1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an

97 675 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại Nghệ An
Tác giả Thái Khắc Thanh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Bá Mùi
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 917,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Chuyên ngành: THÚ Y

Mã số: 60.62.50 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN BÁ MÙI

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn

Tác giả luận văn

Thái Khắc Thanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo bộ môn Hoá sinh - Sinh lý động vật Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản; các thầy, cô giáo Khoa Thú y, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cũng như các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Bá Mùi - người Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn này

Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Lãnh đạo Cơ quan Trung tâm giống chăn nuôi Nghệ An, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành chương trình học tập

Tác giả luận văn

Thái Khắc Thanh

Trang 4

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản 3

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái 3

2.1.3 Sự điều hoà hoạt động sinh dục của tuyến nội tiết 17

2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản 28

2.2 Những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản 31

2.2.2 Những nghiên cứu sử dụng hormone sinh dục nâng cao khả năng

3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.2.1 Đánh giá tình hình sinh sản của đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An 39

3.2.2 ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện khả năng sinh sản của

Trang 5

3.3.1 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản 403.3.2 Một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện khả năng sinh sản đối với đàn

4.1 Đánh giá một số đặc điểm sinh sản ở đàn bò lai hướng sữa tại nghệ An 494.1.1 Kết quả điều tra đánh giá về khả năng sinh sản của đàn bò lai hướng sữa ở

4.1.2 Tuổi phối giống lần đầu, khối lượng cơ thể khi phối giống lứa đầu 504.1.3 Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng cơ thể khi đẻ lứa đầu 514.1.4 Thời gian động dục lại sau khi đẻ của bò lai hướng sữa 55

4.1.7 Tỷ lệ đẻ toàn đàn, tỷ lệ sẩy thai, tỷ lệ sát nhau 594.1.8 Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh của đàn bò lai hướng sữa Nghệ An 60

4.1.10 Kết quả khám buồng trứng và tử cung của đàn bò lai hướng sữa tại NghệAn 634.2 Một số biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò cái lai hướng sữa

4.2.5 Khả năng gây động dục bằng phương pháp đặt dụng cụ âm đạo Cidr

4.2.6 Kết quả sử dụng HCG trên bò động dục mà không rụng trứng 744.2.7 Kết quả bò động dục sau khi đẻ được thụt rửa bằng dung dịch kháng

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CIDR Controlled Internal Drug Released

3 F1 Có 50% máu bò Hà Lan và 50% máu bò laisind

4 F2 Có 75% máu bò Hà Lan và 25% máu bò laisind

7 GnRH Gonadotropin Releasing Hormone

13 PGF2a Prostaglandin F2 alpha

14 PMSG Pregant Mare Serum Gonadotropin

Trang 8

Bảng 4.2 Tuổi phối giống lần đầu và khối lượng cơ thể của bò cái lai hướng sữa 54Bảng 4.3 Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng cơ thể khi đẻ lứa đầu 54Bảng 4.4 Thời gian động dục lại sau khi đẻ (ngày) 55

Bảng 4.6 Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai trên đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An 58Bảng 4.7 Tỷ lệ đẻ toàn đàn, tỷ lệ sẩy thai, tỷ lệ sát nhau của đàn bò lai hướng

Bảng 4.8 Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh ở đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An 61

Bảng 4.10 Kết quả khám lâm sàng buồng trứng và tử cung đàn bò lai hướng

Bảng 4.11 Các chỉ tiêu sinh sản của đàn bò thí nghiệm 65Bảng 4.12 a Khả năng gây động dục của (PGF2a) trên bò lai hướng sữa 68Bảng 4.12 b Khả năng gây động dục của (PGF2 a) hai liều cách nhau 11 ngày 70Bảng 4.13 Kết quả gây động dục của progesterone kết hợp HTNC

Bảng 4.14 Khả năng động dục bằng phương pháp đặt dụng cụ 73

Bảng 4.15 Kết quả sử dụng HCG trên bò cái hướng sữa động dục mà không

Trang 9

Bảng 4.16 Kết quả bò động dục lại sau khi đẻ được thụt rửa bằng dung dịch

Bảng 4.17 Kết quả điều trị viêm tử cung - âm đạo trên bò cái 79

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.2 Diễn biến động thái hormone trong máu ở các giai đoạn trong chu kỳ

Hình 2.3 Cơ chế điều hoà chu kỳ động dục của bò cái 23

Biều đồ 4.2 Kết quả sử dụng prostaglandin trên bò chậm động dục do thể vàng

Biểu đồ 4.3 Khả năng gây động dục của (PGF2a) hai liều cách nhau 11 ngày 70

Biểu đồ 4.4 b Tỷ lệ thụ thai của bò được thụt rửa sau khi đẻ 78

Trang 11

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của vấn đề cần nghiên cứu

Trong công cuộc đổi mới, phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Với mục tiêu phấn đấu đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính và chiếm vị trí cao trong ngành sản xuất nông nghiệp của đất nước Trong những năm qua ngành chăn nuôi luôn được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, vì vậy đã đạt được những thành tựu đáng kể, đáp ứng nhu cầu cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao ngày càng tăng của xã hội

Ngành chăn nuôi bò sữa là một ngành sản xuất còn non trẻ ở nước ta Theo số liệu thống kê hàng năm, số lượng bò sữa nước ta đã tăng từ 11 ngàn con năm 1990 lên 35 ngàn con năm 2000, tăng trưởng bình quân 12,3%/năm Tổng sản lượng sữa tươi tăng từ 9,3 ngàn tấn lên 52,2 ngàn tấn, tăng trưởng bình quân 18,8%/năm Sữa tươi sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 8% nhu cầu tiêu thụ, 92% sản phẩm sữa phải nhập khẩu

Để thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa phát triển nhà nước đã có quyết định số 167/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/2001 về một

số biện pháp và chính sách phát triển bò sữa Việt Nam thời kỳ 2001-2010, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách về phát triển chăn nuôi bò sữa Số lượng bò sữa tăng từ 41,2 ngàn năm 2001 lên 113,2 ngàn con năm 2006, tốc

độ tăng đàn bình quân trong giai đoạn này là 24,9%/năm, trong đó các tỉnh phía Bắc tăng 43,7%/năm, các tỉnh phía Nam tăng 22,1%/năm Số bò sữa các tỉnh phía Bắc 23,33 ngàn con, chiếm 20,5%, các tỉnh phía Nam 89,88 ngàn con, chiếm 79,5% Tổng sản lượng sữa tươi của cả nước đã tăng từ 64,7 ngàn tấn năm 2001 đạt lên 215,9 ngàn tấn năm 2006, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2006 là 30,5%/năm

Trang 12

Song song với các giải pháp mang tính chiến lược ưu tiên đầu tư cho công tác giống, tăng số lượng và chất lượng, việc áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp để nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò sữa là rất quan trọng Nghệ An là địa phương phát triển chăn nuôi bò sữa từ năm 2001 Thực trạng chăn nuôi bò sữa còn phân tán ở các nông hộ và các trang trại nhỏ với điều kiện nuôi dưỡng khác nhau nên dẫn đến các chỉ tiêu sản xuất của đàn bò sữa cũng khác nhau Đặc biệt là các chỉ tiêu về sinh sản thường không ổn định, một số yếu điểm trong sinh sản đã biểu hiện như tuổi động dục lần đầu cao (24 - 36 tháng), khoảng cách hai lứa đẻ kéo dài (14-18 tháng), tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục, tỷ lệ sót nhau cao v.v

Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn bò sữa có rất nhiều: Bên cạnh yếu tố con giống, thức ăn, nuôi dưỡng chăm sóc, chế độ chính sách phải nói đến yếu tố kỹ thuật như; theo dõi động dục, phối giống đúng thời điểm hoặc là các biện pháp hữu hiệu để xử lý các trường hợp chậm sinh và bệnh nhiễm trùng đường sinh dục chưa tốt đã dẫn đến làm giảm khả năng sinh sản của đàn bò sữa

Đối với ngành chăn nuôi bò sữa việc rút ngắn tuổi động dục lần đầu, rút ngắn khoảng cách giữa các lứa, tăng số con được sinh ra đồng nghĩa với tăng sản lượng sữa trong một đời con cái Ngoài ý nghĩa kinh tế, tăng khả năng sinh sản cũng có nghĩa tăng nhanh số lượng đàn giống, mở rộng tái sản xuất

Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại

Nghệ An”

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

- Đánh giá một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại Nghệ An

- Trên cơ sở nghiên cứu đưa ra một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa

Trang 13

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái

Sinh sản là chức năng vô cùng quan trọng của gia súc cái và cũng là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể Sinh sản duy trì, phát triển và bảo tồn giống nòi, các nhà chăn nuôi từ lâu đã quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về cấu tạo và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan sinh dục của gia súc cái

Cơ quan sinh dục bò cái mang đặc tính chung của các loài gia súc khác

Cơ quan sinh dục bò cái được chia làm hai bộ phận: Bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình

Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng

2.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài

* Âm môn (Vulva) hay còn gọi là âm hộ: Nằm dưới hậu môn, bên ngoài có 2 môi (Labia vulvae) bờ trên hai môi có nhiều tuyến tiết chất nhờn trắng và mồ hôi

* Âm vật (Clitosis): Giống như dương vật thu nhỏ lại, bên trong có thể hổng, trên âm vật có lớp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới

* Tiền đình (Vestibum vaginae sinus inogenitalis): Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, trước âm đạo Màng trinh gồm các sợi đàn hồi ở giữa và do 2 lớp niêm mạc giáp lại thành một nếp tiền

đình có một số tuyến xếp chéo hướng về âm đạo

2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong

a) Âm đạo

Là một cái ống tròn, trước âm đạo có cổ tử cung, phía sau là tiền đình,

Trang 14

có màng trinh (Hymen) Cấu tạo của âm đạo được chia ra làm 3 lớp:

đó và chuyển tiếp vào tử cung Tinh thanh không được chuyển vào tử cung, phần lớn chúng được thải ra ngoài và hấp thu qua âm đạo

Ngoài ra âm đạo còn là ống thải các chất dịch cổ tử cung, dịch nội mạc

tử cung và là đường thai đi qua khi sinh đẻ

b) Tử cung

Tử cung của bò thuộc nhóm tử cung 2 sừng, 1 thân và 1 cổ tử cung Đối với bò cái tơ thì toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đã đẻ nhiều lứa thì tử cung nằm trong xoang bụng Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, ở đây hợp tử (sau này là thai) phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp nội mạc tử cung cung cấp Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần dựa vào noãn hoàng, một phần dựa vào “sữa tử cung” thông qua cơ chế thẩm thấu sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau nhai

Nội mạc tử cung và dịch tử cung giữ một vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản như vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai và đẻ

Tử cung của bò có 3 phần từ ngoài vào trong là: Cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung

Trang 15

* Cổ tử cung: Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung tròn thông với âm đạo, luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ, hoặc lúc sinh

đẻ hay bị bệnh lý Cổ tử cung dài khoảng 8 - 10 cm, đường kính 3 - 6 cm Niêm mạc cổ tử cung gấp nhiều lần làm cho thành tử cung không đồng đều tạo thành những thuỳ, gọi là thuỳ hoa nở Thuỳ ngoài cùng dô vào âm đạo 0,5

- 1,0 cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Khám qua trực tràng cầm vào cổ

tử cung tựa như cầm vào một đoạn cổ gà Cổ tử cung có khác biệt ít nhiều giữa bò già, bò trẻ, giữa bò đẻ nhiều, bò đẻ ít, giữa các giống, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ không bình thường

* Thân tử cung: Thân tử cung ở bò rất ngắn, chỉ dài khoảng 2 - 4 cm Thân tử cung nối giữa sừng tử cung với cổ tử cung

* Sừng tử cung: ở gia súc cái sừng tử cung gồm 2 sừng trái và phải, độ dài của sừng 20 - 35 cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3 - 4 cm, phần ngọn chỉ khoảng 0,5 - 0,8 cm Khác với gia súc khác, 2 sừng tử cung ở phần gần với thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung dài 3 - 5 cm Rãnh này dễ dàng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh ở tử cung khi khám qua trực tràng

c) Buồng trứng

Buồng trứng của bò gồm 1 đôi đeo ở cạnh trước dây chằng rộng gần mút sừng tử cung, cạnh trước của xương ngồi hay ở phía dưới sừng tử cung Hình dáng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ô van dẹp, không

có lõm rụng, buồng trứng thường nằm trong xoang chậu (khi chưa sinh sản) Lúc mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3 gr, khi trưởng thành có kích thước: dài 1 - 2 cm, rộng 1 - 1,5 cm, khối lượng 10 - 20 gam (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1995) [1] Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng

và tiết hormone

Cấu tạo của buồng trứng gồm lớp trong và lớp vỏ bao bọc bởi biểu mô mầm Lớp trong có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết Trên buồng trứng có từ

Trang 16

70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau Tầng ngoài

là những noãn bào sơ cấp phân bổ tương đối đều Tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín được nổi lên trên bề mặt buồng trứng Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là tế bào noãn bào Tế bào noãn bào lúc đầu hình dẹp, sau hình khối và hình trụ Noãn bào thứ cấp do tế bào noãn bào tăng sinh thành nhiều tầng và tiết ra dịch noãn bào ngày càng nhiều và hình thành xoang noãn bào, ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hoàn thành, dịch noãn bào nhiều, noãn bào nổi lên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn xác định, noãn bào

vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào đi vào loa kèn và đi vào ống dẫn trứng Nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng Thể vàng được hình thành sau khi trứng rụng do sự nở to và sự lutein hoá của tế bào kết hạt được bắt đầu từ đó

Mô lutein lớn lên chủ yếu do sự nở to của các tế bào lutein

Các tế bào thể vàng tiết ra progesterone, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8 và giữ tương đối

ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hoá thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày thứ

17 - 18 và chuyển thể bạch nếu không thụ tinh

d) ống dẫn trứng

ống dẫn trứng còn gọi là vòi fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua điểm - phễu - phồng ống dẫn trứng và đoạn eo của ống dẫn trứng (Nguyễn tấn Anh và cs, 1995) [1] Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau và đồng thời một lúc Cấu tạo của ống dẫn trứng thích hợp với chức năng phức tạp đó Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng gần sát buồng trứng và có hình loa kèn, loa kèn là màng mỏng tạo thành 1 cái tán rộng, vành tán có các tua điểm lô nhô không đều ôm lấy buồng trứng Đối với bò diện tích của loa kèn thường rộng 20 - 30 mm2 và phủ toàn bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997) [8] Bộ phận nhô tua

Trang 17

điểm vận chuyển trứng rụng về mặt buồng trứng tới phễu Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng (nơi xẩy ra sự thụ tinh và phân chia sớm của phôi) Phôi được lưu lại trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi bao gồm chất dinh dưỡng và bảo vệ cho tinh trùng, noãn bào và hợp tử Sau đó niêm mạc ống dẫn trứng và tử cung còn tiết ra men Hyaluronidaza tham gia vào quá trình thụ tinh (dẫn theo [5])

Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Trên đường di hành trong ống dẫn trứng tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng

2.1.2 Hoạt động sinh dục của bò cái

2.1.2.1 Dậy thì (Puberty)

Dậy thì ở bò cái được xác định ở độ tuổi động dục lần đầu có rụng trứng , dậy thì chưa phải là thành thục về tính (Sexual maturity) Dậy thì của con vật được kiểm soát bởi nhiều yếu tố và cơ chế nhất định về sinh lý kể cả các tuyến sinh dục thuỳ trước tuyến yên: ảnh hưởng cả di truyền và ngoại cảnh (mùa vụ, nhiệt độ, dinh dưỡng, môi trường, yếu tố di truyền ) tác động đến các cơ quan này (Kunitada SaTo, 1992) [41]

2.1.2.2 Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu

Hoạt động sinh sản của bò cái, cũng như gia súc cái khác, được bắt đầu

từ khi thành thục về tính cho đến khi già Một cơ thể thành thục về tính khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện buồng trứng

có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Tuổi thành thục về tính của con cái được tính từ lần đầu tiên có biểu hiện động dục xuất hiện và rụng trứng đối với gia súc cái Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục về thể vóc Nó chịu sự điều khiển bởi cơ chế sinh lý của tuyến sinh dục và thuỳ trước tuyến yên; nó cũng phụ thuộc vào

Trang 18

nhiều yếu tố như giống gia súc, ngoại cảnh và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng đạt từ 30 - 40% thể trọng lúc trưởng thành Còn bò thịt với mức độ cao hơn 45 - 50%

Tuổi thành thục và khối lượng cơ thể khi thành thục chịu sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền Theo tác giả Kunitada SaTo (1992) [41], bò châu Âu tuổi thành thục trung bình 8 - 11 tháng, bò Jerseys thành thục ở 8 tháng và nặng 160 kg, trong khi đó bò Holsteins thành thục vào tháng thứ 11 khi trọng lượng cơ thể đạt 270 kg

Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với thành thục về tính, dinh dưỡng tốt thì tuổi thành thục sớm hơn Bò cái tơ có chế độ dinh dưỡng thấp thì 84% có tuổi thành thục muộn hơn so với bò cái tơ được cho ăn khẩu phần đầy đủ Bò cái nếu nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi trở lên Đối với bò lang trắng đen Hà Lan cho ăn đầy đủ chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10

- 12 tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16 - 18 tháng tuổi

Trong điều kiện nước ta do ảnh hưởng của khí hậu và chế độ dinh dưỡng không thích hợp cho nên tuổi đẻ lứa đầu thường là cao: Bò vàng Việt Nam đẻ lứa đầu từ 33 - 48 tháng tuổi (Nguyễn Văn Thưởng, Trần Doãn Hối, 1992) [23] Bò sữa Hà - ấn F2 (75% máu bò Hà Lan) 46 tháng (Nguyễn Kim Ninh, 1992) [17]

2.1.2.3 Chu kỳ động dục

Từ khi thành thục về tính, thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục có tính biến đổi biểu hiện tính dục và kèm theo sự rụng trứng diễn ra liên tục có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển lớn dần đến độ chín nổi cộm lên trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf

vỡ trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục bên ngoài gọi là động dục Trứng rụng có chu kỳ nên động dục cũng có chu kỳ, 1 chu kỳ động dục của bò và lợn thông thường là 21 ngày

Trang 19

(dao động 17 - 24 ngày) của trâu là 25 ngày (tình trung bình) Những gia súc cái có tính chu kỳ động dục ngắn hơn 17 ngày hoặc dài hơn 24 ngày thường

có tỷ lệ thụ thai thấp

Quá trình trứng phát triển chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone Trên cơ sở đó nhiều tác giả đã phân chia chu kỳ động dục thành 2 pha:

- Pha Folliculin: Gồm toàn bộ biểu hiện trước rụng trứng

- Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi rụng trứng và hình thành thể vàng

Trong chu kỳ động dục của bò nhiều tác giả đã đề cập đến các đợt sóng nang (Foliculas Wave)

Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao noãn ở cùng một thời gian Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả công bố Các tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2 - 3 đợt sóng nang phát triển (một số ít có 4 đợt) Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3 - 9 của chu kỳ Đợt 2 vào ngày thứ 11 - 17 và đợt 3 vào ngày

18 Mỗi đợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang kích thước từ 5 - 7 mm phát triển Sau này có 1 số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1,2,3 có thể đạt tới 12 -

15 mm và các kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào ngày 6,13,21 Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển

có tính tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang Mỗi đợt có 1 - 2 nang trội, vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm Tuy vậy khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hoá, chỉ

có đợt cuối cùng khi thể vàng không còn, thì nang khống chế mới phát triển tới chín và rụng trứng mới xẩy ra Do đặc điểm này các đợt phát triển nang

Trang 20

gọi là sóng phát triển Trong mỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không phải nang khống chế dao động 5 - 6 ngày Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6 mm/ngày (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997) [8]

é? th? súng nang trong chu k?

Hình 2.1 Sự phát triển của sóng nang

Khuất Văn Dũng (2005) [5] ở bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25 - 36 giờ, chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài

Chu kỳ động dục của bò được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn trước động dục (Preoestrus)

- Giai đoạn động dục (Oestrus)

- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus)

- Giai đoạn cân bằng sinh học (An-Di-oestrus)

Đặc điểm của từng giai đoạn được thể hiện ở bảng sau: 2.1

Trang 21

Bảng 2.1 Các giai đoạn của chu kỳ động dục

Biểu hiện bên

ngoài dáng vẻ

Băn khoan ngơ ngác, không yên, đi lại, đái rắt – nhảy lên con khác, không cho con khác nhảy, bỏ đi rông

Tìm đực hoặc đến gần con khác, chịu cho nhảy, mê ì

Còn chịu cho nhảy

và phối giống (một thời gian ngắn)

Có thể vàng nhô lên

trương lực tối đa

Trương lực bớt

nhiều, trong suốt, dễ đứt 9 kéo dài 1-2 cm

Mở rộng, niêm dịch đặc dính có màu nửa trong kéo dài 7-10 cm

Hẹp dần, niêm dịch đặc, giảm độ keo dính, màu đục bã đậu dễ đứt

thường, không có niêm dịch

Nội tiết

Nang trứng tiết oestradiol 17 ò với lượng nhiều dần Progesterone giảm thấp do thể vàng chu kỳ trước ngừng hoạt động

LH thấp nhất trong giai đoạn này

PGF2a tăng dần đạt đỉnh cao trước chịu đực 5 ngày, kéo dài 3-4 ngày rồi giảm

Oestradiol 17 ò đỉnh cao

LH đạt đỉnh cao ở ngày chịu đực rồi tụt xuống đột ngột

PGF2a ở cực thấp nhất

Oestradiol giảm đột ngột sau đó tăng dần

để tạo một đỉnh thấp vảo ngày thứ 5-6 của chu kỳ sau

- Progesterone tăng dần đến ngày thứ

9-10 đạt đỉnh cao quãng 5-6 ngày

- LH thấp nhất cho đến ngày chịu đực của chu kỳ sau

PGF2a bắt đầu tăng Đến ngày 14 đạt đỉnh cao trong 3 - 4 ngày trước khi bắt đầu chu kỳ mới

Trang 22

2.1.2.4 Sự điều hoà nội tiết trong chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục được điều hoà bởi các hormone vùng dưới đồi, các Gonadotropin và các Steroit của buồng trứng tiết ra Việc điều hoà tiết Gonadotropin hormone của tuyến yên đòi hỏi một sự cần bằng giữa các mối tác động tương hỗ hormone

Yếu tố giải phóng của Hypothalamus gồm: FSH - RH và LH - RH có tác động kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết nhiều FSH, LH, kích thích sự tăng trưởng của tử cung Sau khi rụng trứng, thể vàng được hình thành và tiết progesterone Thời kỳ hoạt động của thể vàng được gọi là pha lutein, kéo dài

16 - 17 ngày ở bò Sự thoái hoá của thể vàng do hoạt động của nhân tố phân giải lutein đó là: Prostaglandin F 2 alpha (PGF 2a) Prostaglandin được tiết ra

từ mô tử cung loài động vật có vú (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [1]

Động thái hormone sinh dục trong chu kỳ động dục thể hiện qua đồ thị dưới dây:

Hình 2.2 Diễn biến động thái của các hormone trong máu ở các giai đoạn

trong chu kỳ động dục ở bò cái

Trang 23

Các giai đoạn ở chu kỳ động dục

mẹ nhưng mang đặc điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di truyền của loài

Người ta thường phân chia quá trình thụ tinh của động vật có vú ra 4 giai đoạn nhỏ: Sự chuẩn bị của tế bào trứng; tinh trùng vào tế bào trứng; sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái; sự kết hợp giữa hai tiền hạch

a Sự chuẩn bị của tế bào trứng

Tế bào trứng của gia súc và động vật có vú khi thoát khỏi nang Graaf đều có vành tế bào nang bao quanh, vành tế bào này gọi là vành phóng xạ Vành phóng xạ có tác dụng bảo vệ tế bào trứng nhưng lại làm trở ngại cho tinh trùng tiếp xúc với trứng Ngay khi được loa kèn hút vào ống dẫn trứng, tế bào trứng tiết ra chất gọi là Fertilizin, chất này kích thích hoạt động của tinh trùng và hướng tinh trùng vào phía mình Tinh trùng gặp trứng bao vây xung quanh trứng Acrosome của tinh trùng tiết men Hyaluronidaza, men này hoà tan phân giải chất keo giữa các tế bào nang vành phóng xạ làm chúng tách rời

ra, tế bào trứng được lộ ra ngoài Khi số lượng tinh trùng quá ít, men Hyaluronidaza không đủ để phá vành phóng xạ, quá trình thụ tinh sẽ không diễn ra Ngược lại khi số tinh trùng quá nhiều men Hyaluronidaza còn phá vỡ các tế bào trứng Cơ chế này cho biết, tại sao cần có một số lượng nhất định tinh trùng mới đảm bào được sự thụ tinh, tạo lượng tinh trùng quá nhiều hoặc

Trang 24

quá ít lại làm giảm tỷ lệ thụ tinh Acrosome của tinh trùng dễ bị tổn thương khi có tác nhân ngoài tác động, tinh trùng bị tổn thương Acrosome mất tác dụng trong quá trình thụ tinh Ngày nay người ta có thể đánh giá chất lượng tinh dịch thông qua Acrosome của tinh trùng Men Hyaluronidaza không mang đặc trưng cho các loài gia súc Đây cũng là cơ sở cho việc hỗn hợp tinh dịch trong thụ tinh nhân tạo, thời gian cho việc tinh trùng bao vây, phong toả và làm tan vỡ vành phóng xạ kéo dài ở bò khoảng 2 - 3 giờ, cừu

3 - 4 giờ, ở lợn 1 giờ

b Tinh trùng chui vào tế bào trứng

Sau khi phá vỡ vành phóng xạ, tinh trùng tiếp xúc với màng trong suốt của tế bào trứng, phản ứng Acroxom tiếp tục xảy ra, giúp tinh trùng chui vào trong màng trong suốt Việc chui qua màng trong suốt mang tính đặc trưng cho loài nhờ có men Zonalizina nên tinh trùng của loài nào chỉ chui vào màng trong suốt của loài đó Sau khi chui vào màng trong suốt tinh trùng nằm ở khoảng không giữa màng trong suốt và màng noãn hoàng Dưới kính hiển vi điện tử người ta cũng đã thấy được nhiều tinh trùng (có khi tới hàng trăm) chui vào bên trong màng trong suốt Chui vào bất kỳ chỗ nào của màng trong suốt

Trong số tinh trùng chui vào màng trong suốt chỉ có một tinh trùng chui được vào trong màng noãn hoàng Những tinh trùng còn lại về sau đều được nguyên sinh chất đồng hóa

Trong quá trình tinh trùng tiếp xúc và xâm nhập vào bên trong tế bào trứng, tế bào trứng đang ở các thời kỳ phân chia giảm phân lần 2 Chính tinh trùng đã kích thích quá trình này nhanh hoàn thiện và hoạt hoá sự thành thục của trứng Quá trình thụ tinh chỉ thực sự xẩy ra sau khi đã hoàn thành giảm phân trong tế bào trứng

c Sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái

Sau khi tinh trùng chui vào màng noãn hoàng, đầu tinh trùng tự tách khỏi cổ, thân và đuôi Nhân ở đầu tinh trùng chuyển động sâu vào bên trong trứng, hướng tới trung tâm của trứng, trên đường đi nhân và tinh trùng trương

Trang 25

nở phồng lên dần và biến thành một cái nhân đặc trưng gọi là tiền hạch (nhân non đực) Tế bào trứng sau khi được tinh trùng hoạt hoá, quá trình giảm phân lần 2 được hoàn thiện Nhân đơn bội của trứng cũng có những biến đổi như nhân tinh trùng, chuyển động sâu vào trong trứng, hướng tới trung tâm của trứng Trên đường đi nó trương nở, lớn lên về kích thước và trở thành một nhân đặc biệt gọi là tiền hạch cái (nhân non cái)

d Sự kết hợp tiền hạch

Tiền hạch đực, tiền hạch cái tiến vào trung tâm của trứng và tiến sát vào nhau, sau đó hoà hợp lẫn nhau Sự kết hợp các hạch đánh dấu sự bắt đầu của một quá trình biến đổi mới về chất, đây là quá trình hình thành và phát triển của hợp tử Thời kỳ này có thể gọi là cao điểm của toàn bộ quá trình sinh sản hữu tính Ngay sau khi hình thành hợp tử đã bước vào thời kỳ phân chia Quá trình phân chia được diễn ra trong suốt thời gian di chuyển xuống tử cung, niêm mạc tử cung đã được chuẩn bị cho sự cư trú làm tổ của hợp tử

2.1.2.6 Quá trình mang thai

Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế sự có thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào yếu tố như: tuổi của mẹ, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ hoặc tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278 - 290 ngày

Theo nghiên cứu của Lương Văn Lãng và Võ Văn Sự (1970-1979) (Trích Trần Trọng Thêm, 1986) [21], trên bò Holstein Friesian tại Trung tâm giống bò sữa Hà Lan Sao Đỏ thì thời gian có chửa là 279,87 ngày

2.1.2.7 Tuổi đẻ lứa đầu

Tuổi đẻ lứa đầu là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái, là thước đo sức tái sản xuất của từng cá thể, tuổi đẻ lứa đầu

Trang 26

càng ngắn thì vật nuôi càng sớm tạo ra sản phẩm cho xã hội, tuổi đẻ lứa đầu quá muộn sẽ có nhiều trường hợp đẻ khó gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Tuổi đẻ lứa đầu của bò chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: giống, điều kiện nuôi dưỡng, môi trường và sự tác động điều khiển sinh sản gia súc của con người

2.1.2.8 Tỷ lệ đẻ

Tỷ lệ đẻ ở bò cao, trung bình, thấp phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có

3 yếu tố quan trọng, quyết định đến tỷ lệ đẻ của bò; vùng chăn nuôi, lứa tuổi

bò, mùa vụ sinh sản

2.1.2.9 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

Khoảng cách lứa đẻ là thước đo khả năng sinh sản một cách rõ rệt của gia súc ở bò 1 năm 1 lứa là khoảng cách lý tưởng, khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và số bê con được sinh ra trong một đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ

di truyền Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động dục lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa gia súc càng mắn đẻ thì hệ số tái sản xuất (Kt) càng cao Lauhiuna đã đưa ra công thức tính hệ số tái sản xuất của bò (Kt):

2 - V

T

=

Trong đó:

T: Số bê do bò cái đẻ ra, V; tuổi bò cái (năm)

Sadal đưa ra chỉ tiêu đánh giá năng suất bò cái bằng khoảng cách lứa

đẻ Bò có khoảng cách lứa đẻ K = 410 ngày là bò rất tốt, K = 411- 460 ngày là tốt, K = 461 ngày trở lên là bò không tốt (Nguyễn Kim Ninh, 1994) [18]

ở Việt Nam trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chưa đầy đủ nên khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 18-20 tháng (Nguyễn Văn Thưởng, 1984) [22]

2.1.2.10 Thời gian hồi phục tử cung sau khi đẻ

Khi đẻ tử cung co bóp để đẩy thai ra ngoài Sau đó tử cung co lại như kích thước ban đầu Quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi đẻ Đó là giai

Trang 27

đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khoảng cách giữa hai lứa đẻ Đối với

bò từ lâu người ta đã cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục hồi phục hoàn toàn sau khi đẻ là 3 tuần Những kết quả nghiên cứu sau này chứng minh rằng thời gian này dài hơn chút ít, thời gian tử cung hồi phục hoàn toàn ở bò đẻ lứa đầu là 42 ngày ở bò đã đẻ nhiều lần là 50 ngày Bằng phương pháp khám qua trực tràng cho biết: 3 - 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử cung giảm 1/2 và vào khoảng ngày thứ 18 sau khi đẻ, tử cung hồi phục gần như hoàn toàn Trong thời gian sau khi đẻ sự phá hoại của mô nội mạc tử cung kèm theo sự có mặt của số lượng lớn bạch cầu cùng với việc giảm thấp lòng mạch nội mạc tử cung Các tế bào cổ tử cung giảm về số lượng và kích thước Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ bị giảm thấp Các mô máu bị trọc và rụng khỏi dạ con 12 ngày sau khi đẻ Sự tái sinh của bề mặt biểu mô ở các núm xuất hiện bằng cách lớn lên từ mô bao bọc xung quanh và được hoàn tất sau khi đẻ là 15 - 20 ngày tử cung co lại bình thường Theo Nguyễn Trọng Tiến và cs (1991) [25] cho biết khoảng 60 ngày sau khi đẻ có 75% số bò cái có cơ quan sinh dục được phục hồi sau 75 ngày có 87% Đối với bò đẻ khó, sót nhau thời gian này là 4 tháng Tác giả cũng cho biết ở đàn bò cái sự hồi phục tử cung phía không mang thai là 11,4 ngày Sự co dạ con còn phụ thuộc vào cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình đẻ và sự hộ lý chăm sóc sau khi đẻ

Theo Nguyễn Kim Ninh, Bạch Đăng Phong (1994) [19] đã khẳng định; không nên phối giống bò cái trước 60 ngày sau khi đẻ vì thời gian cần thiết để

tử cung co lại sau khi đẻ là từ 30 - 50 ngày

2.1.3 Sự điều hoà hoạt động sinh dục của tuyến nội tiết

Hoạt động sinh dục chịu sự điều tiết của hệ thần kinh thể dịch Hệ thần kinh thông qua các thụ quan nhạy cảm là nơi tiếp nhận tất cả các xung động của ngoại cảnh vào cơ thể, đầu tiên là đại não và võ não mà trực tiếp là Hypothalamus tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) GH-RF kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH, LH, các hormone đó theo máu tác động

Trang 28

tới buồng trứng làm nang trứng phát triển đến mức độ chín và tiết ra oestrogen

Trong quá trình sinh lý bình thường, gia súc đến tuổi trưởng thành, buồng trứng đã có nang trứng phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật đã có sẵn một lượng nhất định về oestrogen, chính oestrogen tác động lên trung khu vỏ đại não và ảnh hưởng đến Hypothalamus tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (Gonadotropin Releasing Hormone hay hormone giải phóng - FRH

Progesterone tác động vào tử cung làm cho tử cung dày lên tạo cơ sở cho việc làm tổ của hợp tử - phôi lúc ban đầu (tạo sữa tử cung), nên con vật có chửa thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, có nghĩa là lượng progesterone được duy trì với nồng độ cao trong máu Nếu không có chửa thể vàng tồn tại đến ngày thứ 15 - 17 của chu kỳ sau đó teo dần cúng có nghĩa là hàm lượng progesterone cũng giảm dần, giảm đến mức độ nhất định nó lại cùng một số

Trang 29

nhân tố khác kích thích vỏ đại não, Hypothalamus tuyến yên, lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường phân tiết FSH, LH Chu kỳ sinh dục mới lại hình thành

Sự liên hệ Hypothalamus, tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hoà hoạt động sinh dục của gia súc cái không chỉ theo chiều thuận mà còn theo cơ chế điều hoà ngược Cơ chế điều hoà ngược đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững “Cân bằng nội tiết”

Sơ đồ Hypothelamus điều khiển hoạt động hệ nội tiết:

(1) Sự điều khiển ngược vòng dài (Long feedback)

(2) Sự điều khiển ngược vòng ngắn (Short feedback)

(3) Sự điều khiển ngược cực ngắn (Ultra-Short feedback)

Lợi dụng cơ chế điều hoà ngược này mà người ta sử dụng hàm lượng progesterone đưa vào để điều khiển chu kỳ tính ở gia súc cái Khi đưa một lượng progesteroe vào cơ thể làm cho hàm lượng progesterone trong máu tăng lên Theo cơ chế điều hoà ngược trong khu điều khiển sinh dục ở Hypothalamus bị

ức chế, kìm hãm sự tiết các kích tố của tuyến yên, làm cho các noãn nang tạm thời ngừng phát triển, do đó làm cho chu kỳ động dục tạm thời ngừng lại Sau khi kết thúc sử dụng progesterone, hàm lượng này trong máu sẽ giảm xuống đột

Trang 30

ngột, sự kìm hãm được giải toả, trung khu điều khiển sinh dục được kích thích, kích tố FSH lại được bài tiết đã kích thích sự phát triển của noãn nang làm cho chu kỳ tính động dục của tất cả bò cái được xử lý trở lại hoạt động cùng một lúc; hiệu quả tác động sẽ cao hơn nếu có sự kết hợp của một

số loại hormone khác: HTNC, oestradiol Benzoat, LH

2.1.3.1 Vai trò của vùng dưới đồi (Hypolathamus)

Vùng dưới đồi là nơi nhận những xung đột thần kinh rồi chuyển dịch và phát ra các hormone điều hoà hoạt động nội tiết Trung khu điều tiết sinh dục cấp cao của vùng dưới đồi sinh ra các chất kích thích, các chất này đi đến và kích thích các tế bào trung khu cấp thấp đồng thời chúng trực tiếp đi đến hoạt hoá tuyến yên, kích thích tuyến yên tiết ra một lượng hormone để duy trì sự rụng trứng và phát triển thể vàng Như vậy ta có thể xem trung khu cấp cao là nơi điều tiết sự rụng trứng ở gia súc cái

Các tế bào trung khu cấp thấp (nhân bụng giữa và nhân Acruate) tạo ra những chất tiết thần kinh, đây chính là các yếu tố giải phóng hormone kích dục tố (Gonadotropin Releasing hormone - GnRH) bao gồm: Follicule Releasing Factors (FRF) - Yếu tố giải phóng hormone Follicule Stimulating Hormone (FSH) và Lutein Releasing Factors (LRH) - yếu tố giải phóng hormone Luteine hormone (LH), FRF và LRF về bản chất là các polipeptit có khối lượng phân tử thấp, sau khi tiết ra, chúng được đổ vào mao quản gò giữa

và đi vào hoạt hoá tuyến yên theo hướng tạo và tiết kích tố

Những yếu tố giải phóng hormone sinh dục của vùng dưới đồi này đều được gọi là yếu tố hoạt hoá chức năng sinh dục Để hoạt hoá chức năng kích noãn tố và tiết một ít LH cần yếu tố này với nồng độ không cao, còn để cho rụng trứng thì phải có số lượng lớn LH và nồng độ rất cao của yếu tố giải phóng kích dục tố

Như vậy vùng dưới đồi giữ vai trò chủ đạo trong quá trình điều khiển chức năng sinh dục của hệ thống vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng Hệ

Trang 31

thống này tự điều tiết theo nguyên tắc liên hệ ngược bao gồm mối liên hệ dương - âm gắn giữa vùng dưới đồi - tuyến yên và mối liên hệ dài đảm bảo cho sự tác động qua lại của vùng dưới đồi đối với buồng trứng qua tuyến yên

2.1.3.2 Kích dục tố tuyến yên và vai trò của chúng trong sinh sản

Thuỳ trước tuyến yên tiết ra hai loại hormone đó là FSH và LH Hai hormone từ tuyến yên có tác dụng kích thích sinh dục: một hormone kích thích sự sinh trưởng và phát dục của nang trứng được gọi là kích noãn tố (FSH) Kích tố kia có tác dụng lutein hoá nang trứng gọi là kích thể vàng tố (LH) Tác dụng sinh lý của FSH gắn liền với chức năng kích thích trứng chín không gây trứng rụng Muốn gây được trứng rụng phải có LH Hầu hết các nhà sinh học đều thống nhất rằng: Để trứng rụng được thì lượng LH phải lớn hơn lượng FSH Có tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ

Prolactin là hormone có tác dụng trong thời kỳ đầu có thai giúp cho thể vàng tồn tại trong buồng trứng Một số ý kiến khác cho rằng sự tiết ra prolactin của tuyến yên thực hiện được nhờ kích thích thần kinh vùng dưới đồi thị và các phản xạ có điều kiện ở tử cung đã có thai Ngược lại nếu tử cung không có thai thì tuyến yên không tiết ra prolactin

Oxytoxin là loại hormone do thuỳ sau tuyến yên tiết ra Oxytoxin có tác dụng đặc biệt là kích thích sự co bóp của tử cung, tăng cường sự co bóp của

Trang 32

tuyến sữa, cơ trơn bàng quang và cơ trơn ruột, nó kích thích những phản xạ khác nhau trong thời gian giao phối như tăng cường sự co bóp của đường sinh dục, đặc biệt là kích thích sự di chuyển của tinh trùng

2.1.3.3 Vai trò của buồng trứng, kích tố buồng trứng, nhau thai và prostaglandin Vai trò của buồng trứng

Buồng trứng là nơi tiết ra các hormone: Oestrogen, progesterone và hormone ức chế inhibin Các hormone này trực tiếp tham gia điều hoà toàn

bộ hoạt động sinh sản của gia súc thông qua tác dụng kích thích hay ức chế tiết các hormone sinh dục của tuyến yên Khi nồng độ progesterone trong máu giảm (cũng như giảm các kích thích ngoại cảnh) sẽ kích thích trung khu sinh sản vùng dưới đồi (hypothalamus) tiết các yếu tố giải phóng hormone sinh dục FRF và LRF GnRH làm cho tuyến yên tiết hormone kích nang trứng FSH

và hormone tạo thể vàng LH Cuối cùng FSH và LH kích thích buồng trứng tổng hợp và tiết hormone steroid giới tính oestrogen (E), progesterone (P) FSH làm cho các nang trứng nguyên thuỷ (primodial follicles) trong buồng trứng phát triển Oestrogen được tiết bởi các tế bào hạt của nang trứng

và cáctế bào kẽ Nồng độ oestrogen cao trong máu sẽ kích thích thuỳ trước tuyến yên ngừng tiết FSH và đột ngột tăng tiết LH gây hiện tượng rụng trứng Sau khi trứng rụng do sự lutein hoá hình thành thể vàng và phát triển thành thể vàng Thể vàng tiết progesterone, đây là hormone rất cần thiết có vai trò ức chế biểu hiện động dục ở gia súc nhằm duy trì sự mang thai Khi nồng độ FSH, LH

và progesterone trong máu cao, bản thân chúng tác động trở lại trung khu sinh dục hypothalamus nhằm ức chế trung khu này tiết hormone sinh dục Các hormone Steroid giới tính có tác dụng điều hoà các chức năng của các cơ quan sinh dục phụ như: ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo, các tuyến sinh dục phụ ở con cái phát triển Thêm nữa chúng được coi như có tác động ngược (Feedback) Quá trình điều tiết này diễn ra hết sức phức tạp, được mô tả ở hình 2.3 Vai trò của buồng trứng trong điều hoà hoạt động sinh dục bò cái

Trang 33

Hình 2.3 Cơ chế điều hoà chu kỳ động dục của bò cái

Buồng trứng của gia súc cái ngoài chức năng tạo trứng còn tiết ra một

số loại hormone như: Oestrogen, progesterone

a) Oestrogen

Trong buồng trứng các hormone được tạo ra bởi toàn bộ tế bào nang trứng và tổ chức kẽ ở động vật khi có chửa oestrogen được tổng hợp bởi nhau thai, nhưng hormone này còn được tổng hợp bởi vỏ tuyến thượng thận với một lượng nhỏ vì thế khi thiếu vẫn thấy sự tiết oestrogen không bị ngừng Oestrogen gồm 3 loại: oestradiol, oestron và oestriol, trong đó oestradiol có tác dụng mạnh nhất, oestriol yếu nhất Chúng có tính chất giống nhau đều là

Noãn bào chín

ức chế

tiết FSH

và LH

Kích thích tiết LTH, ức chế tiết FSH

Trang 34

các steroid Hoạt tính sinh lý mạnh nhất vẫn là oestradiol, nó tồn tại dưới hai dạng đồng phân a và ò, trong đó oestradiol 17 ò có hoạt tính sinh học mạnh hơn cả (lớn hơn oestradiol 17 a tới 40 lần và hơn oestron 10 lần) Trong quá trình sinh tổng hợp người ta thấy rằng có sự chuyển hoá qua lại của chúng Oestrogen có tác dụng kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển, âm đạo phát triển và tiết dịch Kích thích mở cổ tử cung cho tinh trùng xâm nhập, làm biểu mô âm đạo tích luỹ glycogen, do đó làm tăng sức chống vi khuẩn của âm đạo Ngoài ra còn kích thích các tế bào tuyến vú, các ống dẫn sữa phát triển Đồng thời oestrogen còn kích thích tuyến yên tiết LH và prolactin Bằng thực nghiệm đã chứng minh rằng khi cho oestrogen vào cơ thể con cái làm tăng khối lượng của dạ con và buồng trứng là do kết quả của sự tăng tổng hợp protein và axit nucleic

b) Progesterone

Khi bao noãn chín, trứng rụng khỏi nang trứng tại nơi đó mạch quản

và tế bào sắc tố vàng phát triển thành thể vàng Khi còn tồn tại và hoạt động thể vàng tiết ra progesterone, là một steroit có 21 cácbon Nó cũng được tiết ra ở nhau thai và một lượng nhỏ từ tuyến thượng thận

Progesterone kích thích sự phát triển hơn nữa của niêm mạc tử cung,

âm đạo tích luỹ nhiều glycogen ở các niêm mạc đó, làm phát triển lưới mao mạch tử cung Progesterone làm giảm tính mẫn cảm co bóp nội mạc tử cung, tham gia vào sự chuẩn bị của nội mạc dạ con cho sự làm tổ của hợp

tử, nó cũng làm tăng sinh và phát triển các bao tuyến vú Khi trứng đã thụ tinh và làm tổ thì hormone này có tác dụng dưỡng thai: làm nhau thai phát triển và duy trì sự phát triển của thai, làm giảm tính mẫn cảm của cơ trơn

tử cung với oxytoxin, ức chế sự sản sinh (GSH, FSH và LH) của tuyến yên,

do đó ức chế quá trình phát triển của bao noãn

Cơ chế tác động của nó là ức chế các enzim, mà những enzim này được oestrogen kích thích bao gồm hệ thống enzim oxy hoá glucoronidaza,

Trang 35

photphataza và cacbonic anhydraza

c) Kích tố nhau thai

Ngay sau khi hợp tử bắt đầu làm tổ ở tử cung, túi phôi được hình thành

và phát triển Khi túi phôi lớn lên tuyến nhau thai được hình thành Hệ thống nhau thai ở bò có cấu tạo dạng núm Núm nhau thai con và mẹ kết hợp với nhau theo hệ thống cài răng lược Chúng chiếm gần hết tử cung Nhau thai tiết

ra hormone là prolan A và prolan B

- Prolan A: Có tác dụng tương tự FSH và oestrogen

- Prolan B: Có tác dụng tương tự LH và progesterone

ở ngựa có chửa, nhau thai tiết ra khá nhiều prolan A (huyết thanh ngựa chửa - HTNC) và 1 ít prolan B Hoạt tính sinh học gần giống FSH ở người, nhau thai tiết ra hormone HCG (Human Chorionic Gonadotropin) là một glycoprotein gồm hai chuỗi polypeptit a và ò khối lượng phân tử là 46.000 (riêng a là 18.000, ò là 28.000), hoạt tính sinh học của HCG cơ bản giống

LH

d) Prostaglandin

Prostaglandin được phát hiện lần đầu tiên trong tinh dịch người (1935), lúc đó người ta giả thiết rằng nguồn gốc của nó xuất hiện từ tuyến tiền liệt (prostala glandula), do đó mà có thuật ngữ là prostaglandin Prostaglandin là một axít béo không no, trong phân tử có chứa 20 nguyên tử cacbon nằm trong thành phần photpholipit của màng tế bào Tuỳ theo cách sắp đặt của các nguyên tử ở các vị trí khác nhau, tuỳ cách kết hợp 2 nhóm hydroxit và nhóm xeton mà chia thành 4 chất prostaglandin Tập hợp trong 4 nhóm chính được đặt tên là A, B, E, F, trong đó nhóm E và nhóm F có đặc tính sinh học mạnh nhất

Từ năm 1966 prostaglandin đã được bào chế bằng con đường nhân tạo

và được sử dụng Người ta đã tiến hành thử nghiệm dùng estrumate

Trang 36

Prostaglandin điều hoà chức năng sinh sản của bò cái và cừu cái (chất này được tổng hợp tương tự như prostaglandin) giá trị của nó là hiệu lực mạnh gấp 100 lần (PGF2a) tự nhiên nhưng ảnh hưởng tới co rút cơ trơn tử cung chỉ bằng khi dùng (PGF2a) tự nhiên (Lê Xuân Cương, 1993) [3]

Trong chăn nuôi tác dụng sinh lý lớn nhất của prostaglandin là điều khiển chức năng sinh sản Người ta biết rằng thể vàng đóng vai trò chủ chốt trong việc điều khiển chu kỳ sinh dục của động vật Progesterone của thể vàng ức chế tiết kích dục tố của hệ thống Hypothalamus và tuyến yên Trong một thời gian dài người ta không rõ cơ chế nào mà tới thời gian nhất định (thường là cuối chu kỳ sinh dục) thì thể vàng thoái hoá và giảm lượng progesterone Tới năm 1966 (Batheoch) mới xác định được chất prostaglandin tăng lên trong dạ con vào cuối chu kỳ sinh dục đã gây ra sự tiêu biến thể vàng Ngày nay đã được nhiều khoa học xác nhận trên nhiều loại vật nói chung Sự phát hiện này mở ra nhiều biến đổi cơ bản trong công nghiệp chăn nuôi bởi vì khi tiêm prostaglandin (PGF2a) ngoại sinh cho phép điều khiển chu kỳ sinh dục, gây thoái hóa thể vàng vào bất kỳ giai đoạn nào của chu kỳ sinh dục và qua cơ chế điều khiển ngược lại, tuyến yên sẽ thúc đẩy sự phát triển noãn bao ở buồng trứng và gây ra động dục và rụng trứng Điều này tạo

ra khả năng gây động dục đồng loạt để tiến hành phối giống cho gia súc bằng thụ tinh nhân tạo trong cùng một thời gian Ngày nay PGF2a và các chất đồng dạng của nó đã được xem là chất có tác dụng trong quá trình thoái hoá của thể vàng Chúng được dùng rộng rãi và phổ biến trong việc gây động dục đồng loạt và kế hoạch hoá trong phối giống gia súc Sử dụng PGF2a để điều chỉnh sinh sản đã được dùng rộng rãi và tổng kết bởi các tác giả như Graves và cộng

sự (1974) [38], Henrick và cs (1986) [39], Louis và cs (1972) [43]

Tất cả những nghiên cứu trên đã đưa ra liều lượng và cách sử dụng PGF2a phụ thuộc vào bản chất hoá học của nó, trạng thái sinh dục của con cái, giai đoạn của chu kỳ động dục, giống gia súc và mục đích sử dụng của con người

Trang 37

e) Huyết thanh ngựa chửa (HTNC)

Năm 1930, H.Cole và G.Hart đã phát hiện thấy trong huyết thanh ngựa chửa có một chất hoạt tính hướng sinh dục rất cao Các hormone này được tạo thành không phải từ màng nhau thai mà từ trong lớp nội mạc tử cung của ngựa mẹ Theo các tác giả, vì cấu trúc phân tử của hormone nội mạc tử cung rất lớn không đi qua được cầu thận nên nó không có trong nước tiểu (như kích

tố nhau thai của người), mà chỉ thấy có trong máu Thời gian HTNC có hoạt tính từ ngày thứ 40 - 60 khi ngựa có chửa, cao nhất là khi ngựa có chửa 90 -

120 ngày Hoạt tính của hormone trong HTNC tăng dần đến cực đại từ 80 -

280 đơn vị chuột (đ.v.c)/ huyết thanh trong khoảng (60 - 100 ngày chửa, rồi giảm dần (có trường hợp mất hẳn ở 150 ngày có chửa)

Bản chất hoá học của huyết thanh ngựa chửa là một glycoprotein, trong

đó các Hexose (Mannose, galactose, fructose) khoảng 13%, các Hexosami (glucosamin và galactosamin) 17,6% Axit xicilic 10,8%, tổng cộng là 41,4 gluxit trong 100 gam glucoprotein Hàm lượng các chất trên của FSH và LH tuyến yên ngựa đều ít hơn so với huyết thanh ngựa chửa Hexose trong LH là 9,8 trong FSH là 8,7 Hexosamin là 8,6 và 7,7 Axit xialic là 7,9 và 6,8 Như vậy tổng số gluxit của LH và FSH chỉ có khoảng 25,4 và 24,2 trong 100 g glucoprotein

Những nghiên cứu của các tác giả khác đã chứng minh hoạt tính hai mặt của HTNC vừa giống FSH vừa giống LH Kích dục tố HTNC là một phân tử đơn và có 2 tiểu đơn vị a và ò, mà tiểu đơn vị ò đảm nhiệm cả hai hoạt tính FSH và LH của phân tử nguyên vẹn Kích dục tố của HTNC có thời gian bán sinh (Half – Life), Invivo (6 ngày) dài hơn kích dục tố tuyến yên và kích dục tố nhau thai Tính chất này cùng với hoạt tính hai mặt FSH và LH, hiệu lực tác động của nó đã làm cho HTNC được sử dụng vơi quy mô rộng để kích thích chức năng sinh sản của gia súc cái (gây động dục, gây bài noãn)

Trang 38

2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

2.1.4.1 Di truyền (nhân tố bên trong)

Các tình trạng sinh sản thường có hệ số di truyền (h2) rất thấp ở bò hệ

số di truyền về khoảng cách giữa hai lứa đẻ có h2 = 0,05 - 0,10, khả năng đẻ sinh đôi = 0,08 - 0,10 và độ dài thời gian sử dụng bò có h2 = 0,15 - 0,2 Các phát hiện này giúp cho ngành chăn nuôi không đầu tư vào những khâu ít sinh lợi Hầu hết các biến đổi quan trọng quan sát thấy về khả năng sinh sản đều

do ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Nhìn chung những nghiên cứu về gen ảnh hưởng đến sinh sản chưa được đề cập đến nhiều, mặc dù gen ảnh hưởng đến sinh sản bằng 3 con đường:

- Có thể những gen gây chết, nửa gây chết, làm trứng không thụ tinh rồi chết

- Do rối loạn nội tiết di truyền làm ảnh hưởng đến các hormone hướng sinh dục, từ đó gây ảnh hưởng đến sinh sản

- Các gen hoạt động chi phối đến sinh sản có những chênh lệch khác nhau (do tác động của môi trường) Sự chênh lệch cộng gộp đó có thể làm kém sinh sản hoặc gây chết

2.1.4.2 Nhân tố bên ngoài

Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến sinh sản gồm có dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý và thời tiết khí hậu

a Dinh dưỡng

Là yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản rất đa dạng, kín đáo và chậm chạp, phải phân tích tỉ mỉ và toàn diện mới phát hiện được Mức độ dinh dưỡng của khẩu phần ăn có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Nuôi dưỡng kém sẽ kìm hãm sinh trưởng của bò cái tơ làm chậm thời gian đưa vào sử dụng và giảm khả năng sinh sản về sau, đồng thời kèm theo sự kém phát triển về bầu vú, vì thế sau này năng suất sữa thấp Đối với những bò trưởng thành, mức dinh dưỡng thấp dẫn đến kéo dài thời gian phục hồi sau khi đẻ, làm bò gầy yếu dễ

Trang 39

bị mắc bệnh tật, làm giảm khả năng sinh sản; thiếu năng lượng bò phải huy động năng lượng dự trữ trong cơ thể sản xuất sữa, cho nên khẩu phần thiếu năng lượng trong thời gian dài là nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất sữa và sức khoẻ của bò giảm sút; ngược lại nếu dinh dưỡng quá nhiều, nhất là gluxit

sẽ làm cho bò quá béo, buồng trứng bị tích mỡ nên giảm hoạt động chức năng sinh sản; thiếu thức ăn thô trong khẩu phần ăn cũng làm giảm năng suất sữa và

tỷ lệ mỡ sữa Mức protein trong khẩu phần ăn không hợp lý ảnh hưởng xấu đến

sự tiết sữa, thiếu protein làm cho chu kỳ sinh dục không đều, tế bào trứng hình thành không đảm bảo chất lượng sẽ ảnh hưởng đến thế hệ sau

Các loại khoáng trong khẩu phần thức ăn cũng rất quan trọng; khẩu phần ăn thiếu khoáng hoặc vi lượng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, gây rối loạn sinh sản và ức chế động dục, nhất là thiếu phốt pho Bò cái thường thiếu phốtpho do công việc cung cấp cho nhu cầu tiết sữa Buồng trứng những con này nhỏ lại, sau khi đẻ thường chỉ động dục một lần, nếu không kịp thời thì sau cai sữa mới động dục trở lại

Kẽm (Zn) tham gia kích thích sự chuyển hoá caroten thành vitamin A,

sự thiếu hụt kẽm diễn ra cùng với sự thiếu hụt vitamin A trong cơ thể, niêm mạc mắt, niêm mạc ruột và niêm mạc đường sinh dục có hiện tượng sừng hoá, hợp tử khó làm tổ, khó bám ở sừng tử cung Kẽm và photpho có ảnh hưởng đến sự sản sinh hormone sinh dục Khi thiếu những nguyên tố này buồng trứng thường nhỏ lại, một lượng kẽm đầy đủ sẽ làm tăng độ mắn đẻ làm giảm

tỷ lệ chết của phôi (Nguyễn Trọng Tiến, 1991) [25]

Số lượng những nguyên tố khác nhau tham gia vào thành phần cơ thể động vật dao động trong phạm vi rộng Những loại có mặt trong cơ thể bằng

10 - 20% được gọi nguyên tố đa lượng, từ 5 – 10 % là các nguyên tố vi lượng,

ít hơn 5% là các nguyên tố siêu vi lượng Người ta cũng nghiên cứu vai trò của magie, sắt, đồng, coban, magan, iod cũng như canxi, photpho, natri, kali

và một số nguyên tố khác trong quá trình sinh sản ở động vật Magiê tham gia

Trang 40

vào quá trình co bóp của cơ trơn, cơ vân Thiếu magiê nội bào làm giảm hoạt tính bắp thịt, từ đó làm kéo dài quá trình đẻ của gia súc, nhau chậm ra, sinh viêm tử cung dẫn đến chậm sinh

Đồng và sắt vào trong cơ thể nằm ở những liên kết chức năng Đồng giúp hấp thu sắt vào sinh tổng hợp Hemoglobin tham gia vào chuyển hoá sắc

tố điều tiết chức phận lông, da Những hợp chất của đồng kích thích trung tâm sinh dục bằng cách thay đổi hoạt lực oxytoxin máu và bảo đảm một biểu hiện động dục hoàn chỉnh

Khi thiếu mangan, sự thành thục về tính dục bò chậm, có những chu kỳ không rụng trứng Do đó ở động vật chửa có thể chết thai trong bụng, đẻ con chết hoặc thai sinh ra sức sống kém (Nguyễn Trọng Tiến, 1991) [25]

Như vậy cần xác định mức dinh dưỡng phù hợp và điều chỉnh sao cho khẩu phần được cân đối về protein, các axit amin, đường, khoáng và vitamin cho gia súc trong từng giai đoạn cụ thể

b Thời tiết khí hậu

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm bức xạ ánh sáng mặt trời, áp suất khí quyển, lượng mưa đều có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức sản xuất sữa, sinh sản của bò Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp qua kích thích thần kinh - hormone điều chỉnh duy trì thân nhiệt, hệ thống enzym và các hormone khác Thí nghiệm thời gian chiếu sáng kéo dài trong ngày bằng phương pháp nhân tạo có tác dụng kích thích rõ rệt chức năng sinh sản và làm thay đổi mùa sinh dục ở thú có lông và đẻ trứng ở gia cầm Sinh sản theo mùa

vụ thể hiện rõ rệt ở động vật hoang dã và một số loài gia súc như cừu, trâu, ngựa

Đó là quãng thời gian trong năm đưa lại nhiều điều kiện thuận lợi cho đời sống sinh sản Đối với bò, nếu được nuôi dưỡng phù hợp, đảm bảo thức

ăn đủ số lượng, chất lượng, chu kỳ động dục xuất hiện bất kỳ thời gian nào trong năm Ngoài những yếu tố kể trên, các rối loạn chức năng sinh sản và

Ngày đăng: 08/08/2013, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà (1995), “Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi-Viện chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr 325-329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi"-Viện chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội"
Năm: 1995
2. Lê Xuân Cương, Vũ Sĩ Nhàn (1977), “Dùng huyết thanh ngựa chửa gây động dục đồng loạt cho bò cái”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, tr 828-831 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dùng huyết thanh ngựa chửa gây động dục đồng loạt cho bò cái
Tác giả: Lê Xuân Cương, Vũ Sĩ Nhàn
Năm: 1977
3. Lê Xuân Cương (1993), “Đánh giá đặc điểm sinh sản, sức sản xuất thịt sữa của giống bò địa phương và bò lai đang nuôi tại miền Nam-Việt Nam”, Báo cáo khoa học Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, tr 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đặc điểm sinh sản, sức sản xuất thịt sữa của giống bò địa phương và bò lai đang nuôi tại miền Nam-Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cương
Năm: 1993
5. Khuất Văn Dũng (2005), Thực trạng khả năng sinh sản và hiện tượng rối loạn sinh sản, ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái Redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị Việt Nam-Mông Cổ, Ba Vì-Hà Tây, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng hormone và chế phẩm hormone điều trị một vài hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn bò cái Redsindhy nuôi tại nông trường hữu nghị Việt Nam-Mông Cổ, Ba Vì-Hà Tây
Tác giả: Khuất Văn Dũng
Năm: 2005
6. Nguyễn Thanh Dương, Hoàng Kim Giao, Lưu Công Khánh (1995), “Một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của bò”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi-Viện Chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr 246-250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của bò”," Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi-Viện Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thanh Dương, Hoàng Kim Giao, Lưu Công Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
8. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997), Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp"
Năm: 1997
11. Phan Văn Kiểm (1998), Kết quả nghiên cứu động thái Luteinizing hormone tiền dụng trứng ở bò lai hướng sữa F1 và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo nhằm đạt tỷ lệ thụ thai cao, Viện Chăn nuôi, tr 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu động thái Luteinizing hormone tiền dụng trứng ở bò lai hướng sữa F1 và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo nhằm đạt tỷ lệ thụ thai cao
Tác giả: Phan Văn Kiểm
Năm: 1998
12. Phạm Phi Long (2007), Đánh giá một số chỉ tiêu về sinh trưởng, sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hướng sữa và bò Holstein Friesian thuần nuôi tại Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Trường đại học nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hướng sữa và bò Holstein Friesian thuần nuôi tại Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Tác giả: Phạm Phi Long
Năm: 2007
13. Tăng Xuân Lưu (1999), Đánh giá một số đặc điểm của bò lai hướng sữa tại Ba Vì - Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng, Luận văn Thạc sỹ Nông Nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 1999
14. Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô Đình Tân (2003), ứng dụng kết quả định lượng progesterone kết hợp chẩn đoán lâm sàng để điều trị pha thể vàng kéo dài, động dục không rõ ở bò sữa, Viện Chăn nuôi 15. Tăng Xuân Lưu (2005), Một số vấn đề sinh sản ở bò sữa và phương phápphòng trị, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: động dục không rõ ở bò sữa," Viện Chăn nuôi 15. Tăng Xuân Lưu (2005), Một số vấn đề sinh sản ở bò sữa và phương pháp phòng trị
Tác giả: Tăng Xuân Lưu, Phan Văn Kiểm, Trần Thị Loan, Ngô Đình Tân (2003), ứng dụng kết quả định lượng progesterone kết hợp chẩn đoán lâm sàng để điều trị pha thể vàng kéo dài, động dục không rõ ở bò sữa, Viện Chăn nuôi 15. Tăng Xuân Lưu
Năm: 2005
16. Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Võ Văn Sự, Trịnh Quang Phong (1997), "Phân tích hiện trạng và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa ở các quy mô hộ gia đình tại công ty bò sữa Thảo nguyên", Báo cáo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hiện trạng và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa ở các quy mô hộ gia đình tại công ty bò sữa Thảo nguyên
Tác giả: Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Võ Văn Sự, Trịnh Quang Phong
Năm: 1997
17. Nguyễn Kim Ninh (1992), “Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò hướng sữa tại hộ gia đình và hiệu quả của nó ở vùng trung du Ba Vì-Hà Nội”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật-Viện Chăn nuôi (1985-1990), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 72-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò hướng sữa tại hộ gia đình và hiệu quả của nó ở vùng trung du Ba Vì-Hà Nội”," Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật-Viện Chăn nuôi (1985-1990)
Tác giả: Nguyễn Kim Ninh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1992
18. Nguyễn Kim Ninh (1994), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng sinh sản và cho sữa của bò lai F1 Hoistein Friseian x Lai Sind nuôi tại Ba Vì, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp-Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ưởng sinh sản và cho sữa của bò lai F1 Hoistein Friseian x Lai Sind nuôi tại Ba Vì
Tác giả: Nguyễn Kim Ninh
Năm: 1994
21. Trần Trọng Thêm (1986), Một số đặc điểm về khả năng sản xuất của các nhóm bò lai Sind với bò sữa gốc Hà lan, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Viên Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án PTS khoa học nông nghiệp
Tác giả: Trần Trọng Thêm
Năm: 1986
22. Nguyễn Văn Thưởng (1984), “Kết quả nghiên cứu cải tạo giống bò nội theo hướng khai thác sữa”, Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Chăn nuôi (1969-1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu cải tạo giống bò nội theo hướng khai thác sữa”," Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng
Năm: 1984
24. Lê Văn Thọ, Lê Xuân Cương (1979), Kích dục tố ứng dụng trong chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Tác giả: Lê Văn Thọ, Lê Xuân Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp"
Năm: 1979
26. Nguyễn Tiến Văn (1992), Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học Trường Đại học Nông nghiệp Huế 1992, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội, tr 146-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Tiến Văn
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội"
Năm: 1992
27. Viện Chăn nuôi (1995), Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc- gia cầm Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.II. PHẦN TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: ưỡng thức ăn gia súc-gia cầm Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp
Tác giả: Viện Chăn nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp"
Năm: 1995
28. Agarwal S.K, Shanker U, Dhoble, Rl and Gupta, S.K (1987), “ Synchronisation of oestrus and fertility with PGF 2 alpha crossbred cattle”, Indian J. Anim Sci, 54 (4): 292-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synchronisation of oestrus and fertility with PGF2 alpha crossbred cattle”, "Indian J. Anim Sci
Tác giả: Agarwal S.K, Shanker U, Dhoble, Rl and Gupta, S.K
Năm: 1987
30. Busch W and lusky, K (1985), “Clinicell trials with PG F 2. Alpha analogue (Oestroplan SPOFA) for synchronizing oestrus in cattle”, Animal. Bread. Abstr, 55 : 120 (425) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinicell trials with PG F2. Alpha analogue (Oestroplan SPOFA) for synchronizing oestrus in cattle”," Animal. Bread. Abstr
Tác giả: Busch W and lusky, K
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sự phát triển của sóng nang - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Hình 2.1. Sự phát triển của sóng nang (Trang 20)
Bảng 2.1. Các giai đoạn của chu kỳ động dục - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 2.1. Các giai đoạn của chu kỳ động dục (Trang 21)
Hình 2.2. Diễn biến động thái của các hormone trong máu ở các giai đoạn  trong chu kỳ động dục ở bò cái - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Hình 2.2. Diễn biến động thái của các hormone trong máu ở các giai đoạn trong chu kỳ động dục ở bò cái (Trang 22)
Sơ đồ Hypothelamus điều khiển hoạt động hệ nội tiết: - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
ypothelamus điều khiển hoạt động hệ nội tiết: (Trang 29)
Hình 2.3. Cơ chế điều hoà chu kỳ động dục của bò cái - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Hình 2.3. Cơ chế điều hoà chu kỳ động dục của bò cái (Trang 33)
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 53)
Bảng 3.2. Khẩu phần ăn - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 3.2. Khẩu phần ăn (Trang 54)
Bảng 3.3. Cấu trúc khẩu phần ăn của bò lô thí nghiệm - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 3.3. Cấu trúc khẩu phần ăn của bò lô thí nghiệm (Trang 55)
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An (Trang 59)
Bảng 4.2. Tuổi phối giống lần đầu và khối lượng cơ thể của bò cái lai hướng sữa - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.2. Tuổi phối giống lần đầu và khối lượng cơ thể của bò cái lai hướng sữa (Trang 64)
Bảng 4.4. Thời gian động dục lại sau khi đẻ (ngày) - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.4. Thời gian động dục lại sau khi đẻ (ngày) (Trang 65)
Bảng 4.5. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày) - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.5. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày) (Trang 66)
Bảng 4.6. Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai trên đàn bò lai hướng sữa tại  Nghệ An - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.6. Hệ số phối giống và tỷ lệ thụ thai trên đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An (Trang 68)
Bảng 4.7. Tỷ lệ đẻ toàn đàn, tỷ lệ sẩy thai, tỷ lệ sát nhau của đàn bò lai  hướng sữa tại Nghệ An - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.7. Tỷ lệ đẻ toàn đàn, tỷ lệ sẩy thai, tỷ lệ sát nhau của đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An (Trang 70)
Bảng 4.8. Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh ở đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An  Chậm sinh  Vô sinh tạm - [Luận văn]đánh giá một số đặc điểm sinh sản và biện pháp cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò sữa tại nghệ an
Bảng 4.8. Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh ở đàn bò lai hướng sữa tại Nghệ An Chậm sinh Vô sinh tạm (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w