Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-VŨ THÀNH DƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC HỆ THỐNG CHĂN NUÔI TRÂU BÒ
CỦA HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRẠCH
Trang 2HÀ NỘI - 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Vũ Thành Dương
Trang 4Lời cảm ơn
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành chương trình cao học chăn nuôi và luận văn thac sĩ nông nghiệp với đề tài: “ Nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi trâu bò của huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ”.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo khoa Sau đại học, Chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND huyện; phòng Nông nghiệp; trạm Khuyến nông; trạm Thú y; trạm Bảo vệ thực vật; phòng Thống kê; Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và
bà con nông dân các xã Thu Cúc, Thu Ngạc và Tân Lập huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Giám đốc và các cán bộ dự án Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn đã cung cấp các số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS T.S Nguyễn Xuân Trạch, người đã định hướng, chỉ bảo, dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu khoa học.
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2008
Tác giả luận văn
Vũ Thành Dương
Trang 51.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
2.2 Tình hình nghiên cứu hệ thống chăn nuôi trong và ngoài nước 25
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 45
3.1 Đối tượng nghiên cứu 45
3.4 Phương pháp và công cụ nghiên cứu 46
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Thanh Sơn
514.1.1 Điều kiện tự nhiên 514.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội huyện Thanh Sơn 574.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp 58
Trang 64.2.1 Sản xuất ngành trồng và lâm nghiệp 584.2.2 Sản xuất ngành chăn nuôi 594.3 Các hệ thống chăn nuôi 614.3.1 Các kiểu hệ thống chăn nuôi trâu bò chủ yếu của vùng nghiên cứu 614.3.2 Hệ thống chăn nuôi quảng canh: 634.3.2 Hệ thống chăn nuôi trâu bò bán thâm canh (TB_BTC) 654.3.3 Hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh 664.3.4 Hệ thống chăn nuôi kết hợp trồng rừng 684.5 Hiệu quả của các hệ thống chăn nuôi 704.5.1 Các chi phí của mỗi hệ thống 704.5.2 Các nguồn thu và hiệu quả từ hệ thống chăn nuôi 72Tình hình sử dụng phụ phẩm trong chăn nuôi 724.7 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới từng hệ thống 744.7.1 Hệ thống chăn nuôi Quảng canh 74
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ Bình quânĐVT Đơn vị t ínhGTSX Giá trị sản xuất
HH – BTC Hỗn hợp bán thâm canhHTCN Hệ thống chăn nuôiHTTT Hệ thống trồng trọtNGO Tổ chức phi chính phủNTTS Nuôi trồng thuỷ sản
TA Thức ăn
TB – BTC Trâu bò – Bán thâm canh
TB – QC Trâu bò quảng canhUBND Uỷ ban nhân dân
WB Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Cơ cấu mẫu nghiên cứu 474.1 Tình hình đất đai kinh tế - xã hội huyện Thanh Sơn 564.2 Diễn biến số lượng đàn trâu bò của huyện Thanh Sơn 604.3 Các kiểu hệ thống chăn nuôi trâu bò chủ yếu ở huyện Thanh Sơn
624.4 Tỷ lệ áp dụng hệ thống chăn nuôi quảng canh của ba dân tộc 634.5 Tỷ lệ áp dụng hệ thống chăn nuôi BTC của ba dân tộc 654.6 Tỷ lệ áp dụng hệ thống chăn nuôi HH_BTC của ba dân tộc 674.7 Tỷ lệ áp dụng hệ thống chăn nuôi kết hợp rừng của ba dân tộc 684.8 Chi phí chăn nuôi trâu bò bình quân/năm của từng hệ thống 714.9 So sánh hiệu quả của các hệ thống chăn nuôi giữa các dân tộc 724.10 Tình hình sử dụng phụ phẩm trong chăn nuôi 734.11 Các loại bệnh ở trâu bò ảnh hưởng tới từng hệ thống chăn nuôi
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.1 Diễn biến nhiệt độ, độ ẩm trong năm của huyện Thanh Sơn 544.2 Diễn biến lượng mưa các tháng trong năm 55
DANH MỤC SƠ ĐỒ
2.1 Hệ thống nông nghiệp theo Spedding (1981) 82.2 Logic ra quyết định của người nông dân (Jouve, 1984) 122.3 Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste, 1986) 182.4 Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới 284.1 Hệ thống chăn nuôi quảng canh 634.2 Hệ thống chăn nuôi trâu bò bán thâm canh 664.3 Hệ thống chăn nuôi hỗ hợp bán thâm canh 674.4 Hệ thống chăn nuôi kết hợp trồng rừng 694.5 Sơ đồ tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của các hệ thống 86
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi nói về nghiên cứu chăn nuôi người ta thường nghĩ đến các phươngpháp nghiên cứu theo lối cục bộ và chỉ tập trung vào các vấn đề cấp bách cầngiải quyết ở các quy mô đơn vị sản xuất như: vấn đề về thức ăn gia súc, vấn
đề về cải tạo giống hay chuồng trại, bệnh tật… Mặc dù những nghiên cứutheo lối tiếp cận này đã đạt được những thành tựu nhất định, đã phần nào đápứng được những đòi hỏi của thực tiễn và thúc đẩy ngành chăn nuôi từng bướcphát triển Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn còn những hạn chế nhất định vìcác giải pháp đưa ra thường mang tính chất tạm thời không quan tâm đến việcliệu các giải pháp đó có tồn tại, bền vững và phát triển lâu dài hay không.Trong khi đó sản xuất chăn nuôi gắn liền với những ngành sản xuất khác cũngnhư chịu ảnh hưởng lớn từ những vấn đề kinh tế - xã hội Do vậy để phát triểnchăn nuôi một cách có hiệu quả và bền vững thì không thể không quan tâmđến mối quan hệ của nó trong mối quan hệ với cả hệ thống có liên quan Điều
đó có nghĩa là cần có tư duy mới về cách tiếp cận vấn đề trong nghiên cứu pháttriển chăn nuôi
Trong khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, nền sản xuất nông nghiệp
có ý nghĩa sống còn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Nhờ dựa vàocác tri thức bản địa thông qua những hệ thống nông nghiệp trong đó chăn nuôi
và trồng trọt phối hợp và tận dụng hài hoà các phụ phẩm của nhau nên chúng ta
đã được một nền nông nghiệp bền vững Preston (1995) đã nhận xét “…nếuđánh giá về mặt nông nghiệp bền vững thì Việt Nam thuộc vào những nước điđầu” Orskov (2001), một nhà dinh dưỡng nổi tiếng thế giới, cũng công nhậnrằng “Việt Nam đang dẫn đầu với mục tiêu tăng cường khai thác dinh dưỡng từcác nguồn có khả năng tái tạo nhằm tăng cường cơ hội công ăn việc làm ở
Trang 11nông thôn” Các phụ phẩm nông nghiệp phục vụ cho chăn nuôi sẽ giúp choviệc phát triển hơn nữa một nền nông nghiệp bền vững, góp phần xoá đói giảmnghèo, đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.
Chăn nuôi nông hộ ở nước ta mang tính đa dạng rất cao tuỳ theo vùng,miền, tình hình kinh tế và trình độ kỹ thuật của người nông dân Ngoài ra nócòn có sự đa dạng thể hiện ở sự quy mô, giống vật nuôi, mức độ thâm canh,tiêu thụ… Sự đa dạng đó tạo nên sự đa dạng về các mô hình, hệ thống chănnuôi ở từng địa phương Vì vậy nghiên cứu hệ thống chăn nuôi sẽ giúp có mộtcái nhìn đầy đủ nhất về thực trạng chăn nuôi của mỗi vùng Từ đó có thể đề racác giải pháp phát triển bền vững giúp thúc đẩy sự phát triển nhanh nền kinh
tế nông nghiệp của nước ta nói chung và đồng bào vùng sâu, xa nói riêng.Song để nghiên cứu hệ thống chăn nuôi của mỗi vùng đòi hỏi tiêu tốn nhiềuthời gian, tiền của và công sức của những nhà nghiên cứu Chính vì thế màtrong thời lượng có hạn về thời gian, tôi chỉ có thể đi sâu nghiên cứu hệ thốngchăn nuôi ở một phạm vi nhỏ trong một vùng cụ thể vì vậy Chúng tôi quyếtđịnh chọn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ làm nơi nghiên cứu thí điểm
Từ sau chỉ thị 100 của ban bí thư (1981), Nghị định 10 của Bộ ChínhTrị (1988) về việc giao quyền sử dụng đất đai lâu dài cho hộ nông dân, nôngnghiệp ở Thanh Sơn đã có những nét khởi sắc Tuy nhiên, vẫn chưa vượt rakhỏi nền nông nghiệp tự cung, tự cấp, với các đặc trưng: sản xuất và chănnuôi manh mún, hàm lượng khoa học chứa đựng trong các hệ thống sản xuấtchăn nuôi không nhiều, đầu tư ở mức thấp và kết quả là chất lượng, sản lượngkém Vấn đề đặt ra là muốn thúc đẩy nền nông nghiệp nói chung và ngànhchăn nuôi nói riêng ở huyện Thanh Sơn lên theo hướng sản xuất hàng hoá,cần phải xem lại cơ cấu sản xuất theo hướng phát huy được lợi thế của điềukiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phải hình thành các hệ thống chăn nuôi nói riêng
và hệ thống sản xuất nông nghiệp nói chung chứa đựng những hàm lượng
Trang 12khoa học cao, thay thế các hệ thống sản xuất chăn nuôi cũ, nhằm tăng hiệuquả kinh tế và bảo vệ môi trường Phải đầu tư thêm tư bản để xây dựng cơ sở
hạ tầng góp phần tạo ra nền nông nghiệp phát triển ổn định và cuối cùng lànâng cao trình độ dân trí để tiếp cận những kỹ thuật mới
Với những hệ thống canh tác kết hợp truyền thống ở huyện Thanh Sơn đãđược hình thành và phát triển từ trên 100 năm nay, tương đối có hiệu quả Tuynhiên, hiện nay người chăn nuôi trâu bò đang bị thách thức do nhu cầu tiêu thụcác sản phẩm động vật ngày càng tăng và do sự cạnh tranh ngày càng tăng củacác cơ sở chăn nuôi công nghiệp hiện đại với quy mô lớn xuất hiện gần đây
Vì những lý do trên, những hệ thống sản xuất kết hợp truyền thống nàycần được cải tiến để tăng năng suất, đồng thời phải nâng cao nhận thức vềnhững ưu điểm của chúng trong việc cải tạo việc làm ở nông thôn, bảo vệ môitrường và duy trì sự đa dạng sinh học Một số chương trình hợp tác nghiêncứu gần đây đã tập trung vào việc nâng cao hiệu quả, năng suất và tính bềnvững cho các hệ thống hiện có bằng cách áp dụng những kỹ thuật mới phùhợp Kết quả thu được cho thấy có nhiều triển vọng trong việc cải tiến vànâng cao hơn nữa năng suất của các hệ thống này mà vẫn duy trì được những
ưu điểm vốn có của chúng
Trong phạm vi nghiên cứu được trình bày trong luận văn này, chúng tôilựa chọn nghiên cứu phát triển hệ thống chăn nuôi trâu bò nằm trong nhóm
các quy luật hệ thống chăn nuôi với tên đề tài là: “Nghiên cứu các hệ thống
chăn nuôi trâu bò của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Nhận dạng và mô tả đặc điểm của các hệ thống chăn nuôi trâu bò ởhuyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Xác định được năng suất và hiệu quả của các hệ thống chăn nuôi trâu bò đó
Trang 13 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới các hệ thống chăn nuôi trâu bò
Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy hệ thống chăn nuôi củahuyện ngày càng phát triển hơn
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thực hiện đề tài nghiên cứu này góp phần tạo dựng một hệ thống chănnuôi đại gia súc ổn định hơn, không chỉ cho cư dân tại vùng nghiên cứu nângcao đời sống mà còn có ý nghĩa khi nhân rộng ra các huyện khác
Những giải pháp và đề xuất góp phần phát triển hệ thống chăn nuôikhông chỉ đúng với người dân 3 xã của huyện Thanh Sơn mà còn có ý nghĩacho những địa phương có điều kiện tương tự, góp phần cải thiện về phươngpháp nghiên cứu và phương pháp ứng dụng lý thuyết hệ thống về trongnghiên cứu hệ thống chăn nuôi ở vùng núi phía bắc Việt Nam
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài góp phần khảo sát, đánh giá thực trạng các
hệ thống chăn nuôi của huyện Thanh Sơn, thấy được điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức của các hệ thống chăn nuôi trâu bò, từ đó giúp đề ranhững chính sách phát triển chăn nuôi nói riêng, phát triển kinh tế xã hội nóichung của huyện một cách nhanh và bền vững
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Một cách khái quát, có thể hiểu hệ thống là một tổ hợp các thành phầnhợp thành, có quan hệ chặt chẽ với nhau, tổ hợp lại với nhau một cách phứctạp và cấu thành một chỉnh thể có ý nghĩa nhất định (Tanaka và cộng sự,1972) [13] Như vậy khi nói đến hệ thống tức là đã nói đến thành phần của hệthống và sự sắp xếp các thành phần đó trong hệ thống
Trong những năm gần đây, nhất là sau Thế chiến thứ hai, tư duy về hệthống đã phát triển và hoàn thiện hơn rất nhiều và đã trở thành một công cụmới hữu ích để tư duy về nhiều loại sự vật, hiện tượng khác nhau
Theo L.Vonbertanlanty (1930) thì khái niệm về hệ thống có thể hiểu
như sau “hệ thống là tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau thông qua các
mối quan hệ và tạo thành một tổ chức nhất định để thực hiện một số chức năng nào đó”
Khái niệm về hệ thống giống như một cách tư duy đặc biệt về thế giới,
nó giúp chúng ta có thể khai thác và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiênhiệu quả hơn Đồng thời khái niệm này còn giúp chúng ta định ra một kế
Trang 15hoạch cho sự phát triển trong tương lai vững chắc hơn so với quá khứ (VũĐình Tôn, 2006) [20].
Như vậy hệ thống là một tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài)của các yếu tố có liên quan với nhau (hay tác động lẫn nhau) Thành phần hệthống chính là các yếu tố và yếu tố là thành phần không biến đổi của hệthống Trong hệ thống, các yếu tố có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau
và với các yếu tố bên ngoài hệ thống Các mối liên hệ và sự tác động bêntrong hệ thống thường mạnh hơn so với mối liên hệ và tác động với các yếu tốbên ngoài hệ thống Các mối quan hệ và tác động đó theo một cách thức nhấtđịnh nào đó để sản sinh ra những kết quả nhất định Những kết quả này chính
là sản phẩm của cả một hệ thống chứ không phải là của một bộ phận nào đótrong hệ thống Kết quả đó phụ thuộc vào cách thức tác động bên trong và bênngoài hệ thống là điều kiện để duy trì sự tồn tại và phát triển của hệ thống
2.1.1.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Quan điểm của hệ thống là là phương pháp nghiên cứu khoa học chung,nghiên cứu các phương pháp và phương thức nghiên cứu lý luận, các đối tượng
+ Nghiên cứu nhằm xây dựng hệ thống mới
2.1.1.3 Công cụ phân tích hệ thống
Trong phân tích hệ thống có hai công cụ được sử dụng phổ biến là(Phạm Tiến Dũng, 1993) [4]:
Trang 16+ Kỹ thuật mô hình hoá (modeling): nghĩa là xây dựng các mô hình đạidiện thông qua các biến định tính Thông qua các mô hình này chúng ta có thểhiểu rõ hơn về sự khớp nối, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài hệ thống
để thấy được những “cản trở” cũng như những “tiềm năng” và đưa ra nhữngđịnh hướng, các giả thiết cho sự tiến triển
+ Phương pháp phân tích thống kê:
2.1.2 Hệ thống nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm về hệ thống nông nghiệp
Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ
và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đốitượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác
Khái niệm hệ thống nông trại (farming systems) đã có từ thế kỷ 19 donhà nông học Đức Vonwalfen (1923) [29] Ông sử dụng đầu vào, đầu ra củamột nông trại coi là một tổng thể để nghiên cứu độ màu mỡ của đất Tuy vậytrong một thời gian dài, tiếp cận này không được phổ biến
Khái niệm hệ thống nông nghiệp (agricultural systems) được các nhàđịa lý dùng từ lâu để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sựtiến hoá của chúng (Grigg, 1977) [33]
Các nhà kinh tế nông nghiệp khi nghiên cứu về quản lý nông trại đã đềxuất khái niệm hệ thống sản xuất (production systems), coi nông trại như một
sự phối hợp của các hệ thống trồng trọt, đồng cỏ, chăn nuôi, quản lý tài chính(Chombart de Lawe, 1963)
Khái niệm farming systems được sử dụng rộng rãi ở các nước nói tiếngAnh, nó có nghĩa là hệ thống nông trại hay hệ thống kinh doanh nông nghiệp
Hệ thống nông trại là sự sắp xếp độc nhất và ổn định một cách hợp lý các việckinh doanh nông nghiệp của hộ nông dân quản lý tuỳ theo các hoạt động đã
Trang 17được xác định, tuỳ thuộc vào môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế – xã hộiphù hợp với mục tiêu, sở thích và nguồn lợi của hộ (Zandstra, 1981) [43] Do đókhái niệm hệ thống nông trại gần giống với khái niệm hệ thống sản xuất củaPháp Ở Nga cũng có một khái niệm dùng trong kinh tế nông nghiệp là hệ thốngquản lý doanh nghiệp (trích Phạm Chí Thanh, 1996) [14].
Ở các nước nói tiếng Anh còn có khái niệm về hệ sinh thái nông nghiệp(agroeco systems) hay hệ thống nông nghiệp (agricultural systems) Thực chấtkhái niệm này đồng nghĩa với khái niệm hệ thống nông trại (farmingsystems), chỉ các mối liên hệ phức tạp của các quá trình xã hội, sinh học vàsinh thái bên ngoài và bên trong Alteri (1987), Spedding (1981) định nghĩa
hệ thống nông nghiệp là các đơn vị hoạt động của nông nghiệp bao gồm tất cảcác sự thay đổi về kính thước và độ phức tạp mà người ta gọi là doanh nghiệpnông trại, nông nghiệp của một vùng Dưới đây là mô hình hệ thống nôngnghiệp mà Spedding (1981) đã đưa ra
Sơ đồ 2.1: Hệ thống nông nghiệp theo Spedding (1981)
Vật nuôi
Sản phẩm chăn nuôi
Nước và chất dinh dưỡng
Đầu tư năng
lượng
Thức ăn
Chất thải
Trang 18Qua sơ đồ này có thể thấy tác giả chú trọng hơn tới các yếu tố môitrường tự nhiên và con người tác động đến sinh vật sơ cấp là cây trồng và sinhvật thứ cấp là vật nuôi để tạo ra các sản phẩm Sơ đồ này không miêu tả đượccác yếu tố xã hội và không phân tích rõ mối quan hệ bên trong hệ thống.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở Pháp cũng có một xu hướngnghiên cứu mới gọi là nghiên cứu phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển củanông nghiệp Lúc đầu xu hướng này cũng có những cách hiểu khác nhau,nhưng đến năm 1980, sau khi tổng kết 5 năm làm thử ở các nơi mới thốngnhất lại định nghĩa sau: nghiên cứu phát triển ở môi trường nông thôn là mộtcuộc thử nghiệm ở môi trường tự nhiên và xã hội thực (quy mô thực) Cáckhả năng và điều kiện của sự thay đổi kỹ thuật (thâm canh, bố trí lại) và xãhội (tổ chức của người sản xuất, hỗ trợ hành chính và nửa hành chính) (PhạmChí Thành,1996) [14] Việc nghiên cứu triển khai đã dẫn đến khái niệm hệthống nông nghiệp (systems agraires)
Hiện nay có một số định nghĩa sau về hệ thống nông nghiệp:
- Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp cácngành sản xuất và các kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu
Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái
mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống văn hoá - xã hội, qua cáchoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật (Vũ Đình Tôn, 2006) [20]
- Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai thác môitrường được hình thành trong lịch sử và một lực lượng sản xuất thích ứng vớinhững điều kiện khí hậu của một môi trường nhất định và đáp ứng được cácđiều kiện và nhu cầu của xã hội tại thời điểm ấy (dẫn theo Đào Thế Tuấn,1992) [24]
Nói đơn giản hơn, hệ thống nông nghiệp là thích ứng với các phươngthức khai thác nông nghiệp của một không gian nhất định do một xã hội tiến
Trang 19hành, là kết quả của sự phối hợp của các nhân tố tự nhiên, xã hội – văn hoá,kinh tế và kỹ thuật.
Tóm lại, trong các tiếp cận đã trình bày ở trên thì có hai cách tiếp cậntoàn diện và thích hợp hơn cả với sự phát triển(Beets, 1990; Pillot, 1989), vàđược áp dụng rộng rãi, đó là tiếp cận hệ thống nông trại của các nước nóitiếng Anh và tiếp cận hệ thống nông nghiệp của Pháp
Tiếp cận nông nghiệp có một số đặc điểm là:
+ Tiếp cận từ dưới lên (bottom-up) là điểm quan trọng nhất Trước đâykhoa học nông nghiệp thường áp dụng lối tiếp cận “từ trên xuống” (top-down)mặc dù cũng đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng kiểu tiếp cận “từtrên xuống” can thiệp nhằm giải quyết những cản trở không phù hợp với quátrình phát triển nông nghiệp và nông thôn Tiếp cận “từ dưới lên” dùngphương pháp quan sát và phân tích hệ thống nông nghiệp, xem hệ thống
“mắc” ở chỗ nào để tìm cách can thiệp nhằm giải quyết những cản trở Do đócác tiếp cận “từ dưới lên” thường gồm 3 giai đoạn nghiên cứu là: chẩn đoán,thiết kế và thử triển khai Tiếp cận “từ dưới lên” rất coi trọng tìm hiểu logic raquyết định của người nông dân bởi vì theo lý luận kinh tế hộ nông dân, ngườinông dân là một nhà tư bản tự bóc lột sức lao động của mình Nếu chúng takhông hiểu logic ra quyết định của người nông dân thì không thể đề xuất cácgiải pháp để họ có thể tiếp thu
+ Coi trọng mối quan hệ xã hội như các nhân tố hệ thống Tiếp cận nàytập trung vào phân tích mối quan hệ qua lại giữa hệ phụ sinh học và hệ phụkinh tế-xã hội trong một tổng thể của hệ thống nông nghiệp Trong quá trìnhnghiên cứu về sự phát triển nông thôn, có thể các hạn chế về kinh tế - xã hội
sẽ gây khó khăn cho việc tiếp thu các kỹ thuật mới của hộ nông dân Nếunhững hạn chế về kinh tế – xã hội được tháo gỡ thì sẽ tạo điều kiện cho nôngdân áp dụng dễ dàng các kỹ thuật mới
Trang 20Sơ đồ 2.2: Logic ra quyết định của người nông dân (Jouve, 1984)
Nhóm người trong gia đình
Các quyết định quản lý
Tiến trình kỹ thuật sản xuất Hệ thống quản lý:Dạng và thể thức các
phương tiện sản xuất
Bá n
Những cản trở và khả năng của môi trường KT - XH
Mua
Tự tiêu thụ
Trang 21+ Phân tích động thái của sự phát triển, có ý nghĩa là xem xét sự tiếntriển của hệ thống trong lịch sử Việc nghiên cứu phát triển hệ thống nôngnghiệp là cần thiết nhằm xác định phương hướng phát triển của hệ thốngtrong tương lai và giải quyết được cản trở phù hợp với xu hướng phát triển ấy.Trong nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp, ta đối diện với một hệ thốngđộng Mục tiêu của hệ thống, các điều kiện quyết định sự phát triển của nó,môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội thay đổi rất nhiều, vì vậy các giảipháp về kỹ thuật hay chính sách phải thay đổi cho phù hợp, (Đào Thế Tuấn,1998) [25].
Quá trình thay đổi của hệ thống cơ bản nhất là sự tiến hoá của hộ nôngdân từ tình trạng tự cấp sang hình thức sản xuất hàng hoá Sự tiến hoá ấy đangdiễn ra không đồng đều giữa các vùng, các làng và các hộ Vì vậy không thể
có giải pháp đồng nhất cho các hệ thống
2.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống nông nghiệp
Hiện nay có nhiều tác giả cho rằng có hai hình thức sản xuất nôngnghiệp đó là: nông nghiệp tự cung - tự cấp và nông nghiệp hàng hoá Nôngnghiệp tự cung tự cấp với mục tiêu là thoả mãn nhu cầu của con người baogồm ăn, ở, mặc và đi lại được khép kín trong phạm vi hộ nông dân Hộ nôngnghiệp tự cung tự cấp được hình thành ngay từ khi con người có hoạt độngsản xuất nông nghiệp, họ làm ra các sản phẩm mà họ cần Tuy nhiên họ cũng
có trao đổi sản phẩm để lấy tiền mua những cái mà họ không sản xuất đượcnhưng sự trao đổi này không phải là ý tưởng sản xuất hàng hoá do đó nền nôngnghiệp tự cung, tự cấp rất đa dạng với mục đích để ăn và giảm bớt rủi ro Nôngnghiệp tự cung - tự cấp chủ yếu là lợi dụng tự nhiên do đó đầu tư thấp và đòi hỏi
kỹ thuật không cao (Phạm Tiến Dũng, 1993) [4]
Nông nghiệp hàng hoá là nông nghiệp hướng theo thị trường, thị trườngcần cái gì, cần bao nhiêu, cần chất lượng và giá thành như thế nào? Để có
Trang 22được nông nghiệp hàng hoá cần phải đầu tư theo chiều sâu, đòi hỏi kỹ thuậtcao, và kết quả tạo ra được nhiều hàng hoá.
Việc nghiên cứu hệ thống nông nghiệp thường bắt đầu từ tiếp cận hệthống Cho đến nay vì tiếp cận hệ thống nông nghiệp tương đối mới nên chưa
có phương pháp thống nhất, tuy vậy các tác giả nghiên cứu tập trung theonguyên tắc sau:
- Nghiên cứu được hướng chủ yếu vào người nông dân
- Tính chất hệ thống của hệ thống nông nghiệp
- Yêu cầu tham gia của nhiều bộ môn/chuyên ngành?
- Chú ý đến việc làm ở nông trại
- Tính chất nhắc lại và liên tục
Quy trình nghiên cứu có thể được chia thành 3 bước sau:
- Chẩn đoán và phân loại
- Thiết kế và làm thử
- Mở rộng
Việc chẩn đoán có mục đích là đặc điểm hoá hệ thống của hệ thốngnông nghiệp, xác định các điều kiện quyết định sự phát triển của hệ thống vàxác định các hạn chế cản trở sự phát triển của hệ thống Việc chẩn đoán có haibước nhỏ là phân kiểu và chẩn đoán hệ thống nông nghiệp, đặc biệt là hệthống nông nghiệp hộ thường rất phức tạp và không đồng đều, nên phải phânthành các kiểu phổ biến, qua đó cho ta hiểu sự biến động của hệ thống và xácđịnh xem kiểu nào chiếm ưu thế trong hệ thống để định ưu tiên tác động vàonhằm phát triển Việc phân kiểu hiện nay đang cần là kiểu để tác động trongcác chương trình phát triển nông thôn Vì vậy các kiểu hệ thống không nêncho quá nhiều, chi tiết quá mà chỉ cần phân chia thành 3 – 4 kiểu hệ thốngnông nghiệp đại diện cho phần lớn các hộ trên địa bàn Có thể phân kiểu hộnông dân theo những tiêu chí khác nhau như: mức thu nhập, nhân tố sản xuất,
Trang 23mục tiêu sản xuất, chiến lược sản xuất Hiện nay chưa có kết luận nên phânkiểu theo tiêu chí nào mà thường chỉ dựa vào mục đích nghiên cứu khác nhau
mà ta lựa chọn tiêu chí phân kiểu hộ nông dân khác nhau
Còn giai đoạn thiết kế, làm thử và giai đoạn mở rộng là các giải pháp
cụ thể được tác động vào cản trở và thử nghiệm kết quả của chúng trên địabàn
2.1.3 Hệ thống chăn nuôi
2.1.3.1 Khái niệm về hệ thống chăn nuôi
Hệ thống chăn nuôi là sự kết hợp các nguồn lực, các loài gia súc, cácphương tiện kỹ thuật và các thực tiễn bởi một cộng đồng hay một người chănnuôi, nhằm thoả mãn những nhu cầu của họ và thông qua các gia súc làm giátrị hoá các nguồn lực tự nhiên (Vũ Đình Tôn, 2006) [20]
Như vậy theo định nghĩa trên thì hệ thống chăn nuôi gồm 3 cực chính:+ Tác nhân và gia đình (đôi khi có thể là một cộng đồng): “cực conngười”, đó là trung tâm của hệ thống
+ Các nguồn lực mà gia súc sử dụng: “cực đất đai”
+ Gia súc “cực gia súc”
Đặc điểm hệ thống chăn nuôi quảng canh:
- Là hình thức mà vật nuôi thường xuyên được thả tư do trongrừng hoặc trên đồi, nương
- Tự kiếm ăn
- Chất thải của vật nuôi đa phần không được tận dụng và xử lý
- Ít được sự chăm sóc của người nuôi và đa phần sinh sản khôngkiểm soát, phối giống tự do
- Buổi tối có thể tự tìm về lán trong rừng ngủ hoặc ngủ ở ngoàirừng, dưới các tán lá cây như động vật hoang dã
Đặc điểm hệ thống chăn nuôi bán thâm canh:
Trang 24- Vật nuôi có chuồng trại tại nhà để nuôi nhốt
- Sử dụng được phân bón của vật nuôi
- Có người để chăn thả, chăm sóc
- Vật nuôi được tiêm phòng, chữa trị khi đau ốm và theo dõi trong quátrình vật nuôi động dục, sinh sản
- Vật nuôi được bổ sung thêm thức ăn nhưng đa phần là thức ăn xanhcòn thức ăn tinh chỉ được bổ sung một lượng nhỏ
Đặc điểm hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh
- Hệ thống chăn nuôi hỗn hợp bán thâm canh có đặc điểm gần tương tựvới hệ thống chăn nuôi bán thâm canh nhưng khác ở chỗ là vật nuôithường được nuôi kết hợp với nhiều loài vật nuôi khác nhau
Đặc điểm hệ thống chăn nuôi kết hợp trồng rừng
- Người dân vừa chăn nuôi vừa làm rừng
- Vật nuôi được thả trong diện tích rừng của hộ
- Sử dụng phân bón từ vật nuôi để bón cho cây trồng
- Vật nuôi có được tiêm phòng, chăm sóc
- Có thể có chuồng trại ở trên rừng
- Nếu vật nuôi là trâu, bò, ngựa thì được tận dụng để kéo vật liệu
2.1.3.2 Các yếu tố chăn nuôi
Hoạt động sản xuất chăn nuôi là do người chăn nuôi tiến hành Họ sửdụng hai nhóm yếu tố chính cho hoạt động sản xuất này là: gia súc và môitrường
Trang 25nhiều dòng giống khác nhau, vì vậy vẫn đáp ứng được nhu cầu của con người.
Theo Montsma (1982) (Vũ Đình Tôn, 2006) [21] thì một số loài độngvật chính sử dụng trong nông nghiệp là:
Loài ăn cỏ gồm
+ Động vật nhai lại: trâu, bò, dê, cừu và lạc đà…
+ Động vật không nhai lại: ngựa, thỏ…
Các loài khác: lợn, gia cầm, các loại cá, côn trùng
Trang 26Sơ đồ 2.3: Các cực của hệ thống chăn nuôi (Lhoste, 1986)
Người chăn nuôi Dân tộc, gia đình, hội nhóm
Cấp độ ra quyết định Các nhu cầu dự án Định vị
Tổ chứ đất đai
Quản lý không gian
Chiến lược di chuyển
Các thực tiễn Các chức năng khác nhau Giá trị văn hóa
Lãnh thổ
Đàn gia súc
Trang 27 Các yếu tố môi trường
Theo giáo trình Hệ thống nông nghiệp (Trần Ngọc Ngoạn, 1999 [8] và
Vũ Đình Tôn, 2006 [21] thì có các yếu tố môi trường sau:
- Môi trường tự nhiên
+ Khí hậu: đây là yếu tố rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp và giántiếp đến chăn nuôi thông qua các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm Thôngthường mỗi loài hay giống gia súc có điều kiện nhiệt độ tối thiểu và tối đa.Nếu vượt ra khỏi giới hạn này đều có tác động xấu tới năng suất vật nuôi vàthậm chí gây chết do phá vỡ cân bằng thân nhiệt của gia súc Ngoài tác độngtrực tiếp thì tác động gián tiếp cũng không kém phần quan trọng thông qua sựphát triển của thảm thực vật, sự phát triển của tác nhân gây bệnh…
+ Đất và nước: có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển củagia súc thông qua sự phát triển của thảm thực vật, nguồn nước uống
- Môi trường sinh học
+ Thực vật (Flora): cây trồng là nguồn thức ăn quan trọng đối với giasúc Chất lượng của cây trồng sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới năng suất vật nuôi.Một số loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao đã được phát triển nhằm nângcao năng suất chăn nuôi, hay sự kết hợp các cây họ đậu và cây hoà thảo nhằmđáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi đang rất phổ biến
+ Động vật (Fauna): ở đây đề cập chủ yếu đến động vật ký sinh hay vậttruyền mầm bệnh (các loài hút máu như côn trùng, ve là những tác nhântruyền bệnh chính) Chăn nuôi bò sữa đã gặp phải vấn đề này rất nghiêmtrọng, nhất là ở các nước nhiệt đới với những bệnh ký sinh trùng đường máu
- Môi trường kinh tế – xã hội
+ Quyền sở hữu đất đai: thường có hai loại sở hữu cộng đồng (tập thể)
và sở hữu cá nhân Ở Việt Nam khái niệm chủ yếu được nhắc đến là quyền sửdụng Với các hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến quyền chăn thả, cũng như
Trang 28mức đầu tư khác nhau Đất thuộc quyền sử dụng của tư nhân thường được đầu
tư thâm canh tạo năng suất cao hơn và như vậy có điều kiện phát triển chănnuôi tốt hơn
+ Vốn: có thể là tự có hoặc nguồn vốn vay Nhìn chung việc tiếp cậnvốn vẫn là điều kiện quan trọng ảnh hưởng tới phương thức cũng như quy môchăn nuôi Nguồn vốn dồi dào sẽ có điều kiện đầu tư thâm canh hơn trong chănnuôi như hình thức chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn,đồng thời cũng mang lại những hiệu quả cao hơn do sử dụng con giống tốt,thức ăn chất lượng cao, quy trình vệ sinh, chuồng trại hợp lý…
+ Lao động: lao động là yếu tố quan trọng trong phát triển chăn nuôi,nhất là tại những nước phát triển thì sự thiếu hụt thường xuyên xảy ra Laođộng được đề cập tới không chỉ số lượng mà cả chất lượng thông qua trình độkhoa học kỹ thuật Lực lượng lao động trong chăn nuôi, chăn nuôi thâm canhquy mô lớn lại càng yêu cầu chất lượng cao Hiện tại lao động chăn nuôi tạiViệt Nam còn ít được chú trọng đến việc đào tạo tay nghề một cách chínhquy, có hệ thống (qua trường lớp) Đồng thời khi chăn nuôi quy mô lớn thìviệc sử dụng máy móc lại càng nhiều và điều đó cũng đòi hỏi người lao độngcàng phải có tri thức cao hơn
+ Năng lượng: nông nghiệp nói chung hay chăn nuôi nói riêng là thựchiện việc chuyển hoá năng lượng thành dạng có ích cho con người (thức ăn, sợi,sức kéo…) Có rất nhiều dạng năng lượng khác nhau như năng lượng mặt trời,sức người, súc vật và năng lượng hoá thạch Ở đây chủ yếu đề cập đến năng lượnghoá thạch Chức năng của nguồn năng lượng này trong chăn nuôi như sau:
- Sử dụng làm đất, vận chuyển
- Xây dựng chuồng trại, sưởi ấm
- Sản xuất thức ăn công nghiệp
- Phục vụ cơ giới hoá chăn nuôi
Trang 29- Sản xuất phân, thuốc hoá học phục vụ cho phát triển cây trồng…Nói chung các cơ sở chăn nuôi càng hiện đại thì nguồn năng lượng nàyđược sử dụng ngày càng nhiều cho nên tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nôngnghiệp ở các nước phát triển thường thấp hơn so với các nước đang phát triển.
+ Cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng được đề cập tới ở đây bao gồm rất nhiềuyếu tố như hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống thông tin, nguồn nước,các cơ sở bảo dưỡng máy móc, dịch vụ thú y, các điều kiện tiếp cận tín dụng,
cơ sở thụ tinh nhân tạo, thị trường…Các điều kiện này ảnh hưởng rất lớn đếnphát triển chăn nuôi thông qua dịch vụ cung cấp đầu vào, đầu ra, sự tiếp cận vớicác thông tin (khoa học kỹ thuật, thị trường) và có ảnh hưởng trực tiếp đến pháttriển đàn gia súc thông qua dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, nguồn thức ăn thôxanh… Đương nhiên sự phát triển các cơ sở hạ tầng chịu ảnh hưởng rất lớn bởicác chính sách liên quan
+ Thị trường: thị trường luôn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đếnphát triển chăn nuôi thông qua nguồn cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra,nhất là khi chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá Khi cònsản xuất tự cấp, tự túc thì nguồn đầu vào rất hạn chế, chủ yếu sử dụng nhữngnguồn sẵn có của cơ sở, và tương tự như vậy, sản phẩm đầu ra còn ở mứckhiêm tốn chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nông hộ Chuyển lên sản xuất hànghoá số lượng đầu vào, đầu ra rất lớn và cơ sở sản xuất ngày càng phụ thuộcvào thị trường nhiều hơn Đồng thời ta còn thấy thị trường được tổ chức ngàycàng chặt chẽ hơn, lúc đầu còn có nhiều người mua và bán, và các sản phẩmđầu vào và đầu ra được đưa đến cũng như đưa đi xa hơn, và số người tham giavào các kênh cung cấp và phân phối cũng trở lên ít hơn thông qua các công ty
đa quốc gia Ngoài ra mức độ ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất cũng ngàycàng lớn hơn khi có những biến động trên thị trường không những ở trongnước mà còn có thị trường quốc tế Sự thay đổi giá thịt lợn trong những năm
Trang 30vừa qua là một thí dụ điển hình tác động đến sự phát triển chăn nuôi lợn ởViệt Nam thông qua sự biến động giá cả trong nước, việc xuất khẩu thịt…
Các yếu tố tín ngưỡng
Các yếu tố văn hoá và tín ngưỡng cũng có ảnh hưởng đến sự phát triểnchăn nuôi Đạo hồi là một ví dụ, họ kiêng thịt lợn và sử dụng thịt cừu rấtnhiều vào các dịp lễ hội Từ đó dẫn đến giá thịt cừu thường rất cao và hầu nhưkhông phát triển chăn nuôi lợn ở nước này Còn tại Ấn Độ, bò rất ít được giếtthịt ở một số nước châu Mỹ La – Tinh thì số lượng đàn gia súc được coi làmột yếu tố để phân biệt đẳng cấp xã hội (Vũ Đình Tôn, 2006) [21]
2.1.3.3 Nghiên cứu và chẩn đoán hệ thống chăn nuôi
Trong tiến hành nghiên cứu hệ thống nông nghiệp nói chung và hệthống chăn nuôi nói riêng thì việc chẩn đoán và hiểu rõ các nhân tố làm trởngại hoặc giới hạn phát triển sản xuất trước khi nghiên cứu thành phần kỹthuật rất quan trọng Hoạt động chẩn đoán bao gồm rà soát lại số liệu có sẵn,phỏng vấn, quan sát hoặc từ những thí nghiệm kiểm chứng Qua đó, thông tinthu thập được và phân tích để nhận ra nguyên nhân gây ra trở ngại một cách
rõ ràng trước khi chọn lựa giải pháp kỹ thuật để cải tiến hệ thống
Cơ sở tiến hành nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi
Những giải pháp sử dụng để nghiên cứu các hệ thống chăn nuôi đã thừahưởng được những tiến bộ về tiếp cận hệ thống trong lĩnh vực khác
Phương pháp này cho phép đổi mới, bổ sung các tiếp cận cục bộ Tuynhiên tiếp cận hệ thống không phải là phương pháp đối lập, tách rời mà chủyếu là nó bổ sung với tiếp cận cục bộ cổ điển
Các vấn đề cần tập trung trong nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi
- Tập trung vào con người – tác nhân trung tâm của hệ thống
+ Hệ thống quản lý hay điều hành: là nơi hình thành lên những mục tiêu,các thông tin về môi trường và về cấu trúc và sự vận hành của hệ thống Đó là
Trang 31các dạng và các thể thức tổ chức cũng như sự huy động các phương tiện sản xuất
và các quyết định quản lý (huy động sử dụng đất đai, lao động và vốn sẵn có)
+ Các hệ thống kỹ thuật sinh học của sản xuất: nơi hình thành các quátrình sản xuất và phương thức chăn nuôi cho phép đạt được các mục tiêu vàchiến lược của người sản xuất
Từ các thông tin thu thập được về khía cạnh kỹ thuật, sinh học đã giúpngười chăn nuôi đưa ra các quyết định sản xuất thông qua các chiến lược,sách lược và các thực tiễn Như vậy chỉ có tiến hành phân tích sự tương tácgiữa các quyết định và các điều kiện kỹ thuật thì mới cho phép nhận ra đượccác điểm mạnh cũng như các điểm yếu của hệ thống
Như vậy hệ thống chăn nuôi trước hết là một tổng thể được điều hànhvới vai trò chủ yếu là con người hay cộng đồng Do vậy, nghiên cứu về hệthống chăn nuôi sẽ tập trung chủ yếu vào hệ thống điều hành do một tác nhânhay một nhóm tác nhân điều khiển Quan tâm đến yếu tố con người, tức đếnchăn nuôi, một mặt là gắn với khoa học nhân văn, nhưng đồng thời cũng quantâm đến mục đích chủ yếu của những nghiên cứu này, đó là tham gia vào sựphát triển Để có thể làm tốt được công việc này cần phải dựa trên sự hiểu biếtsâu sắc về chính các tác nhân và sự huy động của họ Điều đó được đánh giáthông qua các chiến lược, sách lược và thực tiễn của các tác nhân
Dựa trên quan điểm này thì các nghiên cứu về các thực tiễn của ngườichăn nuôi không chỉ để biết được sự đa dạng, mà cần phải hiểu được các yếu tốquyết định và đánh giá các tác động của nó Phân tích các thực tiễn của các tácnhân là phục vụ cho công tác phát triển Các thực tiễn chăn nuôi là những cáimang tính cá nhân của những người chăn nuôi ta có thể quan sát được Nhữngthực tiễn này có thể cho chúng ta biết được những dự kiến và những cản trởcủa những hộ liên quan
- Tiến hành nghiên cứu đa ngành
Tiếp cận tổng thể là quan tâm chủ yếu đến các mối tương tác hơn là các
Trang 32yếu tố cấu trúc Đó chính là sự quan tâm đến các đặc điểm về sự vận hành củamột hệ thống chăn nuôi hơn là quan tâm đến cấu trúc của hệ thống Nó có tácdụng giúp cho sự phát triển trong tương lai, nhận dạng được các bế tắc ở hệthống cung cấp thức ăn, hệ thống đất đai hay việc tổ chức xã hội của nhữngngười chăn nuôi.
Việc nghiên cứu các tương tác này trong hệ thống chăn nuôi là nhằmhiểu được và giải thích được các mối quan hệ nhân quả Khác với việc phântích chủ yếu tập trung vào năng suất, ở đây chúng ta quan tâm nhiều hơn đếncác thực tiễn chăn nuôi, việc quản lý các nguồn lực, việc tổ chức hoạt độngchăn nuôi và các phương thức tạo ra giá trị cho hệ thống Đồng thời các yếu
tố về bệnh tật, thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng được đề cập tới
Nghiên cứu hệ thống tập trung vào phối hợp các chuyên ngành khácnhau, nó cho phép thực hiện chẩn đoán tổng thể và phân cấp các cản trở chủyếu trong một môi trường nhất định
Chăn nuôi thường gắn vào các hệ thống sản xuất hỗn hợp Cho nêntrước hết cần đánh giá các kết hợp của “tiểu hệ thống chăn nuôi ” trong mộtđơn vị sản xuất Vì vậy cần có sự trao đổi giữa các nhà kinh tế, các nhà nônghọc và các nhà chăn nuôi
- Tiến hành nghiên cứu trên các quy mô, khác nhau
Quy mô quan sát nghiên cứu đối với người chăn nuôi, đó là vật nuôi,đàn gia súc, quần thể kết hợp với đơn vị sản xuất, cộng đồng, vùng… Đồngthời kết hợp cả các thời gian khác nhau (quan sát hàng ngày, hàng tuần, hàngtháng, hàng năm)
Việc quan sát các nghiên cứu trên các quy mô khác nhau rất quan trọng
để có thể hiểu được hiện tượng nghiên cứu bởi vì các cấp độ có quan hệ vớinhau Việc quan sát cấp độ này có thể tìm ra câu giải thích cho cấp độ khác.Các cấp độ quan sát và những mục tiêu nghiên cứu ưu tiên ở cấp độ khácnhau (Vũ Đình Tôn, 2006) [21]
Trang 332.2 Tình hình nghiên cứu hệ thống chăn nuôi trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Anh là nước tiến hành công nghiệphoá sớm nhất Khi đó, người ta suy nghĩ một cách giản đơn rằng trong nền kinh
tế hàng hoá, nông nghiệp cũng phải xây dựng như công nghiệp theo hướng tậptrung quy mô lớn mà quên mất một đặc điểm cơ bản của nông nghiệp khác vớicông nghiệp là nó tác động vào sinh vật (vật nuôi, cây trồng) và điều kiện đókhông phù hợp với tình hình sản xuất tập trung quy mô lớn
Chính C Mác lúc đầu cũng có những suy nghĩ như vậy nhưng về cuốiđời ông đã phải nhận định lại: ngay ở nước Anh với nền công nghiệp pháttriển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lớn hơn không phải là các xí nghiệpnông nghiệp với quy mô lớn mà là trang trại gia đình không dùng lao độnglàm thuê (Dẫn theo Hoàng Tuấn Hiệp, 2000) [5]
Hệ thống nông nghiệp dùng sức khéo, kết hợp giữa trồng trọt và chănnuôi, trong đó công nghiệp giữ vai trò cung cấp thực phẩm và sức kéo đã làmtăng năng suất lao động lên gấp 2-3 lần Với hệ thống này đất đai được khai thác
và phục hồi độ màu mỡ trở lại nhờ được bón phân chuồng (hệ thống chăn nuôikết hợp trồng trọt)
2.2.1.1 Phân loại các hệ thống chăn nuôi trên thế giới
Theo một số tác giả (Ruthenberg, 1980; Jahnke, 1982; FAO, 1994; Deboer, 1992; FAO, 1996) [41], [35], [30], [34], [31] cho rằng hầu hết các nôngtrại không được xếp loại theo các tiêu chuẩn về số lượng gia súc, những tiêuchuẩn được xếp các trường hợp vào cũng một nhóm chủ yếu dựa vào dạngthức của hệ thống (sơ đồ 2.4)
Tiêu chuẩn phân loại được giới hạn bởi ba tiêu chuẩn là: tương quanvới trồng trọt, với đất và vùng sinh thái Ngoài ra nhóm các hệ thống khôngphụ thuộc nhiều vào đất được chia nhỏ thành hai loại: động vật nhai lại không
Trang 34phụ thuộc nhiều vào đất và động vật dạ dày đơn không phụ thuộc nhiều vàođất Như vậy có 11 loại hệ thống chăn nuôi.
Hệ thống chăn nuôi không phụ thuộc nhiều vào đất (LL)
Các nước phát triển có một nền sản xuất thâm canh không phụ thuộcnhiều vào đất, sản xuất hơn một nửa tổng sản phẩm thịt toàn thế giới Châu Áđóng góp khoảng 20% và Tây Âu là 15% (FAO,1994) [30]
+ Hệ thống chăn nuôi động vật dạ dày đơn không phụ thuộc nhiều vào
đất (LLM)
Hệ thống này được xác định thông qua việc chăn nuôi các loài động vật
dạ dày đơn, chủ yếu là gia cầm và lợn Ở đó thức ăn cho gia súc được cungcấp từ bên ngoài nông trại, vì vậy những quyết định về việc sử dụng thức ăncho gia súc không phụ thuộc nhiều vào việc sản xuất thức ăn gia súc, tức làhai quá trình này độc lập với nhau và thông thường phân của gia súc được lợidụng để bón cho các cánh đồng trồng trọt hoặc bán Hệ thống này vì thế là mở
về mặt dinh dưỡng Hệ thống (LLM) này có ở các quốc gia thành viên củaOECD (tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế) chiếm 52% tổng sản lượng thịtlợn và 58% tổng sản lượng thịt gia cầm toàn cầu Đối với chăn nuôi lợn, Châu
Á đứng thứ 2 thế giới với 31% Đối với chăn nuôi gia cầm, Trung và Nam Mỹtheo sau với 15% tổng sản lượng thịt gia cầm toàn cầu
Ở khu vực Đông Nam Á hệ thống này là đặc biệt quan trọng.Khoảng 96% tổng sản lượng thịt lợn của Châu Á là từ các nước Trung Quốc,Việt Nam và Indonesia Trong đó Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia sản xuấtkhoảng 84% tổng sản lượng thịt gia cầm trên thế giới Điều này liên quan đến
sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế và tốc độ đô thị hoá Nhu cầu về thịt cácloài động vật dạ dày đơn được ước tính là tăng từ 2 đến 5 lần kể từ năm 1987đến năm 2006 từ 31 triệu tấn, và nhu cầu về trứng tăng từ 3 đến 10 lần từ 9triệu tấn Các hệ thống chăn nuôi lợn và gia cầm không phụ thuộc vào nhiềuđất đai sản lượng lớn ở các nước phát triển và một phần đóng góp là đang tănglên một cách nhanh chóng ở các nước đang phát triển, nhằm cung cấp một sốlượng lớn trong một thời gian ngắn
Trang 35+ Hệ thống chăn nuôi động vật nhai lại không phụ thuộc nhiều vào đất (LLR)
Hệ thống này được xác định thông qua việc chăn nuôi các loại độngvật nhai lại, cơ bản là trâu, bò mà thức ăn cho chúng chủ yếu được cung cấp từbên ngoài nông trại Hệ thống này tập trung chủ yếu ở một số vùng trên thếgiới Đối với trâu bò, hệ thống này chủ yếu ở Đông Âu và CIS (Khối liên hiệpquốc gia độc lập) và một số nước thành viên của OECD Các trang trại chănnuôi gia súc sinh sản thâm canh ở một số vùng thường là phụ thuộc vào đất đaihơn bởi vì nhu cầu cỏ khô ngon lại không vận chuyển một cách kinh tế từ nơi
xa đến Ở Châu Á các hệ thống chăn nuôi trâu bò thâm canh chủ yếu là trâu, bòsinh sản Ấn Độ và Pakistan (Jahnke, 1982) [35]
Hệ thống LLR chủ yếu là chăn nuôi các giống gia súc cao sản và conlai của chúng, không sử dụng các giống mà không đáp ứng được với các điềukiện “không có đất” Đối với sản xuất sữa, giống bò HF rõ ràng là quan trọngnhất Đối với bò thịt thì giống bò thịt của Anh lại chiếm ưu thế ở Mỹ, trong khicác giống bò kiêm dụng thể vóc lớn của Châu Âu được dùng để vỗ béo
Trang 36Nguồn: (FAO, 1996 [30]
Sơ đồ 2.4: Các loại hệ thống chăn nuôi trên thế giới
Hệ thống LLR là thâm canh cao về vốn dẫn tới đầu tư kinh tế lớn Nócũng thâm canh về thức ăn và lao động Chúng liên quan chặt chẽ tới các hệthống chăn nuôi cần đất thông qua việc cung cấp con giống Đây là một điểmkhác biệt quan so với các hệ thống chăn nuôi động vật dạ dày đơn không phụthuộc nhiều vào đất bởi vì ở các hệ thống này, con giống thay thế là đượccung cấp từ hệ thống có uy tín cùng loại
Hệ thống chăn nuôi phụ thuộc nhiều vào đất đai (LG)
+ Các hệ thống chăn nuôi ở vùng ôn đới và vùng núi cao nhiệt đới
Các hệ thống chăn nuôi
Các HTCN chuyên
Không phụ thuộc vào
Loài dạ dày đơn (thịt
và trứng) (LLM) Vùng ôn đới và vùng cao nhiệt đới (LGT) núi cao nhiệt đới Vùng ôn đời và
ẩm (LGH)
Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/
bán ẩm (MRH)
Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/bán
ẩm (MIH)
Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô càn (LGA)
Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô càn (MRA)
Vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô càn (MIA)
Trang 37Ở những vùng này hệ thống chăn thả dựa vào nền nhiệt độ thấp Ởvùng ôn đới có từ 1 – 2 tháng là nhiệt độ thấp, bằng nhiệt độ nước dưới biển(dưới 50C), hoặc ở những vùng núi cao nhiệt đới như ở Nam Mỹ và Đông Phi,các vùng ôn đời gồm: Nam Australia, Newzealand, và một phần của Mỹ,Trung Quốc và Mongolia
Các trường hợp điển hình là hệ thống chăn thả trên thảo nguyên ởMongolia, hệ thống chăn nuôi trâu bò sữa và cừu ở Newzealand, hệ thốngchăn nuôi bò sữa ở Bogota, Colombia và Nam Mỹ, hệ thống chăn thả lạc đà
và cừu ở Peru và Bolivia Các hệ thống chăn thả thâm canh cũng thấy ở vùngTây Bắc Pakistan, gồm nuôi cừu lấy lông và len (Nawaz và CS, 1986) [40]
+ Các hệ thống phụ thuộc đất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nóng
ẩm, bán ẩm
Các hệ thống này được xác định là hệ thống chăn thả thấy có ở cácvùng với hơn 180 ngày chăn thả trong giai đoạn sinh trưởng Nó có xu hướngtập trung hơn ở các vùng bán ẩm, nhất là các vùng mà việc tiếp cận với thịtrường gặp nhiều khó khăn hoặc vì các lý do nông học, sản xuất trồng trọt bịgiới hạn Hệ thống loại này thấy có hầu hết ở các vùng đất thấp nhiệt đới vàcận nhiệt đới thuộc Nam Phi: Colombia, Venezuela, Brazil Hệ thống chăn bòkiêm dùng sữa ở vùng thấp của Mexico, Argentina cũng là những trường hợpđiển hình của hệ thống này Ngoài Châu Mỹ La Tinh ra, hệ thống này cũng làquan trọng ở Australia bởi vì phong phú về nguồn lực đất đai ở đó (vì dân số
ở đây ít)
Tính trên toàn thế giới, hệ thống LGH này chiếm khoảng 190 triệu contrâu bò, chủ yếu là giống bò Zebu ở các vùng ẩm và bán ẩm Trâu cũng là mộtloài phổ biến, ngoài ra cừu lấy lông ở Châu Phi và dê lùn thường được nuôivới mục đích tiêu dùng tại chỗ Hệ thống LGH sản xuất ra xấp xỉ 6 triệu tấn thịt
Trang 38bò và thịt bê và khoảng 11 triệu tấn sữa bò tính trên toàn thế giới (FAO, Carlossere’ and Henning, Jan Groenewold, 1996) [31] Trong đó các vùng quantrọng, sản xuất chủ yếu là Trung và Nam Mỹ Hệ thống này mang tính địnhhướng thị trường.
+ Các hệ thống chăn nuôi phụ thuộc vào đất vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khô cằn/bán khô cằn (LGA)
Hệ thống này được xác định là hệ thống phụ thuộc vào đất đai ở nhữngvùng nhiệt đới và cận nhiệt đới với khoảng thời gian sinh trưởng của câytrồng là nhỏ hơn 180 ngày và nơi mà đất đai được sử dụng chủ yếu cho việcchăn thả các động vật nhai lại
Hệ thống này thấy có hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập nhau: thứ nhấtthấy ở vùng bán sa mạc Sahara ở Châu Phi và vùng Đông, Bắc Phi, nơi màchăn thả tạo thành một lối sống truyền thống của một bộ phận người dân vàthứ hai là thấy ở Australia, một vùng của miền tây nước Mỹ và Nam châu Phi,nơi mà nền kinh tế tư nhân lợi dụng đất công hoặc sở hữu riêng một nguồn lợilớn cho hàng loạt những mục đích chăn nuôi của mình
Ở các nước phát triển, hệ thống này cực kỳ thâm canh về lao động,trong khi ở Tây Á, Bắc Phi và vùng bán sa mạc Sahara của Châu Phi, chănnuôi theo lối chăn thả lại là cầu nối quan trọng nhất giữa chăn nuôi và cácngành sản xuất nông nghiệp khác (FAO, Carlos sere’ and Henning, JanGroenewold, 1996) [31]
Các hệ thống chăn nuôi hỗn hợp có mưa tự nhiên (MR)
+ Các hệ thống chăn nuôi ở vùng ôn đới và núi cao nhiệt đới (MRT)
Theo FAO, 1996 thì hệ thống này được xác định như là một sự kết hợpcủa hệ thống trồng trọt có đủ mưa và hệ thống chăn nuôi thuộc các vùng ônđới hay vùng núi cao nhiệt đới, nơi mà cây trồng đóng góp ít nhất là 10% tổnggiá trị sản phẩm nông trại
Trang 39Hệ thống MRT thấy có ở hai vùng sinh thái nông nghiệp đối lập của thếgiới đó là hệ thống phổ biến, cơ bản ở hầu hết Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Bắc
Á, về cơ bản nó bao trùm một vùng rộng lớn đất đai từ vĩ tuyến 30 độ Vĩ Bắctrở lên và còn thấy ở các vùng núi cao nhiệt đới thuộc Đông Phi (Ethiopia,Kenya, Uganda, Burundi, Rwanda) và ở vùng Andean của Mỹ La – Tinh(Ecuador, Mexico) Đặc điểm chung của những vùng này là nhiệt độ thấp trong
cả năm hoặc gần như cả năm Các hệ thống này sử dụng nhiều đầu vào từ bênngoài hơn và mở hơn
Ở hầu hết các hệ thống MRT vùng nhiệt đới, sản xuất kém thâm canhhơn, với những vật nuôi mang lại hàng loạt những chức năng trong các hệthống hỗn hợp như tăng thu nhập, tập trung dinh dưỡng cho cây trồng thôngqua phân bón, chất thải, sức kéo động vật, dự trữ tiền cho những việc độtxuất, giảm rủi ro trong sản xuất ngành trồng trọt
Trên quy mô toàn cầu, hệ thống MRT là nguồn cung cấp các sản phẩmđộng vật quan trọng nhất, cung cấp 39% tổng lượng thịt bò và dê, 24% tổngsản lượng thịt cừu và 63% tổng lượng sản xuất ra thế giới
+ Các hệ thống có mưa tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm/ bán ẩm (MRH)
Ở các khu vực ẩm và bán ẩm của vùng nhiệt đới, ngành chăn nuôi dựavào các hệ thống hỗn hợp Chúng ta có thể thấy các hệ thống này ở tất cả cácvùng nhiệt đới trên thế giới, chủ yếu ở các nước đang phát triển Một số vùng ởmiền Nam nước Mỹ là những vùng phát triển duy nhất loại hệ thống này Cáctrường hợp điển hình khác là hệ thống trồng lúa – nuôi trâu quy mô nông hộ ởNam Á hoặc trồng đậu tương - ngô - đồng cỏ rộng lớn với tính chất thương mạihoá ở Brazil
Hệ thống này bao gồm các vùng với điều kiện khí hậu đặc biệt khókhăn cho chăn nuôi (nhiệt độ và độ ẩm cao) Khả năng thích nghi của các
Trang 40giống gia súc ôn đới cao sản với những điều kiện khắc nghiệt này là rất kém.Thông thường ở các hệ thống nông hộ thuộc Châu Á và Châu Phi, các giốngđịa phương vẫn được nuôi phổ biến Ở châu Mỹ La tinh, giống bòBonstaurus, cừu và dê vẫn được nuôi từ cách đây 4 thế kỷ.
Các hệ thống MRH thuộc Châu Á và Châu Phi chăn nuôi đa mục tiêu vẫnchiếm ưu thế, thường chăn nuôi bao gồm cả mục đích lấy sức kéo, thịt và phân
Ở Trung và Nam Mỹ hệ thống này cung cấp thực phẩm cho thị trường nội địarộng lớn Thông thường ở Brazil nó cũng liên quan đến thị trường xuất khẩu(FAO, Carlos sere’ and Henning, Jan Groenewold, 1996) [31]
+ Hệ thống có mưa tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (MRA)
Hệ thống MRA là một hệ thống nông trại hỗn hợp ở các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, với thời gian sinh trưởng của cây trồng là dưới 180 ngày.Giới hạn chủ yếu của hệ thống này là khả năng sản xuất sơ cấp của đất đaithấp, do lượng mưa thấp Điều kiện càng khắc nhiệt thì tầm quan trọng củatrồng trọt trong hệ thống càng kém và chăn nuôi trở thành nguồn thu nhậpchính và là nguồn sống của người dân
Hệ thống này đóng vai trò quan trọng ở Tây Á và Bắc Phi, một số vùngthuộc Sanhel (Burkina, Faso, Nigeria), ở đa số các vùng thuộc Ấn Độ vàĐông Bắc Thái Lan, Đông Indonesia và nó không đóng vai trò quan trọng ởTrung và Nam Mỹ Với mức độ thâm canh thấp của hệ thống và chăn nuôi đamục đích, việc cải tiến giống vật nuôi bị giới hạn Tính trên toàn thế giới thì11% số trâu bò, 14% số cừu và dê là thuộc hệ thống này Các động vật nhailại nhỏ (cừu, dê) thường là quan trọng ở Tây Á, Bắc Phi thuộc các hệ thốngnày
Trong khi hệ thống này liên quan tới nhiều người hơn các hệ thốngchăn thả khác nhưng chỉ có 10% dân số thế giới là tham gia vào hệ thống này,51% trong số đó là ở Châu Á, chủ yếu là ở Ấn Độ và 24% là ở Tây Á và Bắc