1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán của các công ty phi tài chính niên yết trên thị trường chứng khoán việt nam

218 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 5,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

29 CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ THU NHẬP ĐẾN LỢI SUẤT CHỨNG KHOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT PHI TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM THEO HƯỚNG DỊ THƯỜNG .... Tuy nhiên quản trị thu nhập

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bản luận án này do tôi tự thực hiện và không vi

phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Trang 2

N g u y ễ n T h ị

N g ọ c

L a n

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ và giảng viên Viện NgânHàng- Tài Chính và Viện Sau Đại Học, Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân đãnhiệt tình hỗ trợ tác giả trong quá trình thực hiện luận án Đặc biệt, tác giáxin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể giáo viên hướng dẫn PGS.TS NguyễnĐình Thọ và TS Nguyễn Đức Hiển đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và độngviên tác giả trong quá trình làm luận án Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơnchân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, những người luôn sátcánh bên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng với nguồn lực hạn chế, luận ánkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự đóng góp

từ các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để tác giả tiếp tục hoàn thiện vấn đềnghiên cứu của luận án trong tương lai

Trân trọng cảm ơn! Tác giả

luận án

Nguyễn Thị Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Trang 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

3 1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 5

1.5.2 Phương pháp phân tích số liệu 5

1.6 Những đóng góp mới của luận án 5

1.7 Cấu trúc của luận án 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ THU NHẬP ĐẾN LỢI SUẤT CHỨNG KHOÁN

7 2.1 Tổng quan về quản trị thu nhập 7

2.1.1 Vai trò của dồn tích và dòng tiền trong đo lường hiệu quả hoạt động

của công ty 72.1.2 Các khái niệm cơ bản về quản trị thu nhập 72.1.3 Nguyên nhân của quản trị thu nhập 102.1.4 Các thước đo quản trị thu nhập 11

2.2 Lý thuyết đại diện và quản trị thu nhập 15

2.3 Tổng quan về tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất

chứng khoán tại các công ty niêm yết

Trang 6

khoán 182.3.4 Tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán

29

CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ THU NHẬP ĐẾN LỢI SUẤT CHỨNG KHOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT PHI TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM THEO HƯỚNG DỊ THƯỜNG 46

3.1 Xây dựng giả thuyết 46

Trang 7

3.1.1 Hiện tượng kém nhất quán trong dự báo thu nhập tương lai của dồn

tích/quản trị thu nhập 46

3.1.2 Hiện tượng dị thường dồn tích 47

3.2 Mẫu nghiên cứu

49 3.3 Phương pháp nghiên cứu 50

3.3.1 Phương pháp bình phương nhỏ nhất(OLS) 503.3.2 Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effect-GLS) và mô hình tác

động cố định (Fixed FEM) 51

efect-3.4 Đo lường các biến 51

3.4.1 Đo lường các biến về dồn tích và quản trị lợi nhuận

513.4.2 Đo lường lợi suất chứng khoán và lợi suất phụ trội

54

3.5 Kiểm định khả năng dự báo thu nhập tương lai của quản trị thu

nhập 56

3.5.1 Mô hình kiểmđịnh 56

3.5.2 Thống kê mô tả 56

3.5.3 Phân tích kết quả nghiên cứu 59

3.5.4 Kiểm định mô hình 62

3.6 Kiểm định hiện tượng dị thường dồn tích trên thị trường

chứng khoán Việt Nam

67

3.6.1 Mô hình kiểmđịnh 67

3.6.2 Phân tích kếtquả 68

3.7 Xây dựng chiến lược đầu tư dựa trên hiện tượng dị thường dồn

tích 74 CHƯƠNG 4: QUẢN TRỊ THU NHẬP, NHÂN TỐ RỦI RO TRONG MÔ

HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN 76

Trang 8

4.1 Xây dựng giả thiết 76

4.2 Phương pháp nghiên cứu 76

4.2.1 Chọn mẫu 76

4.2.2 Đo lường cácbiến 78

4.3 Phân tích kết quả

85

4.3.1 Thống kê mô tả 85

4.3.2 Phân tích kếtquả 86

4.4 Phân tích robust 92

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của luận án 97

5.1.1 Tóm tắt kết quả của luận án:

97

5.1.2 Các hạn chế của luận án 99

5.1.3 Gợi ý các hướng nghiên cứu 99

Trang 9

5.2 Các hàm ý chính sách 100

5.2.1 Các hàm ý chính sách về quản trị thu nhập

1005.2.2 Các hàm ý chính sách về tăng cường tính hiệu quả thông tin của

thị trường chứng khoán Việt Nam 101

5.2.3 Các hàm ý chính sách về tăng cường độ tin cậy của thông tin báo cáo

tài chính 103

5.3 Các kiến nghị

108 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

109 TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 10

NYSE Sàn chứng khoán New

York PIN Sắc xuất giao dịch

thông tin PPI Chỉ số giá

sản xuất

SGDCK Sở giao dịch chứng

khoán

SMB Nhân tố quy

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phân biệt giữa quản trị thu nhập và gian lận trong báo cáo tài

chính 9Bảng 2.2: Điều kiện niêm yết tại SGDCK Hồ Chí Minh và SGDCK Hà

Nội 16Bảng 2.3: Tóm tắt công trình nghiên cứu về khả năng dự báo thu nhập

tương lai của các thành phần trong thu nhập hiện tại

32

Bảng 2.4: Tóm tắt các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị

thu nhập và lợi suất chứng

khoán 36

Bảng 3.1: Tổng hợp các công ty trong mẫu 49Bảng 3.2: Thống kê mô tả các tham số trong mô hình ước lượng EM

53Bảng 3.3: Thống kê mô tả các biến độc lập trong mô hình ước lượng

EM 53Bảng 3.4: Thống kê mô tả các biến độc lập của mô hình 1 và mô hình 2

57Bảng 3.5: Trung bình absEMK, EMK (+), EMK (-) phân theo ngành từ năm

2007đến 2014

59Bảng 3.6: Kết quả hồi quy OLS của mô hình 1 và mô hình 2

60Bảng 3.7: Hồi quy OLS với robust standarderror 61Bảng 3.8: Hồi quy GLS và FEM 62

Bảng 3.9: Kiểm định Breusch-Pagan 65

Bảng 3.10: Kiểm địnhWooldridge 65

Bảng 3.11: Kiểm định đa cộng tuyến bằng hệ số VIF

65Bảng 3.12: Kết quả hồi quy OLS và FEM với lệnh cluster của mô hình 1

66Bảng 3.13: Kết quả hồi quy OLS và FEM với lệnh cluster của mô hình 2

66Bảng 3.14: Ma trận tương quan giữa các biến số của mô hình 3,4,5 và

6 69Bảng 3.15: Thống kê mô tả các biến trong môhình 69Bảng 3.16: Kết quả hồi quy FEM, OLS và GLS của mô hình

3 70

Trang 13

Bảng 3.17: Kết quả hồi quy FEM, OLS và GLS của mô hình

4 70Bảng 3.18: Kết quả hồi quy OLS, GLS FEM mô hình

5 70Bảng 3.19: Kết quả hồi quy OLS, GLS, FEM của mô hình 6

71Bảng 3.20: Kiểm định Pangan Lagrangian multiplier và Hausman

71Bảng 3.21: Ước lượng OLS, FEM và GLS của mô hình 3, mô hình 4 (Jones,

1991) 72Bảng 3.22: Ước lượng OLS, FEM, GLS của mô hình 3 và mô hình 4

(ModifiedJones, 1995)

73Bảng 3.23: Lợi suất phụ trội trung bình của 06 danh mục phân theo mức độ

quản trịthu nhập và danh mục phòng vệ từ năm 2007-

2015 75

Bảng 4.1: Tổng hợp các công ty trong mẫu 77Bảng 4.2: Thống kê mô tả của lợi suất thị trường từ năm 2007 đến năm 2015

79

Trang 14

Bảng 4.3: Lãi suất trúng thầu bình quân năm của trái phiếu chính phủ

Bảng 4.10: Kiểm định tự tương quan của phương trình 7 bằng phương pháp

Breusch- Godfrey (Prob > chi2)

với 06 danh mục Size-BM và 08 danh mục

Bảng 4.15: Kết quả hồi quy OLS của phương trình 7 và phương trình 8 với

08 danh mục phân theo ngành

94

Bảng 4.16: Kết quả hồi quy phương trình 9 và phương trình 10 của 06 danh

mục phân theo quy mô và BM và 08 danh mục phân theo

ngành 95

Bảng 5.1: Tóm tắt giả thiết nghiên cứu và kết quả của luận án

97

Trang 15

số 63Hình 3.5: Kiểm định tuyến tính của các biến độc lập

64

Trang 16

và đo lường mức độ tạo giá trị của doanh nghiệp Đối với thị trường tài chínhnói chung, nó góp phần làm tăng tính hiệu quả và do đó cải thiện chức năngphân bổ nguồn lực của thị trường Thị trường hiệu quả khi lợi suất của các tàisản giao dịch trên đó phản ánh sát mức lợi suất cân bằng của chúng và đểxác định được mức lợi suất cân bằng này, cần có một mô hình định giá tài sảnchuẩn.

Chính vì tầm quan trọng của định giá tài sản nên rất nhiều mô hình đãđược đề xuất ví dụ mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) dựa trên nhân tố rủi rothị trường, (Lintner, 1965; Sharpe, 1964) mô hình 3 nhân tố (Fama vàFrech, 1993), mô hình 4 nhân tố (Carhart, 1997) bổ sung yếu tố độnglượng (momentum), mô hình nhân tố thanh khoản của (Pastor vàStambaugh, 2003) …Tuy nhiên, kết quả kiểm chứng các mô hình này đềucho thấy còn một lượng biến động lợi suất tương đối lớn chưa được chúng giảithích hết Có hai nguyên nhân được đưa ra cho hiện tượng trên đó là thịtrường không hiệu quả dẫn đến các dị thường hoặc mô hình định giá bị lỗi dothiếu các nhân tố rủi ro hợp lý Do đó, các nghiên cứu vẫn đang tiếp tục tìmhiểu để bổ sung và hoàn thiện các mô hình định giá

Lý luận cũng như thực tiễn về thị trường tài chính đều cho thấy thông tin

là một trong các cấu phần cơ bản trong sự vận hành của thị trường và bảnthân thông tin cũng là nguyên nhân dẫn tới nhiều vấn đề của thị trường, khiến

nó không thể hoạt động hiệu quả Trong đó, thông tin báo cáo tài chính là mộttrong những loại thông tin quan trọng nhất đối với nhà đầu tư Các nghiên cứutrước đây đã chỉ ra rằng thu nhập/lợi nhuận kế toán có liên quan mật thiết đếngiá thị trường của cổ phiếu (Barth và cộng sự, 2001) vì nhà đầu tư sử dụng sốliệu về thu nhập/lợi nhuận kế toán để ước lượng lợi suất trong tương lai (Choi

và cộng sự, 1997; Kallunki và Martikainen, 1997; Lev, 1989) Tuy nhiên

quản trị thu nhập - được định nghĩa là hành vi điều chỉnh báo cáo tài chính của nhà quản lý dẫn đến việc phản ánh thiếu chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của công ty nhằm che dấu các đối tác liên quan đến công ty (như cổ đông, chủ nợ ) hoặc

Trang 17

Lý thuyết đại diện (Jensen, 1986) đã chỉ ra rằng trong công ty cổphần luôn tiềm ẩn mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà điều hành, do đónhà điều hành có động cơ hành động vì lợi ích cá nhân thay vì lợi ích của cổđông Trong trường hợp này, nhà điều hành có động cơ quản trị thu nhập đểđiều chỉnh thực chất hoạt động của công ty vì một số mục đích khác thay vìmục tiêu là tối đa hóa giá trị cổ đông Do đó, thực tế quản trị thu nhập là vấn

đề rất phổ biến không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn ngay cả ở cácquốc gia phát triển nơi có môi trường đầu tư kinh doanh phát triển và minhbạch

Trong vài thập kỷ qua, hàng loạt vụ bê bối kế toán đã xảy ra trên khắpthế giới, điển hình là Enron, Healthsouth, Parmalat, Tyco, Worldcom vàXerox, dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho các nhà đầu tư Trọng tâm củacác vụ bê bối này đều liên quan đến quản trị thu nhập (Goncharov, 2005).Tại Việt Nam, hiện tượng thao túng báo cáo tài chính cũng diễn ra khá phổbiến, ví dụ trường hợp công ty cổ phần Dược Viễn Đông làm giả con dấu, vẽhợp đồng khống nhằm làm sai lệch báo cáo tài chính gây thiệt hại vô cùnglớn cho nhà đầu tư Công ty Tribeco, công ty Petrolimex, công ty cổ phầnQuốc Cường Gia Lai…có hiện tượng dấu lãi để chuyển lỗ một cách khá kínđáo và hợp pháp (Phạm Thị Bích Vân, 2013) Hơn nữa, hành lang pháp lý

và chuẩn mực kế toán của Việt Nam khá khác biệt và còn nhiều hạn chế sovới các quốc gia phát triển khác, do đó hiện tượng quản trị thu nhập ở ViệtNam sẽ mang tính đặc thù Chính vì những lý do trên tác giả cho rằng hướngnghiên cứu tác động của quản trị thu nhập tới lợi suất chứng khoán để từ đóxem xét khả năng đưa nhân tố rủi ro thông tin thu nhập báo cáo vào môhình định giá tài sản là một hướng nghiên cứu thích hợp và cần thiết kể cả vềmặt lý luận và thực tiễn

1.2 Mục tiêu nghiên

cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm kiểm định hiện tượng kém nhấtquán trong dự báo thu nhập tương lai của dồn tích và quản trị thu nhập để

Trang 18

từ đó có cơ sở

Trang 19

kiểm định tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán (hiệntượng dị thường dồn tích) Từ đó nghiên cứu và xem xét nhân tố quản trịthu nhập có phải là biểu hiện của rủi ro thông tin và có nên đưa vào mô hìnhđịnh giá tài sản tại Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên

cứu

Mục tiêu của luận án nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến khoảng trống nghiên cứu từ tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm:

- Thứ nhất, kiểm định hiện tượng “nhất quán của thu Earning persistence” tại thị trường chứng khoán Việt Nam?

nhập Thứ hai, tại các nước đang phát triển như Việt Nam liệu có tồntại hiện tượng dị thường dồn tích (acrual anomaly) không?

- Thứ ba, nếu tồn tại hiện tượng dị thường dồn tích thì chiến lượcphòng vệ mua danh mục có mức quản trị thu nhập thấp và bán danhmục có mức quản trị thu nhập cao có đem lại lợi suất phụ trội tươnglai không?

- Thứ tư, quản trị thu nhập có phải là một nhân tố rủi ro hợp lý vànên đưa vào mô hình định giá tài sản tại Việt Nam không?

Bằng việc trả lời câu hỏi nghiên cứu, tác giả sẽ giúp nhà quản lý trả lời các câu hỏi quản lý sau:

- Các giải pháp nhằm hạn chế hành vi quản trị thu nhập tại Việt Nam?

- Nếu tồn tại hiện tượng dị thường dồn tích tại Việt Nam và đây là mộtrủi ro hệ thống thì cần những giải pháp nào để ứng dụng mô hìnhđịnh giá phù hợp hơn cho thị trường chứng khoán Việt Nam?

- Nếu tồn tại hiện tượng dị thường dồn tích nhưng đây không phải làrủi ro hệ thống thì có những gợi ý gì cho nhà đầu tư và các nhàhoạch định những chính sách nào?

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên tác giả tiến hành kiểm định các giả thuyết sau:

- Chủ đề nhất quán trong dự báo thu nhập tương lai (earning

Trang 20

- Chủ đề dị thường dồn tích (accrual anomaly)

Trang 21

• H5: Tại Việt Nam dồn tích không điều chỉnh được có tương quan(-) với lợi suất và lợi suất phụ trội tương lai

• H6: Chiến lược đầu tư dựa trên mua danh mục có mức quản trịthu nhập thấp và bán (bán khống) danh mục có mức quản trịthu nhập cao giúp nhà đầu tư thu được lợi suất chứng khoán phụtrội trong tương lai

- Chủ đề nhân tố quản trị thu nhập trong mô hình định giá tài sản

• H7: Nhân tố quản trị thu nhập giải thích biến động lợi suất theothời gian của các danh mục phân theo quy mô và hệ số giá trị sổsách trên giá thị trường và các danh mục phân theo ngành

• H8: Nhân tố quản trị thu nhập giải thích biến động lợi suất theokhông gian của các danh mục phân theo quy mô và hệ số giá trị

sổ sách trên giá trị thị trường và các danh mục phân theo ngành

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Về không gian

Luận án tập trung nghiên cứu về quản trị thu nhập và tác động của quảntrị thu nhập đến lợi suất chứng khoán tại các công ty phi tài chính niêm yếttrên sàn chứng khoán Hà Nội và sàn chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh Docấu trúc của báo cáo tài chính của các công ty tài chính khác biệt so với cáccông ty trong ngành khác nên tác giả loại các công ty tài chính ra khỏi phạm

vị nghiên cứu của đề tài Tổng cộng đến năm

2015 có 536 công ty phi tài chính niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán tại Việt Nam

Về thời gian

Luận án tập trung phân tích dữ liệu của các công ty phi tài chính niêmyết trong thời gian 9 năm từ năm 2007-2015

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của quản trị thu nhậpđến lợi suất chứng khoán của các công ty niêm yết phi tài chính trên thịtrường chứng khoán Việt Nam

Trang 22

Để nghiên cứu chủ đề về độ nhất quán trong dự báo thu nhập tương lai

và hiện tượng dị thường dồn tích, tác giả chọn mẫu là các công ty niêm yếttrên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, ngoại trừ các ngànhtài chính, bất động sản, ngân hàng Theo Fama và Frech (1993), các ngànhnày có cấu trúc báo cáo tài chính khác và có tỷ lệ đòn bẩy cao so với cácngành còn lại do đó nên loại khỏi mẫu nghiên cứu Tổng số lượng công tytrong mẫu nghiên cứu là 520 công ty với số quan sát là

2.822 Thời gian nghiên cứu từ năm

2007-2015

Đối với chủ đề nhân tố quản trị thu nhập (AQF) trong mô hình định giátài sản, do nhân tố AQF được đo lường tại năm t-1 nên để nghiên cứu trongthời gian từ năm

2007-2014, tác giả tiến hành thu thập số liệu báo cáo tài chính và giá của cáccông ty từ năm 2006-2015 với tổng số quan sát là 40.066 lợi suất theotháng Các công ty trong mẫu được chia thành 6 danh mục theo quy mô và

hệ số BM và 8 danh mục theo ngành (theo tiểu chuẩn ICB cấp 1) Mỗi danhmục có 108 quan sát theo chuỗi thời gian

Số liệu giá chứng khoán và báo cáo tài chính được tác giả thu thập từ cơ

sở dữ liệu của stoxplus Số liệu về lợi suất phi rủi ro được tác giả thu thập từkho bạc nhà nước và cơ sở dữ liệu của stoxplus

1.5.2 Phương pháp phân tích số

liệu

- Đối với chủ đề về “earning persistence” và “accrual anomaly” tácgiả dùng kiểm định bình phương nhỏ nhất (OLS), tác động cố định(FEM) và tác động ngẫu nhiên (GLS) làm phương pháp phân tích sốliệu

- Đối với chủ đề nhân tố quản trị thu nhập trong mô hình định giá,

áp dụng phương pháp của Mouselli và cộng sự (2013) tác giả dùngphương pháp hồi quy hai bước trên nền dữ liệu chéo của (Fama vàMacBeth, 1973) để kiểm định việc giải thích biến động lợi suất chứngkhoán của danh mục theo thời gian và không gian của nhân tố AQF Để

từ đó có cơ sở kiểm chứng nhân tố AQF có phải là nhân tố rủi ro hệ thống

và có nên đưa vào mô hình định giá không?

1.6 Những đóng góp mới của luận

án

Trang 23

- Thứ nhất luận án góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm tại ViệtNam về hai vấn đề vốn chưa được quan tâm nhiều hiện nay đó là: độnhất quán trong dự báo thu nhập tương lai của dòng tiền, dồn tích vàquản trị thu nhập; và hiện tượng dị thường dồn tích/quản trị thu nhập.Với mẫu nghiên cứu tương đối lớn

Trang 24

và toàn diện bao gồm 536 công ty niêm yết trong thời gian từ năm 2007-2015, luận án đã chứng minh được rằng

- Thứ hai, luận án nghiên cứu xem xét nhân tố quản trị thu nhập trong

mô hình định giá tài sản ở Việt Nam và các gợi ý cho các chiến lượcđầu tư cũng như định giá tài sản khi xem xét vấn đề quản trị thu nhập

- Thứ ba luận án tiến hành xây dựng danh mục đầu tư dựa trên đặc điểm

về quản trị thu nhập của các công ty niêm yết

Từ các đóng góp mới về mặt học thuật trên, luận án mang lại những đóng góp có giá trị cho nhà quản lý, cho xã hội như sau:

- Đưa ra các hàm ý chính sách nhằm hạn chế quản trị thu nhập, nângcao minh bạch thông tin và công bố thông tin trên thị trường chứngkhoán

- Đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao tính hiệu quả thông tin trên thị

trường chứng khoán, đặc biệt là các thông tin báo cáo tài chính

- Đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cáccông ty niêm yết, các nhà nghiên cứu, nhà thực tiễn và nhà đầu tư nhằmhạn chế hành vi quản trị thu nhập, tăng cường hành lang pháp lý để bảo

vệ nhà đầu tư, nâng cao việc minh bạch và công bố thông tin, tăngcường tính hiệu quả của thị trường chứng khoán

1.7 Cấu trúc của luận án

Cấu trúc của luận án được chia làm 05 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Giới thiệu luận án

- Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm tác động của quản trị

thu nhập đến lợi suất chứng khoán

- Chương 3: Nghiên cứu tác động của quản trị thu nhập đếnlợi suất chứng khoán tại các công ty niêm yết phi tài chính tạiViệt Nam theo hướng dị thường

- Chương 4: Quản trị thu nhập, nhân tố rủi ro trong mô hình địnhgiá tài sản tại Việt Nam

- Chương 5: Các hàm ý và kiến nghị

Trang 25

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ THU NHẬP

ĐẾN LỢI SUẤT CHỨNG KHOÁN

Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và thực nghiệm về tác động củaquản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán Nội dung chính của chương 2 đưa

ra các khái niệm về quản trị thu nhập, lợi suất chứng khoán, đồng thời trìnhbày các lý thuyết gốc liên quan đến vấn đề nghiên cứu Chương 2 cũng tậptrung làm nổi bật tổng quan thực nghiệm về vấn đề nghiên cứu chính của luận

án để từ đó nêu bật khoảng trống nghiên cứu và làm cơ sở lý thuyết cho cácchương tiếp theo

2.1 Tổng quan về quản trị thu nhập

2.1.1 Vai trò của dồn tích và dòng tiền trong đo lường hiệu quả hoạt động của công ty

Lợi nhuận sau thuế/thu nhập sau thuế là thước đo hiệu quả hoạt độngcủa công ty Tuy nhiên chỉ tiêu này lại được lập dựa trên cơ sở của kế toándồn tích Cơ sở kế toán dồn tích có nghĩa là các giao dịch kế toán được ghinhận tại thời điểm phát sinh chứ không phải tại thời điểm chi hoặc thu tiền Cơ

sở dồn tích giúp khắc phục nhược điểm của việc ghi nhận giao dịch dựa trênthời điểm thu/chi tiền đó là sự không phù hợp giữa thời điểm phát sinh giaodịch và thời điểm thực thu và chi tiền dẫn đến nếu dùng dòng tiền thực phátsinh trong kỳ làm thước đo hiệu quả thì không chính xác bằng thu nhập dodòng tiền thực phát sinh trong kỳ kế toán bỏ qua các thông tin hàm ý tạo radòng tiền trong tương lai Trong khi dòng tiền tương lai (chứ không phải làdòng tiền thực phát sinh trong kỳ kế toán) quyết định đến giá trị công ty

Do đó thu nhập bao gồm hai thành phần dòng tiền thực phát sinh trong

kỳ và dồn tích được coi là thước đo hợp lý hơn đối với hiệu quả công ty.Tuy nhiên dồn tích lại dễ bị tác động hay điều chỉnh bởi chú ý của bangiám đốc hơn dòng tiền Nếu nhà quản lý cố tình thao túng thông tin báocáo tài chính để thổi phồng lợi nhuận thông qua việc tác động vào thành phầndồn tích thì lúc này lợi nhuận/thu nhập sẽ không còn là thước đo đáng tincậy hiệu quả hoạt động của công ty nữa Thay vào đó, dòng tiền có thểđược coi trọng hơn trong việc đánh giá hiệu quả của công ty

2.1.2 Các khái niệm cơ bản về quản trị thu nhập

Theo lý thuyết có rất nhiều khái niệm được đưa ra về quản trị thu nhập

và thậm chí hiện nay vẫn chưa có sự đồng nhất về định nghĩa quản trị thunhập Healy (1985) và Schipper (1989) nhìn quản trị thu nhập dưới góc độvừa tích cực vừa tiêu cực khi

Trang 26

ông cho rằng “quản trị thu nhập là hành vi can thiệp có chủ đích vào quá trình lập báo cáo tài chính nhằm thu được lợi ích riêng cho cổ đông hoặc nhà quản lý” Dưới góc độ tích cực, Schipper (1989) cho rằng thu nhập được

coi là một trong các tín hiệu được sử dụng để đưa ra các quyết định nhất định

và quản trị thu nhập được sử dụng để truyền tín hiệu của ban giám đốc đếnnhà đầu tư về kỳ vọng của họ đối với dòng tiền trong tương lai của doanhnghiệp Hay nói cách khác, quản trị thu nhập đơn thuần được coi là kênhtruyền dẫn thông tin (informative earning management) Do đó, cổ đôngđược hưởng lợi vì quản trị thu nhập được sử dụng để truyền tín hiệu về thôngtin riêng từ ban giám đốc đến cổ đông hoặc làm giảm chi phí chính trị (Watts

và Zimmerman, 1986) Dưới góc nhìn tiêu cực, quản trị thu nhập được coi làbất cứ hành vi nhào nặn (manipulation) nào có thể ảnh hưởng đến báo cáo tàichính thông qua việc điều chỉnh con số về thu nhập hoặc các số liệu kế toánkhác Quản trị thu nhập có thể được coi là hợp pháp (được chuẩn mực kếtoán cho phép) hoặc bất hợp pháp (accounting frauds-gian lận kế toán).Tuy nhiên góc nhìn tích cực trên của Schipper (1989) cũng gây nhiều tranhcãi khi các nhà nghiên cứu cho rằng hành vi quản trị thu nhập chỉ thực sựmang lại lợi ích cho cổ đông khi các điều chỉnh có mục đích của ban giám đốcgóp phần giúp báo cáo tài chính phản ánh một cách trung thực và chính xáchơn sự khác biệt giữa tình hình tài chính (được phản ánh thông qua số liệu kếtoán) và hiệu quả hoạt động của công ty Do đó Healy và Wahlen (1998) đã

đưa ra một định nghĩa khác nghiêng về góc nhìn tiêu cực “Quản trị thu nhập được định nghĩa là hành vi điều chỉnh báo cáo tài chính của nhà quản lý dẫn đến việc phản ánh thiếu chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của công ty

và sự hiểu lầm của các đối tác liên quan (như cổ đông, chủ nợ ) về hiệu quả hoạt động của công ty hoặc gây ảnh hưởng đến kết quả các hợp đồng mà các kết quả này phụ thuộc vào số liệu kế toán” Theo cách nhìn này, rõ

ràng quản trị thu nhập là một hành vi tiêu cực và hành động điều chỉnhbáo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin riêng cho nhà đầu tư (theo quanđiểm của Schipper) không được coi là hành vi quản trị thu nhập nữa Địnhnghĩa này được bắt nguồn từ việc coi quản trị thu nhập là một hành vi cơhội (opportunistic earning management) khi nhà quản lý vì lợi ích củamình chủ ý làm cho nhà đầu tư hiểu sai lệch về hiệu quả hoạt động kinhdoanh thực sự của doanh nghiệp Hàng loạt các công trình nghiên cứu thựcnghiệm đã ủng hộ cho định nghĩa này như công trình của Burns và Kedia(2006); Cohen và cộng sự (2004) và Cheng và cộng sự (2010) đã tìm thấymối quan hệ tương quan dương giữa việc sử dụng dồn tích có thể điểu chỉnhđược (discretionary accruals)- một thước đo của quản trị thu nhập- với tỷ lệlương thưởng của ban giám đốc

Trang 27

Dechow và Skinner (2000) phê phán cả hai định nghĩa trên vì các địnhnghĩa trên chưa phân biệt được giữa quản trị thu nhập và gian lận (fraud) báo

cáo tài chính Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) “gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính” Theo Hiệp hội

các nhà điều tra gian lận (The National Association of Certified Fraud

Examiners), gian lận được định nghĩa là “hành vì cố ý làm sai lệch hoặc bỏ sót các thông tin, số liệu kế toán trọng yếu dẫn đến sự hiểu nhầm, sai lệch của người sử dụng thông tin báo cáo tài chính” Do đó, Dechow và Skinner

(2000) đã phân biệt giữa quản trị thu nhập và gian lận báo cáo tài chính nhưsau:

Bảng 2.1: Phân biệt giữa quản trị thu nhập và gian lận trong báo

cáo tài chính Chuẩn mực kế toán cho

phép (theo GAAP-chuẩn mực kế toán

Mỹ)

Trang 28

13

Trang 29

2.1.3 Nguyên nhân của quản trị thu nhập

2.1.3.1 Nguyên nhân từ thị trường chứng khoán

Mối quan hệ giữa lợi nhuận báo cáo và lợi suất cổ phiếu là nguyênnhân dẫn đến việc ban giám đốc có thể có các hành động quản trị thunhập Các nghiên cứu trước đây về loại nguyên nhân này tập trung vào 02nhóm: (1) nguyên nhân đáp ứng kỳ vọng thị trường của nhà quản lý; (2)nguyên nhân làm đẹp lợi nhuận trước các đợt phát hành chứng khoán ra côngchúng hay mua lại cổ phiếu quỹ

- Nguyên nhân đáp ứng kỳ vọng thị trường của nhà quản lý: Nhà đầu tưthường đầu tư dựa vào dự báo của các chuyên viên phân tích trên thịtrường chứng khoán Do đó việc làm đẹp báo cáo tài chính để đápứng kỳ vọng /dự báo của các chuyên viên phân tích được coi là sẽgiúp cổ phiếu của công ty thu được lợi suất cao hơn (Bartov vàMohanram, 2004) trong khi các công ty không đáp ứng được dự báocủa chuyên viên phân tích hay có kết quả kinh doanh thấp hơn kỳvọng của thị trường được coi là một tín hiệu tiêu cực sẽ dẫn đến mứclợi suất cổ phiếu thấp Vì vậy, việc điều chỉnh thu nhập để đáp ứngđược dự báo của chuyên viên phân tích hay kỳ vọng thị trườngnhằm thu hút thêm nhiều nhà đầu tư được coi là một nguyên nhândẫn đến các hành vi quản trị thu nhập (Degeorge và cộng sự, 1999;Graham và cộng sự, 2005)

- Nguyên nhân làm đẹp thu nhập trước khi phát hành cổ phiếu racông chúng hay mua lại cổ phiểu quỹ: Các nghiên cứu gần đây cũngchỉ rằng các công ty khi phát hành chứng khoán lần đầu ra côngchúng thường chủ yếu dựa vào kết quả tài chính để xác định giá pháthành do không có thông tin giá cổ phiếu trong quá khứ Do đó,giám đốc của các công ty đại chúng có động cơ quản trị thu nhập trướckhi phát hành lần đầu ra công chúng để giá cổ phiếu được cao hơn(DuCharme và cộng sự, 2001) Các nghiên cứu thực nghiệm kháccũng tìm thấy bằng chứng của quản trị thu nhập khi công ty có pháthành thêm cổ phiếu và khi công ty mua lại cổ phiếu quỹ (Bens và cộng

sự, 2003)

2.1.3.2 Nguyên nhân từ hợp đồng lương thưởng cho ban giám đốc

Lương thưởng của nhà quản lý dựa trên kết quả kinh doanh của công ty

mà kết quả kinh doanh lại được đo lường bằng thước đo thu nhập qua số liệu kếtoán Do đó, nhà quản lý có động cơ quản trị thu nhập để nhận được mứclương thưởng cao hơn Khi chính sách lương thưởng cho nhà quản lý gắn liềnvới quyền chọn mua cổ phiếu, nhà quản lý sẽ có xu hướng quản trị thu nhập

để đẩy giá cổ phiếu lên cao nhằm có lợi cho mình Nhiều công trình nghiên

Trang 30

1111cứu khoa học trên thế giới đã tìm thấy bằng chứng

Trang 31

thực nghiệm của nguyên nhân này Healy (1985) đã chứng minh được mốitương quan mạnh giữa tỷ lệ dồn tích và mức độ thưởng của nhà quản lý quyđịnh trong hợp đồng lương thưởng Leuz và cộng sự (2003) đã chỉ ra rằng nếulương thưởng, quyền chọn mua cổ phiếu và các hình thức thưởng khác dựatrên thu nhập thì nhà quản lý càng có động cơ đánh bóng thu nhập báo cáo

Do đó, nảy sinh vấn đề bất cân xứng thông tin khi nhà quản lý đưa ra cácbáo cáo tài chính không đáng tin cậy Các nghiên cứu của Beneish và cộng

sự (2012) và Cheng và cộng sự (2010) đã tìm thấy mối liên hệ giữa quản trịthu nhập và giao dịch nội gián Bartov và Mohanram (2004) tìm thấy mốiliên hệ giữa quản trị thu nhập và chế độ lương thưởng bằng quyền chọn cổphiếu

2.1.3.3 Nguyên nhân từ hợp đồng vay

nợ

Chỉ số tài chính thường được dựa vào các điều khoản của khế ước vay

nợ để giám sát liệu rằng các điều khoản trong hợp đồng vay nợ có được duytrì hay bị phá vỡ Điều này có nghĩa là chính sách kế toán, số liệu kế toán làmột phần của quá trình tối đa hóa sự giàu có cho công ty, cho cổ đông, chonhà quản lý Vì vậy, sự giàu có của nhà quản lý có thể bị ảnh hưởng bởi bất kỳthay đổi nào trong chính sách kế toán Do đó, nhà quản lý có xu hướngquản trị thu nhập để làm tăng dòng tiền (sự giàu có) của họ trong tương lainếu như họ có nguy cơ vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ Ví dụ,Defond và Jiambalvo (1994) tìm thấy bằng chứng các công ty tìm cách đẩythu nhập một năm trước khi vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ

2.1.3.4 Nguyên nhân từ các yêu cầu về pháp luật và chính

trị

Bên cạnh các nhóm nguyên nhân quản trị thu nhập bắt nguồn từ sức épcủa cổ đông hay chủ nợ, các sức ép từ quy định của luật pháp, thuế cũng làcác nguyên nhân đẫn đến quản trị thu nhập Ví dụ, nghiên cứu của Haw vàcộng sự (2005) cho thấy các công ty của Trung Quốc có xu hướng điều chỉnhthu nhập tăng khi chính phủ quy định tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu(ROE) là 10% đối với các công ty muốn phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu.Black và cộng sự (1998) tìm thấy bằng chứng của hành vi quản trị thu nhậpcủa các công ty ở Anh Quốc trước khi nước này thay đổi các quy định kếtoán về định giá tài sản Beaver và Engel (1996) và Liu và cộng sự (1997)chỉ ra rằng các ngân hàng thường nhào nặn dồn tích khi các ngân hàng nàysát ngưỡng yêu cầu về tỷ lệ vốn dự trữ bắt buộc

2.1.4 Các thước đo quản trị thu

nhập

Tổng dồn tích bao gồm dồn tích có thể điều chỉnh được (discretionaryaccruals) và dồn tích không thể điều chỉnh được (non-discretionary accruals)

Trang 32

1313Giám đốc doanh nghiệp có thể tác động vào lợi nhuận thông qua dồn tích cóthể điều chỉnh được bằng

Trang 33

cách lựa chọn các bút toán kế toán hay ước lượng kế toán khác nhau; còndồn tích không thể điều chỉnh được thì do bản chất kinh tế quyết định và do

đó giám đốc hay nhà quản lý không thể tác động được Vì vậy, dồn tích cóthể điều chỉnh được coi là một thước đo của quản trị lợi nhuận Ba mô hìnhđược sử dụng phổ biến nhất để tính toán dồn tích có thể điều chỉnh được là

mô hình Jones (Jones, 1991), mô hình Jone điều chỉnh- Modified Jones(Dechow và cộng sự, 1995) và mô hình Kothari (Kothari và cộng sự, 2005)

2.1.4.1 Mô hình Jones

(1991)

Theo gợi ý của Healy (1985), tổng dồn tích gồm hai phần: một phần

do chủ ý của nhà quản lý (thể hiện bằng dồn tích có thể điều chỉnh được)

và một phần do sự thay đổi trong điều kiện kinh tế của công ty (dồn tíchkhông thể điều chỉnh được) Jones (1991) đã đề xuất một mô hình nhằm kiểmsoát sự thay đổi về điều kiện kinh tế của một công ty Theo đó, phần dồn tíchkhông thể thay đổi được được đo lường bằng phương trình hồi quy tuyến tínhgiữa thay đổi trong doanh thu và tài sản cố định Mô hình này giả định rằngtăng trưởng doanh thu phản ánh phần vốn lưu động không điều chỉnh đượccủa doanh nghiệp trong khi quy mô của tài sản cố định phản ánh phần chiphí khấu hao không thể điều chỉnh được của công ty (Bernard và Skinner,1996) Sự thay đổi trong doanh thu được sử dụng làm thước đo cho phần thayđổi không thể điều chỉnh được trong doanh thu

Mô hình Jones hồi quy tổng dồn tích theo nguyên giá tài sản cố định vàthay đổi doanh thu Hệ số beta (coefficients) của mô hình được dùng để ướclượng phần dồn tích không thể điều chỉnh được, còn phần dư (residuals) làphần dồn tích có thể điều chỉnh được

Phương trình 1: Mô hình ước lượng dồn tích không điều

chỉnh được của Jones (1991)

Trang 34

Trong

đó:

1 =

+ ∆

+ +

- TACit là tổng dồn tích

- TAit-1 là giá trị sổ sách của tổng tài sản của công ty i tại cuối năm t -1,

- ∆ REVit / TAit-1 là doanh thu bán hàng của công ty i tại năm t trừ đi

doanh thu tại năm t-1, tất cả chia cho TA it-1,

- PPEit / TAit-1 là nguyên giá tài sản cố định của công ty i cuối năm t chia TAit-1,

- α, β1, β2 là các hệ số của mô hình hồi quy,

- εit là phần dư

Trang 35

Một trong hạn chế của mô hình này là giả định giám đốc khôngđiều chỉnh doanh thu do đó thay đổi trong doanh thu được dùng làm thước

đo cho phần dồn tích không thể điều chỉnh được của doanh thu Vì vậy, môhình này có thể dẫn đến sai lệch khi tính toán phần dồn tích có thể điều chỉnhđược nếu thực tế giám đốc có điều chỉnh doanh thu Điều này cũng có thể dẫnđến việc ước lượng các thành phần dồn tích bị chệch do phương pháp này loại

bỏ chi phí Những hạn chế này được Dechow và cộng sự (1995) khắc phụctrong mô hình Jones điều chỉnh dưới đây

2.1.4.2 Mô hình Jones điều chỉnh (1995)

Dechow và cộng sự (1995) nhận thấy điểm yếu của mô hình Jones(1991) nằm ở giả định rằng tổng doanh thu là không điều chỉnh được và do đóDechow và cộng sự (1995) đã chỉnh sửa giả định này thành chỉ có doanh thu

đã thu được tiền là không thể điều chỉnh được Theo đó, mô hình Jones đượcđiều chỉnh bằng cách tổng dồn tích được hồi quy theo tổng tài sản cố định,thay đổi doanh thu và thay đổi khoản phải thu

Mô hình của Jones (1991) và mô hình điều chỉnh của Dechow vàcộng sự (1995) đầu tiên được chạy trên nền dữ liệu chuỗi thời gian.Sau đó Defond và Jiambalvo (1994) đã đề xuất mô hình Jones chạy trênnền dữ liệu chéo Theo các nhà khoa học, mô hình chạy trên dữ liệu chéo cónhiều ưu điểm hơn mô hình chạy trên nền dữ liệu thời gian Ví dụ Peasnell vàcộng sự (2005) cho rằng mô hình dữ liệu chéo có thể tránh được vấn đề vềthiên lệch kẻ sống sót (survivorship bias), các lỗi về phần dư tương quan chuỗi(serially correlated residuals) Các tác giả cũng cho rằng mô hình dữ liệuchéo cho mẫu nghiên cứu lớn hơn trong khi đó mô hình dữ liệu thời gian đòihỏi công ty phải có số liệu từ 8-10 năm vì vậy các công ty có số liệu trong thờigian ngắn không thể sử dụng được mô hình Hơn nữa mô hình dữ liệu chéo

sẽ giúp khắc phục các vấn đề về tính dừng (non stationary) trong mô hìnhchuỗi thời gian Do các ưu việt của mô hình dữ liệu chéo so với mô hình chuỗithời gian truyền thống nên hầu hết các công trình nghiên cứu sau này đềuứng dụng mô hình Jones trên dữ liệu chéo để đo lường quản trị thu nhập(Baxter và Cotter, 2009; DeFond và Subramanyam, 1998; Rahman và Ali,2006; Subramanyam, 1996b; Xie và cộng sự, 2003)

Phương trình 2: Mô hình Jones điều chỉnh của Dechow và cộng

sự (1995) trên nền dữ liệu chéo

Trang 36

Trong

đó:

1 =

+ ∆ − ∆

+ +

- TACit là tổng dồn tích

- TAit-1 là giá trị sổ sách của tổng tài sản của công ty i tại năm t-1

Trang 37

- ∆REVit / TAit-1 là doanh thu của công ty i vào năm t trừ đi doanh thu vào năm t-1, tất cả chia cho TAit-1

- ∆RECit là thay đổi khoản phải thu khách hàng

- PPEit / TAit-1 là tổng tài sản cố định của công ty i vào cuối năm t chia cho TAit-1,

- α, β1 β2 là các hệ số trong mô hình hồi quy

- εit là phần dư

2.1.4.3 Mô hình đo lường dồn tích có thể điểu chỉnh được phù hợp với hiệu quả

kinh doanh (Kothari và cộng sự, 2005)

Kothari và cộng sự (2005) cho rằng dồn tích có thể điều chỉnh đượckhi đo lường bằng mô hình Jones (1991) và Jones điều chỉnh (1995) có thểmắc những lỗi về ước lượng nghiêm trọng khi không kiểm soát hiệu quả kinhdoanh trong quá khứ của công ty Do đó, các nhà khoa học này đã đề xuấtmột mô hình sử dụng lag ROA để kiểm soát cho hiệu quả hoạt động kinhdoanh của công ty

Phương trình 3: Mô hình đo lường dồn tích có thể điều chỉnh

được phù hợp với hiệu quả kinh doanh (Kothari và cộng sự, 2005)

Trang 38

1 =

+ ∆ − ∆ +

+ +

Trong đó

- TACit là tổng dồn tích

- TAit-1 là giá trị sổ sách của tổng tài sản của công ty i tại năm t-1

- ∆ REVit / TAit-1 là doanh thu của công ty i vào năm t trừ đi doanh thu vào năm t-1, tất cả chia cho TAit-1

- ∆ RECit là thay đổi khoản phải thu

- PPEit / TAit-1 là tổng tài sản cố định của công ty i vào cuối năm t chia cho TAit-1,

- ROAit-1 là hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản năm t-1

- α, β1, β2, β3 là các hệ số trong mô hình hồi quy

- εit là phần dư

2.1.4.4 Đo lường tổng dồn tích

Có hai cách đo lường tổng dồn tích: một là tổng dồn tích được đo thôngqua bảng cân đối kế toán (Dechow và cộng sự, 1995; Healy, 1985; Jones,1991; Kothari, 2001); hai là tổng dồn tích được đo thông qua bảng lưu chuyểntiền tệ (Becker và cộng sự, 1998; DeFond và Subramanyam, 1998; Rahman

và Ali, 2006; Subramanyam, 1996)

Trang 39

Phương trình 4: Đo lường tổng dồn tích thông qua bảng cân

đối kế toán

= ∆ − ∆ ℎ − ∆ + ∆

Trong đó:

- TACt là tổng dồn tích tại năm t

- ∆CAt là thay đổi tài sản ngắn hạn trong năm t

- ∆Casht là thay đổi về tiền mặt và các khoản tương đương tiền năm t

- ∆CLt là thay đổi nợ ngắn hạn tại năm t

- ∆DCLt là thay đổi vay nợ trong nợ ngắn hạn ở năm t

- DEPt là chi phí khấu hao ở năm t

Phương trình 5: Đo lường tổng dồn tích thông qua bảng lưu chuyển tiền tệ

- OCFt: Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm t

2.2 Lý thuyết đại diện và quản trị thu nhập

Lý thuyết đại diện (Jensen, 1986) đã chỉ ra rằng trong công ty cổphần luôn tiềm ẩn mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà điều hành bắtnguồn từ sự tách biệt quyền sở hữu giữa cổ đông và ban giám đốc Do đónhà điều hành luôn có động cơ hành động không vì lợi ích của cổ đông vàhành vi quản trị thu nhập có thể coi là một kết quả của mâu thuẫn đại diện Lýthuyết đại diện cũng chỉ ra rằng quản trị công ty (coporate governance) làmột công cụ hữu hiệu để hạn chế các hành động không vì lợi ích cổ đông nhưhành vi quản trị thu nhập Nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm trênthế giới đã ủng hộ kết luận này Fama và Jensen (1983) đã chỉ ra rằng hộiđồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ban giám đốc.Peasnell và cộng sự (2005) và Xie và cộng sự (2003) đều chỉ ra rằng tỷ lệthành viên độc lập trong hội đồng quản trị tỷ lệ nghịch với khả năng xảy rahành vi chủ ý nâng tỷ lệ dồn tích điều chỉnh trong thu nhập của ban giámđốc Công trình nghiên cứu của Vafeas (2000) chỉ ra rằng quy mô của hộiđồng quản trị càng nhỏ thì chất lượng báo cáo thu nhập càng cao Beasley(1996) cho rằng quy mô của hội đồng quản trị càng lớn thì khả năng xảy ra

Trang 40

hiện tượng gian lận kế toán trong báo cáo tài chính càng lớn Reyna (2012)nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu lên quản trị thu nhập tại 90 công

ty niêm yết ở Mehico Tác giả nhận thấy rằng, sở hữu gia đình, quy mô vàthành phần của ban quản

Ngày đăng: 19/07/2018, 00:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Al-Fayoumi Nedal, Bana Abuzayed và David Alexander (2010), Ownership structure and earnings management in emerging markets: The case of Jordan, Tạp chí International Research Journal of Finance and Economics, Số38(1),Trang: 28-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí International ResearchJournal of Finance and Economics
Tác giả: Al-Fayoumi Nedal, Bana Abuzayed và David Alexander
Năm: 2010
2. Allen Eric J., Chad R. Larson và Richard G. Sloan (2013), Accrual reversals, earnings and stock returns, Tạp chí Journal of Accounting and Economics, Số56(1),Trang: 113-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Journal of Accountingand Economics
Tác giả: Allen Eric J., Chad R. Larson và Richard G. Sloan
Năm: 2013
3. Alqerm J.F. và S.N.S. Obeid (2014), The Pricing of the Real Earnings Management Evidence from Malaysian Stock Exchange, Tạp chí Journal of Al- Quds Open University for Research and Studies, Số 32,Trang: 27-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạpchí Journal of Al- Quds Open University for Research and Studies
Tác giả: Alqerm J.F. và S.N.S. Obeid
Năm: 2014
4. Alves Sandra (2012), Ownership structure and earnings management:Evidence from Portugal, Tạp chí Australasian Accounting Business &Finance Journal, Số 6(1),Trang: 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Australasian Accounting Business &"Finance Journal
Tác giả: Alves Sandra
Năm: 2012
5. Amihud Yakov (2002), Illiquidity and stock returns: cross-section and time- series efects, Tạp chí Journal of Financial Markets, Số 5(1),Trang: 31-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Journal of Financial Markets
Tác giả: Amihud Yakov
Năm: 2002
6. Amihud Yakov và Haim Mendelson (1986), Liquidity and stock returns, Tạp chíFinancial Analysts Journal,Trang: 43-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí"Financial Analysts Journal
Tác giả: Amihud Yakov và Haim Mendelson
Năm: 1986
7. Antoniou Antonios, Nuray Ergul và Phil Holmes (1997), Market Efficiency, ThinTrading and Non‐linear Behaviour: Evidence from an Emerging Market, Tạp chíEuropean Financial Management, Số 3(2),Trang: 175-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí"European Financial Management
Tác giả: Antoniou Antonios, Nuray Ergul và Phil Holmes
Năm: 1997
8. Apergis Nicholas, George Artikis, Sofia Eleftheriou và John Sorros (2012), Accounting information, the cost of capital and excess stock returns: the role of earnings quality-evidence from panel data, Tạp chí International Business Research, Số 5(2),Trang: 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chíInternational Business Research
Tác giả: Apergis Nicholas, George Artikis, Sofia Eleftheriou và John Sorros
Năm: 2012
9. Baker Malcolm và Jeffrey Wurgler (2000), The equity share in new issues and aggregate stock returns, Tạp chí The Journal of Finance, Số 55(5),Trang: 2219-2257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí The Journal of Finance
Tác giả: Baker Malcolm và Jeffrey Wurgler
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w