Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
===== * * * =====
nguyễn hữu trượng
nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bảo quản lạnh
củ giống đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
một số giống khoai tây trồng ở bắc ninh
luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: gs.ts nguyễn quang thạch
Hà Nội – 2007
Trang 2lêi cam ®oan lêi cam ®oan
T¸c gi¶
NguyÔn H÷u Tr−îng NguyÔn H÷u Tr−îng
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn bè, người thân và các cơ quan, đơn vị
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Nông học-Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy, trang
bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian qua Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, Bộ môn Công nghệ sinh học và Phương pháp thí nghiệm đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến giúp cho luận văn của tôi
được hoàn thiện hơn Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Nguyễn Quang Thạch, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
và động viên tôi trong suốt qúa trình thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong lớp và đồng nghiệp đang công tác tại Trại giống Lạc Vệ, Phòng Kỹ thuật-Công ty Cổ phần giống cây trồng Bắc Ninh và Phòng trồng trọt-Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND tỉnh Bắc Ninh, Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, các cơ quan, đơn vị thuộc Sở; cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2007
Tác giả
Nguyễn Hữu Trượng Nguyễn Hữu Trượng
Trang 4Môc lôc
Trang 5
4.1.1 Thí nghiệm 1: So sánh ảnh hưởng của biện pháp bảo quản củ
giống đến thời gian mọc mầm, sinh trưởng của mầm và tỷ lệ
4.1.2 Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của củ giống được bảo quản lạnh
4.1.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của biện pháp bảo quản lạnh củ
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
LAI (Leaf Area Index): ChØ sè diÖn tÝch l¸
Trung t©m KKNGCT: Trung t©m Kh¶o kiÓm nghiÖm Gièng c©y trång
ViÖn CLT vµ CTP: ViÖn C©y l−¬ng thùc vµ C©y thùc phÈm
ViÖn KHKTNN: ViÖn Khoa häc kü thuËt n«ng nghiÖp
NST: NhiÔm s¾c thÓ
Bé NN vµ PTNT: Bé N«ng nghiÖp vµ Ph¸t triÓn n«ng th«n
Trang 7
Danh mục bảng
4.10 ảnh hưởng của củ giống được bảo quản lạnh đến chỉ số diện
Trang 84.11 Động thái ra tia và hình thành củ của khoai tây trồng từ hai loại
4.12 Động thái ra củ của cây khoai tây thể hiện dưới dạng số tương
4.14 ảnh hưởng của củ giống được bảo quản lạnh đến năng suất và
4.15 ảnh hưởng của củ giống được bảo quản lạnh đến kích thước củ
4.17 Hiệu quả kinh tế của bảo quản lạnh củ giống đến sản xuất
Trang 9Danh môc h×nh
Trang 101 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là cây thuộc họ cà (Solanaceae), chi Solanum, vừa là cây lương thực, cây thực phẩm và thức ăn gia súc có giá trị dinh dưỡng cao, vừa là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao (Nguyễn Văn Thắng, Ngô Đức Thiệu, 1978) [35] Do có khả năng thích hợp với nhiều vùng sinh thái, cho năng suất cao, củ giàu dinh dưỡng nên khoai tây được trồng rất phổ biến Tính đến năm 1998, trên thế giới đx có 130 nước trồng khoai tây với tổng diện tích 18,3 triệu ha, năng suất trung bình 16 tấn/ha, tổng sản lượng 295,1 triệu tấn (Nguyễn Quang Thạch, 2004) [30]
ở Việt Nam, khoai tây được trồng từ hơn 100 năm nay và là cây trồng
lý tưởng trong vụ đông ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du Bắc bộ Nếu như cây ngô và đậu tương đông đòi hỏi thời vụ trồng rất nghiêm ngặt (trước 10/10), trong khi thời vụ trồng khoai tây có thể kéo dài từ 1/10 đến hết tháng 11, thậm chí đến 20/12 Do vậy, khoai tây là cây trồng có ưu thế lớn để
mở rộng diện tích trên chân đất hàng năm cấy 2 vụ lúa xuân và lúa mùa Đưa cây khoai tây vào công thức luân canh: lúa xuân- lúa mùa- khoai tây đông không những làm tăng hệ số sử dụng đất, tăng thu nhập mà còn góp phần tăng
độ phì nhiêu của đất, hạn chế sự lan truyền của sâu bệnh, cỏ dại trên cả cây khoai tây cũng như cây lúa Với thời gian sinh trưởng ngắn (80- 90 ngày) nhưng lại cho năng suất cao (từ 20- 35 tấn/ha) giá bán khá ổn định (từ 1.800
đến 2.000 đồng/kg); 1 ha khoai tây có thể cho thu nhập từ 35- 40 triệu
đồng/1vụ Điều này càng có ý nghĩa hơn khi hiện nay chúng ta đang chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá,
Trang 11Tuy nhiên, thực trạng sản xuất khoai tây hiện nay ở đồng bằng sông Hồng đx không phản ánh đúng tiềm năng đó Diện tích khoai tây của nước ta
từ 130.000 ha (năm 1979) đx giảm còn 35.000 ha (năm 2003); năng suất bình quân hiện mới đạt 12- 12,5 tấn/ ha, sản lượng niên vụ 2002- 2003 mới đạt 421.036 tấn (Đỗ Kim Chung, 2003) [6] Nguyên nhân diện tích giảm, năng suất thấp (mới đạt khoảng 50% tiềm năng) chủ yếu do sử dụng giống không
đảm bảo chất lượng, củ giống đx bị thoái hoá làm giảm năng suất; trong khi
đầu tư chi phí giống và phân bón lại cao, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp
Vì vậy, để phát huy hết tiềm năng, lợi thế của cây khoai tây trong vụ
đông ở đồng bằng sông Hồng, vấn đề then chốt đầu tiên là phải giải quyết tốt khâu giống Để có giống khoai tây tốt, nhiều năm qua chúng ta phải nhập giống từ các nước Châu Âu, Australia, Trung tâm khoai tây Quốc tế (CIP) và gần đây là từ Trung Quốc Kết quả điều tra cho thấy tình hình sử dụng giống khoai tây ở Việt Nam như sau: 70- 75% từ Trung quốc, 15% từ Châu Âu, 15% sản xuất trong nước (Đỗ Kim Chung, 2003) [6] Giống sản xuất trong nước chủ yếu bằng phương thức tự để, củ giống đx bị thoái hoá năng Giống nhập từ Trung Quốc có giá rẻ do chủ yếu nhập khoai thịt để làm giống, ít qua kiểm dịch nên vừa có chất lượng thấp, vừa có thể mang nhiều mầm dịch bệnh Giống nhập từ Châu Âu (chủ yếu từ Hà Lan, Đức) có chất lượng tốt nhưng giá giống quá đắt, nông dân không đủ sức đầu tư mở rộng diện tích
Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải tổ chức một hệ thống sản xuất giống
có chất lượng cao tại chỗ cho vùng đồng bằng sông Hồng Tuy vậy, củ giống khoai tây ở nước ta phải bảo quản trong thời gian dài (6-9 tháng) trong điều kiện nóng, ẩm của mùa hè nên tỷ lệ hao hụt tới 50%, củ bị già sinh lý, khi trồng cây sinh trưởng kém, thời gian sinh trưởng bị rút ngắn… nên tỷ lệ củ thương phẩm giảm, năng suất thấp Để khắc phục hiện tượng này, một số năm trước đây thường sử dụng biện pháp trồng khoai tây trong vụ xuân để làm giống cho vụ đông (rút ngắn thời gian bảo quản củ giống) có hiệu quả Tuy
Trang 12nhiên, nguồn củ giống trồng vụ xuân hầu như phải nhập nội; hoặc phải phá ngủ củ thu hoạch vụ đông gặp không ít khó khăn Gần đây, một số địa phương
đx xây dựng kho lạnh để bảo quản khoai tây giống, tạo củ giống trẻ sinh lý, góp phần làm tăng năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế của cây khoai tây một cách rõ rệt Tuy nhiên, ở Bắc Ninh biện pháp này triển khai còn ở mức hạn chế và chưa có những nghiên cứu đầy đủ mang tính khoa học và hệ thống Nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bảo quản củ giống khoai tây đến sản xuất, để có thể đề xuất các biện pháp phát triển khoai tây ở Bắc Ninh, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bảo quản lạnh củ giống đến sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống khoai tây trồng ở Bắc Ninh”
1.2 Mục đích yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bảo quản lạnh củ giống đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây, qua đó đề xuất cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác chỉ đạo sản xuất và xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống kho lạnh bảo quản khoai tây giống ở tỉnh Bắc Ninh
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định tỷ lệ hao hụt và sinh trưởng của củ giống bảo quản thông thường (tán xạ) so với bảo quản củ giống trong kho lạnh
- Xác định ảnh hưởng của biện pháp bảo quản lạnh củ giống đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây so với bảo quản bằng phương pháp tán xạ
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của bảo quản lạnh củ giống đối với sản xuất
Trang 131.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Cơ sở lý luận
Trong sản xuất, hiện tượng thoái hoá giống khoai tây thường xảy ra làm cho cây khoai tây sinh trưởng kém, năng suất giảm nghiêm trọng Hai nguyên nhân gây thoái hoá giống khoai tây là: Thoái hoá bệnh lý do nhiễm virus và thoái hoá sinh lý do củ giống bị già sinh lý vì bảo quản lâu trong điều kiện nóng ẩm
* Hiện tượng thoái hoá giống khoai tây do bệnh lý là kết quả hoạt động của các loài virus khác nhau, vốn không ngừng lây lan trong suốt quá trình trồng trọt Bệnh virus không chữa được do di truyền qua các củ giống, lan truyền bằng rệp hoặc do tiếp xúc cơ giới
Các biện pháp khắc phục hiện tượng thoái hoá bênh lý: tạo giống sạch virus đem nhân nhanh và duy trì giống sạch bệnh; tạo giống chống chịu virus;
áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tổng hợp…
* Thoái hoá sinh lý hay hiện tượng già hoá sinh lý củ giống là hiện tượng củ giống sau một thời gian bảo quản nhất định đều giảm sinh trưởng mầm, đâm tia và hình thành củ con ngay trên củ mẹ, sau đó củ mẹ sẽ tự thui chết Hiện tượng này không có liên quan gì đến độ chín củ củ mà chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian bảo quản
- Tuổi sinh lý của củ tại một thời điểm nào đó được tính bằng thời gian củ hình thành trên cây mẹ và điều kiện mà nó phải chịu đựng trong suốt quá trình phình to cũng như trong quá trình bảo quản Tình trạng sinh lý của củ giống chịu
ảnh hưởng của điều kiện trồng, thời gian bảo quản và điều kiện bảo quản Giống trồng ở điều kiện nóng ẩm, bảo quản ở nhiệt độ cao cho củ giống già hơn củ mọc
ở vùng lạnh và bảo quản ở nhiệt độ thấp Giống có thời gian ngủ nghỉ ngắn bước vào giai đoạn già sớm hơn giống có thời gian ngủ nghỉ dài
Trang 14Bản chất sinh hoá của quá trình già hoá củ giống là: Các mô dự trữ của
củ tự luyện ra một yếu tố hình thành củ, chất này được tổng hợp ra một cách chậm chạp nhưng liên tục và chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường Một
củ trong quá trình bảo quản dài, khi đủ thời gian, chất hoá củ đạt được một liều lượng nhất định trong củ và quá trình hình thành củ con trên các củ mẹ sẽ diễn ra
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy: Khoai tây trồng bằng củ giống trẻ sinh lý sẽ sinh trưởng mạnh và cho năng suất cao hơn trồng từ củ già sinh lý
- Biện pháp khắc phục hiện tượng già sinh lý của củ giống là: Trồng thêm vụ muộn để rút ngắn thời gian bảo quản hoặc sử dụng biện pháp bảo quản lạnh để làm chậm sự già hóa
Biện pháp bảo quản lạnh đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện thời gian bảo quản dài và điều kiện thời tiết nóng, ẩm khi bảo quản Áp dụng biện pháp này sẽ giúp cho củ giống khi đem trồng vẫn còn tươi, dinh dưỡng trong củ nhiều, mầm và tia củ hình thành muộn hơn, cây sinh trưởng mạnh và cho năng suất cao hơn bảo quản thống thường từ 20- 30%
1.3.2 Cơ sở thực tiễn
Trước đây sản xuất khoai tây ở miền Bắc nước ta sử dụng củ giống sản xuất từ vụ đông để bảo quản bằng biện pháp thông thường, khoai tây bị thoái hoá giống nghiêm trọng nên năng suất rất thấp, bình quân chỉ đạt từ 6- 8 tấn/ha Sau đó, một số địa phương đx trồng thêm một vụ khoai tây xuân để làm củ giống, rút ngắn được thời gian bảo quản từ 9 tháng xuống còn 6 tháng, làm cho năng suất khoai tây ở các địa phương này tăng lên 9- 10 tấn/ha
Trong thời gian gần đây (từ 1998), biện pháp bảo quản lạnh củ giống khoai tây được mở rộng áp dụng trong sản xuất, đến năm 2004 miền Bắc có khoảng 80 kho lạnh, đx góp phần quan trọng đưa năng suất khoai tây đạt 12-
Trang 15ẻ miÒn Bớc, viỷc sỏ dông cự gièng ệ−ĩc bờo quờn lỰnh vộo sờn xuÊt khoai tẹy bớt ệẵu tõ 1998 tõ nguăn gièng mua cựa cịc Viỷn, Tr−êng ậHNNI, cựa cịc Cềng ty vộ tửnh bỰn Qua theo dâi thùc tạ cho thÊy, nẽng suÊt khoai tẹy trăng tõ cự gièng bờo quờn lỰnh cã thÓ ệỰt tõ 19- 20 tÊn/ha, tẽng 30- 50%
so vắi cự gièng bờo quờn thềng th−êng Tuy nhiến, do giị bịn cự gièng bờo quờn lỰnh trến thỡ tr−êng quị cao (tõ 5.500- 6.500ệ/kg), chi phÝ tiÒn mua gièng lắn (khoờng 9 triỷu ệăng/ ha) nến ệa sè nềng dẹn khềng ệự khờ nẽng
ệẵu t− mẻ réng sờn xuÊt Vừ vẺy, tõ nẽm 2004 tửnh Bớc Ninh ệx cã chÝnh sịch
hẫ trĩ ệẵu t− xẹy dùng kho lỰnh bờo quờn cự gièng khoai tẹy, ệạn nay toộn tửnh ệx cã 22 kho lỰnh Mẳc dỉ vẺy, sè kho lỰnh trến mắi chử ịp ệịp ụng ệ−ĩc 17,6% nhu cẵu gièng khoai tẹy hiỷn tỰi, vộ bỪng 11,7% nhu cẵu gièng khoai tẹy theo kạ hoỰch phịt triÓn cựa tửnh ệạn nẽm 2010 Mẳt khịc, do ch−a nhẺn thục râ vai trư, tịc dông cựa viỷc sỏ dông cự gièng ệ−ĩc bờo quờn lỰnh ệạn sờn xuÊt khoai tẹy nến nềng dẹn ẻ nhiÒu ệỡa ph−ểng vÉn ch−a dịm mỰnh dỰn
ệẵu t−; viỷc ụng dông TBKT nộy vÉn chử tẺp trung chự yạu ẻ cịc vỉng cã kinh nghiỷm sờn xuÊt hộng hoị Vừ vẺy, ệÒ tội nộy sỳ gãp phẵn cung cÊp nhọng luẺn cụ khoa hảc vộ thùc tiÔn ệÓ tửnh Bớc Ninh vộ cịc huyỷn trong tửnh ệÈy mỰnh chử ệỰo thùc hiỷn chự tr−ểng phịt triÓn kho lỰnh vộ sỏ dông
cự gièng bờo quờn lỰnh trong sờn xuÊt khoai tẹy Sù thộnh cềng cựa ệÒ tội nộy sỳ gãp phẵn quan trảng thùc hiỷn Nghỡ Quyạt ậỰi Héi XVII cựa đờng
bé tửnh Bớc Ninh vÒ ệÈy mỰnh chuyÓn dỡch cể cÊu cẹy trăng theo h−ắng phịt triÓn sờn xuÊt hộng hoị, ệ−a vô ệềng trẻ thộnh mét trong 3 vô sờn xuÊt chÝnh trong nẽm
Trang 162 Tổng quan tài liệu
2.1 Giới thiệu chung về cây khoai tây
Cây khoai tây (Solanum tuberosum L.) có nguồn gốc ở vùng cao nguyên thuộc dxy núi Andes, Nam châu Mỹ, nơi có độ cao từ 2000-5000m so với mực nước biển Theo Salaman (1949) [55] người Tây ban nha lần đầu tiên phát hiện ra cây khoai tây khi họ đặt chân đến thung lũng Magdalenna (Nam Mỹ) cùng với cây đậu và ngô Cây khoai tây được du nhập vào Tây ban nha vào khoảng năm 1570 và nước Anh khoảng năm 1590 Sau đó, nó được lan truyền khắp châu Âu và tiếp đó là Châu á (Hawkes, 1978) [48]
Khoai tây thuộc họ cà (Solanaceae), chi Solanum section petota gồm
150 loài có khả năng cho củ Tập đoàn giống khoai tây là một tập hợp các dạng đa bội có số lượng nhiễm sắc thể (NST) 2n=24-72 (Hawkes, 1978) [48] Hiện nay có khoảng 20 loại khoai tây thương phẩm, chúng đều thuộc loài Solanum tuberosum L và ở thể tứ bội (Tetraploid) 2n = 4x = 48, có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao (Võ Văn Chi và Cộng sự, 1969) [4] , (Mc Collum J.P., 1992) [59]
Khoai tây là một trong những nguồn lương thực quan trọng của loài người, được xếp vào cây lương thực đứng hàng thứ 4 trên thế giới, sau lúa mì, lúa gạo và ngô Theo FAO (Food Agricultural Organigation of United Nation Statistics), sản lượng khoai tây thế giới đạt khoảng 300 triệu tấn, chiếm 60- 70% tổng sản lượng lúa hoặc lúa mì và chiếm 50% tổng sản lượng cây có củ (FAO, 1995) [45]
Khoai tây vừa là cây lương thực, vừa là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Về giá trị dinh dưỡng khoai tây chỉ kém đậu tương (Leviel, 1986)
Trang 17[58] Sử dụng 100 gram khoai tây có thể đảm bảo ít nhất 8% nhu cầu Protein, 3% năng lượng, 10% Fe, 10% B1 và 20-50% nhu cầu Vitamin C cho người trong một ngày (Beukema và CTV, 1990) [38] Củ khoai tây có chứa trung bình khoảng 25% chất khô, trong đó 80- 85% tinh bột, 3% Prôtein, nhiều Vitamin: A, B1, B6, PP… và nhiều nhất là Vitamin C (20-200 mg%) Ngoài ra còn có các chất khoáng quan trọng, chủ yếu là K, thứ đến là Ca, P và Mg (Tạ Thu Cúc, 2000) [8] Theo Beukema, Peter Vander Zaag (1979) [41] thì cứ 1kg khoai tây cho 908,2 Kcalo Theo tổng kết của Peter Vander Zaag,(1979) khi xem xét các cây trồng vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới từ 30 độ vĩ Bắc đến 30 độ
vĩ Nam như lúa, ngô, đậu đỗ, khoai lang… khoai tây là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn nhất nhưng lại cho năng suất năng lượng và năng suất Prôtein là cao nhất (Đặng Thị Vân, 1997) [38]
Bảng 2.1: Năng suất năng lượng và năng suất Prôtein của một số cây trồng
Loại cây
Năng suất năng lượng
Tỷlệ Prôtein (%)
Năng suất Prôtein (kg/ngày/ha)
Trang 18Nếu so sánh về năng suất chất khô trên một đơn vị diện tích thì khoai tây đạt cao nhất, vượt lúa mì 3,04 lần, ngô: 2,2 lần, lúa nước: 1,33 lần (FAO,1991)[44]
ở các nước công nghiệp phát triển, khoai tây còn được sử dụng làm thức ăn gia súc Theo số liệu của FAO (1991) [44] lượng khoai tây làm thức
ăn gia súc ở Pháp là 3,06 triệu tấn, Hà Lan 1,93 triệu tấn…
Ngoài ra, khoai tây còn là nguyên liệu có giá trị cho nhiều ngành công nghiệp: Dệt ,sợi, gỗ ép, giấy và đặc biệt là chế biến các acid hữu cơ (Lactic, Citric), dung môi hữu cơ (Etanol, Butanol) Ước tính một tấn củ khoai tây có hàm lượng tinh bột 17,6% thì sẽ cho 112 lít rượu, 55kg acid hữu cơ và một số sản phẩm khác (FAO), 1991 [44]
2.2 ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây
2.2.1 ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố khí tượng đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh trưởng, phát triển của cây khoai tây Mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển, cây khoai tây yêu cầu nhiệt độ khác nhau
Trong thời gian ngủ nghỉ của củ khoai tây, nó có thể mọc mầm ở nhiệt
An, Đinh Thế Lộc, 2005) [1]
ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, cây khoai tây có thể thích ứng được
giảm đi rõ rệt
Trang 19Khi tia củ bắt đầu hình thành và phát triển cần nhiệt độ hơi thấp Theo Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An (2000) [9], nhiệt độ thích hợp cho hình thành củ khoai tây là
triển củ sẽ có hiện tượng sinh trưởng lần thứ 2
2.2.2 ảnh hưởng của ánh sáng
Khoai tây là cây ưa sáng, cường độ ánh áng thích hợp cho năng suất cao
từ 40.000-60.000 lux Cường độ ánh sáng mạnh có lợi cho quá trình quang hợp sẽ tạo thuận lợi cho quá trình hình thành và tích lũy chất khô Cường độ
ánh sáng yếu sẽ ảnh hưởng tới cường độ quang hợp, khi cường độ quang hợp giảm thì nhiều tia củ sẽ không có khả năng hình thành củ (Nosberger và Humphru, 1965) [52] Thời gian chiếu sáng ngắn sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng của khoai tây
Khi nhiệt độ thấp mà lại thiếu ánh sáng kéo dài sẽ làm cho cây khoai tây ít ra củ, thân lá vươn dài và kéo dài tuổi thọ của cây (Nguyễn Văn Thắng
và Ngô Đức Thiệu, 1978) [35]
2.2.3 ảnh hưởng của nước
Trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển, cây khoai tây cần rất nhiều
Đức Thiện và Nguyễn Văn Thắng, 1976, 1978) [34], [35] Thời kỳ từ trồng
đến xuất hiện tia củ cần đảm bảo độ ẩm đất tối thiểu 60-80% sức chứa ẩm
đồng ruộng Thời kỳ hình thành và phát triển củ cần thường xuyên giữ ẩm độ
đất là 80% Thiếu hoặc thừa nước đều gây ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây Nếu thiếu nước ở thời kỳ phát triển củ thì năng suất giảm rõ rệt (Tạ Thu Cúc, 1979) [7]
Trang 202.2.4 ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng
Do năng suất sinh khối, năng suất năng lượng và năng suất Protêin đều cao nên cây khoai tây yêu cầu một lượng dinh dưỡng lớn và đầy đủ các nguyên tố đa, vi lượng Các nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu cây cần như sau:
- Nitơ (N): Là một trong những nguyên tố dinh dưỡng cây cần nhiều nhất, nhưng khi bón lượng đạm quá cao dễ xảy ra hiện tượng “sinh trưởng lần thứ 2”, làm giảm năng suất và chất lượng củ khoai tây (Beukeman, Vander Zaag, 1979) [41]
- Phốt pho (P): Làm cây sớm ra hoa, kết quả và hình thành củ, tăng số củ/cây, tăng khả năng chống chịu của cây đối với bệnh virus
- Kali (K): Làm tăng khả năng quang hợp, tăng vận chuyển các chất hữu cơ trong cây và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại của cây Kali tuy không làm tăng năng suất sinh khối của củ nhưng lại làm tăng năng suất chất khô của củ và do đó đx làm tăng năng suất năng lượng và năng suất Protêin của khoai tây
- Canxi (Ca): Có tác dụng trung hòa độ chua của đất (đối với đất có độ
pH thấp), do đó có tác dụng khắc phục hiện tượng cây sinh trưởng kém, củ nhỏ, năng suất thấp
- Magiê (Mg): Khi thiếu Mg cây sinh trưởng, phát triển kém, năng suất thấp Trên đất thịt nhẹ bón Mg có tác dụng làm tăng năng suất khoai tây rõ rệt
- Kẽm (Zn): Khi thiếu Zn làm lá gốc bị mất màu, lá non nhỏ và xuất hiện các đốm hoại tử, làm giảm năng suất
- Lưu huỳnh (S): Khi thiếu sẽ làm cho lá chuyển màu vàng từ đỉnh ngọn xuống các lá dưới, hàm lượng diệp lục trong lá giảm sẽ ảnh hưởng tới quang hợp và năng suất
Trang 21Ngoài ra, việc sử dụng phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng khoai tây Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng,
đặc biệt là các nguyên tố vi lượng cho cây, phân hữu cơ có vai trò quan trọng làm tăng độ xốp, khả năng giữ ẩm và hấp thu dinh dưỡng của đất, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh và quá trình hình thành, phát triển củ thuận lợi 2.2.5 Đất trồng
Nhìn chung, cây khoai tây có khả năng trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng không thích hợp loại đất thịt nặng hoặc đất cát pha nặng Chúng phát triển tốt nhất trên loại đất cát pha, thịt nhẹ, đất có cấu tượng tốt, có khả năng giữ ẩm, giữ nhiệt và giàu dinh dưỡng Đất trồng yêu cầu tơi xốp, sạch cỏ,
có tầng canh tác dày, độ pH thích hợp nhất 5,0-6,5 (Hồ Hữu An, Đinh Thế Lộc, 2005) [1]
2.3 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới
Do có giá trị về nhiều mặt nên cây khoai tây được trồng rộng rxi ở hơn
2001) [9] Tuy nhiên, do trình độ sản xuất, trình độ khoa học công nghệ và trình độ thâm canh rất khác nhau giữa các nước trồng khoai tây nên năng suất rất chênh lệch Theo số liệu thống kê của tổ chức FAO, tính đến năm 1990 năng suất khoai tây của các nước dao động từ 4 đến 42 tấn/ha, sản lượng đạt khoảng 300 triệu tấn, chiếm từ 60-70% sản lượng lúa hoặc lúa mì và chiếm khoảng 50% tổng sản lượng cây có củ (FAO, 1995) [45]
Về diện tích trồng khoai tây: Nước có diện tích lớn nhất là Cộng hòa Liên bang Nga với 3,5 triệu ha, thứ hai là Trung Quốc với 3,4 triệu ha; tiếp
đến là Balan và Ucraina (1,5 triệu ha) ấn độ là nước có diện tích trồng khoai
Trang 22tây lớn thứ 6 trên thế giới với khoảng trên dưới 1 triệu ha Các nước còn lại
đều có diện tích trồng dưới 1 triệu ha (FAO, 1996) [46]
Về năng suất khoai tây: Vùng trồng khoai tây có năng suất cao thường tập trung ở các nước công nghiệp phát triển Điển hình là các nước Tây Âu như: Anh, Pháp, Bỉ, Hàlan, Đan mạch… năng suất khoai tây đạt từ 35-42 tấn/ha Các nước Nhật bản, Hoa kỳ đạt năng suất khoai tây bình quân từ 31-36 tấn/ha ở các nước đang phát triển, năng suất khoai tây bình quân chỉ dao
động xung quanh 10 tấn/ha (FAO, 1995) [45]
Về sản lượng: Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới với sản lượng trên
40 triệu tấn mỗi năm, thứ hai là Balan (24 triệu tấn/năm), tiếp theo là Hoa kỳ với khoảng 20 triệu tấn/năm và ấn độ với khoảng 17 triệu tấn/năm (FAO, 1996) [46]
Về xu hướng phát triển sản xuất khoai tây: Các nước công nghiệp phát triển có xu hướng giảm dần diện tích khoai tây và tăng sản lượng bằng cách sử dụng các giống khoai tây mới có năng suất cao, chống chịu tốt cùng với việc
áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật tiên tiến Trong khi đó, các nước
đang phát triển có xu hướng tăng sản lượng bằng cả tăng diện tích và tăng năng suất để đảm bảo an ninh lương thực (Chailakyan, 1985) [42] Vì vậy, diện tích khoai tây ở các nước đang phát triển trong hơn 30 năm qua đx tăng
từ 3.562 nghìn ha lên 8.495,7 nghìn ha, với năng suất bình quân đx tăng từ 8 tấn/ha lên 13 tấn/ha
Tuy nhiên, năng suất khoai tây ở các nước đang phát triển không những còn thấp hơn nhiều so với năng suất khoai tây ở các nước phát triển, mà còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất ở chính các vùng này Kết quả nghiên cứu của Trung tâm khoai tây quốc tế (CIP) cho thấy, không có lý do
đặc biệt nào gây ra giới hạn năng suất ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Các
Trang 23suất đạt tới 36 tấn/ha (FAO, 1991) [44] Nguyên nhân làm hạn chế năng suất khoai tây ở các nước đang phát triển chính là do sự hạn hẹp về tài chính Người trồng khoai tây ở các nước này hầu hết là người nghèo, không có đủ tiền mua phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và đặc biệt là không có khả năng để mua củ giống có chất lượng tốt, vì chi phí cho củ giống là chi phí lớn nhất trong tổng chi phí tiền mặt mà người trồng khoai tây phải đầu tư (FAO, 1991) [44]
Kết quả nghiên cứu ở các nước đang phát triển trồng khoai tây đều rút
ra kết luận rằng: Củ giống chất lượng cao đang là vấn đề hàng đầu ảnh hưởng
đến sản xuất khoai tây hiện nay Giống mới và củ giống chất lượng cao đx có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng khoai tây ở các nước Argentina, Brazil, Colombia (FAO, 1991) [44] ở Ecuado, điều kiện khí hậu nhiệt đới hạn chế một phần năng suất, nhưng hạn chế lớn nhất là do hạn chế về giống Sự thiếu củ giống chất lượng tốt là yếu tố hạn chế năng suất và hiệu quả sản xuất khoai tây ở Ethiopia (Đặng Thị Vân, 1997) [38] ở Ruwanda, nhờ hệ thống giống quốc gia mà năng suất khoai tây đx tăng lên 40% so với giống sản xuất bằng phương pháp truyền thống Cũng tương tự, việc thay thế giống có chất lượng cao đx làm tăng năng suất khoai tây ở Hàn quốc từ 11 tấn/ha lên 20 tấn/ha trong những năm 1970…
Người trồng khoai tây ở hầu hết các nước châu á, châu Phi và Mỹ Latinh đều sử dụng một phần sản phẩm thu được (củ nhỏ) để làm giống Đó là nguyên nhân chính làm giảm nghiêm trọng chất lượng củ giống khoai tây ở các nước này Vì vậy, mức độ tăng năng suất ở các nước này còn quá thấp, sự tăng sản lượng trong thời gian qua chủ yếu vẫn là do tăng diện tích trồng trọt
Đối với các quốc gia này, bằng các con đường khác nhau đều cần phải tìm cách khắc phục tình trạng thiếu củ giống chất lượng cao (Nguyễn Thị Kim Thanh, 1998) [32]
Trang 242.3.2 Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam
Cây khoai tây do người Pháp nhập nội vào Việt Nam từ năm 1890 và
được trồng chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng (Ho.TV, Tuyết L.T, Tung P.X., Peter Vander Zaag, 1987) [50] Trước năm 1970, diện tích trồng khoai tây ở Việt Nam chỉ vào khoảng 2.000 ha và được xem như là một loại rau Sau
đó, nhờ cuộc cách mạng về giống lúa (giống lúa cảm ôn, ngắn ngày, năng suất cao thay cho giống cảm quang trong vụ mùa), vụ đông ở Đồng bằng sông Hồng trở thành vụ sản xuất chính, cây khoai tây được coi là một cây trồng vụ
đông lý tưởng cho vùng Đồng bằng sông Hồng và trở thành một cây lương thực quan trọng Từ năm 1987, cây khoai tây chính thức được Bộ Nông nghiệp
và PTNT đánh giá là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa Chương trình khoai tây quốc gia được thành lập đx thu hút hàng loạt các cơ quan nghiên cứu và triển khai phát triển khoai tây rất mạnh
Hiện nay, mặc dù vấn đề an ninh lương thực quốc gia đx được đảm bảo nhưng cây khoai tây vẫn là một trong những loại cây trồng chủ yếu trong vụ
đông ở Đồng bằng sông Hồng Khoai tây đang được coi là một trong những loại thực phẩm sạch, một loại nông sản hàng hóa được lưu thông rộng rxi (Ngô Văn Hải, 1997) [12] Đặc biệt, trong điều kiện khí hậu có mùa đông lạnh ở miền Bắc Việt Nam, cây khoai tây có ưu thế hơn hẳn nhiều cây trồng khác và được coi là cây trồng lý tưởng cho vụ đông ở đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Thị Lý Anh, 2004) [30] So với ngô và đậu tương đông đòi hỏi thời vụ trồng rất nghiêm ngặt, trong khi đó thời vụ trồng khoai tây có thể kéo dài từ đầu tháng 10 đến cuối tháng 11 vẫn cho năng suất khá Khoai tây có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng lại cho năng suất cao, sản phẩm dễ tiêu thụ Cây khoai tây rất phù hợp với công thức luân canh: Lúa xuân- lúa mùa- khoai tây đông ở đồng bằng sông Hồng Công thức luân canh này sẽ góp phần nâng cao độ phì nhiêu của
Trang 25Trong các cây vụ đông, không có cây trồng nào chỉ trong thời gian dưới
3 tháng trồng trọt lại cho thu hoạch một lượng sản phẩm lớn, có ý nghĩa và giá trị nhiều mặt như khoai tây Năng suất khoai tây ở Việt Nam có thể đạt từ 8-
30 tấn/ha tùy thuộc vào giống và điều kiện thâm canh (Đặng Thị Vân 1997) [38] Một vụ khoai tây có thể cho năng suất từ 20-25 tấn/ha, với giá bán 1.500-2.000 đ/kg đx cho thu nhập 30- 40 triệu đồng/ha (Nguyễn Quang Thạch
và CTV, 2004) [30] Cơ cấu luân canh lúa xuân-lúa mùa-khoai tây đông có thể cho tổng thu đạt 60,4 triệu đồng/ha/năm (Nguyễn Văn Bộ, 2003) [3] Điều này rất có ý nghĩa trong phong trào “cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm” hiện nay Hiệu quả kinh tế của khoai tây cao hơn rất nhiều cây trồng khác trong vụ
đông ở tỉnh Bắc Ninh, thu nhập trên 1 ha (đx trừ các chi phí sản xuất) của cây khoai tây đạt: 16, 438 triệu đồng, trong khi đó cây ngô chỉ đạt 2,897triệu
đồng, khoai lang 5,864 triệu đồng, đậu tương 3,990 triệu đồng (Báo cáo kết quả sản xuất vụ đông 2004- 2005 của Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh)
Mặc dù vậy nhưng thực trạng sản xuất khoai tây ở Việt Nam luôn biến
động và không phản ánh đúng với tiềm năng của nó
Diện tích khoai tây tăng nhanh trong thập kỷ 70, từ 5.400 ha năm 1971 tăng lên 104.600 ha năm 1979 Đến thập kỷ 80, diện tích giảm dần và dao
động trong khoảng từ 23.600 ha đến 37.800 ha Từ năm 1991 đến năm 1999, diện tích dao động trong khoảng 25.700 ha đến 37.000 ha và giảm còn 28.000
ha vào năm 2000 Từ năm 2001 đến nay, diện tích có xu hướng tăng dần lên tới 35.000 ha vào niên vụ 2002-2003 (Đỗ Kim Chung, 2003) [6] Sự tăng lên
về diện tích khoai tây mấy năm gần đây chủ yếu do nhu cầu thị trường tăng và các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất làm cho năng suất và hiệu quả kinh tế của cây khoai tây tăng lên
Trang 26B¶ng 2.2: DiÖn tÝch, n¨ng suÊt, s¶n l−îng khoai t©y ViÖt Nam
Trang 27Năng suất khoai tây: Trong những năm từ 1976- 1991 năng suất bình quân dưới 10 tấn/ha; dao động khoảng 10 tấn/ha trong những năm 1991-1998
và 11 đến 12 tấn/ha những năm 1999-2002 (Đỗ Kim Chung, 2003) [6] Năng suất tăng chủ yếu do áp dụng giống mới, sử dụng giống tốt hơn và kỹ thuật canh tác tiến bộ hơn
Sản lượng khoai tây dao động từ 260.100 tấn đến 361.638 tấn trong những năm 1976-1990 và 243.348 tấn đến 382.296 tấn năm 1991-2000; tăng lên tới 400.000-421.036 tấn năm 2002-2003 (Đỗ Kim Chung 2003) [6]
Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất khoai tây là do sử dụng giống không có chất lượng, củ giống đx thoái hóa làm giảm năng suất, trong khi đầu tư sản xuất khoai tây lại cao, đặc biệt là chi phí giống và phân bón dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp (Nguyễn Quang Thạch và CTV, 2004) [30] Theo kết quả điều tra của Bộ môn côn trùng-Trường Đại học Nông nghiệp I cho thấy: Nguyên nhân chính làm cho người nông dân thu hẹp diện tích trồng khoai tây là do việc trồng củ giống có chất lượng kém làm cho năng suất khoai tây quá thấp, hiệu quả sản xuất giảm Xu hướng chung tại các điểm
điều tra cho thấy rằng: Nếu có củ giống khoai tây mới cho năng suất cao thì người nông dân sẽ trồng trở lại (Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Thị Xuyên, 1997) [19]
Nguồn giống khoai tây người nông dân sử dụng hầu hết là do tự sản xuất và duy trì từ vụ này sang vụ khác Do vậy, các loại giống đang trồng phổ biến trong sản xuất giờ đây đx bị thoái hóa Kết quả điều tra cơ cấu giống ở một số vùng thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng cho thấy: Hầu hết các nơi còn duy trì giống Thường Tín và các giống nhập nội đx bị thoái hóa nghiêm trọng (tỷ lệ nhiễm virus 54-65%), hao hụt trong bảo quản lớn (45-60%), năng suất khoai tây thấp (8-9 tấn/ha) Ngay cả nơi có trình độ thâm canh cao, có truyền thống trồng khoai tây lâu đời như Hạ Hồi (Thường Tín), năng suất cũng chỉ
Trang 28đạt 12-13 tấn/ha (Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Thị Xuyên, 1997) [19]
Gần đây, các giống khoai tây Trung Quốc nhập nội được sử dụng chiếm 70-75% (Đỗ Kim Chung, 2003) [6] Đây là nguồn giống có giá rẻ do chủ yếu nhập khoai thịt để làm giống, ít qua kiểm dịch nên vừa có chất lượng thấp, vừa
có thể mang nhiều mầm dịch bệnh (Nguyễn Quang Thạch và CTV, 2004) [30]… Tình hình đó đang đặt ra yêu cầu phải tổ chức một hệ thống sản xuất, bảo quản khoai tây giống chất lượng cao tại chỗ cho vùng Đồng bằng sông Hồng là hết sức bức xúc
Những phân tích trên đây cho thấy: Cây khoai tây thực sự là “nguồn tiềm năng sinh học chưa được khai thác” ở nước ta (Trương Đích, 1997) [11]
Để khắc phục tình trạng trên, cần có sự hợp tác nghiên cứu của các cơ quan khoa học, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và người sản xuất nhằm tạo đủ nguồn củ giống khoai tây có chất lượng cao với giá thành hợp lý để thay thế các giống đx thoái hóa, đồng thời với việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất khoai tây thương phẩm Có như vậy, năng suất và hiệu quả kinh tế của cây khoai tây mới được nâng cao; cây khoai tây mới thực sự trở thành “cây vụ đông lý tưởng’’ cho vùng Đồng bằng sông Hồng
2.4 Hiện tượng thoái hóa giống khoai tây và biện pháp khắc phục
Thoái hóa giống khoai tây là hiện tượng chung xảy ra ở tất cả các nước trồng khoai tây trên thế giới Khi giống khoai tây được sử dụng từ nguồn giống tại chỗ và trồng liên tiếp qua nhiều vụ thì cây sẽ có biểu hiện sinh trưởng, phát triển thân, lá kém, cây thấp, lá xoăn, thân có vết loang lổ, dị dạng, củ nhỏ dẫn đến giảm năng suất Đó là sự thoái hóa giống khoai tây (Vũ Triệu Mân, 1978) [20]
Có hai nguyên nhân gây ra hiện tượng thoái hóa giống khoai tây, đó là
Trang 29thoái hóa do bệnh lý (nhiễm virus) và thoái hóa do sinh lý (củ giống bị già sinh lý do bảo quản lâu trong điều kiện nóng ẩm) (Nguyễn Quang Thạch, Hoàng Minh Tấn, Mai Thị Tân, Frei U, Wenzel G, 1993) [29]
2.4.1 Thoái hóa giống khoai tây do bệnh lý (nhiễm virus)
Hiện tượng thoái hóa giống khoai tây do nhiễm virus đx được Parmentier (Pháp) phát hiện từ năm 1786 (Vũ Triệu Mân, 1978) [20] Song phải gần một thế kỷ sau các nhà nghiên cứu mới xác định được đặc tính của virus và khẳng định chúng là một trong những nguyên nhân chính gây thoái hóa khoai tây Cho đến năm 1913 thì khái niệm về bệnh thoái hóa khoai tây đx
được Quanjer-Viện Bảo vệ thực vật Wageningen (Hà Lan) chính thức đề xuất (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
Những năm đầu thập kỷ 20 của thế kỷ 20, người ta mới chỉ phát hiện
được 3 loại bệnh virus chính hại khoai tây là: bệnh cuốn lá (Leafrol), bệnh khảm lá (Mosaic), bệnh hoa lá (Bigarune) Hàng loạt các nghiên cứu tiếp sau
đó của Smith K.M (1931); Murphy và Salaman R.N (1949) đx phát hiện thêm nhiều loài virus khác nhau cùng chủng loại của chúng [55] Theo Ross A.F (1964) [53] cho biết, khoai tây có thể là ký chủ của 60 loài virus gây bệnh Mactin C (1968) lại cho rằng có 33 loại virus, chưa kể các chủng của chúng Năm 1981, Hooker W.J đx thống kê được 24 bệnh do virus gây hại trong số
112 bệnh phổ biến gây hại trên cây khoai tây (Đỗ Thị Thuỷ, 2004) [32] Năm
1989, Le.Hingrat Y thống kê từ những kết quả nghiên cứu về bệnh virus chủ yếu (có tính phổ biến rộng với nồng độ cao) gây hại có ý nghĩa kinh tế trên khoai tây là virus gây cuốn lá, Y, X, A, S, M (Mai Thị Tân, 1998) [24]
- PLRV (Potato Leaf Roll Virus): Gây cuốn lá, làm giảm năng suất từ 40-90%
- PVY (Potato Virus Y): Gây xoăn lá, khảm hoa, khảm lá, làm giảm năng suất 50-90%
Trang 30- PVA (Potato Virus A): Gây khảm lá, khảm hoa, làm giảm năng suất 50%
- PVX (Potato Virus X): Gây khảm lá, khảm hoa nhưng không biến dạng, làm giảm 10-25% năng suất
- PVS (Potato Virus S): Triệu chứng ẩn, có thể làm giảm diện tích lá, gây đổ cây, làm giảm năng suất từ 10-15%
- PVM (Potato Virus M): Gây cuốn lá nhẹ ở ngọn, khảm gân lá, làm giảm năng suất 60-70% (Vũ Triệu Mân, 1986) [22]
ở Việt Nam, bệnh virus hại khoai tây cũng bắt đầu được đề cập vào những năm 60 (Mai Thị Tân, 1998) [24] Theo điều tra của Hà Minh Trung, Nguyễn Phương Đại (1972) [37], độ nhiễm bệnh virus khoai tây ở Việt Nam chiếm từ 76-100% số khóm điều tra Kết quả điều tra nghiên cứu từ 1972-
1973 của Nguyễn Thơ (1980) [26] mới phát hiện được 4 loại virus ở khoai tây Việt Nam Đến năm 1984, Vũ Triệu Mân [21] đx khẳng định sự có mặt của 6 loại virus Y, X, A, S, M và cuốn lá, tỷ lệ bệnh chiếm tới 90%, một số nơi đến 100% Riêng với giống Thường Tín (Ackersegen) ở vùng Đồng bằng sông Hồng năm 1991-1992 có tỷ lệ nhiễm virus tới 80%, thậm trí trên một cây, cùng một lúc có nhiễu loại virus cùng gây bệnh, gây hại trên toàn cây, làm giảm năng suất nghiêm trọng
Bệnh virus là loại bệnh có những đặc tính rất nguy hiểm:
- Bệnh vurus là căn bệnh không chữa được: Sự xâm nhiễm của virus xảy
ra trong suốt quá trình sống của cây và rất khó phát hiện Khi xâm nhiễm vào
tế bào, virus làm cho hệ thống ADN của cây chủ thay đổi; tế bào cây chủ liên tục sản xuất ra protein và acid nucleic của virus Vì vậy, tế bào cây chủ đx nhân virus lên (Meyer K., 1986) [64] Nếu có tác nhân nào ngăn chặn được sự nhân lên ADN của virus thì đồng thời cũng ức chế sự sinh tổng hợp ADN của
Trang 31cây chủ Vì thế có thể nói rằng, bệnh virus khoai tây là căn bệnh không thể chữa được
- Bệnh virus khoai tây có đặc tính di truyền qua các thế hệ vì cây khoai tây thường được nhân giống vô tính bằng củ Virus có mặt trong mọi tế bào
đang sống, nó được nhân lên trong cây, được vận chuyển trong dòng nhựa đi
đến mọi vùng của cây, cho đến tận các củ con là thế hệ nối tiếp sau này Kết quả là một củ mẹ bị bệnh virus sẽ tạo nên một cây bệnh và tiếp tục lan truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ năm này qua năm khác, bệnh ngày càng mở rộng (Merlet J., 1979) [60]
- Bệnh virus khoai tây là loại bệnh rất dễ lan truyền nhờ côn trùng và tiếp xúc cơ giới Các loại côn trùng (chủ yếu là rệp) chích hút cây khoai tây bị bệnh mang theo virus rồi truyền sang các cây khỏe khác Nếu mật độ rệp cao thì chỉ sau 1 năm, từ vụ này qua vụ khác, tỷ lệ bệnh đx có thể lên tới 80-100% Việc truyền bệnh bằng tiếp xúc cơ giới chủ yếu do virus X, Y, S qua vết thương ở lá hay mầm Ngoài ra, virus có thể lan truyền nhờ gió hoặc do sự vô
ý của người chăm sóc
Virus khoai tây gây ra những thay đổi lớn về chức năng sinh lý của cây,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình trao đổi chất trong cây, từ đó dẫn đến hiện tượng thoái hóa, cây sinh trưởng kém, còi cọc, củ nhỏ và ít, hàm lượng tinh bột, vitamin trong củ giảm thấp Cây khoai tây bị bệnh đx làm giảm năng suất
so với cây khỏe, trọng lượng củ/khóm giảm, tỷ lệ củ lớn giảm, tỷ lệ củ nhỏ tăng, nhiều củ không sử dụng được Cây khoai tây bị bệnh virus ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cây và củ khoai tây Trong cây, các quá trình trao đổi C và N
bị phá vỡ, làm giảm hàm lượng tinh bột, prôtein; tăng lượng acid amin tự do, lân hòa tan và đường hòa tan trong lá, hàm lượng diệp lục trong lá giảm rõ rệt… Trong củ khoai tây bị bệnh, hàm lượng chất khô, tinh bột đều giảm trong khi dó hàm lượng acid tự do, lân hòa tan và đường hòa tan lại tăng
Trang 32Bệnh virus khoai tây cũng gây ảnh hưởng lớn đến quá trình bảo quản củ giống trong kho Theo Vũ Triệu Mân (1984) [21], những củ khoai tây bị nhiễm bệnh virus X, Y, S, M và cuốn lá khi đưa vào bảo quản đều tăng khối lượng củ thối và giảm khả năng nảy mầm của củ
Kết quả điều tra của Hoàng Minh Tấn, Vũ Triệu Mân và các cộng sự (1994) [25] ở vùng Đồng bằng Bắc bộ cho thấy: Các khóm bị bệnh đều cho tỷ
lệ củ lớn và khối lượng củ thấp, tỷ lệ củ nhỏ cao dẫn đến năng suất cuối cùng giảm từ 40,7%-88,1% so với khóm cây khỏe
Như vậy, sự lan truyền tiếp tục của các loài virus khác nhau qua các thế
hệ cây khoai tây, làm giảm năng suất và phẩm chất nghiêm trọng chính là hiện tượng thoái hóa giống khoai tây do virus (hay thoái hóa giống khoai tây do bệnh lý)
2.4.2 Thoái hóa giống khoai tây do củ giống già sinh lý (thoái hóa sinh lý)
Bên cạnh nguyên nhân gây thoái hóa giống khoai tây do nhiễm virus còn có một nguyên nhân khác cũng gây ảnh hưởng lớn đến năng suất khoai tây, đó là thoái hóa sinh lý do củ giống già sinh lý Nhờ những công trình khoa học của các nhà nghiên cứu khoai tây, điển hình là Madec và Perennec ở Trung tâm Nghiên cứu giống khoai tây Landerneau (Pháp), các vấn đề đx dần dần được làm rõ Các tác giả đx chứng minh vai trò của củ mẹ trong cơ chế
điều khiển sự nảy mầm, sinh trưởng và sự hình thành củ của khoai tây và từ đó khái niệm về tuổi sinhlý và sự già hóa của củ giống ra đời Các tác giả đx khẳng định: “Tuổi sinh lý củ giống có tầm quan trọng như tình trạng sạch bệnh của củ giống vì nó ảnh hưởng tới sức sinh trưởng và hình thành năng suất của cây sau này” Perennec (1985) và Crosnier (1987) cho rằng: “Tuổi sinh lý của củ giống có ảnh hưởng rõ rệt, liên tục đến quá trình sinh trưởng, phát triển
và tạo củ” (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
Trang 33* Hiện tượng già hóa củ giống khoai tây
Khi nghiên cứu bảo quản khoai tây giống liên tục, các tác giả Claver (1951), Madec và Perennec (1954) đx phát hiện một quy luật quan trọng: Sau một thời gian nhất định, tùy theo giống và điều kiện bảo quản, tất cả các củ
đem bảo quản đều giảm sinh trưởng mầm, đâm tia và hình thành củ con ngay trên củ mẹ, sau đó củ mẹ sẽ tự thui chết Hiện tượng này được ghi nhận ở tất cả các củ giống khoai tây đx được kéo dài quá trình bảo quản (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
Krijther (1958) đx cho rằng: Sự giảm sinh trưởng mầm, sự đâm tia và hình thành củ con trên củ mẹ là hiện tượng “già hóa” củ giống Hiện tượng này không có liên quan gì đến độ chín của củ mà chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian bảo quản (Madec, Perennec, 1966) (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
Qua hàng loạt các nghiên cứu, Madec và Perennec (1956, 1980, 1985) [63] đx đưa ra quan điểm đúng đắn, được thừa nhận rộng rxi về tuổi sinh lý củ giống Theo các ông, khoai tây là một cây nhân giống vô tính bằng củ, củ khoai tây là một túi đựng nước và dinh dưỡng, các quá trinh sinh lý, sinh hóa diễn ra một cách mạnh mẽ và liên tục trong củ kể từ lúc hình thành Khác với hạt, củ khoai tây mang trong mình một “cuộc sống tích cực”, kể cả thời gian ngủ nghỉ lẫn cất giữ, củ luôn có hoạt động sống và tiến hóa theo chiều hướng già hóa củ giống Như vậy, mỗi củ khoai tây đem bảo quản hoặc trồng trọt đều
có một tình trạng sinh lý đặc trưng, đó chính là biểu hiện tuổi sinh lý của củ
Sự diễn biến sinh lý của củ giống theo một trật tự được xác định nghiêm ngặt Tại một thời điểm cụ thể có thể xác định một tuổi sinh lý của củ, “tuổi sinh lý của củ tại một thời điểm nào đó phụ thuộc vào tuổi riêng của nó hay còn gọi là tuổi niên đại (tính từ lúc hình thành trên cây mẹ cho đến khi theo dõi) và điều kiện mà nó phải chịu đựng trong suốt quá trình phình to cũng như trong quá trình bảo quản Một củ gọi là càng già nếu thời gian tính từ ngày hình thành
Trang 34trên cây mẹ đến lúc theo dõi càng lâu và nhiệt độ trong quá tình hình thành củ
và bảo quản càng cao” (Perennec, 1985) [63]
Beukema và Peter Vander Zaag (1979) [41] đều cho rằng: Tình trạng sinh lý của củ giống chịu ảnh hưởng của điều kiện trồng trọt, thời gian bảo quản và điều kiện bảo quản Giống trồng ở điều kiện ẩm, bảo quản ở nhiệt độ cao cho củ giống già hơn củ mọc ở vùng lạnh và bảo quản ở nhiệt độ thấp Giống có thời gian ngủ nghỉ ngắn bước vào giai đoạn già sớm hơn giống có thời gian ngủ nghỉ dài
* Tính tất yếu của quá trình già hóa củ giống khoai tây
Củ giống bảo quản quá dài ở điều kiện nhiệt độ thấp không nảy mầm nhưng khi kết thúc bảo quản lạnh sẽ đâm tia, ra củ con hoặc không còn khả năng mọc nữa Đó là biểu hiện của sự già hóa, dù rằng dáng vẻ bề ngoài của
củ như có vẻ chỉ sau thu hoạch ít ngày (Nguyễn Quang Thạch, 1993)[28]
Nhiều chất ức chế sinh trưởng có thể kìm hxm quá trình mọc mầm của khoai tây trong quá trình bảo quản, nhưng không chống lại được quá trình già hóa củ giống (Madec, 1961) [63]
Việc nghiên cứu bản chất sinh hóa của quá trình già hóa củ giống đx tập trung vào việc nghiên cứu cơ chế hình thành củ con trên các cây mẹ Hàng loạt các nghiên cứu đx chứng minh một cách chắc chắn là: các mô dự trữ của
củ tự luyện ra một số yếu tố hình thành củ, chất này được tổng hợp ra một cách chậm chạp nhưng liên tục và chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường Một củ trong quá trình bảo quản dài, có đủ thời gian hình thành chất hóa củ trong củ, khi đạt được một liều lượng nhất định, chất hóa củ sẽ hình thành (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
* Sinh trưởng mầm phản ánh tình trạng sinh lý của củ
Sinh trưởng mầm có thể tóm tắt thành 3 pha chính, đây là một quy luật
Trang 35dựa vào quá trình theo dõi sự mọc mầm và phát sinh hình thái của mầm trên
củ mẹ, dựa vào đó có thể đánh giá được tình trạng già hóa của củ giống (Perennec, 1985; Madec, 1980) [63]
- Pha 1: Là thời kỳ đầu của sinh trưởng mầm, trong pha này mầm sinh trưởng chậm, gọi là pha “tuổi xuân” của củ
- Pha 2: Được xác định bằng sự sinh trưởng tích cực của mầm, trong pha này tốc độ và khả năng sinh trưởng của mầm đạt cực đại Pha này được xem là pha “trưởng thành” của củ
- Pha 3: Là thời kỳ sinh trưởng của mầm yếu dần, tốc độ sinh trưởng mầm giảm đến bằng không; bắt đầu hình thành tia củ và củ nhỏ ở đầu tia Pha này gọi là pha “tuổi già” của củ
Beukema và Peter Vander Zaag (1979) [41] cũng đề ra một số chỉ tiêu
về hình thái mầm để đánh giá tình trạng già sinh lý của củ giống Củ giống càng già thì mầm càng có độ phân nhánh cao (Nguyễn Quang Thạch, 2004) [30]
Tóm lại, hoàn toàn có thể dựa vào hình thái mầm trên củ mẹ để đánh giá tình trạng sinh lý của củ giống
* ảnh hưởng của tuổi sinh lý củ giống đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây
Sự hiểu biết về ảnh hưởng của tuổi sinh lý củ giống đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây sẽ cho phép đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng trọt cũng như bảo quản để làm thế nào củ giống ở thời điểm trồng có
được trạng thái sinh lý tuổi thích ứng
Crosnier (1987) nghiên cứu tại Pháp liên tục trong 5 năm với giống khoai tây Binge ở các tuổi sinh lý khác nhau cho thấy: Cây trồng từ củ trẻ sinh
lý hơn (lệch 3 tháng) cho số củ ít hơn nhưng kích thước củ lớn hơn nhiều nên
Trang 36cho năng suất cao hơn (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
ở các nước Đông Nam á, củ giống phải bảo quản trong thời gian dài ở
điều kiện nhiệt độ cao của mùa hè nên năng suất khoai tây bị giảm rõ rệt Nghiên cứu của Batagol, Dela Croix và Castaneda (1988) (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28] tại Philipin cho thấy: Khoai tây trồng từ củ giống có thời gian bảo quản ngắn (5 tháng) cho năng suất cao hơn hẳn giống có thời gian bảo quản dài (9 tháng) Các tác giả này đề nghị: Cần sản xuất khoai tây có thời gian bảo quản ngắn ở điều kiện nhiệt độ thấp, trên các cao nguyên dùng làm giống cho đồng bằng
Các nghiên cứu cũng rất chú trọng tới biện pháp bảo quản lạnh để tạo
củ giống ít bị già hơn Thongjem, Panonampai, Puangjai và Soontorn Sawat (1986) (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28] đx so sánh khoai tây trồng từ hai nguồn củ giống khi bảo quản lạnh và thông thường trên các giống Russetburbank, N565.1, LT14, Spunta, Serana cho thấy, hầu hết các giống khi bảo quản lạnh đều cho kết quả dương tính, trừ giống Serana
ở ấn độ hàng năm sản xuất khoảng 13 triệu tấn khoai tây, phải bảo
làm tăng năng suất lên tới 59% Những nghiên cứu của Bhomi (1988) ở Pakistan, Nepal cũng cho kết quả tương tự (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu ve bảo quản khoai tây đều nhận thấy: Quá trình bảo quản khoai tây chịu ảnh hưởng rất xấu bởi điều kiện nhiệt độ và
ẩm độ cao trong mùa hè Số lượng củ giống hao hụt khá lớn (40-60%) sau 6 tháng (Nguyễn Quang Thạch, 1993) [28]
Trương Văn Hộ và Peter Vander Zaag (1987) [49] đx nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi củ giống đến sinh trưởng, phát triển của khoai tây ở vùng khí hậu nóng thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy, khoai tây trồng từ củ bảo
Trang 37quản dài (9 tháng) ở cả 2 giống Ackersegen và Bintje đều cho năng suất chỉ bằng 70% năng suất của củ giống có thời gian bảo quản ngắn hơn Củ giống bảo quản theo phương pháp thông thường như hiện nay trong sản xuất khoai tây ở Việt Nam là củ giống già sinh lý Đây là một trong hai nguyên nhân chính gây thoái hóa giống khoai tây ở nước ta Sự già hoá trong bảo quản củ giống được nhận biết qua sự sinh trưởng, phát triển hình thái mầm tren củ Củ giống để từ vụ xuân luôn trẻ hơn vụ đông và vụ hè luôn trẻ hơn vụ xuân vào mọi thời điểm Biện pháp bảo quản lạnh khoai tây có tác dụng làm chậm sự già hoá của củ giống
Có thể nói, nghiên cứu tuổi sinh lý củ giống khoai tây ở Việt Nam còn quá ít ỏi so với nghiên cứu về bệnh hại, nhân giống, so sánh giống và kỹ thuật trồng khoai tây Bùi Huy Đáp (1978) [10] khi nghiên cứu về thời gian bảo quản củ giống đx kết luận: Có thể trồng khoai tây vụ xuân để sản xuất giống cho năm sau Khoai tây xuân thu hoạch vào tháng 4, mầm phát triển vào tháng
8 nên tránh được nhiệt độ cao của mùa hè, thời gian bảo quản ngắn, khi trồng
củ còn tươi, sức nảy mầm cao Lâm Thế Viễn (1971) [39] cũng khẳng định ưu thế của củ giống có thời gian bảo quản ngắn, trồng khoai tây xuân năng suất thấp hơn chính vụ nhưng nâng cao được hệ số nhân, tăng chất lượng củ giống dẫn đến tăng năng suất từ 30-40% so với trồng bằng củ giống để qua năm
Theo Ngô Đức Thiệu và cộng sự (1986) [36], khí hậu vùng Đồng bằng Bắc bộ cho phép trồng thêm một vụ khoai tây xuân Để sử dụng được củ vừa thu hoạch vụ đông làm giống, phải có biện pháp phá ngủ, chuyển củ khoai tây vừa thu hoạch ở vụ đông thành củ có mầm làm củ giống có ý nghĩa quyết
định Để chủ động giống trồng đúng thời vụ, cần phải có biện pháp phá ngủ có hiệu quả cao nhất: Tỷ lệ nảy mầm cao, thời gian ngắn, nảy mầm tập trung
Năm 1993, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Thạch [28] về các biện pháp khắc phục hiện tượng thoái hóa giống khoai tây đx kết
Trang 38luận: Cây trồng từ củ giống trẻ sinh lý luôn thể hiện sự ưu việt về sinh trưởng, phát triển và năng suất so với cây trồng từ củ già sinh lý, tăng năng suất từ 19,7-23,3% Củ giống để từ vụ xuân luôn trẻ hơn củ giống để từ vụ đông ở mọi thời điểm Việc sử dụng khoai tây thu hoạch từ vụ xuân làm củ giống vừa cho củ giống trẻ sinh lý, vừa tăng hiệu quả bảo quản giống Tác giả cũng đưa
ra kết luận về biện pháp phá ngủ khoai tây rất có hiệu quả: Có thể sử dụng biện pháp phá ngủ khoai tây vừa thu hoạch vụ đông để tạo củ giống trồng vụ xuân, phương pháp phá ngủ tổng hợp bao gồm việc xử lý ướt bằng phun hỗn hợp dung dịch GA3 và Thiurea, sau đó xử lý bằng CS2 kết hợp ôn ẩm thích hợp có thể tạo củ giống đạt tiêu chuẩn trồng sau xử lý phá ngủ 10 ngày với tỷ
lệ nảy mầm trên 90%
Nghiên cứu hiện tượng thoái hóa do sự già hóa củ giống, tác giả Nguyễn Quang Thạch (2004) [30] cho rằng: Củ giống có 3 trạng thái chính của tuổi sinh lý là trạng thái ngủ nghỉ, trạng thái trưởng thành, trạng thái già
Củ giống càng già khi trồng bộ thân lá kém sinh trưởng, củ hình thành sớm, thời gian sinh trưởng ngắn củ nhỏ và năng suất thấp Có thể nhận biết tình trạng tuổi sinh lý củ giống qua hình thái mầm, củ giống càng già, sự phân nhánh càng nhiều
2.4.3 Biện pháp khắc phục hiện tượng thoái hóa giống khoai tây
2.4.3.1 Biện pháp khắc phục hiện tượng thoái hóa giống khoai tây do virus
Bệnh virus hại khoai tây có những đặc điểm nổi bật là không chữa được,
di truyền qua củ giống, lan truyền bằng rệp và có khả năng bay xa, do tiếp xúc cơ giới Do vậy, việc khắc phục hiện tượng thoái hóa do virus là rất phức tạp Sau đây là những nghiên cứu chính để khắc phục hiện tượng thoái hóa khoai tây do virus đx áp dụng trên thế giới:
- Tạo giống sạch virus, nhân nhanh và duy trì giống sạch bệnh: Nuôi
Trang 39này dựa trên cơ sở nồng độ virus bằng không ở mô đỉnh và lá bao thứ nhất, sau đó tăng dần và đạt cực đại ở lá thứ 5 rồi lại giảm dần ở các lá già phía dưới Phương pháp này đx được Morel G và Martin C [61] [62] nghiên cứu thành công và thu được cây hoa thược dược hoàn toàn sạch virus từ năm 1952,
đến năm 1955 đx ứng dụng thành công ở cây khoai tây, làm sạch virus X, A,
Y và thu được cây khoai tây hoàn toàn sạch bệnh Đến nay, phương pháp này vẫn được các nhà nghiên cứu về bệnh cây, sinh hóa thực vật và chọn tạo giống cho là giải pháp đúng đắn, có hiệu quả (Nguyễn Văn Viết, 1991; Nguyễn Quang Thạch, 1993; Lê Trần Bình, Hồ Hữu Nhị, Lê Thị Muội, 1997) [40], [28], [2]
Phát triển hệ thống chẩn đoán chính xác và nhanh các bệnh virus: Đây
là điều kiện tiên quyết trong việc kiểm tra độ sạch virus của phương pháp làm sạch virus cũng như chẩn đoán và thanh lọc cây ở ngoài đồng ruộng Các phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác gồm: Chẩn đoán bằng mắt, cây chỉ thị, phương pháp huyết thanh, kính hiển vi điện tử, test ELISA , lai ADN
- Tạo giống chịu virus bằng các phương pháp hiện đại như: Nuôi cấy bao phấn tạo ra cây nhị bội 1n=2x=24 NST tìm ra các dạng diploid (2x) kháng virus rồi dung hợp tế bào trần các dòng này để tổng hợp tính kháng virus
- áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tổng hợp như: Chọn vùng trồng thích hợp, sử dụng giống sạch bệnh, phun thuốc phòng chống bệnh sớm, nhổ bỏ cây bị bệnh đem tiêu hủy, cắt bỏ thân lá trước khi thu hoạch
- Giải pháp sản xuất khoai tây từ hạt do virus không truyền qua hạt
ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả (Vũ Triệu Mân, 1978) [20], (Nguyễn Quang Thạch, Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 1994) [25] cho thấy, khoai tây ở Việt Nam đx bị thoái hóa nặng, tỷ lệ nhiễm bệnh virus rất cao, trong đó giống Thường Tín (Ackersegen) bị nhiễm nặng nhất, tỷ lệ nhiễm có thể từ 50-100% Vì vậy, nghiên cứu các biện pháp để khắc phục
Trang 40hiện tượng thoái hóa giống khoai tây do virus là rất quan trọng và cần thiết ở Việt Nam
Biện pháp đầu tiên được đề xuất là tiến hành nhập nội giống sạch bệnh
từ các nước tiên tiến như Pháp, Đức, Hà Lan, Australia, Trung tâm khoai tây quốc tế (CIP) Ngoài việc nhập các giống mới để khảo nghiệm; các giống có triển vọng được nhập về và nhân nhanh, tạo nguồn giống sạch bệnh cung cấp cho sản xuất Trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, hàng ngàn tấn giống khoai tây Mariella, Lipsi, Kardia, Sanetta… đx được nhập nội từ Cộng hòa dân chủ Đức (Đào Mạnh Hùng, 1997) [18] Chương trình hợp tác Pháp-Việt đến năm 1991
đx sản xuất tại Việt Nam được 557 tấn giống Ackersegen từ nguồn 84,2 tấn giống nhập nội từ Pháp Các giống khoai tây Pháp và Đức đx chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ cấu giống của vùng Đồng bằng sông Hồng (Trương Văn Hộ
và cộng sự, 1992) [15] Từ những năm 1990 trở lại đây, các giống khoai tây như: Diamant, Nicola… đx được nhập nội từ Hà Lan; giống VT2 được nhập nội
từ Trung Quốc; các giống Karsta, Rassant, Solara nhập từ Đức; các giống KT-2, KT-3, P3, VC386 nhập nội từ CIP…; trong đó các giống Diamant, VT2, Solara, KT-2, KT3 đx và đang ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu giống khoai tây của vùng Đồng bằng sông Hồng (Đào Huy Chiên, 2006) [5]
- Các biện pháp tự sản xuất củ giống sạch bệnh trong nước:
+ Biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay để khắc phục bệnh virus là việc liên tục sản xuất ra các giống sạch bệnh để cung cấp cho sản xuất Để duy trì độ sạch bệnh của các giống sạch bệnh đx tạo ra cần phải có những vùng trồng củ giống cách ly với nguồn bệnh và môi giới truyền bệnh cũng như liên tục thanh lọc các cây bệnh trên đồng ruộng Để làm được điều này, tác giả Nguyễn Quang Thạch và CTV (2004) [30] đx đề xuất hệ thống sản xuất giống khoai tây sạch bệnh gồm các khâu: Nhân nhanh cây invitro, tạo củ siêu bi trong invitro, nhân nhanh cây trong lồng cách ly, trồng cây trong nhà màn, tạo củ