1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định

97 1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng
Người hướng dẫn TS. Đặng Thái Hải
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp 1
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 619,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp 1

Nguyễn thanh tùng

Hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số Trang trại của tỉnh nam định

luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành : chăn nuôi Mã số : 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: ts đặng thái hải

Hà Nội - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để công bố

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 3

Lời cám ơn

Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, tôi đ nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo

TS Đặng Thái Hải - Trưởng bộ môn Hoá sinh - Sinh lý động vật, Khoa Chăn nuôi - Thuỷ sản đ dành nhiều thời gian công sức hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đồng thời tôi cũng gửi lời cám ơn chân thành các Thầy, Cô giáo Khoa Chăn nuôi - Thuỷ sản, Trường đại học Nông Nghiệp I đ dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Chi Cục thống kê, Trung tâm khuyến nông và các chủ trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn thành phố Nam Định, huyện Hải Hậu, Mỹ Lộc, ý Yên - tỉnh Nam Định, nơi tôi đ tiến hành nghiên cứu đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn của mình tới gia đình, người thân và bạn bè đ giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian vừa qua

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 4

Mục lục

Danh mục các chữ viết tất v

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản và khả năng cho

2.2.3 Một số vấn đề kỹ thuật và quản lý trong sản xuất và chăn nuôi lợn

Trang 5

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 30

4.2 Tình hình chung về chăn nuôi lợn của các trang trại tỉnh Nam

4.5 Qui mô lợn nái, hậu bị và lợn thịt theo địa điểm nghiên cứu 43

Trang 6

Danh s¸ch c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n

Trang 7

Danh mục bảng

4.12 Qui mô đàn lợn cái hậu bị và đực giống của các trang trại N3 51

4.16 Giá trị năng l−ợng và protein của thức ăn hỗn hợp cho lợn nái 63

Trang 8

4.19 Gi¸ 1kg thøc ¨n hçn hîp cho lîn thÞt siªu n¹c 66

4.25 Ph©n tÝch hiÖu qu¶ kinh tÕ ph−¬ng thøc ch¨n nu«i N3 (tiÕp) 75

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn là một ngành sản xuất mang tính truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam, gắn liền với nền văn minh lúa nước Trong những năm qua, sản lượng lương thực tăng nhanh đ góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển Năm 1996 số đầu lợn của Việt Nam đạt 16,9 triệu con, năm

2006 là 26,9 triệu con Tổng đàn lợn tăng trung bình hàng năm 4,8% [43]

Nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 06/NQ - TƯ ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về “khuyến khích kinh tế hộ, hợp tác x và trang trại chăn nuôi quy mô vừa và lớn, chú trọng khâu giống và công nghệ chế biến, thị trường xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi Thực hiện các biện pháp để nâng cao năng suất và hạ giá thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp”,

đặc biệt là tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp như hiện nay thì nhất thiết phải chăn nuôi theo hướng tập trung, nên nhiều trang trại chăn nuôi lợn đ hình thành và phát triển Song do đây là hình thức chăn nuôi mới mẻ nên tiềm năng trong sản xuất chưa khai thác tốt, nhiều vấn đề trong trang trại chăn nuôi lợn chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hoá

Nam Định với diện tích đất tự nhiên 165.100 ha, hiện là tỉnh có tốc

độ phát triển đàn lợn tương đối nhanh Năm 2005 đàn lợn toàn tỉnh là 775.000 con, đến 2006 đ đạt 832.200 con (tăng 7%/năm) Mặc dù chăn nuôi lợn đ có những tiến bộ nhất định song so với các nước phát triển như

Mỹ, Bỉ, Đan Mạch,… thì chăn nuôi nước ta nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng cần có những bước tiến dài về năng suất và chất lượng thịt thì mới theo kịp các nước trên

Trang 10

Xuất phát từ thực tế đó, để góp phần thúc đẩy chăn nuôi lợn ở tỉnh Nam

Định phát triển nhanh cả về năng suất và chất l−ợng thịt, giúp các trang trại chăn nuôi tốt hơn, có hiệu quả hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh Nam Định”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn trang trại của tỉnh Nam Định

- Phát hiện thế mạnh và tồn tại trong chăn nuôi lợn ở các trang trại trên địa bàn tỉnh

- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tình hình chăn nuôi (các chỉ tiêu sinh sản, năng suất lợn thịt,…) cùng những phân tích hiệu quả kinh tế để đ−a ra những khuyến cáo hữu ích giúp chăn nuôi lợn trang trại phát triển nhanh, mạnh

1.3 ý nghĩa của đề tài

- Góp phần vẽ lên bức tranh sinh động về hiện trạng chăn nuôi lợn trang trại của tỉnh Nam Định

- Bổ sung t− liệu chăn nuôi lợn trang trại cho những nghiên cứu tiếp theo Đồng thời cung cấp cho chủ trang trại chăn nuôi lợn những thông tin hữu ích để chăn nuôi đạt hiệu quả hơn

Trang 11

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm về trang trại

Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều xác nhận những ngôn từ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với những biến đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trước kinh tế thị trường

“Trang trại ” hay “nông trại” (farm, farm house) theo tư liệu nước ngoài thì có thể hiểu là các khu đất rộng lớn ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự chỉ huy của một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân trong nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hóa và từng gắn liền với kinh tế thị trường [33]

ở Việt Nam, trang trại đ hình thành và phát triển nhanh trên nhiều vùng, miền của cả nước Sự hình thành và phát triển trang trại của nước ta trong những năm qua là nhờ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng mà mốc quan trọng có ý nghĩa hết sức to lớn là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tháng 4/1988

về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và sau đó là chính sách giao ruộng đất lâu dài cho nông dân Đó là cơ sở quan trọng cho trang trại mà chủ yếu là trang trại gia đình ra đời và phát triển ở nông thôn nước ta đ dần xuất hiện một hình thức tổ chức sản xuất mới, đó là các trang trại nông lâm nghiệp

Trong những năm gần đây, nước ta có nhiều cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đ quan tâm nghiên cứu vấn đề này Một trong những vấn đề được đề cập nhiều nhất là khái niệm trang trại

Trang 12

Theo tác giả Lê Trọng (2000)[54] trang trại là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một nhóm nhà kinh doanh

Theo tác giả Nguyễn Đình Hương (2000)[32] khi nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới cũng như thực tiễn về trang trại ở Việt Nam cho rằng: trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp,

có mục đích là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ, trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn liền với thị trường

2.1.2 Vai trò của trang trại

- Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới Ngày nay, trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nông nghiệp các nước ở nước ta, các trang trại nông, lâm nghiệp ra

đời đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Tạo ra những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, từng bước thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hóa nông thôn Góp phần phát triển sản xuất hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra những động lực mới cho sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế x hội của các vùng nông thôn

- Bên cạnh đó, trang trại còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất đặc biệt là hiệu quả sử dụng vốn, đất đai trong nông nghiệp và nông thôn Tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân Trang trại ra đời đ

đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút thêm lao động vào các hoạt

động sản xuất, từ đó tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân

Trang 13

- Trang trại góp phần hình thành một tầng lớp con người mới, những người chủ mới trong nông nghiệp và nông thôn, có đủ bản lĩnh và trình độ quản lý nền nông nghiệp nước ta phát triển trong điều kiện mới của đất nước 2.1.3 Tiêu chí để xác định trang trại chăn nuôi lợn

Theo thông tư liên tịch số 69 Bộ NN&PTNT - Tổng cục thống kê (2000)[7], xác định tiêu chí trang trại như sau:

- Về giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bình quân hàng năm: từ 40 triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung; đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên là từ 50 triệu đồng trở lên

- Về quy mô sản xuất: chăn nuôi lợn nái có thường xuyên 20 con trở lên và chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên 100 con trở lên

Nghị quyết 03 của Chính Phủ và Thông tư liên tịch số 69/2000/ TTLT/ BNN - TCTK về quy định tiêu chí trang trại nhằm thống kê xác định số lượng trang trại Có thể thấy cơ sở khoa học của tiêu chí cũng như con số chưa được làm rõ và đôi khi chưa phù hợp với các địa phương, chẳng hạn giữa quy mô diện tích và giá trị hàng hoá Vì vậy, thực tiễn tìm được một hệ thống tiêu chí hoàn thiện đảm bảo tính khoa học trong việc xác định loại trang trại là việc làm cần thiết để phù hợp hơn với từng vùng, từng địa phương và từng ngành nghề Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá và xây dựng chính sách

đối với trang trại Do đó, để thống nhất các tiêu chí một cách hoàn thiện hơn, ngày 20/05/2003 Chính phủ, Bộ NN&PTNT, TCTK đ thống nhất bổ sung tiêu chí trang trại cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được đòi hỏi của các ngành, các địa phương nhất là các chủ trang trại Tiêu chí định lượng được bổ sung để xác định trang trại: một hộ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, được xác định là trang trại chỉ cần đạt được một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân một năm, hoặc về quy mô sản xuất

Trang 14

của trang trại Như vậy, tiêu chí này được bổ sung sẽ là điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển

Từ tiêu chí chung của nhà nước, Nam Định căn cứ vào trình độ phát triển thực tế của tỉnh để có cơ sở đánh giá và định hướng quy mô sản xuất Nam Định lấy hai tiêu chí để xác định trang trại:

- Giá trị sản lượng hàng hoá trong năm trung bình 40 triệu đồng trở lên

- Quy mô: đối với chăn nuôi lợn thịt, có mặt thường xuyên từ 30 con trở lên (sản phẩm phải đạt 5 tấn thịt hơi/năm), chăn nuôi lợn sinh sản có thường xuyên 10 con trở lên (Sở NN&PTNT Nam Định, 2000)[55]

2.1.4 Đặc điểm của chăn nuôi lợn trang trại

- Đối với sản xuất của các trang trại chăn nuôi lợn trước hết là vật nuôi (lợn nái và lợn thịt), mọi biến động của khí hậu thời tiết, mọi hành động của con người và những tác động cơ, lý, hoá, sinh,…đều ảnh hưởng trực tiếp nhạy cảm đến đời sống của con vật Đó là những đặc điểm có thể lợi dụng nó để phát triển sản xuất

- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yêu cầu sản xuất (như quy mô đầu lợn, đất đai, giá trị sản lượng hàng hóa) của trang trại cao hơn hẳn nông hộ

- Cách thức tổ chức sản xuất: khác hẳn với chăn nuôi lợn của nông hộ theo phương thức tận dụng, phân tán, chăn nuôi lợn theo hình thức trang trại không những tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn cung cấp cho thị trường mà chủ trang trại còn biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có kiến thức quản lý, kinh nghiệm sản xuất

Đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn theo kiểu công nghiệp Điều

đó thể hiện ở phương án sản xuất hợp lý, lựa chọn được loại vật nuôi, áp dụng công nghệ và sự thiết kế hệ thống chuồng trại theo kiểu công nghiệp

- Sử dụng vốn trong chăn nuôi không mang tính thời vụ như trồng trọt nhưng

Trang 15

xây dựng trại chăn nuôi lớn cần phải có lượng vốn lớn đầu tư ban đầu để xây dựng chuồng trại, mua thức ăn Vì vậy, hình thành trang trại chăn nuôi lớn là điều kiện để chủ trang trại sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn Khác với nông hộ, chủ trang trại có thể huy động vốn từ ngân hàng, tập thể, cá nhân

- Phần lớn công việc trong chăn nuôi lợn có tính chất tĩnh tại nên

điều kiện cơ giới hoá trong chăn nuôi dễ dàng hơn trồng trọt Quy mô chăn nuôi không bị ràng buộc về diện tích chỉ phụ thuộc vào vốn, kỹ thuật,…dựa vào đặc điểm này mà chủ trang trại có thể bố trí công việc mang tính chất cố định hay có thể làm các công việc đan xen nhau để đem lại hiệu quả kinh tế

- Trong cơ chế thị trường, sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn phải

được qua chế biến, bảo quản, tiêu thụ qua các kênh rồi mới tới người tiêu dùng Do vậy, các chủ trang trại phải có mối liên hệ giữa các tác nhân trong ngành này để sản phẩm của mình được tiêu thụ nhanh hơn

- Cũng như các lĩnh vực khác, chăn nuôi lợn trang trại nhất thiết phải hạch toán kinh tế Có vậy chủ trang trại mới tính toán được giá thành sản phẩm, biết việc sản xuất có l.i hay không, có nên tiếp tục chăn nuôi hay không, nếu tiếp tục thì cần tránh những điều gì Thông qua việc hạch toán, chủ trang trại mới biết được các chi phí sản xuất, tìm ra khâu hợp lý, các tiềm năng chưa khai thác để có biện pháp khắc phục Mục đích cuối cùng của việc hạch toán nhằm hạ giá thành, tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản và khả năng cho

thịt của lợn

2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái

Trang 16

2.2.1.1 Nhân tố di truyền

Sự khác nhau về năng suất sinh sản của các giống lợn đ được công

bố bởi nhiều tác giả: Roberton (1959)[71], Self (1955)[73], Đặng Vũ Bình (1986)[4], (1993)[5], Nguyễn Quế Côi (1995)[9], Trần Quang Hân (1996)[31] Dựa vào năng suất sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn

được chia làm 4 nhóm chính (Legault, 1980[67], 1985[68]) Với mục đích

đa dụng, một vài dòng nguyên chủng các giống như Large White - Yorkshire, Landrace được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Landrace Bỉ, Hampshire và Polan - China có năng suất sinh sản trung bình nhưng năng suất thịt cao Các giống chuyên dụng “ dòng mẹ”, đặc biệt là giống lợn Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có năng suất sinh sản đặc biệt cao nhưng năng suất thịt kém Các “dòng bố” thường có năng suất sinh sản thấp hơn các giống đa dụng Ngoài ra, chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con Điều này được chứng minh là chúng có tỷ lệ lợn con chết trước lúc cai sữa cao hơn các giống đa dụng như Landrace, Large White (Blasco et al., 1985[61])

Lợn thuộc các giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng không giống nhau Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu vào lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống thành thục sớm (lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild et al.,1998[72] Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, đẻ nhiều con và chức năng làm mẹ tốt Tuổi thành thục của chúng sớm hơn khoảng 100 ngày, số con đẻ/lứa nhiều hơn 2,4 - 5,2 con so với lợn Large White (Despres et al., 1992[63])

Lai tạo cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Nhờ ưu thế lai

Trang 17

mà có thể cải thiện được năng suất sinh sản của lợn Các lợn nái lai thường

có tuổi thành thục về tính sớm hơn 11,3 ngày, tỷ lệ thụ thai cao hơn 2 - 4

%, số trứng rụng nhiều hơn 0,5 trứng, số con đẻ ra nhiều hơn 0,6 - 0,7 con/lứa, số con cai sữa nhiều hơn 0,8 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống cao hơn 5%, khối lượng lợn sơ sinh/lứa cao hơn 1kg, khối lượng 21 ngày tuổi/lứa cao hơn 4,2kg so với lợn thuần chủng (Gulsett et al., 1990[64])

Rất nhiều nghiên cứu khẳng định locus quyết định nhóm máu H (Ramusen, Hagen, 1973[70]), locus transferrin (Imlah, 1970[66]), gen tiếp nhận oestrogen (Short, 1997[75]), gen halothan gen gây tính nhạy cảm stress (Simon et al., 1997[76], Chang et al., 1999[70]) ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái

2.2.1.2 Nhân tố ngoại cảnh

Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức phối giống, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng,… là những nhân tố ngoại cảnh có

ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Lợn nái mang thai cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý để có kết quả sinh sản tốt Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ khi cai sữa tới lúc phối giống trở lại có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai (Zimmerman et al., 1996[59] Cho ăn mức năng lượng cao, đặc biệt là cho ăn đầy đủ trong vòng 7 - 10 ngày của chu kỳ động dục trước khi chịu đực sẽ đạt số trứng rụng tối đa Tuy nhiên, nếu tiếp tục cho ăn với mức năng lượng cao vào

đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi và giảm số lợn con sinh

ra trên một ổ (Diehl et al., 1996[20])

Những con lợn cái sinh ra trong mùa đông và mùa xuân thì động dục lần đầu tiên chậm hơn những lợn cái sinh ra trong mùa thu và mùa hè Phối giống trong mùa hè thì tỷ lệ chết phôi tăng 15 - 20% so với phối vào mùa đông (Mbicuk và cộng sự, 1984, trích từ Phan Xuân Hảo, 2001[28])

Trang 18

Trong phối giống trực tiếp, ảnh hưởng của con đực đến tỷ lệ thụ thai là rất

rõ rệt Dùng đực giống quá già để phối giống cho lợn nái sẽ làm giảm số con sinh ra trong một lứa đẻ Có thể tăng thêm tỷ lệ thụ thai và số con sinh

ra bằng cách sử dụng hơn một con đực cho một lợn nái (Diehl et al., 1996[20])

Nuôi nhốt hoàn toàn lợn cái hậu bị sẽ gây trở ngại cho việc phối giống, chủ yếu là lợn cái không động dục Khắc phục vấn đề này bằng cách không nhốt kín lợn cái hậu bị mà thả chúng ra ngoài trước kỳ phối giống (Zimmerman et al., 1996[59] Việc nuôi nhốt riêng biệt từng cá thể lợn cái hậu bị sẽ làm cho chúng chậm thành thục hơn so với những lợn cái hậu bị được nuôi theo nhóm

Hughes et al., (1980)[65] nhận định rằng mặc dù cai sữa 8 tuần tuổi

là tốt cho cả mẹ và con, nhưng nó sẽ giới hạn 1,8 - 2 lứa đẻ/nái/năm Cai sữa 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5 lứa/nái/năm

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn 2.2.2.1 Nhân tố di truyền

Theo góc độ khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu đến nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì thế

mà hầu hết các đàn lợn thương phẩm của các nước là lợn lai Con lai cho

ưu thế lai cao hơn bố mẹ 10% về tăng trọng và thu nhận thức ăn hàng ngày (Sellier, 1998[74]) Tạp giao 2, 3 máu giữa các giống lợn ỉ, Móng Cái, Lang Hồng với các giống lợn ngoại có năng suất cao và các giống lợn ngoại với nhau đ được nghiên cứu, ứng dụng và đang góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất và cải biến phẩm chất thịt lợn ở nước

ta (Đặng Vũ Bình, 1977[3], Trần Nhơn, Võ Trọng Hốt (1980)[42]

Khả năng sinh trưởng của lợn cũng bị chi phối bởi một số gen như

Trang 19

gen halothan, gen Rendemen Napoli (Le Roy et al., 1996[69] Lợn có phản ứng halothan dương tính cho thân thịt nạc hơn so với lợn phản ứng halothan âm tính, tuy nhiên pH của thịt giảm nhanh sau khi giết mổ làm cho thịt lợn nhợt, mềm, rỉ nước (pale, soft, excudative - PSE) Trong một

số trường hợp lợn bị hội trứng stress không gây trạng thái thịt PSE mà thịt lại bị thẫm, chắc và khô (dark, firm, dry - DFD) Thịt DFD cũng biểu hiện không mong đợi vì thịt dễ bị thối hỏng do pH cao Thịt DFD có màu thẫm, rắn chắc và khô hoàn toàn trái ngược với thịt PSE nhưng cũng không hấp dẫn vì khách hàng có thể cho rằng màu đỏ thẫm là dấu hiệu của thịt lợn già loại thải, thịt không tươi hoặc bị mất nước trong khi bảo quản (Sebranek et al.,1996[47]

2.2.2.2 Những nhân tố ngoại cảnh chủ yếu

Dinh dưỡng là nhân tố quan trọng nhất trong số các nhân tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn Thức ăn chiếm 55 - 70% giá thành trong chăn nuôi lợn Để sử dụng thức ăn tốt nhất, cần thiết phải cho lợn

ăn khẩu phần ăn cân đối căn cứ theo các mục tiêu chăn nuôi nhất định (William Luce, Gilber Hollis, Dolald Mahan, Elwgin Miller,1996[60])

Mối quan hệ giữa năng lượng và protein là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng trọng, tỷ lệ nạc, mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt Bổ sung các axit amin giới hạn vào khẩu phần làm cho lợn tăng trọng nhanh, tiết kiệm thức ăn và protein Đưa lysin vào khẩu phần nâng cao được hàm lượng nạc, giảm lượng mỡ trong thân thịt, tăng diện tích cơ dài lưng Sinh trưởng của lợn khi cho ăn khẩu phần giảm protein có bổ sung lysin về cơ bản giống như cho ăn khẩu phần có hàm lượng protein bình thường (Tanksley, Beker, Lewis, 1996[48] Tốc độ tăng trọng, phẩm chất thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các vitamin với nhau, giữa vitamin với protein và khoáng Bổ sung các nguyên tố vi lượng

Trang 20

Co, Cu, I, Zn nâng cao hàm lượng mỡ trong thịt nạc, bổ xung vitamin B2,

B3, B12, làm giảm lượng mỡ William Luce et al., (1996)[58] khuyến cáo, phải kiểm tra chắc chắn thành phần của premix khi sử dụng, điều chỉnh khi cần thiết Premix vitamin và khoáng không nên để lâu quá 3 tháng vì vitamin mất hiệu lực, đặc biệt khi trộn với các khoáng vi lượng và phải bảo quản premix ở nơi khô mát

Sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô mỡ lợn chủ yếu xảy

ra trước giai đoạn 4 tháng tuổi Dựa vào các quy luật sinh trưởng tích luỹ chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn, người ta đề ra 3 phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian nuôi ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn phương thức nuôi lấy thịt mỡ

Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hoặc cao hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho phép đều là yếu tố bất lợi đối với sinh trưởng của lợn thịt Che tối chuồng nuôi trong giai đoạn vỗ béo hoặc sử dụng các loại thuốc an thần nhằm hạn chế hoạt động, tăng cường nghỉ ngơi có lợi cho sự tích luỹ chất dinh dưỡng cũng

là các biện pháp kỹ thuật thường được ứng dụng trong chăn nuôi lợn thịt Kháng sinh và thức ăn bổ sung sử dụng có hiệu quả đối với lợn con và lợn choai còn lợn vỗ béo thì hiệu quả ít hơn (William Luce, Gilber Hollis, Donald Mahan, Elwgin Miler (1996)[60] Mặc dù chúng có hiệu quả như đ đề cập, nhưng kháng sinh và một số hoá dược phẩm cần được loại bỏ trước khi giết thịt nhằm đảm bảo không có dư lượng trong thịt xẻ (Gary Crornwell, Leroy Biehl, James McKcan, Kenneth Meyer, Robert Wilcox, 1996[23])

Các nhân tố stress ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn bao gồm: thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu xấu, cho ăn không theo khẩu phần, chăm sóc nuôi dưỡng kém, cân gia súc, vận chuyển, bắt lấy máu, thiến hoạn, phân đàn, chuyển đổi chỗ, thay đổi khẩu phần đột ngột, bỏ đói, cho uống nước lạnh

Trang 21

2.3 Một số vấn đề kỹ thuật và quản lý trong sản xuất và chăn nuôi lợn nái và

lợn thịt

Có nhiều chỉ tiêu sinh học đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái, nhưng các nhà di truyền chọn giống lợn chỉ quan tâm tới một số tính trạng năng suất sinh sản nhất định

Legault (1980)[67] cho rằng: trong các trại nuôi lợn hiện đại, số kg lợn con cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa đẻ thứ nhất đến lứa đẻ cuối cùng) Cũng theo tác giả, tầm quan trọng tương đối của các thành phần cấu thành chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm lần lượt là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh tới cai sữa, thời gian từ cai sữa lứa đẻ cuối cùng tới lúc loại thải, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa tới thụ thai lứa sau Các thảo luận của Bolet et al., (1982)[62], Van der Steen (1983)[77] về việc đánh giá tổng quan sức sinh sản lợn nái đ tán thành quan điểm của Legault (1985)[68]

Van der Steen (1983)[77], (1986)[78] cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: tuổi động dục đầu tiên, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra trên một ổ và thời gian cai sữa tới động dục trở lại

Tiêu chuẩn nhà nước về chọn giống (1977)[50], (1981)[51] đ đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái sinh sản nuôi tại các cơ sở chăn nuôi lợn giống nhà nước là: số con đẻ ra còn sống, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi, khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách giữa hai lứa đẻ

đối với những nái đẻ lứa 2 trở lên

Trong công tác quản lý chăn nuôi lợn nái ở Mỹ và các nước chăn nuôi phát triển, người ta xây dựng một hệ thống chỉ tiêu rất cụ thể để đánh giá và công thức tính toán thống nhất cho các chỉ tiêu Các chỉ tiêu được người ta xây dựng để đánh giá khả năng sinh sản bao gồm: tỷ lệ lợn cái hậu bị động dục 7

Trang 22

tháng tuổi, tỷ lệ lợn nái động dục trong vòng 7 ngày sau cai sữa, tỷ lệ thay nái hàng năm, tỷ lệ có thai của đàn nái, tỷ lệ đẻ con, số lợn con chết sau khi sinh/lứa, khối lượng trung bình lúc sơ sinh, số con cai sữa/lứa, tỷ lệ lợn con cai sữa, tỷ lệ chết ở đàn lợn sinh sản, số lợn con cai sữa/nái/năm, số lứa

đẻ/nái/năm,…(Vemon, Mayrose, Kenneth Foster, Goerge Libal, Kenneth Esbenshad, 1996[56])

Đối với lợn thịt, khối lượng ở các tháng tuổi chính là độ sinh trưởng tích luỹ mà đường cong sinh trưởng lý thuyết có dạng chữ S, thoai thoải khi lợn còn nhỏ, dốc dựng hơn ở giai đoạn sinh trưởng nhanh rồi thoải dần tiến tới nằm ngang không tăng nữa ứng với giai đoạn con vật đ thành thục về thể vóc

Tăng trọng bình quân trong một tháng hoặc một ngày của gia súc chính

là độ sinh trưởng tuyệt đối, đường cong biểu diễn có dạng hình chuông tăng dần để đạt giá trị cực đại sau đó giảm dần, người ta thường chấm dứt thời kỳ

vỗ béo cuối cùng của gia súc khi đường cong sinh trưởng bắt đầu đi xuống

Độ sinh trưởng tương đối với đường cong sinh trưởng lý thuyết có dạng

đường tiệm cận hypepol, hệ số sinh trưởng cũng là các chỉ tiêu giúp cho việc

đánh giá sinh trưởng phát dục của lợn

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng suất chăn nuôi Để theo dõi tiêu tốn thức ăn người ta phải nuôi riêng từng con

và tốt nhất là cho ăn tự do Ngoài ra, các chỉ tiêu: thời gian nuôi để đạt một khối lượng giết thịt nhất định, tổng số thức ăn chi phí cho một đời lợn,… cũng

là những chỉ tiêu quan trọng mà thực tế sản xuất đòi hỏi

Đánh giá chất lượng thân thịt là phần quan trọng để xác định sự thành công của nuôi lợn ở Mỹ và các nước chăn nuôi tiên tiến người ta xác định các chỉ tiêu thân thịt nóng, độ dày mỡ lưng (tính cả da) tại vị trí xương sườn số 10, diện tích cơ thăn (Loin Muscle Area - LMA), cho điểm thân thịt theo 3 cấp (dày, mỏng, trung bình), ước tính tỷ lệ nạc qua hệ thống phương trình hồi quy

Trang 23

và cuối cùng là các đặc điểm về chất lượng như màu sắc, độ cứng và chứa nước,

độ hoa vân (mỡ trong các bó cơ) của thịt Tất cả các chỉ tiêu kể trên cần phải

được kết hợp với những tính trạng theo dõi bằng mắt Đối với những thân thịt tốt, chỉ tiêu tăng trọng thịt nạc (có chứa 5% mỡ)/ngày qua các phương trình hồi quy được thiết lập sẽ được bổ xung để đánh giá (Robert G Kauffman, Richard

Chăn nuôi lợn trang trại có 3 phương thức chủ yếu: trang trại chuyên nuôi lợn nái, trang trại chuyên nuôi lợn thịt và trang trại chăn nuôi lợn nái kết hợp sản xuất lợn thịt

Trang 24

Kinh nghiệm một số nước muốn cải thiện di truyền các giống vật nuôi

mà không quản lý được đàn giống, không có số liệu kỹ thuật không thể nào cải thiện được chất lượng di truyền trong quần thể từ thế hệ này sang thế hệ khác Khái niệm giống ở đây có nghĩa là giống để nhân giống và giống cho sản xuất thương phẩm Giống cho nhân giống cần phải quản lý trong một hệ thống giống chung của toàn quốc, phân theo vùng để có thể kiểm soát được tiến bộ di truyền của từng tính trạng sản xuất nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đàn giống Đây là trách nhiệm chỉ đạo của nhà nước và cũng là trách nhiệm của các bộ kỹ thuật chuyên ngành trong hệ thống quản lý và nghiên cứu về chăn nuôi Bên cạnh công tác giống, quá trình chăn nuôi và kiểm tra vệ sinh thú y phải là quá trình khép kín từ “trang trại đến bàn ăn”, (Bùi Quang Anh (2003)[2]) Mặc dù chăn nuôi lợn của nước ta có những tiến

bộ đáng kể như chúng tôi đ đề cập ở trên song hiện tại năng suất chăn nuôi lợn vẫn rất thấp, chủ yếu là do chất lượng con giống và bên cạnh đó, đa số người chăn nuôi (60%) không quan tâm đến thị trường (Hoàng Kim Giao, 2003[25]) Theo Lê Viết Ly (2003)[40], đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá Sự phát triển bao giờ cũng mang lại vận may và rủi ro cho các bộ phận cộng đồng Do đó, chăn nuôi lợn quy mô nhỏ rất có thể rơi vào tình trạng bất lợi Nhất là hiện nay, khi ta đang đối mặt với khu vực hoá, toàn cầu hoá thì sự bất lợi này sẽ nhân lên nếu như nhà nước thiếu một chính sách hợp

lý, người chăn nuôi thiếu kiến thức để tiếp cận khoa học và thị trường cho việc xây dựng một hệ thống chăn nuôi lợn thích hợp trong hệ thống nông nghiệp bền vững (Lê Viết Ly, Bùi Văn Chính, 1996[39])

Với giả định là chăn nuôi đóng một vai trò chính trong chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam, dựa trên lập luận rằng đa dạng hoá nông nghiệp được xem như một thành tố chính trong sự phát triển nông thôn Việt Nam Trong một nghiên cứu từ 1999 - 2001 của Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực quốc tế (IFPRI), Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp của chính

Trang 25

phủ Đan Mạch (ASPS - DANIDA), Trung tâm Thông tin Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đ công bố một thực tế chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn như sau [57]:

Công tác giống:

+ Tình hình cải tiến nguồn gen chung còn chậm Thiếu một tổ chức tổng thể chịu trách nhiệm về việc điều phối sản xuất bao gồm điều phối các trung tâm giống (cả của nhà nước và tư nhân) ở các cấp khác nhau (trung

ương, tỉnh, huyện)

+ Chất lượng đàn giống biến động rất lớn giữa các trung tâm Người sản xuất không thể dựa vào hệ thống thanh tra chất lượng giống Nông dân sản xuất nhỏ cần các giống cải tiến không được đáp ứng một cách thoả đáng

+ Các trung tâm giống dường như chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của nông dân sản xuất hàng hoá, chuyên môn sản xuất giống ngoại hoặc giống có tỷ lệ máu ngoại rất cao mà chỉ một tỷ lệ nhỏ người sản xuất có nhu cầu

+ Các trung tâm giống hiện nay tham gia vào cả công tác giống và các hoạt động thương mại Họ thường bán đàn giống chất lượng cao như đàn thương phẩm

+ Mặc dù được bao cấp, nhiều trung tâm hoạt động vẫn bị thua lỗ + Các trung tâm giống tư nhân và nước ngoài đang nổi lên

+ Có quá ít trung tâm thụ tinh nhân tạo, các trung tâm này không

được cung cấp đầy đủ nguồn lực

+ Theo luật, bất cứ tổ chức nào cũng có thể nhập khẩu đàn giống (phải đáp ứng một số yêu cầu kỹ thuật nhất định)

Thức ăn và dinh dưỡng:

+ Giá thức ăn cao, thuế nhập khẩu vừa phải Nhập khẩu nhiều thức

ăn giàu đạm và nguyên liệu thức ăn Thiếu vắng thanh tra chất lượng

Trang 26

+ Có tính kinh tế trên quy mô ở trong ngành

+ Đầu tư thức ăn công nghiệp tăng trưởng nhanh

+ Năng suất của các nguyên liệu thô thấp

Sức khoẻ gia súc và dịch vụ thú y:

+ Thiếu thông tin về dịch bệnh gia súc

+ Tỷ lệ tiêm phòng thấp, tỷ lệ gia súc chết cao Hiệu lực của vacxin, thuốc và hiệu quả điều trị thấp

+ Mức độ đào tạo của cán bộ thú y x thấp

+ Hệ thống thanh tra dịch bệnh gia súc, cơ sở chế biến và bảo quản thịt ở các khu chợ yếu

- Hệ thống giống lợn hình thành từ những năm 1960 nhưng vẫn là mô hình hành chính bao cấp, chưa phát huy mô hình giống kỹ thuật hình tháp

Trang 27

và chưa xây dựng được chương trình cải tiến chất lượng giống lợn cụ thể cho từng vùng, từng địa phương

- Chăn nuôi lợn của Việt Nam vẫn chưa vượt qua được nền kinh tế

tự cung tự cấp, chưa đầu tư để trở thành chăn nuôi hàng hóa, sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tiêu thụ nội địa Do năng suất vật nuôi thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu nên nhiều nước trong khu vực có nhu cầu nhập khẩu thịt lợn rất lớn (Nhật, Hồng Kông,…) nhưng sản phẩm thịt lợn của ta chưa đủ sức hoà nhập và cạnh tranh đảm bảo xuất khẩu có hiệu quả

- Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi lợn của người chăn nuôi thấp Trình độ chăn nuôi lợn của người dân trong nước còn chênh lệch nhau rất nhiều, năng suất chăn nuôi lợn ở các vùng cũng khác nhau lớn

- Tổ chức sản xuất và quản lý trong chăn nuôi còn yếu Quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới, chưa hình thành Hiệp hội chăn nuôi khép kín từ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Việc nắm bắt tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước còn chậm Do đó, người chăn nuôi chịu nhiều rủi ro trong việc mở rộng quy mô và tiêu thụ sản phẩm (Cục Khuyến nông và Khuyến lâm,

Bộ NN&PTNT, 2000 [11])

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.4.1 Chăn nuôi lợn trang trại trên thế giới

Chăn nuôi lợn là nghề phổ biến của hầu hết các nước trên thế giới với mục đích chính là sản xuất ra thịt, ngoài ra còn tạo ra nhiều sản phẩm phụ

có ý nghĩa kinh tế cao, đó là: phân bón cho cây trồng, da, lông cho công nghiệp hàng tiêu dùng, sản phẩm phụ của quá trình chế biến thịt phục vụ trở lại cho chăn nuôi Các nước nhập khẩu nhiều thịt lợn nhất là Đức, ý, Nhật, Pháp, Anh và Mỹ Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ, Canada, Đài Loan là những nước xuất khẩu nhiều thịt lợn nhất

Trang 28

Trên thế giới, kinh tế trang trại hình thành và phát triển cách đây hơn hai thế kỷ và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia Song tuỳ vào điều kiện và đặc điểm của từng nước mà số lượng cũng như quy mô của các trang trại có sự khác nhau

ở Nhật Bản, năm 1950 có 6.176.000 trang trại, năm 1993 là 3.691.000 trang trại, giảm bình quân hàng năm là 1,2% Trong khi đó, diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha, đến năm 1993 là 1,38 ha Tốc độ tăng diện tích bình quân hàng năm là 1,3 ha ở Đài Loan, năm 1955 có 744.000 trang trại, năm 1988 có 739.000 trang trại, giảm bình quân 0,02%/ năm Diện tích trang trại bình quân năm 1955 là 1,12 ha, năm 1988 là 1,21 ha Diện tích trang trại ở Nhật Bản và Đài Loan tuy có tăng nhưng chậm Bên cạnh đó, quy mô chăn nuôi của các trang trại ở Nhật Bản về số lượng và quy mô có nhiều biến động từ chăn nuôi lợn, đến bò sữa và gia cầm

Từ năm 1950 - 1970 số trang trại chăn nuôi giảm từ 600.000 xuống 445.000 cơ sở, nhưng quy mô bình quân lại tăng từ 1,4 con lợn đến 14,3 con lợn Số trang trại chăn nuôi quy mô lớn ngày càng phát triển như trại lợn Adattku nuôi 10.000 con, trại gà Coda nuôi 100.000 con [10]

ở Đài Loan, trang trại chăn nuôi lợn phát triển theo hướng giảm số trang trại chăn nuôi từ 344.832 xuống 140.452 cơ sở và tăng số đàn lợn từ 2,8 triệu con lên 4,8 triệu con, giảm số trại dưới 100 con xuống và tăng số trại quy mô từ 100 con đến 5.000 con lên

Trang trại gia đình được coi là phổ biến nhất trong tất cả các nước Châu á, do quy mô nhỏ nên hình thức phổ biến là do một hộ gia đình quản lý sản xuất Các phương thức điều hành sản xuất kinh doanh có sự khác biệt cơ bản Các trang trại gia đình, chủ trang trại hầu hết là nông dân sống ở nông thôn Họ là những người trực tiếp điều hành cũng như trực tiếp sản xuất Chủ

Trang 29

trang trại sống ở nơi khác nhưng vẫn điều hành trang trại chủ yếu xuất hiện ở những nước công nghiệp phát triển Chủ trang trại sống ở thành phố có trang trại ở nông thôn và thuê người quản lý điều hành mọi hoạt động của trang trại,

ở Mỹ 40% số trang trại thuê người quản lý

Vốn của các trang trại thường bao gồm vốn tự có và vốn huy động từ các nguồn ngoài trang trại Ngoài vốn tự có, các trang trại gia đình còn sử dụng vốn vay của ngân hàng, tiền mua chịu các loại vật tư kỹ thuật của các cửa hàng và công ty dịch vụ Nhìn chung để mở rộng sản xuất kinh doanh, các trang trại ngày càng có xu hướng sử dụng nhiều nguồn vay từ bên ngoài ở

Mỹ năm 1985 tổng số vốn vay là 88,4 tỷ đồng ở Nhật Bản năm 1970, nhà nước đ có khoản đầu tư lớn cho nông nghiệp Nhà nước còn trợ cấp cho các trang trại 1/3 - 1/2 giá bán các loại máy nông nghiệp mà nhà nước cần khuyến khích Các trang trại diện tích trên 100 ha ở Mỹ chỉ sử dụng 2 lao động chính

và từ 1 - 2 lao động làm thuê theo thời vụ Nhật Bản năm 1990 mỗi trang trại khoảng 3 lao động, nhưng chỉ có 1,3 lao động làm nông nghiệp [33]

Trang trại thuần nông nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Loại trang trại này ở các nuớc công nghịêp phát triển ngày càng giảm, năm 1980 ở Pháp còn 71%, ở các nước châu á như Nhật Bản năm 1985 chỉ còn 15% trong tổng số trang trại

Trang trại có thu nhập thêm từ ngoài trang trại ở các nước ngày càng phát triển như ở Pháp năm 1980 chiếm 29%, Hà Lan chiếm 71% (năm 1985)

ở Đài Loan hiện nay có 91% trang trại có thu nhập ngoài nông nghiệp Trên toàn l.nh thổ thu nhập của các trang trại từ nông nghiệp là 41%, phi nông nghiệp là 59%

Trang 30

Chăn nuôi qui mô lớn, giống là yếu tố tiền đề quyết định thành bại của trang trại Một số giống cao sản được nuôi phổ biến trên thế giới là:

- Lợn địa phương mắn để: nổi tiếng là lợn Taihu (một giống lợn địa phương gần hồ Taihu, thuộc hạ lưu sông Trường Giang, Trung Quốc) Chúng gồm 4 dòng: Meishan (MS), Fengjing (FJ), Jiaxing đen (JXB), Erhualian (EHL) Tuổi thành thục của lợn Taihu là 3 tháng, thấp hơn các giống lợn Châu

âu từ 3 - 4 tháng, lợn thường có 16 - 18 vú Lứa cao đẻ được 42 lợn con còn sống Có lợn nái 9 lứa liên tiếp, đạt trung bình 22,2 lợn con còn sống/lứa Lợn Taihu hiện đang được sử dụng ở nhiều nước Đông Âu và Tây Âu để làm nguyên liệu lai tạo đàn lợn nái có khả năng sinh sản cao [8]

- Một số giống lợn cao sản :

+ Lợn Yorkshire: được chọn lọc và nhân giống tại vùng Yorkshire nước Anh từ thế kỷ 19 Hiện nay, lợn Yorkshire được nuôi ở hầu hết các nước trên thế giới với khả năng thích nghi tốt Chúng có chất lượng thịt tốt khả năng chống chịu với stress cao Khối lượng trưởng thành con đực khoảng 300 - 400

kg, con cái khoảng 230 - 300 kg

+ Lợn Landrace: xuất xứ từ Đan Mạch, là giống có tỷ lệ nạc cao, đẻ sai con, thích nghi kém hơn lợn Yorkshire trong điều kiện nóng ẩm

+ Lợn Duroc: xuất xứ từ Bắc Mỹ, màu nâu sẫm hoặc nâu nhạt, mông vai nở tỷ lệ nạc cao

+ Lợn Pietrain: xuất xứ từ Bỉ Lông da màu trắng đen xen lẫn từng

đám Lợn có tỷ lệ nạc cao song khả năng chống chịu stress kém Người ta thường dùng lợn Pietrain làm “đực cuối cùng” trong lai thương phẩm để nâng cao tỷ lệ thịt đùi và tỷ lệ nạc

+ Lợn Hampshire: xuất xứ ở Bắc Mỹ từ thế kỷ 19, có màu lông da đen, vùng ngực và chân trước có màu lông da trắng Lợn Hampshire thường được lai

Trang 31

với lợn Yorkshire, Landrace, Duroc để tạo ra đực lai hai máu, sau đó lai với nái lai để tạo ra con lai 4 máu nuôi thịt đạt hiệu quả cao

Các chương trình cải tiến, năng suất, chất lượng lợn giống trên thế giới hiện nay đều thực hiện qua biện pháp: chọn lọc đàn lợn giống thuần và lai giống để tận dụng tối đa ưu thế lai, chương trình được áp dụng theo mô hình nhân giống lợn hình tháp Về hệ thống nhân giống 3 hoặc 4 cấp hay hơn nữa tuỳ thuộc vào số giống thuần tham gia tạo ra giống thương phẩm, nếu giống thương phẩm tạo ra 3 - 4 máu từ hệ thống lai này là 3 hoặc 4 cấp Nếu giống thương phẩm 5 giống thuần hoặc hơn tham gia trong công thức lai hệ thống này được hiểu cấp ông bà đ có con lai theo tỷ lệ khác nhau Chính vì thế cần hiểu hệ thống hình tháp này theo một cơ chế mềm, không cứng nhắc Giống ngày nay được hiểu theo một nguyên tắc chung là thành tích của nó do sự

đóng góp di truyền của 2 phía bố mẹ, có nghĩa là giống dòng bố, giống dòng

mẹ và được định hướng chọn lọc theo tính năng sản xuất của từng dòng nhằm

đáp ứng nhu cầu năng suất và chất lượng sản phẩm Lợn nái lai được nhân ra

từ hai giống lợn thuần sẽ cho năng suất sinh sản cao hơn năng suất trung bình của bố mẹ chúng từ 15 - 20% (ưu thế lai về khả năng sinh sản là từ 15 - 20%) Lợn thịt là lợn lai thương phẩm tạo ra từ đàn nái lai phối với đực thuần hoặc từ nái lai phối với đực lai cho năng suất chất lượng cao ở khâu cụ kỵ đỉnh chóp GGP chọn lọc với cường độ cao các tính trạng có ý nghĩa về giá trị di truyền

và giá trị kinh tế sẽ tạo được đàn con thay thế tốt hơn Sau đó các lợn thuần này được lai với nhau ở đàn nhân giống (GP) để sản xuất ra lợn cái hậu bị Hybrid (lai định hướng) Dùng lợn nái này phối với đực thuần hoặc đực lai để tạo ra đàn lợn thịt thương phẩm

2.4.2 Chăn nuôi lợn trang trại ở Việt Nam

Đến hết năm 2003, cả nước có 4.764 trang trại chăn nuôi lợn Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng là vùng đang có tốc độ phát triển mạnh với 1.254

Trang 32

trang trại, đứng thứ hai cả nước sau vùng Đông Nam bộ (2.268 trang trại) nhưng lại có số lượng lớn nhất, chiếm 25,67% tổng đàn lợn cả nước [52] Số trang trại chăn nuôi tập trung ở các tỉnh phía Nam khoảng 65% (chủ yếu ở miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long) ở các tỉnh phía Bắc, các trang trại chăn nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh gần thị trường Hà Nội, Hải Phòng

Quy mô chăn nuôi trang trại ở các tỉnh phía Nam cao hơn gấp 5 - 10 lần

so với quy mô chăn nuôi các tỉnh phía Bắc Phía Nam có những hộ chăn nuôi tư nhân nuôi trên 2.000 lợn nái (Công ty Thanh Bình, Hố Nai, Đồng Nai) Trại lợn nái tư nhân ở phía Bắc chỉ có trại quy mô lớn nhất là 400 nái (trại lợn của

ông Hoàng Liễn ở Vũ Thư, Thái Bình)

Như vậy, có thể thấy số lượng cũng như quy mô của trang trại chăn nuôi lợn là rất lớn, song những con số trên chưa có một tiêu chí nào xác định một cách rõ ràng Do vậy, để các trang trại chăn nuôi lợn phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của các địa phương, có tư cách pháp nhân, được Nhà nước bảo hộ theo luật định

Sau hai năm thực hiện Nghị quyết 03/2000/CP của Thủ tướng Chính phủ (2000 - 2001), kinh tế trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta đ có bước phát triển mới về quy mô đầu con, cũng như chất lượng đàn giống so với trước đây

áp dụng các tiêu chí theo thông tư 69 của liên Bộ NN&PTNT - Tổng cục Thống kê, cuối năm 2003 cả nước có 548 trang trại chăn nuôi lợn và được phân bổ theo quy mô như sau [33]:

+ 403 trang trại có số đầu lợn từ 100 - 200 con + 82 trang trại có số đầu lợn từ 201 - 300 con + 44 trang trại có số đầu lợn từ 301 - 500 con + 19 trang trại có số đầu lợn trên 500 con

Trong số các trang trại chăn nuôi lợn, có những trang trại chăn nuôi quy mô lớn như trại lợn 400 nái của ông Hoàng Liễn ở Vũ Thư - Thái Bình, trại

Trang 33

lợn 120 nái của chị Đinh Thị Vân ở Sóc Sơn - Hà Nội Nhiều trại lợn đ có kinh nghiệm tổ chức chăn nuôi có hiệu quả như trang trại của anh Ngô Đức Thịnh ở Hải Hậu - Nam Định, trang trại chị Bùi Hường Bích ở Đan Phượng -

Hà Tây (Cục Khuyến nông - Khuyến lâm 2006)

Việt Nam là nước có tổng đàn lợn tương đối lớn Theo số liệu của Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, năm 2006 Việt Nam có 26,9 triệu con lợn, đứng thứ 7 trên thế giới (sau Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đức, Tây Ban Nha và Ba Lan)

và đứng thứ 2 ở châu á Thái Bình Dương Tổng đàn lợn tăng 4,8%/năm, tổng

đàn nái tăng 6,0%/năm, tổng sản lượng thịt hơi tăng 6,5% Tuy nhiên, so với tốc độ phát triển chăn nuôi lợn của các nước hiện nay thì năng suất và chất lượng đàn lợn Việt Nam còn rất thấp, chỉ bằng 45% - 50% của các nước chăn nuôi tiên tiến và thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực

Quy mô đàn lợn cao nhất được nuôi tập trung trong các trang trại ở

Đông Nam bộ ở vùng này có nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn để cung cấp thịt lợn cho thị trường TPHCM Lợn lai được nuôi ở tất cả các vùng (ngoại trừ vùng Đông Bắc và vùng Bắc Trung bộ, nơi các giống lợn địa phương còn nuôi phổ biến hơn), vùng Đông Nam bộ và vùng ĐBSCL nơi giống lợn ngoại

được nuôi phổ biến

Về đất đai, nguồn đất hình thành trang trại đa dạng, song chủ yếu từ hai nguồn (70% là đất được giao theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, 30% là đất thuê, đất đấu thầu) Trong diện tích đất chưa sử dụng được giao có 32% đất nhận thầu của x., 18% đất chủ trang trại tự khai hoang và 50% đất nhận chuyển nhượng và thuê dài hạn Điều đó cho thấy, nguồn đất của các trang trại chăn nuôi đang sử dụng về cơ bản là hợp pháp, được hình thành trên cơ sở vận dụng các “quyền” theo quy định của Luật đất đai hiện hành và không có tranh chấp

Trang 34

Để mở rộng sản xuất hàng hóa, cùng với đất đai các chủ trang trại chăn nuôi đang sử dụng 7.231 lao động các loại, trong đó có 3.965 lao động gia

đình (chiếm 54,84%) và 3.266 lao động thuê ngoài (chiếm 45,16%)

Bình quân một trang trại chăn nuôi sử dụng 4,11% lao động, trong đó có lao động thuê ngoài, đặc biệt đối với trang trại chăn nuôi lợn lao động gia đình chiếm 82% trong tổng số lao động chăn nuôi, chủ yếu làm các công việc quản

lý, điều hành và chuyên môn kỹ thuật, chăm sóc Lao động thuê mướn chủ yếu là lao động thủ công theo thời vụ Tuy nhiên, trong số lao động thuê ngoài cũng có một số lao động kỹ thuật có trình độ cao như bác sĩ thú y ở các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn Do yêu cầu của sản xuất hàng hoá quy mô lớn, chất lượng cao nên lao động trong các trang trại vừa tăng nhanh

về số lượng, vừa chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng lao động kỹ thuật và chuyên môn cao, giảm dần tỷ trọng lao động phổ thông Theo hướng

đó, trang trại chăn nuôi vừa thu hút lao động dư thừa ở nông thôn vừa góp phần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lao động gia đình

Tổng số vốn đầu tư của các trang trại chăn nuôi năm 2001 là 415.647 triệu đồng, bình quân một trang trại chăn nuôi là 266,14 triệu đồng Điều đáng chú ý là nguồn vốn tự có của chủ trang trại chiếm 86,71%, vay ngân hàng là 13,89% Mục đích thông dụng nhất đối với vay tín dụng của 47,59% số chủ trang trại vay để mua thức ăn gia súc và nguyên liệu thô làm thức ăn gia súc hay mở rộng quy mô sản xuất [57]

Thực tế cho thấy, các chủ trang trại đ phát huy nội lực, khai thác nguồn vốn của gia đình đầu tư phát triển và mở rộng hàng hoá Những vùng có quy mô sản xuất hàng hóa lớn thường cần một lượng vốn đầu tư lớn (như ĐBSH 296,63 triệu đồng/trang trại, Tây Nguyên 208,94 triệu đồng, thấp nhất là Bắc Trung bộ 90,26% triệu đồng)

Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại chăn nuôi khá cao Năm 2001 tổng thu bình quân của trang trại chăn nuôi đạt 266,14 triệu

Trang 35

đồng, trong đó giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đạt 257,15 triệu đồng, thu nhập bình quân một trang trại chăn nuôi đạt 45,64 triệu đồng Vùng có thu nhập cao nhất là Đông Nam bộ (50,51 triệu đồng) do chủ yếu là trang trại chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi lợn và bò, đồng bằng sông Hồng đạt 48,71 triệu

đồng (với số lợn bình quân một trang trại là cao nhất 94,67 con), vùng có thu nhập trung bình là ĐBSCL (35,46 triệu đồng) [57]

Ngoài các trại giống nhà nước còn có các trại giống lợn tư nhân nuôi lợn nái và lợn thịt với quy mô từ vài chục, vài trăm đến hàng nghìn con Bên cạnh

đó, còn có các trại giống của các công ty nước ngoài như: công ty France Hybrids nuôi 600 nái ông bà sản xuất nái nái lai SM, đực bố mẹ SP, công ty Chiashin (Đài Loan) nuôi 2.000 nái ông bà, sản xuất 200.000 lợn thịt/năm[33]

ở nước ta, tập đoàn lợn hiện nay cũng rất phong phú, phổ biến ở Miền Bắc còn hai giống Móng Cái và ỉ là những giống nền Giống Móng Cái do sinh sản tốt nên đang lan rộng trong toàn quốc, trong lúc lợn ỉ do sức sinh sản thấp tỷ lệ mỡ cao nên đang bị thu hẹp ở miền núi cao có lợn Mèo, lợn Mường Khương, miền Trung có lợn Ma Ní Các tỉnh phía Nam nuôi nhiều lợn nái lai sinh sản, trong đó nổi tiếng là lợn Thuộc Nhiêu và lợn Ba Xuyên ở đồng bằng Nam bộ (Lê Viết Ly, 1994 [38]) Vùng Nam Trung bộ giống lợn trắng Phú Khánh cũng được nuôi khá phổ biến (Trần Quang Hân và cộng sự 1996[31]) Các giống lợn ngoại được nuôi chủ yếu là: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, Hamshire, Edel,…

Để nâng cao năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi lợn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, vấn đề giống đóng vai trò quyết

định Các giống lợn sẵn có ở nước ta như Móng cái, Yorkshire Việt Nam là vốn quý để sử dụng làm giống nền lai với lợn ngoại bằng nhiều công thức khác nhau tạo ra đàn lợn thịt phù hợp với điều kiện kinh tế, x hội và điều kiện chăn nuôi ở các vùng sinh thái

Trang 36

Với các giống lợn ngoại, sử dụng nguồn gen cao sản để tạo ra đàn lợn thịt lai nhiều máu ngoại có năng suất chất lượng thịt cao là biện pháp hữu hiệu trong “Chương trình cải tiến giống lợn” Gần đây, Bộ NN&PTNT đ xây dựng

đề án về giống vật nuôi trong thời kỳ (1999 - 2010) với một số định hướng trong thời gian tới trong đó “Chương trình cải tiến chất lượng giống nên đặt mục tiêu xuất khẩu lên hàng đầu” và “cần sớm có được nhiều mô hình hình tháp giống để phát triển con giống phục vụ sản xuất” (Trần Kim Anh, 1998[1])

Khi nghiên cứu hiện trạng cơ cấu giống và công tác giống ở một số cơ

sở chăn nuôi lợn phía Nam, Đặng Thị Hạnh và cộng sự (2005)[30] cho biết khả năng sinh trưởng và sinh sản của đàn lợn như sau:

(n=15)

Trại tư nhân (n=47) Sinh trưởng

Sinh sản

Trang 37

3 đối tượng, Nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 44 trang trại chuyên chăn nuôi lợn ở các huyện: Hải Hậu, ý Yên, Mỹ Lộc và thành phố Nam Định tỉnh Nam Định Các trang trại này không những thoả m.n tiêu chí trang trại mà còn mang tính

đại diện cho vùng miền, trình độ chăn nuôi

Một số nét về địa điểm nghiên cứu

- Thành phố Nam Định diện tích 46,4 km2 dân số 228.000 người, mật

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10/2006 đến tháng 10/2007

3.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi lợn trang trại bao gồm một số nội dung chính sau:

- Khảo sát thông tin về chủ trang trại, diện tích trang trại, mức độ đầu tư chuồng trại, thực trạng sử dụng thức ăn, tình hình dịch bệnh trên đàn lợn

- Nghiên cứu qui mô, phân bố đàn lợn tại các trang trại ở bốn địa điểm nghiên cứu trên

Trang 38

- Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái (số con sơ sinh con sống, số con cai sữa của một lợn nái trong một năm,…) và năng suất lợn thịt (tăng trọng hàng ngày, hiệu quả chuyển hoá thức ăn,… )

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và phân tích hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi đề ra những phương hướng phát triển chăn nuôi lợn cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bền vững

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp tiếp cận

Để thực hiện tốt nội dung nghiên cứu chúng tôi tiến hành tiếp cận chăn nuôi lợn ở các trang trại theo 3 phương thức chăn nuôi:

- Nhóm 1: các trang trại chăn nuôi lợn thịt: (N1)

- Nhóm 2: các trang trại chăn nuôi lợn nái (chuyên bán giống): (N2)

- Nhóm 3: các trang trại chăn nuôi lợn nái và lợn thịt: (N3)

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Để thu được số liệu mang tính khách quan, chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu thứ cấp từ sách báo, tạp chí, phòng thống kê, Sở NN&PTNN, trung tâm Khuyến nông về dân số, đất đai, trang trại chăn nuôi lợn

Tài liệu thứ cấp: theo số liệu thống kê, toàn tỉnh có 63 trang trại chăn nuôi lợn Căn cứ vào đó chúng tôi lựa chọn 44 trang trại đại diện về vị trí địa

lý, vùng sinh thái, trình độ chăn nuôi ở bốn địa điểm nêu trên Tiến hành điều tra trực tiếp các chủ trang trại với bộ phiếu điều tra được thiết kế như sau (chi tiết ở phụ lục):

Thông tin về chủ trại: tên, tuổi, nhân khẩu, đất đai, vốn

Thông tin về tình hình chăn nuôi: giống, quy mô đàn, các chỉ tiêu năng suất sinh sản, năng suất lợn thịt, công tác phòng dịch,…

Trang 39

ý kiến của chủ trang trại

3.3.3 phương pháp điều tra

Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bộ phiếu điều tra thông qua các bước:

Bước 1: phỏng vấn thử một số trang trại chăn nuôi lợn

Bước 2: hoàn chỉnh bộ phiếu điều tra cho phù hợp với tình hình thực

- Xử lý số liệu điều tra: toàn bộ số liệu điều tra được xử lý trên máy tính theo chương trình Microsoft Excel, Minitab

3.3.5 Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái

- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): là khoảng thời gian từ khi con lợn sinh ra đến khi phối giống lần đầu tiên

- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày): là khoảng thời gian từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau (bao gồm thời gian mang thai, thời gian nuôi con, thời gian phối giống có chửa)

- Số con đẻ ra/ổ (con): là tổng số con đẻ ra còn sống, số con chết khi sinh ra và số con chết lưu

- Số con sơ sinh còn sống/ổ (con): được tính bằng tổng số lợn con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính con có khối lượng từ 0,2 kg trở xuống đối với lợn nội, 0,5 kg đối với lợn ngoại và lợn lai

Trang 40

- Khối lượng sơ sinh/con (kg): được xác định bằng cách cân khối lượng của lợn con ngay sau khi sinh

- Khối lượng cai sữa/con (kg): cân khối lượng từng lợn con tại thời điểm cai sữa

- Số con cai sữa/nái/năm (con): được tính bằng tổng số lợn con còn sống

đến cai sữa của một lợn nái trong một năm

- Tăng trọng trong thời gian nuôi (g/con/ngày): đây là chỉ tiêu quyết

định hiệu quả chăn nuôi Cách xác định tăng trọng trong thời gian nuôi: cân khối lượng lợn lúc kết thúc nuôi trừ khối lượng bắt đầu nuôi và chia cho tổng thời gian nuôi

- Hiệu quả chuyển hoá thức ăn (kg thức ăn/kg tăng trọng) Tính bằng cách lấy tổng lượng thức ăn thu nhận chia cho khối lượng tăng lên trong thời gian nuôi 3.3.7 Phân tích kinh tế

- Chọn đại diện các trang trại về phương thức chăn nuôi, vùng sinh thái,

có kinh nghiệm chăn nuôi, cộng tác tích cực để phỏng vấn chuyên sâu

- Phân tích kinh tế dựa trên mô hình của David Bache và James Foster (1996)[12]

Ngày đăng: 08/08/2013, 21:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Kim Anh (1998), “Sự cần thiết mở rộng ứng dụng "Hệ thống giống lợn hình tháp" và sử dụng −u thế lai trong chăn nuôi lợn”, Chăn nuôi, 5, tr. 12 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết mở rộng ứng dụng "Hệ thống giống lợn hình tháp" và sử dụng −u thế lai trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Kim Anh
Năm: 1998
2. Bùi Quang Anh (2003), “Các dịch vụ thú ý liên quan đến phát triển các sản phẩm động vật và hoà nhập vào kinh tế quốc tế”, Hội thảo về hoạt động chăn nuôi tạo thu nhập cho ng−ời nghèo ở nông thôn, FAO, ACIAR, Ch−ơng trình phát triển nông thôn Quảng Ng.i, Quảng Ng.i 19 - 20/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dịch vụ thú ý liên quan đến phát triển các sản phẩm động vật và hoà nhập vào kinh tế quốc tế
Tác giả: Bùi Quang Anh
Năm: 2003
4. Đặng Vũ Bình (1986), “Phân tích một số tính trạng trong một lứa đẻ của lợn nái Móng Cái”, Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 8 , tr. 368 - 370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số tính trạng trong một lứa đẻ của lợn nái Móng Cái
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Năm: 1986
5. Đặng Vũ Bình (1993), Các tham số thống kê, di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản lợn Móng Cái, ỉ , Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông Nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tham số thống kê, di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản lợn Móng Cái
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I
Năm: 1993
6. ðặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, ðồn Văn Soạn, Nguyễn Thị Kim Dung (2005), “Khả năng sản xuất cuả một số công thức lai ủối với ủàn lợn nuôi tại xí nghiệp chăn nuôi ðồng Hiệp, Hải Phòng”, Tạp chí KHKT Nông nghiệp, tập III, số 4/2005, tr 301 – 306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất cuả một số công thức lai ủối với ủàn lợn nuôi tại xí nghiệp chăn nuôi ðồng Hiệp, Hải Phòng
Tác giả: ðặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, ðồn Văn Soạn, Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: Tạp chí KHKT Nông nghiệp
Năm: 2005
7. Bộ NN&PTNT - Tổng cục Thống kê (2000), “H−ớng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại”, Kinh tế và phát triển, 8(8), tr. 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại
Tác giả: Bộ NN&PTNT - Tổng cục Thống kê
Năm: 2000
9. Nguyễn Quế Côi (1995), Một số đặc điểm di truyền, chỉ số chọn lọc về khả năng sinh tr−ởng, cho thịt của lợn Móng Cái, ỉ , Tóm tắt luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp, tr. 5 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm di truyền, chỉ số chọn lọc về khả năng sinh tr−ởng, cho thịt của lợn Móng Cái
Tác giả: Nguyễn Quế Côi
Nhà XB: Tóm tắt luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp
Năm: 1995
12. David H. Bache, James R.Foster (1996), “Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn và phân tích kinh doanh ph−ơng thức chăn thả hai lứa”, CÈm nang ch¨n nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 7 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CÈm nang ch¨n nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook)
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
13. David H. Bache, James R. Foster (1996), "Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn và phân tích kinh doanh ph−ơng thức đầu t− thấp, thâm canh thấp", Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 17 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn và phân tích kinh doanh ph−ơng thức đầu t− thấp, thâm canh thấp
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
14. David H. Bache, James R. Foster (1996), "Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh", Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 25 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
15. David H. Bache, James R. Foster (1996), “Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh sản xuất lợn choai (đầu t− thấp)”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 33 - 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook)
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
16. David H. Bache, James R. Foster (1996), “Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh nuôi từ lợn choai”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Néi, tr. 43 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook)
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
17. David H. Bache, James R. Foster (1996), "Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh, lựa chọn phương thức “đúng”", CÈm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 53 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CÈm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook)
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
18. David H. Bache, James R. Foster (1996), “Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh xác định nhu cầu vốn”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 63 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh xác định nhu cầu vốn
Tác giả: David H. Bache, James R. Foster
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
19. David G. Spruill, Clyde R. Weathers (1996), “Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh, ph−ơng thức nuôi nhốt đầu t− cao, th©m canh cao”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 77 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ph−ơng thức chăn nuôi lợn với các phân tích kinh doanh, ph−ơng thức nuôi nhốt đầu t− cao, th©m canh cao
Tác giả: David G. Spruill, Clyde R. Weathers
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
20. Diehl J.R., James R. Danion, Auburn, Leif H. Thompson (1996), “Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Néi, tr. 165 - 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp
Tác giả: Diehl J.R., James R. Danion, Auburn, Leif H. Thompson
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
21. Phạm Hữu Doanh, Lê Văn Vọng (1974), “Một số đặc điểm sinh học của lợn F 2 Đại bạch ỉ”, Khoa học kỹ thuật nông nghiệp,7, tr. 515 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học của lợn F2 Đại bạch ỉ
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lê Văn Vọng
Năm: 1974
23. Nguyễn Điền (1999), “Tổ chức quản lý kinh tế trang trại trên thế giới và Việt Nam”, Nông nghiệp - nông thôn, 251(4), tr.37 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quản lý kinh tế trang trại trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Điền
Năm: 1999
24. Gary L. Crornwell, Leroy G. Biehl, James McKcan, Kenneth B. Meyer, Robert A. Wilcox, (1996), “Biện pháp quản lý thức ăn nhằm phòng ngừa d− l−ợng d−ợc phẩm trong thịt lợn”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp (Pork Industry Handbook), Nhà xuất bản Bản đồ, Hà Nội, tr. 247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý thức ăn nhằm phòng ngừa d− l−ợng d−ợc phẩm trong thịt lợn
Tác giả: Gary L. Crornwell, Leroy G. Biehl, James McKcan, Kenneth B. Meyer, Robert A. Wilcox
Nhà XB: Nhà xuất bản Bản đồ
Năm: 1996
25. Hoàng Kim Giao (2003), “Cơ hội phát triển chăn nuôi nâng cao thu nhập cho nông hộ - hiện tại và t−ơng lai”, Hội thảo về hoạt động chăn nuôi tạo thu nhập cho ng−ời nghèo ở nông thôn, FAO, ACIAR, Ch−ơng trình phát triển nông thôn Qu.ng Ng.i, Qu.ng Ng.i 19 - 20/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội phát triển chăn nuôi nâng cao thu nhập cho nông hộ - hiện tại và t−ơng lai
Tác giả: Hoàng Kim Giao
Nhà XB: FAO
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3 Số l−ợng đàn gia súc gia cầm (năm 2004 -  2006) - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.3 Số l−ợng đàn gia súc gia cầm (năm 2004 - 2006) (Trang 46)
Bảng 4.5 Phân bố tần số tuổi của chủ trang trại - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.5 Phân bố tần số tuổi của chủ trang trại (Trang 48)
Bảng 4.8 Qui mô đàn lợn thịt của các trang trại N3 - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.8 Qui mô đàn lợn thịt của các trang trại N3 (Trang 54)
Bảng 4.11 Qui mô đàn lợn nái của các trang trại N3 - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.11 Qui mô đàn lợn nái của các trang trại N3 (Trang 58)
Bảng 4.12  Qui mô đàn lợn cái hậu bị và đực giống - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.12 Qui mô đàn lợn cái hậu bị và đực giống (Trang 59)
Bảng 4.13 Cơ cấu đàn lợn giống của các trang trại - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.13 Cơ cấu đàn lợn giống của các trang trại (Trang 61)
Bảng 4.14 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.14 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái (Trang 63)
Bảng 4.15 Một số chỉ tiêu về sức sản xuất ở lợn thịt - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.15 Một số chỉ tiêu về sức sản xuất ở lợn thịt (Trang 68)
Bảng 4.17 Tỷ lệ pha trộn thức ăn cho lợn nái - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.17 Tỷ lệ pha trộn thức ăn cho lợn nái (Trang 72)
Bảng 4.18 Tỷ lệ pha trộn thức ăn cho lợn thịt  Thành phần  TP Nam Định  H Hải Hậu  H ý Yên  H Mỹ Lộc - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.18 Tỷ lệ pha trộn thức ăn cho lợn thịt Thành phần TP Nam Định H Hải Hậu H ý Yên H Mỹ Lộc (Trang 73)
Bảng 4.20 Tình hình đầu t− chuồng trại, mức độ vệ sinh và nguồn vốn - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.20 Tình hình đầu t− chuồng trại, mức độ vệ sinh và nguồn vốn (Trang 76)
Bảng 4.21 Tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh tại các trang trại - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.21 Tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh tại các trang trại (Trang 78)
Bảng 4.23 Phân tích hiệu quả kinh tế ph−ơng thức nuôi lợn thịt N1 - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.23 Phân tích hiệu quả kinh tế ph−ơng thức nuôi lợn thịt N1 (Trang 80)
Bảng 4.24 Phân tích hiệu quả kinh tế ph−ơng thức nuôi N2 - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.24 Phân tích hiệu quả kinh tế ph−ơng thức nuôi N2 (Trang 81)
Bảng 4.25 Phân tích hiệu quả kinh tế ph−ơng thức nuôi N3 - [Luận văn]hiện trạng chăn nuôi lợn ở một số trang trại của tỉnh nam định
Bảng 4.25 Phân tích hiệu quả kinh tế ph−ơng thức nuôi N3 (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w