1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong giai đoạn đổi mới

83 139 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 517,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội đã có những biến đổi sâu sắc cả về lượng và về chất. Số người dùng tin đến Trung tâm ngày càng tăng, nhu cầu cần được đáp ứng thông tin ngày càng lớn...Tuy nhiên chưa có một sự nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống về thực trạng nhu cầu thông tin và việc đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại Trung tâm - TT-TV trường ĐHSP Hà Nội. Với mong muốn kế thừa kết quả của những luận văn trước và góp phần nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng tin tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội, cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đội ngũ giáo viên trong giai đoạn đổi mới giáo dục, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong giai đoạn đổi mới” Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Đặc điểm hoạt động thông tin và đặc điểm người dùng tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội Chương 2: Đặc điểm nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ văn hoá thông tin

Trường đại học văn hoá hμ nội

đμo thị thanh xuân

Nghiên cứu nhu cầu tin vμ đảm bảo thông tin Tại trung tâm thông tin Thư viện trường Đại

học Sư phạm Hμ Nội trong giai đoạn đổi mới

Chuyên ngành: Thư viện thông tin Mã số : 60 32 20

Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Vũ Văn Nhật

Hà Nội - 2007

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện luận văn, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS Vũ Văn Nhật và nhiều ý kiến đóng góp có giá trị của các thầy cô giáo giảng dạy các chuyên đề Cao học thư viện khoá 2004 - 2007

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS

Vũ Văn Nhật; Các thầy cô giáo; Ban Giám hiệu; Ban lãnh đạo Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Các đồng nghiệp; Bạn bè

và gia đình luôn giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để luận văn được hoàn thành

Hà Nội, tháng 6 năm 2007

Trang 3

GDNC Giảng dạy nghiên cứu

GD thể chất Giáo dục thể chất

GDĐH Giáo dục đại học

TNCSHCM Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

TOEFL Test of English as a Foreign Language

(Chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế)

TT -TV Thông tin th− viện

Trang 4

Mục lục

Trang

Lời nói đầu 1

Chương 1: Đặc điểm hoạt động thông tin vμ đặc điểm người dùng tin tại trung tâm thông tin thư viện trường đại học sư phạm hμ nội 6

1.1 Trường Đại học Sư phạm Hμ Nội với công tác đμo tạo nguồn nhân lực cho ngμnh giáo dục 6

1.1.1 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Hμ Nội 6

1.1.2 Trường Đại Học Sư phạm Hμ Nội trước yêu cầu đổi mới giáo dục 11

1.2 Đặc điểm hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hμ Nội 15

1.3 Người dùng tin ở Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hμ Nội 21

1.3.1 Nhóm người dùng tin lμ cán bộ quản lý 22

1.3.2 Nhóm người dùng tin lμ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu 25

1.3.3 Nhóm người dùng tin lμ sinh viên 27

Trang 5

Chương 2: Đặc điểm nhu cầu tin vμ khă năng đáp ứng

nhu cầu tin cho người dùng tin tại Trung tâm thông

tin thư viện Trường Đại học Sư Phạm Hμ Nội 31

2.1 Thực trạng nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin 31

2.1.1 Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học 31

2.1.2 Nhu cầu tin về ngôn ngữ tμi liệu của các nhóm người dùng tin 34

2.1.3 Nhu cầu tin về loại hình tμi liệu của các nhóm người dùng tin 36

2.2 Tập quán sử dụng thông tin của các nhóm người dùng tin 39

2.2.1 Thời gian thu thập thông tin của các nhóm người dùng tin 39

2.2.2 Nguồn khai thác thông tin chủ yếu của người dùng tin 42

2.2.3 Các sản phẩm vμ dịch vụ thông tin được người dùng tin sử dụng thường xuyên 44

2.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin vμ đảm bảo thông tin tại Trung tâm

Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hμ Nội 47

2.3.1 Nguồn lực thông tin 48

2.3.2 Đánh giá về mức độ tiện lợi của các sản phẩm vμ dịch vụ thông tin 54

2.3.3 Khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất, trang thiết bị vμ tinh thần phục vụ của cán bộ 57

Trang 6

Chương 3: GiảI pháp nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu

ti n vμ đảm bảo thông tâm trung tâm Thông

Tin Thư Viện Đại Học Sư Phạm Hμ nội 62

3.1 Củng cố vμ phát triển nguồn lực thông tin 62

3.2 Phát triển, nâng cao chất lượng các sản phẩm vμ dịch vụ thông tin 66

3.3 Nâng cao trình độ nghiệp vụ vμ trình độ ngoại ngữ cho cán bộ thông tin thư viện 70

3.4 Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị cho hoạt động thông tin - thư viện 72

3.5 áp dụng các nguyên lý Marketing trong hoạt động thông tin

thư viện 74

Kết luận 77

Tμi liệu tham khảo 78 Phụ lục

Trang 7

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tμi

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ đã phát triển mạnh mẽ sâu rộng trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực Thêm vào đó là những bước tiến vượt bậc của công nghệ thông tin đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của thế giới Thế giới đang đứng trước xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, văn hoá, khoa học, giáo dục Hơn bao giờ hết thông tin và tri thức đang dần chiếm ưu thế và chi phối sự phát triển của xã hội

Nhu cầu tin là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, xuất phát

từ lòng ham hiểu biết và khám phá thế giới khách quan Nhu cầu tin còn là nguồn gốc, mục tiêu hướng tới của hoạt động thông tin-thư viện

Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay việc nắm vững nhu cầu tin, đáp ứng đầy đủ, chính xác, kịp thời, phù hợp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan thông tin-thư viện Điều đó còn đặc biệt quan trọng hơn đối với các thư viện trường đại học

Là một bộ phận không thể thiếu của trường Đại học Sư Phạm (ĐHSP) Hà Nội, Trung tâm Thông tin Thư viện (TT-TV) trường ĐHSP Hà Nội là trung tâm phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của cán bộ, sinh viên trong toàn Trường Trung tâm TT-

TV trường ĐHSP Hà Nội có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, mở rộng tri thức cho đội ngũ học sinh, sinh viên, đáp ứng nhu cầu thông tin cả về khoa học kỹ thuật, khoa học ứng dụng cho cán bộ và sinh viên Trong những năm gần đây Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội đã có những biến đổi sâu sắc cả về lượng và về chất Số người dùng tin đến Trung tâm ngày càng tăng, nhu cầu cần được đáp ứng thông tin ngày càng lớn Tuy nhiên chưa có một sự nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống về thực trạng nhu cầu thông tin và việc đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại Trung tâm

Trang 8

TT-TV trường ĐHSP Hà Nội Với mong muốn kế thừa kết quả của những luận văn trước và góp phần nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng tin tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội, cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đội ngũ giáo viên trong giai đoạn

đổi mới giáo dục, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong giai đoạn đổi mới” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành

Thư viện Thông tin của mình

2.Tình hình nghiên cứu đề tμi

Người dùng tin là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên thư viện Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của hoạt động thông tin-thư viện Vì vậy đã có nhiều khoá luận tốt nghiệp của sinh viên cũng như một số luận văn Thạc sĩ quan tâm nghiên cứu về vấn đề này như:

- Thạc sĩ Lưu Thanh Mai với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin ở Trung tâm Nghiên cứu Bắc Mỹ trong thời kỳ đổi mới đất nước” (Luận văn thạc sĩ) năm 2001

- Thạc sĩ Dương Thị Vân với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tin tại trường Đại học Cần Thơ” (Luận văn thạc sĩ) năm 2003…

Các đề tài trên đã đề cập đến một số khía cạnh mang tính đặc thù về nhu cầu tin, tập quán, thói quen sử dụng thông tin của các nhóm người dùng tin tại các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong những thời điểm khác nhau

Bên cạnh đó đã có 3 luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội Ba luận văn này đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề như: Tăng cường nguồn lực thông tin; Hoàn thiện bộ máy tra cứu; Hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu về nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường ĐHSP Hà Nội

Trang 9

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là nhu cầu tin và các hình thức, biện pháp đảm bảo thông tin trong giai đoạn đổi mới tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp chung:

Trong quá trình thực hiện đề tài này luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử; dựa vào các tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo trong thời thời kỳ đổi mới đất nước

* Phương pháp cụ thể:

- Quan sát: Quan sát trực tiếp tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội

- Phỏng vấn: Phỏng vấn các đối tượng người dùng tin của Trung tâm như: cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy - nghiên cứu, học viên cao học, sinh viên

và học sinh phổ thông chuyên

- Điều tra bằng phiếu: Phiếu điều tra gồm 16 câu hỏi, trình bày trên 3 trang (xem chi tiết tại phụ lục) Phiếu điều tra được phát ngẫu nhiên cho 600 người dùng tin đến Trung tâm TT-TV ĐHSP Hà Nội Số phiếu thu về là

564 phiếu đạt tỷ lệ 94%

- Thống kê số liệu: Dùng phương pháp toán thống kê để thống kê, tính toán, các số liệu đã thu thập được từ phiếu điều tra, phiếu yêu cầu của người dùng tin

- Phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu tài liệu

Trang 10

6 ý nghĩa của luận văn

- Luận văn làm rõ bản chất, nội dung và đặc điểm nhu cầu tin cũng như tập quán sử dụng thông tin của người dùng tin trong giảng dạy, học tập

và nghiên cứu khoa học tại trường ĐHSP Hà Nội

- Luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể, khả thi cho việc thoả mãn nhu cầu tin ngày càng cao cho người dùng tin ở Trung tâm TT-TV

ĐHSP Hà Nội; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học ở trường ĐHSP Hà Nội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Đặc điểm hoạt động thông tin và đặc điểm người dùng tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Chương 2: Đặc điểm nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho

người dùng tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội

Chương 3 : Giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 11

Chương 1

Đặc điểm hoạt động thông tin vμ đặc điểm người dùng tin tại trung tâm thông tin thư

viện trường đại học sư phạm hμ nội

1.1 TRường Đại học Sư Phạm Hμ Nội với công tác đμo tạo nguồn nhân lực cho ngμnh giáo dục

1.1.1 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trường ĐHSP Hà Nội được thành lập ngày 11/10/1951 theo quyết định số

276 của Bộ Quốc gia Giáo dục Ngày 10/12/1993 theo Nghị định 97/CP của Chính phủ, Trường ĐHSP Hà Nội I là một trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Theo Quyết định 201/QĐTTg ngày 12/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, trường ĐHSP tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội thành trường ĐHSP Hà Nội

Trường ĐHSP Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên và nghiên cứu khoa học, nơi đã tạo ra nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa học ưu tú và danh tiếng cho đất nước

Các giai đoạn lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của Trường bao gồm: Giai đoạn 1951-1966 trường mang tên Trường ĐHSP Hà Nội; Giai

đoạn 1966-1993 Trường mang tên Trường ĐHSP Hà Nội I; Giai đoạn

1993-1999 trường mang tên Trường ĐHSP Hà Nội thuộc ĐHQG Hà Nội; Và từ

Trang 12

tháng 10-1999 đến nay trường có tên gọi Trường ĐHSP Hà Nội Hiện nay, Trường ĐHSP Hà Nội là một trong hai trường ĐHSP trọng điểm của nước ta Quá trình hơn 50 năm xây dựng và phát triển của Nhà trường đã gắn liền với sự phát triển của đất nước và của nền giáo dục Việt Nam Trường ĐHSP

Hà Nội đã và đang phấn đấu làm tròn chức năng “máy cái” của ngành Giáo dục, trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và của ngành sư phạm nói riêng

Trong qúa trình xây dựng và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, trường ĐHSP Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, được xã hội tín nhiệm và đánh giá cao Từ năm 1996 đến nay, nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, Nhà trường đã tuyển được nhiều học sinh giỏi, xuất sắc vào học, đã đào tạo cử nhân khoa học tài năng ở 07 khoa trong Trường Một số sinh viên của Hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng được cử đi học nước ngoài Nhiều sinh viên đứng đầu trong các kỳ thi Olympic về khoa học cơ bản và khoa học giáo dục Những cử nhân khoa học tài năng này là nguồn cán bộ trẻ cho Nhà trường và một số trường đại học, cao đẳng, cơ quan nghiên cứu và các trường phổ thông trung học

* Thành tích giáo dục đào tạo:

Trường ĐHSP Hà Nội là một trong những trường có thành tích xuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước Hệ Trung học phổ thông chuyên đã

đào tạo gần 2.000 học sinh phổ thông loại giỏi và xuất sắc Có 36 học sinh

đoạt Huy chương (10 Huy chương Vàng, 17 Huy chương Bạc, 11 huy chương

Đồng) tại các kỳ thi Olympic quốc tế Đặc biệt là liên tục từ năm 1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt Huy chương Vàng Olympic quốc

tế và khu vực Châu á-Thái Bình Dương

Trang 13

Tính đến năm 2007 Trường đã đào tạo hơn 80.000 cử nhân, hơn 5.000 thạc sĩ và hơn 700 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học Trường ĐHSP Hà Nội là cơ sở đào tạo sau đại học đầu tiên trong cả nước (bắt đầu đào tạo sau đại học từ năm 1970) Trường có 40 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 39 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ

* Thành tích nghiên cứu khoa học:

Trường ĐHSP Hà Nội còn là đơn vị trọng điểm trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học giáo dục của ngành Trường có hơn 2.000 công trình nghiên cứu khoa học Trong giai đoạn 1996-2007, trường có trên 600 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ trong đó có 178 đề tài thuộc các chương trình trọng điểm Quốc Gia, 11 đề tài đặc biệt cấp Bộ, 3 đề tài trọng điểm cấp Bộ,… Nhiều nhà khoa học của trường trở thành các nhà khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tế và được nhận các giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước

Phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học cũng mang về cho Trường nhiều thành tích cao Liên tục từ năm 1998 đến nay, Trường đều có sinh viên

đạt giải cao Năm 2003 Trường có hơn 600 công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận là một trong những đơn vị đạt thành tích xuất sắc trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học Trong 10 năm gần đây Trường có 8 giải Nhất, 11 giải Nhì, 6 giải Ba

và 20 giải Khuyến khích cấp Bộ của sinh viên nghiên cứu khoa học Trường là một trong 7 trường đại học có thành tích sinh viên nghiên cứu khoa học cao nhất trong cả nước

* Quan hệ quốc tế:

Trường ĐHSP Hà Nội mở rộng quan hệ hợp tác đào tạo và nghiên cứu khoa học với nhiều cơ quan đào tạo và nghiên cứu ngoài nước như Đại học Ritsumeikan, Đại học South-Australia, Đại học Công nghệ Sydney, Đại học Posdam, Đại học Pari 11, Pari 13, Đại học Toulouse, … Trong hơn 50 năm

Trang 14

xây dựng và phát triển trường ĐHSP Hà Nội đã có hơn 40 năm hoạt động quan hệ quốc tế với 33 nước, 100 trường và tổ chức quốc tế Trường đã hợp tác với các nước trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đào tạo

* Chức năng, nhiệm vụ:

- Trong giai đoạn đổi mới giáo dục phục vụ công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước, Trường ĐHSP Hà Nội có chức năng, nhiệm vụ chính sau:

- Làm nòng cốt cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào triển khai các đề

- Bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đương chức để đạt chuẩn các cấp học

- Tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, khoa học giáo dục

- Mở rộng hợp tác liên kết đào tạo với các trường đại học trong và ngoài nước

- Sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước từng bước xây dựng và hoàn chỉnh cơ sở vật chất theo hướng hiện đại để xứng đáng là trường ĐHSP trọng điểm

Trang 15

* Cơ cấu tổ chức :

Hiện nay cơ cấu tổ chức của trường ĐHSP Hà Nội bao gồm Đảng Uỷ, Ban Giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên, Ban Thanh tra giáo dục, Ban Thanh tra nhân dân, 11 phòng ban chức năng, 11 đơn vị phục vụ đào tạo và nghiên cứu, 22 khoa và bộ môn trực thuộc và 27 đơn vị nghiên cứu khoa học (Xem hình 1)

Trang 16

H×nh 1: C¬ cÊu tæ chøc Tr−êng §¹i häc S− ph¹m Hµ Néi

- Trung tâm Thông tin thư viện

- Khoa Toán - Tin

- Khoa Công nghệ thông tin

- Khoa Vật lý

- Khoa Hóa học

- Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp

- Khoa Sư phạm kỹ thuật

- Khoa Giáo dục mầm non

- Khoa Giáo dục tiểu học

- Khoa Giáo dục đặc biệt

- Khoa Sư phạm Âm nhạc mỹ thuật

- Bộ môn Tiếng Nga

- Trung tâm Giáo dục từ xa

- Viện nghiên cứu Sư phạm

- LABO Công nghệ dạy học

- Trung tâm Nghiên cứu & Sản xuất Học liệu

- Trung tâm Nghiên cứu tiểu sử

- Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục học

- Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý học _ Sinh lý lứa tuổi

- Trung tâm Nghiên cứu giáo viên

- Trung tâm Nghiên cứu rừng ngập mặn

- Trung tâm Nghiên cứu Hán nôm

- Trung tâm Giáo dục dân số

- Trung tâm Giáo dục môi trường

- Trung tâm Địa lý ứng dụng

- Trung tâm Hàn Quốc học

- Bảo tàng sinh vật

Trang 17

1.1.2 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trước yêu cầu đổi mới giáo dục

Các quốc gia ngày nay coi giáo dục là con đường cơ bản để phát huy và gìn giữ văn hóa dân tộc, để tránh tụt hậu và phát triển đi lên Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng góp phần quan trọng vào sự phát triển tiềm năng trí tuệ của con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, biến những tri thức, phát minh khoa học thành những giá trị thực tiễn

Cùng với sự đổi mới của đất nước trong hơn hai thập niên vừa qua hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học đã tiến hành nhiều đổi mới quan trọng Trong đó Đảng và Nhà nước ta xác định: Giáo dục

và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo

được coi là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Giáo dục và đào tạo là một trong ba lĩnh vực then chốt cần đột phá để làm chuyển động tình hình kinh tế xã hội, tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực

Thực tế cho thấy công cuộc đổi mới giáo dục đã và đang diễn ra mạnh

mẽ, sâu rộng và là sự quan tâm của nhiều quốc gia Hơn bao giờ hết đổi mới giáo dục được ngành ngành, nhà nhà và toàn xã hội quan tâm Để thực hiện

đổi mới giáo dục và phấn đấu trở thành trường ĐHSP trọng điểm, trong nhiều năm qua trường ĐHSP Hà Nội luôn chú trọng tới các yếu tố sau:

* Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy

Trường ĐHSP Hà Nội là một trong những cái nôi lớn đào tạo và cung cấp cho đất nước các thế hệ giáo viên, giảng viên từ mầm non đến đại học Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của Trường, chất lượng đào tạo luôn được Nhà trường đặc biệt quan tâm Một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục phải kể đến việc cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy

“Nội dung giáo dục đại học (GDĐH) phải có tính hiện đại và phát triển bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên

Trang 18

ngành và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới

Phương pháp GDĐH phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện

kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.” [2, tr 19]

Đổi mới nội dung-phương pháp giáo dục được coi là một cuộc cách mạng Đây là khâu có ý nghĩa quyết định trong đổi mới giáo dục đại học Nhà trường tiến hành cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng tinh giản, vững chắc, sát đối tượng, sát phổ thông; Hình thành phương pháp đào tạo tích cực của quá trình giáo dục Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực của người học, đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, khả năng tư duy độc lập của người học qua các xêmina, làm bài tập lớn, tập dượt nghiên cứu khoa học, làm khoá luận tốt nghiệp

Đổi mới về phương pháp giảng dạy còn được thể hiện trong dạy học nêu vấn đề, lấy người học làm trung tâm, giảng dạy chương trình hóa và cá thể hóa của cán bộ giảng viên Việc dạy học theo hướng này giúp khắc phục những hạn chế của phương pháp giảng dạy truyền thống thụ động, theo phương pháp độc thoại, kiểu cho nhận, biến quá trình dạy - học thành quá trình chuyển giao tri thức nhiều chiều giúp người học không chỉ học ở thầy, học ở bạn, ở giảng đường mà còn học ở nhiều môi trường khác nhau Có thể nói trường ĐHSP Hà Nội là nơi xuất hiện sớm việc dạy học nêu vấn đề

Với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, Nhà trường rất chú trọng và đẩy mạnh đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, tư liệu dạy và học ở phổ thông và đại học, sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giáo dục và đào tạo

Trang 19

* Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

Trường đặc biệt quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, trình

độ chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ

Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, Trường luôn đảm bảo tính cân đối về cơ cấu, về số lượng và chất lượng, về độ tuổi, trình độ, tư tưởng, chuyên môn và nghiệp vụ Đặc biệt việc cân đối giữa đội ngũ cán bộ trẻ với việc sử dụng và phát huy vai trò của các giáo sư có tên tuổi kết hợp với bồi dưỡng cán bộ giảng dạy trẻ để đảm bảo tính liên tục của đội ngũ và tạo uy thế của Trường Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học, giáo viên hướng dẫn thực hành thí nghiệm, Trường còn tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ phục vụ vững mạnh Xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng tinh giản vững chắc và tiêu chuẩn hóa Ngay từ khi tuyển dụng cán bộ, Trường cũng đưa ra những điều kiện phù hợp với yêu cầu công việc và phù hợp với mặt bằng chung của xã hội

Nhà trường chú trọng đến nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng toàn diện, đảm bảo cho cán bộ phải vừa hồng, vừa chuyên, vừa có đức, vừa có tài

Song song với việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ về khoa học cơ bản, Nhà trường còn chú trọng nâng cao trình độ khoa học giáo dục sư phạm Điều này giúp cán bộ giảng viên nắm vững lý luận và có khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn Giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ của Trường, của ngành sư phạm, của ngành giáo dục và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội đang đặt ra

Trường thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ về công nghệ thông tin như: Các lớp khai thác Internet, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Liên tục mở các lớp học ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Pháp, ) mọi trình độ cho cán bộ Trường cũng tổ chức các khóa luyện thi

Trang 20

ngoại ngữ lấy chứng chỉ quốc tế như TOEFL, Kết hợp đào tạo cán bộ trong nước và nước ngoài, lấy việc đào tạo trong nước làm động lực chủ yếu

Trường luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, trong những năm gần đây Trường đã tuyển được hơn 250 giảng viên mới phần lớn là sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc Trong số giảng viên của Trường, có hơn 100 giảng viên bảo vệ thành công luận án tiến sỹ, gần 130 giảng viên bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ trong và ngoài nước

Trong 5 năm trở lại đây, Trường đã đón tiếp 140 đoàn khách nước ngoài

và cử 167 đoàn với 370 lượt người ra nước ngoài để hợp tác trao đổi với tổng kinh phí viện trợ 4 triệu đôla Mỹ thông qua dự án và 100.000 đôla Mỹ thông qua viện trợ thiết bị Trường đã đào tạo 400 cán bộ cho Lào và 100 cán bộ cho các nước khác ở các bậc học cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Trường đã gửi 500 lượt cán bộ và sinh viên của Trường đi đào tạo ở nước ngoài

Hiện nay trường có 1.331 cán bộ trong đó có 951 giảng viên, 19 nhà giáo nhân dân, 74 nhà giáo ưu tú, 24 giáo sư, 126 phó giáo sư, 274 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học và 327 thạc sỹ Các nhà khoa học của Trường là chủ biên hoặc đồng tác giả của phần lớn chương trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn dạy và học ở trường phổ thông và trường cao đẳng sư phạm Các kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông đã được chuyển giao cho ngành giáo dục, qua đào tạo giáo viên và hệ thống chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ mà Bộ Giáo dục và

Đào tạo giao cho Trường

* Đổi mới về cơ sở vật chất trang thiết bị

Cơ sở vật chất trang thiết bị và môi trường sư phạm là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trường ngày càng được tăng cường Trường hiện đã có đủ giảng đường, sân vận động, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, vườn thí nghiệm, cơ sở thực tập và nhiều phương tiện kỹ

Trang 21

thuật hiện đại phục vụ cho việc dạy-học Bằng nguồn vốn khoa học công nghệ Trường đã đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm và công nghệ sinh học với tổng số vốn hơn 29 tỉ đồng Các phòng thí nghiệm này có tác dụng rất lớn trong triển khai thí nghiệm, nghiên cứu bồi dưỡng cán bộ, thu hút chuyên gia nước ngoài vào làm việc và thực hiện có hiệu quả các công nghệ nuôi cấy mô

Đặc biệt giảng đường của Trường có tổng diện tích là 19.760 m2 và 181 phòng, Phòng máy tính có tổng diện tích là 6.334 m2 và 36 phòng, phòng thí nghiệm có tổng diện tích là 2.545 m2 và 38 phòng, và một Trung tâm TT-TV bốn tầng có khuôn viên đẹp với tổng diện tích hơn 5.000 m2

Trong “Kế hoạch phát triển trường ĐHSP Hà Nội đến năm 2010 và định hướng qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trường ĐHSP Hà Nội trọng

điểm” đã xác định:

- “Trường tập trung nguồn lực cao cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trường ĐHSP Hà Nội trọng điểm

- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật được thiết lập phải đảm bảo tính hiện

đại, đồng bộ và chuẩn mực, đáp ứng ở mức độ cao yêu cầu hoạt động và phát triển trường ĐHSP trọng điểm

- Hệ thống cơ sở vất chất kỹ thuật được thiết lập cần kế thừa, khai thác có hiệu quả những gì đã có, đảm bảo tính kinh tế của phương án đầu tư.” [23,

tr 17]

1.2 Đặc điểm hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm Thông Tin Thư Viện trường Đại Học Sư Phạm Hμ Nội

Trung tâm TT-TV Trường ĐHSP Hà Nội ra đời vào ngày 11 tháng 10 năm 1951 cùng với sự ra đời của trường ĐHSP Hà Nội Trung tâm TT -TV trường ĐHSP Hà Nội là đơn vị phục vụ đào tạo trực thuộc Ban Giám hiệu nhà trường Gắn liền với hơn 50 năm lịch sử của Trường, từ thư viện truyền thống

Trang 22

còn nghèo nàn về cơ sở vật chất cũng như vốn tài liệu, Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội ngày nay đã được đầu tư một cơ ngơi khang trang gồm nhà bốn tầng khép kín với diện tích sử dụng hơn 5000 m2 Đội ngũ cán bộ đa

số được đào tạo đúng chuyên ngành, có năng lực đáp ứng cơ bản cho yêu cầu hoạt động của thư viện

*Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội

Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội có chức năng nghiên cứu, thu thập, bổ sung, xử lý, cung cấp tài liệu thông tin tư liệu về các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Tổ chức tốt các hình thức phục vụ bạn đọc để cán bộ, giảng viên, sinh viên khai thác một cách có hiệu quả vốn tư liệu Góp phần phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường ĐHSP Hà Nội trong giai đoạn mới

Để hoàn thành chức năng trên, Trung tâm TT-TV ĐHSP Hà Nội phải làm tốt những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tham mưu, lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin tư liệu, nâng cấp bổ sung các phương tiện, tài liệu trên cơ sở

kế hoạch đào tạo, nghiên cứu khoa học đã được duyệt phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Trường

- Thu thập, bổ sung, trao đổi và xử lý tài liệu nhằm cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu tra cứu, tìm tin của bạn đọc

- Tổ chức, sắp xếp, lưu trữ và bảo quản tốt nguồn tài liệu của trường ĐHSP

Hà Nội bao gồm các loại hình ấn phẩm và các vật mang tin khác

- Xây dựng hệ thống tra cứu, tìm tin theo phương pháp truyền thống và hiện đại, làm tốt công tác phục vụ và phổ biến thông tin

- Thu nhận đầy đủ tài liệu nộp lưu chiểu từ Nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các kỷ yếu hội nghị, hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp,…

Trang 23

- Nghiên cứu các vấn đề về khoa học thông tin-thư viện, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào xử lý tài liệu, thông tin và phục vụ nhu cầu thông tin ngày càng cao của bạn đọc

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp

vụ của đội ngũ cán bộ thư viện và trang bị kỹ năng khai thác thông tin cho

đông đảo người dùng tin trường ĐHSP Hà Nội

- Xây dựng quy chế hoạt động và các nội quy của Trung tâm nhằm quản lý tốt vốn tài liệu

- Duy trì và phát triển các mối quan hệ nhằm trao đổi kinh nghiệm và chia

sẻ nguồn lực thông tin với các trường đại học, các tổ chức, các cơ quan thông tin trong và ngoài nước

Thực tế cho thấy hoạt động thông tin-thư viện tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội không chỉ là hoạt động thông tin khoa học như các trung tâm thông tin thư viện của các trường đại học khác, mà còn bao gồm cả hoạt

động thông tin khoa học giáo dục Bên cạnh việc cung cấp thông tin tài liệu về các ngành khoa học tự nhiên (KHTN), khoa học xã hội (KHXH), khoa học ứng dụng, trong cơ cấu nguồn lực thông tin tại Trung tâm còn có một số lượng lớn các tài liệu về khoa học giáo dục (KHGD), về phương pháp giảng dạy các môn học Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới giáo dục như hiện nay các tài liệu

về phương pháp giảng dạy các môn học theo hướng tiến tiến, hiện đại đang

được người dùng tin đặc biệt quan tâm Đây cũng là điểm đặc thù của Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội

* Cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT-TV Trường ĐHSP Hà Nội

Cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội được chia thành ba bộ phận thực hiện các nhiệm vụ cơ bản:

- Xử lý nghiệp vụ

- Phục vụ bạn đọc (phục vụ đọc tại chỗ và mượn về nhà)

- Tra tìm và truy cập thông tin

Trang 24

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT-TV Trường ĐHSP Hà Nội được giới thiệu trên hình 2

Hình 2: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT-TV Trường ĐHSP Hà Nội

- Ban Giám đốc: Gồm có Giám đốc phụ trách chung, và một Phó Giám

đốc phụ trách nghiệp vụ và phục vụ bạn đọc

+ Phòng nghiệp vụ gồm các bộ phận bổ sung - trao đổi, biên mục xử lý

nghiệp vụ và làm thẻ, quản lý bạn đọc - người dùng tin trong suốt quá trình sử

PHềNG ĐỌC

PHềNG TIN HỌC

P Biờn mục

P Làm thẻ

P Giỏo trỡnh

P Mượn TL Tham khảo

P Đọc sỏch (Kho đúng)

P Tra cứu (Kho mở)

P Mỏy chủ

Phũng Internet 1

Phũng Internet 2

Phũng Multimedia

P Đọc Bỏo, tạp chớ, LA (Kho đúng)

P Đọc Bỏo, tạp chớ (Kho mở)

TỔ BẢO VỆ

VÀ VỆ SINH

Trang 25

dụng tài liệu tại Trung tâm Đây là nơi tiếp nhận tài liệu và thực hiện chu trình

đường đi của tài liệu trong thư viện

ti vi và 06 đầu video với đầy đủ tai nghe

- Phòng máy chủ có diện tích 50m2 với 04 máy chủ hoạt động 24/24

Ba phòng chức năng trên là các bộ phận hữu cơ tạo nên hoạt động liên tục của Trung tâm Mỗi một phòng thực hiện một nhiệm vụ độc lập song luôn hỗ trợ nhau và tạo nên một dây chuyền thông tin tư liệu khép kín

* Đội ngũ cán bộ

Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội hiện xây dựng được một đội ngũ cán bộ gồm 34 người, có tuổi đời rất trẻ, trung bình khoảng 30 tuổi Họ đều là

Trang 26

những cán bộ có trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của Trung tâm Trong số cán bộ có:

- 03 thạc sĩ thư viện

- 18 cán bộ tốt nghiệp đại học thư viện

- 11 cán bộ tốt nghiệp các đại học khác

- 02 cán bộ tốt nghiệp cao đẳng và trung cấp thư viện

* Cơ sở vật chất, trang thiết bị

Hàng năm Trung tâm TT-TV được Nhà trường đầu tư 500-600 triệu đồng

để bổ sung tài liệu, sách, báo, tạp chí và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị Trung bình mỗi năm Trung tâm bổ sung từ 3000-5000 bản sách, trên 200 loại báo, tạp chí trong và ngoài nước

Trang thiết bị sử dụng tại Trung tâm như bàn, ghế, tủ phích mục lục, đều

được trang bị mới hoàn toàn theo các thiết kế phù hợp với mục đích sử dụng Bàn, ghế các loại dùng cho bạn đọc: bàn đọc báo, tạp chí, bàn tra cứu, bàn đọc

đa phương tiện Các loại tủ như: Tủ đựng máy tính dùng cho tra cứu, tủ đựng

đồ của bạn đọc, tủ đựng báo, tạp chí, và giá kẽm các loại cũng như thiết bị văn phòng được trang bị đồng bộ và hợp lý

Nhằm hiện đại hoá cho việc tra cứu và tìm kiếm thông tin, hiện nay Trung tâm đã trang bị được:

- Hệ thống máy tính gồm: 04 máy chủ, 136 máy trạm, trong đó

có 70 máy được bố trí ở 02 phòng Internet phục vụ bạn đọc khai thác thông tin trên mạng, số còn lại được bố trí tại các phòng chức năng để

tổ chức xây dựng CSDL và để người dùng tin tra cứu, tìm tin

- Hệ thống máy in gồm: 08 máy in HP 4200N, 02 máy in HP 1200 PCL, 02 máy in thẻ thư viện, 02 máy in mã số, mã vạch

- Hệ thống máy quét gồm: 04 máy quét A3 Microtek, 04 máy quét A4 HP 3770, máy chụp ảnh kỹ thuật số phục vụ cho việc làm thẻ bạn đọc

Trang 27

- Hệ thống máy photocopy phục vụ nhu cầu sao chụp, nhân bản tài liệu của bạn đọc gồm: 01 máy siêu tốc, 04 máy chất lượng cao

đọc, thống kê tài liệu, tạo ra các sản phẩm thông tin: Thư mục giới thiệu tài liệu mới, các loại báo cáo

1.3 Người dùng tin ở Trung Tâm Thông Tin Thư Viện trường Đại Học Sư Phạm Hμ Nội

Trường đại học là một trong những trung tâm trí tuệ, là cơ sở chủ yếu đào tạo nhân tài cho đất nước Chính vì vậy hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, học tập là hoạt động chủ đạo đóng vai trò quan trọng trong môi trường đại học

Đây không chỉ là quá trình tiếp nhận thông tin một chiều mà là quá trình sáng tạo, chuyển giao tri thức theo nhiều chiều hướng khác nhau Cùng với những yêu cầu đổi mới về nội dung phương pháp giảng dạy đòi hỏi người học phải chủ động hơn, sáng tạo hơn trong cách tiếp cận tới thông tin, tri thức, khuyến khích người học phải đọc nhiều tài liệu, đào sâu suy nghĩ và đặt ra những câu hỏi về các vấn đề được học

Người dùng tin (NDT) là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ hoạt

động của một cơ quan thông tin-thư viện nào NDT và nhu cầu thông tin của

họ là cơ sở để định hướng cho toàn bộ hoạt động thông tin của cơ quan thông tin-thư viện Nắm vững nhu cầu thông tin, đáp ứng kịp thời, đầy đủ và chính

Trang 28

xác nhu cầu thông tin của NDT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện nói chung và của các trung tâm thông tin thư viện đại học nói riêng Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin của NDT ngày càng đa dạng và phong phú Chất lượng của việc đáp ứng nhu cầu thông tin phụ thuộc vào sự nắm bắt nhu cầu tin và thói quen sử dụng thông tin của họ Người dùng tin ở Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội là toàn thể cán

bộ công nhân viên, giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu sinh, học viên cao học, học sinh phổ thông chuyên, sinh viên các hệ đào tạo từ xa, tại chức, chuyên tu trong trường và một số lượng lớn NDT là bạn đọc ngoài trường

Hiện nay, Trung tâm đang quản lý 10.844 thẻ bạn đọc (trong đó có 8.793 thẻ sinh viên (chiếm 81.1%), 1.350 thẻ học viên cao học (chiếm 12.4%), 355 thẻ cán bộ (chiếm 3.3%) và 346 thẻ học sinh khối chuyên phổ thông (chiếm 3.2%)

Bằng việc thống kê số thẻ, trao đổi qua hội nghị bạn đọc (được tổ chức hàng năm), sổ góp ý, phỏng vấn trực tiếp, phân tích phiếu yêu cầu và đặc biệt

là điều tra xã hội học bằng phiếu đã giúp xác định được NDT tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội gồm ba nhóm sau:

1.3.1 Nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý

Nhóm NDT là cán bộ quản lý (CBQL) đến Trung TT-TV ĐHSP Hà Nội không nhiều, chỉ chiếm 7.1%, nhưng lại là những người có ảnh hưởng lớn tới

sự phát triển của Trường, của ngành giáo dục Những NDT thuộc nhóm này vừa làm công tác quản lý, vừa tham gia nghiên cứu khoa học và tham gia

Trang 29

giảng dạy ở nhiều nơi Họ có thể là cán bộ quản lý ở các trường đại học, các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và thậm chí họ là cán bộ quản lý thuộc các Sở giáo dục, Phòng giáo dục ở các địa phương Thực chất của việc quản lý là ra quyết định và định hướng mục tiêu chiến lược phát triển của ngành, của trường Không giống như các Trung tâm TT-TV khác, tỷ lệ cán bộ quản lý là nữ đến Trung tâm TT-TV ĐHSP Hà Nội gấp 4 lần nam giới (nữ là 80%, nam là 20%)

* Độ tuổi :

Độ tuổi của cán bộ quản lý đến Trung tâm được phân bố cân đối: Nhiều nhất ở độ tuổi 51-60 chiếm 40% Còn lại ở độ tuổi 20-35 và 36-50 đều chiếm 30% Điều này cho thấy độ tuổi của cán bộ quản lý rất phù hợp với công việc

mà họ đang đảm nhận ở độ tuổi 51-60 và 36-50 cán bộ quản lý là những người giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm thực tiễn và kinh nghiệm nghề nghiệp phong phú ở hai độ tuổi này cán bộ quản lý có thể là những người thầy, là chỗ dựa tin cậy cho lớp cán bộ quản lý trẻ học tập

Bảng 1: Lứa tuổi của người dùng tin

Lứa tuổi

Nhóm

Tổng số phiếu 16-19 20-35 36-50 51-60 Tổn

Trang 30

tham gia đề tài khoa học cấp bộ Có tới 60% cán bộ quản lý tham gia đề tài

khoa học cấp Bộ và 30% cán bộ quản lý tham gia đề tài cấp trường

Bảng 2: Trình độ học vấn của các nhóm người dùng tin Nhóm

Khả năng ngoại ngữ của nhóm cán bộ quản lý tương đối cao, có tới 30%

cán bộ quản lý nói tốt 2 ngoại ngữ và 70% cán bộ quản lý thành thạo 1 ngoại

ngữ Phần lớn NDT thuộc nhóm này được đào tạo ở nước ngoài nên họ thành

thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga

Bảng 3: Khả năng ngoại ngữ của các nhóm người dùng tin

* Đời sống vất chất:

Đời sống vật chất của nhóm cán bộ quản lý đến Trung tâm phần lớn đủ ăn

(chiếm 80%) và dư giả (chiếm 10%) Cán bộ quản lý cho biết nguồn thu nhập

chính của họ từ bản thân, vợ hoặc chồng Chỉ 10% cán bộ quản lý cho biết họ

Trang 31

còn có đời sống kinh tế khó khăn Số người dùng tin còn có đời sống khó khăn phần lớn tập trung ở nhóm cán bộ quản lý có trình độ đại học, do họ vừa tốt nghiệp, mới đi làm và đang phải theo học văn bằng hai, hoặc học thêm ngoại ngữ

* Đời sống tinh thần:

Cán bộ quản lý có đời sống tinh thần phong phú Có tới 90% cán bộ quản

lý thích đọc sách báo, 70% cán bộ quản lý thích xem phim, xem thời sự, chính trị trên ti vi; 50% cán bộ quản lý yêu thích thể thao để rèn luyện sức khoẻ; 10% cán bộ quản lý tham gia hoạt động xã hội và tìm đến dịch vụ internet Và

có tới 30% cán bộ quản lý thích nghỉ ngơi trong thời gian rảnh Nhìn chung nhóm này không tham gia hoạt động văn hóa nghệ thuật

1.3.2 Nhóm người dùng tin là cán bộ giảng dạy, nghiên cứu

Cán bộ giảng dạy-nghiên cứu (GDNC) là những người có vai trò quan trọng đối với chất lượng giáo dục đào tạo của trường, của hệ thống giáo dục

Họ cũng là những người có ảnh hưởng tích cực tới công cuộc đổi mới giáo dục của nước nhà Cán bộ GDNC đến Trung tâm là nhóm người dùng tin tích cực,

họ vừa là những người sáng tạo ra thông tin (bằng việc trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học, viết giáo trình ) vừa là những người chuyển giao thông tin, tri thức tới người học Cán bộ GDNC đến Trung tâm TT-TV ĐHSP chiếm 19,1% Cũng giống như cán bộ quản lý, cán bộ GDNC là nữ đến Trung tâm gấp 2 lần cán bộ GDNC là nam giới (nữ chiếm 66.7%; nam 33.3%)

* Độ tuổi:

Độ tuổi của cán bộ GDNC phần lớn còn rất trẻ: có tới 81.5% ở độ tuổi

20-35 Đây là độ tuổi năng động, ham học hỏi, sáng tạo, nhiệt tình và đã bắt đầu

có kinh nghiệm nghề nghiệp khá vững vàng Còn lại là cán bộ GDNC ở độ tuổi 36-50, những người có kinh nghiệm nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn phong phú, chín chắn

* Trình độ học vấn:

Trang 32

Cán bộ GDNC đến Trung tâm phần lớn có trình độ thạc sĩ (chiếm 77.8%),

và 7.41% cán bộ GDNC đang tiến hành nghiên cứu tiến sĩ Số cán bộ GDNC còn lại đều đã tốt nghiệp đại học Trong 100% cán bộ GDNC được hỏi có 33.3% cán bộ tham gia đề tài khoa học cấp trường và 7.5% cán bộ tham gia đề tài khoa học cấp bộ

* Khả năng ngoại ngữ:

Cán bộ GDNC là những người có trình độ ngoại ngữ khá cao Có 7.4% cán bộ GDNC biết 3 ngoại ngữ, 22.2% cán bộ GDNC biết 2 ngoại ngữ và 70.4% cán bộ GDNC biết 1 ngoại ngữ Phần lớn cán bộ thuộc nhóm này có khả năng ngoại ngữ về tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc

* Đời sống vật chất:

Đời sống vật chất của nhóm cán bộ GDNC tương đối ổn định Có tới 74% cán bộ GDNC có mức sống đủ ăn, 4% cán bộ GDNC có cuộc sống dư giả, và 22.2% cán bộ GDNC còn có hoàn cảnh khó khăn Nguồn thu nhập chính của

họ từ bản thân chiếm 63%, từ vợ hoặc chồng và cha mẹ đều chiếm 18.5%

Bảng 4: Nguồn thu nhập chính của người dùng tin Nhóm

Thu nhập

Tổng số phiếu Quản lý GDNC Sinh viên

Trang 33

căng thẳng; 14.8% các bộ GDNC tham gia hoạt động xã hội; 22% dành thời gian cho các hoạt động văn hoá nghệ thuật và 7.5% thích các hoạt động khác

Bảng 5: Đời sống tinh thần của các nhóm người dùng tin

Nhóm

Đời sống tinh thần

Tổng số phiếu Quản lý GDNC Sinh viên

Đọc sách báo 484 85.8 36 7.4 80 16.5 368 76.0Xem phim, tivi 352 62.4 28 8.0 80 22.7 244 69.3

1.3.3 Nhóm người dùng tin là sinh viên

Người dùng tin thuộc nhóm này phần lớn là sinh viên, một số ít là học viên cao học, học sinh phổ thông thuộc các khối phổ thông chuyên của Trường Ngoài ra còn có một số sinh viên ngoài trường cũng có nhu cầu sử dụng Trung tâm để làm đề tài nghiên cứu khoa học, khoá luận, làm bài tập như sinh viên ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Thái Nguyên, ĐH Nông nghiệp, ĐH Huế, ĐH Sư phạm II,…

Đây là nhóm NDT đông đảo nhất, trẻ trung nhất, ham thích khám phá cái mới Trong bất kỳ thời điểm nào, nhóm NDT này luôn chiếm ưu thế tại Trung tâm Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, cùng với những điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, cùng với những yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp giảng dạy, nhóm NDT này đến Trung tâm tăng đáng kể Chiếm 73,8% số người đến Trung tâm, cũng giống như các nhóm NDT trước, tỷ lệ NDT là nữ

Trang 34

đến Trung tâm gấp 4.78 lần NDT là nam giới (nữ chiếm 82.7%; nam chiếm 17.3%)

Bảng 6: Đề tài khoa học các cấp của các nhóm người dùng tin Nhóm

* Đời sống vật chất:

Trang 35

Nhóm NDT là sinh viên có đời sống tương đối ổn định, 81.7% sinh viên tới Trung tâm khẳng định họ có đời sống đủ ăn; 0.96% sinh viên có đời sống kinh tế dư giả và 17.3% có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Phần lớn NDT thuộc nhóm này được nhận kinh tế từ cha mẹ Có tới 8.6% sinh viên có nguồn thu nhập từ bản thân bằng việc dạy và làm thêm Và 2.9% NDT thuộc nhóm này

có thu nhập từ vợ hoặc chồng Qua phỏng vấn trực tiếp với những NDT có hoàn cảnh khó khăn được biết: Họ đều là sinh viên ở các tỉnh xa, thậm chí thuộc vùng sâu, vùng xa, gia đình có hoàn cảnh khó khăn Gia đình cũng đã

cố gắng tạo cho họ những điều kiện tốt nhất Đối vối những gia đình khó khăn thì việc lựa chọn vào học các trường sư phạm là cách tốt nhất giúp con, em họ

có điều kiện tiếp tục sự nghiệp học hành

Bảng 7: Mức sống của các nhóm người dùng tin Nhóm

Qua kết quả điều tra cho thấy đời sống tinh thần của nhóm sinh viên rất

đa đạng phong phú Họ tham gia vào tất cả các hoạt động giải trí với tỷ lệ cao hơn so với hai nhóm trước, song nhiệm vụ chính của họ là học tập cũng không

hề bị sao nhãng Có tới 88.46% NDT thuộc nhóm này thích đọc sách báo; 62.5% NDT thích truy cập Internet: 58.65% NDT thích xem phim, ti vi; 45% NDT dành thời gian rảnh để nghỉ ngơi; 27.88% NDT tham gia các hoạt động thể thao; 19.2% NDT thích giải trí bằng các hoạt động văn hóa nghệ thuật Và

có 14.4% NDT thuộc nhóm này tham gia vào các hoạt động khác

Trang 36

Có thể nói với đặc thù của một trường ĐHSP trọng điểm có nhiệm vụ đào tạo giáo viên chất lượng cao cho các cấp học, ngành học về hầu hết các ngành khoa học nên hoạt động thông tin của Trung tâm TT-TV ĐHSP Hà Nội cũng

có những nét riêng biệt: thông tin vừa đa dạng, dàn trải thuộc nhiều lĩnh vực, vừa chuyên sâu về lĩnh vực khoa học giáo dục

NDT tại Trung tâm TT-TV ĐHSP Hà Nội là những người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó phần lớn là những người trẻ tuổi (không có NDT nào trên

60 tuổi), tỷ lệ NDT là nữ giới đến Trung tâm nhiều hơn nam giới (đây có lẽ là

đặc thù của các trường sư phạm vì nữ giới thường thích nghề sư phạm hơn nam giới) Họ đều là những người có trình độ văn hóa cao, ngoại ngữ giỏi (ít nhất là biết một ngoại ngữ), ham đọc sách, có đời sống vật chất ổn định và đời sống tinh thần phong phú

Trang 37

Chương 2

Đặc điểm nhu cầu tin vμ khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin tại Trung tâm thông tin thư viện

Trường Đại học Sư Phạm Hμ Nội

2.1 Thực trạng nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin

2.1.1 Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học

Trường ĐHSP Hà Nội là một trong hai trường ĐHSP trọng điểm, đứng

đầu trong cả nước về đào tạo giáo viên với 22 ngành đào tạo cử nhân, 40 ngành có đào tạo thạc sĩ với 30 mã số chuyên ngành và 39 ngành có đào tạo tiến sĩ với 39 mã số chuyên ngành Chính vì vậy mà nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học rất đa dạng và phong phú

Hầu hết NDT của Trung tâm quan tâm đến các lĩnh vực tài liệu thuộc chuyên ngành được đào tạo và một số lĩnh vực tài liệu giúp họ giải trí, trau rồi kiến thức, nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm

Tại Trung tâm TT-TV trường ĐHSP Hà Nội nhu cầu tin (NCT) về các tài liệu khoa học xã hội và nhân văn cao hơn nhu cầu tin về các môn khoa học tự nhiên Xét một cách tổng thể thì NCT của NDT tập trung cao nhất ở tài liệu văn học lên tới 54.6%, tài liệu lịch sử là 30%, khoa học giáo dục là 27.7% Tài liệu về khoa học chính trị và công nghệ thông tin đều được 18.4% NDT quan tâm Các tài liệu địa lý, toán học và âm nhạc đều có 15.6% NDT quan tâm Các tài liệu về vật lý, hoá học, sinh - KTNN, và giáo dục thể chất được NDT quan tâm với số lượng thấp hơn

Trang 38

Bảng 8: Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học Nhóm

Lĩnh vực KH

Tổng số phiếu Quản lý GDNC Sinh viên

So sánh NCT của từng nhóm NDT cho thấy: Nếu 51.85% cán bộ GDNC

quan tâm nhiều nhất đến tài liệu văn học thì có tới 70% CBQL quan tâm đến

tài liệu khoa học giáo dục; 50% CBQL quan tâm đến tài liệu lịch sử; Với lĩnh

vực khoa học chính trị và công nghệ thông tin đều có tới 30% CBQL quan

tâm

Nhóm cán bộ GDNC bên cạnh việc quan tâm đến lĩnh vực văn học cũng

có tới 44.4% cán bộ GDNC đều quan tâm đến tài liệu khoa học giáo dục và

khoa học lịch sử; 29.6% cán bộ GDNC quan tâm đến tài liệu khoa học chính

trị

Đối với nhóm NDT là sinh viên tài liệu văn học cũng được họ đặc biệt

quan tâm lên tới 58.65% Giống như hai nhóm trước các tài liệu được họ quan

tâm nhiều cũng không nằm ngoài các lĩnh vực như: lịch sử (chiếm 29.8%),

công nghệ thông tin (chiếm 20.19%), khoa học giáo dục (chiếm 19.2%)

Trang 39

nhưng với tỷ lệ thấp hơn Các lĩnh vực còn lại được họ quan tâm ngang nhau nhưng với tỷ lệ rất khiêm tốn

NCT của nhóm cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy-nghiên cứu tập trung cao ở các tài liệu về khoa học giáo dục, khoa học chính trị, lịch sử và lĩnh vực công nghệ thông tin Đây là những lĩnh vực phục vụ hữu ích cho các công việc

mà họ đang đảm nhiệm Những lĩnh vực này giúp trang bị cho họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực sự phạm và bản lĩnh khoa học cao Các tài liệu

về khoa học công nghệ giúp họ tiếp cận nhanh tới tri thức và phương pháp giáo dục mới trong giảng dạy các môn học

Tài liệu về khoa học giáo dục luôn được các nhà quản lý và cán bộ GD

NC quan tâm Đặc biệt là các tài liệu quản lý giáo dục về kinh nghiệm giáo dục của các nước phát triển, của các nhà sư phạm lỗi lạc Các tài liệu về kinh nghiệm nâng cao chất lượng giáo dục, giảng dạy lý thuyết, thực hành chuyên môn, cải tiến các bài thí nghiệm và các đồ dùng giáo dục cho giáo dục phổ thông Tại Trung tâm các tài liệu về khoa học chính trị và khoa học lịch sử có giá trị vô cùng quý giá Hai lĩnh vực tài liệu này đi ngược với quy luật lỗi thời của tài liệu Tài liệu càng xuất bản cách xa hiện tại càng có giá trị

Trái với hai lĩnh vực tài liệu này là tài liệu thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin Các tài liệu về công nghệ thông tin luôn được bổ sung mới do tính chất của khoa học công nghệ phát triển nhanh Cán bộ quản lý và cán bộ GDNC rất quan tâm đến lĩnh vực này để tiếp cận với xu thế mới của ngành là nắm vững công nghệ thông tin để áp dụng vào nghiên cứu giảng dạy và quản

So sánh NCT về các lĩnh vực tài liệu ở các độ tuổi khác nhau của NDT cũng có sự khác nhau ở độ tuổi 16-19 NDT phần lớn là học sinh phổ thông chuyên Chính vì vậy ngoài các lĩnh vực là các môn học thuộc các phân ban

mà họ theo học, họ còn quan tâm đến các lĩnh vực khác như âm nhạc…

Đương nhiên họ chưa có nhu cầu về khoa học giáo dục, khoa học chính

Trang 40

trị…Còn ở độ tuổi 20-35, 36-50, 51-60 NDT quan tâm nhiều các lĩnh vực như

đã nêu ở trên Nhưng xét ở độ sâu của các lĩnh vực này lại phụ thuộc vào trình

độ của NDT Cũng ở những độ tuổi này nhưng nếu NDT là sinh viên thì nhu

cầu về lĩnh vực khoa học giáo dục, khoa học chính trị chỉ đơn thuần là giáo

trình, sách tham khảo phục vụ cho yêu cầu các môn học Nhưng nếu họ là thạc

sĩ, nghiên cứu sinh, tiến sĩ, PGS-GS thì NCT của họ lại là những tài liệu mang

tính chất lý luận

2.1.2 Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu của các nhóm người dùng tin

Trong thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật, của kinh tế thông tin-tri

thức; thời đại của giao lưu, hội nhập, hợp tác cùng phát triển của các nước trên

thế giới Một cá nhân không thể trở thành một người có tài năng nếu không

biết ngoại ngữ, một dân tộc không thể vươn lên nhanh chóng để sánh vai cùng

các nước khác nếu dân tộc đó kém về ngoại ngữ Ngoại ngữ thực sự trở thành

chìa khóa vàng, công cụ, phương tiện quan trọng trong việc tiếp cận tri thức,

khoa học tiên tiến; mở rộng quan hệ giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc

Bảng 9: Nhu cầu sử dụng tài liệu theo ngôn ngữ của các nhóm người dùng

tin

Nhóm

Ngoại ngữ

Tổng số phiếu Quản lý GDNC Sinh viên

Theo kết quả khảo sát, NDT tại Trung tâm có nhu cầu sử dụng tài liệu

tiếng nước ngoài khá cao 83% NDT cho biết họ có nhu cầu sử dụng tài liệu

Ngày đăng: 18/07/2018, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w