1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Đề cương tổng hợp môn Kinh tế đầu tư trường ĐH kinh tế quốc dân

86 250 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I 5 NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ 3 1. Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ. 3 2. Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong đầu tư. 4 3. Tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam 5 4. Nguyên tắc thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài hòa giữa kinh tế và xã hội 6 5. Nguyên tắc tập trung dân chủ 7 II Tình trạng thất thoát và lãng phí vốn đầu tư XDCB của nhà nước 8 III Phân tích vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong DN. Cho biết nội dung hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực (trang 435) 15 IV So sánh hiệu quả tài chính – hiệu quả kinh tế xã hội 18 V Nêu hạn chế của FDI thời gian qua và giải pháp thu hút FDI có hiệu quả 19 VI Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN và liên hệ thực tế tại Việt Nam 21 VII ODA 23 VII Thực trạng quản lý đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước 25 VIII Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng 26 1.1. Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng. Liên hệ VN 26 1.2. Mối quan hệ của nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước 27 2. Tác động của từng loại nguồn vốn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam 27 3. Giải pháp huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư 30 4. Thực trạng vốn 31 a) Khu vực nhà nước 31 b) Khu vực ngoài nhà nước (ODA, FDI) 31 IX Phân tích mqh qua lại giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Phân tích trong trường hợp VN 32 X Đầu tư là yếu tố quyết định tới sự phát triển và là chìa khóa cho sự tăng trưởng của mọi quốc gia 33 2. Thực trạng về sự tác động của đầu tư tới tăng trưởng và phát triển kinh tế VN 35 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế 42 XI Thực trạng của việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước của nước ta hiện nay và kiến nghị các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. 45 1. Thực trạng huy động và sd nguồn vốn trong nước của nước ta hiện nay 45 1.1 Thực trạng huy động nguồn vốn nhà nước: 45 1.2 Thực trạng huy động nguồn vốn dân cư và tư nhân: 46 1.3 Thực trạng sử dụng nguồn vốn nhà nước: 47 1.4 Thực trạng sử dụng nguồn vốn tư nhân và dân cư 49 2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN 50 2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước 50 2.2 Nâng cao hiêu quả sử dụng nguồn vốn dân cư và tư nhân 52 XII Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư. Liên hệ VN? 53 XIII Phân biệt đầu tư tài chính, đầu tư thương mại với đầu tư phát triển. 53 XIV Giải thích đặc điểm độ trễ thời gian trong đầu tư,hãy chỉ ra những thích ứng cần thiết trong hoạt động ĐTPT 53 XV – Hệ số ICOR 54 Câu 1: Giải thích luận điểm ĐT cho xóa đói giảm nghèo cũng là ĐTPT. 55 Câu 2: Thế nào là cơ cấu đầu tư hợp lý? Những cơ cấu đầu tư trên phạm vi quốc gia.Trình bày giải pháp chủ yếu xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý ở nước ta? 55 Câu 3: Cho ví dụ qua đó giải thích ý nghĩa của ICOR trong công tác dự báo kinhtế? 57 Câu 5: Giải thích luận điểm“trả lương đúng và đủ cho người lao động cúng là ĐTPT? 59 Câu 6:Vì sao phải đầu tư trọng tâm,trọng điểm. Giải thích nội dung của yêu cầu này trong quản lý hoạt động đầu tư của nước ta 59 Câu 7: Trình bày đặc điểm của ĐTPT và và vận dụng 59 Câu 8: Đầu tư phân tán, dàn trải và thiếu 1 chiến lược tổng thể là những khiếm khuyết chính trong hoạt động ĐTPT ở nước ta trong thời gian qua? Bình luận ý kiến trên. 60 Câu 1: vai trò của đầu tư phát triển 62 Câu 2: Trình bày các nguyên tắc quản lý đầu tư và làm rõ sự cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc này trong công tác quản lý đầu tư. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam 63 Câu 3 : Trình bày các nguyên tắc cần tuân thủ khi lập kế hoạch đầu tư. Liên hệ thực tế ở Việt Nam. 65 Câu 4,5,6: Trình bày tóm tắt các nguồn vốn đầu tư . Các điều kiện để huy động có hiệu quả vốn đầu tư…. 66 Câu 7. Phân tích đặc điểm của đầu tư phát triển. Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu gì cho công tác quản lý dự án. 67 Câu 9: Trình bày các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư và ưu nhược điểm của từng phương pháp. Cũng như các hoạt động kinh tế khác, các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư bao gồm: 68 Câu 10:Trình bày các công cụ quản lý hoạt động đầu tư và tác dụng của từng công cụ đối với công tác quản lý đầu tư hiện nay. 70 Câu 11 Trình bày nội dung quản lý hoạt động đầu tư ở các cấp độ 70 Câu 12 Trình bày nguồn vốn ODA và các giải pháp để tăng cường huy động nguồn vốn này. 71 Câu 13 Trình bày nguồn vốn FDI và các giải pháp để tăng cường huy động nguồn vốn này. 72 Câu 14 Trình bày khái niệm và phương pháp xác định “ Khối lượng vốn đầu tư thực hiện” 73 Câu 15 Trình bày khái niệm và phương pháp xác định Tài sản cố định huy động và Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm. 73 Câu 16 Trình bày các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trong doanh nghiệp 74 Câu 17 Trình bày các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của 1 quốc gia, 1 địa phương, 1 ngành. 74 Câu 18 Trình bày quy trình lập kế hoạch đầu tư. 75 Câu 19 Phân biệt đầu tư tài chính, đầu tư thương mại với đầu tư phát triển 76 Câu 20 Trình bày nội dung đầu tư trong doanh nghiệp. 76  

Trang 1

Table of Contents

I - 5 NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ 3

1 Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ 3

2 Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong đầu tư 4

3 Tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam 5

4 Nguyên tắc thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài hòa giữa kinh tế và xã hội 6

5 Nguyên tắc tập trung dân chủ 7

II - Tình trạng thất thoát và lãng phí vốn đầu tư XDCB của nhà nước 8

III - Phân tích vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong DN Cho biết nội dung hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực (trang 435) 15

IV - So sánh hiệu quả tài chính – hiệu quả kinh tế xã hội 18

V - Nêu hạn chế của FDI thời gian qua và giải pháp thu hút FDI có hiệu quả 19

VI - Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN và liên hệ thực tế tại Việt Nam 21

VII - ODA 23

VII - Thực trạng quản lý đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước 25

VIII - Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng 26

1.1 Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng Liên hệ VN 26

1.2 Mối quan hệ của nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước 27

2 Tác động của từng loại nguồn vốn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam 27

3 Giải pháp huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư 30

4 Thực trạng vốn 31

a) Khu vực nhà nước 31

b) Khu vực ngoài nhà nước (ODA, FDI) 31

IX - Phân tích mqh qua lại giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế của quốc gia Phân tích trong trường hợp VN 32

X - Đầu tư là yếu tố quyết định tới sự phát triển và là chìa khóa cho sự tăng trưởng của mọi quốc gia 33

2 Thực trạng về sự tác động của đầu tư tới tăng trưởng và phát triển kinh tế VN 35

3 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế 42

XI - Thực trạng của việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước của nước ta hiện nay và kiến nghị các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này 45

1 Thực trạng huy động và sd nguồn vốn trong nước của nước ta hiện nay 45

1.1 Thực trạng huy động nguồn vốn nhà nước: 45

1.2 Thực trạng huy động nguồn vốn dân cư và tư nhân: 46

1.3 Thực trạng sử dụng nguồn vốn nhà nước: 47

1.4 Thực trạng sử dụng nguồn vốn tư nhân và dân cư 49

2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN 50

2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước 50

2.2 Nâng cao hiêu quả sử dụng nguồn vốn dân cư và tư nhân 52

XII - Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư Liên hệ VN? 53

Trang 2

XIII - Phân biệt đầu tư tài chính, đầu tư thương mại với đầu tư phát triển 53

XIV - Giải thích đặc điểm độ trễ thời gian trong đầu tư,hãy chỉ ra những thích ứng cần thiết trong hoạt động ĐTPT 53

XV – Hệ số ICOR 54

Câu 1: Giải thích luận điểm ĐT cho xóa đói giảm nghèo cũng là ĐTPT 55

Câu 2: Thế nào là cơ cấu đầu tư hợp lý? Những cơ cấu đầu tư trên phạm vi quốc gia.Trình bày giải pháp chủ yếu xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý ở nước ta? 55

Câu 3: Cho ví dụ qua đó giải thích ý nghĩa của ICOR trong công tác dự báo kinhtế? 57

Câu 5: Giải thích luận điểm“trả lương đúng và đủ cho người lao động cúng là ĐTPT? 59

Câu 6:Vì sao phải đầu tư trọng tâm,trọng điểm Giải thích nội dung của yêu cầu này trong quản lý hoạt động đầu tư của nước ta 59

Câu 7: Trình bày đặc điểm của ĐTPT và và vận dụng 59

Câu 8: Đầu tư phân tán, dàn trải và thiếu 1 chiến lược tổng thể là những khiếm khuyết chính trong hoạt động ĐTPT ở nước ta trong thời gian qua? Bình luận ý kiến trên 60

Câu 1: vai trò của đầu tư phát triển 62

Câu 2: Trình bày các nguyên tắc quản lý đầu tư và làm rõ sự cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc này trong công tác quản lý đầu tư Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam 63

Câu 3 : Trình bày các nguyên tắc cần tuân thủ khi lập kế hoạch đầu tư Liên hệ thực tế ở Việt Nam 65

Câu 4,5,6: Trình bày tóm tắt các nguồn vốn đầu tư Các điều kiện để huy động có hiệu quả vốn đầu tư… .66

Câu 7 Phân tích đặc điểm của đầu tư phát triển Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu gì cho công tác quản lý dự án 67

Câu 9: Trình bày các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư và ưu nhược điểm của từng phương pháp Cũng như các hoạt động kinh tế khác, các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư bao gồm: 68

Câu 10:Trình bày các công cụ quản lý hoạt động đầu tư và tác dụng của từng công cụ đối với công tác quản lý đầu tư hiện nay 70

Câu 11 Trình bày nội dung quản lý hoạt động đầu tư ở các cấp độ 70

Câu 12 Trình bày nguồn vốn ODA và các giải pháp để tăng cường huy động nguồn vốn này 71

Câu 13 Trình bày nguồn vốn FDI và các giải pháp để tăng cường huy động nguồn vốn này 72

Câu 14 Trình bày khái niệm và phương pháp xác định “ Khối lượng vốn đầu tư thực hiện” 73

Câu 15 Trình bày khái niệm và phương pháp xác định Tài sản cố định huy động và Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm 73

Câu 16 Trình bày các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trong doanh nghiệp 74

Câu 17 Trình bày các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của 1 quốc gia, 1 địa phương, 1 ngành 74

Câu 18 Trình bày quy trình lập kế hoạch đầu tư 75

Câu 19 Phân biệt đầu tư tài chính, đầu tư thương mại với đầu tư phát triển 76

Câu 20 Trình bày nội dung đầu tư trong doanh nghiệp 76

2

Trang 3

I - 5 NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ

1 Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.

1.2 Nội dung kết hợp

Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau:

-Thực hiện quản lý đồng thời cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Có nghĩa là, các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ)đồng thời nó cũng phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nội dung theo chế độ quy định

-Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, không trùng lặp, không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn

-Các cơ quan quản lý nhà nước theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản hiệp quản, tham

quản với cơ quan nhà nước thuộc chiều kia, theo quy định cụ thể của Nhà nước Đồng quản là cùng có quyền và cùng nhau ra quyết định quản lý theo thể thức liên tịch Hiệp quản là cùng nhau ra quyết định quản lý theo thẩm quyền, theo vấn đề thuộc tuyến của mình nhưng có sự thương lượng, trao đổi, bàn bạc để hai loại quyết định của mỗi bên tương đắc với nhau Tham quản là việc quản lý, ra quyết định của mỗi bên phải trên cơ sở được lấy ý kiến

của bên kia

1.3 Sự cần thiết phải kết hợp quản lí theo ngành với lãnh thổ

Nhằm đảm bảo cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ trong nền kinh tế quốc dân, các đơn vị thuộc các ngành kinh tế - kĩ thuật nằm trên các địa bàn lãnh thổkhác nhau cũng đều chịu sự quản lí nhà nước theo ngành của các bộ (trung ương) và của các cơ sở chuyên môn (ở địa phương) Trong phạm vi thẩmquyền theo quy định của luật pháp, quản lí theo ngành bảo đảm cơ cấu ngành phát triển hợp lí trong phạm vi cả nước và có hiệu quả nhất Các đơn vịkinh tế nằm trên một đơn vị hành chính - lãnh thổ cũng chịu sự quản lí nhà nước theo lãnh thổ của chính phủ Trung Ương trên tổng thể, và của chínhquyền địa phương các cấp theo quy định phân cấp của luật pháp Trong cơ cấu quyền lực và phân công trách nhiệm quản lí hành chính - nhà nước, chínhphủ quản lí thống nhất các ngành và các đơn vị lãnh thổ; chính quyền địa phương là người chịu trách nhiệm quản lí kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ,đại biểu cho quyền lợi nhân dân ở địa phương; đồng thời là một bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất ở địa phương, là người đại diện cho nhànước (Trung ương) ở địa phương Vì những lí do đó nên nhất thiết phải kết hợp hai mặt: quản lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ Trên cơ sở phân định

rõ chức năng quản lí, các quy định về phân công, phân cấp và xây dựng nội dung và mức độ thống nhất quản lí ngành cho từng ngành theo đặc điểmngành; nội dung và mức độ quản lí theo lãnh thổ; nội dung, mức độ kết hợp quản lí theo ngành với quản lí theo lãnh thổ, nhằm phát huy cao độ nhất hiệuquả sử dụng nguồn lực của cả nước, của từng vùng kinh tế, từng địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thống nhất lợi ích quốcgia và lợi ích từng địa phương trong sự phát triển một cách có lợi nhất những lợi thế của địa phương Sự kết hợp và thống nhất hai mặt quản lí chủ yếuđược thể hiện:

1) Tổ chức điều hoà, phối hợp các hoạt động của tất cả các đơn vị thuộc các ngành, các thành phần kinh tế, các cấp quản lí, cũng như các tổ chức vănhoá, xã hội, an ninh, quốc phòng để phát triển nền kinh tế quốc dân theo một cơ cấu hợp lí nhất, có hiệu quả nhất về ngành cũng như về lãnh thổ 2) Quản lí công việc chung của quốc gia trên phạm vi cả nước, cũng như trên từng đơn vị hành chính - lãnh thổ kết hợp hài hoà lợi ích chung của cảnước, cũng như lợi ích của địa phương

3) Phục vụ tốt các hoạt động của tất cả các đơn vị nằm trên lãnh thổ, như về kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường và tài nguyên, bảo đảm pháp chế xã hộichủ nghĩa, an ninh, trật tự công cộng, phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của dân cư sống và làm việc trên lãnh thổ, bất kể là thuộc cơ quan, xí nghiệptrung ương hay địa phương

1.4 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc

Việc kết hợp quản lý ngành với quản lý lãnh thổ có vai trò rất lớn đối với việc phát triển đất nước về mọi lĩnh vực Chính vì vậy Nhà nước ta đã có chủtrương, chính sách áp dụng biện pháp kết hợp này trên phạm vi cả nước, với nhiều địa phương và các doanh nghiệp, các nhà máy, khu công nghiệp… Theo đó quy định các cơ sở, doanh nghiệp nào thành lập ở địa phương nào phải chịu sự quản lý về hành chính, về mặt pháp luật, xã hội, kinh tế, kỹthuật… của cơ quan quản lý ngành và địa phương Áp dụng quy định của Nhà nước thì hiện nay đã có nhiều cơ quan ngành và cơ quan chính quyền địaphương thực hiện nghiêm chỉnh, nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, có lợi cho cả 2 bên:

+ Quản lý ngành sẽ hoạch định sự phát triển cho doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp đó

+ Còn quản lý lãnh thổ tạo điều kiện pháp lý, được pháp luật bảo vệ, cung cấp nguồn nhân lực, nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp kinh tế

Từ đó ta có thể nhận thấy sự tác động qua lại, hỗ trợ nhau giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ Cho thấy sự kết hợp này làm tăng tính hiệu quả, đạtmức phát triển tối đa tránh những khó khăn, rủi ro

Trang 4

Các doanh nghiệp kinh doanh cùng với cơ quan địa phương hiện nay ngày càng có sự phổi hợp quản lý rất chặt chẽ, ví dụ như: Khu công nghiệp Bình

Dương thuộc tỉnh Bình Dương của vùng Đông Nam Bộ Có các ban quản lý do thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, là cơ quan trực thuộc UBNDtỉnh Bình Dương, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của UBND tỉnh Chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, Ngành, lĩnh vực có liên quan, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên

môn thuộc UBND tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp Khu công nghiệp Bình Dương đã thể hiện rất rõ sự kết hợp giữa quản lý ngành với quản

lý lãnh thổ, thể hiện được sự hỗ trợ, phối hợp, đem lại sự phát triển không chỉ đối với khu công nghiệp mà còn đưa tỉnh Bình Dương trở thành một trongnhững tỉnh phát triển hàng đầu của Đông Nam Bộ

Từ đó chúng ta có thể thấy việc tuân thủ và áp dụng nguyên tắc kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ của các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp

có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau, cùng tuân thủ pháp luật và dưới sự bảo vệ của pháp luật

Tuy nhiên việc thực hiện nguyên tắc vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế:

- Thứ nhất: đó là việc “xé rào” trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm của địa phương trái với quy định của cơ quan quản lý ngành, chức năng Cómột số cơ quan địa phương vì lợi ích nhất thời mà bỏ qua văn bản thủ tục hành chính mà pháp luật đã quy định, để cấp giấy phép hoạt động đó ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển chung của đất nước

- Thứ hai: là sự phối hợp không chặt chẽ trong việc tổ chức, thực hiện các quy định của ngành ở địa phương

- Thứ ba: đó là việc bất cập trong hoạt động kiểm tra giám sát thực hiện các quy định của ngành tại địa phương

Điều đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các ban ngành phải không ngừng nâng cao việc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ, để khắcphục những hạn chế, nhằm phát triển kinh tế địa phương và của đất nước

1.5 Kiến nghị để thực hiện tốt nguyên tắc

 Để thực hiện nguyên tắc trên cần phải tăng cường công tác lập pháp và tư pháp

- Về lập pháp, phải từng bước đưa mọi quan hệ kinh tế vào khuôn khổ pháp luật Các đạo luật phải được xây dựng đầy đủ, đồng bộ, có chế tài rõ ràng,chính xác và đúng mức

- Về tư pháp, mọi việc phải được thực hiện nghiêm minh (từ khâu giám sát, phát hiện, điều tra, công tố đến khâu xét xử, thi hành án…) không để xảy ratình trạng có tội không bị bắt, bắt rồi không xét xử hoặc xét xử quá nhẹ, xử rồi mà không thi hành án hoặc thi hành

 Đẩy mạnh hơn nữa chuyên môn hóa theo ngành và phân bố sản xuất theo chức năng nhằm thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển

 Tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan chuyên môn ở địa phương quản lí tốt về tổ chức, nhân sự, chuyên môn để đảm bảo đạt được các chỉ tiêu củangành

 Tạo điều kiện thuận lợi về nhân lực, tài nguyên, điều kiện vật chất đảm bảo cho các doanh nghiệp ở địa phương hoạt động có hiệu quả cao

 Có sự phân công rành mạch cho các cơ quan quản lí theo ngành và lãnh thổ, không trùng lặp, không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

2 Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong đầu tư.

2.1 Khái niệm:

Giáo trình: “Đầu tư tạo ra lợi ích … phát triển vững chắc, ổn định” (trang 119)

2.2 Biểu hiện:

Giáo trình: “Trong hoạt động đầu tư … qua đấu thầu theo luật định” (trang 120)

2.3 Sự cần thiết phải tuân thủ nguyên tắc:

Nếu tuân thủ nguyên tắc này thì hoạt động đầu tư mới thực hiện được Khi nguyên tắc này được đảm bảo thì mới đảm bảo hiệu quả của hoạt động đầu tư.Khi các lợi ích đều được kết hợp hài hòa trong đầu tư sẽ tạo điều kiện và động lực để nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định

2.4 Liên hệ:

Trong hoạt động đầu tư, kết hợp hài hòa các loại lợi ích thể hiện sự kết hợp giữa lợi ích của xã hội mà đại diện là Nhà nước với lợi ích của cá nhân và tậpthể người lao động, giữa lợi ích và chủ đầu tư, nhà thầu, các cơ quan thiết kế, tư vấn, dịch vụ và người hưởng lợi Sự kết hợp này được bảo đảm bằng cácchính sách của Nhà nước, sự thỏa thuận theo hợp đồng giữa các đối tượng tham gia quá trình đầu tư, sự cạnh tranh của thị trường thông qua theo đấu thầunhất định

Trong gói kích cầu chống suy giảm kinh tế trong những năm vừa qua của chính phủ, các chính sách của chính phủ đưa ra trong việc quản lí hoạt độngđầu tư nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung, đã quan tâm đến lợi ích của nhiều nhóm đối tượng, cụ thể là lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cónhiều nguy cơ phá sản trong khủng hoảng thông qua gói kích cầu hỗ trợ 4% lãi suất cho DN vừa và nhỏ; chính sách xây nhà ở cho người có thu nhậpthấp… Các chính sách này cũng nhằm tới mục tiêu tạo việc làm cho người lao động, tăng trưởng kinh tế để nâng cao mức phúc lợi xã hội cho người dân

2.5 Hạn chế:

4

Trang 5

Tuy nhiên, đối với một số hoạt động đầu tư và trong những môi trường nhất định, giữa lợi ích của Nhà nước và các thành viên tham gia có xảy ra mâuthuẫn Mâu thuẫn lợi ích xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày và nếu xử lý không khéo có thể gây ra những vấn đề đạo đức nghiêm trọng,ảnh hưởng đến hoạt động lành mạnh của các tổ chức và của toàn bộ xã hội

2.6 Giải pháp:

Xem xét tình hình ở nước ta thì thấy nhiều người đưa ra chính sách chưa học được các bài học trên Bất luận do thiếu hiểu biết, vô tình hay hữu ý nếu tổchức có quyền càng lớn lại đưa ra các quy định khuyến khích mâu thuẫn lợi ích thì tai họa càng lớn Phải rà soát lại tất cả các chính sách như vậy và sửađổi bãi bỏ Chúng ta chưa có các quy định rõ ràng, các thủ tục minh bạch về tránh mâu thuẫn lợi ích Các tổ chức cũng chưa chú ý đến vấn đề này nêncũng không có các quy định rõ ràng Thậm chí việc lợi dụng chức, quyền, thông tin để mưu lợi riêng là rất phổ biến đốt với các quan chức mọi cấp ởnước ta nhuận nhiều vụ việc đã được báo chí nêu ra và vô vàn vụ không được nhắc tới, gây bất bình trong nhân dân, ảnh hường xấu đến sự phát triển củađất nước Để mọi người, mọi tổ chức hiểu kỹ hơn về mâu thuẫn lợi ích, để các tổ chức có quy chế tránh mâu thuẫn lợi ích của mình, để Nhà nước có luật,chính sách, các quy chế, thủ tục rõ ràng nhằm tránh mâu thuẫn lợi ích là những việc làm thiết thực trong công cuộc chống tham nhũng, tăng niềm tin,phát triển kinh tế và xã hội

3 Tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quôc dân nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn

lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giaolưu quốc tế

3.1 Khái niệm

a Tiết kiệm

-Là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định

-Đối với việc quản lý, sủ dụng tài sản nhà nước: Tiết kiệm là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu đãđịnh

b Hiệu quả

-Hiệu quả kinh tế diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm loại hàng hoá khác

-Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó

-Thực hành tiết kiệm chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện gắn với kiểm tra, giámsát

-Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn, chế độ và quy định khác của pháp luật

3.2 Thực trạng thực hành nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, các tổ chức doanh nghiệp kinh tế và công ty trong nước đã gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và đầu tư Rấtnhiều doanh nghiệp đã chính thức tuyên bố phá sản hay hoạt động cầm chừng, một số doanh nghiệp ra đi không hẹn ngày trờ lại Tuy vậy, hầu hết cácdoanh nghiệp vẫn còn thói quan chi tiêu phung phí và bừa bãi Ngoài ra họ cũng đang lãng phí rất lớn các nguồn lực quý báu của mình như nguồn lựcnhân sự, cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, lãng phí nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay phải trả lãi từ bên ngoài, lãng phí thương hiệu doanh nghiệp, các cơhội đầu tư và hợp tác kinh doanh sinh lợi, lãng phí trí tuệ và chất xám của nhân viên, lãng phí các mỗi quan hệ liên doanh liên kết từ bên ngoài….Nguyên tắc thực hành tiết kiệm:

-Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải gắn với cải cách hành chính và bảo đảm hoàn thành nhiệm vị được giao, không để bị ảnh hưởng đến hoạt độngbình thường của cơ quan, tổ chức

-Thực hiện phân cấp quản lý, phối hợp chặt chẽ giữa cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ được giao gắn với trách nhiệm của ngườiđứng đầu, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

-Bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm vai trò giám sát của quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, mặt trận tổ quốc việt nam, các tổ chức thànhviên của mặt trận tổ quốc việt nam và nhân dân trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Các lĩnh vực quan trọng trong quá trình thực hành tiết kiệm chống lãng phí ở VN:

-Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước (mua sản phẩm thiết bị, chi đầu tư, nghiên cứu, xây dựng, lương, chi khác…)

-Quản lý và sử dụng trụ sở làm việc, nhà công và các công trình phúc lợi công cộng

-Quản lý và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên ( giấy phéo khai thác khoáng sản)

-Đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước

-Quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp

Trang 6

-Sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.

Ví dụ: Bột ngọt Vedan sản xuất bột ngọt tiết kiệm chi phí đầu tư cho hệ thống nước thải đã gây ra hậu quả nặng nề ảnh hưởng nghiêm trọng đến môitrường và cuộc sống của người dân Để giải quyết vụ việc, Vedan phải bỏ ra một khoản tiền lớn hơn cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và đền bù tổnthất cho người dân xung quanh do ô nhiễm nguồn nước

Quan điểm sử dụng và quản lý có hiệu quả các nguồn lực kinh tế VN:

-Huy động và kết hợp tất cả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển

-Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đảm bảo tăng trường kinh tế, hiệu quả và bền vững

-Kết hợp giữa nhà nước và thị trường trong phân bổ, sử dụng nguồn lực

-Thu hút và sử dụng nguồn lực, kết hợp với công bằng xã hội, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường

3.3 Giải pháp thực hiện nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

-Đầu tư có trọng điểm, quản lý, sủ dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

-Cải cách tổ chức bộ máy quản lý kinh tế theo hướng gọn nhẹ, linh hoạt

-Giảm thiểu các chi phí vật tư, thiết bị cho sản xuất dựa trên cơ sở quản lý và sử dụng có hiệu quả

-Đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan

Kết luận:

Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế là cần thiết với mọi quốc gia, nó đặc trưng cho thể chế chính trị của đất nước Việcthực hiện nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế nhằm mục đích điều hoà mâu thuẫn các mặt lợi ích, đảm bảo mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội Việt Nam cần có nhiều những doanh nghiệp cố gắng tiết kiệm và “thực hành tiết kiệm” một cách nghiêm túc và tích cực để trở thànhmạnh, là ăn hiệu quả, đủ sức cạnh tranh trong nước và có thể vươn đến tầm cỡ thế giới

4 Nguyên tắc thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài hòa giữa kinh tế và xã hội

4.1 Lý thuyết: Slide + giáo trình 117

4.2 Thực tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam, chính trị và kinh tế không thể tách rời vì chính sách của Đảng là cơ sở của mọi biện pháp lãnh đạo kinh tế, hướng dẫn sự phát triển khôngngừng của nền kinh tế Trong cương lĩnh quản lí của Đảng cũng nói rõ: phát triển kinh tế nhưng việc quan tâm đến đời sống nhân dân phải được coi trọnghành đầu Phát triển kinh tế nhưng không được làm gia tăng sự chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền

Để thực hiện được mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chũ nghĩa thì chính trị và kinh tế luôn đi cùng nhau được thể hiện quatất cả chủ trương chính sách của Đảng và Chính Phủ Cơ chế đó thể hiện ở việc: Đảng vạch ra đường lối chủ trương phát triển kinh tế- xã hội, Đảng chỉ

rõ con đường biện pháp và phương tiện để thực hiện đường lối đãđề ra và Chính Phủ là người đôn đốc, kiểm tra viêc thực hiện, Nhiệm vụ phát triển kinh

tế xã hội hàng năm được Quốc hội thông qua thì nhiệm vụ kinh tế luôn song hành với nhiệm vụ xã hội Tức là, ngoài những chỉ tiêu về kinh tế như: tổngsản phẩm trong nước, giá trị tăng thêm của mỗi ngành, tổng kim ngạch XNK, chỉ số CPI,… thì còn có các chỉ tiêu về xã hội như: tạo việc làm, tỷ lệ hộnghèo, tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng,… và các chỉ tiêu về môi trường như: tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ KCN- khu chế xuất có có hệ thống xử lý nước thảitập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 60%,…

Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế:

Hạn chế trong việc phát triển kinh tế - xã hội

Trong những năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, song kinh tế phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, chưa thật sự bền vững,đặc biệt trong 10 năm gần đây Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia của nền kinh tế còn thấp Thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được hoàn thiện, hệ thống thị trường hình thành và phát triển chưa đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực cònnhiều hạn chế, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ và hiện đại đang cản trở sự phát triển; việc tạo nền tảng để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại còn chậm và gặp nhiều khó khăn

Trên lĩnh vực phát triển văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững.Nhiều vấn

đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý phát triển xã hội chưa được nhận thức và giải quyết có hiệu quả.; trên một số mặt, một số lĩnhvực, người dân chưa được thực hưởng đầy đủ, công bằng thành quả đổi mới

Hạn chế trong chính sách

Ở Việt nam, chính trị và kinh tế không thể tách rời nhau vì chính sách của Đảng là cơ sở của mọi biện pháp lãnh đạo kinh tế, hướng dẫn sự phát triểnkhông ngừng của nền kinh tế Vai trò của Nhà nước và quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư là rất quan trọng, nếu không được đặt đúng chỗ vàkhông sử dụng đúng công cụ mà Nhà nước có trong tay thì Nhà nước sẽ trở thành vật cản của đầu tư phát triển và sẽ không thể có một xã hội mà trong đómọi tổ chức, cá nhân đều hăng hái bỏ vốn đầu tư cho phát triển.Nhà nước đóng vai trò là người tạo ra và giải quyết sự hài hòa các loại lợi ích để khuyến

6

Trang 7

khích, động viên mọi nguồn lực cho phát triển.Giải quyết một cách hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của xã hội bằng công cụ quản lý giántiếp (thuế và ưu đãi đầu tư).Tuy nhiên , một thực tế diễn ra trong những năm qua đó là sự can thiệp quá sâu của đội ngũ cán bộ Đảng vào trong quản lýkinh tế, gây ra tình trạng giáo điều, khó khăn cho quản lý kinh tế, quyền lực bị phân tán Cơ chế hiện tại chưa thực sự đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quản lýđầu tư, nhất là chưa phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước về đầu tư với quản lý hoạt động đầu tư cụ thể, quản lý vĩ mô với quản lý vi mô trong đầu

tư Việc ban hành các chính sách còn chưa đồng bộ tạo ra sự bất đồng trong việc triển khai thực hiện, các qui hoạch còn chưa sát với tình hình thực tiễn,khiến cho việc thực hiện không đạt yêu cầu đề ra Văn bản Pháp luật còn nhiều bất cập, tạo ra những kẽ hở gây ra tình trạng lách luật…

4.3 Một số giải pháp khắc phục để thực hiện nguyên tắc tốt hơn

Cải cách theo hướng tích cực phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan Đảng và chính quyền Với mục tiêu:

-Hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các quyết định của nhà đầu tư

-Tôn trọng tối đa quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

-Đổi mới chức năng của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh theo hướng khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn nhà đầu tư, doanh nghiệp là chính.-Đồng thời, hệ thống văn bản pháp luật ngày càng được hoàn thiện hơn, bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, quan điểm chiến lược trongtừng giai đoạn

Xây dựng hệ thống chính trị chất lượng, hiệu quả, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xd các biện pháp chiến lược để ngăn chạn, đầy đủ tình trạngsuy thoái , giải quyết hài hòa các loại lợi ích nhà đầu tư và lợi ích của xã hội để khuyến khích đầu tư

5 Nguyên tắc tập trung dân chủ

5.1 Lý thuyết: Slide+ giáo trình 118

5.2 Hiện nay Việt Nam đã và đang thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ:

Trong nền kinh tế thị trường XHCN nước ta, sự can thiệp của nhà nước nhằm điều chỉnh tính tự phát của thị trường, đảm bảo tính định hướng XHCN.Nhà nước đang phát huy vai trò quản lý khi tập trung thống nhất quản lý 1 số lĩnh vực kinh tế then chốt nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế- xãhội, đồng thời quan tâm đến lợi ích của người lao động là những động lực quan trọng đảm bảo sự thành công của các hoạt động kinh tế xã hội

Trong hoạt động đầu tư, nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng ở hầu hết các khâu công việc, từ lập kế hoạch đến thực hiện kế hoạch, ở việc phâncấp quản lý và phân công trách nhiệm, ở cơ cấu bộ máy tổ chức với chế độ một thủ trưởng chịu trách nhiệm và sự lãnh đạo tập thể, ở quá trình ra quyếtđịnh đầu tư…

Nguyên tắc tập trung dân chủ được nước ta thực hiện rất rõ nó được quy định thành các văn bản luật Ví dụ: Nghị định 12 số 12/2009/ND/CP của ChínhPhủ về quản lý dự án đầu tư xd công trình, thông tư 03/2009/TT/BXD quy định chi tiết một số nội dung của nghị định 12/2009/ND/CP Hay gần đây nhất

là Nghị định 59/2015/ND-CP của Chính Phủ về quản lý dự án đầu tư có hiệu lực 5/8/2015 quy định chi tiết một số nội dung thi hành Luật Xây dựng năm

2014 về quản lý dự án đầu tư xây dựng, gồm: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khaithác sử dụng; hình thức và nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng và đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi củanhà tài trợ nước ngoài được thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật về quản lý sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợnước ngoài

5.3 Những hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có khi vẫn còn mang tính hình thức và những hạn chế trong quá trình thực hiện nguyên tắc này không chỉriêng ở địa phương, doanh nghiệp mà còn là tình hình chung của cả nước

Việc hình thành và thông qua các quyết định, chủ trương, chính sách, phương hướng, nghị quyết của nhà nước, của tỉnh - huyện, của đơn vị … về nguyêntắc phải thu hút được sự đóng góp trí tuệ rộng rãi của các nhà lãnh đạo, đảng viên; phải được thảo luận thẳng thắn, triệt để Trên thực tế có tình hình:không ít cán bộ, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, không thật sự tích cực tham gia ý kiến vào việc xây dựng các văn bản trên, đồng thời cũng không phảimọi ý kiến của người lao động đều được phản ánh tới các chủ đầu tư, nhà quản trị, tình trạng dân trí, trình độ còn thấp cũng chính là nguyên nhân làmhạn chế mức độ dân chủ của công nhân, người lao động Tuy nhiên, cũng có trường hợp ý thức tự giác về dân chủ của người dân, kể cả cán bộ công nhânviên chưa cao nên không tham gia đóng góp ý kiến Thực tế một số trường hợp ý kiến của người lãnh đạo vẫn dường như có sức thuyết phục quyết địnhcuối cùng; ý kiến thuộc thiểu số rất ít khi được đặt lại để xem xét

Trình độ năng lực của chủ đầu tư, cán bộ thực hiện các dự án còn nhiều hạn chế.Việc chọn lựa người lãnh đạo đứng đầu rất quan trọng và quyết định rấtlớn đến sự vận hành của cả hệ thống tổ chức, cơ quan đó Nguyên tắc dân chủ, tập thể đòi hỏi phải lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ, đảng viên về cán bộ

dự kiến bổ nhiệm và chỉ xem xét người được đa số phiếu tín nhiệm Đa số trường hợp thì việc này diễn ra thuận lợi nhưng ở nơi bè phái, cục bộ thì kếtquả bỏ phiếu tín nhiệm không phản ánh đúng đánh giá và tín nhiệm đối với cán bộ, người được đa số phiếu chưa hẳn đã xứng đáng

Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam được xem là một trong những ví dụ thất bại của trào lưu tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước đầu tư tràn lan, đầu tưngoài ngành thiếu chiến lược, lý do một phần chính là do năng lực của các nhà quản lý chưa có tầm nhìn, không đảm bảo được lợi ích giữa người trồngđay và nhà máy, chưa có một nhà máy giấy nào sản xuất lại sử dụng cây đay, hoạt động đầu tư có độ rủi ra cao, không khả thi, khi hoạt động lỗ rất lớnnhưng không thể dừng hoạt động, phải chuyển giao với nhiều nhà đầu tư khác như Tổng Công Ty Giấy Việt Nam, Vinapaco nhưng vẫn không cải thiệnđược Hiện nay, tổng vốn đầu tư đội lên tới 3.000 tỷ đồng mà Nhà máy vẫn chưa được thanh lý và toàn bộ vùng nguyên liệu đay đã bị xóa xổ vì hơn 10năm nay, nhà máy này không hề hoạt động

Trang 8

Mặt khác, một số người lợi dụng “dân chủ” để thực hiện những yêu sách vượt quá khuôn khổ luật pháp, coi thường kỷ cương phép nước.Đặc biệt trongvấn đề thực hiện giải phóng mặt bằng, một số người dân đã được đền bù đúng quy định nhưng vẫn cố tình không bàn giao mặt bằng và kích động nhiềungười khác tham gia đòi tăng tiền đền bù.Một số người dân đã được giải quyết khiếu nại tố cáo đúng pháp luật, chính sách nhưng vẫn không chịu thựchiện quyết định và đến cơ quan nhà nước nhiều lần gây rối mất trật tự, thậm chí thách thức cả công an, cả chính quyền Trong việc giải phóng mặt bằng,xây dựng các vành đai trong công tác quản lý các dự án đầu tư, thực hiện còn chậm tiến độ, chưa đảm bảo quyền lợi, đền bù xứng đáng cho các hộ dân,điển hình như trong việc giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình ở đoạn đường Trường Chinh, còn 335 hộ chưa thu hồi đất, việc khiếu kiện kéo dài của

29 hộ dân điển hiền tại Đống Đa trong việc giá đất đền bù và nhà định cư, ban quản lý dự án phát triển đô thị Hà Nội cùng UBND quận, các sở, ngànhliên quan họp đối thoại với các hộ dân để giải thích; tuy nhiên, các hộ dân chưa đồng thuận

5.4 Giải pháp khắc phục hạn chế

Để khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, một số giải pháp như sau:

Nâng cao nhận thức trách nhiệm cho các địa phương, các ngành, các cơ sở, các doanh nghiệp, người dân trong hoạt động đầu tư về nội dung, bản chất ,thực hiện nguyên tắc Tập trung và dân chủ là hai thành tố cấu thành một chỉnh thể thống nhất của nguyên tắc Hai thành tố này ràng buộc, chế ước lẫnnhau, tập trung phải dựa trên cái nền dân chủ và dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung, dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương Dân chủ càngđược tăng cường thì càng có sự thống nhất tập trung cao Tuyệt đối hóa, nhấn mạnh một yếu tố nào đều không đúng, trái với bản chất của nguyên tắc.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật nghiêm minh những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhànước Thông qua kiểm tra, kịp thời phát hiện những sơ hở của các chủ trương, nghị quyết để bổ sung hoàn thiện phù hợp với quy luật khách quan; đồngthời giáo dục ngăn chặn kịp thời các khuyết điểm, sai phạm của đảng viên

Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc thành quy chế, quy định pháp luật của Nhà nước để tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động đầu tư Cần ràsoát lại những điểm bất hợp lý, lạc hậu trong các quy chế, quy định đã ban hành để bổ sung hoàn thiện, giúp cho việc thực hiện được thống nhất Mỗi loạiquy chế, quy định, luật pháp cần lượng hóa trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu

Đối với từng doanh nghiệp, cơ sở cần xây dựng thiết kế cơ cấu tổ chức phù hợp ví dụ như hiện nay nhiều tổ chức có xu hướng theo phạm vi kiểm soátrộng hơn và ít cấp quản lý hơn, thay đổi nguyên lý thống nhất một thủ trưởng…; quy định, quy tắc làm việc của mình, làm rõ chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của từng cấp, từ bộ phận, từng cá nhân trong doanh nghiệp Tổ chức, chuẩn bị kỹ nội dung, thu hút tập thể tham gia thảo luận để ra các vấn đềcủa đơn vị Không những thế cần hướng vào kiểm tra bộ phận, cá nhân có tư tưởng lợi ích cá nhân, cố tình không chấp hành chỉ thị, nghị quyết, thamnhũng, gây chia rẽ, bè phái làm suy yếu khối đoàn kết nội bộ, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc TTDC để giáo dục, ngăn chặn, không chờ vụ việc vỡ lởmới kiểm tra, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời Lựa chọn nhà Lãnh đạo, người đứng đầu có trình độ, năng lực, phẩm chất,… phù hợp với mục tiêucủa doanh nghiệp,cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước

II - Tình trạng thất thoát và lãng phí vốn đầu tư XDCB của nhà nước

1 Khái niệm và đặc điểm:

1.1.Đầu tư xây dựng cơ bản

1.1.1.Khái niệm

Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vậtchất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội ĐTXDCB là một hoạt động kinh tế

1.1.2.Nguồn vốn

Vốn của dự án ĐTXDCB nói chung được cấu thành bởi các nguồn sau:

Thứ nhất là nguồn vốn của nhà nước Nguồn vốn này bao gồm:

+ Ngân sách nhà nước cấp phát

+ Vốn của các doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, bao gồm vốn từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất đai, nhàxưởng còn chưa sử dụng đến, được huy động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; vốn góp của nhà nước trong liên doanh, liên kết với các thành phầnkinh tế trong nước và nước ngoài

+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước mà Chính phủ cho vay theo lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn tự có hoặc nhà nước đi vay để cho vay lại đầu

tư vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch nhà nước đối với một số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

+ Vốn vay nợ, viện trợ từ bên ngoài của Chính phủ thông qua kênh hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Trên thực tế, một phần vốn này sẽ đưa vào ngânsách đầu tư, còn phần ODA cho các doanh nghiệp vay lại thì đưa vào nguồn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

Thứ hai là nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân và nguồn vốn đóng góp tự nguyện của dân cư vì lợi ích cộng đồng, kể cả đóng góp công lao động, của

cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi

Thứ ba là nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn này bao gồm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp của nước ngoài tại Việt Nam là

nguồn vốn do nước ngoài cung cấp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của Việt Nam, nhưng không tham gia công việc quản lý trực tiếp Vốn đầu tư

8

Trang 9

trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Inverstment – FDI) ở Việt Nam là nguồn vốn nước ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức tự đầu tư100% vốn hoặc liên doanh Ngoài ra còn có nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (Non- Government Organization – NGO).

ĐTXDCB của nhà nước là hoạt động đầu tư của nhà nước, bao gồm các dự án ĐTXDCB được hoạch định trong kế hoạch nhà nước và được cấp phát

bằng nguồn vốn ngân sách của nhà nước, đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước cónguồn gốc từ ngân sách nhà nước

Lãng phí trong đầu tư có thể hiểu là việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư không mang lại hiệu quả như mong muốn, mà nguyên nhân của sự lãng phí này

là xuất phát từ sự thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực của các cơ quan quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các cơ quan tư vấn, thiết kế, cơ quan thẩm định, cơquan trực tiếp quản lý vốn trong quá trình thực hiện đầu tư Theo ý kiến các chuyên gia trong công tác quản lý dự án và quan niệm của các nhà tài trợ thì

đó là các khoản chi không đem lại hiệu quả gì cho dự án hoặc phần chi cao hơn các quy định hợp pháp, chi không đúng quy định của dự án căn cứ theomục đích và động cơ của các hành động trên mà có thể coi đó là lãng phí hay tham ô

2 Nguyên nhân tình trạng thất thoát, lãng phí trong ĐTXDCB của nhà nước

2.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Thất thoát, lãng phí trước hết từ công tác lập quy hoạch, kế hoạch Đây là khâu quan trọng để đảm bảo đầu tư có hiệu quả và phát triển lâu dài Hiện nay,công tác quy hoạch vẫn tồn tại nhiều bất cập, thiếu tính chiến lược tổng thể giữa các cấp, ngành; thiếu tầm nhìn dài hạn, không sát thực; thiếu sự kết hợpgiữa các loại quy hoạch, giữa quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch xây dựng đô thị, nên nhiều dự án phải điều chỉnh hoặc di chuyển, kéo dài thờigian xây dựng công trình

Việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi chưa chú trọng đúng mức khâu điều tra thực tế những ảnh hưởng của công trìnhđối với môi trường và xã hội; lựa chọn địa điểm xây dựng và phân tích dự án đầu tư không chính xác dẫn đến việc dự án sau khi thực hiện xong nhưnghoạt động kém hiệu quả

Ngoài ra, thất thoát lãng phí còn do đầu tư xây dựng công trình không đảm bảo cảnh quan, môi trường, làm tăng chi phí nhân công, vật tư, thiết bị, xử lýmôi trường…

2.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư

Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư, thất thoát, lãng phí thường xảy ra ở những công việc sau:

 Khâu đền bù giải phóng mặt bằng

Việc xác định giá trị đền bù không phải là chuyện đơn giản và rất dễ dẫn đến thất thoát vốn Biểu hiện của thất thoát trong công tác đền bù thường làviệc bớt xén tiền đền bù của dân do người dân không nắm rõ khung giá đền bù do Nhà nước quy định, hoặc tiền đền bù không thoả đáng, không đúng đốitượng; chi trả tiền đền bù không theo định mức, khung giá Nhà nước và địa phương ban hành; móc ngoặc, câu kết với người được đền bù để nâng giá trịđền bù, khai khống diện tích, khối lượng tài sản được đền bù; làm giả hồ sơ, khai khống số hộ được đền bù và chi phí đền bù để rút tiền của Nhà nước, từ

đó làm tăng thêm vốn đầu tư xây dựng công trình

 Khâu khảo sát, thiết kế xây dựng

Thất thoát trong khâu khảo sát xảy ra do công tác khảo sát không đảm bảo chất lượng, chưa sát với thực tế hoặc không đúng với những tiêu chuẩn,quy chuẩn của Nhà nước dẫn đến phải khảo sát lại, việc thi công phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh nhiều lần gây lãng phí thời gian, kinh phí Bên cạnh

đó, việc thiết kế không phù hợp với quy hoạch xây dựng, với thiết kế công nghệ, không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn xây dựng sẽ phải thiết

kế lại, cũng gây lãng phí không nhỏ Chất lượng thiết kế không đảm bảo, không đồng bộ gây lún, nứt; phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư,vật liệu không phù hợp với loại công trình; việc chọn hệ số an toàn quá cao…dẫn đến lãng phí

 Khâu lựa chọn nhà thầu

Việc lựa chọn nhà thầu xây dựng ở nước ta hiện nay còn nhiều biểu hiện tiêu cực, như: Thông đồng, dàn xếp trong đấu thầu; Có sự thống nhất trướcgiữa các đơn vị tham gia đấu thầu để một đơn vị trúng thầu; Mua bán thầu; Bỏ giá thầu thấp dưới giá thành xây dựng công trình Từ thực tế cho thấy,

Trang 10

việc lựa chọn nhà thầu xây dựng, xác định giá gói thầu, giá trúng thầu, thẩm định kết quả đấu thầu ở nhiều dự án thiếu sự minh bạch; phương thức liêndanh, liên kết giữa các nhà thầu còn nhiều bất cập, đây chính là những nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng.

 Khâu thi công xây lắp công trình

Thất thoát trong khâu thi công xảy ra do nhà thầu thi công không đảm bảo khối lượng xây lắp theo thiết kế được phê duyệt hoặc thi công không đúngthiết kế dẫn đến phải phá đi làm lại Thất thoát từ vật liệu xây dựng cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể Vật liệu xây dựng đi qua nhiều khâu trung gian,nâng giá, gửi giá, tăng khối lượng, dùng vật liệu có giá thấp (chất lượng thấp); ăn bớt vật liệu, nên chất lượng công trình không đảm bảo Việc giám sátthi công không chặt chẽ, cán bộ tư vấn, giám sát làm ngơ trước những vi phạm của nhà thầu thi công

 Trong việc bố trí và sử dụng vốn

Nhiều dự án vi phạm thủ tục đầu tư nhưng vẫn được phê duyệt kế hoạch đầu tư khi chưa có kế hoạch vốn

Bố trí kế hoạch đầu tư phân tán, dàn trải, thiếu tập trung khiến nhiều dự án phải chờ vốn, kéo dài tiến độ qua nhiều năm Việc đầu tư dàn trải dẫn đến tìnhtrạng kéo dài thời gian thi công các công trình, dự án; nguồn vốn ngân sách đã eo hẹp lại phải rải cho nhiều dự án cùng dở dang, chậm đưa vào sử dụngnên không phát huy hiệu quả đầu tư Bên cạnh đó là việc sử dụng vốn sai mục đích, không đúng chế độ

 Trong nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành

Thất thoát ở giai đoạn nghiệm thu, thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành do việc áp dụng sai đơn giá, sai các định mức kinh tế kỹ thuật, tính toánkhông chính xác khối lượng xây lắp hoàn thành, nhà thầu thông đồng với cán bộ tư vấn nghiệm thu khống

2.3 Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư

Ở giai đoạn này, thất thoát, lãng phí vốn đầu tư vẫn xảy ra do công trình đã hoàn thành xây dựng, đã bàn giao nhưng vẫn chưa được nghiệm thu, quyếttoán Khi lập quyết toán, các bên có liên quan thông đồng với nhau để quyết toán khống khối lượng công; quyết toán sai hoặc khống khối lượng, chủngloại vật tư, thiết bị; áp dụng sai các định mức, đơn giá của Nhà nước, địa phương

KL: Nguyên nhân của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB:

Do cơ chế quyết định đầu tư còn nhiều bất cập Cơ chế quyết định đầu tư trao quá nhiều quyền cho người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầutư.Việc quyết định đầu tư do cá nhân quyết định nên rất dễ dẫn đến tiêu cực,lợi ích nhóm chi phối Nguy hại hơn là không có ngườichịu trách nhiệm vềhiệu quả đầu tư Thực tế đã có nhiều công trình đầu tư không hiệu quả, gây lãng phí, làmthất thoát lớn vốn nhà nước nhưng không có cá nhân nào chịutrách nhiệm

Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước chưa có chế tài quy định xử lý tráchnhiệm của người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư Năm 2014, Nhà nước đã ban hành Luật Đầu tư công, quy định việc quản lý và sử dụngvốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tưcông Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có được nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật, do vậy để Luật Đầu tư công thực sự phát huy tác dụngtrong thực tiễn

Công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nói chung và tham nhũng, thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựngnói riêng chỉ thực sự có hiệu quả khi chúng ta chỉ ra được nguyên nhân căn bản của tình trạng tham nhũng và có trong tay những công cụ pháp lý đủmạnh Cần khẩn trương xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư công, trong đó nêu rõ trách nhiệm và xử lý tráchnhiệm đối với người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư dự án, công trình xảy ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả, trong đó:

- Xác định rõ các hành vi của người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư bị coi là vi phạm

- Các hình thức xử lý trách nhiệm: Bồi thường vật chất, xử lý hành chính, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm

- Quy định rõ thời hiệu xử lý vi phạm

- Quy trình, thủ tục xử lý trách nhiệm của người vi phạm

- Các điều kiện, biện pháp bảo đảm hiệu quả các hình thức xử lý vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là hình thức bồi thường vật chất- Cáchình thức công khai việc xử lý vi phạm đối với người vi phạm

3.Thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư

3.1.Thực trạng, thất thoát lãng phí trong những năm qua

Theo thống kê của bộ Kế hoạch và đầu tư nhận thấy số dự án gây thất thoát, lãng phí có xu hướng ngày càng tăng cao và nhiều trong giai đoạn

2010-2015 gây tổn thất một nguồn vốn lớn của nhà nước

10

Trang 11

Biểu đồ thể hiện số dự án thất thoát, lãng phí giai đoạn 2010-2015

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư có thể xảy ra trong tất cả các khâu của dự án đầu tư và trong bước quy hoạch ngay từ ban đầu

3.1.1Thất thoát, lãng phí trong quy hoạch

Hiện nay chất lượng QH phát triển nhiều ngành chưa cao hoặc chậm được phê duyệt chưa gắn kết chặt chẽ QH phát triển ngành với vùng và địa phươngchưa sát với thực tế chồng chéo thiếu tầm nhìn dài hạn chưa chú trọng thỏa đáng đến yếu tố môi trường và xã hội.Chất lượng quy hoạch còn hạnchế ,thiếu tầm nhìn dài hạn và đồng bộ chưa tuân thủ tính khách quan của quy luật thị trường Kế hoạch đầu tư phải chờ điều chỉnh trong khi Qh khôngqua quan sát dẫn đến có công trình xây dựng xong hiệu quả thấp gây TTLP lớn.Tình trạng QH cho có hình thức để đủ thủ tục xin vốn đầu tư khôngchuẩn bị kỹ vẫn phổ biến Khi chất lượng công trình kém ,xuống cấp nhanh thì lại đổ cho thời gian nhiệm vụ gấp phải bảo đảm tiến độ được giao.Tínhpháp lí của QH thấp phổ biến tình trạng không tuân thủ nghiêm theo kế hoạch được phê duyệt Thay đổi bổ sung không đúng thẩm quyền làm sai lệch

QH chung chưa tôn trọng QH của các ngành khác Theo nhận định của một số chuyên gia kinh tế ,TTLP do công tác QH gây ra lến tới 60-70% tổngTTLP trong đầu tư

a Quy hoạch thiếu tầm nhìn dài hạn

Thiếu tầm nhìn thiếu tính dự báo các QH sẽ rời rạc chắp vá thiếu liên kết kém bền vững không hiệu quả gây lãng phí về cơ hội về tài nguyên đất đai vốnđầu tư nguồn nhân lực …Quy hoạch đầu tư ở nước ta hiện nay thực sự chưa có sự thẩm định một cách kỹ càng về các căn cứ kinh tế xã hội như điềukiện tự nhiên vị trí địa lí hay các yếu tố thị trường Từ đó 1 số Quy hoạch đã thể hiện rõ nét những sai sót yếu kém thiếu thị trường đầu vào sản phẩm đầu

ra không có chỗ đứng, không tiêu thụ được,nhà máy buộc phải đóng cửa, gây lãng phí vốn đầu tư

Ví dụ: Tại nhiều DN như Công ty CP Xuất khẩu nông sản Ninh Thuận do thiếu nguyên liệu, năng lực dây chuyền sản xuất của DN đạt 60 tấn/ngày nhưnghiện chỉ sản xuất cầm cự khoảng 25 tấn/ngày Ngoài ra do lo ngại thiếu nguyên liệu chế biến, các DN đã tranh nhau thu mua đã đẩy giá điều trong nước

từ đầu năm đến nay tăng liên tục, trong khi giá xuất khẩu vẫn dậm chân tại chỗ đang gây nhiều khó khăn cho DN

Do công tác QH, đặc biệt là QH vùng nguyên liệu còn nhiều bất cập, việc xác định quy mô địa điểm một số cơ sở chế biến chưa tốt, chưa phù hợp vớikhả năng cung cấp nguyên liệu; thậm chí có những doanh nghiệp còn chưa coi trọng việc phát triển vùng nguyên liệu, họa động duưới công suất Hậuquả là nhà máy buộc phải đóng cửa sản xuất, không có khả năng trả nợ, và việc quyết định đầu tư cho nhà máy đã gây lãng phí lớn

b Quy hoạch dàn trải, thiếu tập trung

Vốn đầu tư lấy từ ngân sách nhà nước bị phân bố dàn trải vào nhiều dự án đầu tư ở nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, chưa có sự tập trung, chú trọng đặcbiệt để phát triển, nên không thể tạo những đột phá, hiệu quả thức sự

Số dự án đầu tư tang nhanh qua các năm không tương xứng với tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư Nhiều dự án chưa đủ thủ tục cũng đc ghi vốn hoặcngược lại không có nguồn vốn cũng cho triển khai, nhiều dự án công trình kéo dài do thiếu vốn thậm chí không theo kế hoạch

c TTLP do quy hoạch thiếu đồng bộ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ.

Sự thống nhất giữa các QH của ngành, vùng lãnh thổ là một điều quan trọng cần thiết, đảm bảo cho phát triển toàn diện, cần bằng các tổng thể kinh tế

xã hội chung Nhưng thực tế hiện nay việc lồng ghép các quy hoạch giữa các ngành với nhau, giữa các ngành với các vùng lãnh thổ ở nước ta thực hiệnchưa tốt, dẫn đến hậu quả là các dự án quy hoạch tràn lan, chồng chéo không phát huy được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, gây TTLP nặng nề

 TTLP do QH thiếu đồng bộ giữa các địa phương

Một trong những khó khan của công tác quy hoạch là sức ép rất lớn từ các địa phương Các cụm công nghiệp, các công trình giao thông, các cảng biểnthường đưa lại những lợi ích to lớn, thậm chí, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của nhiều địa phương Chính vì vậy, các địa phương đều mong muốn được đưavào quy hoạch và được có các công trình, dự án này Và không ít các dự án QH chỉ xuất phát từ những bức xúc, bất cập và nhu cầu thực tế trước mắt củangành , địa phương, chưa tính đến triển vọng phát triển kinh tế, công nghệ và hội nhập chung của cả vùng và cả nước

 TTLP do quy hoach thiếu đồng bộ giữa các ngành

Trang 12

Các ngành kinh tế không tồn tại và phát tiển độc lập mà bao giờ cũng lệ thuộc lẫn nhau, tương tác, thúc đẩy nhau và ngược lại sẽ cản trở, níu kéo nhaunếu không có sự phối hợp liên ngành Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị, cấp thoát nước đô thị, đường bộ, đường thủy, cảng biển, cảng cá, sân bay… đềuđược lập quy hoạch riêng rẽ dẫn tới thiếu đồng bộ và nhiều khi gây trở ngại cho nhau Khi lập kế hoạch đầu tư, việc thiếu vắng quy hoạch lãnh thổ quốcgia và quy hoạch vùng khiến việcxác định thứ tự ưu tiên đầu tư cũng như việc tạo lập hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ gặp nhiều khó khăn

TTLP do chưa thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng với quy hoạch đất đai

3.1.2 Trong chuẩn bị đầu tư

Theo nhận định của các nhà đầu tư TTLP trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư là khá phổ biến nó xảy ra ở hầu hết các dự án lớn nhỏ trên cả nước.Tình trạngđầu tư không theo quy hoạch được duyệt ,lách quy hoạch ,sai quy hoạch hay do khâu khảo sát nghiên cứu thiếu tính đồng bộ,chủ trương đầu tư khôngđúng khi xem xét phê duyệt dự án đầu tư trong đó có các khía cạnh như :dự án đầu tư có cần thiết không,đầu tư vào lúc nào và ở đâu,…Nhiều dự án sửdụng vốn đầu tư cơ bản của nhà nước thông qua nhiều cơ quan chức năng có thẩm quyền đã phê duyệt các dự án công trình đầu tư không có tính khả thi

và kém hiệu quả

a TTLP trong khâu lập dự án

Tình trạng thất thoát lãng phí do hậu quả của việc lập dự án đầu tư chưa tốt như vậy chiếm tỷ trọng cao trong tổng cơ cấu dự án đầu tư đang triển khai ởnước ta.Thực tế cho thấy rằng thất thoát lớn nhất có thể xuất hiện ngay trong giai đoạn lập dự án ,khảo sát ,thiết kế chiếm trên 70% tổng số thất thoát.Chủ trương đầu tư sai lầm bắt nguồn từ việc quy hoạch sai hay không có các quy hoạch dự án,đầu tư không có quy hoạch ,không theo quy hoạch đượcphê duyệt hoặc phê duyệt sai không phù hợp với đặc điểm kinh tế điều kiện tự nhiên ,… cũng sẽ dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp

Chất lượng tư vấn lập dự án và lập thiết kế dự án chưa caoKết luận thanh tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Công tác quản lý nhà nước về đầu tư pháttriển bằng nguồn vốn nhà nước

Ví dụ: Dự án Đường Tây Sơn - Thượng Đạo do UBND thị xã An Khê làm chủ đầu tư vừa thi công xong nền đường thì dừng lại không thi công tiếp, dothay đổi quy hoạch khu dân cư nên tuyến đường không còn cần thiết

Công tác khảo sát dự án trước khi tiến hành lập dự án còn sơ sài,cẩu thả dẫn đến lập dự án không chính xác do số liệu thu nhập chưa đầy đủ Hậu quảgây thất thoát lãng phí và làm tiến độ kéo dài quá thời gian quy định Chất lượng dự án chưa cao buộc phải điều chỉnh nhiều lần làm tang tổng mức đầutư,tang chi phí bồi thường lên gấp nhiều lần

b Khâu thẩm định dự án

Tình trạng việt nam hiện nay khâu thẩm định dự án còn 1 số bất cập dẫn đến tình trạng thất thoát lãng phí trong dự án đầu tư do sự đánh giá thiếu chínhxác.Thẩm định thiết kế chỉ mang tính hình thức hiệu quả thật sự không cao đặc biệt công trình có quy mô lớn ,kĩ thuật phức tạp vì đội ngũ thực hiệncông iệc này mỏng và yếu Theo ước tính, hiện có khoảng 45-50% dự án đầu tư công phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện, nhiều dự án điều chỉnhtăng tổng mức đầu tư quá lớn làm giảm hiệu quả đầu tư hoặc không còn hiệu quả đầu tư Số dự án đầu tư công chậm tiến độ chiếm khoảng 11% tổng số

dự án được đầu tư Một số dự án đầu tư hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả, không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Có những dự án đầu tưcông nội dung trùng lắp, chồng chéo, gây cản trở, hoặc làm mất hiệu quả của các dự án đầu tư trước đó

Rõ ràng thẩm định chưa hiệu quả các dự án đầu tư,nhất là các dự án đầu tư công.Đầu tư cần phải phê duyệt theo tổng thể QH ,nhưng không được chạytheo phong trào Vì vậy cần phải minh bạch hóa hoạt động đầu tư

3.2.3.Trong giai đoạn thực hiện đầu tư

a Về giải phóng mặt bằng

Vướng mắc trong giải phóng mặt bằng luôn là một trong những yếu tố gây cản trở lớn tới các dự án trong những năm vừa qua

Theo báo cáo tổng hợp công tác giám sát, đánh giá của bộ Kế hoạch và đầu tư qua các năm ta có thể nhận thấy với số dự án chậm tiến độ qua các năm thìnguyên nhân góp một phần không nhỏ là do giải phóng mặt bằng chiếm gần 40% Dễ nhận thấy nhất là khi GPMB bị tắc chính là thời gian thi công các

dự án kéo dài hơn dự kiến, làm giảm hiệu quả đầu tư gây tổn thất Có thể kể đến một số công trình thời gian qua như: Dự án đường vành đai 2 đoạn Ngã

Tư Sở - Ngã Tư Vọng, có chiều dài 1.980 mét, rộng 14 mét được xây dựng từ năm 2011 Dự án này chạy qua quận Đống Đa và Thanh Xuân, liên quan đến giải phóng mặt bằng của hơn 600 hộ dân.Đến thời điểm này, trên địa bàn quận Đống Đa còn 335/454 hộ dân phải dời dành đất cho công trình Từ việc khó khăn giải phóng mặt bằng, khiến dự án này phải xin UBND thành phố Hà Nội gia hạn hoàn thành đến cuối năm 2016.

b Về công tác đấu thầu

Trong thực tế lâu nay đã áp dụng 2 hình thức lựa chọn nhà thầu là chỉ định và đấu thầu xây dựng Hình thức đấu thầu là hình thức tiến bộ trong chọn thầuxây dựng, nhưng trong thực tế đã và đang diễn ra nhiều tiêu cực gây ra thất thoát, lãng phí và tham nhũng làm sai lệch bản chất đấu thầu do:

-Không thực hiện đúng trình tự đấu thầu

-Xét thầu, đánh giá để loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu không chính xác, thiếu chuẩn mực

-Hiện tượng thông đồng giữa các nhà thầu khi tham gia đấu thầu đã khống chế giá trúng thầu cho đơn vị được thỏa thuận để thắng thầu

12

Trang 13

-Việc chuẩn bị đấu thầu và công tác tổ chức đấu thầu không đảm bảo chất lượng cũng sẽ dẫn đến gây thất thoát, lãng phí và tiêu cực về vốn và tài sảntrong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản

c thi công, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đầu tư

Công tác theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện đầu tư của chủ đầu tư, ban quản lí dự án, của tư vấn giám sát không chặt chẽ, thậm chí mang tínhhình thức dẫn đến việc nhà thầu làm sai thiết kế, sử dụng vật tư không đúng cách, không đảm bảo chất lượng, bớt xén nguyên liệu, rút lõi công trình, cácphần của dự án đầu tư nhiều khi được nghiệm thu không đúng chế độ, khai tăng khối lượng, nghiệm thu khống khối lượng, nâng giá trị vật tư, nguyên vậtliệu lên dẫn tới những hậu quả vô cùng nghiêm trọng

Ví dụ: Tại dự án đại lộ Đông Tây thành phố Thanh Hóa, đơn vị thực hiện dự án đã thay đổi vật liệu từ san nền bằng cát sang đất tận dụng, chuyển từ gạchđặc sang gạch lỗ, nên số tiền cần phải giảm giá trị quyết toán trên 3,94 tỉ đồng

d Về khâu nghiệm thu, thanh quyết toán công trình

Ở các công trình ĐTXDCB của nhà nước, những hội đồng nghiệm thu thường mang tính hình thức Thành phần hội đồng nghiệm thu mang tính đại diện.Chất lượng công trình được xem xét qua loa, hình thức rồi cho nghiệm thu nên nhiều công trình mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng xuống cấp nghiêmtrọngTất cả những tiêu cực gây thất thoát và lãng phí nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cho hiệu quả đầu tư thấp

Ví dụ: Công trình Nhà máy xử lý rác An Khê (Gia Lai) - Một nhà máy xử lý rác quy mô gần 120 tỉ đồng được xây nhưng bỏ hoang gần ba năm, khôngthể hoạt động vì… lỗi kỹ thuật Qua kiểm tra, Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Gia Lai phát hiện công trình đã được nghiệm thu khống khối lượng gần 65 tỉđồng, nghiệm thu khống khối lượng để thanh toán cho nhà thầu hệ thống lò đốt từ Đức, băng chuyền phân loại rác

3.2.4.Trong vận hành kết quả đầu tư

Tất cả các sai phạm trong các khâu quy hoạch, chuẩn bị đầu tư hay trong giai đoạn đầu tư đều để lại hậu quả nghiêm trọng trong giai đoạn vận hành kếtquả của đầu tư là dự án không hoạt động hiệu quả như dự kiến ban đầu như dự án không đạt được công suất hiệu quả hay giảm tuổi thọ, gây ô nhiễm môitrường, bên cạnh đó cũng rất quan trọng, vận hành có tốt hay không còn dựa vào quá trình tổ chức quản lí hoạt động, cán bộ điều hành, quá trình chọnlựa các phương thức vận hành thích hợp với tùy từng dự án khác nhau

Không phát huy đầy đủ và có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã dượcđề ra trong dự án đầu tư

Theo số liệu thống kê năm 2014 có 27 dự án đưa vào sử dụng nhưng không hiệu quả, số liệu này năm 2013 là 46 dự án Sau đây là một vài công trình

điển hình cho sự lãng phí không có hiệu quả này

Bảo tàng Hà Nội – 2.300 tỷ đồng: Bảo tàng Hà Nội được khánh thành vào tháng 10/2010 với chi phí xây dựng 2.300 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước Dù

chi phí xây dựng là rất cao, nhưng đến nay bảo tàng này rất vắng khách Dù không gian rộng rãi, hàng cây được cho là quý hiếm mọc thẳng tắp, nhưnglác đác chỉ vài người qua lại Dù được khánh thành từ năm 2010 nhưng đến nay – sau 5 năm, bảo tàng vẫn được xem là “rỗng ruột” do bảo tàng to lớn đồ

sộ nhưng hiện vật lại rất ít

Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như vị trí địa lí, nguồn nước, khí hậu,

Nhiều nhà máy thủy điện xây dựng xong không thể hoạt động do sông cạn nước, một số công trình gặp lũ bị cuốn trôi, nhiều dự án xây dựng các khucông nghiệp cho nước ngoài thuê mà không có ai thuê do vị trí xa xôi, không thuận tiện cho giao thông liên lạc, vận chuyển hàng hóa tới nơi tiêu thụ, vậnchuyển nguyên liệu vào trong khu sản xuất, Một trong những điển hình là công trình đầu tư nhà máy lọc dầu Dung Quất được đặt tại khu kinh tế DungQuất Tuy nhiên việc xây dựng cảng biển phục vận chuyển dầu lại gặp một việc khó khăn là có nhiều cát bồi và cảng biển quá nông chỉ có thể xây cảngbiển nhỏ chứ không xây dựng được cảng biến lớn trong khi phục vụ cho nhà máy lọc dầu quy mô lớn như nhà máy lọc dầu Dung Quất thì bắt buộc phải

Trang 14

đó có những lĩnh vực không liên quan đến công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, có nhiều công ty, dự án thua lỗ nặng nề;Sản xuất, kinh doanh đình trệ; bị mất hoặc giảm nhiều đơn đặt hàng; nhiều dự án đầu tư dở dang, không hiệu quả; Tình hình nội bộ diễn biến phứctạp, đây chỉ là một trong số các dự án điển hình trong các dự án thất thoát lãng phí vốn đầu tư gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế.

4.2 Tác động đến xã hội

Tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư gây ra nhiều tiêu cực cho xã hội

Trước hết, hậu quả của thất thoát và lãng phí là gia tăng tệ nạn xã hội và thoái hóa đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý Những hành vi phạm phápkhông được xử lí thích đáng do các cán bộ, nhân viên chính quyền bị mua chuộc Chính vì tham lam mà nhưng viên chức này đã nhận hối lộ và đồng thờicũng gián tiếp làm hợp pháp hóa những hành vi sai trái Người dân hàng ngày chứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần

họ quen thuộc với những hành vi này và cuối cùng trở thành bình thường hoá trong xã hội

5.Giải pháp:

5.1 Giải pháp từ con người

 Nâng cao phẩm chất đạo đức

Cần phải nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ để làm gương cho đội ngũ nhân viên dưới quyền ,không tham ô ,tham nhũng không kí liều nhận hối lộ

 Nâng cao trình độ chuyên môn

Một cán bộ phải có trình độ chuyên môn cao thì mới đủ tư cách lãnh đạo cả một bộ máy nguồn nhân lực ,có đủ uy quyền khiến cho cấp dưới nể phục, đủtầm hiểu biết kiểm soát tiến độ công việc mới có đủ khả năng vận hành kết quả đầu tư

Muốn đào tạo được đội ngũ có trình độ chuyên môn cao,ta phải rà soát lại hệ thống giáo dục nước nhà ,đầu tư cho hệ thống giáo dục ,vừa đưa ra những

cơ chế chính sách ,hệ thống giám sát chặt chẽ để tránh tiêu cực tránh việc có bằng cấp mà kiến thức nào cũng rỗng: Đào tạo cán bộ nhân viên có đủ nănglực trình độ tránh tình trạng làm ẩu;

có những cách thu hút được những người tài ,khâu thu hút phải có nhiều chế độ đãi ngộ đặc biệt là chế độ tiền lương ,…

5.2Giải pháp từ chính sách nhà nước

5.2.1 phân cấp quản lí và định rõ trách nhiệm

- Quy định chặt chẽ ,rõ ràng trách nhiệm của các thành viên tham gia hoạt động đầu tư.Cần xác định rõ nguyên tắc tập trung dân chủ thì người quyết định

là người chịu trách nhiệm

- Chủ dự án có trách nhiệm toàn diện ,liên tục về quản lí và sử dụng các nguồn vốn đầu tư khi chuẩn bị đầu tư thực hiện đầu tư đưa chương trình dự ánvào khai thác sử dụng,thu hồi hoàn trả vốn vay

- Cần trả thù lao tương xứng với trách nhiệm,có chế độ khuyến khích thưởng phạt nghiêm minh

- Kiên nquyết xử lí mọi hành vi vi phạm pháp luật ,vi phạm quy định quản lí đầu tư ,xây dựng và chi tiêu Không bao che dung túng nể nang né tránh

- Những cán bộ có trách nhiệm trực tiếp quản lí dự án trước khi được giao nhiệm vụ phải khai báo tài sản và thu nhập cá nhân

5.2.2.Hệ thống pháp luật

- tích cực hoàn thành hệ thống pháp luật ,đặc biệt là luật đầu tư ,gắn pháp luật với thực tế của hoạt động đầu tư

- phải có văn bản hướng dẫn luật cụ thể ,ban hành ,phổ biến ,hướng dẫn và tổ chức thực hiện các chính sách ,pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư

- tổng hợp kiến nghị hoặc hủy bỏ các văn bản pháp luật không còn phù hợp hoặc do các cấp ban hành không đúng thẩm quyền

- Việc cấp giấy phép thủ tục còn rườm ra ,rắc rối cần điều chỉnh luật vẫn còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nướcngoài ,cần có sự công bằng cạnh tranh hoàn hảo cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động ,buộc các doanh nghiệp nhà nước phải tựthân vận động ,tự chịu trách nhiệm với các quyết định của mình

5.2.3.Công tác quy hoạch

- nâng cao chất lượng quy hoạch,đổi mới nộ dung ,phương pháp lập quy hoạch phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế

- quy hoạch phải có sự gắn kết giữa quy hoạch tổng thể KT_XH một cách hiệu quả,rà soát điều chỉnh bổ sung ,tránh tình trạng lạc hậu

- quy hoạch phải có sự đồng bộ giữa các ngành,các địa phương phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội ,khắc phục tư tưởng cục bộ trong quyhoạch ,loại bỏ cơ chế xin-cho

- tăng cường công tác nghiên cứu dự báo khảo sát thực trạng điều kiện tự nhiên ,vụ trí địa lí ,yêu stố thị trường

5.2.4.Cơ chế thanh tra giám sát

14

Trang 15

- Cần quy định rõ và cụ thể nội hàm khái niệm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành theo tinh thần của Luật thanh tra,sao cho phù hợp vớithực tiễn và yêu cầu cải cách hành chính ,tạo cơ sở pháp lí để xác định mục tiêu ,nội dung,đối tượng ,và phân cấp thẩm quyền hoạt động thanh tra

- cần sửa đổi theo hướng :các cơ quan thanh tra thành lập theo cấp hành chính chỉ tập trung vào nhiệm vụ giám sát hành chính đối với các cơ quanhành chính nhà nước thuộc phạm vi trực tiếp của thủ trưởng cấp hành chính cùng cấp ,thực hiện chức năng thanh tra hành chính hướng vào xem xétviệc thực hiện chính sách,nhiệm vụ

- Bổ sung them nhiều cán bộ “có năng lực,trình độ” vào lực lượng thanh tra điều tra

- Trang bị thêm trang thiết bị kĩ thuật và tăng kinh phí cho lực lượng thanh tra điều tra

- có sự thưởng phạt phân minh và xác định rõ trách nhiệm của lực lượng này đối với sự gia tang số vụ và mức độ thất thoát

5.3 Các giải pháp hạn chế TTLP do đặc điểm của đầu tư phát triển

 Bố trí vốn hợp lí: Các dự án đầu tư phải có quyết định đầu tư của các cấp có thẩm quyền tại thời điểm trước tháng 10 của năm kế hoạch Đây làđiều kiện tiên quyết không được phép châm trước khi cấp phát vốn đầu tư Đồng thời phải bố trí điều hành kế hoạch đầu tư kết hợp ngắn hạn dàihạn cho phù hợp

 Tiến hành phân kì :Do vốn nằm lại khê đọng trong suất quá trình thực hiện đầu tư,bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từnghạng mục công trình từ đó có thể sớm đưa vào sử dụng

 Giảm rủi ro trong đầu tư:

-Đa dạng các nguồn cung cấp nguyên liệu có các phương án dự trữ nguyên liệu để phòng trừ các trường hợp bất lợi của tự nhiên

-Làm tốt công tác nghiên cứu thị trường,dự báo trước các xu hướng tiêu dùng của khách hàng,xu hướng biến động giá cả hàng hóa trong nước và trên thếgiới

III - Phân tích vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong DN Cho biết nội dung hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực (trang 435)

1 Phân tích vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong DN.

1.1 Các khái niệm

Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và

có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”

Phát triển Nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội

của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân Áp dụng vào từng doanh nghiệp cụ thể, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tưtrong lĩnh vực doanh nghiệp kinh doanh nhằm tạo ra nguồn lực con người với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành, đồng thờiđảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân

2 ND của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm: đầu tư đào tạo nguồn nhân lực; đầu tư chăm sóc sưc khỏe, y tế;đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc; trả lương đúng và đủ cho người lao động

2.1 Đầu tư đào tạo nhân lực

Hoạt động đào tạo trong doanh nghiệp gồm đào tạo chính quy, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ … Giáo dục cơ bản cung cấp những kiến thức cơ bản đểphát triển năng lực cá nhân Giáo dục nghề và giáo dục đại học (đào tạo) vừa giúp cho người học có kiến thức đồng thời cung cấp tay nghề, kỹ năng,chuyên môn

Hoạt động đầu tư đào tạo của doanh nghiệp cần tuân thủ một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực rõ rang

Thứ hai, khuyến khích nhân viên đến với trường đại học

Thứ ba, gắn hiệu quả đào tạo với nâng cao năng lực làm việc, tạo ra lợi thế cạnh tranh

Thứ tư, lấy thực tiễn công việc làm thước đo nhu cầu đầu tư cho đào tạo

Thứ năm, khuyến khích người lao động tự học và học tập suốt đời

Thứ sáu, chi phí đào tạo là chi phí đầu tư phát triển dài hạn

2.2 Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động

Trang 16

Đầu tư cải thiện mội trường làm việc để đảm bảo đầy đủ các điều kiện vật chất, kỹ thuật, an toàn, đảm bảo vệ sinh và sức khỏe cho người lao động, đảmbảo các yêu cầu về thẩm mỹ và tâm lý lao động

2.3 Hoạt động đầu tư cho lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe người lao động trong doanh nghiệp

Bao gồm: đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe; đầu tư đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế; chi phí khám sức khỏe định kỳ, khám pháthiện bệnh nghề nghiệp; chi phí cho công tác vệ sinh lao động, an toàn thực phẩm; đầu tư cho công tác bảo hộ lao động như trang phục bảo hộ lao động,trang bị phòng sơ cấp cứu và các tao nạn lao động thường gặp trong sản xuất; chi phí bảo hiểm y tế, xã hội chi người lao động

2.4 Trả lương đúng và đủ cho người lao động

Tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp Tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trịsản phẩm, dịch vụ Các doanh nghiệp sử dụng tiền lương để làm đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy tăng năngsuất lao động Trong quá trình phát triển, doanh nghiệp ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của việc trả lương đúng và đủ cho người lao động đối với sựphát triển của doanh nghiệp Lương phù hợp với mức cống hiến khiến người lao động vững tâm và phấn đấu hơn, đóng góp, cống hiến nhiều hơn, năngsuất lao động cao hơn… góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Xu hướng chủ đạo, quan niệm trả lương đúng và đủ là hoạt động đầu

3.1 Yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay

Nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, từ bối cảnh trong nước, phát triển nguồn nhân lực đangđứng trước những yêu cầu:

Thứ nhất, bảo đảm NNL là một trong ba khâu đột phá cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra : chuyển đổi mô

hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ; chuyểndịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; tăng nhanh hàm lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp

và của nền kinh tế; tăng năng suất lao động, tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực;…

Thứ hai, Việt Nam có lực lượng lao động lớn, một mặt, tạo cơ hội cho nền kinh tế có bước phát triển mạnh mẽ, mặt khác, tạo sức ép lớn về giải quyết

việc làm và đào tạo nghề nghiệp

Thứ ba, nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của người lao động ngày càng cao hơn cả về số lượng và chất lượng do mức thu nhập ngày càng cao, do chuyển

dịch cơ cấu kinh tế, do quá trình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ, do sự xuất hiện của những ngành, nghề mới,…

Thứ tư, sự phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu phát triển cân bằng hơn giữa các vùng miền, xuất phát từ yêu cầu giữ vững ổn định chính trị,

bảo đảm an ninh, quốc phòng để phát triển đất nước

Từ bối cảnh quốc tế, phát triển nguồn nhân lực đang đứng trước những yêu cầu:

Thứ nhất, Việt Nam phải có đủ nhân lực để có khả năng tham gia vào quá trình vận hành của các chuỗi giá trị toàn cầu trong xu thế các tập đoàn xuyên

quốc gia có ảnh hưởng ngày càng lớn

Thứ hai, nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài

chính (do tác động và hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới); có khả năng đề ra các giải pháp gia tăng cơ hội phát triển trong điều kiện thay đổinhanh chóng của các thế hệ công nghệ, tương quan sức mạnh kinh tế giữa các khu vực

Thứ ba, nhân lực nước ta phải được đào tạo để có khả năng tham gia lao động ở nước ngoài do tình trạng thiếu lao động ở nhiều quốc gia phát triển để

phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu và khuvực

3.2 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam

Dân số: Quy mô dân số tương đối lớn, dân số phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nôngthôn) Trình độ học vấn của dân cư ở mức khá; tuổi thọ trung bình tăng khá nhanh

Lao động: Thể lực và tầm vóc của nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao, tuy nhiên so với các nước trong khu vực Lao động

Việt Nam được đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù, tuy nhiên ý thức kỷ luật, năng lực làm việc theo nhóm, … còn nhiều hạn chế

Đào tạo: Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố

theo vùng, miền, địa phương,… chưa đồng nhất, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội

16

Trang 17

Sử dụng nhân lực: Lực lượng lao động đã được thu hút vào làm việc trong nền kinh tế là khá cao Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng Đội

ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp khá đã được thu hút và phát huy hiệu quả lao động cao ở một số ngành, lĩnh vực như bưuchính viễn thông, công nghệ thông tin, sản xuất ô tô, xe máy, đóng tàu, công nghiệp năng lượng, y tế, giáo dục,… và xuất khẩu lao động Đội ngũ doanhnhân Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và cải thiện về kiến thức, kỹ năng kinh doanh, từng bước tiếp cận trình độ quốc tế

Có thể khái quát một số hạn chế chủ yếu của nguồn nhân lực nước ta như:

Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sửdụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội

Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất

là để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó

Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém vềnăng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp; vẫn cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụnghiệu quả

Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn rất hạn chế.Trong môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hoá thế giới luôn là điểm yếu của lao động Việt Nam

Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức văn hoá công nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể ngườilao động chưa cao

NSLĐ còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới Mặt khác, đáng lo ngại là năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn sovới các nước đang phát triển trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xia

Nguyên nhân:

Thứ nhất, nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho phát triển nhân lực của phần lớn các gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để bảo

đảm chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao

Thứ hai, quản lý nhà nước về phát triển nhân lực còn những bất cập so với yêu cầu Nhiều mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chưa tính toán đầy đủ các

điều kiện thực hiện Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chưachặt chẽ

Thứ ba, hệ thống giáo dục quốc dân - lực lượng nòng cốt trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đất nước bộc lộ nhiều hạn chế: công tác phân luồng

định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa tốt; công tác đào tạo, giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự dựa trên cơ

sở nhu cầu xã hội, …

Thứ tư, hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh tế,

xã hội, văn hoá nước ta với thế giới Còn nhiều sự khác biệt trong các quy định về giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nhân lực của hệ thống pháp luật ViệtNam so với pháp luật của các nước; mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo nhân lực chưa tương thích vàchưa phù hợp với các tiêu chuẩn phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới; chưa thu hút được nhiều các nguồn lực quốc tế cho phát triển nhân lực.Môi trường pháp lý, điều kiện làm việc, cơ chế chính sách chưa bảo đảm cho trao đổi nhân lực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa Việt Nam

và các nước được thực hiện thuận lợi, chưa phát huy hết tiềm năng của khả năng hợp tác quốc tế này phục vụ phát triển nguồn nhân lực của đất nước

3.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2017-2020

3.3.1 Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực

Trong đó, cần tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quảhoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực Xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực trên địa bàn cả nước nhằm bảo đảm cân đối cung -cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát triển nhân lực Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấpcác ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực

3.3.2 Bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực

Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưutiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượngchính sách,…) Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo,

cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; Góp vốn, mua công trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực Cần quy định trách nhiệm của doanh nghiệpđối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế, chính sách mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triểnnhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng Mở rộng các hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh,sinh viên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ

Đẩy mạnh và tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát triển nhân lực Việt Nam

3.3.3 Đổi mới giáo dục và đào tạo

Trang 18

Đây là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ yếu để phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những thời kỳ tiếp theo Đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế Trước mắt, cần tập trung vào một số nội dung sau đây:

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Tổchức lại mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạnglưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng, miền và địa phương Thực hiện phân tầnggiáo dục đại học

- Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đàotạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo

3.3.4 Chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

Xây dựng, thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng khôngtrái với thông lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà Việt Nam tham gia, ký kết, cam kết thực hiện

Thiết lập khung trình độ quốc gia phù hợp với khu vực và thế giới Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo địnhhướng phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo củaViệt Nam và quốc tế; thực hiên công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam và của thế giới; thỏa thuận vềviệc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa Việt Nam với các nước

Tăng cường dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), văn hoá thế giới, kỹ năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế cho người ViệtNam

Để thực hiện thành công các giải pháp trên, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm cho cán bộ, công chức của toàn bộ hệ thông chính trị các cấp, cáctầng lớp nhân dân, các nhà trường, các doanh nghiệp, tổ chức hiểu rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức về nhân lựcthành lợi thế để phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế

IV - So sánh hiệu quả tài chính – hiệu quả kinh tế xã hội

Đứng trên góc độ của chủ đầu tư, hay xem xét hiệu quả của dự án

trên khía cạnh vi mô, cụ thể là xem xét hiệu quả dưới góc độ sử

dụng vốn bằng tiền

Đứng trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế và toàn bộ xã hội, hay xemxét hiệu quả dự án trên khía cạnh vĩ mô, cụ thể là xem xét hiệu quảdưới góc độ sử dụng tài nguyên của đất nước

Mục tiêu phân

tích

Trên góc độ người đầu tư, mục đích chính là lợi nhuận Khả

năng sinh lợi của dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp

nhận một việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư Dự án có khả năng

sinh lợi càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư

Trên góc độ nền kinh tế và toàn bộ xã hội thì sự đóng góp của dự ánđối với nền kinh tế thông qua gia tăng phúc lợi của toàn xã hội Lợiích của dự án trên góc độ nền kinh tế là lợi ích có tính cộng đồng vàđôi khi có thể mâu thuẫn với lợi ích của chủ đầu tư

Thuế Đối với các nhà đầu tư, thuế phải nộp là một khoản chi phí Là một khoản thu nhập của ngân sách quốc gia và cũng là khoản thu

Tiền lương Lương trả cho người lao động là một khoản chi đối với nhà đầu

tư Trong phân tích tài chính, chúng ta coi tiền lương và tiền công

là chi phí

Là một khoản thu mà dự án mang lại cho người lao động Trong phântích kinh tế - xã hội ta phải coi các khoản này là thu nhập

Lãi vay Trong hiệu quả tài chính, lãi vay là một khoản chi phí cho việc sử

dụng vốn đầu tư của chủ đầu tư

Đối với các khoản vay nợ, khi trả nợ không được tính là một chi phí

xã hội hay lợi ích xã hội do đây chỉ là một khoản chuyển giao quyền

sử dụng vốn từ người này sang người khác mà thôi chứ không phải làkhoản gia tăng của xã hội

18

Trang 19

Giá cả Đối với giá cả các đầu ra và đầu vào, trong phân tích tài chính,

giá này được lấy theo giá thị trường

Thực tế giá thị trường không phản ánh đúng giá trị của hàng hóa dotác động của các chính sách bảo hộ mậu dịch, sự độc quyền… làmcho giá trị thường bị bóp méo Vì vậy, nếu dùng giá này thì nó sẽkhông phản ánh đúng mức lời hay lỗ đứng trên phạm vi toàn bộ nềnkinh tế Do đó, khi phân tích kinh tế xã hội cần phải sử dụng một mứcgiá tham khảo được gọi là giá xã hội hay giá kinh tế

Tỷ suất chiết

khấu

Trong hiệu quả tài chính có thể lấy trực tiếp theo mức chi phí sử

dụng vốn huy động trong thị trường, lãi suất vay, chi phí cơ hội

của vốn tự có

Tỷ suất chiết khấu trong hiệu quả kinh tế xã hội là chi phí xã hội thực

tế của vốn và có thể phải được điều chỉnh căn cứ vào mức lãi suấttrên thị trường vốn quốc tế

Các chỉ tiêu

tính toán

+Chỉ tiêu lợi nhuận thuần (W), thu nhập thuần của dự án

(NPV;NFV)

+ Chỉ tiêu hiệu suất sinh lời của vốn đầu tư (RR)

+Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có (rE ; npvE )

+Chỉ tiêu số lần quay vòng vốn lưu động (LWci )

+Chỉ tiêu tỷ số lợi ích-chi phí (B/C)

+Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư(T)

+Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR)

+Chỉ tiêu điểm hòa vốn

+Giá trị gia tăng thuần(NVA)+Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và số lao động

có việc làm trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tư+Chỉ tiêu giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cứ hoặc vùng lãnh thổ+Chỉ tiêu ngoại hối ròng (tiết kiệm ngoại tệ)

+Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế

Đo lường trực

tiếp bằng tiền

Đo lường trực tiếp được bằng tiền (có thể sử dụng các phép tính

toán thu – chi hoặc thu/chi)

Không phải lúc nào cũng đo được bằng tiền (ví dụ: giải quyết đượcvấn đề công ăn việc làm cho người lao động,…)

Hiệu quả trực

tiếp và hiệu

quả gián tiếp

Hiệu quả tài chính là hiệu quả trực tiếp mà dự án mang lại cho

chủ đầu tư

ví dụ: lợi nhuận cuối cùng sau khi trừ các khoản thuế, chi phí

nhân công, vật liệu v.v thì chủ đầu tư trực tiếp được hưởng

Hiệu quả kinh tế -xã hội đề cập tới cả hiệu quả trực tiếp và hiệu quảgián tiếp Ví dụ: khi một dự án đầu tư phát triển, hiệu quả trực tiếp làhiệu quả tác động tới chủ đầu tư, các công nhân thực hiện dựán, v v

Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả tác động đến các đối tác, ví dụ như nhàcung cấp (họ bán được nhiều nguyên vật liệu cho dự án đầu tư hơn,việc kinh doanh sẽ tốt hơn)

V - Nêu hạn chế của FDI thời gian qua và giải pháp thu hút FDI có hiệu quả

1 Khái niệm : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó nhà đầu tư nước này mang vốn bằng tiền hoặc

bất kỳ tài sản nào sang nước khác để tiến hành hoạt động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản lý cơ sở kinh doanh tại nước đó

2 Bản chất: FDI là một loại đầu tư quốc tế, mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài

để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Đồng thời, họ cũngchịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án

3 Hạn chế của FDI thời gian qua

Hiện nay, cả nước có khoảng trên 15.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD Các dự ánFDI góp phần cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nângcao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống

cho người lao động Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, khu vực FDI cũng đã và đang bộc lộ những vấn đề gây ảnh hưởng

tiêu cực

Thứ nhất: Vốn FDI gây ra tình trạng một nguồn vốn lớn chảy ra bên ngoài (lợi nhuận, các khoản thanh toán khác v.v của các nhà đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam), ảnh hưởng đến lực lượng ngoại hối của nước nhận đầu tư, giảm đóng góp vào nguồn thu thuế của Việt Nam

Thứ hai: Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ: Việc chuyển giao công nghệ của các dự án FDI cũng có mặt hạn chế Đó là bất kỳ một tổ chức nào muốn

thay thế kỹ thuật- công nghệ mới thì phải tìm được nơi thải những kỹ thuật- công nghệ cũ Việc thải các công nghệ cũ này dễ dàng được nhiều nơi chấpnhận nhất là các nước đang phát triển thì việc thẩm định công nghệ còn chưa nhiều kinh nghiệm và khá lỏng lẻo

Thứ ba: Mất cân đối về cơ cấu kinh tế: Trong tổng các dự án FDI đăng ký, nhiều dự án đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, tận dụng bảo hộ, công

nghiệp gây ô nhiễm và bất động sản Đây là cơ cấu không mong đợi bởi vì vốn đầu tư vào khai thác tài nguyên thì không có tác dụng lan tỏa Vốn đầu tư

Trang 20

vào các ngành bảo hộ thì không có sức cạnh tranh chỉ làm cho chi phí của nền kinh tế gia tăng; vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm thì lợinhuận họ hưởng, còn hậu quả và chi phí khắc phục thì ta chịu; vốn đầu tư vào bất động sản thì có thể làm căng thêm “bong bóng”, dễ gây ra bất ổn.

Thứ tư: Các doanh nghiệp có vốn FDI chủ yếu tập trung vào đầu tư tại các khu vực đô thị lớn mà chưa được phân bổ đều giữa các địa phương trong cả

nước Các lĩnh vực và địa bàn đầu tư nhiều khi không theo ý muốn và mục tiêu của chính phủ điều này cũng là một trong những nguyên nhân làm giatăng khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và vùng nông thôn, giữa miền ngược và miền xuôi

Thứ năm : Nhân công trong nước bị bóc lột sức lao đông và một lượng lớn lao động nước ngoài “tuồn” vào Việt Nam Như việc sử dụng hơn 3.000 lao

động chui người Trung Quốc tại Vũng Áng Năm 2014, tại thời điểm cơ quan chức năng kiểm tra, khu kinh tế Vũng Áng có 6.121 lao động nước ngoàinhưng chỉ cấp được 3.261 giấy phép

Thứ sáu: Không ít doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường tự nhiên và khai thác lãng phí tài nguyên thiên nhiên Gần đây nhất là bài học của

công ty Formosa, theo như Bộ KHĐT công bố, Formosa Hà Tĩnh đây là dự án gang thép lớn nhất Việt Nam hiện nay với tổng vốn gần 10 tỷ USD giaiđoạn 1, được hưởng mức ưu đãi cao nhất trong chính sách của Việt Nam và để phục vụ cho dự án này thế nhưng lại xả thải bất hợp pháp làm cá chếthàng loạt xảy ra tại 4 tỉnh Bắc Trung bộ

Thứ bảy: Vẫn còn nhiều hành vi tiêu cực, trốn tránh nghĩa vụ tài chính và tạo cạnh tranh không lành mạnh Thực tế cho thấy có tới 50% doanh

nghiệp có FDI liên tục khai kinh doanh bị lỗ, và phần lớn các liên doanh đã chuyển sang hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài là hiện tượng không bìnhthường, cho thấy có hiện tượng lạm dụng chính sách ưu đãi và cơ chế “chuyển giá”, gây thiệt hại cho NSNN và tình trạng kinh doanh thiếu minh bạch,

cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Trường hợp điển hình có những biểu hiện “đáng ngờ” về chuyển giá, phải nói đến Công ty

Coca-Cola Việt Nam Trong hơn 20 năm đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, Coca-Coca-Cola liên tục báo lỗ, lỗ lũy kế tính đến 30/9/2011 của công ty này đã lên tới3.768 tỷ đồng, vượt cả số vốn đầu tư ban đầu là 2.950 tỷ đồng

Thứ tám: ngoài ra phải kể đến do mục tiêu thúc đẩy thu hút nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều ưu đãi cho các

doanh nghiệp này như được tự do chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, giảm thuế… từ đó gây ra tình trạng thất thu ngân sách và nhiều khi là không có

4.Giải pháp thu hút FDI có hiệu quả

Thứ nhất: tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh Đặc biệt, chính sách thu hút

và ưu đãi đầu tư phải được xây dựng theo hướng thuận lợi và có tính cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực, nhất là môi trường đầu tư ổn định, cótính tiên lượng và minh bạch

Thứ hai: công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thông tin về quy hoạch để

xây dựng kế hoạch đầu tư Tập trung hoàn thiện thể chế về quy hoạch, tăng cường gắn kết giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế- xã hội theo hướng ưu tiên quỹ đất để thực hiện dự án có trong quy hoạch đã được phê duyệt

Thứ ba: tập trung các nguồn lực để đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, cảng biển, Cụ thể phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng,

quy hoạch hợp lý các khu công nghiệp tại các địa phương, đặc biệt chú trọng hình thành các khu công nghệ cao thu hút đầu tư nước ngoài để nâng caohiệu quả của khu vực FDI Trong đó chú trọng tìm ra các thế mạnh, lợi thế so sánh của từng địa phương để hướng FDI vào các địa phương và cũng giúpgiảm sức ép quá tải về hạ tầng cho các đô thị

Thứ tư: tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung vào một số ngành, sản phẩm trọng điểmTrong đó đặc biệt ưu đãi cao hơn cho các

doanh nghiệp đầu tư theo chuỗi dự án sản xuất sản phẩm lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ so với các dự án đơn lẻ

Thứ năm: bên cạnh việc xúc tiến thu hút vốn FDI mới cần tăng cường hỗ trợ, tạo điều kiện hợp lý cho các nhà đầu tư đang hoạt động có hiệu quả ở Việt

Nam Cụ thể:

-Đổi mới chế độ quy định cho doanh nghiệp lập báo cáo thuế, báo cáo tài chính theo hướng minh bạch, đơn giản , tiết kiệm thời gian và chi phí cuadoanh nghiệp Tổ chức triển khai tốt và nghiêm túc quy chế giải quyết các yêu cầu, thủ tực hành chính cho người nộp thuế theo “cơ chế một cửa” đểthuận lợi cho doanh nghiệp

-Thường xuyên thực hiện việc đào tạo , đòa tạo lại đội ngũ cán bộ, đảm bảo cán bộ thuế có trình độ, kiến thức, kỹ năng quản lý tiên tiến, đồng thời có đạođức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử tốt Kiện toàn và tăng cường hệ thống kiểm tra nội bộ trong toàn ngành thuế để kiểm soát, giảm thiểu và từng bước điđến xóa bỏ hành vi gây phiền hà, sách nhiều doanh nghiệp Từ đó tạo nên lòng tin từ phía các doanh nghiệp FDI đối với nhà nước

Thứ sáu: Nhà nước cần đầu tư phát triển nguồn nhân lực: Giá nhân công rẻ, nguồn nhân lực dồi dào là một lợi thế so sánh của Việt Nam khi thu hút

FDI Nhưng lợi thế này sẽ dần mất đi khi nền kinh tế phát triển Chính vì vậy, lợi thế ở nguồn nhân lực sẽ được khai thác ở khía cạnh nhân lực có trình độ

kỹ thuật, tay nghề cao, có kinh nghiệm quản lý, sẵn sàng đáp ứng được với trình độ công nghệ mới và hiện đại Tuy nhiên, cần chủ động phát triển nguồnnhân lực của Việt Nam theo hướng chuyên môn hoá, tập trung đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, tay nghề và trình độ quản lý tốt để chủ động hơn, sẵnsàng nắm bắt và tiếp nhận công nghệ ở trình độ cao

Thứ bảy: nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư Việc cấp Giấy CNĐT phải đảm bảo các yêu cầu

như: Sự phù hợp của lĩnh vực đầu tư đối với hệ thống quy hoạch của địa phương, quy hoạch vùng, quy hoạch phát triển ngành ; hệ thống các tiêu chuẩn

kỹ thuật của dự án phải bằng hoặc cao hơn hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, công nghệ sử dụng trong dự án phải là công nghệ tiên tiến và thânthiện với môi trường

20

Trang 21

Thứ tám: chính phủ cần có những biện pháp thuê các chuyên gia thẩm định công nghệ chuyển giao từ nước ngoài một cách chặt chẽ và bài bản tránh

nguy cơ biến nước ta thành bãi rác công nghệ của thế giới, nhận về những công nghệ đã lỗi thời , lạc hậu của nước ngoài Chỉ nhận chuyển giao đối vớinhững công nghệ tiên tiến và phù hợp cho sự phát triển của đất nước

Thứ chín: tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp FDI Cần tập trung kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các doanh nghiệp FDI

làm gây ô nhiễm môi trường, cố tình sử dụng những công nghệ lạc hậu, bắt tay với nhau để làm giá, chuyển giá, trốn lậu thuế, đối xử hà khắc với côngnhân nước sở tại, bỏ trốn, xù nợ… Muốn vậy, cần phải đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm tra, kiểm soát đủ trình độ, năng lực và phẩm chất; trang bị cácphương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để phát hiện những sai phạm, tạo cơ sở để xử lý nghiêm minh những doanh nghiệp FDI vi phạm pháp luật ViệtNam Từ đó góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách của đất nước

VI - Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN và liên hệ thực tế tại Việt Nam

1 Nhân tố bên ngoài

1.1.Lãi suất tiền vay

Nếu lãi suất tiền vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư các nhà đầu tư sẽ gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới máy móc, trang bị công nghệhiện đại và ngược lại Sự ảnh hưởng của lãi suất tiền vay ngược lại so với lợi nhuận kỳ vọng Lãi suất tiền vay càng cao tương đối so với lợi nhuận kỳvọng thì chi đầu tư càng giảm do chi phí lãi vay tăng khiến mức lợi không còn hấp dẫn nữa

Trong khoảng 10 trở lại đây, lãi suất tiền gửi tại Việt Nam biến động rất mạnh Đầu 2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu bùng nổ, biểu hiện đầu tiên là sự leothang của lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng với các kỷ lục 20%, 25% liên tục bị đánh đổ, và đỉnh điểm là mức chào 27%/năm Đến cuối năm, các ngânhàng rút về phổ biến chỉ còn 9%/năm Đến năm 2010, lãi suất lần lượt tăng lên 13%, 14%, 15%/năm, qua đó cũng làm lãi suất cho vay tăng rất mạnh.Sau đó, ngân hàng nhà nước đã có một số biện pháp làm giảm lãi suất cho vay từ 18,2% năm 2011 xuống 15,4% năm 2012 và 10,5% trong 6 tháng đầunăm 2013 Và lãi suất cho vay đã được ổn định, và tính đến năm 2015 thì là khoảng 9% Lãi suất cho vay khá cao, biến động mạnh, điều đó ảnh hưởnglớn đến lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp, chưa khuyến khích được sự gia tăng đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam

1.2.Tốc độ phát triển sản lượng

Nếu gia tốc đầu tư không đổi thì việc gia tăng sản lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi trong chi đầu tư Với một góc nhìn khác, chi tiêu đầu tư cũng phụ thuộcvào sản lượng, nhưng là phụ thuộc vào sản lượng cầu về sản phẩm, hay lượng cầu về sản phẩm Lượng cầu hàng hóa tăng sẽ khuyến khích doanh nghiệpđầu tư sản xuất thêm để đáp ứng nhu cầu đó & ngược lại

1.3.Đầu tư nhà nước

Các dự án đầu tư của nhà nước, thường là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, một mặt tạo điều kiện cho các nhà thầu là khu vực tư nhân thamgia, qua đó kích thích đầu tư tư nhân; mặt khác giúp cải thiện môi trường đầu tư, từ đó khuyến khích đầu tư Tuy nhiên, nếu đầu tư nhà nước kém hiệuquả thì sẽ là gánh nặng cho toàn xã hội, khiến đầu tư ở các khu vực khác ngày càng bị hạn chế

Trong thập niên vừa qua tổng đầu tư hạ tầng ở Việt Nam đã chiếm bình quân hơn 10% GDP, vượt qua khỏi các nền kinh tế Đông Á vốn nổi tiếng về mứcđầu tư cơ sở hạ tầng cao Phần lớn nguồn vốn này từ vốn vay ODA, và hiện nay Nhà nước đang cùng các doanh nghiệp BOT cùng phát triển cơ sở hạtầng, đây là 1 chính sách hiệu quả khi mà nguồn vốn vay bắt đầu giảm và ngân sách Nhà nước hạn chế Kết quả từ tỉ lệ đầu tư cao của Việt Nam đãnhanh chóng mở rộng khối lượng cơ sở hạ tầng và cải thiện tiếp cận, góp phần vào sự thành công về tăng trưởng và phát triển của đất nước Mặt dù cónhững thành tựu này, những trở ngại về cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn chưa được giải quyết một cách hiệu quả Thực tế, chính những tắc nghẽn về cơ

sở hạ tầng thay vì những chính sách phức tạp và khó tiên liệu của nhà nước, hiện được xem là vấn đề lớn nhất cản trở môi trường kinh doanh của đấtnước, như nhiều khảo sát quốc tế đã nhận định

1.4.Chu kỳ kinh doanh

Chu kỳ kinh doanh vận động theo hình sin.Ở thời kỳ kinh tế đi lên, đa số các khoản đầu tư đều trở lên hấp dẫn hơn Thời kỳ này thường là thời kỳ cácdoanh nghiệp tiến hành đầu tư theo chiều rộng Ở thời kỳ kinh tế đi xuống, các khoản đầu tư có tỷ lệ sinh lời tốt ngày càng bị thu hẹp, hứng thú đầu tưgiảm nhanh, đặc biệt là đầu tư tài chính, khiến nguồn vốn cho đầu tư phát triển cũng bị tắc nghẽn theo Thời kỳ này, các doanh nghiệp thường tiến hànhđầu tư theo chiều sâu, ví dụ như: phát triển sản phẩm mới, phát triển thị trường, tiến hành marketing mạnh mẽ, đầu tư ra nước ngoài… Vì vậy ở mỗi thời

kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh mức chi tiêu đầu tư khác nhau

Trong khoảng từ năm 2005 đến năm 2008, đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tăng khá mạnh cùng sự phát triển nhanh về kinh tế Tuy nhiên, đếnnăm 2008 cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam diễn ra, tác động mạnh đến các doanh nghiệp, vốn đầu tư giảm mạnh Hiện nay, nền kinh tế đangtrong giai đoạn đi lên, cùng với các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư mở rộng sản suất, đây mà minhchứng rõ ràng cho sự ảnh hưởng lớn của chu kỳ kinh doanh đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

1.5.Môi trường đầu tư và hoạt động xúc tiến đầu tư

Môi trường đầu tư bao gồm phần cứng và phần mềm Phần cứng gồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cơ sơ vật chất, nhà xưởng…Đối với cơ sở hạtầng kỹ thuật ,các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh

tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chế khả năng đầu tư, phát triển kinh doanh đặc biệt với doanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển, bảoquản, phân phối… Phần mềm gồm hệ thống pháp luật, các thủ tục hành chính …Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đếnviệc hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp, ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh

Trang 22

Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tránh tình trạnggian lận,buôn lậu

Chính phủ ban hành các chính sách nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư.Nếu các yếu tố về phần cứng và phần mềmcủa môi trường đầu tư thuận lợi sẽ khuyến khích các nhà đầu tư và thu hút vốn đầu tư Ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ làm nản lòng các nhàđầu tư

Xúc tiến đầu tư là hoạt động nhằm giới thiệu, quảng cáo cơ hội đầu tư và hỗ trợ đầu tư của nước chủ nhà Hoạt động này thực hiện tốt, nghĩa là giới thiệu

và quảng bá cơ hội đầu tư tốt, hỗ trợ đầu tư phù hợp cũng sẽ khiến vốn đầu tư vào nền kinh tế gia tăng

1.6.Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)

Chỉ số PCI được xây dựng theo quy trình 3 bước gọi tắt là “3T”: 1) thu thập dữ liệu điều tra dn bằng phiếu hỏi và dữ liệu từ các nguồn đã công bố, 2) tính toán 10 chỉ số thành phần và chuẩn hóa kết quả theo thang điểm 10, và 3) tính trọng số cho chỉ số PCI trung bình của 10 chỉ số thành phần trên

thang điểm 100

+Bảng xếp hạng PCI

Năm 2015, Đà Nẵng tiếp tục dẫn đầu với điểm số 68,34 Tiếp sau Đà Nẵng là Đồng Tháp duy trì vị trí thứ 2 với 66,39 điểm Ba địa phương còn lại nằm

trong tốp 5 tỉnh dẫn đầu PCI là Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Lào Cai Ở các địa phương này, Báo cáo PCI 2015 đều ghi nhận có sự cải thiện mạnh mẽ trong

thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh Hai thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lần lượt đứng ở vị trí thứ 6 và 24, trong đó, Hà

Nội đã tăng 2 bậc so với kết quả xếp hạng năm 2015 Năm 2015, nhóm cuối Bảng xếp hạng PCI có ít thay đổi, gồm Đắk Nông, còn lại vẫn là các tỉnhmiền núi phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu và Bắc Kạn Đáng lo ngại, những tỉnh này cũng đồng thời nằm trong nhóm tỉnh có nhiều hạn chế về địa lý và

cơ sở hạ tầng kém phát triển Cải thiện chất lượng điều hành có thể coi là con đường tương đối ngắn, thuận tiện hơn và đòi hỏi nguồn lực ít hơn để cáctỉnh này trở nên hấp dẫn trong con mắt của các nhà đầu tư

2 Nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp

2.1.Lợi nhuận kỳ vọng

Lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì nhà đầu tư càng có nhiều hứng thú đầu tư Cao ở đây là cao so với lãi suất tiền vay (lãi suất cho vay) Tức là, nếu lợinhuận kỳ vọng càng lớn hơn lãi suất tiền vay bao nhiêu thì hứng thú đầu tư của nhà đầu tư càng nhiều bấy nhiêu, từ đó chi đầu tư càng tăng bấy nhiêu &

ngược lại Nhưng lợi nhuận kỳ vọng không tăng tỷ lệ với mức chi đầu tư Khi mức chi đầu tư càng ngày càng tăng thì hiệu quả biên của vốn sẽ

giảm, dẫn đến lợi nhuận kỳ vọng tăng chậm lại, kéo theo chi đầu tư lại tăng chậm lại & cứ thế Có thể lý giải điều này bằng 2 nguyên nhân chính Thứ nhất, cầu về vốn tăng lên khiến cho lãi suất huy động tăng lên để đáp ứng lượng cầu tăng, do đó lãi suất cho vay tăng, chi phí lãi vay tăng bào

mòn lợi nhuận của doanh nghiệp Thứ hai, chi đầu tư càng nhiều thì càng có nhiều hàng hóa, khi cung hàng hóa tăng vượt cầu hàng hóa thì giá hàng hóa

sẽ giảm, điều này cũng khiến lợi nhuận giảm

2.2 Vốn và thông tin quyết định đầu tư của doanh nghiệp

Vốn là yếu tố rất quan trọng đối với đầu tư của doanh nghiệp Nếu không có đủ vốn các doanh nghiệp sẽ phải bỏ lỡ cơ hôi đầu tư kể cả cơ hội có khảnăng sinh lợi cao Để có đủ vốn đầu tư các doanh nghiệp thường phải đi vay vì không có đủ vốn tự có Tuy nhiên nếu hệ thống tài chính không hoànthiện thì các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể vay được vốn để đầu tư mở rộng sản xuất

Trong khoảng 1 thập kỷ gần đây, hệ thống tài chính của Việt Nam đã phát triển khá nhanh, đã bắt kịp với nhu cầu vốn của các doanh nghiệp Cùng vớicác chính sách Nhà nước ưu tiên sự phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra những cơ hội lớn cho đầu tư của các doanh nghiệp này

2.3 Thông tin bất cân xứng và sự không hoàn thiện của hệ thống tài chính

Một doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có hay lợi nhuận tích luỹ để tài trợ cho đầu tư, kết quả là đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc vào vốn tự có

2.4 Đầu tư của doanh nghiệp trong trường hợp thị trường tín dụng không hoàn hảo

Khi thị trường tin dụng không hoàn hảo các doanh nghiệp sẽ quan tâm đến việc sử dụng nguồn vốn nào để đầu tư Lý thuyết này cho thấy các doanhnghiệp sẽ sử dụng nguồn vốn tự có để đầu tư vì nguồn vốn này ít tốn kém hơn so với nguồn vốn từ bên ngoài Nếu các doanh nghiệp cần sử dụng vônvay bên ngoài sau khi sử dụng hết vốn tự có thì doanh nghiệp sẽ ưu tiên nguồn vốn ít tốn kém nhất

2.5 Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư

Đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế Dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn Vì lợi nhuận cao thì thu nhập giữ lạicho đầu tư sẽ lớn hơn và mức đầu tư sẽ cao hơn Các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trọ cho đầu tư từ nguồn vốn nội bộ và sự gia tăng lợ nhuận

sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, lợinhuận tăng cũng có nghĩa là tăng quỹ nội bộ Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để xác định vốn đầu tư mong muốn

2.6 Tổng lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản (ROA)

Hệ số này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của tài sản đây là một chỉ tiêu quan trọng khi đưa ra quyết định đầu tư bởi vì các dự án có mức sinh lợi thấp

về lâu dài sẽ gặp khó khăn, đầu tư vào những ngành có hệ số này thấp mất cơ hội cho việc sử dung vốn vào những ngành lợi nhuận cao

2.7 Tổng lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu (ROE)

22

Trang 23

Đo lường khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư của cổ đông thường ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, cónghĩa là công ty đã cân đối hài hoà giữa vốn cổ đông và vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy

mô, ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn với các nhà đầu tư hơn

2.8 Tổng lợi nhuận ròng chia cho doanh thu (ROS)

thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán được.Khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty phải so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số bình quâncủa toàn ngành mà công ty đó tham gia

2.9 So sánh lượng đầu tư ròng và thu nhập về vốn

Nếu trong một số năm liên tục mà thu nhập về vốn luôn nhỏ hơn tổng đầu tư ròng thì chứng tỏ doanh nghiệp đang đầu tư quá mức, hiệu quả đầu tư khôngđảm bảo do toàn bộ lợi tức sinh ra không bù đắp được chi phí đầu tư, trong trường hợp này giảm đầu tư sẽ thu được lợi ích ròng

2.10 Về ngành ưu tiên đầu tư

Doanh nghiệp khi đưa ra quyết định đầu tư phải căn cứ tín hiệut hị trường và khi các tín hiệu đầu tư này không phản ánh trung thực nền kinh tế thì cácquyết định đầu tư sẽ mang rủi ro cao và không hiệu quả

VII - ODA

1.Lý thuyết về ODA

1.1.Khái niệm: ODA (Offical Development Assistance - Viện trợ phát triển chính thức) là “các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay vốn với

những điều kiện ưu đãi của các Chính phủ hoặc tổ chức quốc tế dành cho Chính phủ các nước đang và chậm phát triển nhằm ổn định hoặc đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia này”

1.2.Đặc điểm của nguồn vốn ODA (Xét về khía cạnh kinh tế)

-Đây là luồng vốn có tính chất 1 chiều: các nước cấp vốn là các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế; các nước nhận vốn là các nước đangphát triển có thu nhập thấp hay gặp khó khăn vè kinh tế

-Chủ thể cấp vốn và vay vốn đều là Chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế Trong mọi trường hợp, chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng luôn làChính phủ

-Gồm 2 phần rõ rệt: phần viện trợ ko hoàn lại (chiếm 25% tổng vốn ODA) và phần cho vay với các đk về lãi suất ưu đãi (chiếm 75%) Lãi suất thấp: dưới3%/năm, trung bình thường là: 1-2%/năm Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài: 25- 40 năm mới phải hoàn trả lại, thời gian ân hạn: 8-10năm

1.3.Phân loại ODA

-Hỗ trợ cán cân thanh toán: là phần vốn giúp các nước thanh toán các khoản nợ đã đến hạn và lãi tích lũy của các năm trước

-Viện trợ nhân đạo, cứu trợ: chi cho mục đích cứu trợ đột xuất, cứu đói, khắc phục thiên tai, chiến tranh, thường là từ các tổ chức phi chính phủ -Viện trợ qsự: chủ yếu là viện trợ song phg cho các nước đồng minh trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”

1.4 ĐK tiếp nhận ODA

-Điều kiện 1: Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP) bình quân đầu người thấp

-Điều kiện 2: Mục tiêu sử dụng ODA của các nước phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhậnODA

1.5 Vai trò ODA

Trang 24

a Đối với nước đi viện trợ

-Thông qua ODA các nước đi đầu tư tận dụng được các lợi thế về cpsx của các nước được đầu tư để hạ giá thành sp, giảm chi phí vận chuyển, nâng caohiệu quả vốn đầu tư, kéo dài chu trình của sản phẩm

-Giúp các công ty chính quốc tạo dựng thị trường cung cấp nguyên vật liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ

b Đối với nước nhận viện trợ

-Bổ sung nguồn vốn trong nước, hoàn thiện cơ cấu kinh tế

-Giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế

-ODA là nguồn vốn bổ sung ngtệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của nước nhận viện trợ

-Tăng khả năng thu hút đầu tư vốn FDI và tạo đk mở rộng đầu tư phát triển ở các nước đang phát triển và chậm phát triển

1.6 Tình hình thu hút và sd vốn ODA tại VN

Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, hơn 20 năm qua, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam trên 78,195 tỷ USD vốn ODA, trong đó đã

ký kết hiệp định chính thức 58,463 tỷ USD Với 37,597 tỷ USD vốn giải ngân, rất nhiều chương trình, dự án sử dụng vốn ODA đã được đưa vào sử dụng,tạo nền tảng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, góp phần vào xóa đói, giảm nghèo

Nguồn vốn ODA trong những năm qua được đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực hạ tầng giao thông (trên 70%), phát triển nông nghiệp, nông thôn và xóa đóigiảm nghèo Các dự án của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tại VN đạt tỷ lệ thành công 82,1%, cao hơn tỷ lệ của một số nước như Ấn Độ (65,2%),Indonesia (63,2%), Philippines (45,5%)… Những công trình trọng điểm đã hoàn thành và đang triển khai như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 3, 5, 10; Đường caotốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; Đường xuyên Á TP Hồ Chí Minh - Mộc Bài kết nối với hệ thống đường bộ Campuchia và Thái Lan; Dự

án xây dựng nhà ga hành khách T2- Cảng hàng không Nội Bài; Dự án nước sạch và vệ sinh môi trường khu vực nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long,Đồng bằng sông Hồng; Dự án hạ tầng giao thông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Nhà máy nhiệt điện Ô Môn 2… đã thể hiện rõ tính hiệu quả củaviệc sử dụng nguồn vốn ODA

Báo cáo của Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA cho thấy, chỉ riêng năm 2014, công tác vận động và thu hút vốn ODA, tổng vốn ODA và vốn vay

ưu đãi ký kết đạt 4.362,13 triệu USD (4.160,08 triệu USD vốn ODA và vay ưu đãi, 202,05 triệu USD viện trợ không hoàn lại), bằng khoảng 68% củanăm 2013 Mặc dù lượng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết năm 2014 giảm song tình hình giải ngân lại có những cải thiện đáng ghi nhận Giải ngânvốn ODA và vốn vay ưu đãi năm 2014 đạt khoảng 5,6 tỷ USD (vốn vay là 5,25 tỷ USD, viện trợ không hoàn lại là 350 triệu USD), cao hơn 9% so vớinăm 2013

2 Tình hình thu hút và sd vốn ODA của WB tại VN

Đối tượng nhận tài trợ là các nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp

Thời hạn cho vay từ 10 – 40 năm, thời gian nhận từ 5 – 10 năm, với lãi suất không quá 2%/năm

2.2 Tình hình thu hút và sd vốn ODA của WB

Các lĩnh vực tài trợ của WB tại VN: tài trợ cho hầu hết tất cả các lĩnh vực, tỉ trọng của mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là về các lĩnh vực giaothông vận tải, nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo Nguồn vốn ODA do WB tài trợ vào Việt Nam với số lượng lớn, song lượng vốn giải ngâncòn chậm, lâu với tỉ lệ thấp Đặc biệt là những ngành lien quan đến thể chế, hành chính,…

a Đánh giá tình hình thu hút và sử dụng của ODA của WB tại Việt Nam.

-Đã đạt được:

+Về vấn đề quản lý nguồn vốn: Quản lý chặt chẽ và có khung pháp lý cụ thể: tỷ lệ giải ngân của WB tại Việt Nam tăngtừ 13% năm 2011 lên 19% năm2012

+Tỷ lệ hộ nghèo giảm trong 15 năm là 58% (1993) xuống 14,7% (2007)

+Khoảng 66% nguồn vốn được đầu tư vào cơ sở hạ tầng

-Chưa đạt được:

+Nguồn vốn ODA ưu đãi của WB chưa được giải ngân: Giai đoạn 2006-2013, khoảng 7tỷ USD đã được kí kết nhưng vẫn chưa được giải ngân

24

Trang 25

+Qua vụ PMU18, cho thấy nguồn vốn này có nguy cơ bị tham nhũng cao

+Nhiều dự án đã đề nghị mức cp phụ trội do lạm phát của những năm trước ngang tổng giá trị dự án

+Nhiều dự án trong số này có tỷ lệ giải ngân thấp 1-2% trong khi thời gian đã đi quá nửa

b Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút và sd vốn ODA của WB tại VN

-Ưu điểm: Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình thực hiện và giải ngân các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi tuy có những chuyển biến tích

cực song vẫn còn chậm hơn so với tiến độ đã cam kết Bên cạnh đó, mức giải ngân giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các địa phương còn chưa đồng đều.Xét theo địa phương, giải ngân của các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cao hơn nhiều so với các địa phương khác

-Hạn chế: Công tác quản lý, sử dụng vốn ODA cũng còn một số hạn chế Hạn chế và yếu kém mang tính tổng hợp nhất có thể kể tới, đó là năng lực hấp

thụ nguồn vốn ODA quốc gia cũng như ở cấp ngành và địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu Bên cạnh đó, thời gian xem xét và phê duyệt danh mụctài trợ của các cơ quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ còn kéo dài; Vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến quy định quản lý rút vốn hay liên quanđến việc sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đối với các hạng mục chi tiêu thường xuyên vì sự nghiệp phát triển; liên quan đến cơ chế tài chính trongnước đối với các khoản vay ODA và vốn vay ưu đãi; khác biệt về quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ…

Trong bối cảnh hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần chứng tỏ được thế mạnh và tiềm năng phát triển của mình, khi đómới có thể thu hút tốt hơn nữa nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Do đó, để nâng cao hiệu quả tiến độ giải ngân và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA, các

bộ, ngành, địa phương cần tích cực hơn nữa trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc giải phóng mặt bằng, nâng cao chất lượng công tác chuẩn

cho Việt Nam sẽ giảm Tình hình này đòi hỏi Việt Nam cần tăng cường năng lực và cải tiến mạnh mẽ trong thực hiện dự án ODA, sử dụng tập trung hơn

để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội quy mô lớn và tạo ra tác động lan tỏa đối với sự phát triển chung của cả nước

Thứ ba, hoàn thiện các văn bản pháp lý, đổi mới trong quy trình và thủ tục quản lý dự án ODA trên cơ sở kết hợp tham khảo những quy chuẩn của các

nhà tài trợ, nhất là đối với các thủ tục: Đấu thầu mua sắm; đền bù, di dân và tái định cư; quản lý tài chính của các chương trình, dự án…

Thứ tư, cần có những chính sách và thể chế phù hợp để tạo môi trường cho các mô hình viện trợ mới Trong đó, khuyến khích sự tham gia của tư nhân và

các tổ chức phi chính phủ Ngoài ra, cần hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ tiếp cận mô hình viện trợ mới, để nâng cao hiệu quả sử dụng, giảm bớt cácthủ tục và góp phần cải thiện các hệ thống quản lý theo chuẩn mực quốc tế

Thứ năm, cần xác định các ưu tiên đầu tư khi sử dụng vốn ODA và nâng cao công tác giám sát, theo dõi và đánh giá dự án; đồng thời, nâng cao năng lực

và nhận thức cho đội ngũ tham gia quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA Bản chất ODA vẫn là khoản vay và có nghĩa vụ phải trả nợ, cho nên cần loại bỏ tưtưởng “xin” ODA trong một bộ phận cán bộ ở các cấp, đã dẫn đến chưa quan tâm đầy đủ đến việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này

Thứ sáu, cần nghiên cứu kế hoạch và chiến lược giảm dần nguồn vốn ODA, đặc biệt là vốn ODA có điều kiện, đồng thời, tăng cường thu hút các nguồn

vốn đầu tư nước ngoài khác như FDI Với cách làm này, Việt Nam không chỉ duy trì được sự gia tăng của tổng vốn đầu tư mà còn cải thiện được hiệuquả của tất cả các nguồn vốn, bao gồm cả vốn ODA

VII - Thực trạng quản lý đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước

-Về mục tiêu đạt hquả tài chính các dn nhìn chung đạt hiệu quả khá thấp Cụ thể:

+So với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp FDI thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước tại tậpđoàn, tổng công ty còn thấp Báo cáo giám sát cũng cho thấy nhiều TCT làm ăn thua lỗ, tính đến cuối năm 2008 vẫn còn 23 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng

số tiền là 2.797 tỉ đồng Cụ thể, năm 2008, TCT Lắp máy lỗ phát sinh 68,75 tỉ đồng, TCT Xây

dựng CTGT 4 lỗ phát sinh 52,52 tỉ đồng, TĐ Dệt May lỗ phát sinh 27,98 tỉ đồng

+Hiệu quả sxkd trong lĩnh vực chính của dn đã thấp, hiệu suất đầu tư sang các lĩnh vưc khác còn thấp hơn Năm 2008 thị trường chứng khoán suy giảmmạnh Hầu hết các TĐ, TCT đều bị thua lỗ hoặc không phát sinh lợi nhuận Tính đến hết tháng 12.2008, Tổng mức đầu tư của EVN vào lĩnh vực chứngkhoán là 214 tỉ đồng; các TĐ góp vốn vào quỹ đầu tư của TĐ Dầu khí VN là 368,9 tỉ đồng; TĐ Cao su 271 tỉ đồng; TĐ Công nghiệp tàu thủy 144 tỉ đồngđều không phát sinh lợi nhuận

-Về mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư máy móc thiết bị, tái sản xuất, đầu tư nâng cấp công nghệ,thực trạng hiện nay cho thấy rằng một số

doanh nghiệp đã thành công trong việc tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư thay thế và đổi mới các trang thiết bị hiện đại Hoạt động đầu tư vàonghiên cứu phát triển KHCN tập trung chủ yếu ở các tổng cty nhà nước và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp Tuy nhiên có rất ít

Trang 26

tổng công ty đầu tư cho nghiên cứu KHCN vượt quá 0.25% tổng doanh thu trong khi đó ở các nước khác tỷ lệ này thường là 5-6% Đồng thời đội ngũcán bộ thực hiện nghiên cứu KHCN chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng Trong tổng số 7.580 DN sản xuất công nghiệp được điềutra, chỉ có 293 DN có đầu tư cho nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ trong số này có 107 DN nhà nước, 64 DN ngoài quốc doanh và 14 DN đầu

tư nước ngoài Như vậy số DN có đầu tư cho NCKH chỉ chiếm tỷ lệ 2,44% tổng số doanh nghiệp công nghiệp trong cả nước

-Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sdlđ,nhìn chung các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu chưa được tốt,việc đầu tư nguồn vốn cho nguồn lực lao độngkhông được chú trọng.Nguồn lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng

Nói chung, nhà nước cũng như các DNVN dù đã nhìn rõ được tầm quan trọng của việc quản lý đầu tư, cũng đã có những biện pháp để quản lý đầu tưhiệu quả, nhưng do trình độ quản lý còn non kém, và thiếu kinh nghiệm mà các phương pháp chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, chưa đạt đượcnhững mục tiêu đã đề ra

→ Trước những khó khăn của DN khi đứng trước các cơ hội đầu tư, Quốc hội và Chính phủ đã thực hiện khá toàn diện và cụ thể các biện pháp về thuế,tín dụng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh hoạt động các chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phát triển thị trường vốn… gópphần tháo gỡ khó khăn cho sxkd, hỗ trợ thị trường Đối với các hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách, vai trò quản lí của nhà nước cụ thể và trựctiếp hơn Trên thực tế gần đây, tư duy quản lý đầu tư công đang có những thay đổi lớn theo hướng chặt chẽ và minh bạch hơn, giảm dần tình trạng đầu tưdàn trải Đối với doanh nghiệp, việc quản lý hoạt động đầu tư đang ngày càng đi vào khuôn khổ và đem lại những lợi ích đáng kể cho nền kinh tế

VIII - Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng

1.1 Vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn ngoài nước giữ vai trò quan trọng Liên hệ VN

Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và

tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội Vốn trong nước có vai trò quyết định, bởi lẽ nó chi phối mọi hoạt động đầu

tư phát triển trong nước Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ làchính Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của

nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia Tính quyết định của nguồn vốn trong nước được thể hiện ở nhiều khía cạnh:

• Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế

• Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tếquốc gia tăng trưởng, phát triển toàn diện, đồng đều

• Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo sự phát triển toàn diện, không lệch lạc giữa các vùng miền của nền kinh tế, góp phần giúp nềnkinh tế tăng trưởng, phát triển một cách bền vững

• Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đàcho tăng trưởng và phát triển kinh tế

• Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt một trình độ nhất định, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoàicũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế

• Sự lớn mạnh, ổn định nguồn lực vốn trong nước giúp hạn chế những mặt tiêu cực của nguồn lực nước ngoài tới nền kinh tế, đồng thời tạo dựngmột khung xương vững chắc cho nền kinh tế, chống lại những biến động từ thị trường kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy

động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài là mộttrong những nguồn vốn quan trọng Điều này được thể nghiệm trên các vai trò cơ bản sau:

• Một là: Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư khi mà tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn thấp Đối với các nước nghèo và kém phát triển, nguồn vốn trongnước huy động được chỉ đáp ứng hơn 50% tổng số vốn yêu cầu Vì thế gần 50% số vốn còn lại phải được huy động từ bên ngoài Đó là lý do chúng taphải tích cực thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài ( bao gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA, đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI…)

• Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới Điều này giúp đẩy nhanh sự phát triển của cácdịch vụ cung cấp có chất lượng và cho phép sản xuất các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế - là cơ sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trong nước trên thị trương quốc tế

• Ba là: Con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, cũng như bảo đảm các nghĩa vụ vay và trả

nợ nhờ vào việc tăng cường được năng lực xuất khẩu

• Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ

Liên hệ thực tiễn Việt Nam

Theo Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê:

Năm 2013, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013 ước tính đạt 1091,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước và bằng 30,4% GDP Trong vốn đầu

tư toàn xã hội thực hiện năm 2013, vốn khu vực Nhà nước đạt 440,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,4% tổng vốn và tăng 8,4% so với năm trước; khu vực ngoàiNhà nước 410,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% và tăng 6,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 240,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 22% và tăng 9,9%

26

Trang 27

Năm 2014, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2014 ước tính đạt 1220,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2013 và bằng 31% GDP, baogồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 486,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,9% tổng vốn và tăng 10,1% so với năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 468,5nghìn tỷ đồng, chiếm 38,4% và tăng 13,6%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 265,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,7% và tăng 10,5%.Năm 2015, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 vàbằng 32,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 519,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38% tổng vốn và tăng 6,7% so với năm trước; vốn khu vực ngoàiNhà nước đạt 529,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,7% và tăng 13%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 318,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% vàtăng 19,9%.

Qua đó, có thể thấy rằng, nguồn vốn đầu tư trong nước chiếm tỷ trọng lớn hơn nguồn vốn nước ngoài trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của nước ta

1.2 Mối quan hệ của nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước

Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn làm gia tăng tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội Các nguồn vốn huy động thường được sử dụng trước hết cho mục tiêu lợinhuận kinh tế Song một nền kinh tế muốn phát triển bền vững và lâu dài thì các vấn đề đầu tư phát triển xã hội cũng phải được chú trọng Đối với tất cảcác quốc gia, tỷ trọng các khoản chi cho sự nghiệp phát triển xã hội là không hề nhỏ trong tổng chi của tổng vốn đầu tư Cũng chính vì thế, khoản vốncho các dự án đầu tư phát triển kinh tế sẽ bị thu hẹp lại Với sự bổ sung đóng góp của các nguồn vốn ngoài nước (như ODA, FDI,…) thì chính phủ có thểphân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý hơn Chẳng hạn các ưu đãi của nguồn vốn ODA được sử dụng để bổ sung cho khoản vốn tín dụngcho các doanh nghiệp vay của nhà nước, và một phần dòng vốn này được sử dụng cho các dự án mang tính chất xã hội cao ở các lĩnh vực như giáo dục, y

tế, xóa đói giảm nghèo, các dự án cung cấp nước sạch, xây dựng các công trình đường giao thông… Chính nhờ có nguồn vốn này mà trách nhiệm xã hộicủa các nguồn vốn trong nước được san sẻ

Mối quan hệ kết hợp giữa hai nguồn vốn mà kết quả của nó không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về quy mô, số lượng, mà đi kèm với nó còn là sự ra đời củanhiều loại hình doanh nghiệp mới, nhiều ngành kinh tế mới Cùng với sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp mới với các hình thức sở hữu phong phú

là sự xuất hiện của các phương thức kinh doanh linh hoạt, đa dạng, ngày càng hiện đại: các hợp đồng hợp tác kinh doanh, đại lý ủy quyền, hình thức gópvốn cổ phần… Những lĩnh vực, thành phần kinh tế mới ra đời càng ngày càng mở rộng và tăng thêm tiềm năng phát triển của nền kinh tế

Không dừng lại ở đó, mối quan hệ giữa hai nguồn vốn còn là một cú hích cho năng lực khoa học công nghệ quốc gia Đối với mỗi quốc gia, khoa họccông nghệ là nguồn lực phải được xây dựng lâu dài, nếu chỉ dựa vào nội lực (nguồn vốn đầu tư trong nước) thì quá trình phát triển rất chậm, không theokịp với trình độ phát triển chung của khu vực và thế giới, vì thế cần có sự bổ sung từ nguồn vốn nước ngoài Sự bổ sung đó làm nguồn vốn dành cho việcđầu tư khoa học công nghệ trở nên phong phú đa dạng hơn, không chỉ từ ngân sách Nhà nước mà còn từ các quỹ, tổ chức trong và ngoài nước

Tuy vậy, không phải lúc nào sự kết hợp giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước cũng đem lại cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh

tế những thuận lợi và ưu thế Một điều hiển nhiên là các khoản vay từ nước ngoài mang lại một gánh nặng nợ rất lớn cho nước nhận vốn, có nhiều trườnghợp, khoản nợ này kéo dài nhiều năm, nhiều thập kỷ, gây nên tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài, gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc đầu tư phát triểntrong tương lai Mặt khác, các khoản viện trợ, vay ưu đãi không bao giờ đi một mình, các khoản này luôn luôn đi kèm với các điều kiện ràng buộc vềchính trị Điều này gây nên tình trạng phụ thuộc, mất tự chủ của quốc gia tiếp nhận vốn trong một số lĩnh vực xã hội cũng như là chính trị Không chỉ tạođiều kiện cho việc hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới, mặt trái của việc này là làm cho nền kinh tế trong nước dễ bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủnghoảng kinh tế trên thế giới

Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, một mặt làm gia tăng nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia, đồng thời lại có những ảnh hưởng không nhỏ tới đồng nội tệ,đến cán cân thương mại của nước nhận đầu tư, từ đó ảnh hưởng tới chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái của đất nước đó Đặc biệt, các nguồn vốn này cómức biến động cao, và có mức độ tự do lưu thông trên thị trường lớn, điều này trước hết đặt ra những khó khăn cho sự quản lý giám sát của nhà nước vớinguồn ngoại tệ trên thị trường, sau đó nó chính là một thực tế khó khăn lớn đối với các chính sách quản lí kinh tế, cách ra quyết định kinh tế của Nhànước nhằm đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển ổn định, đồng đều và bền vững của một quốc gia Chính vì thế, trong mối quan hệ giữa nguồn vốn trongnước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài, mặc dù nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò rất quan trọng song nguồn vốn đầu tư trong nước phải đặc biệtphát huy vai trò quyết định của mình, định hướng cho dòng chảy nguồn vốn đầu tư nước ngoài và hạn chế những tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nướcngoài

→ Tóm lại, nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có một mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến quá trìnhtăng trưởng và phát triển của nền kinh tế một quốc gia Có rất nhiều những tác động tích cực mà chính mối quan hệ này đã giúp hỗ trợ và thúc đẩy vai tròcủa từng nguồn vốn riêng biệt Bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề bất cập mà mỗi quốc gia cần giải quyết để phát huy hơn nữa những đóng góp tích cực

kể trên Tuy vậy, chúng ta vẫn cần phải khẳng định lại một lần nữa vai trò quyết định của nguồn vốn đầu tư trong nước và vai trò quan trọng của nguồnvốn đầu tư nước ngoài trong mối quan hệ giữa hai nguồn vốn tác động đến tăng trưởng và phát triển nền kinh tế

2 Tác động của từng loại nguồn vốn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam

2.1 Đối với nguồn vốn trong nước

a) Tác động tích cực

Vốn trong nước được coi là nhân tố nội lực của mỗi quốc gia vì nó mang tính ổn định và bền vững Tuy toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thời đạinhưng nó cũng không bao hàm ý nghĩa là nguồn vốn ngoài nước sẽ dần thay thế vai trò của vốn trong nước Nguồn vốn này có thể chủ động trong việchuy động và sử dụng mà không phải chịu bất cứ một sự chi phối nào từ các tổ chức, quốc gia khác, cũng như không có một ràng buộc nào về chính trị.Trong nền kinh tế hiện nay, những lĩnh vực cần Nhà nước đứng ra đảm nhiệm như lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn lâu, lợi nhuận thấp (xây dựng cơ sở

hạ tầng) nên không nhiều nhà đầu tư có mong muốn đầu tư, những lĩnh vực mà nhà nước phải đứng ra độc quyền (phân phối điện nước), những lĩnh vực

Trang 28

mới còn tiềm ẩn những rủi ro cao, hay lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ… Nhà nước cũng đầu tư vào hoạt động kinh tế nhưmột doanh nghiệp thông thường, lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước lại trở thành nguồn thu của ngân sách Nhà nước

- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô tổng thu ngân sách nhà nướckhông ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau Là một nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn vốn nàyđược tập trung sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh,…Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhànước có xu hướng gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm tỉ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội

- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, nguồn vốn này ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiếnlược phát triển kinh tế xã hội Nguồn vốn này cần được tập trung hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư, hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, xúc tiếnđầu tư, phát triển các ngành then chốt, góp phần nâng cáo tiềm lực của doanh nghiệp Nguồn vốn này có tác dụng đáng kể trong việc giảm bao cấp vốntrực tiếp của nhà nước, đồng thời còn phục vụ công tác quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn vốn này, nhà nước thực hiện việc khuyếnkhích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình

- Nguồn vốn của dân cư và tư nhân: Thực tế trong suốt 20 năm thực hiện chính sách đổi mới cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình

có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương

b) Tác động tiêu cực

Tuy nguồn vốn trong nước có một vai trò quyết định không thể thay thế như vậy, nhưng nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước trong việc thúc đẩy vàtăng trưởng kinh tế mà không xem xét đến nguồn vai trò của nguồn vốn nước ngoài thì sẽ là một sự thiếu sót lớn Trong điều kiện nền kinh tế đất nước tamới phát triển được hơn 30 năm, khả năng tích lũy của nền kinh tế còn thấp trong khi nhu cầu phát triển lại vô cùng cấp bách, đòi hỏi phải có nguồn vốnđầu tư lớn thì nguồn vốn đầu tư trong nước sẽ là không đủ Do đó, nguồn vốn trong nước luôn rơi vào tình trạng thiếu và bị hạn chế về cả qui mô và sốlượng Lúc này, sự bổ sung của nguồn vốn nước ngoài đối với nhu cầu về vốn là rất quan trọng và kịp thời

Bên cạnh đó việc sử dụng vốn đầu tư trong nước còn chưa hiệu quả, chưa tương xứng với tổng số vốn đã chi, gây tổn thất cho nền kinh tế Nhưng nếuđược sự bổ sung kết hợp của nguồn vốn đầu tư nước ngoài cùng với sự chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lí thì tổn thất đó sẽ phần nào đượcgiảm bớt

2.2 Đối với nguồn vốn ngoài nước

Nguồn vốn ngoài nước hỗ trợ cho những thiếu hụt về vốn trong nước, đặc biệt là những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Nước ta vẫn đangtrong giai đoạn kết cấu hạ tầng còn thiếu, lại quá tải và cũ kĩ, cầu đường, sân bay, nhà máy điện, tàu biển,… đều trong tình trạng yếu kém Vì vậy để duytrì cho tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Nam nhất thiết phải đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản và đồng bộ mà ngân sách nhà nướckhông đáp ứng đủ Chính vì thế nguồn vốn ngoài nước đóng vai trò vô cùng quan trọng

a) Tác động tích cực

- Nguồn vốn ngoài nước hỗ trợ những thiếu hụt về vốn trong nước

Nguồn vốn ODA cho phép phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiệu quả Với khối lượng vốn lớn, thời hạn vay dài, lãi suất thấp và được cungcấp từ nhiều nhà tài trợ khác nhau, ODA cho phép tiến hành đồng thời nhiều dự án trên địa bàn và ở nhiều ngành khác nhau Từ đó tạo được năng suấttổng hợp phục vụ hiệu quả đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát triển chung của toàn xã hội

Đồng thời, ODA còn tăng khả năng hút vốn FDI và tạo đk để mở rộng đầu tư phát triển của Việt Nam Đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trongnước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận Căn cứ vào chính sách ưu tiên sử dụng ODA , Chính phủViệt Nam đã định hướng nguồn vốn ODA ưu tiên cho các lĩnh vực giao thông vận tải, phát triển hệ thống nguồn điện, mạng lưới chuyển tải và phân phốiđiện, phát triển nông nghiệp nông thôn,…

- Tạo nguồn cung ngoại tệ dồi dào: Nguồn vốn ngoài nước giúp cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ,phân công lao động xã hội, tạo điều kiện tăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng của nền kinh tế

- Gia tăng nguồn vốn trong nước

Thông qua tạo công ăn việc làm cho nguồn lao động dư thừa, tăng thu nhập cho công nhân, tăng tiêu dùng, tăng nguồn vốn trong nước Điều kiện laođộng và chăm sóc sức khỏe cho người lao động tốt hơn, thu nhập cao hơn, mức sống cao hơn, khuyến khích trong nước phát triển sản xuất Mặt khác,doanh nghiệp nước ngoài thường hoạt động có hiệu quả hơn so với doanh nghiệp trong nước, vì vậy số thuế thu được tư những doanh nghiệp này sẽnhiều hơn Đó cũng là nguồn bù đắp lớn cho Ngân sách Nhà nước và là nguồn cung ứng vốn lớn ở trong nước

- Góp phần gia tăng tích lũy nội bộ nền kinh tế: Nguồn vốn nước ngoài cùng với nguồn vốn trong nước hình thành những quan hệ hợp tác như công tyliên doanh,… Việc đó giảm bớt gánh nặng về vốn, tạo điều kiện tốt cho phía trong nước học hỏi kĩ năng quản lí chuyên nghiệp từ bên ngoài, tác phonglàm việc chuyên nghiệp Từ đó sản phẩm sẽ có thương hiệu tốt hơn, cạnh tranh cao hơn, lợi nhuận cao hơn

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí: Từ ngành sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ và sau cùng là sang ngành sản xuất dịch vụ;thay đổi cơ cấu bên trong một ngành sản xuất từ năng suất thấp, công nghệ lạc hậu, lao động nhiều sang sản xuất có năng suất cao, công nghệ hiện đại,lao động ít

b) Tác động tiêu cực

28

Trang 29

- Tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế nước ngoài, nhất là với nguồn ODA Bởi ODA là nguồn vốn cókhả năng gây nợ Nếu không sử dụng có hiệu quả ngay từ đầu có thế lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ

- Làm tăng thu nhập của vốn ngoài nước trên thị trường trong nước và làm giảm thu nhập của nguồn vốn trong nước

- Nguồn vốn ngoài nước được đầu tư khá nhiều vào khai thác tài nguyên, dẫn đến làm giảm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước

- Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhà đầu tư nước ngoài và cạnh tranh không cân sức giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài có thể làm phá sản doanh nghiệp trong nước và gây thất nghiệp

- Làm chảy máu chất xám sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

2.3 Cơ hội và thách thức của Việt Nam

2.3.1 Cơ hội của Việt Nam

- Tạo dựng và phát triển nhanh, mạnh hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Chuyển dịch cơ cấu một cách tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống của nhân dân giữa các vùng, miền và tạo đà cho các vùng kinh tế cùng phát triển

- Hỗ trợ phát triển một số lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế

- Việc hình thành Cộng đồng ASEAN trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cũng khiến không gian kinh tế của nước ta được mở rộng ra khuvực Việc AEC được thành lập vào đầu năm 2016, với các hiệp định chung về điều chỉnh đầu tư (Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN - ACIA), thươngmại (Hiệp định Thương mại hóa ASEAN - ATIGA) và dịch vụ (Hiệp định Khung ASEAN về dịch vụ - AFAS), sẽ làm tăng sức hấp dẫn của khu vực nàytrong thu hút đầu tư

- Các hiệp định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán, ký kết sẽ tác động tích cực đến FDI vào Việt Nam

- Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, sẽ tác động tích cực mở ra nhiều cơhội phát triển kinh tế trong nước như: Hiệp định FTA với Hàn Quốc đã có hiệu lực; Cộng đồng Kinh tế ASEAN - Việt Nam đã kết thúc đàm phàn FTAvới EU, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương

2.3.2 Thách thức Việt Nam phải đối mặt

- Nguồn nhân lực chất lượng cao, đã qua đào tạo còn thiếu; Cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn yếu kém so nhiều nước trong khu vực; Công nghiệp hỗ trợ chưaphát triển, còn có khoảng cách giữa chính sách và việc thực thi

- Dòng vốn FDI của các đối tác lớn trong toàn cầu có xu hướng giảm; Cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng gay gắt giữa các quốc gia Sức cạnh tranhcủa môi trường đầu tư mỗi nước sẽ quyết định thành tựu thu hút đầu tư của nước đó

- Sự phát triển và hiệu quả hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế còn nhiều hạn chế

- Sự phát triển về quy mô, cơ cấu và trình độ các loại thị trường chưa đồng bộ và còn nhiều hạn chế, bất cập

- Các chính sách an sinh xã hội còn thiếu tính hệ thống, chưa đồng bộ, chồng chéo về nội dung, đối tượng và phân công tổ chức thực hiện, nguồn lực cònphân tán, hiệu quả thấp

- Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước chưa cao; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm Nhà nước vẫn có vai trò can thiệp trực tiếp, quá lớn vào nền kinh tế với

tư cách là chủ đầu tư công và chủ sở hữu doanh nghiệp Cải cách hành chính còn chưa đáp ứng được yêu cầu Tính công khai, minh bạch, trách nhiệmgiải trình còn thấp, chưa thiết lập được cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo kết quả đầu ra

- Sự tham gia giám sát của các cơ quan dân cử, của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và Nhân dân trong nền kinh tế và hoạt động quản

lý nhà nước còn nhiều hạn chế

- Về quy mô thị trường vốn: Quy mô còn quá nhỏ, thanh khoản yếu khiến thị trường chứng khoán Việt Nam thiếu hấp dẫn, chưa đủ khả năng thu hútmạnh các dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhất là các dòng vốn lớn Quy mô vốn của thị trường tiền tệ còn chưa tương xứng, nhất là quy mô vốn của hệthống ngân hàng thương mại còn nhỏ

- Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp; Trình độ chuyên môn kỹ thuật, cùng chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam khá thấp so các nướcASEAN; Sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng (nhất là về ngoại ngữ) của lao động Việt Nam để sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế của đất nướccũng chưa cao…

3 Giải pháp huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư

3.1 Giải pháp đối với nguồn vốn trong nước

Hiện nay, tiềm năng vốn trong nước của ta còn rất lớn Vấn đề đặt ra là cần tìm giải pháp để biến tiềm năng thành hiện thực, huy động triệt để vốn trongnước phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 30

 Huy động qua kênh ngân sách nhà nước

Việc huy động qua kênh ngân sách nhà nước phải dựa vào thuế, phí, lệ phí, phát huy tiềm năng vốn từ các nguồn tài nguyên quốc gia và từ vay nợ…Trong đó, thu thuế và phí vẫn là nguồn thu quan trọng nhất Để tăng cường hơn nữa hiệu quả huy động vốn qua thuế, phí, lệ phí cần phải mở rộng diệnthu thuế, quy định mức thuế suất ở mức vừa phải, hợp lý nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp, dân cư mở rộng đầu tư, tăng cường kiểm soát tình trạng trốnthuế…

 Mở rộng phát hành trái phiếu Chính phủ

Huy động nguồn vốn từ người dân thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ sẽ thúc đẩy tăng tiết kiệm xã hội, tạo thói quen tiết kiệm, tiêu dùng hợp lýcho người dân; đồng thời nhà nước có nguồn vốn để đầu tư phát triển mà không cần phải phát hành tiền, tránh được lạm phát

Để tăng hiệu quả huy động vốn trong nước từ việc phát hành trái phiếu Chính phủ cần:

- Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn như: Tín phiếu, trái phiếu, phát hành các loại trái phiếu vô danh có thể chuyển đổi tự do, trái phiếucông trình có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, đảm bảo việc lấy lãi dễ dàng, nhanh gọn

- Đa dạng hoá các kỳ hạn trái phiếu, chủ yếu tập trung huy động vốn bằng các loại trái phiếu trung và dài hạn, hạn chế phát hành trái phiếu ngắnhạn với lãi suất cao để bù đắp bội chi Ngân sách

 Thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán

Phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán là một trong nghững yếu tố quyết định phát triển kinh tế của một quốc gia trong đIều kiện nền kinh tếhoạt động theo cơ chế thị trường Việc hoàn thiện thị trường vốn, thị trường chứng khoán sẽ tạo ra cơ chế thông thoáng giữa người có nhu cầu vốn đầu tưvới các nhà đầu tư, góp phần huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư phát triển kinh tế Đặc biệt việc phát triển thị trường chứngkhoán sẽ tạo điều kiện cho các giao dịch về chứng khoán và chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt được nhanh gọn và thuận tiện

 Huy động vốn qua các tổ chức tài chính - tín dụng

Các tổ chức tài chính - tín dụng vẫn là trung gian vốn lớn nhất trong nền kinh tế, bởi vậy phải coi trọng và tăng cường hiệu quả huy động vốn qua các tổchức này Giải pháp đó là:

- Mở rộng các hình thức huy động vốn tiết kiệm như: Tiết kiệm xây dựng nhà ở, tiết kiệm tuổi già, tín dụng tiêu dùng

- Có chính sách lãi suất hợp lý, khuyến khích và có biện pháp bắt buộc các tổ chức tín dụng phải có cơ cấu dư nợ hợp lý giữa dư nợ cho vay ngắn hạn và

dư nợ cho vay dài hạn, trung hạn, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn cho đầu tư chiều sâu, mở rộng quá trình kinh doanh

 Thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư

Kích thích, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội tự bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất; khuyến khích các doanh nghiệpnâng cao khả năng tích tụ và tập trung vốn, mở rộng vốn từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình

Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự huy động vốn từ dân cư, các tổ chức tín dụng, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để đáp ứngnhu cầu sản xuất kinh doanh: Mở các hình thức liên doanh, liên kết, hợp đồng, hợp tác kinh doanh với các đối tác trong nước và nước ngoài; từng bước

mở rộng cổ phần hoá, đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước Cho phép các doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu, trái phiếutheo quy định của Chính phủ để tìm kiếm và huy động vốn của cá nhân nhà đầu tư trong và nước ngoài

3.2 Giải pháp đối với nguồn vốn ngoài nước

Để thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, trước hết phải chứng minh được nền kinh tế nội địa là nơi an toàn cho sự vận động của đồng vốn và saunữa là nơi có năng lực sinh lợi cao hơn những nơi khác, có điều kiện cần và đủ để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Do vậy cần phải có giải pháp sau:

 Tạo lập môi trường kinh tế - xã hội ổn định và thuận lợi cho sự xâm nhập và vận động của dòng vốn đầu tư nước ngoài

Để đảm bảo tạo lập và duy trì môi trường kinh tế ổn định, đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề cả về thể chế chính trị, môi trường pháp luật cũng nhưcách vận hành quản lý nền kinh tế, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần phải:

- Kiềm chế lạm phát, giữ tỉ lệ lạm phát ở mức hợp lý, vừa đảm bảo sự ổn định kinh tế vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Đảm bảo tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế

- Đẩy mạnh công cuộc cải cách về thủ tục hành chính, cải thiện môi trường pháp lý cho sự vận động của các dòng vốn nước ngoài

 Xem xét các hình thức ưu đãi đầu tư, có quy hoạch cụ thể, chi tiết các ngành, các lĩnh vực, các dự án ưu tiên đầu tư

 Tìm kiếm khai thác triệt để các nguồn viện trợ không hoàn lại, viện trợ phát triển chính thức và vay nợ

Tranh thủ vốn ưu đãi ODA vì thời hạn tương đối dài, lãi suất tương đối thấp, chủ động thẩm định chặt chẽ các dự án cân đối vốn ODA; khai thác nguồnvốn vay, tài trợ đa phương từ các tổ chức quốc tế như IMF, ADB, MB,…

 Phát hành trái phiếu quốc tế ra nước ngoài để thu hút vốn

30

Trang 31

Cần phải tính toán kỹ lưỡng vì lãi suất trái phiếu cao, đòi hỏi đầu tư phải thu lợi nhuận ngay hoặc thu lợi nhuận cao thì mới có khả năng trả được nợ.

Không chỉ giảm về tỷ trọng và tốc độ tăng của vốn đầu tư công, chính sách tái cơ cấu đầu tư cũng đã định hình lại các lĩnh vực nhà nước ưu tiên đầu tư

Đó là tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia, các dự án khó có khả năng thu hồi vốn, các dự án mà khu vực tư nhân không thể và không muốn làm,hạn chế tối đa tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả, đồng thời khuyến khích đầu tư tư nhân ở những lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn

b) Khu vực ngoài nhà nước (ODA, FDI)

Đầu tư ngoài nhà nước đã và đang chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng và tiềm năng to lớn của khu vực này trong phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước

- Vốn ODA

Nguồn vốn ODA tại Việt Nam được thực hiện dưới 3 hình thức, chủ yếu gồm ODA viện trợ không hoàn lại (chiếm khoảng 10-12%), ODA vay ưu đãichiếm (80%) và ODA hỗn hợp (chiếm khoảng 8-10%) Từ năm 1993 đến 2014, tổng giá trị vốn ODA cam kết choViệt Nam đã lên đến 89,5 tỷ USD;tổng vốn đã ký kết đạt 73,68 tỷ USD, bình quân 3,5 tỷ USD/năm

Thu hút vốn ODA cũng có chuyển biến tích cực, tổng vốn ODA vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giải ngân giai đoạn 2010- 2015 ước đạt27,165 tỷ USD, bằng 88,7% tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong thời kỳ này Tổng số vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân trong 6 tháng đầunăm 2016 đạt khoảng 1.850 triệu USD (trong đó ODA vốn vay đạt 1.750 triệu USD, ODA viện trợ không hoàn lại 100 triệu USD), thấp hơn khoảng 4%

so với cùng kỳ năm ngoái

Mặc dù nguồn vốn ODA chỉ chiếm khoảng 4% GDP, song lại chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bình quânchiếm khoảng15-17%) Có thể nói, ODA là nhân tố xúc tác cho phát triển, giúp Việt Nam thực hiện thành công các chiến lược phát triển 10 năm và các

kế hoạch 5 năm Cụ thể:

+ Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn: Các chương trình và dự án ODA đã góp phần cải thiện và phát triển sản xuất nông nghiệp,

thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, như: các chương trình phát triển thủy lợi, giao thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, pháttriển lưới điện nông thôn…

+ Về giao thông vận tải: Đây là ngành tiếp nhận vốn ODA nhiều nhất Trong thời kỳ 1990-2013, ngành Giao thông Vận tải đã hoàn thành và đang thực

hiện 132 dự án với tổng vốn ODA hơn 17 tỷ USD

+ Trong giáo dục và đào tạo: Tất cả các cấp học đều nhận được sự hỗ trợ thông qua các chương trình và dự án ODA, giúp tăng cường năng lực dạy và

học, hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi được đến trường, đẩy mạnh giáo dục cho tất cả mọi người

+ Về y tế: các chương trình, dự án ODA đã tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, xây

dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc gia

+ Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ: Nhiều kỹ năng và kinh nghiệm qlý tiên tiến được chuyển giao cho các cquan, các trung tâm nghiên cứu, cũng

như các bộ, ngành và địa phương

Nhược điểm: Qua gần 20 năm tiếp nhận ODA, thực tế cũng đã chỉ ra còn nhiều hạn chế trong việc tiếp nhận, sử dụng hiệu quả nguồn lực, thể hiện:

+ Một là, năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA còn kém, chưa đáp ứng được yc Có thể nhìn nhận thực trạng này thông qua tỷ lệ giải ngân so với nguồn vốn

ODA đã ký kết trong 20 năm qua chỉ đạt khoảng 67%

+ Hai là, thiết kế của một số chương trình, dự án ODA chưa sát với thực tế Việt Nam nói chung và của các địa phương nói riêng

+ Ba là, nhiều bộ, ngành và địa phương để xảy ra những vụ việc vi phạm các quy định quản lý ODA của Chính phủ và của nhà tài trợ, có tình trạng thamnhũng gây ảnh hưởng đến uy tín quốc gia

Việc huy động và sử dụng các nguồn vốn ODA những năm qua bộc lộ một số hạn chế, mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một định hướng tổng thể vớitầm nhìn dài hạn làm cơ sở cho việc huy động và sử dụng một cách có hiệu quả hơn Trên thực tế, các nguồn vốn ODA ưu đãi thường kèm theo nhữngđiều kiện như chỉ định thầu, ưu tiên nhà thầu nước ngoài, yêu cầu mua máy móc, thiết bị, vật tư từ quốc gia tài trợ vốn ODA nên các dự án thiếu tínhcạnh tranh Vì vậy, chi phí đầu tư thực tế thường tăng hơn rất nhiều so với dự toán ban đầu

Trang 32

- Vốn FDI

Năm Số dự án

Vốn đăng ký (Triệu USD) Quy mô (Triệu USD/dự án)

So với năm trước

Số dự án Vốn đăng ký Quy mô

Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài

Bảng 3.6 Nguồn vốn FDI đăng ký từ 2009 đến 2015

Trải qua gần 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (1988 – 2015) nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp vai trò quan trọng pháttriển kinh tế - xã hội

Ưu điểm:

+ FDI tạo cơ hội tiếp cận khoa học - công nghệ, trở thành động lực phát triển kinh tế trình độ cao

+ FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế mới ra đời và phát triể+ Khu vựcFDI tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế và định hướng công nghiệp hoá Giai đoạn 2000 - 2010, tỷ trọng khu vực FDI trong cơcấu kinh tế tăng 5,4%, trong khi khu vực nhà nước và khu vực tư nhân giảm tương ứng

+ Ngoài ra, luồng vốn FDI còn góp phần quan trọng vào xuất khẩu Chủ trương khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu đã tạo thuận lợicho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu Qua đó, giúp Việt Nam từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu

+ Khu vực FDI nộp ngân sách tăng bình quân 24%/năm Giai đoạn 2001-2005: 3,6 tỷ USD; 2006 - 2008: gần 5 tỷ USD, năm 2014 chiếm 20% tổng thunội địa (không kể thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu)

Thứ ba, Việt Nam chưa lập ra được một chiến lược phát triển công nghiệp năng động trong đó cả FDI và doanh nghiệp trong nước cùng liên kết làm tăngsức cạnh tranh của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu lên cao FDI vào Việt Nam nhiều nhưng chủ yếu là những ngành dùng nhiềulao động giản đơn như may mặc, giày dép, và trở thành những ngành xuất khẩu chủ đạo Nhưng đó là những lãnh vực không cần nhiều vốn, không cầncông nghệ cao nên đáng lẽ doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư hay ít nhất là liên doanh với nước ngoài trong giai đoạn đầu và sau đó dần dần làm chủhoàn toàn

IX - Phân tích mqh qua lại giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế của quốc gia Phân tích trong trường hợp VN

1 Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế

- Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế

Giáo trình: “Đầu tư vừa tác động … chất lượng tăng trưởng KT” (trang 31)

- Tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư phát triển

- Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư (trang 52)

+ “Theo nghĩa chung nhất … hệ thống thị trường”

+ “Tăng trưởng KT …đầu tư kinh doanh”

- Tăng trưởng kinh tế làm tăng tỷ lệ tích lũy, cung cấp thêm vốn cho đtư (trang 53)

32

Trang 33

- Tăng trưởng KT cao góp phần hoàn thiện hơn cơ sở hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện … (trang 54)

Tóm lại:

Tăng trưởng kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, nó là điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển.Còn đầu tư phát triển nhằm duy trì những tài sản hiện có và tạo ra tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới Vì vậy mà đầu tư và tăng trưởngkinh tế luôn tác động qua lại, là điều kiện thúc đẩy lẫn nhau

X - Đầu tư là yếu tố quyết định tới sự phát triển và là chìa khóa cho sự tăng trưởng của mọi quốc gia

(Bao gồm: tác đông ĐTPT tới TTKT; tác động ĐTPT tới chuyển dịch cơ cấu KT)

1 Tác động của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển:

1.1 Đầu tư tác động đến tổng cung tổng cầu nền kinh tế

Đầu tư tác động đến tổng cầu của nền kinh tế

Theo số liệu World Bank, đầu tư thường chiếm từ 24 – 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới

Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn:

AD = C + I + G + X - M

Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Q0 Q1 và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ P0-P1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0-E1 ( Hình 3.1)

Hình 3.1 Tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu

Đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế

Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung từ nước ngoài Cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất : vốn( K ) , lao động ( L ), tài nguyên ( R ), công nghệ ( T ),… thể hiện qua phương trình:

Q = F ( K, L, T, R… )

Như vậy, tăng quy mô của vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung, nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác, tác động của vốn fđầu tưcòn được thể hiện qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ… do đó gián tiếp làm tăng tổng cầu của nền kinh tế.Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động làm cho tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng ( hình 3.1)

Sự gia tăng sản lượng được phản ánh qua lý thuyết về số nhân đầu tư và lý thuyết gia tốc đầu tư :

™Y = k * ™I Trong đó : ™Y là mức gia tăng sản lượng

k là số nhân đầu tư

™I là mức gia tăng đầu tư

Như vậy, việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuếch đại sản lượng tăng lên số nhân lần

Theo lý thuyết gia tốc đầu tư: Y = K / x

( x là hệ số gia tốc đầu tư )

Trang 34

Nếu x ko đổi thì nhu cầu vốn đầu tư tăng dẫn đến quy mô sản lượng tăng và ngược lại.

1.2 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế

Hệ số ICOR

Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR

ICOR ( Incremental Capital Output Radio – tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng(GDP) tăng thêm

Về tổng quát, hệ số ICOR được tính như sau:

GDP tăng thêm

Tốc độ tăng GDP bìnhquân hàng năm

Hệ số ICOR cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố : sự thay đổi của cơ cấu đầu tư ngành, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự thay đổi cơchế chính sách và phương pháp quản lý

1.3 Đầu tư tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.3.1 ĐTPT tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cânđối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấungành, vốn đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả thấp hay cao… đều ảnh hưởng đến tốc độ pháttriển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tếngành Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất mát cân đối về phát triển giữa các vũng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triểnthoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triểnnhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

1.3.2 Tác động của ĐTPT đến KH&CN

Đầu tư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia

Trong mỗi thời kỳ các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ Ban đầu sử dụng các lọai công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyênliệu sau đó giảm dần thông qua việc tăng dần hàm lượng đầu tư vào công nghệ Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tănghàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên quá trình chuyển từ giai đoạn một sang giai đoạn ba là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn,thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học công nghệ

Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của KHCN, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ / tổng vốn đầu tư Chỉ tiêu này cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kì

- Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị / tổng vốn đầu tư thực hiện Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu Đối vớicác doanh nghiệp khai khoáng, chế tạo, lắp ráp, tỷ lệ này phải lớn

- Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu / tổng vốn đầu tư thực hiện Đầu tư chiều sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ Do đó, chỉ tiêu này càng lớnphản ánh mức độ đầu tư đổi mới KHCN cao

- Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm Các công trình trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệ hiệnđại, mang tính chất đầu tư mới, tạo tiền đề để ĐTPT các công trình khác Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ và gián tiếpphản ánh mức độ hiện đại của công nghệ

1.3.3 ĐTPT góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

- Đầu tư làm xuất hiện những ngành sản xuất mới gắn liền với chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội mới, làm cho nền kinh tế phát triển năngđộng và hiệu quả hơn Hàng triệu việc làm mới được tạo ra, góp phần xoá đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp

- Đầu tư tác động đến phát triển nguồn nhân lực: nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết, ý thức của người dân

- Đầu tư góp phần bảo tồn, tôn tạo, trùng tu những giá trị lịch sử, thiên nhiên, văn hóa,… xây dựng hình ảnh của đất nước

2 Thực trạng về sự tác động của đầu tư tới tăng trưởng và phát triển kinh tế VN

2.1.Tổng quan về hoạt động đầu tư và tình hình tăng trưởng Việt Nam thời gian qua

34

Trang 35

2.1.1 Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư

Các ngành và cơ quan chức năng thực hiện đẩy mạnh huy động các nguồn lực và đa dạng hóa hình thức đầu tư, đồng thời tập trung chỉ đạo tháo gỡvướng mắc, khó khăn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư phát triển theo kế hoạch được giao, đặc biệt là các chương trình dự án sử dụng nguồnvốn ODA và vốn vay ưu đãi Môi trường pháp lý đầu tư được đổi mới và từng bước hoàn thiện góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI theohướng nâng cao chất lượng nguồn vốn, khuyến khích các dự án sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sản xuất các sản phẩm có khả năngcạnh tranh và tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, ưu tiên các dự án phát triển công nghệ phụ trợ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 và bằng 32,6%GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 519,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38% tổng vốn và tăng 6,7% so với năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt529,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,7% và tăng 13%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 318,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 19,9%.Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2015 ước tính đạt 220,4 nghìn tỷ đồng, bằng 100,6% kế hoạch năm

và tăng 6,1% so với năm 2014

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2015 thu hút 2013 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15,58 tỷ USD, tăng26,8% về số dự án và giảm 0,4% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 15,23 tỷUSD, chiếm 66,9% tổng vốn đăng ký; ngành sảnxuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2809,3 triệu USD, chiếm 12,4%; ngành kinh doanh bất động sản đạt2394,7 triệu USD, chiếm 10,5%; các ngành còn lại đạt 2320,1 triệu USD, chiếm 10,2%

Cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong năm 2015, trong đó thành phố HồChí Minh dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt 2811,7 triệu USD, chiếm 18% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trà Vinh 2526,8 triệu USD, chiếm16,2%; Bình Dương 2465,8 triệu USD, chiếm 15,8%; Đồng Nai 1471,9 triệu USD, chiếm 9,4%; Hà Nội 910,7 triệu USD, chiếm 5,8%

Trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam năm 2015, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 2678,5 triệu USD, chiếm17,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Ma-lai-xi-a 2447,5 triệu USD, chiếm 15,7%; Xa-moa 1314 triệu USD, chiếm 8,4%; Nhật Bản 1285 triệuUSD, chiếm 8,2%; Vương quốc Anh 1265,7 triệu USD, chiếm 8,1%

2.1.2 Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Với việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP lên tới gần 8,5% Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ranăm 2008, Việt Nam chìm trong vòng xoáy tăng trưởng chậm khi các thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trong nước giảm Cả giai đoạn này,tăng GDP luôn thấp hơn 7% và ngày càng đi xuống Trong khoảng 5 năm trở lại đây (2011-2015), nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn phục hồi,cùng với đó là nỗ lực của Nhà nước, chính phủ trong việc đưa đất nước ra khỏi giai đoạn tăng trưởng chậm đã đạt được một số kết quả rõ rệt, tốc độ tăngtrưởng kinh tế liên tục tăng từ năm 2013 (5,42%), năm 2014 (5,98%) và năm 2015 đạt con số 6,68% -cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăngcủa các năm từ 2011-2014 cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi rõ rệt

Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tươngđương 2109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014 Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục có sự chuyển dịch nhưng tốc độ chậm, trong đó khu vực nông,lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,00%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,25%; khu vực dịch vụ chiếm 39,73% (thuế sản phẩm trừ trợcấp sản phẩm là 10,02%) Cơ cấu tương ứng của năm 2014 là: 17,70%; 33,21%; 39,04% (thuế là 10,05%)

2.1 Tác động của đầu tư tới tăng trưởng và phát triển của Việt Nam

2.2.1 Tác động của đầu tư tới tốc độ, quy mô tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế xét ở đầu vào, có ba yếu tố đóng góp Đó là sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư, đóng góp của số lượng lao động và đónggóp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) Theo tính toán ban đầu, yếu tố số lượng vốn đầu tư đã đóng góp khoảng 57%, yếu tố số lượng laođộng đóng góp khoảng 20%, yếu tố TFP đóng góp 23% Từ sự đóng góp như trên, có thể rút ra 1 số nhận xét đáng lưu ý

Một là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP luôn giữ ở mức cao,

vốn đầu tư phát triển toàn xã hội có tốc độ tăng trưởng được duy trì và là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Tổng vốn đầu tư phát triển toàn

xã hội trên GDP của 10 năm (2007-2015) đạt tương ứng là 46,5%, 41,5%, 42,7%, 41,1%, 33,3%, 31,1%, 30,5%, 31,0%, 30,5% cho các năm 2007, 2008,

2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 Năm 2007, tổng vốn đầu tư chỉ đạt 532,1 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2016 dự kiến đạt 1.588 nghìn tỷ đồng,bằng 31,0% GD Vốn FDI trong 10 năm (2007-2016), thực hiện được khoảng 112,23 tỷ USD FDI thực hiện bình quân mỗi năm từ khi gia nhập WTOđạt là 11,22 tỷ USD.Tuy nhiên, tỉ trọng vốn trên GDP khá cao so với các nước trong khu vực cũng đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam, gây ra tìnhtrạng “nóng” của nền kinh tế, do lượng tiền lưu thông và tín dụng đầu tư gia tăng nhanh hơn so với cung ứng hàng hóa và dịch vụ

Hai là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện còn dựa một phần quan trọng vào yếu tố số lượng lao động Thống kê cho thấy tỉ trọng của yếu tố lao động

tác động tới GDP từ năm 2011 tới nay vào khoảng 19,1%, sự quan trọng này được xét trên hai mặt Một mặt, do nguồn lao động hàng năm vẫn còn tăngkhoảng 2%, tức là trên 1 triệu người mỗi năm Mặt khác, do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao

Ba là, nếu tính cả sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư và sự đóng góp của yếu tố số lượng lao động, thì hai yếu tố này đã đóng góp trên ba phần

tư tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Điều đó chứng tỏ, sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, chưađược một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷ trọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay

Trang 36

Không chỉ tốc độ tăng trưởng, hiệu quả đầu tư đã có bước cải thiện, với ICOR giai đoạn 2011-2015 đạt 6,91, giảm so với giai đoạn 2006-2010 (là 6,96).Cũng rất đáng ghi nhận khi trong bối cảnh tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP giảm mạnh (còn khoảng 32,6% GDP vào năm 2015) thì tốc độ tăngtrưởng vẫn duy trì ở mức hợp lý Tuy nhiên ICOR của Việt Nam còn cao, hiệu quả đầu tư còn thấp so với nhiều nền kinh tế trong khu vực Nguyên nhânmột phần là do nền kinh tế đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho hạ tầng, bao gồm cả hạ tầng ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo,đảm bảo an sinh xã hội, nhưng nếu so với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng, thì hệ số ICOR của Việt Nam hiện vẫn cao.Điềunày được lí giải là do việc sử dụng vốn vay ở một số dự án còn kém hiệu, còn thất thoát, lãng phí Các dự án đầu tư công dù thời gian qua đã được cảithiện đáng kể, song tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí cũng còn nhiều.

2.2.2 Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghê của đất nước

Trong những năm gần đây, nhận thức vai trò của phát triển khoa học công nghệ đã được nâng cao tại Việt Nam, thể hiện ở một số mặt như:

Nhà nước bảo đảm chi cho khoa học và công nghệ (KHCN) từ 2% trở lên trong tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm - là nội dung quan trọng được ghinhận trong Luật KHCN 2013 Chi 2% ngân sách nhà nước cho hoạt động KHCN đã thể hiện sự quan tâm rất lớn của Nhà nước tới lĩnh vực này Mặc dùchi ngân sách nhà nước đã ưu tiên nhiều hơn cho hoạt động KHCN nhưng so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực thì nguồn lực đầu tư choKHCN ở nước ta vẫn còn khiêm tốn Tổng đầu tư cho KHCN bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn nhiều lần so với các nước trên thế giới Tỉ lệchi cho khoa học công nghệ tuy tương đương với mức trung bình của các nước trên thế giới nhưng về số tuyệt đối thì thấp hơn khá nhiều Một ví dụ lànguồn tài chính cho KH-CN ở nước ta năm 2012 chỉ là 700 triệu USD trong khi chỉ riêng Tập đoàn Samsung của Hàn Quốc đã chi hơn 1 tỷ USD chocông nghệ Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua như: Giàn khoan tự nâng 90m nước, Lò phản ứng hạtnhân Đà Lạt tái hoạt động, Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông tân tiến nhất ở khu vực Đông Nam Á được xây dựng và đưa vào hoạt độngbởi “Trung tâm sản xuất thiết bị điện tử Viettel”,…

Lĩnh vực KH-CN thời gian qua đạt được nhiều thành tựu, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, việc đầu tư vào KH-CN đã giúpcho nhiều doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Điển hình như Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) năm

2010 đã thành lập Viện nghiên cứu riêng, theo mô hình của các tập đoàn lớn trên thế giới Viettel đã trích 10% lợi nhuận trước thuế cho Quỹ Phát triểnKH-CN, tương đương với 2.500 tỷ đồng Với mức đầu tư như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, các sản phẩm quan trọng bậc nhất phục vụ cho ngànhcông nghệ thông tin và viễn thông mà viện nghiên cứu nói trên của Viettel làm ra đã đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển doanh nghiệp và giá chỉbằng 1/3 so với giá thị trường Tuy nhiên nhìn chung phát triển khoa học kĩ thuật ở nước ta còn nhiều hạn chế trên 95% doanh nghiệp hiện nay thuộc loạinhỏ và siêu nhỏ, do nguồn lực hạn chế nên chỉ tập trung vào đổi mới công nghệ hơn là triển khai nghiên cứu Ngoài ra, 30% doanh nghiệp chưa nhậnthức đầy đủ tầm quan trọng của hoạt động KHCN trong doanh nghiệp Ngay cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng chưa quan tâm tớinghiên cứu

2.2.3 Đầu tư tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành của nền kinh tế Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh

tế Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo sựcân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, nhằm phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực

Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư vào từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn có hiệu quả cao hay thấp… đều ảnhhưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo điều kiện tiền đề vật chất cho sự phát triển các ngành mới… do

đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành

Việc đầu tư như trên đã tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tích cực phù hợp với tiến trình CNH, HĐH đất nước

Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp từ năm 2011 là 19,57% giảm xuống còn 17,7% năm 2014 Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm

2014 ltăng 7,6 % so với năm 2013 Tỷ trọng của dịch vụ trong GDP cũng ngày càng tăng cao và dần chiếm ưu thế

Việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu tập trung vào lĩnh vựccông nghiệp và xâydựng với 2885 dự án, vốn đăng ký 23213,71 triệu USD (chiếm 66,7% số dự án, 56,9% tổng số vốn đăng ký); nông nghiệp có 596 dự

án với vốn đăng ký 2893,34 triệu USD (chiếm 13,8% dự án; 7,1% vốn đăng ký); ngành dịch vụ có 843 dự án với vốn đăng ký 14682,7 triệu USD (chiếm20,41% số dự án; 36% vốn đăng ký ( Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư, giai đoạn 1988 – 2003 )

Một số tồn tại khi tập trung đầu tư vào công nghiệp, dịch vụ là: việc môi trường quanh các khu công nghiệp ngày càng ô nhiễm ( VD: Vụ việc Vedan xảthải ra sông Thị Vải), các tệ nạn xã hội quanh các khu CN, sự mất phương hướng của người nông dân hay các vấn đề nan giải của ngành dịch vụ…

Tác động của đầu tư phát triển tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ

Đối với cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém pháttriển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…của những vùng có khả năng pháttriển nhanh hơn

Cơ cấu vốn đầu tư tập trung vào 2 vùng ktế lớn là vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ Vùng miền núi phía Bắc và Tây nguyên là 2 vùng

có tỷ trọng đtư nhỏ nhất

Nguồn vốn đầu tư thường được tập trung tại những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước Các vùng kinh tế trọng điểm được đầu tư phát huy thế mạnhcủa mình, góp phần lớn vào sự phát triển chung của cả nước, làm đầu tàu kéo kinh tế chung của đất nước đi lên

36

Trang 37

Về đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài, vốn FDI thường đầu tư vào các vùng kinh tế phát triển, do đó các vùng kinh tế trọng điểm đã chiếm tới 80% vốnFDI Ngược lại, vốn ODA lại thường được ưu tiên hỗ trợ các vùng kinh tế kém phát triển hơn.

Tuy nhiên, việc đầu tư chỉ tập trung vào một số khu vực gây ra nhiều bất cập Sự phát triển chênh lệch quá lớn giữa các vùng cũng gây ra những khókhăn lớn trong nền kinh tế, gây mất cân đối trong sự phát triển giữa các vùng, gia tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng kinh tế Đồng thời tạo ra cácvấn đề nan giải về môi trường, các vấn đề an ninh, tệ nạn, di dân, bỏ đất hoang,…

Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế

Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào chiến lược phát triển của chính phủ Các chính sách kinh tế sẽ quyếtđịnh thành phần nào là chủ đạo, thành phần nào là được ưu tiên phát triển, vai trò, nhiệm vụ của các thành phần trong nền kinh tế Ở đây, đầu tư đóng vaitrò nhân tố thực hiện

Đầu tư tạo ra sự phong phú, đa dạng về nguồn vốn đầu tư Cùng với sự xuất hiện của các thành phần kinh tế mới là sự bổ sung một lượng vốn không nhỏvào tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, tạo nên nguồn lực mạnh mẽ hơn trước để nâng cao tăng trưởng và phát triển kinh tế Việc có thêm các thành phầnkinh tế đã huy động và tận dụng được các nguồn lực trong xã hội một cách hiệu quả hơn, khuyến khích mọi các nhân tham gia đầu tư vào kinh tế.Bảng 1.3 Cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế ( Nguồn: Tổng cục thống kê )

Cơ cấu vốn đầu tư ( % )

Bảng 1.4 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế ( % ) ( Nguồn: Tổng cục thống kê )

Từ bảng trên, ta thấy, trong giai đoạn trước khu vực kinh tế Nhà nước luôn chiếm lượng đầu tư lớn nhất nhưng đến những năm gần đây đã giảm đi đáng

kể, lượng đầu tư đã tập trung nhiều hơn vào 2 khu vực còn lại Vì thế GDP các khu vực cũng có sự thay đổi cùng chiều với đầu tư Hiện nay, khu vựckinh tế ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang vươn lên mạnh mẽ bởi sự năng động, sáng tạo và ngày càng thu hút nhiều nguồn lực

2.2.4 Đầu tư tác động tới năng suất lao động

Đầu tư vào các lĩnh vực đào tạo, dạy nghề và khoa học công nghệ đã tác động đến chất lượng lao động ở nước ta mà chỉ số phản ánh chất lượng nàychính là năng suất lao động

Năng suất lao động của một quốc gia trước hết phụ thuộc vào mức độ hiệu quả sử dụng lao động kết hợp với các yếu tố sản xuất khác, như máy móc vàcông nghệ, và lượng máy móc và công nghệ mà một người lao động của quốc gia đó được sử dụng

Trong 10 năm qua, năng suất lao động đã có sự tăng trưởng khá mạnh, từ mức hơn 22 triệu đồng/người thì sau 10 năm đã lên gần 80 triệu đồng/người.Năng suất lao động người Việt đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9% mỗi năm So với năm 2010,năng suất lao động đã tăng 23,6%, song vẫn thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 29-32%

Mức chi cho đầu tư phát triển, giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực ngày càng gia tăng Cụ thể Mức đầu tư phát triển năm 2015 đã tăng 12% so vớinăm trước, đạt hơn 1.367.000 tỉ đồng, giúp cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 6,68%, là mức cao nhất trong bảy năm qua Tổng mức đầu tư pháttriển năm nay tương đương với 32,6% GDP Những năm trước, tỉ lệ này khoảng 31% GDP Ngoài mức đầu tư phát triển năm 2015 đã tăng 12% so vớinăm trước, vốn FDI năm nay giải ngân cũng tăng mạnh, ước khoảng 14,5 tỉ đô la, tăng 17,4% so với năm trước

Chất lượng nguồn nhân lực cùng với trình độ khoa học công nghệ kỹ thuật là yếu tố quan trọng góp phần tăng tỷ trọng của yếu tố năng suất tổng hợp TFPtrong GDP, một trong ba nhân tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển kinh tế,

2.2.5 Đầu tư tác động đến tiến bộ xã hội và môi trường

Trang 38

Đầu tư giữ vai trò quan trọng, quyết định tới tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ Có thểthấy trong những năm qua, đầu tư đã góp phần cải thiện cuộc sống người dân, thu nhập bình quân đầu người tăng liên tục qua các năm như năm 2015 thunhập bình quân đầu người đạt mức 45,7 triệu đồng (tương đương 2.109 USD) năm 2015 tăng 3,8% so với năm 2014 và tăng gấp 1,6 lần so với con số

1300 USD của năm 2011 Cùng với đó là việc đầu tư xây dựng các công trình giao thông then chốt của nền kinh tế như đường bộ, sân bay, bến cảng,đường sắt, công trình thủy lợi được nâng cấp và làm mới; các công trình điện, thông tin liên lạc, các khu đô thị, khu công nghiệp, các bệnh viện, trườnghọc, công trình văn hóa thể thao được cải tạo và xây dựng đã giúp cải thiện, nâng cao mức sống của nhân dân làm thay đổi diện mạo cả đô thị và nôngthôn

Cùng với việc chú trọng vào phát triển, tăng trưởng kinh tế, những năm gần đây, một cụm từ rất được quan tâm là “ Phát triển bền vững” Nhờ những cốgắng của toàn Đảng, toàn dân, Việt Nam đã bước đầu kiềm chế được tốc độ gia tăng ô nhiễm thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động phòng ngừa, kiểmsoát và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Kết quả rõ nét nhất là trong 10 năm qua, với tốc độ GDP của nước ta tăng lên 2 lần thìmức độ ô nhiễm môi trường bình quân theo đánh giá của Ngân hàng thế giới sẽ phải tăng lên 4 lần, nhưng thực tế chỉ tăng khoảng 2,5 lần

Bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua, cũng có không ít các vụ việc liên quan đến các dự án đầu tư ảnh hưởng lâu dài đến môi trường sống bịđưa ra trước công chúng Tháng 4/2016, hiện tượng cá chết hàng loạt tại vùng biển các tỉnh miền trung được cho là do chất thải của nhà máy Formosalàm dư luận không khỏi bàng hoàng Đại diện công ty đã đưa ra câu hỏi: “Việt Nam chọn cá hay nhà máy thép công nghệ cao?” đặt ra câu hỏi về nhữngbất cập trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, về vấn đề đầu tư và phát triển bền vững

2.3 Những tồn tại và nguyên nhân

2.3.1 Hiệu quả đầu tư tới tăng trưởng kinh tế

Tuy hiệu quả đầu tư đã được cải thiện trong thời gian qua ,hệ số ICOR của Việt Nam 2011-2013 (6,99), cao hơn của Indonesia (4,64), Lào (2,59),Malaysia (5,40), Philippines (4,10), Trung Quốc (6,40), nghĩa là đầu tư của Việt Nam kém hiệu quả nhất so với các nước này Nguyên nhân làm choICOR của Việt Nam cao một phần là do Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho hạ tầng cơ sở, bao gồm cả hạ tầng cơ sở ở vùng sâu, vùng xa

và đầu tư cho xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội Nhưng mặt chủ quan vẫn là cơ chế quản lý đầu tư xây dựng lỏng lẻo, lãng phí nghiêm trọng,quy hoạch đầu chưa hợp lý… chính vì vậy, so với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng như Việt Nam thì hệ số ICOR của ViệtNam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao

Hệ số ICOR khu vực công luôn giữ ở mức cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của khu vực này còn thấp Tuy mục đích chính của nguồn vốn này khôngphải để tạo ra lợi nhuận nhưng cũng phải thẳng thắn thừa nhận hiệu quả đầu tư ở khu vực này còn thấp, cần có những thay đổi để có thể sử dụng hiệu quảnguồn vốn này cho xứng với số vốn bỏ ra Một số nguyên nhân chính của hiện tượng này:

- Tốc độ chuyển dịch cơ cấu đầu tư còn chậm và bất hợp lý

- Công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng còn nhiều bất cập, thiếu sự đồng bộ gây ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư các dự áncông ở Việt Nam

- Việc phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn dàn trải, số vốn bình quân phân bổ cho các dự án hàng năm thấp

- Quan niệm về đầu tư công vẫn có sự lệch lạc

- Cơ chế giám sát, kiểm tra thực hiện đầu tư công chưa được chú trọng đúng mức

- Quá trình quản lý dự án đầu tư công, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư cho đến giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào vận hành thực sự chưa hiệu quả

- Bất cập trong lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

2.3.2 Tiến bộ xã hội và môi trường

Tuy GDP bình quân đầu người tăng nhưng đời sống người dân cải thiện không đáng kể do chênh lệch giàu nghèo ở nước ta còn lớn Khu vực thành thị,nơi có lượng đầu tư lớn, thu nhập cao lại đi cùng với chi phí sinh hoạt lớn, khu vực nông thôn tỉ lệ thất nghiệp còn nhiều, thu nhập thấp, đời sống nhândân còn khó khăn Đặc biệt chúng ta có thể kể đến hai vùng Đông Bắc và Tây Nguyên Hai vùng này có hố ngăn cách về giàu – nghèo ngày càng bịkhoét rộng hơn, sự phân hóa giàu nghèo ngày một sâu sắc hơn Nếu như năm 2002 thu nhập của nhóm giàu gấp hơn 6 lần thu nhập của nhóm nghèo thìđến năm 2014 con số này đã đạt đến 8,5 và 8,6 lần

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, môi trường đã bị phá hủy một cách nghiêm trọng Các dự án thủy điện, các dự án vốn đầu tư nướcngoài đã nâng cao đời sống người dân, thay đổi bộ mặt cả nước nhưng đi cùng với đó là những tác động không nhỏ tới môi trường Nguyên nhân của vấn

đề này là do sự quản lí của nhà nước đối với các dự án đầu tư còn kém hiệu quả, các tiêu chuẩn về môi trường đối với các dự án FDI còn thấp, Công táckiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp ở địa phương, đặc biệt là việc quản lý, giám sát các hoạtđộng khai thác tài nguyên thiên nhiên còn nhiều bất cập Ở nhiều nơi, lãnh đạo các cấp, ngành và chính quyền địa phương còn buông lỏng quản lý, chưachặt chẽ và quyết liệt

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đang tạo nên một nhu cầu rất lớn về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguyên liệu cho các ngành kinh

tế Việc khai thác, tận dụng tối đa mọi nguồn lực tài nguyên thiên nhiên sẵn có làm cho các chủ thể, trong đó có doanh nghiệp thu về lợi nhuận lớn.Ngược lại, chi phí cho vấn đề bảo vệ, tái tạo và cải thiện môi trường tự nhiên làm suy giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, nhiều doanhnghiệp không tuân thủ nghiêm pháp luật về bảo vệ môi trường, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng suy kiệt

38

Trang 39

Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm lực khoa học công nghệ và nhân lực cho bảo vệ môi trường tự nhiên còn nhiều hạn chế.

-2.3.3 Về năng suất lao động

Mặc dù năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2015 tính theo giá hiện hành đạt 79,3 triệu VND, tương đương 3.657 USD/lao động, tăng 6,42% sovới năm 2014, đưa bình quân giai đoạn 2005 – 2015 tăng 3,9%/năm, tuy nhiên, nghiên cứu của Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)

về năng suất lao động chỉ ra từ năm 2005, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng đi xuống đến mức thấp nhất là 2,57% vào năm

2009 Kể cả trong giai đoạn 1992 – 2014, tốc độ tăng năng suất của Việt Nam ở mức khá cao là 4,64%/năm, thì tốc độ này ở Trung Quốc là 9,07%/năm.Thu nhập bình quân người Việt năm 2015 ở mức 2.109 USD, chỉ tương đương 1/6 thu nhập của người Malaysia và 1/16 Singapore

Về chất lượng lao động của nước ta thời gian qua thật sự đáng lo ngại bởi con số có đến 50% lao động chưa qua đào tạo, năng suất lao động của ViệtNam thuộc nhóm thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần So với các nước lánggiềng ASEAN có mức thu nhập trung bình năng suất lao động của Việt Nam cũng chỉ bằng 1/5 Malaysia và 2/5 so với Thái Lan Theo tổ chức lao độngquốc tế IPO, năng suất lao động của Việt Nam đã thua Lào, hiện chỉ hơn Myanmar và Campuchia

Nguyên nhân chủ yếu là cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, trong khi năng suất ngành này lại thấp Quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam tuy theo hướng tích cực nhưng vẫn còn chậm và có khoảng cách khá xa so với yêu cầu của một nước côngnghiệp Tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm liên tục từ 55,1% năm 2005 xuống 49,5% năm 2010 và còn 44,3% năm

2015 Tuy nhiên do tốc độ tăng lực lượng lao động khá nhanh, bình quân 1,9%/ năm trong giai đoạn trên nên số lao động trong khu vực này chỉ giảmđược 112,3 nghìn người, đến năm 2015 vẫn còn 23,5 triệu người đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản So với các nước trong khuvực tỷ trọng này còn khá cao Mặt khác phần lớn lao động trong khu vực này là lao động giản đơn, có tính thời vụ, việc làm không ổn định, nên giá trị giatăng tạo ra không cao dẫn đến NSLĐ thấp Có tới 44,3% lao động cả nước nhưng chỉ tạo ra 17,4% GDP Lao động đang làm việc ở nước ta chủ yếu làlao động tự làm và lao động gia đình có thu nhập thấp, bấp bênh, không ổn định đang có xu hướng tăng lên

Một nguyên nhân khác là do công nghệ lạc hậu Trình độ công nghệ hiện nay đang sử dụng ở Việt Nam thấp hơn tương đối nhiều so với các nước trongkhu vực

Năng suất lao động thấp một phần vì khả năng tự tích lũy của nền kinh tế còn thấp Để sản xuất không chỉ cần lao động mà phải có thiết bị công nghệ.Quá trình tăng năng suất lao động của loài người luôn đi đôi với điều kiện tăng mức trang bị thiết bị kỹ thuật công nghệ cho lao động Như vậy phải cóvốn đầu tư, tăng vốn đầu tư để cơ khí hóa, tự động hóa, tin học hóa sản xuất Một nước nghèo thì khả năng tự tiết kiệm để đầu tư hạn chế Do vậy, phải

có một quá trình tích lũy vốn và đầu tư hàng chục năm mới thực hiện được cơ khí hóa, tự động hóa và tin học hóa nền kinh tế

2.3.4 Những khó khăn và nguyên nhân trong việc phát triển KH-CN tại Việt Nam

Khung hành lang pháp lý, việc hoàn thiện thể chế, hệ thống chính sách để bảo đảm Luật KH&CN được triển khai sâu rộng vào cuộc sống, tạo đà chophát triển kinh tế - xã hội, đưa KH&CN thực sự trở thành lực lượng sản xuất quan trọng để phát triển kinh tế vẫn còn nhiều bất cập Việc ban hành cácvăn bản dưới Luật như Nghị định, Thông tư hướng chậm chạp, khiến cho quá trình thực hiện Luật KH&CN gặp nhiều khó khăn Thủ tục xét duyệt, thẩmđịnh các dự án đầu tư đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp Nhà nước kéo dài, khiến nhiều đơn vị không hào hứng tham gia hoặc khó khuyến khích họ

có chiến lược đầu tư dài hạn

Hiệu quả đầu tư vào khoa học công nghệ chưa cao Chi ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ là 2% là một con số khá khiêm tốn, bởi vì gần như90% của con số là chi thường xuyên và chi mua sắm trang thiết bị, trả lương, sửa chữa nhà cửa…, còn lại khoảng 10% đầu tư nghiên cứu cho cho cấpnhà nước hoặc cấp bộ, tỉnh, cơ sở Như vậy, một năm chúng ta chỉ có khoảng hơn 2.000 tỷ đồng cho hoạt động nghiên cứu, chia ra mỗi viện nghiên cứuđược vài tỷ đồng tiền ngân sách, mỗi đầu nhà khoa học nghiên cứu được vài chục triệu đồng, như thế là quá thấp

Tổng đầu tư xã hội cho KH-CN rất thấp do chưa huy động được sự đầu tư của xã hội, nhất là của doanh nghiệp Hiện đầu tư cho KH-CN của khối doanhnghiệp chỉ bằng 50% đầu tư từ ngân sách nhà nước Các doanh nghiệp nước ta có đến 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, mức độ quan tâm đến phát triểnkhoa học công nghệ còn thấp Luật khoa học công nghệ 2013 bắt buộc doanh nghiệp phải dành tối thiểu 3%, tối đa 10% để đầu tư cho khoa học côngnghệ Nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp của chúng ta vẫn chưa thực hiện được điều này Lý do là cơ chế chính sách của chúng ta khuyến khích doanhnghiệp thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ cũng như dành một phần lợi nhuận để đầu tư cho khoa học công nghệ còn bất cập

Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ KH-CN vẫn còn bất cập và luôn tạo ra những khoảng cách không đáng có giữa nhà khoa học với chế độ đãi ngộcủa Nhà nước Các nhà khoa học vẫn chưa được hưởng một chế độ đãi ngộ thích đáng và chưa có điều kiện được làm việc, nghiên cứu trong một môitrường có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị… Đặc biệt, có nhiều cán bộ không có trình độ chuyên môn về KH-CN, nhưnglại đảm nhiệm vị trí này

Hiện nay, các sản phẩm khoa học công nghệ Việt Nam, dù đã được cải tiến và đổi mới nhiều, song phần lớn vẫn sử dụng những công nghệ cũ, lạc hậu.Việc đổi mới công nghệ so với mặt bằng chung vẫn còn chậm Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc đầu tư vào nghiên cứu và đổi mớicông nghệ bị hạn chế khiến cho các sản phẩm khoa học và công nghệ vẫn bị tụt hậu so với thế giới, làm giảm năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này Mặtkhác việc đổi mới công nghệ không chỉ đơn giản là thay máy cũ bằng máy mới mà còn phải đổi mới cả một hệ thống quản lý cũng như nguồn nhân lựcchất lượng cao đi kèm mà những điều này vẫn còn thiếu và yếu

2.3.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng chưa đảm bảo sự hợp lý, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế diễn ra cònchậm và chất lượng chưa cao, sự phát triển chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông Sự dịch chuyển cơ cấu lao động chậm sovới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn từ 2005-2014 có thể thấy, sự chuyển dịch cơ cấu có xu hướng chững lại, cụ thể: tỷ trọng nông nghiệp

Trang 40

sau gần 10 năm không những không giảm mà còn tăng nhẹ (từ 19,3% năm 2005 lên 19,7% năm 2012) Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp và xâydựng chỉ tăng nhẹ (từ 38,1% năm 2005 đến 38,3% năm 2014), tỷ trọng ngành dịch vụ giảm gần 1% năm 2005 so với năm 2012 Hơn nữa, trong cơ cấunền kinh tế các nhóm ngành kinh tế sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch còn cao, mức độ ô nhiễm môi trường do các hoạt động kinh tế nông, lâm, ngưnghiệp; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn lớn Cụ thể:

Đối với lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp: Mặc dù trong cơ cấu nội bộ ngành có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng của nhóm ngànhnông nghiệp, tăng dần tỷ trọng của nhóm ngành thủy sản, tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản ở nước ta chủ yếu dựa vào việc khaithác quá mức tài nguyên sinh vật tại các thủy vực; việc nuôi trồng thủy sản ở nhiều vùng đã làm suy giảm diện tích rừng phòng hộ ven biển (Đồng bằngsông Cửu Long) và ô nhiễm môi trường (Duyên hải miền Trung) Việc khai thác các diện tích đất lâm nghiệp ở vùng đồi núi chuyển sang đất nôngnghiệp làm tăng nguy cơ thiên tai (lũ quét, sạt lở đất ở miền núi, ngập lụt và hạn hán ở đồng bằng); việc sử dụng các sản phẩm hóa học (phân bón, thuốctrừ sâu) khiến cho nhiều diện tích đất bị thoái hóa và bạc mầu, làm mất môi trường sống của nhiều loài sinh vật Ngành khai thác khoáng sản được pháttriển kéo theo hệ quả là các nguồn tài nguyên khoáng sản đang bị khai thác lãng phí, cạn kiệt, sử dụng kém hiệu quả, môi trường bị tàn phá, tệ nạn xã hộigia tăng

Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đại trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệnhìn chung vẫn ở mức trung bình Công nghiệp chế biến, đặc biệt là những ngành công nghệ cao chưa phát triển Sự chuyển dịch từ công nghiệp khaithác sang công nghiệp chế biến vẫn chưa đảm bảo yêu cầu hiệu quả và tính bền vững, do sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu làngành sử dụng nhiều lao động và gia công lắp ráp, dựa chủ yếu vào nhập khẩu nguyên liệu và các sản phẩm gia công từ nước ngoài Năng lực cạnh tranh

ở các sản phẩm này chủ yếu nằm ở giá thấp, dựa trên giá nhân công rẻ hoặc các ưu đãi về thuế, tiền sử dụng đất, qua đó đặt ra những lo ngại về khả năngphát triển bền vững trong dài hạn

Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP có xu hướng tăng chậm, tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ thấp hơn tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp.Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao, như: dịch vụ tài chính - tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm phát triển Tình trạng độcquyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành, như: điện lực, viễn thông, đường sắt Một số ngành có tính chấtđộng lực, như: giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, tính chất xã hội hoá còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước

2.4 Cơ hội và thách thức của Việt Nam

2.4.1 Cơ hội

• Hoạt động đầu tư ở Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường thế giới Nền kinh tế Việt Nam từngbước phục hồi và phát triển rõ nét.Theo tổng cục thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 của Việt Nam ước tính tăng 6,68% so với năm

2014 Mức tăng trưởng này cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét.Năm

2011, GDP của Việt Nam tăng 6,24%; năm 2012 tăng 5,25%; năm 2013 tăng 5,42%; năm 2014 tăng 5,98% Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiệnhành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng.Theo đó, GDP bình quân đầu người năm 2015 tăng 57 USD so với năm 2014, ước đạt 45,7 triệu đồng (tương đương 2109USD)

• Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế Đầu tư nước ngoài gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp,đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam Khu vựcđầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

• Một trong những cơ hội quan trọng nhất mà Việt Nam có được là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hiện tại, vị thế của Việt Namtrong khu vực ngày càng được nâng cao, tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Trong năm 2015, vốn FDI đăng ký mới và tăngthêm đạt 22,76 tỉ USD, tăng mạnh 12,5% so với năm 2014 Ngày càng nhiều các tập đoàn nước ngoài chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư với số vốn hàng

tỉ đô, điển hình là dự án Samsung Display Vietnam (3 tỉ USD), Nhiệt điện Duyên hải 2 (2,4 tỉ USD), dự án Thành phố Đế Vương (1,2 tỉ USD) Chỉ sốnhà quản trị mua hàng ngành sản xuất (PMI) liên tục giữ mức cao hơn 50 - ngưỡng phản ánh quy mô sản xuất mở rộng - trong 3 tháng gần đây nhất

• Đầu tư nước ngoài đã đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ đối ngoại Việt Nam đã và đang hộinhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, sẽ tác động tích cực mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế trongnước như: Hiệp định FTA với Hàn Quốc đã có hiệu lực; Cộng đồng Kinh tế ASEAN -AEC, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP

Gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN

Với kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt trên 40 tỷ USD, hiện ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và Liên minhchâu Âu), đồng thời là đối tác cung cấp nguồn hàng lớn thứ hai cho các doanh nghiệp Việt Nam.Việc hình thành AEC sẽ mang lại những cơ hội lớn chonền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước

+ Trước hết, đó là cơ hội mở rộng thị trường với khu vực kinh tế hơn 630 triệu dân và GDP hàng năm đạt gần 2.700 tỷ USD

+ AEC sẽ là cơ hội quý báu để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nhanh chóng bắt nhịp với xu thế và trình độ phát triển kinh tếcủa khu vực và thế giới AEC được thành lập sẽ đánh dấu sự hội nhập toàn diện các nền kinh tế 10 nước Đông Nam Á AEC ra đời cùng với việc ViệtNam mở rộng các hiệp định tự do thương mại sẽ tạo động lực giúp các doanh nghiệp mở rộng giao thương, thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, cắt giảmchi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, tiếp cận các thị trường rộng lớn hơn là những đối tác đã ký hiệp định thương mại tự do riêng rẽ với ASEAN,như Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc

+ Khi AEC được hình thành, Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu Tiếp cận thị trường của Việt Nam sẽ được cải thiện bởi môitrường thương mại hiệu quả, minh bạch, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm thiểu chi phí cho các giao dịch thương mại quốc tế sẽ góp

40

Ngày đăng: 18/07/2018, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w