cho cuốn luận văn này
Trang 19b Âm Dương Tương Giao
“Thiên địa chi đại đức viết sinh…thiên địa nhân huân, vạn vật hoá thuần, nam
nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh” - Kinh dịch
Lấy sinh làm gốc, kiến trúc hoà đồng những mặt đối lập thành nhất thể
Theo quan niệm của Nho giáo, sinh tử không hẳn là một, tử tuy là cái tất yếu nhưng sinh vẫn là cái đức lớn Cây tre già chết đi để lấy chỗ cho măng non lại mọc lên, chứ không phải mỗi cái măng mọc lên là chỉ để già đi mà chết
Âm dương tương giao là bản chất của mọi sinh thành, mọi nguyên tắc tạo ra nhất thể hài hoà từ những mật đối lập ban đầu Một kiến trúc hay một sân vườn dựa trên thuyết hiếu sinh tránh mọi biểu hiện của tan rã, chết chóc và tìm cách dung hoà những đốí kháng, đặc biệt ở Nhật bản từ ảnh hưởng của trà đạo Sen Rikyu đã hình thành hẳn một dòng triết học và nghệ thuật chủ trương xoá bỏ mọi sự đối kháng Các tông màu xám từ đậm đến nhạt là sự kết hợp trắng đen tượng trưng cho âm dương tương giao được sử dụng rộng rãi và vô cùng biến hoá Trong kiến trúc và sân vườn có thể học hỏi nhiều ở những công trình này, đặc biệt cách xử lí bề mặt ở bên trong và bên ngoài cũng như cách dùng màu sắc trang trí sao cho tự nhiên, sinh động, nhưng phải rất để ý tránh nguy cơ sao chép bề ngoài của các sinh vật tự nhiên
Âm dương tương giao - Kiến trúc cảnh quan lấy cảnh giới trung chuyển làm trọng tâm
Khi đã cho sự hoà nhập âm dương là chỗ tuyệt diệu nhất trong quan hệ giữa hai mặt đối lập thì những khu vực trung chuyển sẽ là quan trọng nhất trong một tổng thể kiến trúc Các dạng hành lang, hàng hiên, bình phong, ngưỡng cửa, những nơi nửa sáng nửa tối, nửa đóng nửa mở, giao điểm giữa các mái; chuyển đổi giữa cao, thấp, tròn vuông, nóng lạnh, những đình viện có mái không tường, các cổng đứng chơ vơ, những mảng tường không vây kín,…chiếm một phần lớn trong các thủ pháp thiết kế và một phần lớn trong diện tích công trình
Trong kiến trúc cũng như trong âm nhạc, hội hoạ, đều có chú trọng nhiều đến
sự hài hoà (harmony) Nhưng sự hài hoà này chủ yếu ở sự cân bằng giữa các mặt
Trang 20đối lập chứ ít khi đặc biệt chú ý đến sự giao hợp giữa các mặt này tại điểm trung chuyển
Sự hài hoà âm dương trong vật liệu xây dựng
Xét về vật liệu xây dựng, một kiểu kiến trúc theo thuyết âm dương chỉ dùng một loại chất cảm dưới nhiều hình thức, tông độ khác nhau chứ không dùng nhiều loại vật liệu Đỉnh cao của nghệ thuật này phải nói là những dạng Sukiya Nhật Bản, trong đó đặc biệt nhất là những kiến trúc Trà đạo Những kiến trúc này chỉ dùng tre, nứa, gỗ, lá, giấy; đều thuộc chất mộc, để thô không tô vẽ và phát triển được hết các sắc thái từ to đến bé, trong đến đục, thô đến tinh Điều này tạo lên một hiệu quả rất độc đáo trong kiến trúc nhất là đối với trang trí sân vườn
c Âm dương tiêu trưởng
Trong ba phần của thuyết âm dương thì âm dương tiêu trưởng mới là sự khác biệt lớn nhất của Đông và Tây Âm trưởng dương tiêu, dương trưởng âm tiêu Thế nhưng âm trưởng đến mức nhất định thì từ trong âm nảy sinh dương và ngược lại, tạo thành vòng liên miên bất duyệt không đầu không cuối Quan điểm này khác hẳn thuyết biện chứng ở phương Tây Theo quy luật phủ định của phủ định trong thuyết biện chứng thì một These bị phủ định bởi một Antithese, sau đó Antithese lại bị một Synthese phủ định và đưa These ban đầu lên mức phát triển cao hơn
Con đường là đích
Vì âm dương biến đổi luôn luôn không ngừng nên chẳng bao giờ có một đích cuối cùng mà chỉ có một quá trình vô tận của sự tiêu trưởng xung quanh trạng thái cân bằng tương đối Bản thân đường đi chính là cái đích cho mọi hoạt động đó là điểm chung và cốt yếu và tất cả các đạo lý Á Đông Nho giáo nói vô vọng, Đạo giáo nói vô vi, Phật giáo nói vô trụcũng chính là nghĩa này Vô vọng nghĩa là cứ theo cái thực mà làm, có thực khắc có danh chứ đừng tính trước chuyện làm thế nào thì sẽ thu được lợi lộc gì Vô vi nghĩa là cứ thuận đạo mà làm, đừng tìm cách đề cao quá mức ý đồ chủ quan của mình Vô trụ nghĩa là đừng quá tin và bám lấy những nguyên tắc cứng nhắc vì không có gì là tuyệt đối và bất di bất dịch
Trang 21Trong kiến trúc cổ Trung Quốc và Nhật Bản, những con đường được thiết kế hết sức cầu kì, các viên đá được sắp xếp đầy chủ ý, không chỉ làm sao cho đẹp mắt
mà còn làm cho người ta ý thức được từng bước đi Qua việc nhấn mạnh đường đi
và nhấn mạnh ý thức sự đi, ý thức thời gían trong công trình được tôn lên Bản thân công trình kiến trúc cũng được coi như một chuỗi sự kiện trên một trục đường đi, chứ không phải là một thể cố định Nguyên tắc phối cảnh rất được chú trọng những
thay đổi cơ bản về ấn tượng dọc đường đi, ứng với câu Kinh dịch: “Cực tắc biến,
biến tắc thông” Những biến đổi này đều được bố trí theo quy tắc
khởi-thành-chuyển-hợp như một bài thơ Đường, dù là đối với một thành phố, một làng, một
công viên, cung điện hay một khuôn viên nhà ở Khởi là điểm mở đầu chẳng hạn như cổng làng, cổng nhà, cốt sao cho sang trọng, độc đáo gây tập trung Thành là quá trình dẫn dắt chủ đề, mỗi bước lại thấy rõ ràng sáng tạo hơn Đến chuyển thì đột nhiên biến sang chủ đề khác, người xem như bước vào một thế giới mới, cuối cùng hợp lại một chỗ như một kết luận Nhưng bao giờ sau điểm hợp cũng tỏ ý là con đường còn đi tiếp nữa và đoạn vừa rồi chỉ như một ví dụ thôi, nguyên tắc này tạo ra một phong cách bố trí rất linh hoạt, thiên biến vạn hoá, đặc biệt nổi tiếng trong các vườn cảnh Trung Quốc, Nhật Bản, nhưng cũng rất quan trọng trong việc quy hoạch
không gian Về thời gian, Dịch viết: “dinh bất khả cửu” có ý răn là sự hoàn hảo đầy
đủ chẳng thể giữ lâu, sau đỉnh cao tất đến lúc xuống dốc Quan trọng trong kiến trúc
và sân vườn không phải là tạo nên một trạng thái hoàn thiện để rồi tồi dần đi, mà là tính khả năng có thể phát triển tiếp Điều này cần phải chú trọng nhiều ở sân vườn
Trang 22bởi một công trình sân vườn luôn biến đổi trước và sau khi hoàn thành Khi làm một công trình, bao giờ cũng phải tính sau một thời gian sẽ lão hoá thế nào, thay đổi công năng ra sao, chỗ còn trống thì có thể làm đầy, chỗ chưa dùng sau này có thể dùng, cái gì còn thấp thì nâng lên cao, nhỏ thì có thể mở mang Những thứ quá bóng, quá nhẵn, quá trắng,… thường thì có thể xấu đi theo thời gian, trong khi đó những bề mặt thô mộc thường càng ngày đẹp lên
Ba nghĩa của thuyết Âm dương có vai trò quan trọng trong thiết kế cảnh quan mang đậm phong cách Á Đông, vườn Nhật càng không thể tách rời bởi nó được phát huy lên mức tinh hoa nhất Trong một nghĩa nào đó Việt Nam nằm trong khu vực Á Đông do đó có cùng một nền tảng văn hoá và bệ đỡ chung Tuy nhiên chúng
ta có những nét riêng đủ giúp chúng ta xây dựng một phong cách và hướng đi riêng trong thiết kế sân vườn Việt Nam Bài luận văn đưa ra mô hình thiết kế dựa trên những nguyên lý trong tạo dựng cảnh quan mang phong cách vườn Nhật, tuy nhiên vẫn có sự gắn kết tương xứng với sân vườn và kiến trúc Việt Nam để tạo lên một
mô hình mang âm hưởng Á Đông phù hợp với hoàn cảnh tại Việt Nam
2.2 Phong cách vườn Nhật
2.2.1 Giới thiệu
Vườn Nhật Bản xuất phát từ những kiến thức mà người Nhật học được từ Trung Quốc trong thời kỳ Asuka cùng với thế giới quan Phật giáo Về cơ bản nguyên tắc bố cục của vườn Nhật tuân thủ chặt chẽ theo Âm dương – Tam tài – Ngũ hành Trong thời kì Edo, hoàng gia, các quý tộc, shogun, daimyo, các chùa chiền và đền thờ của đạo Shinto đều chơi vườn cảnh
Phong cách của vườn Nhật được giới thiệu một cách chính thức ra thế giới là
từ cuối thế kỷ 19 với tác phẩm Landscape Gardening in Japan của Josiah Conder năm 1893 Ngày nay, không chỉ ở Nhật mà ở nhiều nơi khác trên thế giới cũng có vườn Nhật
Tại sao vườn Nhật lại được ưa chuộng ở nhiều nơi như vậy? Bởi lẽ, những khu vườn kiểu Tây phương, với những đường nét kỷ hà, rực rỡ, chỉ phù hợp với những công viên rộng lớn, những cảnh quan tân kỳ, những khối bêtông đồ sộ Đó là
Trang 23nơi để rong chơi chứ không như vườn Nhật là một nơi vắng lặng để tìm về với riêng mình, để tìm một ít phút giây thanh thản, một chút mộng mơ, một chút nghị lực, một niềm tin vào cuộc sống và thậm chí đó cũng là nơi mà ta có thể tìm về để tìm thấy chân lý cuộc sống
Vườn Nhật cũng mô phỏng thiên nhiên theo phong cách các kiểu vườn Trung Hoa nhưng phát triển, hoàn chỉnh thêm lên và đồng thời mang những nét đặc thù mới Chúng ta vẫn có thể có một khu “vườn Nhật” tuyệt vời với những cây mai, đào, lựu, bằng lăng, bông súng, đá Non Nước, thạch nhũ,…thay thế cho những cây anh đào, trường khế đặc trưng của Nhật Cái cốt lõi vẫn là sự sáng tạo với tất cả cảm hứng, sự đam mê,…
2.2.2 Chất liệu sử dụng trong vườn Nhật Bản
2.2.2.1 Đá trong trang trí vườn Nhật
Đá có ý nghĩa quan trọng trong vườn Nhật, nó như là bộ khung, là xương sống, là nền tảng của khu vườn Nhiều chất liệu sử dụng trong vườn được thực hiện
từ đá như đá giậm bước, móng cầu, tường, thạch đăng lung, thuỷ bồn Đá được bố trí nằm riêng lẻ hay thành nhóm kết hợp với cây cỏ làm thành phông nền cho khu vườn
Cũng giống như hàng rào, đá có chức năng phân chia những khu vực trong vườn thành những không gian thân mật, riêng tư Tuy vậy, cần phải cẩn thận khi lựa chọn mỗi viên đá cho khu vườn của mình Giá trị nhất là những tảng đá có hình dạng thanh nhã, màu sắc, kết cấu hấp dẫn, gân đẹp, có vẻ sần sùi già nua và hoàn toàn tự nhiên, nếu có bám rêu và địa y thì càng thêm giá trị
Không chỉ để lát, đá còn làm đẹp các tiểu cảnh, làm đẹp cho sân vườn Những viên đá tưởng như vô tri đang được thổi vào đó những luồng sinh khí mới
a) Phân loại đá: Người Nhật phân đá theo năm hình dạng đá căn bản
Đá cao: Có chiều cao cao hơn bề rộng là viên đá chủ yếu trong một nhóm đá
Đá thấp: Có chiều cao bằng hoặc kém hơn chiều rộng
Trang 24Đá hình cung: Còn có tên là đá lưỡi dao, có thể thấp hơn đá thấp Đỉnh lệch hẳn về một bên, đường dốc hình cung này tạo cho hình dáng của đá một nét rất mạnh mẽ góp phần tạo thêm nét sinh động cho nhóm đá
Đá dẹt: Có đỉnh bằng phẳng, thường không cao hơn 30 cm
Đá ỷ dốc: Nhất thiết nằm ngang, có hình thon dài, cao hẳn về một phía
Đá cao, hình cung Đá cao, thấp, ỷ dốc Đá thấp, dẹt
Sử dụng cả năm dạng đá Đá cao, dẹt, ỷ dốc (phổ biến nhất)
Hình 2.2 Một số cách kết hợp đá căn bản
Trang 25Đá thường được đặt thành nhóm chứ ít khi nằm riêng lẻ Một nhóm đá cũng thường ít khi đứng một mình trong khu vườn Đá thường được kết hợp với cây cỏ Trên thực tế, đôi khi cây cối góp phần định dạng hay tăng thêm hình dáng của những tảng đá kế cận
Với những nhóm đá đặc biệt được bố trí một nơi đặc biệt trong khu vườn thì cần phải dùng thuần một loại đá để tạo cảm giác đó là những tảng đá có sẵn từ trước Nếu có nhiều tảng chồng lên nhau thì phải bố trí sao trông chúng có vẻ ăn khớp tự nhiên cho dù chúng tỏa ra nhiều hướng đi chăng nữa Đá dùng để làm lòng suối khô có thể trông khác nhau một cách hợp lý và phải hòa hợp với khu vườn Không bao giờ để đá lộ hẳn trên mặt đất, phải chôn chúng sâu ở mức độ cần thiết để chúng có thể thể hiện được vẻ vững chãi Việc dùng những tảng đá nhỏ và cây trồng chung quanh chân đá sẽ càng làm tăng thêm vẻ chắc chắn
Một hay hai tảng đá khá lớn trong sân vườn sẽ tạo ấn tượng khu vườn lớn hơn thực tế Tầm vóc của đá cũng quyết định kích cỡ của những chất liệu kề cận chúng Muốn kiến tạo phong cảnh thành một cảnh quan đặc trưng phải dùng đá thích hợp Với một núi đá hoặc việc thể hiện một ý tưởng vườn đá bên đồi, hãy thử áp dụng ý tưởng tạo một số khối đá với phong cách giống nhau lặp lại ở một số vị trí Quan trọng nhất vẫn là việc bố trí đá theo bố cục cân bằng bất đối xứng vốn rất đặc trưng của bất kỳ kiểu vườn Nhật nào
Hình 2.3 Bố trí đá trong sân vườn Nhật
Trang 262.2.2.2 Sỏi, đá granit nhuyễn
Nước là một chất liệu thống trị, là linh hồn trong vườn Nhật Do đó để thể hiện đặc trưng “khô khốc” của vườn khô mà vẫn không mất đi hình ảnh nước người Nhật đã sử dụng sỏi hay đá granit nhuyễn tạo nên những đại dương mênh mông tĩnh lặng, những dòng suối tuy không mềm mại nhưng ẩn chứa sự sống tiềm tàng thật mãnh liệt Tất cả đã làm nên một nét rất đặc trưng cho kiểu vườn này nói riêng và cho cả phong cách vườn Nhật nói chung
Trong việc tạo nên những hoa văn trên cát ở những vườn khô, kích thước của hạt cát hay hạt sỏi là rất quan trọng Nếu hạt quá nhỏ, chúng sẽ dễ dàng bị gió, mưa làm xáo trộn kiểu dáng, hoặc nếu hạt quá lớn sẽ gây khó khăn khi cào Màu sắc của cát cũng quan trọng không kém Cát trắng mang lại cảm giác thuần khiết hơn và có thể tạo hiệu ứng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời Ở những nơi có màu tối hơn như xám hay nâu, xanh đen lại mang đến cảm giác yên tĩnh, thanh bình
Hình 2.4 Một số Mẫu hoa văn được tạo ra từ sỏi nhuyễn hay cát sử dụng trong thiết kế vườn
khô Nhật Bản
Trang 27Để tạo dựng được một khu vườn khô như vậy thì việc cào sỏi, đá trở thành một công việc hết sức tỉ mỹ, đó cũng chính là cách thư giãn của chính chủ nhân khu vườn
Cây bụi lớn, cây bụi nhỏ với hình dáng tự nhiên hay được cắt tỉa
Tre, dương xỉ là hai thành phần khá phổ biến trong vườn Nhật Bản Dương xỉ gợi lên vẻ hoang sơ nguyên thủy, mộc mạc của rừng núi Tre tạo nên vẻ duyên dáng uyển chuyển cho bất cứ những gì kết hợp với chúng
Hình 2.6: Hình ảnh dương xỉ, tre rất phổ biến trong vườn Nhật
Trang 28Cỏ, rêu thì càng quan trọng hơn, tạo nên những thảm xanh mát bao quanh những tảng đá xù xì mang đầy vẻ cổ kính, nổi bật như những hòn đảo trù phú giữa đại dương mênh mông
Hình 2.7 Một bàn cờ từ rêu và những phiến đá ở vườn phía Bắc của đền Tofukuj, Kyoto
Hình 2.8 Trang trí rêu phong kết hợp giữa cây cỏ, tượng đá và rêu phong
2.3 Phong cách vườn Việt Nam
2.3.1 Giới thiệu
Nghệ thuật vườn Việt Nam gắn liền với kiến trúc Việt Nam Có thể khẳng định rằng vườn Việt Nam có từ lâu đời Tuy nhiên để chứng minh cho rõ điều này , hiện chưa có tư liệu thư tịch nào ghi niên đại ra đời những vườn cổ nhất của nước
ta Cũng chính vì vậy chỉ có thể sơ bộ sự phát triển nghệ thuật vườn Việt Nam từ thời phong kiến cho đến nay
Trang 292.3.2 Vườn Việt Nam thời Phong Kiến
Thời kỳ phong kiến Việt Nam, vườn vẫn mang tính chất công trình hoặc quần thể công trình
2.3.2.1 Vườn thượng uyển
Vườn này dành riêng cho vua chúa, qua tư liệu mô tả các vườn, vườn có bố cục mô phỏng tự nhiên, thường nhấn mạnh những nét đặc trưng của vườn nhiệt đới, vườn có cây um tùm, có đồi nhỏ hoặc soi bóng xuống mặt hồ tự nhiên
Các yếu tố cấu tạo nên vườn là cây bóng mát cổ thụ, cây có hương thơm dịu;
đá tự nhiên, mặt nước, chim hót, các công trình kiến trúc nhỏ như cầu, tường hoa, đường lát đá,…
2.3.2.2 Vườn tính ngưỡng
Chủ yếu có ba loại vườn: vườn đình, vườn chùa, vườn đền
Các sân vườn này đều gắn bó chặt chẽ với đình, đền, chùa Là nơi nhân dân thường lui tới nên có những nét giống nhau:
Bố cục đề theo khuynh hướng vườn – nội thất Nghĩa là vườn là một khoảng không gian tiếp tục của căn phòng
Bố cục thường có ba không gian: cổng, sân, vườn
Vườn có vườn trước, vườn trong và vườn sau
2.3.2.3 Vườn nhà ở dân gian
Vườn thường có ba phần:
Vườn trước: có bố cục không gian mở để hứng gió mát, thường trồng vài cây cau, các khóm hoa có hương thơm, rau thơm, đôi khi trồng cây thuốc, cây ăn quả Vườn bên: có bố cục tự do thường là cây có tán lớn để che nắng đầu hồi Vườn sau: thường có bố cục theo kiểu rừng tự nhiên, trồng những loại cây lấy quả, lấy gỗ
Đôi khi vườn thường có giàn cây leo ở cầu ao trước bếp, sân, ao nước thả cá
2.3.3 Vườn nhà ở Việt Nam thời Pháp thuộc
Dưới thời pháp thuộc, kiến trúc, đô thị và nghệ thuật vườn thay đổi rõ rệt Vườn có bố cục đối xứng chặt chẽ với những đường thẳng, đường chéo, những bồn
Trang 30cây hoa cỏ dạng hình học, những rào cây cắt xén Nghệ thuật vườn Việt Nam ảnh hưởng nghệ thuật theo vườn Pháp thế kỷ XVII Tuy nhiên, do xây dựng trên đất nước Việt Nam với khí hậu và thiên nhiên Việt Nam nên vườn có phần nào mang màu sắc Á Đông: cây to rợp bóng mát, vườn xanh lá quanh năm, nhiều cây hoa to, đẹp che bóng râm
2.3.4 Vườn Việt Nam từ 1954 đến nay
Nghệ thuật cảnh quan Việt Nam với sự ảnh hưởng từ lâu của vườn cảnh Trung Quốc, Pháp, Liên Xô theo các giai đoạn lịch sử của đất nước Do đó, sự giao lưu và ảnh hưởng văn hoá nói chung và nghệ thuật cảnh quan nói riêng là điều không thể tránh khỏi
Hiện nay, cũng chính vì thế mà nghệ thuật cảnh quan của ta đang tồn tại nhiều hình thức biểu hiện khác nhau
2.4 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Hình 2.9: Bản đồ vị trí Quận 12