MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Một trong những quan điểm của tái cơ cấu ngành nông nghiệp là tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, xã hội từ trung ương đến địa phương trong quá trình tái cơ cấu ngành; đẩy mạnh phát triển đối tác công tư (PPP) và cơ chế đồng quản lý, phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng. Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Nói cách khác, tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh đang là xu hướng chủ đạo trong quá trình thực hiện đổi mới ngành nông nghiệp ở nước ta hiện nay. Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước và ổn định chính trị xã hội. Nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc: giá trị sản xuất và giá trị gia tăng đã tăng liên tục trong một thời gian dài, sản lượng hàng hóa ngày càng tăng, xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ cao, thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên mức độ thâm dụng các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao động, vốn, vật tư) và nguồn lực tự nhiên cao. Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấu hiệu gây tác động tiêu cực đến môi trường như mất đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm nguồn nước, tăng chi phí sản xuất và đe dọa tính bền vững của tăng trưởng. Vì vậy, chất lượng và sự bền vững của tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn tới. Trong tương lai, nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp sẽ không còn được dồi dào, nông nghiệp sẽ phải cạnh tranh với các ngành công nghiệp và dịch vụ khác. Chi phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam với vị thế nhà sản xuất “chi phí thấp” trên trường quốc tế. Nông nghiệp sẽ phải nâng cao vị thế cạnh tranh trên cơ sở nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và an toàn vệ sinh thực phẩm. Điều này có thể đạt được thông qua tận dụng tiềm năng và cơ hội để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng hàng nông sản, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Vì vậy, cần có những thay đổi tích cực góp phần xây dựng nông nghiệp tiên tiến, tạo nền tảng cho một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống, ổn định xã hội, xây dựng nông thôn Việt Nam ngày càng phồn thịnh, văn minh. Xuất phát từ yêu cầu khách quan và nội tại của ngành nông nghiệp, không chỉ mô hình tăng trưởng đòi hỏi phải tái cơ cấu, mà cả cơ cấu sản xuất, tổ chức chuỗi cung ứng cũng phải thay đổi. Với ý nghĩa đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài viết luân văn tốt nghiệp của mình.
Trang 1KHKT : Khoa học kỹ thuật
NLKH : Nông lâm kết hợp
NNHC : Nông nghiệp hữu cơ
NNHC : Nông nghiệp hữu cơ
NTM : Nông thôn mới
PTNT : Phát triển nông thôn
PTNT : Phát triển nông thôn
TBKT : Tiến bộ kỹ thuật
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU NGÀNHNÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH 6
1.1 Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh 6
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh 24
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 28
Chương 2 THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 35
2.1 Khái quát về nền nông nghiệp Việt Nam 35
2.2 Thực trạng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam 42
Chương 3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNHTÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM 75
3.1 Quan điểm, mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam 75
3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam 84
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 115
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ trọng các ngành trong GDP, 1990 - 2015 (% theo giá so sánh) 37
Bảng 2.2.Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Việt Nam 38
giai đoạn 2011-2015 38
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp từ 2013-2015 52
Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng) 52
Bảng 2.5 Tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng sản xuất ngành nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 53
Bảng 2.6 Số liệu thu nhập của lao động nông nghiệp 2011-2015 60
Biểu đồ:Thị phần xuất khẩu một số sản phẩm của Việt Nam so với thế giới 63
Bảng 2.7.Vấn đề cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn 71
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ: Thị phần xuất khẩu một số sản phẩm của Việt Nam so với thế giới 63
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thểnền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.Một trong những quan điểm của tái cơ cấu ngành nông nghiệp là tăng cường sựtham gia của tất cả các thành phần kinh tế, xã hội từ trung ương đến địaphương trong quá trình tái cơ cấu ngành; đẩy mạnh phát triển đối tác công tư(PPP) và cơ chế đồng quản lý, phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng.Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, côngnghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tàinguyên hiệu quả hơn Nói cách khác, tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướngphát triển kinh tế xanh đang là xu hướng chủ đạo trong quá trình thực hiện đổimới ngành nông nghiệp ở nước ta hiện nay
Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệtquan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhậpcho 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần pháttriển kinh tế đất nước và ổn định chính trị - xã hội Nông nghiệp Việt Nam đã
có những bước phát triển vượt bậc: giá trị sản xuất và giá trị gia tăng đã tăngliên tục trong một thời gian dài, sản lượng hàng hóa ngày càng tăng, xuấtkhẩu tăng trưởng với tốc độ cao, thu nhập và đời sống của dân cư nông thônngày càng được cải thiện Tuy nhiên, tăng trưởng nông nghiệp trong thời gianqua chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trênmức độ thâm dụng các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao động, vốn,vật tư) và nguồn lực tự nhiên cao Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấuhiệu gây tác động tiêu cực đến môi trường như mất đa dạng sinh học, suy
Trang 5thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm nguồn nước, tăng chi phí sản xuất và đedọa tính bền vững của tăng trưởng Vì vậy, chất lượng và sự bền vững củatăng trưởng nông nghiệp Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm trong giaiđoạn tới Trong tương lai, nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp sẽ khôngcòn được dồi dào, nông nghiệp sẽ phải cạnh tranh với các ngành công nghiệp
và dịch vụ khác Chi phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khảnăng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam với vị thế nhà sản xuất “chi phíthấp” trên trường quốc tế Nông nghiệp sẽ phải nâng cao vị thế cạnh tranhtrên cơ sở nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và an toàn vệ sinh thực phẩm.Điều này có thể đạt được thông qua tận dụng tiềm năng và cơ hội để nâng caohiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng hàng nông sản, đồng thờigiảm tác động tiêu cực đến môi trường Vì vậy, cần có những thay đổi tíchcực góp phần xây dựng nông nghiệp tiên tiến, tạo nền tảng cho một nền kinh
tế công nghiệp hiện đại, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống, ổn định xãhội, xây dựng nông thôn Việt Nam ngày càng phồn thịnh, văn minh Xuấtphát từ yêu cầu khách quan và nội tại của ngành nông nghiệp, không chỉ môhình tăng trưởng đòi hỏi phải tái cơ cấu, mà cả cơ cấu sản xuất, tổ chức chuỗi
cung ứng cũng phải thay đổi Với ý nghĩa đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tái
cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài viết luân văn tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh là vấn
đề đang được nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước quan tâm thực hiệnnghiên cứu Trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Micheal Leonard (2010), “Triển vọng chiến lược và vĩ mô toàn cầu: Tái cấu trúc, không phục hồi” Tác giả cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính
Trang 6và sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đặt ra yêu cầu cấp bách đối với nền kinh tếthế giới là tái cấu trúc và thay đổi mô hình tăng trưởng để phát triển bền vững.
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2013), “Đề án “tái cơ cấungành nông nghiệp theo hướng tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gồm 4 Phần: Phần 1 - Sự cần thiết củatái cơ cấu, nêu bật những đặc điểm quan trọng của bối cảnh trong nước vàquốc tế, đánh giá những thành tựu quan trọng cũng như hạn chế của ngànhnông nghiệp trong thập kỷ qua Phần 2 - Trình bày mục tiêu “phát triển bềnvững” và các định hướng chính của tái cơ cấu Phần 3 - Chính sách và Giảipháp thực hiện Phần 4 - Tổ chức thực hiện
- Nguyễn Đức Thành (2011), “Nền kinh tế trước ngã ba đường ” Tác
giả đã chỉ rõ kinh tế đang chứng kiến những bất ổn vĩ mô tiềm năng, như lạmphát nâng cao, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công tiếp tục tích lũy, thâm hụtthương mại chưa được cải thiện…Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp chonền kinh tế như, tiếp tục cải cách kinh tế - xã hội, thay đổi mô hình tăngtrưởng, tái cơ cấu nền kinh tế
- Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường (tài liệu dịch
của UNEP) (2011).“Hướng tới nền kinh tế xanh, lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo”.Báo cáo tổng hợp phục vụ các nhà hoạch định
chính sách.Nhà xuất bản nông nghiệp
- Hoàng Lương Đức Hiệp (2015), “Nghiên cứu giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”, luận
văn thạc sĩ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở
lý luận và thực tiễn về tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đánh giá thực trạng tái
cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong thời gianqua; xác định các yếu tố ảnh hưởng tới tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở huyện
Trang 7Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh tái cơ cấungành nông nghiệp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới.
- Nguyễn Văn Quảng (2014), “Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại xã Thanh Vận- Huyện Chợ Mới- tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2011-2013”,
Luận văn Thạc sĩ quản lý đất đai, Trường Đại học Nông Lâm.Luận văn đã hệthống hóa một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp thích ứng vớibiến đổi khí hậu và phát triển bền vững Đánh giá thực trạng sử dụng đất nôngnghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại xã ThanhVận- Huyện Chợ Mới- tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2011-2013 Đề xuất bốn nhómgiải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thích ứngvới biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại xã Thanh Vận- Huyện ChợMới- tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn tiếp theo
- Nguyễn Thành Chung (2015), “Một số giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững tỉnh Phú Thọ”, Luận văn Thạc sĩ
Quản lý kinh tế, Trường đại học Thái Nguyên Luận văn đã hệ thống hóa một
số vấn đề lý luận về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bềnvững Đánh giá thực trạng ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnhPhú Thọ, phân tích những tiềm năng, lợi thế trong phát triển nông nghiệp tỉnhPhú Thọ Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tái cơ cấu ngành nôngnghiệp theo hướng bền vững tại tỉnh Phú Thọ
Ngoài ra còn có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khác ít nhiều
có bàn đến nền kinh tế xanh trên nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chưa
có bài viết và công trình nào tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ và hệthống cả về mặt lý luận vá thực tiễn về việc tái cơ cấungành nông nghiệp theohướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứuvấn đề này là quan trọng và cần thiết
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu liên quan đến đề tài
3.1.Mục đích của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tái cơ cấungành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam trong thờigian qua, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái
cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam giaiđoạn 2016-2020
3.2.Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn của nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướngphát triển kinh tế xanh
- Phân tích, đánh giá thực trạng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theohướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam Chỉ ra những thành tựu đã đạtđược, những hạn chế và nguyên nhân của nó
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nôngnghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020
4.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tái cơ cấu ngành nông nghiệptheo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Luận văn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ
sở và định hướng tư tưởng.Luận văn được trình bày trên những nguyên lý củakhoa học kinh tế chính trị Mác - Lênin, có tham khảo một số các lý thuyết củakinh tế học, kinh tế phát triển dựa trên những quan điểm và đường lối đổi mớitrong các văn kiện của Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam.Ngoài raluận văn còn sử dụng các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài đã đượccông bố trên các sách, báo, tạp chí
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhaunhưng chủ yếu là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp lôgíckết hợp với lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống
kê đối chiếu, so sánh để nghiên cứu và trình bày bản chất của vấn đề
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về tái cơ cấu ngành nôngnghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam, đồng thời đề xuấtphương hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu ngànhnông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam trong thời gian tới
- Luận văn có thể làm tài liệu cho các nhà hoach định cơ chế, chínhsách về phát triển ngành nông nghiệp, là tài liệu phục vụ cho việc hoạch định,nghiên cứu, giảng dạy ở các trường đại học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 10NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
1.1.Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh
1.1.1 Khái niệm tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh
1.1.1.1.Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Tái cơ cấu là thuật ngữ được sử phổ biến trong những năm trở lại đây,xuất phát từ quan điểm tái cơ cấu kinh tế; đến nay quá trình tái cơ cấu đangdiễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, các thành phần kinh tế và đối với cả cácngành kinh tế, trong đó có ngành nông nghiệp Về quan điểm tái cơ cấu ngànhnông nghiệp có thể hiểu một cách tổng quan thông qua các khái niệm như sau
- Cơ cấu nền kinh tế
Cơ cấu nền kinh tế là sự phân chia nền kinh tế thành những bộ phậnkinh tế thành phần khác nhau.Trong đó tổng thể các bộ phận kinh tế thànhphần là một thể hoàn chỉnh của cả nền kinh tế Bằng cách xác định tỷ trọngcủa các bộ phận kinh tế thành phần theo một đơn vị tính nhất định (tuỳ theoyêu cầu quản lý và mục đích nghiên cứu) sẽ xác định được cơ cấu của nềnkinh tế
- Cơ cấu ngành kinh tế
Từ khái niệm về cơ cấu nền kinh tế cho thấy, cơ cấu ngành kinh tế làmột nhóm loại biểu hiện của cơ cấu nền kinh tế Theo cách hiểu đơn giảnnhất, cơ cấu ngành kinh tế chính là cơ cấu nền kinh tế xác định theo các nhómngành chủ đạo Những ngành sản xuất này tương đối độc lập với nhau, dựatrên những đối tượng và sản phẩm sản xuất khác nhau để phân loại được rõ
Trang 11ràng (Dương Ngọc Quang, 2014) Trong đó, theo các nhóm ngành chính hiệnnay, cơ cấu ngành kinh tế bao gồm: Cơ cấu ngành nông, lâm, ngư nghiệp;ngành công nghiệp và xây dựng; ngành thương mại, dịch vụ
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu theo tỷ
lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế – xã hội
có liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong khoảng thời gian và không giannhất định Những nội dung chủ yếu của cơ cấu nông nghiệp theo những quan
hệ được xác lập trong thực tiễn nông nghiệp nước ta như sau: quan hệ giữanông-lâm-ngư nghiệp; quan hệ giữa trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề; quan
hệ giữa sản xuất nông nghiệp, các ngành chế biến và dịch vụ; quan hệ giữacông nghiệp- nông nghiệp - dịch vụ và quan hệ giữa các thành phần kinh tếtrong nông nghiệp
- Cơ cấu ngành nông nghiệp
Cơ cấu ngành nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trịgiữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận Nói cách khác, cơ cấu ngànhnông nghiệp phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lượng, quy mô sử dụng đấtcủa các chuyên ngành, tiểu ngành cấu thành nên ngành nông nghiệp Cácchuyên ngành, tiểu ngành này được xem xét trên các quy mô: tổng thể nềnkinh tế, vùng và tiểu vùng Cơ cấu ngành nông nghiệp thể hiện vị thế của từngchuyên ngành, tiểu ngành trong mối quan hệ với toàn ngành nông nghiệp (quacác tỷ lệ khác nhau tham gia vào ngành nông nghiệp) trong một thời gian nhấtđịnh Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, các chuyên ngành, tiểu ngành có mốiquan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau phát triển trong phạm vi về khônggian, thời gian và trên cơ sở điều kiện hạ tầng kinh tế ở từng nơi Cơ cấungành nông nghiệp luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế
- Tái cơ cấu nền kinh tế
Trang 12Theo Quyết định 339/ QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phêduyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế” quan điểm về tái cơ cấu kinh tếgồm các nội dung: (1) Đổi mới tư duy, phân định rõ vai trò, chức năng củaNhà nước và của thị trường; (2) Kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đềquan trọng, cấp bách với các vấn đề dài hạn, hướng đến mục tiêu phát triểnbền vững; (3) Thúc đẩy phát huy lợi thế cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực,vùng kinh tế và của các địa phương; (4) Gắn với cải cách nâng cao chất lượngdịch vụ hành chính các cấp theo hướng tập trung, thống nhất; (5) Tích cực vàchủ động hội nhập quốc tế, thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế đểhuy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực [37, 4]
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Ngay sau khi đưa ra chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế đối với tất cáccác ngành, các lĩnh vực Đối với ngành nông nghiệp, ngày 10 tháng 6 năm
2013, Theo Quyết định 899/ QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phêduyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị giatăng và phát triển bền vững” Đề án đưa ra quan điểm rõ ràng: “Tái cơ cấunông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân”
Do đó tái cơ cấu ngành nông nghiệp có quan điểm nhất quán với tái cơ cấunền kinh tế
Từ các quan điểm, nhận định và một số công trình nghiên cứu cho thấy,
có thể hiểu: Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có sự đổi mới căn bản và toàn diện về chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của ngành Thông qua các tác động của chính sách, mà thực chất là sự thay đổi về chính sách đầu tư công (đối với cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, lao động, khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật, xúc tiến thương mại, ) và đổi mới các can thiệp đối với ngành nông nghiệp, nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý và hiệu quả hơn nữa, từ đó giúp điều chỉnh cơ cấu của
Trang 13ngành từ chưa hợp lý, kém hiệu quả thành cơ cấu có hợp lý và hiệu quả hơn, phù hợp với tín hiệu thị trường
1.1.1.2.Khái niệm kinh tế xanh
Chuyển đổi phương thức phát triển, hướng tới phát triển “Nền kinh tếxanh” là hướng tiếp cận mới, tuy nhiên xét về dài hạn đây là hướng tiếp cậnphù hợp với xu thế phát triển chung của hệ thống kinh tế toàn cầu Kinh tếxanhkhông chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế, mà
nó đã được hiểu sâu rộng hơn, đề cập đến cả phát triển cân bằng, hài hòa giữacác mục tiêu Ngày nay nó đã được coi là một mô hình phát triển mới, đượcnhiều nước ủng hộ và hướng theo Theo Chương trình Môi trường của Liênhợp quốc (UNEP), nền kinh tế xanh là “nền kinh tế nâng cao đời sống của conngười và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu những rủi ro môitrường và những thiếu hụt sinh thái”
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua các phương thứcphát triển kinh tế khác nhau, từ chế độ cộng sản nguyên thủy, sang chiếmhữu nô lệ, chế độ phong kiến, tư bản chủ nghĩa (kinh tế thị trường), quá độ
xã hội chủ nghĩa (kinh tế kế hoạch hóa tập trung) và hiện nay đang tìm mộthướng đi mới là sự tích hợp của những ưu điểm các phương thức phát triển
đã có điển hình là Trung Quốc và Việt Nam theo mô hình “Kinh tế thịtrường định hướng XHCN”, trên cơ sở đó có sự đổi mới phát triển kinh tếphù hợp với từng quốc gia và từng giai đoạn nhằm mang lại phúc lợi tốt nhấtcho con người
UNEP đã đưa ra khái niệm ban đầu cho rằng: “Nền kinh tế xanh là kếtquả mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, nó có ý nghĩa giảmnhững rủi ro môi trường và khan hiếm sinh thái” [54, 3] Từ khái niệm đó chothấy, phát triển một nền kinh tế xanh thực chất là vì con người, đảm bảo phúclợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi
Trang 14ro cho môi trường và hệ sinh thái, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.Một nền kinh tế xanh đơn giản là một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sửdụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tính công bằng vềmặt xã hội Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làmthông qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảmthiểu phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả nănglượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của
hệ sinh thái Như vậy khác với trước đây, trong “nền kinh tế nâu”, đầu tưcông cần phải có sự điều chỉnh cơ bản thông qua những chính sách mới đượccải thiện của các quốc gia, ưu tiên cho duy trì và phát triển nguồn vốn tựnhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc sở hữu chung mang lại lợi ích chomọi người Sự đầu tư đó cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và
an sinh của họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bịtổn thương do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu
Xét về mặt học thuật, “Nền kinh tế xanh” là sự nâng cấp của “Kinh tếmôi trường”, trong kinh tế môi trường về bản chất đó là “Nghiên cứu mốiquan hệ tương tác, phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa kinh tế và môi trường(hệ thống hỗ trợ cuộc sống của trái đất) nhằm bảo đảm một sự phát triển ổnđịnh, hiệu quả, liên tục và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy conngười làm trung tâm”, kinh tế xanh nhấn mạnh hơn đầu tư cho phát triển chútrọng tới giảm thiểu ô nhiễm, nhất là giảm phát thải cacbon và duy trì, pháttriển nguồn vốn của tự nhiên, mang lại quyền hưởng lợi của mọi người do đầu
tư đó mang lại Theo kết qủa nghiên cứu của các tác giả trong tài liệu “Hướngtới nền kinh tế xanh” do chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP)công bố năm 2011, mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDPtoàn cầu (Khoảng 1300 tỷ USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số(0,5% GDP) tương đương với số tiền 350 tỷ USD được đầu tư cho các lĩnh
Trang 15vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp,nước sạch và thủy sản Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tínhtoán và chỉ ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền kinh tế xanh sẽ cải thiệnhiệu quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu Mặt khác sự đầu tư
đó sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năngtái tạo, giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết sự thịnh vượng chotương lai Như vậy xây dựng một nền kinh tế xanh cũng không thay thế vàmâu thuẫn với “Phát triển bền vững”, vì phát triển bền vững thực chất là "sựphát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đếnkhả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai", phát triển bền vữngnhằm đạt tới mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ), còn xanh hóa nền kinh
tế là phương tiện đưa chúng ta tới đích của phát triển bền vững
1.1.1.3.Khái niệm kinh tế xanh trong nông nghiệp
Kinh tế xanh trong nông nghiệp hay còn gọi là nông nghiệp xanh(Green Agriculture) là nền nông nghiệp áp dụng những kiến thức, phươngpháp, khoa học và kỹ thuật canh tác đổi mới nhằm duy trì và nâng cao năngsuất nông nghiệp và lợi nhuận trong khi vẫn đảm bảo việc cung cấp thựcphẩm và các hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp một cách bền vững với mục tiêugiảm dần các yếu tố tiêu cực và khuyến khích các tác động tích cực để phụchồi các nguồn tài nguyên sinh thái như đất, nước, không khí và đa dạng sinhhọc (vốn tài sản tự nhiên) bằng cách giảm ô nhiễm và sử dụng tài nguyênthiên nhiên một cách hiệu quả hơn
Theo tiến sĩ Hans R.Herren trong cuốn “Báo cáo kinh tế xanh” năm
2011 của UNEP (Chương trình Môi trường Liên hợp quốc), phần “Nôngnghiệp - Sự đầu tư cho các hợp phần tự nhiên” thì nông nghiệp xanh là nềnnông nghiệp tăng cường áp dụng những phương thức và kỹ thuật canh tácnhằm: Duy trì và tăng năng suất, lợi nhuận của các sản phẩm nông nghiệp
Trang 16trong khi vẫn đảm bảo việc cung cấp lương thực một cách bền vững; Giảmthiểu những tác động tiêu cực và tạo ra những tác động có lợi cho môitrường; Khôi phục các nguồn tài nguyên sinh thái (như đất, nước, không khí
và các hợp phần của đa dạng sinh học) bằng cách giảm thiểu sự ô nhiễm và
sử dụng các nguồn tài nguyên hợp lý và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, ngườidân địa phương phải thích nghi với những kỹ thuật, phương thức canh tácnông nghiệp và có kiến thức cũng như hiểu biết của mình về những chứngchỉ, nhãn hiệu của thị trường như GAP (Good Agriculture Practices -phương thức canh tác nông nghiệp tốt), sản phẩm sinh học hay sản phẩmhữu cơ (organic/biodynamic agriculture), nông nghiệp sinh thái (EcologicalAgriculture)…và những kỹ thuật liên quan.[54, 17]
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam: Tăng trưởngxanh trong nông nghiệp là tăng trưởng ngành nông nghiệp về kinh tế, xã hội
và môi trường, hướng tới phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, giảm thiểutác động của biến đổi khí hậu
Theo đó, các kỹ thuật và phương thức canh tác nông nghiệp được sửdụng như một công cụ trong quá trình xanh hóa nền nông nghiệp bao gồm:
- Duy trì và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai thông qua việc tăng mức
sử dụng những yếu tố dinh dưỡng đầu vào một cách bền vững và tự nhiên, đadạng hóa cây trồng và tích hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt
- Giảm thiểu sự xói mòn đất và cải thiện hiệu quả sử dụng nước bằngcách sử dụng tối thiểu đất để canh tác và những kỹ thuật canh tác cây trồnggiúp che phủ bề mặt của đất
- Giảm thiểu việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bằng cách tiến hànhnhững phương thức quản lý côn trùng và cỏ dại gây hại có nguồn gốc sinh học
- Giảm thiểu sự mất mát và lãng phí lương thực bằng cách mở rộng việc
sử dụng những phương tiện và cơ sở vật chất cho việc thu hoạch và bảo quản
Trang 17Mặc dù sử dụng các nguồn phân bón hữu cơ và các phương pháp tựnhiên trong kiểm soát dịch bệnh và diệt trừ cỏ dại là những yếu tố quan trọngnhất trong nền nông nghiệp xanh Nhưng để đảm bảo an ninh lương thực toàncầu cũng cần sử dụng có hiệu quả và hợp lý các loại phân bón vô cơ và kiểmsoát dịch bệnh Nói cách khác, trong giai đoạn đầu của quá trình lâu dàichuyển đổi sang mô hình nông nghiệp xanh cần đặc biệt quan tâm đến việc sửdụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào trong nông nghiệp vô cơ.
1.1.2.Đặc điểm của tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh
Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần đượcthường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp vớithực tế trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấnthông tin phản hồi từ các bên liên quan Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là mộthợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược
và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; gắn với phát triển kinh tế,
xã hội và bảo vệ môi trường
Trong đó, những đặc điểm của tái cơ cấu ngành nông nghiệp theohướng phát triển kinh tế xanh đó là:
Thứ nhất, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu
nền kinh tế, mang những nét đặc trưng của tái cơ cấu nền kinh tế
Ngành nông nghiệp là một trong ba nhóm ngành lớn thuộc tổng thể nềnkinh tế quốc dân Bởi lẽ đó, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phầncủa tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế Tại “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệptheo hướng nâng cao GTGT và phát triển bền vững” quan điểm này cũng đãđược nhấn mạnh Như vậy, tái cơ cấu ngành nông nghiệp về nội bộ ngành cónhững đặc trưng riêng biệt, song về tổng thể vẫn mang đặc trưng, thống nhấtvới quan điểm chung về tái cơ cấu nền kinh tế
Trang 18Thứ hai, tái cơ cấu ngành nông nghiệp có sự đổi mới căn bản và toàn
diện về chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của ngành
Về cơ bản, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một quá trình đổi mới, nhằmtạo ra “cú huých” lớn thúc đẩy ngành đạt được một diện mạo mới - nền nôngnghiệp hiện đại, tiên tiến, nâng cao GTGT và bền vững Để làm được điều này,đổi mới trong quản lý phải thực hiện đầu tiên, trong đó đổi mới căn bản và toàndiện về chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của ngành là vấn đề then chốt
Thứ ba, tái cơ cấu ngành nông nghiệp có sự đổi mới theo hướng hiện
đại, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và thời kỳ hội nhập
Tái cơ cấu ngành là hướng tới đổi mới, trong đó đẩy mạnh việc ứng dụngkhoa học công nghệ, kỹ thuật cao vào quản lý và sản xuất, tiếp tục hiện đại hóangành nông nghiệp mà trong chuyển dịch cơ cấu còn chưa thực hiện triệt để làtất yếu Bên cạnh đó, tiếp tục khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún,đẩy mạnh sản xuất theo quy mô lớn, tập trung theo hướng sản xuất hàng hóanhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và có thể nâng cao chất lượng sản phẩmnhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập
Thứ tư, tái cơ cấu ngành nông nghiệp có quan hệ mật thiết với công
cuộc xây dựng nông thôn mới
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân là ba vấn đề có quan hệ mật thiếtvới nhau, cùng xuất phát từ mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp tiên tiến, cảithiện thu nhập, đời sống cho lao động nông thôn, xây dựng nông thôn mới vàtái cơ cấu ngành nông nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau Đây là haivấn đề gắn kết chặt chẽ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, là mộtnhiệm vụ chính trị trọng tâm
Thứ năm, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là quá trình thực thi chính sách.
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một trong những chính sách lớn của Đảng vàNhà nước, do đó thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp chính là một quá
Trang 19trình thực thi chính sách Trên thực tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại mỗiđịa bàn khác nhau thì quá trình thực hiện có thể có những thay đổi nhất định,song triển khai vẫn nằm trong quá trình thực hiện của chính sách.
1.1.3.Vai trò của tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh dựkiến sẽ giúp đạt được một số lợi ích như: tăng lợi nhuận và thu nhập cho nôngdân cùng với đó là góp phần tăng lợi nhuận kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện đểngành nông nghiệp có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và lợi ích chocác dịch vụ hệ sinh thái
Thứ nhất, năng suất, hiệu quả và lợi nhuận của nông nghiệp xanh.
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận về năng suất và lợi nhuận của các trangtrại bền vững ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Một nghiêncứu của FAO (Nermes năm 2009) đã phân tích 50 trang trại, phần nhiều là ở
Mỹ và đưa ra kết luận: “Đại đa số trường hợp cho thấy rằng các trang trại hữu
cơ có lợi nhuận về kinh tế lớn hơn”
Có những ví dụ khác nhau về năng suất và lợi nhuận lớn hơn tại cácnước đang phát triển Một nghiên cứu của Pretty và các cộng sự năm 2010được tiến hành tại 12,6 triệu trang trại với hơn 37 triệu ha (3% diện tích canhtác ở các nước đang phát triển) cho thấy năng suất bình quân tăng khoảng80% là kết quả của nông dân tại 57 quốc gia nghèo thông qua 286 sáng kiến
“canh tác tiên tiến” Các cải tiến bao gồm quản lý dinh dưỡng và sâu bệnhtổng hợp, bảo tồn đất canh tác, nông lâm kết hợp, nuôi trông thủy sản…Tất cảcác nghiên cứu đều đánh giá cao vai trò của hiệu quả sử dụng nước, trong đóhiệu quả cao nhất đạt được vào mùa mưa
Tiềm năng hấp thụ các bon trung bình là 0,35 tấn C/ha/năm Với cácthông tin về thuốc bảo vệ thực vật của các dự án, kết quả chỉ ra rằng việc sử
Trang 20dụng thuốc trừ sâu giảm từ 77% xuống 71% trong khi sản lượng tăng 42%.Một ví dụ khác, các trang trại sinh thái tiêu biểu được ghi nhận với sự gia tăng100% năng suất trên mỗi ha do việc sử dụng kỹ thuật chống chịu của đất,chẳng hạn như ứng dụng phân trộn và các loại cây họ đậu trong quá trìnhcanh tác cây trồng (Dobbs và Smolik 1996; Drinkwater và các cộng sự năm1998; Echvards năm 2007) Đối với trang trại nhỏ ở Châu Phi, nơi mà sửdụng các yếu tố đầu vào tổng hợp còn thấp, quy trình chuyển đổi phươngpháp canh tác bền vững đã giúp tăng sản lượng và thu nhập Tại một dự án do
1000 nông dân ở Nam Nyanza, Kenya canh tác, trung bình mỗi 2ha, năng suấtcây trồng tăng 2-4 tấn/ha sau một thời gian chuyển đổi quy trình canh tác.Trong trường hợp khác, thu nhập của 30.000 nông hộ nhỏ ở Thika, Kenyatăng 50% trong vòng 3 năm sau khi họ chuyển sang sản xuất hữu cơ (Hine vàPretty năm 2008).[51, 16]
Một phần quan trọng trong chi phí sản xuất của trang trại có liên quanđến năng lượng đầu vào và phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ vớihiệu suất sử dụng năng lượng cao.Ví dụ, hiệu quả sử dụng năng lượng từtrồng lúa hữu có có thể gấp bốn lần so với phương pháp truyền thống(Mendoza năm 2002) Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, nông dân canh táctheo phương pháp hữu cơ tận dụng được 36% năng lượng đầu vào trên mỗi hacao hơn so với nông dân trồng lúa thông thường
Niggli và các cộng sự năm 2009 nhận thấy rằng, nông nghiệp hữu cơlàm giảm nhu cầu năng lượng của các hệ thống sản xuất từ 25%-50% so vớinông nghiệp dựa vào hóa chất thông thường Tiêu thụ năng lượng trong các
hệ thống cách tác hữu cơ giảm từ 10%-70% tại các nước Chấu Âu và từ 32% ở Mỹ Trường hợp một số cây trồng ngoại lệ như khoai tây và táo sửdụng năng lượng bằng hoặc cao hơn (Pimentel và các cộng sự năm 1983 vàHill năm 2009) [43, 65]
Trang 2128%-Hiện nay đã có phí bảo hiểm mức giá thị trường thường xuyên đối vớicác sản phẩm bền vững (ví dụ như sản phẩm hữu cơ) Tuy nhiên, mức phí này
có thể không được ưu đãi thích hợp lâu dài, trừ khi có một sự gia tăng tươngxứng trong nhu cầu tiêu dùng toàn cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp bềnvững (ví dụ như ở các nước EU và Hoa Kỳ) Ưu đãi về giá có thể giảm tươngđối trong quá trình cân bằng cung - cầu (Oberholtzer và các cộng sự 2005)
Hơn nữa, nếu những lợi ích dịch vụ hệ sinh thái của hoạt động canh tácbền vững được tính vào giá trị và thu nhập cho nông dân, sản phẩm nôngnghệp xanh sẽ trở nên cạnh tranh hơn so với các sản phẩm thông thường
Thứ hai, lợi ích kinh tế vĩ mô từ nông nghiệp xanh
Nông nghiệp xanh được mong chờ sẽ mang lại lợi ích có ý nghĩa vềkinh tế vĩ mô và xóa đói giảm nghèo Các khoản đầu tư nhằm tăng năng suấtcủa ngành nông nghiệp đã được chứng minh là hiệu quả gấp đôi trong xóa đóigiảm nghèo ở nông thôn hơn là đầu tư trong bất cứ lĩnh vực nào khác (ADBnăm 2010) Những câu chuyện thành công lớn nhất trong việc giảm đói nghèo
là từ Trung Quốc, Ghana, Ấn Độ, Việt Nam và một số quốc gia châu Mỹ LaTinh, tất cả đều có tỷ lệ đầu tư ròng trong nông nghiệp cho một nhân công caohơn so với hầu hết các nước đang phát triển khác (FAO, năm 2011)
Ngoài ra, nông nghiệp xanh nhắm đến một thị phần lớn hơn trong tổngchi phí đầu vào nông nghiệp nhờ việc mua đầu vào có nguồn gốc địa phương(ví dụ như lao động và phân bón hữu cơ), góp phần tạo ra nhiều tác động tíchcực cho địa phương Nhìn chung, kỹ thuật canh tác xanh có xu hướng đòi hỏinhiều lao động đầu vào hơn so với canh tác thông thường (khoảng 30%)(FAO năm 2007 và Uỷ ban Châu Âu năm 2010), do đó tạo công ăn việc làmnhiều hơn cho khu vực nông thôn Điều này đặc biệt quan trọng đối với cácquốc gia có thu nhập thấp, nơi có số lượng lớn người nghèo liên tục rời khỏicác khu vực nông thôn tìm kiếm việc làm ở các thành phố và tỷ lệ ngày càng
Trang 22gia tăng lao động trẻ chịu áp lực lớn trong việc tìm kiếm việc làm Ngoài ra,hầu hết các quốc gia thu nhập thấp bị thâm hụt thương mại đáng kể (Ngânhàng thế giới 2010) do thiếu sự trao đổi hợp tác quốc tế trong việc huy độngcác nguồn lực Nông nghiệp xanh có thể giảm bớt căng thẳng do hạn chếngoại hối nhờ việc giảm nhập khẩu đầu vào do được thay thế bởi các nguồnlực có sẵn tại địa phương và tăng xuất khẩu các sản phẩm lương thực bềnvững và vì thế các quốc gia này có khả năng mua công nghệ và các yếu tố đầuvào quan trọng khác cho phát triển nông nghiệp xanh.
Thứ ba, thích ứng và giảm nhẹ tác động của thời tiết, khí hậu và các
dịch vụ hệ sinh thái
Nông nghiệp xanh giúp nền nông nghiệp vững vàng hơn trước các hiệntượng hạn hán, lũ lụt và nhiệt độ thay đổi, đồng thời hướng tới đa dạng sinhhọc trong nông nghiệp và cải thiện chất lượng đất đai Các kỹ thuật canh tácdựa vào đa dạng sinh học cho phép các trang trại áp dụng các quá trình sinhthái tự nhiên, đáp ứng tốt hơn với thay đổi môi trường và khí hậu, giảm rủi ro,thiệt hại Việc sử dụng đa dạng các loài sinh vật nội địa và ngoại lai được xemnhư giải pháp chống lại những thay đổi môi trong tương lai nhờ tăng khả năngthích ứng của hệ thống (Ensor 2009) Vấn đề cải thiện đất bằng các chất hữu
cơ từ việc sử dụng phân xanh, lớp phủ, và chất thải trồng trọt và chăn nuôi táichế sẽ làm tăng khả năng giữ nước, hấp thụ nước của đất khi có mưa
Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực quốc tế (IFPRI) ước tính rằng,cần bổ sung thêm 7,1-7,3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm đầu tư cho nông nghiệp để hạnchế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu vào năm 2050 Nguồn đầu tư choIFPRI đề nghị nên tập trung chủ yếu cho cơ sở hạ tầng cơ bản như đường giaothông nông thôn ở Châu Phi, mở rộng hệ thống thủy lợi và đầu tư cho nôngnghiệp (Nelson và các cộng sự năm 2009) Tuy nhiên, khi tiến hành đánh giá
Trang 23các lực chọn đầu tư xanh trong nông nghiệp cần nghiên cứu nâng cao độ phìnhiêu của đất trong nông nghiệp sinh thái.
IPCC ước tính rằng tiềm năng giảm thiểu các bon toàn cầu trong ngànhnông nghiệp tính đến năm 2030 là khoảng 5.500 - 6.000 triệu tấn CO2 tươngđương/năm (Smith và cộng sự 2007) Hấp thụ các bon trong đất là cơ chế chủyếu đối với hầu hết quá trình này, đóng góp 89% tiềm năng.Vì vậy, ngànhnông nghiệp có tiềm năng làm giảm đáng kể phát thải khí nhà kính và có thểhoạt động như một bể chưa các bon trong vòng 50 năm tới.Cơ hội quan trọngnhất để giảm thiểu khí nhà kính là ứng dụng các bon làm giàu chất hữu cơ(mùn) vào đất.Điều này này làm giảm đáng kể nhu cầu về nhiên liệu hóathạch dựa vào phân khoáng và năng lượng, đồng thời là một phương tiện hiệuquả cô lập các bon trong khí quyển
Các dịch vụ môi trường được cung cấp bởi các trang trại xanh là rất lớn.Viện Rodale đã ước tính rằng chuyển đổi nông nghiệp hữu cơ có thể thuhồi thêm
3 tấn các bon mỗi ha một năm (LaSalle và các cộng sự năm 2008) Hiệu quả hấpthụ các bon của các hệ thống hữu cơ ở vùng khí hậu ôn đới lớn hơn gần gấp đôi(575 - 700kg các bon mỗi ha mỗi năm) tùy thuộc từng loại đất.Trang trại hữu cơ
ở Đức hàng năm hấp thụ 402kg các bon/ha, trong khi các trang trại thông thườngphát thải 637kg Từ những nghiên cứu đó, có thể ước tính rằng nếu tất cả cáctrang trại nhỏ trên hành tinh sử dụng phương thức canh tác bền vững, có thể hấpthụ tổng cộng 2,5 tỷ tấn các bon mỗi năm Như vậy, mức độ hấp thụ các bon cóthể là tương đương với 49 tỷ USD tín dụng các bon mỗi năm với mức giá giảđịnh 20 đô la Mỹ/tấn CO2 [43, 26]
Hơn nữa, lượng khí thải oxi nitơ và mêtan có thể được giảm thiểu nếunông dân sử dụng phân bón nitơ và các loại phân bón khác hiệu quả hơn, kể
cả thông qua các phương pháp sử dụng phân bón hợp lý hoặc bổ sung thêmcác giống cây trồng cải thiện hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng và sử dụng nitơ có
Trang 24sẵn trong đất Nông nghiệp xanh có tiềm năng trở thành nguồn cung cấp nitơthông qua ủ phân từ chất thải trồng trọt và chăn nuôi và gia tăng trồng luôncanh giữa các cây vụ chính với cây họ đậu, cây cố định nitơ FAO đã ghi nhậnrằng, nếu chuyển đổi rộng rãi diện tích đất trồng trọt sang canh tác hữu cơ cóthể giảm tối thiểu 40% (2,4 Gt* CO2 tương đương/năm) phát thải khí nhà kínhnông nghiệp trên toàn cầu và lên đến tối đa 65% (4 Gt CO2 tương đương/năm) (Scialabba và Muller - Lindenauf năm 2020) [43, 84].
Các tác động tích cực đối với hệ sinh thái từ nông nghiệp xanh bao gồmchất lượng đất được cải thiện, tăng nguồn cung cấp nước, tái chế chất dinhdưỡng tốt hơn, bảo vệ động vật hoang dã và kiểm soát bão, lũ lụt (Pretty vàcác cộng sự năm 2001, OECD năm 1997)
1.1.4.Nội dung của tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh
Một là, thực hiện các chỉ tiêu về kinh tế
Cho dù là ở bất cứ mô hình kinh tế nào thì trước tiên, mô hình đó phảiđảm bảo khả năng tăng trưởng ổn định, và đó là điều kiện cần cho một môhình kinh tế mới được chấp nhận Phát triển nông nghiệp theo hướng tăngtrưởng xanh cũng không thể nằm ngoài quy luật đó, phải đảm bảo khả năngtăng trưởng ổn định, mang tính lâu dài cho ngành nông nghiệp, thể hiện ở tốc
độ tăng trưởng kinh tế, quá trình chuyển dịch 5 cơ cấu ngành kinh tế, tổngGDP của ngành… Hạt nhân của sự phát triển này phải đạt mức cao, liên tục
và ổn định trong nhiều năm liên tiếp, sản phẩm sản xuất ra đạt chất lượng tốt,được thị trường chấp nhận dựa trên sự ứng dụng những tiến bộ về khoa họccông nghệ
Để đảm bảo tăng trưởng ổn định, bền vững của ngành nông nghiệp trên
ba khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường trong thực hiện tái cơ cấu ngànhnông nghiệp Trong từng lĩnh vực cụ thể, nội dung được xác định:
Trang 25- Trồng trọt: Tái cơ cấu trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy
mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên
cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền; Cơ cấu lại hệ thống tổchức sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích doanhnghiệp liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản với nông dân;phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗigiá trị; hỗ trợ tập huấn, khuyến nông và các dịch vụ tư vấn nhằm nâng cao kỹthuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cho nông dân v.v
- Chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi tập trung, trang trại, gia trại; hìnhthành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư; khuyến khích áp dụngcông nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trongchuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng suất,cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; v.v
- Thủy sản: Tập trung sản xuất thâm canh các đối tượng nuôi chủ lực;tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và phương pháp nuôi để khai thác cơ hội thịtrường; khuyến khích nuôi công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, quy trìnhthực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế; đầu tư thiết bị, côngnghệ hiện đại trong chế biến nâng cao giá trị sản phẩm; cơ cấu lại sản phẩmchế biến đông lạnh theo hướng giảm tỷ trọng các sản phẩm sơ chế, tăng tỷtrọng các sản phẩm ăn liền, giá trị gia tăng cao; mở rộng áp dụng hệ thốngquản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (theo ISO, HACCP, GMP, SSOP); nghiêncứu và đầu tư ứng dụng công nghệ bảo quản trong và sau thu hoạch để giảm tỉ
lệ thất thoát và xuất khẩu thủy sản sống có giá trị cao
Hai là, thực hiện các chỉ tiêu về bền vững xã hội.
Xanh hóa sản xuất không thể tách rời xanh hóa lối sống và phươngthức tiêu dùng bền vững của xã hội Các nhiệm vụ cụ thể bao gồm: Thực thichính sách đô thị hóa theo quy hoạch bền vững, phát triển hài hòa, nâng cao
Trang 26chất lượng sống cho người dân Quy hoạch phát triển đô thị và quản lý quyhoạch cần đạt được các tiêu chí về hiệu quả sinh thái và bảo đảm xã hội; Xâydựng nông thôn mới với lối sống hài hòa với môi trường, thực hiện các nộidung về xây dựng nông thôn mới, kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môitrường, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và công bằng xã hội nhằm đảm bảophát triển nông thôn bền vững; Thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng lốisống xanh, thay đổi mô hình và hành vi tiêu dùng theo hướng bền vững của cảtiêu dùng cá nhân, tiêu dùng nhà nước và xã hội.
Quá trình tái cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta còn xuất phát từ yêu cầuphát triển một nền kinh tế có hiệu quả, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái vàgiải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở nông thôn, trong đó là tạo công
ăn việc làm và xoá đói giảm nghèo cho cư dân nông thôn
Tiêu chí đánh giá:
- Thu nhập bình quân đầu người của dân cư nông thôn
- Việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
- Các chỉ tiêu về xã hội ở nông thôn
Ba là, thực hiện các chỉ tiêu về môi trường
Thứ nhất, khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý, tiết kiệm, duy trì đa dạng sinh học.
Phát triển nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh phải dựa trên tăngcường đầu tư, bảo tồn, phát triển các nguồn vốn tự nhiên, tài nguyên thiênnhiên hiện có Các hoạt động sản xuất nông nghiệp bên cạnh mục tiêu pháttriển kinh tế còn phải chú ý đến vấn đề duy trì tài nguyên đất, nước, rừng vì
đó là những nhân tố giúp duy trì sự phát triển bền vững và ổn định của ngànhnông nghiệp Hạn chế việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thựcvật, các loại phân bón vô cơ với nồng độ cao, làm ô nhiễm tài nguyên đất,
Trang 27nước; bài trừ các tập tục đốt rừng làm rẫy, di canh, di cư của các địa phươngvùng cao gây xói mòn, bạc màu đất đai và kiệt quệ tài nguyên rừng.
Ngoài ra, phát triển nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh phảiduy trì sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái nông thôn, không làm mất đi sự cânbằng sinh học vốn có của tự nhiên
Tiêu chí đánh giá: Sử dụng các tiêu chí sau:
- Tốc độ tăng, giảm tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp/ năm
- Tỉ lệ lượng đất bị xói mòn hàng năm
- Số hộ tham gia thu gom rác thải tập trung hàng năm, sử dụng nướcsạch vệ sinh đạt chuẩn, công trình vệ sinh đạt chuẩn
Thứ hai, đảm bảo khả năng tái tạo tài nguyên thiên nhiên, sử dụng năng lượng sạch.
Phát triển nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh phải ưu tiên sửdụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, nănglượng sinh khối (khí biogas), năng lượng gió… hạn chế sử dụng năng lượnghóa thạch nhằm giảm phát thải khí nhà kính - nhân tố chính gây nên biến đổikhí hậu toàn cầu.Trong hoạt động chăn nuôi gia súc, chất thải gia súc nếuđược sử dụng để làm nguyên liệu trong quá trình sản xuất khí biogas - là khívừa có thể làm chất đốt, vừa có thể tạo ra điện thì sẽ tiết kiệm rất nhiều chiphí cho hoạt động chăn nuôi ở các trang trại, thậm chí có thể thay thế hoàntoàn nguồn năng lượng điện chính quy nếu biết kết hợp thêm sử dụng nănglượng mặt trời từ các tấm pin mặt trời
Tiêu chí đánh giá: Sử dụng các tiêu chí sau:
- Số lượng các công trình khí biogas tại địa phương
- Tỷ trọng lượng phân bón vô cơ và hữu cơ sử dụng trong nông nghiệphàng năm
- Diện tích đất bị ô nhiễm do thuốc trừ sâu hàng năm
Trang 28Thứ ba, ứng dụng khoa học công nghệ mới để xây dựng mô hình tăng trưởng xanh trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp.
Phát triển nông nghiệp tăng trưởng xanh phải dựa trên nền tảng khoahọc và công nghệ tiên tiến, các mô hình tăng trưởng sạch, phù hợp với điềukiện Việt Nam Phải biết ứng dụng những công nghệ trọng điểm của thời đạinhư công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, côngnghệ nano, công nghệ thủy canh, công nghệ nhà có mái che, công nghệ sauthu hoạch, cơ khí hoá dụng cụ nông nghiệp, ứng dụng quy trình nông nghiệpVietGAP
Muốn áp dụng và sử dụng có hiệu quả tiến bộ khoa học công nghệtrong sản xuất nông nghiệp thì nguồn nhân lực phải được đào tạo với chấtlượng cao, đồng nghĩa với việc hướng dẫn cho nông dân có kiến thức về khoahọc công nghệ để người dân có thể ứng dụng các kỹ thuật mới trong canh tác
và sản xuất, đạt được năng suất cao với quy trình sạch
Tiêu chí đánh giá: Sử dụng các tiêu chí sau:
- Tổng nguồn vốn đầu tư cho KH-KT sản xuất nông nghiệp/năm
- Độ biến thiên của năng suất lao động hàng năm
- Tỷ lệ trình độ đại học, trung cấp, lao động phổ thông trong nguồnnhân lực ngành nông nghiệp hàng năm
Thứ tư, chọn lọc cơ cấu cây trồng nâng cao giá trị gia tăng, giảm thiểu tác động đến khí hậu.
Phát triển nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh đòi hỏi phảinghiên cứu, chọn lọc cơ cấu vật nuôi cây trồng phù hợp với đặc tính lý hóahọc của đất, khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương Đối với các giống cây trồngđược chọn lựa phù hợp sẽ có chu kỳ sinh trưởng nhanh, cho năng suất cao,tiết kiệm thời gian chăm sóc, các loại phân bón, thuốc trừ sâu nhằm hạn chế
Trang 29khí thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp vốn chiếm 43% khí thải nhà kínhcủa cả nước Chính vì vậy, việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu và pháttriển giống cây trồng, vật nuôi là nội dung quan trọng trong chiến lược pháttriển nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh ở địa phương cấp huyện
Bên cạnh đó, cần xây dựng các mô hình sinh thái nông nghiệp mới, cảitiến mô hình sản xuất thủ công, thô sơ để ứng dụng các kỹ thuật mới tronghoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm tạo điều kiện nuôi trồng các giống câytrồng, vật nuôi mới phù hợp với xu thế tăng trưởng xanh Ví dụ chuyển đổisang trồng rau sạch, hoa tại các mô hình nhà kính công nghệ cao…
Tiêu chí đánh giá: Sử dụng các tiêu chí sau:
- Năng suất trồng trọt do ứng dụng giữa giống cây mới
- Năng suất chăn nuôi do ứng dụng các giống vật nuôi mới
- Giá trị trung bình tiêu hao phân bón/ vụ mùa
- Giá trị trung bình tiêu hao thuốc trừ sâu/ vụ mùa
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là vấn đề bao trùm rộng, bởi lẽ đó có khánhiều nhân tố tác động đến quá trình này, trong đó có các nhân tố cơ bản như:
-Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên:
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấukinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là đối với các nước trình độ côngnghiệp hoá còn thấp như nước ta Nhóm nhân tố này bao gồm: vị trí địa lí,điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai,nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu
tố sinh học khác…
Vị trí địa lí thuận lợi và các tiềm năng tự nhiên phong phú của mỗivùng lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.Những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần kinh tế quốc
Trang 30doanh, tập thể, tư nhân, kinh tế hộ và trang trại cũng phát triển với quy mô lớn
và nhanh hơn so với các vùng khác
Các nguồn lực tự nhiên như nguồn nước, khí hậu , có ảnh hưởng mạnhtới hướng phát triển ngành nông lâm thủy sản ở từng vùng, tiểu vùng địa lý.Điều kiện tự nhiên khác nhau giữa các vùng, tiểu vùng đã tạo ra lợi thế sosánh và sức cạnh tranh riêng của ngành nông nghiệp ở từng vùng, tiểu vùng
và là căn cứ quan trọng để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế vùng vềngành nông nghiệp Dưới tác động của nhu cầu thị trường trong và ngoàinước về hàng hóa nông sản trong những năm vừa qua, ngành nông nghiệpViệt Nam định ra được lợi thế riêng cho từng vùng và đã phát triển các sảnphẩm cụ thể ở từng vùng, tạo nên cơ cấu sản phẩm của từng vùng phù hợp vớithị trường, khai thác có hiệu quả đất đai, nguồn nước và các nguồn lực khác ởtừng vùng sinh thái nông nghiệp Tuy nhiên phải thấy rằng, nhân tố nguồn lực
tự nhiên không tự tạo ra ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới phát triển nôngnghiệp và tạo dựng cơ cấu ngành nông nghiệp ở từng vùng, mà chính conngười thông qua nhận thức của mình về những điểm mạnh, điểm yếu củanguồn lực tự nhiên ở từng vùng mà quyết định phát triển hướng ngành nôngnghiệp cho phù hợp Như vậy, nhận thức đúng của con người về nguồn lực tựnhiên và quyết định phát triển nông nghiệp theo hướng nào cho phù hợp chính
là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển nông nghiệp
- Nhóm nhân tố kinh tế-xã hội
Nhóm nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi
cơ cấu kinh tế kinh tế nông nghiệp và nông thôn Các nhân tố xã hội ảnhhưởng tới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn bao gồm:thị trường (trongnước và nước ngoài), hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cơ sở
hạ tầng nông thôn, sự phát triển các khu công nghịêp và đô thị, dân số và lao
Trang 31động bao gồm cả số lượng và chất lượng(trình độ dân trí, trình độ chuyênmôn, tập quán sản xuất…).
- Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: để can thiệp vàonền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo cho các quy luật của thị trường pháthuy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực nhằm mụcđích tạo đều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao và
ổn định Để vận hành hệ thống chính sách vào thực tế hiệu quả, sự quản lýcủa nhà nước là yếu tố dẫn đầu và không thể thiếu được Công tác quản lýcàng tốt sẽ thúc đẩy được thực hiện tái cơ cấu có kết quả cao và ngược lại nếu
từ hoạt động quản lý mà phát sinh vấn đề, điều này có thể kéo theo cả hệthống đi xuống
- Cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn đòi hỏi phải có trình độ phát triển tương ứngvới yêu cầu hình thành và chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Bởi lẽ cơ sở hạtầng nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn tới hình thành và phát triển cácngành kinh tế,các vùng kinh tế, đặc biệt là vùng chuyên môn hoá sản suấtnông-lâm-ngư nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới trình độ kĩ thuật công nghệ củakhu vực kinh tế nông thôn và do đó là một trong những nhân tố ảnh hưởng cóvai trò quyết định tới sự hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn
Sự phát triển các khu công nghiệp đô thị: là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng tới cơ cấu kinh tế nông thôn Sự phát triển các khu công nghiệp và đôthị sẽ tạo khả năng cung cấp kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại,tạonguồn vốn đầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực kinh tế nông thôn, góp phầnthúc đẩy quá trình hình thành và cải biến của cơ cấ kinh tế nông thôn
- Lao động nông nghiệp, nông thôn:
Trang 32Lao động là yếu tố thuộc về con người có tác động rất lớn tới quá trìnhsản xuất nông nghiệp Với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp theo hướnghiện đại hoá, tiến bộ, sẽ yêu cầu lớn về nguồn lao động chất lượng cao, do đótay nghề, trình độ lao động sẽ ảnh hưởng nhiều tới thực hiện tái cơ cấu ngànhnông nghiệp Đặc biệt là sự phân công lao động sẽ ảnh hưởng lớn đến sự pháttriển nông nghiệp theo hướng hàng hoá thị trường.
- Đầu tư vốn vào nông nghiệp:
Đầu tư vào nông nghiệp là một trong những điều kiện căn bản để cóthể thúc đẩy phát triển và hiện đại hóa đối với ngành Mức độ đầu tư cao sẽgóp phần đẩy mạnh xây dựng, sử dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiến bộvào sản xuất nhằm đạt được kết quả cao, song nếu mức đầu tư thấp sẽ tạo rarất khó khăn.Bởi lẽ đó, mức độ đầu tư vào ngành có chi phối nhất định tới cáchoạt động trong thực hiện tái cơ cấu
- Khoa học công nghệ:
Để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp một trong những yêu cầu làphải đổi mới căn bản và toàn diện, trong đó sự hiện đại hóa và tiến bộ đưa vàosản xuất cần phải tăng cường đẩy mạnh Do vậy, mức độ ứng dụng khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào nông nghiệp sẽ có những ảnh hưởng nhất định
- Sự hiểu biết của các tổ chức sản xuất nông nghiệp
Công tác định hướng và lãnh đạo toàn ngành thuộc về các cán bộ quản
lý, tuy nhiên việc thực hiện các chủ trương, chính sách là do người dân và các
tổ chức sản xuất nông nghiệp thực hiện Như vậy, mức độ hiểu biết của ngườidân và các tổ chức sản xuất này cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng nhất định tớikết quả thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp Sự phối kết hợp giữa các cơquan nhà nước và người dân để chính sách đi vào thực tế có hiệu quả, phía cơquan quản lý nhà nước phải có sự phối hợp tốt với nhau và cũng đòi hỏi phải
Trang 33có sự kết hợp tốt trong thực hiện đối với người dân Sự phối hợp càng tốt sẽtạo thuận lợi cho thực hiện quá trình tái cơ cấu và ngược lại.
1.3.Kinh nghiệm của một số quốc gia về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế xanh và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
1.3.1.Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là nước có bước phát triển mạnh về nông nghiệp Cách đây 40năm, Thái Lan có xuất phát điểm tương đối thấp Nhưng trong những nămqua, kinh tế Thái Lan phát triển mạnh trong đó có ngành nông nghiệp Tốc độtăng trưởng GDP nông nghiệp của Thái Lan bình quân là 3,9%/năm
Sự phát triển bùng nổ của kinh tế Thái Lan trong các thập kỷ 70 và 80nhờ vào quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp ven đô ở Bangkok.Quá trình đô thị hóa ở Bangkok đã làm tăng dân số đô thị lên 51% giữa cácnăm 1970 và 1980, còn dân số ngoại ô tăng lên 41% Các hoạt động côngnghiệp và dịch vụ phát triển mạnh và tập trung ở vùng Bangkok và ngoại vicủa nó Các hoạt động nông nghiệp bị đẩy ra vùng bên ngoài và hình thànhnên những vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa với các sản phẩm chính
là lúa gạo để phục vụ chiến lược hướng vào xuất khẩu và các sản phẩm rauquả đa dạng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị
Bên cạnh phát triển rau quả ở ngoại thành, Thái Lan còn rất nổi tiếngtrong phát triển các mô hình nông nghiệp kết hợp nhằm đa dạng hóa sảnphẩm và cải tạo đất đai Một trong các mô hình nông nghiệp kết hợp đượcphát triển ở tỉnh Siasaket ở phía Đông Bắc Thái Lan là mô hình lúa - cá, đượcxây dựng theo nhiều kiểu như các ao nuôi cá nhỏ định vị hoặc bên trong hoặcbên cạnh các cánh đồng lúa, các lồng nuôi cá trong các ao lớn hoặc các cánhđồng lúa và cá được cung cấp đầy đủ nước vào mùa khô Mô hình này thườngxuất hiện ở những vùng có lưu vực nhỏ và ít bị ảnh hưởng của lũ lụt So sánh
Trang 34với nhiều mô hình khác, mô hình lúa - cá là mô hình rủi ro thấp, cần ít vốnđầu tư, ít lao động, tuy nhiên Thái Lan đã rất quan tâm đến việc sử dụng cácchất hóa học cho lúa vì có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của cá.
Mô hình kết hợp giữa trồng trọt (lúa - rau - quả) và chăn nuôi (lợn - giacầm) bắt đầu phát triển ở ngoại ô Bangkok từ khi chính phảu áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật về giống và công nghệ nuôi.Các mô hình chăn nuôi thâm canhcao được các hộ nông dân ngoại thành phát triển trên cơ sở đầu tư mạnh mẽ
về vốn, kỹ thuật và đã đem lại lợi nhuận khá lớn cho nông dân
Sản xuất nông nghiệp ở Thái Lan nói chung và ở thủ đô Bangkok nóiriêng đã đạt được những thành quả to lớn về tốc độ tăng trưởng sản xuất nôngnghiệp,về chất lượng sản phẩm và mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân về vậtchất lẫn cảnh quan môi trường Nguyên nhân quan trọng để có được thành côngnày là do Thái Lan đã biết giải quyết tốt quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp theo hướng xuất khẩu, kết hợp với thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm,nhằm giải quyết tốt những vấn đề của nông nghiệp ven đô Các yếu tố quantrọng nhất góp phần đạt được các kết quả nói trên là sự phát triển của cơ sở hạtầng, sự tiếp cận dễ dàng về tín dụng đối với các hộ nông dân, chính sách khuyếnnông cho phép tiếp cận các kỹ thuật mới và chính sách phát triển các quan hệhợp đồng giữa các công ty chế biến với nông dân nhằm tạo đầu ra cho nông sản.Vai trò của Nhà nước là rất quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chínhsách quy hoạch đất đai, điều tiết giá cả, giải quyết các vấn đề môi trường, tư vấn,tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp [52, 58]
1.3.2.Kinh nghiệm của Isarel
Nằm giữa khu vực Trung Đông khô cằn, Israel có diện tích hơn22.000km2, trong đó 60% diện tích là sa mạc và thường xuyên đối mặt vớinguy cơ hạn hán Bất chấp những thực tế khắc nghiệt này, Israel hiện là quốcgia có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu, không những đáp ứng đủ cho
Trang 3595% nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các thị trường khác
Để đạt được thành quả đó, Israel đã có chiến lược đúng đắn nhằm bảo tồnnguồn nước, tái chế, phát triển công nghệ và quản lý nguồn nước cũng nhưnâng cao nhận thức của người dân.Israel giờ đây không những có đủ nguồncung nước, mà thậm chí có tiềm năng chia sẻ tài nguyên nước với các quốcgia láng giềng
Đây là một cuộc cách mạng ấn tượng bởi chỉ cách đây vài năm, quốcgia nằm tại một trong những khu vực khô hạn nhất thế giới này phải đối mặtvới tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng
Trong suốt hơn 15 năm qua, Israel luôn đi đầu về xử lý nước thải thànhnước sinh hoạt Bên cạnh đó, nước này cũng áp dụng các công nghệ biếnnước mặn thành nước ngọt dù chi phí khử mặn cao gấp đôi so với chi phí táichế nước thải Bước đột phá trong việc xử lý nước biển là công nghệ màngkhử mặn đã giúp giảm đáng kể chi phí, từ 1 USD mỗi m3 xuống còn 40 centmỗi m3
Trong vòng 10 năm, Israel đã xây dựng năm nhà máy khử mặn dọc theo
bờ Địa Trung Hải tại các thành phố Ashkelon, Ashdod, Sorek, Palmachim vàHadera, với chi phí khoảng 400 triệu USD mỗi cơ sở [52, 65]
Những nhà máy này do tư nhân sở hữu nhưng được nhà nước đảm bảobằng việc mua sản phẩm nước và bán cho người dân Israel hiện sản xuất hơn
300 triệu m3 nước ngọt từ công nghệ này, cung cấp tới 50% nhu cầu về nướcuống, nước sinh hoạt và dự kiến tăng lên 70% vào năm 2050
Đây quả là điều phi thường nếu biết rằng chỉ khoảng 10 năm trước,người dân Israel sống trong cảnh khan hiếm nguồn nước, trong khi giờ đâynguồn cung đã vượt cầu
Nhờ đáp ứng được nhu cầu về nước, Israel có thể tập trung vào việc lên
kế hoạch dài hạn hơn về nông nghiệp, công nghiệp và đô thị
Trang 36Bên cạnh giải pháp chống hạn nói trên, Israel cũng phát triển nhiều côngnghệ tiên tiến nhằm tiết kiệm và tăng tối đa hiệu quả sử dụng nước cho nôngnghiệp, trong đó được biết đến nhiều nhất là phương pháp tưới nhỏ giọt Theo các chuyên gia, phương pháp tưới tràn làm lãng phí khoảng một nửalượng nước do bay hơi, trong khi tưới nhỏ giọt đạt hiệu quả tới 90-95% lượngnước và tăng sản lượng vụ mùa Tại Israel hiện có tới 75% cánh đồng sử dụngcông nghệ tưới nhỏ giọt và 25% còn lại được tưới phun mưa.
Năm 2011, chính phủ Israel đã quyết định xây dựng kế hoạch quốc gia
để phát triển xanh, tập trung vào việc tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi tácđộng xấu tới môi trường
Kế hoạch này dựa trên nhận thức rằng môi trường có thể làm động cơ đểthúc đẩy hiệu quả việc tiết kiệm tài nguyên và tăng trưởng kinh tế, cũng nhưphát triển những ngành công nghệ sạch mới, tạo việc làm, củng cố hạ tầng xãhội và tăng sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu
Những giải pháp và hướng đi đúng đắn cùng với khả năng xử lý, quản lý
và bảo tồn nguồn nước hiệu quả đã giúp Israel chuyển mình từ một vùng đấtkhô hạn thành quốc gia có nguồn nước dồi dào hàng đầu khu vực
1.3.3.Kinh nghiệm của Mỹ
Mặc dù là siêu cường của thế giới về phát triển kinh tế nhưng Mỹ đanggặp phải những vấn đề của đô thị hóa Khoảng 100 năm trước, hơn 50% dân
số của Mỹ còn sống trong các trang trại nhỏ ở nông thôn và sử dụng thức ăn
tự sản xuất ở địa phương Hiện nay, dân số đô thị của Mỹ đã tăng lên 80%,đặt ra thách thức về an ninh lương thực, chi phí môi trường và sức khỏe cộngđồng An ninh lương thực đòi hỏi phải thỏa mãn đầy đủ và kịp thời số lượnglương thực có chất lượng và các thành phần dinh dưỡng cho nhu cầu của dân
cư đô thị Chi phí môi trường bao gồm chi phí cho khắc phục ô nhiễm khôngkhí, nhiễm độc nguồn nước ngầm và nước mặn, xói mòn đất, suy giảm đa
Trang 37dạng sinh học Giải pháp quan trọng để giải quyết những vấn đề trên là pháttriển nông nghiệp sinh thái ở đô thị Chính vì thế, Chính phủ Mỹ đã rất quantâm và đầu tư Ví dụ, tận dụng diện tích đất trống để phát triển rau quả trongtừng hộ gia đình, thậm chí sử dụng đất ở sân sau của các trường học, bệnhviện, công viên…theo số liệu điều tra của Uỷ ban Nông nghiệp Mỹ năm
2003, dự án “Vườn cho người nghèo” ở Califonia đã đóng góp 55% sản lượngcác sản phẩm nông nghiệp đô thị và quản lý thành công chương trình sản xuấthoa tươi bằng phương pháp hữu cơ Chất thải đô thị được tái chế thành phânbón cho các vườn đô thị, ven đô, thức ăn chăn nuôi Hệ thống cây xanh tạothành vành đai xanh điều hòa không khí cho thành phố Các sản phẩm chínhđược sản xuất ở các đô thị và ven đô là: hoa, rau, quả, bơ, sữa [52, 60]
Một nghiên cứu điển hình ở Bắc Mỹ về mô hình phát triển nông nghiệp
đô thị đã gắn kết lợi nhuận sản xuất nông nghiêp với chiến lược sử dụng đất,phân vùng nông nghiệp và bảo vệ môi trường là mô hình vành đai xanh -Greenbelt của Boal (1970) Theo Boal, có thể hình thành 3 vành đai khácnhau đối với nông nghiệp đô thị Vành đai thứ nhất, tại trung tâm thành phố,đất đai được quy hoạch ổn định, nông nghiệp đạt được mức lợi nhuận do cónhiều lợi thế về thị trường; vành đai thứ hai cận kề ngoại ô quy hoạch đất đaichưa ổn định, lợi nhuận sản xuất nông nghiệp thấp; vành đai thứ ba ở ngoàicùng xa thànhphố, nông nghiệp đạt lợi nhuận rất cao
1.3.4.Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Đối với ngành nông nghiệp Việt Nam, tái cơ cấu ngành nông nghiệptheo hướng phát triển kinh tế xanh được xem như là một trong những giảipháp quan trọng cho sự phát triển bền vững
Thứ nhất, học tập các mô hình tiên tiến trên thế giới, đầu tiên Việt Namcần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận lợi để
xã hội hóa nông nghiệp xanh, đặc biệt là nâng cao nhận thức cộng đồng và
Trang 38tăng cường năng lực cho các cán bộ nghiên cứu, thực thi trong lĩnh vực nôngnghiệp nói riêng và tăng trưởng xanh nói chung Khung pháp lý được thiết kếtốt sẽ tạo ra động lực khuyến khích phát triển nền nông nghiệp xanh Một giảipháp để hướng tới nông nghiệp xanh là đề ra các mục tiêu chính sách cần ưutiên cho quá trình phát triển trồng trọt, chăn nuôi nhằm đảm bảo an ninhlương thực, khuyến khích trao đổi thương mại giữa các vùng, trợ cấp giá chocác công ty nhà nước và hợp tác xã.
Thứ hai, để xã hội hóa nền nông nghiệp xanh, chính phủ cần nghiêncứu, xây dựng và ban hành các chính sách bao gồm giải quyết vấn đề quyền
sử dụng đất, đảm bảo những cam kết lâu dài cho nông dân yên tâm sản xuất,
hỗ trợ phát triển có sở hạ tầng, chế biến, marketing, quy hoạch đất đai.Ngoài ra cần tiếp tục tiếp cận các chính sách cải cách trong nông nghiệp nhưchính sách khoán hộ, tách quyền sở hữu ruộng đất với quyền kinh doanh,khuyến khích các xí nghiệp tăng sản lượng để bán ra thị trường, áp dụng chế
độ thuế hợp lý để chia sẻ thu nhập giữa nông dân và Nhà nước, cải cáchpháp lý cho kinh tế thị trường phát triển Đồng thời, sự điều tiết vững mạnhcấp quốc gia, cũng như việc thực thi hiệu quả của pháp luật, có thể đượcxem là những phương tiện thúc đẩy đầu tư cho nông nghiệp xanh
Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm, hình thành những vùng sản xuất vệtinh, chuyên môn hóa được khuyến khích phát triển ở các vùng có điều kiệnthuận lợi về hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông đường bộ
Thứ tư, cần có sự trợ giúp tài chính, kỹ thuật cũng như sự hỗ trợ vềthể chế nhằm đảm bảo mức thu nhập cho những hộ nông dân tham gia cácchương trình sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế xanh
Thứ năm, không ngừng tăng cường năng lực, đào tạo chuyên môn chocán bộ địa phương và nông dân Sự thay đổi hướng tới một nền nông nghiệpxanh đòi hỏi Chính phủ phải tăng cường năng lực để phân tích những thách
Trang 39thức, xác định cơ hội, can thiệp ưu tiên, huy động nguồn lực, thực hiện chínhsách và đánh giá tiến độ.
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.Khái quát về nền nông nghiệp Việt Nam
2.1.1.Thuận lợi
Kinh tế Việt Nam gồm công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụnhưng nông nghiệp là ngành có sức lan tỏa lớn nhất, có tính kết nối rất caovới nhiều ngành kinh tế Nông nghiệp cung cấp đầu vào cho công nghiệp chếbiến thực phẩm, chế biến xuất khẩu; đồng thời, sử dụng sản phẩm của cácngành công nghiệp và dịch vụ, như: nhiên liệu, phân bón, hóa chất, máy móc
cơ khí, năng lượng, tín dụng, bảo hiểm Ngoài ra, nông nghiệp còn liên quanmật thiết đến sức mua của dân cư và sự phát triển thị trường trong nước Với50% lực lượng lao động cả nước đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và70% dân số sống ở nông thôn, mức thu nhập trong nông nghiệp sẽ có ảnhhưởng rất lớn đến sức cầu của thị trường nội địa và tiềm năng đầu tư dài hạn.Nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảmbảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho trước hết là khoảng 70%dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tếđất nước và ổn định chính trị - xã hội của đất nước
Bảng 2.1 Tỷ trọng các ngành trong GDP, 1990 - 2015 (% theo giá so
sánh).
Khu vực kinh tế 199
0
199 5
200 0
200 5
201 0
201 2
201 4
2015
Nông nghiệp 38,1 27,7 24,5 19,3 19,0 19,7 18,4 17Công nghiệp - xây
dựng 22,7 28,8 36,7 38,1 38,2 38,6
38,3 38,5Dịch vụ 38,6 44,5 38,8 42,6 42,8 41,7 43,3 44,0