NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THỐI NHŨNG HOA LAN DENDROBIUM SPP. Ở HUYỆN BÌNH CHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CHÚNG BẰNG MỘT SỐ THUỐC HÓA HỌCNGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THỐI NHŨNG HOA LAN DENDROBIUM SPP. Ở HUYỆN BÌNH CHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CHÚNG BẰNG MỘT SỐ THUỐC HÓA HỌCNGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THỐI NHŨNG HOA LAN DENDROBIUM SPP. Ở HUYỆN BÌNH CHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CHÚNG BẰNG MỘT SỐ THUỐC HÓA HỌC
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LA QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH
THỐI NHŨNG HOA LAN DENDROBIUM SPP Ở HUYỆN
BÌNH CHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LA QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH
THỐI NHŨNG HOA LAN GIỐNG DENDROBIUM Ở HUYỆN
BÌNH CHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG
TRỪ CHÚNG BẰNG MỘT SỐ
THUỐC HÓA HỌC
Ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THỊ CHẮT
KS VƯƠNG THỊ THỦY
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2009
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY – HO CHI MINH CITY
LA QUOC VIET
RESEARCHING THE CAUTION, INFESTING THE BUDS
OF DENDROBIUM SPP AT BINH CHANH DISTRICT- HO
CHI MINH CITY AND EFFECTING OF MANAGEMENT
PRACTICES ITS BY SOMEINSECTISIDES
Department of Landscaping and Environmental Horticulture
GRADUATION THESIS
Advisor : Dr NGUYEN THI CHAT
Er VUONG THI THUY
Ho Chi Minh City
July – 2009
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp cuối khóa, tôi chân thành cảm ơn tới: Gia đình và người thân đã nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho tôi trong những năm học đại học
Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi học tập và rèn luyện trong 4 năm học qua
Tiến sĩ Đinh Quang Diệp trưởng bộ môn Cảnh Quan và Kỹ thuật Hoa Viên
và toàn thể các thầy cô bộ môn Cảnh quan và Kỹ thuật Hoa Viên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Toàn thể quí thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh
PGS.TS Nguyễn Thị Chắt và Ks.Vương Thị Thủy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm khuyến nông huyện Bình Chánh, những hộ trồng lan giống Dendrobium ở các xã Tân Kiên, Bình Chánh, An Phú Tây và Tân Quý Tây của huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tận tình
và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Đại Học Nông Lâm – Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2009
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu nguyên nhân, mức độ gây hại bệnh thối nhũng hoa lan
Dendrobium spp ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh và khảo sát hiệu quả phòng
trừ chúng bằng một số thuốc hóa học” được tiến hành tại huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện đề tài từ 15/02/2009 đến 15/07/2009
Kết quả thu được:
Qua 20 phiếu điều tra đã ghi nhận diện tích trồng lan tập trung từ 150 m2 –
500 m2 Các thâm niên trồng lan chưa lâu từ 1 – 4 năm, đa số hộ trồng lan bằng xơ dừa, các hộ phun thuốc 1 – 4 lần\tháng
Nguyên nhân gây thối nhũng hoa trên giống lan Dendrobium là nuỗi
Contarinia maculipennis Felt (bộ hai cánh: Diptera; họ muỗi năn: Cecidomyiidae)
Ấu trùng dạng giòi không chân Nhộng là nhộng trần, thành trùng có 1 cặp cánh dài gấp 1 – 2 lần cơ thể, trên cánh có hoa văn
Mức độ gây hại của muỗi Contarinia maculipennis Felt trên giống lan
Dendrobium tại huyện Bình Chánh, điều tra theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên trên líp
Và đã ghi nhận mức độ hại đối với phát hoa và hoa cao nhất ở hộ ông Hải là 64,48% và 21,02%; thấp nhất ở hộ ông Nhật là 49,11% và 9,85%
Hiệu quả phòng trừ ấu trùng muỗi Contarinia maculipennis Felt của một số
thuốc hóa học được bố trí thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức (Marsahl 200SC, Fastac 5EC, Vifuran 3G, Vibam 5H và đối chứng)
với 3 lần lặp lại trên giống lan Dendrobium Kết quả xử lí thuốc cho thấy các loại
thuốc có hiệu quả rất thấp
Trang 6SUMMARY
The thesis “Researching the caution, infesting the buds of Dendrobium spp
at Binh Chanh district, Ho Chi Minh City and effecting of management practice its
by some insecticides” has been carried out Binh Chanh district, Ho Chi Minh City from 15/02/2009 to 15/07/2009
The results:
There were 20 questionaires that were recorded, included: area of greenhouses concentrated from 150 to 500 square meters, greenhouses had seniority from one to four years, maiority of greenhouses grew with form flower beds under land, greenhouses spray chemicals periodic: from once to fourth a month
The caution of infestion the flower buds of Dendrobium has been Contarinia
maculipennis Felt (Diptera: Cecidomyiidae) Blossom midges are maggots Pupues
are naked starks, the adult has a single pair of spotted wings about one to two times
as long as its body
Infesting of Contarinia maculipennis Felt on Dendrobium orchids at Binh
Chanh district, investigation has been completely randomized on the beds And that has been presented in greenhouse’s Hai on the blossoms and flower buds, were the highest: 64,48% and 21,02 % ; blossoms and flower buds of greenhouses’Nhat were the shortest: 49,11 and 9,85 %
Effecting of management practice Contarinia maculipennis Felt by some
insecticides has been arranged experiment to follow capacity completely randomized design, included five treaments (Marsahl 200SC, Fastac 5EC, Vifuran
3G, Vibam 5H and control) with 3 replications on Dendrobium orchids The result
of treaments have been that: all insecticides were very low effection
Trang 7MỤC LỤC
2.1.3 Giá trị cảnh quan và kinh tế của phong lan 6
Trang 82.2 Sự phát triển phong lan ở Thành phố Hồ Chí Minh 7
2.2.2 Mức độ phát triển giống Dendrobium ở Thành phố Hồ Chí Minh 8
2.3.1 Nghiên cứu nước ngoài về sâu hại phong lan 9 2.3.2 Nghiên cứu trong nước về sâu hại phong lan 12
2.5 Một số đặc điểm sử dụng các loại thuốc hóa học dùng trong thí
3.2 Đặc điểm thời tiết khí hậu nơi nghiên cứu 19
3.4.2.1 Hiện trạng trồng giống lan Dendrobium ở huyện Bình Chánh
Trang 93.4.2.2 Xác định đối tượng và điều tra mức độ gây hại đối với giống lan
3.4.2.3 Khảo sát hiệu quả phòng trừ của một số loại thuốc hóa học đối với
4.1 Hiện trạng trồng giống lan Dendrobium ở Bình Chánh Tp.Hồ Chí
4.2 Đối tượng và mức độ gây thối những hoa đối với giống lan
4.2.1 Đối tượng gây thối những hoa đối với giống lan Dendrobium 30
4.2.2 Mức độ gây thối nhũng hoa đối với giống lan Dendrobium 35 4.3 Hiệu quả phòng trừ của một số thuốc hóa học đối với muỗi đục hoa
Trang 10Bảng 4.3 Sâu bệnh hại và công tác bảo vệ thực vật ở các hộ trồng giống
Bảng 4.4 Mức độ giống lan Dendrobium bị muỗi gây hại nụ (hoa) tại hộ
Nguyễn Văn Sinh ở xã Tân Kiên huyện Bình Chánh, 2009 37
Bảng 4.5 Mức độ giống lan Dendrobium bị muỗi gây hại nụ (hoa) tại hộ
Đinh Đông Nhật ở xã An Phú Tây huyện Bình Chánh, 2009 38
Bảng 4.6 Mức độ giống lan Dendrobium bị muỗi gây hại hoa (nụ) tại hộ
Hồ Hồng Hải ở xã Bình Chánh huyện Bình Chánh,2009 39
Bảng 4.7 Kết quả xử lí thống kê hiệu lực của một số thuốc hóa học
trong khảo sát hiệu quả phòng trừ muỗi Contarinia maculipennis Felt
gây thối nhũng trên phát hoa giống lan Dendrobium ở Bình Chánh,
Bảng 4.8 Kết quả xử lí thống kê hiệu lực của một số thuốc hóa học
trong khảo sát hiệu quả phòng trừ muỗi Contarinia maculipennis Felt
gây thối nhũng trên hoa (nụ) trên giống lan Dendrobium ở Bình Chánh,
Trang 11Hình 4.1 Triệu chứng gây thối nhũng trên giống lan Dendrobium và
Hình 4.2 Ấu trùng của muỗi Contarinia maculipennis Felt 32
Hình 4.3 Ấu trùng tuổi lớn và đốt bụng thứ 8 của nó 32
Hình 4.5 Thành trùng muỗi Contarinia maculipennis Felt 34
Trang 12DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ TRANG
Sơ đồ 3.1 Bố trí thí nghiệm xử lí thuốc phòng trừ muỗi đục hoa lan
Trang 13xí nghiệp…dẫn đến môi trường càng ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng và lao động nông thôn ở những vùng ven, ngoại thành không có việc làm nhất là những người nông dân ngày xưa gắn với ruộng đồng và những người lao động không có tay nghề Để giải quyết một phần vấn đề trên, Thành phố đưa ra chương trình phát triển hoa lan cây kiểng với mục đích để nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn ngoại thành, góp phần cải thiện môi trường, giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, xóa đói giảm nghèo nhờ tận dụng diện tích đất nhỏ hẹp còn lại quanh nhà Thêm vào đó là nhu cầu giải trí, thưởng thức hoa lan cây kiểng sau những giờ hay những ngày làm việc căng thẳng Trong các giống lan được chọn
trồng thì giống Mokara và Dendrobium là hai giống chính Trồng hai giống này, sử
dụng chủ yếu là cắt cành Chúng tương đối dễ trồng, kỹ thuật sóc không đòi hỏi quá cao nhưng mang lại hiệu quả kinh tế
Lan Dendrobium spp thường bị các loài sâu như: bọ trĩ, rệp, nhện đỏ…gây
hại và cũng thường bị bệnh đốm lá, thối đọt non, thối giả hành, đốm hồng ở gốc…
Trong những năm gần đây, trên giống lan Dendrobium bị một loài sâu gây hại
Chúng làm cho hoa bị thối nhũng, phát hoa không phát triển bình thường, bị cong queo lại, hoa thì không phát triển, bị dị dạng Chúng đã gây thiệt hại rất lớn cho
Trang 14những nhà vườn trồng giống lan Dendrobium Nhiều nhà vườn quan sát và cho rằng
nguyên nhân gây hại là ruồi vàng, một số nhà vườn khác miêu tả chúng giống con ruồi, tò vò…Phần lớn nhà vườn phòng trị chúng bằng thuốc trừ sâu với khoảng cách
5 – 7 ngày/lần Tuy nhiên, theo họ hiệu quả phun thuốc trừ sâu không cao và họ chỉ phun ngừa là chính Thực chất loài sâu hại gây bệnh thối nhũng hoa trên giống lan
Dendrobium là gì? Đây là câu hỏi lớn mà nhiều năm qua vẫn chưa có câu trả lời
Trước những bức xúc và mong đợi của những nhà vườn trồng lan mong sớm tìm ra nguyên nhân để có biện pháp phòng trừ hợp lí Vì vậy được sự đồng ý của bộ môn Cảnh quan & kỹ thuật hoa viên và sự hỗ trợ của bộ môn Bảo vệ thực vật, trường
Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu nguyên nhân, mức độ gây hại bệnh thối nhũng hoa lan Dendrobium spp ở
huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh và hiệu quả phòng trừ chúng bằng một số loại thuốc hóa học.”
1.2 Mục đích và nội dung
1.2 1 Mục đích
Đề tài tiến hành nhằm mục đích nghiên cứu nguyên nhân, mức độ gây hại
bệnh thối nhũng hoa lan Dendrobium spp ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh và
hiệu quả phòng trừ chúng bằng một số thuốc hóa học
1.2.2 Nội dung nghiên cứu
Điều tra hiện trạng trồng giống lan Dendrobium ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ
Chí Minh
Xác định đối tượng và điều tra mức độ gây thối nhũng hoa đối với giống lan
Dendrobium ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh
Khảo sát hiệu quả phòng trừ của một số thuốc hóa học đối với muỗi đục hoa
giống lan Dendrobium
1.3 Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ được thực hiện trên giống lan Dendrobium, trong thời gian từ
tháng 15/02/2009 đến tháng 15/07/2009 tại huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về cây lan Dendrobium spp
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố
Dendrobium là giống phụ sinh, sống trên cây gỗ Có người gọi chúng là
Hoàng Lan hay Đăng lan
Dendrobium là giống lan có rất nhiều loài, có trên 1.600 loài và đã được lai
tạo thêm rất nhiều loài mới Giống lan Dendrobium mọc nhiều nhất ở vùng Đông
Nam Á, do quá đa dạng nên tập trung lại thành 2 dạng chính: dạng đứng
(Dendrobium Phalaenopsis) và dạng thòng (Dendrobium Nobile) Loại Dendrobium
(Phalaenopsis) thường mọc ở xứ nóng, chịu ẩm và rất siêng hoa, nên ở Tp.Hồ Chí
Minh trồng rất nhiều loại này Loại Dendrobium Nobile thì chịu khí hậu mát mẻ ở
vùng đồi núi cao như Đà Lạt – Lâm Đồng vv
Lan rừng Việt Nam:
Lan rừng Việt Nam chia ra nhiều nhóm Nhóm có giả hành rất dài, to, đứng
thẳng như lan Thái Bình (Dendrobium Pulchellum), nhóm có giả hành dài thòng xuống như Long Tu (D Primilium), nhóm có giả hành to ngắn như Kim Điệp (D
Chrysotosum), Thuỷ Tiên (D Farmeri) Vảy Cá (D Lindleyi)
Lan Dendrobium ngoại
Theo Huỳnh Văn Thới, 2000 ở Tp.Hồ Chí Minh nhập rất nhiều lan
Dendrobium được mang từ Thái lan, Úc về trồng vì phát hoa dài cho rất nhiều hoa,
màu sắc đẹp lại lâu tàn Các loại lan Dendrobium nhập đã được lai tạo thuần hoá
nên có hoa quanh năm, không có mùa nghỉ Chúng thường được trồng vào chậu đất nung có nhiều lỗ chung quanh, giá thể gồm than, gạch, xơ dừa, dớn, vỏ cây vv Ở
Thái Lan chuyên trồng Dendrobium spp để cắt cành, trồng đại trà thành từng luống
Trang 16ở dưới đất Ngày nay, Ở Tp.Hồ Chí Minh cũng có nhiều vườn lan chuyên trồng
Dendrobium spp để cắt cành Giống lan Dendrobium được nhập từ Thái lan thì rất
siêng hoa, mỗi phát hoa có từ 15 hoa trở lên, một giả hành có thể luân phiên ra từ 5 – 10 phát hoa
2.1.2 Đặc điểm thực vật học
Theo trung tâm khuyến Nông Ngư quốc gia, 2009 Lan Dendro có tên khoa
học là Dendrobium thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ phong lan Orchidales, lớp
một lá mầm Monocoty – ledoneac
Rễ lan: Lan là họ sống phụ (bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác Các dạng thân gỗ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bởi lớp mô hút dày, ẩm bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do
đó nó ánh lên màu xám bạc Với lớp mô xốp, rễ có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây, lấy nước lơ lửng trong không khí (hình 2.1)
Thân cây lan: Giống lan Dendrobium thuộc loại đa thân, mọc bụi, giả hành
thường rất dài, hình trụ, có hai hàng lá mọc hai bên giả hành Giả hành là bộ phận
dự trữ nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong điều kiện khô hạn khi sống bám trên cao (hình 2.2)
Lá lan: Lá lan giống Dendrobium thường có hình xoan dẹp (hình 2.3)
Hoa lan: Hoa phong lan giống Dendrobium có 3 đài (sepal), 3 cánh (petal),
trong đó cánh thứ 3 to lớn, biến thành môi (líp), 3 tâm bì Phấn hoa dính lại thành phân khối pollinia, có rất nhiều hạt nhỏ liti (hình 2.4 )
Quả lan: Quả lan thuộc quả nang, nở ra theo 3 – 6 đường nứt dọc Quả có dạng cải dài đến hình trụ ngắn phình ở giữa Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc (hình 2.5)
Hạt lan: Hạt lan rất nhiều, hạt liti Hạt chỉ cấu tạo bởi một lớp chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí Hạt trưởng thành sau 2 – 18 tháng (hình 2.6)
Trang 17Hình 2.1 Rễ lan Dendrobium spp Hình 2.2 Thân lan Dendrobium spp
Hình 2.3 Lá lan Dendrobium spp Hình 2.4 Hoa lan Dendrobium spp
Hình 2.5 Quả lan Dendrobium spp Hình 2.6 Hạt lan Dendrobium spp
Trang 18
2.1.3 Giá trị cảnh quan và kinh tế của phong lan
Theo Bùi Xuân Đáng, 2009 Phong lan được trồng với nhiều hình thức khác nhau như: khí hậu tại Malanda thuộc vùng Atherton Tableland phía Bắc Queenland
ẩm độ khá cao cho nên trên các cành cây thuộc vùng này rong rêu mọc đầy chen lẫn với dứa dại và lan Trên thân các cây khuynh diệp lớn nhỏ đủ loại hoa lan nhưng
phần đông là các giống lan Dendrobium đủ màu sắc và hình dạng khác nhau Những bụi Phaius tankervillae hay Spathoglottis plicata trồng thẳng xuống đất, những khóm Oncidium sphacelatum trồng ở gốc cây, trên những cành cây nằm ngang nào là Cattleya hay Laelia anceps Ở sát gốc là những khóm lan hài hoa nở theo mùa Xen vào đó là những khóm Cymbidium madidum hay Cymbidium suave,
khóm còn đương mang những chùm hoa dài buông thòng, trong khi những cây khác
đã ra đầy trái dù rằng mới vào mùa Xuân
Tại khắp các công viên, phi trường, khách sạn hay quán ăn nhỏ ven đường
họ cũng trồng lan vào trong chậu đất hay vỏ quả dừa hoặc tạo thành những tiểu cảnh rất có mỹ thuật Những cảnh trí này tuy mất công nhưng không quá tốn kém
bởi vì giá rất rẻ, chỉ khoảng 1 đôla cho 2 chậu dù rằng lan Cattleya hay
Dendrobium Nếu ở ngoài trời, họ cứ để mặc cho thiên nhiên nuôi dưỡng vì độ ẩm
rất cao 50 – 60% và cứ vài ngày lại có trận mưa lớn Còn nếu ở trong phi trường, khách sạn hay những nơi có mái lợp họ mỗi ngày cho phun nước 2 lần và tưới một lần cũng chẳng tốn công hơn là trồng những cây vạn niên thanh là bao Tại Florida
và những thành phố ven biển miền Nam California cũng có nhiều người trồng lan trên cây, tạo nên những cảnh trí tăng thêm vẻ mỹ quan cho khu vườn hay giá trị của căn nhà Nếu độ ẩm không cao chúng ta có thể gia tăng được nhờ vào kỹ thuật phun sương giá tiền không quá đắt
Các loài phong lan có thể dùng trang trí trong các chậu cây treo cho hoa đẹp hoặc trồng bám cây, bám đá tạo phong cảnh tự nhiên Phong lan là nét trang điểm nhẹ nhàng, duyên dáng mà cuốn hút Những loài địa lan được trồng trong chậu như những loại cây cảnh có hoa khác Cũng có những loài địa lan lá có màu, vân đẹp
Trang 19dùng để bàn nước trong phòng Nhiều loài lan được lai tạo từ các loài lan rừng có hoa chùm lớn, thích hợp cho trồng hoa cắt cành Các loài lan cũng là những cây thuốc Nam có giá trị đối với người dân miền núi
Theo sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Tp.Hồ Chí Minh giá trị sản xuất của lúa chỉ đạt 6,76 triệu đồng/ha/năm trong khi đó giá trị sản xuất của hoa lan
đối với Dendrobium spp là 91 triệu đồng Lan Dendrobium spp có hai hình thức
trồng chính để kinh doanh Một hình thức là trồng trong chậu treo hoặc đặt trên sạp vừa cắt cành vừa bán chậu Giá của mỗi chậu trong bình từ 25.000 – 30.000 đồng/ tùy theo loại Hình thức thứ hai là trồng thành luống trên đất Trồng bằng cách này, chủ yếu là bán bông Hiện nay, giá phát bông mà nhà vườn bán cho các thương lái tới nhà cắt cành là 500đồng/bông Chính vì vậy việc chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng lan sẽ giúp người nông dân có thu nhập cao hơn, tận dụng tối đa được quỹ đất nông nghiệp, phù hợp với phát triển nông nghiệp đô thị, đảm bảo vệ sinh môi trường sống ngày càng tốt hơn là làm tăng vẻ mỹ quan đô thị
2.2 Sự phát triển phong lan ở Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Sự phát triển ngành trồng phong lan
Theo Q Hương, 2004 Indonesia là nước có nhiều loài phong lan thứ hai thế giới, chỉ sau Brazil, chiếm khoảng 5.000 trong tổng số 26.000 loài phong lan hiện
có trên toàn cầu Tuy nhiên, nước này hiện vẫn đứng sau Malaysia, Thái Lan, Singapore về trồng và xuất khẩu phong lan
Trồng lan từ lâu đã được xem là một ngành sản xuất đòi hỏi những đầu tư lớn về vốn và nghiên cứu phát triển công nghệ, song nó cũng mang lại lợi nhuận rất cao Thái Lan, nước đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu lan, đã đạt 110 triệu đôla trong năm 2003 Những nước chung quanh ta như Đài Loan, Malaysia, Indonesia cũng có ngành lan phát triển mạnh không kém
Theo VietNamNet, 2004 Các nước trong khu vực Đông Nam Á đang chạy
đua phát triển ngành lan Chính phủ Singapore đặt kế hoạch vào năm 2010 đạt 100
Trang 20triệu đôla xuất khẩu Thái Lan xây dựng đầy đủ cơ sở hạ tầng và mời các nhà sản xuất vào trồng Thủ tướng Malaysia giao 300 ha đất của bang Johor cho các nhà trồng lan và yêu cầu ngành lan phải mau chóng bắt kịp các nước phát triển Cả Đài Loan cũng đưa ra kế hoạch đến năm 2005 sẽ biến đất nước thành một Hà Lan thứ hai
Theo các chuyên gia về hoa của trường Đại học Nông nghiệp I, 2007 Với khoảng 755 loài phong lan hiện có, khí hậu thích hợp và nhiều nguyên liệu làm giá thể tốt cho cây sinh trưởng Chính những điều kiện thuận lợi đó, ngành trồng phong lan của Việt Nam không ngừng phát triển và trở thành một nước sản xuất hoa phong lan lớn trong khu vực
Ở Việt Nam, theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
nếu trồng phong lan cắt cành giống Dendrobium và giống Mokara, mỗi ha đất trồng
có thể cho thu nhập 500 triệu – 1 tỷ đồng/năm, cao hơn nhiều lần so với trồng lúa và một số hoa màu khác
Chỉ tính riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 doanh số kinh doanh hoa lan và cây cảnh mới đạt 200 – 300 tỷ đồng, nhưng chỉ trong quý I năm 2006, doanh số này đã đạt 400 tỷ đồng; các cơ sở kinh doanh hoa lan, cây cảnh tăng nhanh
từ 264 cơ sở năm 2003 lên trên 1.000 cơ sở Riêng phong lan mỗi năm ở thành phố này cũng đã tiêu thụ trên triệu cây
2.2.2 Mức độ phát triển giống lan Dendrobium ở Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển đó thì nhu cầu của con người về vật chất và tinh thần cũng tăng cao Trong nhu cầu về tinh thần thì giải trí và thưởng thức cái đẹp có một vai trò rất quan trọng Trước kia, do vần đề về vật chất thiếu thốn nên con người ít hoặc không quan tâm đến nhu cầu giải trí Ngày nay, về vật chất hầu như đầy đủ hơn, con người chú trọng hơn về mặt tinh thần Hoa phong lan nói chung ngày càng thỏa mãn những đòi hỏi về thưởng thức, giải trí và tiêu khiển của con người Hoa lan cắt cành với nhiều loại và màu sắc phong phú góp phấn đáp ứng những nhu cầu về tinh thần của con người Hoa
Trang 21lan cắt cành gồm hai giống chính là giống lan Dendrobium và Mokara Trong đó,
giống Dendrobium dễ trồng, đầu tư ít vốn hơn so với Mokara
Giống Dendrobium ngày càng được lai tạo và nhập khẩu nhiều hơn góp phần
làm cho giống này trong thị trường trong nước thêm phong phú, đa dạng hơn về màu sắc và chủng loại Còn đối với người trồng lan, một phần là để giải trí thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng Nhưng đó chỉ là một bộ phận nhỏ trong nội thị, nhưng bộ phận này cũng đóng góp đáng kể cho mảng xanh của thành phố và diện tích trồng lan Phần lớn trồng lan với mục đích kinh tế Ở những vùng ngoại thành hoặc vùng ven ngoại thành như quận 2, quận 9, quận 12, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh …thì diện tích trồng lan cắt cành tương đối lớn Theo trung tâm khuyến nông Thành phố Hồ Chí Minh “qui mô trồng lan của các hộ biến động rất lớn: nhỏ nhất là 50 – 100 m2, lớn nhất là 3 ha Bình quân 2.000 – 3.000 m2/hộ” Chính vì hiệu quả kinh tế và được sự quan tâm và hỗ trợ của các ban ngành đoàn thể thuộc lĩnh vực nông nghiệp mà diện tích trồng lan, chủ yếu là lan cắt cành trong đó có
giống Dendrobium không ngừng phát triển về diện tích Theo trung tâm khuyến
nông Tp.Hồ Chí Minh thì diện tích trồng lan cắt cành tăng từ năm 2003 là 20 ha năm 2005 là 50,3 ha năm 2006 là 64,3 ha và năm 2008 là 97,74 ha Cơ cấu giống,
chủng loại lan được trồng nhiều nhất là giống Mokara (chiếm 44,83%), kế đến là giống Denbrobium (chiếm 39,57%) Dự kiến tới năm 2010 thì diện tích trồng lan sẽ
đạt tới 200 ha
2.3 Một số sâu hại chính trên phong lan
2.3.1 Nghiên cứu nước ngoài về sâu hại phong lan
Theo Avas B Hamon, 1996 Một số loài sâu hại phong lan như: Rệp vảy
Diaspis boisduvalii, Rệp vảy đỏ Chrysomphalus aonidium, Rệp vảy vàng Parlatoria proteus, Rệp nâu vảy mềm Coccus hesperidum, Rệp hình sao Vinsonia stellifera, Rệp sáp lan Pseudocossus microcirculus, Rệp sáp sọc Ferrisia virgat,
Rệp bọc trên lan Asterolecanium epidendri, Bọ trĩ Cuba Gynaikothrips ficorum, Bọ trĩ hoa Frankliniella cephalic, Bọ trĩ nhà kính Heliothrips haemorrhoidali, Bọ trĩ
Trang 22lan Chaetanophothrips orchidii, Bọ trĩ sọc đỏ Selenothrips rubrocinctu, Rầy mềm – rệp dưa Aphis gossypii, Rầy mềm Macrosiphum luteum, Bọ đen đục nhánh
Xylosandrus compactu, Ong vẽ: Hymenoptera, Gián Orthoptera, Muỗi mắt cánh đen
– Diptera, Ốc sên và ốc Stylommatophora, Bọ bét Brevipalpus californicus, Bọ bét Phalaenopsis Tenuipalpus pacificus và nhện bét hai chấm Tetranychus urticae
Rệp vảy Diaspis boisduvalii: Con cái rệp vảy gần như tròn, đường kính 1 – 2
mm, mỏng và có màu vàng lợt Con đực lúc trưởng thành có hình thon dài, có 3 vệt song song dài, dài khoảng 1 mm, trắng như tuyết Các con đực thường gom lại thành cụm, hình dáng như vệt bông vải trên lá, vì vệt này người ta mới nhận ra chúng
Rệp vảy đỏ Chrysomphalus aonidium: Con cái lúc trưởng thành có hình tròn,
đường kính 2 mm, lồi vừa phải, nâu hơi đỏ sậm đến gần như đen màu xám tro Con đực trưởng thành thì thon dài hơn con cái và có màu thường sáng hơn
Rệp vàng Parlatoria proteus: Con cái trưởng thành có hình trái xoan, thon,
dài từ 1 – 2 mm, hơi lồi có màu vàng hoặc hơi xanh hay nâu với những rìa sáng, khi lột xác lần 2 lớn với vệt nhăn dọc cơ thể Con đực trưởng thành hình thon dài hơn, hai bên mép song song, dài 1 mm, có màu giống con cái, thường tụm lại từng cụm ở gốc lá lan
Rệp vảy mềm nâu Coccus hesperidum: Con cái hình trái xoan, từ dẹp đến hơi
lồi dài từ 1 – 3 mm Màu xanh hơi vàng hay màu nâu hơi vàng Chúng hại lá và thân của cây lan
Rệp hình sao Vinsonia Stellifera: Rệp này có thân mềm hình ngôi sao, giống
như con sao biển thu nhỏ Con cái trưởng thành dài từ 4 – 5 mm, từ chót đỉnh sao này đến chót sao kia
Rệp sáp giả lan Pseudocossus microcirculus: Dài khoảng 2 – 4 mm, bọc bởi
lớp sáp mềm không có phần nào lộ ra Có một loại sợi sáp dọc theo rìa thân, với những sợi phía sau dài gấp đôi Chu kỳ sống của rệp sáp lan là 2,5 tháng
Trang 23Rệp bọc trên lan Asterolecanium epidendri: Vỏ hoặc sáp bọc con cái có phần
dài hơn là rộng hoặc gần tròn Cỡ bình thường có đường kính là 1,5 mm Sáp bọc tương đối dẹp và thường hơi xanh, vàng nhạt hoặc trong suốt
Bọ trĩ Cuba Gynaikothrips ficorum: Màu vàng sáng ở giai đoạn chưa trưởng
thành, con trưởng thành có màu nâu đậm đến đen và dài từ 2,5 – 3,5 mm, di chuyển nhanh khi bị quấy rầy Giống bọ trĩ này có thể vô ý cắn nguời
Bọ trĩ hoa Frankliniella cephalica: Nó làm hại hoa lan Bọ trưởng thành có
đầu và ngực màu cam, bụng màu vàng chanh
Bọ trĩ nhà kính Heliothrips haemorrhoidalis: Dài cỡ 1,8 mm, thân nâu đen,
hình mắt lưới rõ rệt với phần cuối thân hơi sáng hơn Các chân và râu 8 đoạn màu vàng lợt, các cánh màu hơi tối nhưng không có vạch Chỗ tổn hại biểu hiện bằng sự bạc lá, lá khô rồi chết, thêm vào đó lá bị lấm chấm đen bởi các vết phân
Bọ trĩ lan Chaetanophothrips orchidii: Dài chừng 1,2 mm, vàng, không có
vết chạm
Bọ trĩ sọc đỏ Selenothrips rubrocinctus: Con cái trưởng thàng dài chừng 1,5
mm, thân màu nâu đậm tới đen, chân nâu đậm tới đầu xương đùi và tất cả cổ chân
có màu vàng trắng Ba khúc đầu của bụng ở giai đoạn chưa trưởng thành có màu đỏ,
vì vậy mới có tên chung là bọ trĩ sọc đỏ
Rầy mềm – rệp dưa Aphis gossypii: Giống rệp này phá nụ và hoa, màu xanh
hơi vàng hoặc màu xanh hơi đen dài từ 1,5 – 2 mm
Rầy mềm Macrosiphum luteum: Có màu hơi vàng đến nâu vàng gây hại trên
lá và thân
Bọ đen đục nhánh Xylosandrus compactus: Nó là loại bọ nhỏ nâu đậm, dài khoảng 4 mm Nó đục vào thân của cây Dendrobium và cũng đục vào giả hành cây
Cattleya
Ong vẽ Hymenoptera dài khoảng 1,5 – 3 mm, cho trứng của nó vào bên
trong mô cây Sự tổn hại là do ấu trùng ăn ở trong mô cây
Trang 24Gián Orthoptera: Thỉnh thoảng gián có gây hại cho hoa lan
Muỗi mắt cánh đen – Diptera: Côn trùng này khi trưởng thành là các con ruồi nhỏ thân nâu đậm, cánh màu tối, đầu nhỏ, mắt lộ, râu như sợi chỉ và chân tương đối dài
Bọ bét Brevipalpus californicus: Sự tổn hại do bọ bét này gây ra đầu tiên trên
lá xuất hiện những vùng như bạc sau đó đậm dần và thành nâu
Bọ bét Phalaenopsis Tenuipalpus pacificus: Loại này sống trên lá sẽ tạo ra
các đóm đen và làm chết các mô
Nhện bét hai chấm Tetranychus urticae: màu xanh nhạt hoặc vàng với hai
chấm đen ở mỗi bên
Ốc sên và ốc Stylommatophora
2.3.2 Nghiên cứu trong nước về sâu hại phong lan
Theo Phí Thị Hường, 2003 Ghi nhận một số loại sâu gây hại trên lan như:
Rệp sáp nâu Coccus sp; Rệp sáp nâu nhỏ Coccus sp
Rệp sáp nâu (Coccus sp.) gây hại trên giống lan Dendrobium với tỷ lệ hại
8,23%, chỉ số hại 3,45% ở Thủ đức Tp.Hồ Chí Minh Rệp sáp gây hại nặng vào các ngày giữa tháng 9 và giữa tháng 10 do chủ vườn không thường xuyên vệ sinh vườn, giữa tháng 10 trời thường hay mưa vườn lan không thông thoáng vì vậy tạo điều kiện cho rệp sáp nâu nhỏ phát triển Rệp sáp gây hại nhẹ vào đầu tháng 8 do thời tiết
khô ráo Rệp sáp nâu nhỏ (Coccus sp.) gây hại trên giống lan Dendrobium nặng với
tỷ lệ hại 5,46%, chỉ số hại 3,16% ở Tân Bình Tp.Hồ Chí Minh Rệp sáp nâu nhỏ gây hại nặng nhất vào các ngày cuối tháng 10 do mưa nhiều ẩm độ cao thích hợp cho sâu bệnh phát triển Cuối tháng 8, đầu tháng 9 rệp sáp gây hại thấp nhất do thời tiết khô ráo không thuận tiện cho sâu hại phát triển Diễn biến mức độ biến động của
rệp sáp nâu nhỏ (Coccus sp.) ở vườn lan có chiều cao vườn che khác nhau trên giống lan Dendrobium ở Hóc Môn Tp.Hồ Chí Minh, 2002 Vườn trồng lan có chiều
cao che 4 m bị rệp sáp nâu nhỏ gây hại thấp nhất với tỷ lệ hại 3,53%, chỉ số hại
Trang 252,03%; vườn có chiều cao giàn che 3 m rệp sáp nâu nhỏ hại cao với tỷ lệ hại 12,17%, chỉ số hại 6,28% Do vườn có giàn che quá thấp độ thông thoáng kém nhiệt
độ trong vườn cao dẫn tới ẩm độ cao tạo điều kiện cho sâu hại phát triển
Theo Phạm Công Bình, 2007 Trồng giống Dendrobium bằng xơ dừa rất hay
bị các loại côn trùng thông thường như dán, cuốn chiếu, con tiêu (màu xám, đen, nhỏ, nhiều chân) phá hại Các loại này dễ trị bằng cách dùng thuốc Malathion, Melthyl Parathion, nồng độ 2cc/1 lít nước Trồng bằng xơ dừa hay bị ốc sên cắn phá, chúng thường ăn đầu rễ non, làm cây mất sức, rễ phân nhánh nhiều Chúng ta
có thể dùng mồi độc Methaldehyde để trị, rải thuốc lên mặt chất trồng, ốc sên ăn
vào sẽ chết hoặc mất khả năng sinh sản Đối với những vườn cây Dendrobium spp
trồng khô, thiếu nước thường bị loại nhện đỏ phá hại Nhện đỏ bám vào mặt dưới làm lá có màu xanh xám bạc, sần sùi, sau chuyển thành đen và rụng Chúng ta có thể dùng thuốc Kelthane 2cc/1 lít nước xịt ướt mặt dưới lá và toàn cây và cứ 5 ngày
1 lần cho đến khi hết nhện đỏ Để phòng ngừa nhện đỏ trên lan, ta nên giữ độ ẩm và tưới nước đủ cho lan, chú ý vào màu nắng
2.4 Muỗi hại phong lan Dendrobium spp
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài
Theo Arnold H Hara và Ruth Y Niino – DuPonte, 2002 Muỗi hại hoa,
Contarinia maculipennis Felt (bộ hai cánh: Diptera; họ muỗi năn: Cecidomyiidae),
đã có xuất hiện ở Hawai từ trước những năm 1900 và có nguồn gốc từ châu Á (tây
Ấn độ) Hiện nay, muỗi hại hoa có thể tìm thấy trên tất cả các đảo thuộc quần đảo
Hawai Ở nước Mỹ, muỗi hại trên lan Dendrobium spp được báo cáo ở Florida năm
1992 Muỗi hại hoa sinh sôi, nảy nở quanh năm ở Hawai Vòng đời của chúng từ
trứng đến thành trùng khoảng 21 – 28 ngày
Con cái trưởng thành đẻ trứng thành từng khối vào bên trong những nụ hoa Những trứng có màu trắng kem, mắt thường không thể nhìn thấy, 24 giờ trứng sẽ nở thành ấu trùng Ấu trùng của con muỗi hại hoa có hình dạng giống con giòi, chúng
ăn những phần mô bên trong của những nụ hoa dẫn đến nụ hoa, hoa biến dạng, méo
Trang 26mó, thói nhũng Những con ấu trùng mới nở có màu trắng khi lớn lên chúng có màu vàng, màu hồng nhạt khi chúng trưởng thành Giai đoạn ấu trùng khoảng 5 – 7 ngày với chiều dài khoảng 1/12 inch, chúng có khả năng búng trong không khí để đến nụ hoa khác và chui vào trong đất để phát triển thành nhộng
Nhộng sẽ phát triển tốt trong đất ẩm nhưng không ướt Giai đoạn cuối của nhộng chuyễn từ màu vàng sang màu nâu và chui lên khỏi mặt đất để thành trùng, thời gian nhộng ở trong đất từ 14 – 21 ngày Thành trùng của muỗi hại hoa thì rất nhỏ, con đực thì nhỏ hơn con cái không đáng kể Thành trùng chỉ sống 4 ngày Mắt lớn vừa phải, mắt kép và một cặp cánh, trên cánh có vệt chạy dọc, cánh dài gấp 1 –
2 lần cơ thể Ngoại trừ thành trùng, tất cả các giai đoạn của muỗi hại hoa đều sống bên trong nụ (ấu trùng) hay sống trong đất (nhộng) Sự vũ hóa từ nhộng trong đất thường thấy xuất hiện vào buổi chiều tối
Theo Junichi Yukawa, Makoto Tokuda, Keiji Yasuda, Ren Iwaizumi, 2002
Vào tháng 3 năm 1989, Keiji Yasuda đã tìm ra loài Contarinia sp phá hại nghiêm trọng nhiều nhà vườn trồng lan Dendrobium spp ở thành phố Nago, đảo Okinawa,
Nhật Bản Năm 1993, loài muỗi mới này đã được tìm thấy ở làng Kita - nakagusuku
và Osato của đảo Okinawa Những nụ hoa bị phá hại thường được giữ lại còn nguyên dạng và cuối cùng rụng xuống đất
Tuy vậy, những hoa bị gây hại nhẹ thì vẫn có khả năng nở, những cánh hoa thì dễ thấy bị hại, chính vì thế làm giảm giá trị thương mại Thêm vào đó, trước đây
có một loài tương tự Contarinia sp phá hoại trên những giống lan Dendrobium
nhập khẩu từ Thái Lan và Singapore đã được ngăn chặn tại sân bay Narita (tỉnh Chiba, Nhật Bản) Gagné (1995) đã nhận ra một loài muỗi mới gây hại trên giống
lan Dendrobium (phong lan) ở Florida, Mỹ là Contarinia maculipennis Felt (bộ hai
cánh: Diptera; họ muỗi năn: Cecidomyiidae)
Cùng thời điểm đó, ông cũng đã miêu tả loài này và so sánh các mối quan hệ
giữa chúng C maculipennis gây hại trên nhiều loại cây trồng, ít nhất là 7 họ thực
vật như: phong lan, họ bông, họ bầu bí…(Jensen, 1946, 1950; Gagné, 1995) Mặc
Trang 27dù, loài này đã được miêu tả dựa trên những nụ dưa bị hại ở Hawai (Felt, 1933) Theo Gagné (1995) nguồn gốc của muỗi hại phong lan đến từ Đông Nam Á Dù thế,
ông cũng nghi ngờ rằng Contarinia đã tìm thấy trên đảo Okinawa và Narita đúng là
C Maculipennis, đã so sánh đặc điểm về sinh thái học giữa chúng với loài C maculipennis cùng giống Ông Junichi Yukawa và cộng sự đã quan sát đốt bụng thứ
8 của ấu trùng trưởng thành, ghi nhận có 2 lổ thở Đốt râu đầu của con đực nhiều hơn của con cái, có những cơ quan cảm giác hình móng ngựa (chữ U) và đốt râu đầu thứ nhất của con cái dài hơn đốt thứ hai
Theo Catharine Mannion, Adrian Hunsderger, Kim Gabel và Eileen Buss,
2006 lần đầu tiên đã tìm thấy sự tấn công trên phong lan (Dendrobium spp.) ở
Apopka năm 1992 và Miami năm 1993 Sau đó, đã tìm thấy sự phá hại trên những
nụ hoa dâm bụt
Vòng đời (từ lúc trứng đến thành trùng) của muỗi hại dâm bụt hay thường gọi là muỗi hại hoa khoảng 3 đến 4 tuần Những trứng tạo thành từng khối bên trong những nụ hoa non Sau 24 giờ trứng nở thành ấu trùng Những ấu trùng lúc mới nở có màu trắng, lớn dần có màu vàng và ấu trùng trưởng thành có màu hồng nhạt Chúng trưởng thành sau 5 – 7 ngày và có chiều dài 1/12 inch Chúng có khả năng búng trong không khí để di chuyễn đến những nụ hoa khác và sau khi trưởng thành (ấu trùng) chúng chui vào trong đất làm nhộng Nhộng sống trong đất ẩm Nhộng có màu trắng vàng rồi chuyễn sang màu nâu Nhộng ở trong đất 14 – 21 ngày sẽ vũ hóa thành trùng Thành trùng của muỗi hại hoa rất là nhỏ và không dễ
nhìn thấy Thành trùng giống con muỗi và sống chỉ 4 ngày Nó có con mắt vừa phải
và một cặp cánh, cánh dài gấp 1 – 2 lần cơ thể Trong năm, quần thể muỗi hại hoa nhiều trong những tháng có nhiệt độ ấm hơn
Theo Nami Uechi, Keiji Yasuda, Naohisa Gyoutoku và Junichi Yukawa,
2006, Contarinia maculipennis Felt là một loài phá hại ở phạm vi rộng, gây hại trên những nụ của phong lan Dendrobium phalaenopsis Fitzgerald (Orchidaceae), khổ
Trang 28qua Momordica charantia L (Cucurbitaceae) và những giống cây trồng khác
(Gagné, 1995; Uechi et al., 2003)
Theo như sự quan sát của Jensen (1950) ở Hawai, trứng của chúng nằm ở bên trong những nụ hoa và 5 – 7 ngày thì nở 5 – 7 ngày thì ấu trùng trưởng thành, rồi chui vào trong đất nơi chúng làm nhộng Nhộng ở trong đất 14 ngày thì vũ hóa
thành trùng Vì vậy, C maculipennis cần 24 – 28 ngày để hoàn thành một vòng đời
của mình ở Hawai
2.4.2 Nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Thị Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008 Ở Tp.Hồ Chí Minh, theo thống kê chưa đầy đủ, loài ruồi này được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2003,
từ đó đến nay chúng vẫn liên tục gây hại trên các vườn lan và xuất hiện suốt năm Điểm đặc biệt là loại ruồi này chỉ gây hại trên hoa lan Dendro, các giống lan khác mặc dù trồng chung vườn hoặc gần nhau cũng không thấy bị nhiễm Con ruồi trưởng thành có hình dạng bên ngoài giống với con muỗi nhiều hơn là con ruồi Chúng rất nhỏ: chiều dài khoảng 2 mm, bộ cánh dài gấp đôi thân Sống được 4 ngày Vòng đời của ruồi từ giai đoạn trứng đến khi trưởng thành từ 21 – 32 ngày tùy theo nhiệt độ và điều kiện môi trường Ruồi cái đẻ trứng vào đầu các nụ hoa, trứng
có màu trắng kem có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, trứng nở trong vòng 1 ngày, ấu trùng sau khi nở chui sâu vào trong nụ hoa, chúng ăn các mô của nụ hoa
gây nên hiện tượng biến dạng, mất màu trên nụ và cánh hoa, khi gây hại trên nụ còn
non chúng làm rụng luôn cả nụ hoa
Nụ và cánh hoa sau khi bị hư thường gãy gục xuống hoặc mọc các lớp mốc xám làm chúng ta dễ lầm tưởng hoa đang bị bệnh mốc xám Ấu trùng mới nở có màu trắng khi lớn hơn có màu vàng, ấu trùng sống trong nụ hoa từ 5 – 7 ngày, lúc này ấu trùng có thể búng xa vài centimet trong không khí, đây chính là đặc điểm để phân biệt chúng với ấu trùng của các loài khác Tập quán búng xa vài centimet giúp chúng rời khỏi nụ hoa chui sâu vào trong đất Ấu trùng sau khi rời khỏi nụ hoa chui sâu vào trong đất chúng sẽ hóa nhộng trong đất ẩm, thời gian ở trong đất từ 14 – 21
Trang 29ngày, giai đoạn cuối của nhộng chúng sẽ chuyển từ màu vàng sang màu nâu và chui lên gần mặt đất để thành ruồi trưởng thành Chúng thường xuất hiện vào buổi chiều tối
2.5 Một số đặc điểm sử dụng các loại thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm
Theo Phạm Văn Biên và cộng tác, 2002 Một số loại thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm: Marshal 200SC, Fastac 5EC, Vifusan 3G, Vibam 5H
2.5.1 Thuốc Marshal 200 SC
Thuốc Marshal 200SC với hoạt chất tác dụng Carbosulfan, thuộc nhóm hóa học Carbamate Thuốc kỹ thuật là chất lỏng màu nâu, rất ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ Thuốc thuộc nhóm độc II, tác động vị độc, tiếp xúc,
có khả năng nội hấp và phổ tác dụng rộng Thuốc phòng trừ nhiều loại sâu đục thân,
ăn lá, chích hút, nhện… Chế phẩm 200SC dùng với liều lượng 0,5 – 1 lít/ha, pha nước với nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt đều lên cây Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác
2.5.2 Thuốc Fastac 5EC
Thuốc Fastac 5EC với hoạt chất tác dụng Alpha – cypermethrin (Alpha methrin), thuộc nhóm hóa học Pyrethroid Thuốc kỹ thuật dạng tinh thể, không tan trong nước (< 1mg/g ở 250C), tan trong các dung môi hữu cơ như: Toluene, Xylene…,tương đối bền trong môi trường trung tính và chua, phân hủy trong môi trường kiềm và dưới tác dụng của ánh sáng Thuốc thuộc nhóm độc II, tác động tiếp xúc và vị độc và phổ tác dụng rộng Thuốc phòng trừ các loại sâu ăn lá và chích hút Liều lượng sử dụng cho lúa, rau, màu từ 0,2 – 0,4 lít/ha loại thành phẩm 5% pha với
300 – 400 lít nước Với cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, loại thành phẩm 5% pha nồng độ 0,05 – 0,1% phun ướt đều lên tán lá
2.5.3 Thuốc Vifuran 3G
Thuốc Vifuran 3G với hoạt chất tác dụng Carbofuran, thuộc nhóm hóa học Carbamate Thuốc kỹ thuật dạng tinh thể Thuốc thuộc nhóm độc nhóm I, tác dụng
Trang 30tiếp xúc, vị độc, có khả năng nội hấp và phổ tác dụng rộng Thuốc được dùng rắc vào trong đất trừ các loại sâu hại sống trong đất Liều lượng của thuốc sử dụng cho cây trồng cạn 20 – 30 Kg/ha rải xuống đất rồi bừa trộn trước khi gieo trồng hoặc quanh gốc cây
Trang 31Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài đã được tiến hành tại huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 15/2/2009 đến 15/7/2009
3.2 Đặc điểm thời tiết khí hậu nơi nghiên cứu
Theo Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ (2008), huyện Bình Chánh cũng chịu chung ảnh hưởng của vùng khí hậu Tp.Hồ Chí Minh, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa – khô rõ ràng Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Diễn biến thời tiết – khí hậu trong các tháng tiến hành nghiên cứu
Những tháng mùa khô nhiệt độ tương đối cao Nhiệt độ trung bình tháng 2\2009 là 27,70C, tăng dần trong tháng 3, 4 và có giá trị trung bình lần lượt là 29,30C và 29,40C Vào tháng 5\2009, bắt đầu mùa mưa nên nhiệt độ giảm xuống còn 25,70C Độ ẩm từ tháng 2 – 5\2009 tăng đều trong từng tháng, thấp nhất vào tháng 2 là 72% và cao nhất vào tháng 5 là 81% Năm 2009 thời tiết bất thường, vào mùa khô nhưng có mưa trái mùa rãi rác với lượng mưa tương đối thấp lần lượt trong các tháng 2, 3 và 4 là 21,4 mm; 57,8 mm và 187 mm Vào tháng 5 bắt đầu mùa mưa nên lượng mưa khá lớn, hơn 3 tháng trước đó gộp lại và có giá trị là 318,5 mm (biểu đồ 3.1 và 3.2)
Trang 32Biểu đồ 3.1 Nhiệt độ và độ ẩm trung bình trong các tháng nghiên cứu ở huyện
Trang 333.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra hiện trạng trồng giống lan Dendrobium ở huyện Bình Chánh Tp Hồ
Chí Minh
Xác định đối tượng gây thối nhũng và mức độ gây thối nhũng hoa đối với
giống lan Dendrobium ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh
Khảo sát hiệu quả phòng trừ của một số thuốc hóa học đối với muỗi đục hoa
lan giống lan Dendrobium
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Vật liệu nghiên cứu
Các vườn lan Dendrobium spp ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh
Vật liệu thu thập mẫu: hủ nhựa, kéo
Vật liệu quan sát: kính lúp, kính hiển vi, máy ảnh kỹ thuật số
Vật liệu nuôi và tạo nguồn: hủ nhựa, giấy thấm và nguồn ấu trùng thu thập từ các vườn lan
Bình xịt thuốc: loại bình 8 lít
Thuốc hóa học dạng nhũ dầu: Marsahl 200SC và Fastac 5EC
Thuốc dạng hột: Vifuran 3G và Vibam 5H
3.4.2 Phương pháp thực hiện
3.4.2.1 Hiện trạng trồng giống lan Dendrobium ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí
Minh
Mục đích điều tra để hiểu rõ về hiện trạng trồng giống Dendrobium, kỹ thuật
trồng, tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh
Điều tra bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra Phiếu điều tra được soạn sẵn với 3 nội dung chính
Trang 34+ Thông tin chung: diện tích, thâm niên trồng, giá trị kinh tế…
+ Kỹ thuật canh tác: giống, giá thể, cách chăm sóc, cách trồng, phân bón
+ Bảo vệ thực vật: phòng trừ và phát hiện sâu bệnh
Số lượng phiếu điều tra: 20 phiếu
( Chi tiết tham khảo phiếu điều tra)
3.4.2.2 Xác định đối tượng và điều tra mức độ gây hại thối nhũng đối với giống
lan Dendrobium ở huyện Bình Chánh Tp.Hồ Chí Minh
Xác định đối tượng gây hại
Thu mẫu nụ và hoa bị hại (3 đợt), mỗi đợt 100 nụ (hoa) và phát hoa mang về phòng thí nghiệm theo dõi, ghi nhận đặc điểm hình thái các giai đoạn phát triển (ấu trùng, nhộng và thành trùng)
Chỉ tiêu theo dõi:
+ Mô tả đặc điểm phát triển các giai đoạn
+ Xác định đối tượng gây hại
+ Lịch thu mẫu: 1 lần/tháng (3 đợt )
Điều tra mức độ gây hại
Chọn 3 hộ (vườn) điển hình có diện tích trồng giống lan Dendrobium
khoảng 300 – 2.500 m2 và đang trong giai đoạn thu hoạch hoa tại huyện Bình Chánh, Tp.Hồ Chí Minh Cụ thể như sau: hộ ông Nguyễn Văn Sinh, Hồ Hồng Hải
và Đinh Đông Nhật với diện tích trồng giống lan Dendrobium lần lượt là: 300 m2, 2.500 m2 và 700 m2
Điều tra trên líp (luống) theo kiểu ngẫu nhiên Nếu líp (luống) có kích thước
≤ 10 m * 1 thì chọn 3 điểm, còn nếu líp (luống) dài lớn hơn 10 m thì chọn 5 điểm
Trên mỗi điểm điều tra có ít nhất 3 phát hoa
Chỉ tiêu theo dõi:
Trang 35Tỷ lệ phát hoa bị hại/điểm/luống/hộ
Tỷ lệ bông (nụ) bị hại/phát hoa/điểm/luống/hộ
Lịch điều tra
Một tuần/lần (điều tra 10 lần, tham khảo phiếu theo dõi mức độ gây hại)
3.4.2.3 Khảo sát hiệu quả phòng trừ của một số loại thuốc hóa học đối với muỗi đục hoa lan Dendrobium spp
Thí nghiệm được tiến hành tại hộ ông Đinh Đông Nhật trồng giống lan
Dendrobium, đang trong giai đoạn thu hoạch hoa ở xã An Phú Tây huyện Bình
Chánh Tp.Hồ Chí Minh Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 6 m2
trên líp trồng lan Dendrobium spp Khoảng cách giữa các lô là 1 m Thí nghiệm
gồm 5 nghiệm thức (4 nghiệm thức thử thuốc và 1 nghiệm thức đối chứng)
Trang 36Phương pháp lấy chỉ tiêu
Trên mỗi nghiệm thức (6 m2), chọn ngẫu nhiên 3 điểm, trên mỗi điểm chọn 3 phát hoa Đếm số hoa (nụ) bị hại trên mỗi phát hoa để biết tỷ lệ số hoa (nụ) bị hại/phát hoa/điểm Bắt đầu lấy chỉ tiêu trước khi phun thuốc 1 ngày và 3 – 5 – 7 ngày sau khi phun thuốc
Chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ phát hoa và hoa (nụ) bị hại trước khi phun thuốc 1 ngày
Tỷ lệ phát hoa và hoa (nụ) bị hại sau khi phun thuốc 3 – 5 – 7 ngày
Hiệu lực của các loại thuốc trong thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Henderson Tilton:
Hiệu lực (%) = [ 1 – (Tb × Ca/Ta × Cb)] ×100
Trong đó:
- Tb: Tỷ lệ phát hoa, hoa (nụ) bị hại ở lô xử lí sau khi phun thuốc
- Cb: Tỷ lệ phát hoa, hoa (nụ) bị hại ở lô đối chứng sau khi phun thuốc
- Ta: Tỷ lệ phát hoa, hoa (nụ) bị hại ở lô xử lí trước khi phun thuốc
- Ca: Tỷ lệ phát hoa, hoa (nụ) bị hại ở lô đối chứng trước khi phun thuốc
3.4.3 Cách xử lí thuốc
Đối với thuốc dạng nhũ dầu: Trước hết chúng ta đọc hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì và tiến hành pha thuốc Pha 4 ml thuốc với 4 lít nước rồi tiến hành phun đều trên lần lặp lại của từng nghiệm thức Mỗi lô được được giới hạn bằng nylon để đảm bảo thuốc không bị bay lô khác Phun xong nghiệm thức này thì
di chuyển tấm nylon sang nơi khác và tiến hành phun tiếp Sau khi mỗi loại thuốc
đã xử lí bình xịt rửa thật kỹ trước khi pha loại thuốc thứ 2
Đối với thuốc hột: Cũng giống như thuốc nhũ dầu, đọc hướng dẫn của nhà sản xuất, cân liều dùng cho mỗi nghiệm thức Vì liều dùng cho 18 m2 tương đối nhỏ