1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn

100 765 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Tác giả Souliyo Silavong
Người hướng dẫn GS.TS. Đặng Vũ Bình
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 607,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái landrace, yorkshire và doroc nuôi tại xí nghiệp giống gia súc thuận thành, tỉnh bắc ninh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-& -

SOULIYO SILAVONG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG GIỮA LỢN NÁI LANDRACE, YORKSHIRE VỚI ĐỰC DUROC

TẠI TRUNG TÂM GIỐNG LỢN NONG TENG

VÀ MỘT SỐ TRANG TRẠI TRONG KHU VỰC VIÊNG CHĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số : 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Vũ Bình

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong

luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện

luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Souliyo Silavong

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn chân thành nhất đến GS.TS Đặng Vũ Bình, người hướng dẫn khoa học, về sự giúp đỡ một cách nhiệt tình và có trách nhiệm đối với tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy cô trong Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi; Khoa Chăn nuôi – Nuôi trồng Thuỷ sản ; Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp

Tác giả

Souliyo Silavong

Trang 4

3 NGUYấN LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN

4.3 Khả năng sinh sản của lợn nỏi Landrace và Yorkshire nuụi tại

Trang 5

4.3.3 Năng suất sinh sản của lợn nỏi Landrace và Yorkshire theo mựa

4.4 Khả năng sinh trưởng của lợn lai giữa nỏi Landrace và Yorkshire

4.4.2 Chi phớ thức ăn/kg tăng trọng trong nuụi thịt ở cỏc tổ hợp lai D ×

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến năng suất sinh sản

4.1 Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm giống lợn Nong Teng qua ba

4.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản của lợn

4.15 Năng suất sinh sản theo mùa khô của lợn nái Landrace và

Trang 8

4.16 Năng suất sinh sản theo mùa mưa của lợn nái Landrace và

4.23 Sinh trưởng của lợn thịt lai giữa nái Landrace và Yorkshire

Trang 9

DANH MUC BIỂU ĐỒ

Trang 10

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào), chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển của nền nông nghiệp Nhưng trước đây, chăn nuôi lợn chỉ theo phương thức tự cung tự cấp, tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng thức ăn thừa trong gia đình Các giống lợn được nuôi chủ yếu là giống địa phương như: lợn Mẹo, lợn Kadon,… mặc dù thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, chịu kham khổ, sức đề kháng bệnh tật tốt, nhưng tốc độ sinh trưởng chậm, nạc ít, mỡ nhiều

Những năm gần đây, đàn lợn ở CHDCND Lào có xu hướng phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi (2004)[8], tổng đàn lợn của cả nước tăng từ 1,33 triệu con năm 2000 lên 1,73 triệu con năm 2004, tăng đàn bình quân đạt 6,8%/ năm Tuy nhiên, việc sản xuất con giống vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người chăn nuôi Theo ước tính, trung bình hàng năm nhu cầu sản xuất cần 350 nghìn con lợn giống nuôi thịt, trong khi đó các cơ sở sản xuất giống mới chỉ đáp ứng được 200 nghìn con Vì vậy, trong báo cáo tổng kết của ngành chăn nuôi năm 2004, Đảng và Chính phủ đã quan tâm, khuyến khích đầu tư, hỗ trợ đẩy mạnh sản xuất chăn nuôi tập trung trang trại với quy mô lớn nhằm giải quyết nhu cầu về

số lượng và chất lượng con giống

Xuất phát từ nhu cầu thịt lợn của thị trường trong nước, đặc biệt là khu vực đô thị, các trung tâm du lịch, đang đòi hỏi một số lượng lớn thịt lợn nhiều nạc Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ đã chủ trương nhập một số giống lợn ngoại có tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao như: Landrace, Yorkshire, Duroc…nhằm mục đích nâng cao khối lượng xuất chuồng và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ

Trang 11

Trong bối cảnh đó, Trung tâm giống lợn Nong Teng (Viêng Chăn) đã nhập một số giống lợn ngoại như: Landrace, Yorkshire, Duroc nuôi thành đàn giống bố mẹ Con lai thương phẩm được tạo ra giữa đực Duroc với các dòng

mẹ Landrace và Yorkshire đã đưa vào sản xuất chăn nuôi Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào nhằm đánh giá khả năng sinh sản

và nuôi thịt của các tổ hợp lai nói trên trong điều kiện chăn nuôi ở Trung tâm giống lợn Nong Teng (Viêng Chăn) và các trang trại trong khu vực Viêng Chăn

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái Landrace,

Yorkshire với đực Duroc tại Trung tâm Giống lợn Nong Teng và một số trang trại trong khu vực Viêng Chăn”.

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sức sinh sản của lợn nái

2.1.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản của lợn nái

Sinh sản là một quá trình mà ở đó con đực và con cái thành thục về tính dục, con đực sản sinh ra tinh trùng và con cái sản sinh ra trứng Tinh trùng và trứng được thụ tinh với nhau ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng hình thành hợp

tử, sau đó di chuyển và phát triển thành phôi thai trong tử cung con cái

Hoạt động sinh dục ở lợn cái được tính từ khi nó bắt đầu thành thục về tính Lúc đó, các bộ phận của cơ quan sinh dục như: buồng trứng, âm đạo, tử cung, tuyến sữa phát triển hoàn chỉnh để đảm bảo chức năng sinh sản của nó Đối với lợn nái ngoại thường thành thục tính dục vào 6 – 8 tháng tuổi Thời gian này phụ thuộc vào phẩm giống, điều kiện nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ và sự điều hoà của thần kinh thể dịch Khi lợn cái thành thục về tính,

cơ quan sinh dục con cái có những biến đổi khác nhau và hiện tượng rụng trứng xuất hiện, lặp đi lặp lại theo khoảng thời gian nhất định Hiện tượng này chính là chu kỳ tính hay chu kỳ động dục Ở mỗi loài, mỗi giống khác nhau thì chu kỳ động dục cũng khác nhau

Chu kỳ động dục của lợn nái ngoại trung bình là 21 ngày, dao động từ

16 - 25 ngày Chu kỳ động dục ở lợn cái được điều khiển bởi hệ thống thần kinh trung ương và hormon của vùng dưới đồi (hypothalamus), tuyến yên và buồng trứng theo cơ chế điều hoà ngược (Schmitten và cộng sự, 1989)[40] Điều này được thể hiện tóm tắt qua sơ đồ:

Trang 13

Ngoại cảnh Hypothalamus Ngoại cảnh

FSH (Folicule Stimulating Hormon): Hormon này có tác dụng kích thích bao noãn làm cho bao noãn phát triển và tiết ra oestrogen

LH (Luteinising Hormon): hormon này thúc đẩy bao noãn chín và rụng Khi bao noãn chín, nó sẽ tiết ra hormon oestrogen làm cho lượng oestrogen trong máu tăng lên từ 64 µg% tới 112 µg% gây kích thích toàn thân

và biểu hiện động dục Đồng thời, cơ quan sinh dục cũng biến đổi theo: tử cung hé mở, âm đạo xung huyết màu đỏ, dịch nhờn tiết ra đặc và keo dính

Thuỳ trước tuyến yên

Buồng trứng

TB hạt Thể vàng

Trang 14

Sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp

tử sau này Bên cạnh đó, oestrogen còn kích thích tuyến yên ngừng tiết FSH, tăng tiết LH và prolactin, các hormon này tác động lên quá trình trứng chín và rụng Tuỳ theo giống lợn mà thời gian trứng rụng kéo dài hay ngắn: trung bình 6 - 8 giờ, ở lợn nái hậu bị thì có thể lên tới 10 giờ Ở lợn trưởng thành, số trứng rụng trong một chu kỳ động dục từ 15 - 25 trứng Tuy nhiên, trứng rụng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào giống, tuổi, nồng độ GRH có trong máu và chế

2.1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

2.1.2.1 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái

* Tuổi phối giống lần đầu: Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn cái vì ở thời điểm này, lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn cái vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ 3 Do đó, tuổi phối giống lần đầu thường bằng tuổi động lần đầu cộng với 1 – 2 chu kỳ động dục

* Tuổi đẻ lứa đầu: Sau khi phối giống, lợn chửa khoảng 114 ngày Tuổi

đẻ lứa đầu của lợn nái là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên, được tính bằng tuổi phối giống lần đầu cộng thêm số ngày mang thai

Trang 15

* Số lợn con đẻ ra trong một lứa: Là tổng số con đẻ ra trong một lứa, bao gồm cả con còn sống và con chết

* Số con đẻ ra sống: Đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh

ra, những lợn không đạt khối lượng sơ sinh (quá bé), không phát dục hoàn toàn, dị dạng, …thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, do lợn con mới sinh chưa nhanh nhẹn dễ bị lợn mẹ đè chết

Tỷ lệ sống khi sơ sinh được tính theo công thức:

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là một chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, đặc điểm giống, kỹ thuật chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa Do đó, thành tích này phụ thuộc cả vào khả năng của lợn nái và tác động nuôi dưỡng của con người

Khối lượng sơ sinh của các giống lợn khác nhau thì khác nhau Nhìn chung, lợn con có khối lượng sơ sinh càng cao, khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối lượng cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng sẽ lớn Cho nên, khi lợn nái có chửa cần được chăm sóc nuôi dưỡng tốt để đàn con có khối lượng sơ sinh cao

Trang 16

* Số lợn con cai sữa/lứa: Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái Nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa, khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con

Số lợn con cai sữa/lứa là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn và kỹ thuật chăn nuôi Hiện nay có một số cơ sở chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, người ta đã tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày hoặc 28 ngày tuổi Nếu chúng ta tiến hành cai sữa sớm cho lợn con sẽ góp phần tăng số lứa đẻ trong năm của lợn nái và hạn chế một số bệnh hay lây từ lợn mẹ sang lợn con

Số con sống đến cai sữa (con)

Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = × 100%

Số con để lại nuôi (con)

Trong một số trường hợp, số lợn con sơ sinh nhiều nhưng người chăn nuôi chỉ giữ lại một số lợn con nhất định để nuôi nhằm mục đích đảm bảo cho

sự phát triển bình thường của lợn con

* Khối lượng lợn con cai sữa: Ngoài chỉ tiêu số con cai sữa/lứa, khối lượng toàn ổ và khối lượng bình quân lợn con lúc cai sữa cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá đầy đủ năng suất chăn nuôi lợn nái

Khối lượng lợn con cai sữa phụ thuộc rất lớn vào khối lượng sơ sinh

và là cơ sở cho nâng cao khối lượng xuất chuồng sau này

Tổng số khối lượng lợn con cai sữa (kg) KLBQ lợn con cai sữa (kg) =

Tổng số lợn con cai sữa (con)

Trang 17

* Số lợn con cai sữa/nái/năm: Đây là chỉ tiêu tổng quát nhất để đánh giá năng suất chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa của lợn con và số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ Nếu cai sữa sớm sẽ tăng

số lứa đẻ/nái/năm và tăng số con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao

Tổng số lợn con cai sữa trong năm

Số lợn con cai sữa/ nái/năm =

Tổng số lợn nái sinh sản trong năm

* Thời gian cai sữa: Trước đây ở CHDCND Lào cũng như một số nước trên thế giới thường cai sữa lợn con ở 8 tuần tuổi, nhưng ngày nay do những tiến bộ kỹ thuật về thức ăn, chuồng trại, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ nên đã rút ngắn được thời gian bú sữa Kỹ thuật cai sữa sớm cho lợn con cần phải đảm bảo sao cho lợn con vẫn phát triển bình thường 7 ngày đầu sau khi tách

mẹ Nếu lợn con bị ngừng sinh trưởng trong 7 ngày này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến giai đoạn sinh trưởng trong thời kỳ nuôi hậu bị hoặc nuôi thịt

* Số lứa đẻ/nái/năm: Số lứa đẻ/nái/năm ảnh hưởng rất lớn đến số lợn con /nái/năm Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó được coi như một hệ thống đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái

Số lứa đẻ/nái/năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố Để hoàn thành một chu

kỳ sinh sản bao gồm: thời gian lợn nái mang thai, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại (đối với nái cơ bản) hoặc tuổi phối giống lần đầu với nái hậu bị và tỷ lệ thụ thai Trong các yếu tố đó thì thời gian mang thai có tính ổn định, còn các yếu tố khác đều biến động khá lớn

Số lứa đẻ/nái/năm là số lứa đẻ của đàn nái trong vòng một năm trên số lượng lợn nái bình quân của đàn

Tổng số lứa đẻ cả năm của đàn nái

Số lứa đẻ/nái/năm =

Số lượng lợn nái bình quân cả năm của đàn

Trang 18

* Thời gian phối giống sau cai sữa: Là số ngày bình quân tính từ khi lợn nái cai sữa con cho đến khi phối giống có chửa Thời gian này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện dinh dưỡng và thời gian cai sữa cho lợn con Qua theo dõi người ta thấy rằng nếu cai sữa sớm cho lợn con có thể phối giống sau 8 – 12 ngày, thậm chí chỉ sau 5 - 7 ngày

* Khoảng cách giữa hai lứa đẻ: Là khoảng thời gian lợn đẻ lứa trước đến khi lợn đẻ lứa tiếp theo, hay có thể tính bằng tổng số ngày cai sữa, thời gian không sản xuất với thời gian mang thai lứa tiếp theo Chỉ tiêu này liên quan đến số lứa đẻ bình quân trên một năm của nái

Trên thực tế, năng suất sinh sản hàng năm của lợn nái phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu sau: số con cai sữa/lứa và số lứa đẻ trong năm Hai yếu tố này lại do nhiều yếu tố khác cấu thành, do đó chúng ta có thể tóm tắt theo sơ

đồ sau (Lê Xuân Cương, 1986)[5]

Sơ đồ 1: Các yếu tố cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái

Số nái hậu bị Số lợn con/ năm

của 1 nái sản xuất

Số nái loại thải

Khoảng cách

2 lứa đẻ

Số con cai sữa 1 lứa

Thời gian

chửa

Khoảng cách từ cai sữa đến thụ thai

Thời gian nuôi con

Số con đẻ

ra còn sống

Số con chết trước cai sữa

Số nái không thụ thai

Tỷ lệ rụng trứng

Tỷ lệ thụ tinh

Số phôi

bị chết

Số thai bị chết

Trang 19

2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ với hai yếu tố,

Đồng thời, năng suất sinh sản của lợn nái phụ thuộc vào nhiều chỉ tiêu khác như: số con cai sữa/lứa, khoảng cách lứa đẻ, số lợn con đẻ ra còn sống/lứa, thời gian phối giống sau cai sữa, tỷ lệ thụ thai, số trứng rụng Những chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp khoảng 0,02 - 0,30: tỷ lệ rụng trứng h2 = 0,30 và thời gian phối giống sau cai sữa h2 = 0,02 (Schmitten, 1989)[40] Do vậy, nó chịu ảnh hưởng nhiều của các điều kiện ngoại cảnh

* Giống

Giống là yếu tố quyết định đến sức sinh sản của lợn nái, giống và đặc tính của nó gắn liền với năng suất sinh sản Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau Một số giống lợn có khả năng sinh sản rất tốt như lợn Móng Cái, Yorkshire, Landrace và một số dòng được tạo ra trong hệ thống giống lợn hình tháp như dòng lợn lai L95 được tạo ra từ kết quả của các giống lợn Yorkshire và lợn Meishan của Trung Quốc, hoặc lợn C22, CA,…được nuôi tại trại lợn giống hạt nhân Tam Điệp - Ninh Bình thuộc Viện Chăn nuôi Những giống và dòng lợn này có chung đặc tính là khả năng sinh sản cao, đẻ nhiều con/lứa (từ 10 con trở lên), nuôi con khéo Những giống lợn này thường được chọn là “dòng mẹ” trong các công thức lai làm tăng nhanh số lượng nái

Trang 20

phục vụ cho chăn nuôi lợn thịt thương phẩm đem lại nhiều sản phẩm cho con người

* Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu

Tuổi sinh sản của lợn nái ổn định từ năm tuổi thứ 2 cho đến năm tuổi thứ 4, sang năm tuổi thứ 5 lợn có thể còn đẻ tốt nhưng con đẻ ra còi cọc, chậm lớn Do vậy, tuổi phối giống lần đầu ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Để có thể giao phối lứa đầu, lợn nái hậu bị phải thành thục cả về tính dục và thể vóc Tuổi thành thục về tính dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý của cơ sở chăn nuôi Các giống lợn ngoại như Yorkshire, Landrace có tuổi thành thục về tính vào 6 - 8 tháng tuổi

Lợn nái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn nuôi chăn thả, vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất và có dịp tiếp xúc với lợn đực nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn Đối với lợn ngoại được 5 - 6 tháng tuổi nên cho tiếp xúc với lợn đực mỗi ngày khoảng 15 phút để thúc đẩy sự dậy thì, lợn nái hậu bị sẽ động dục sớm

* Lứa đẻ

Lợn nái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất thường có số con đẻ ra/lứa thấp Sau

đó, từ lứa thứ 2 trở đi số con/lứa sẽ tăng dần lên cho đến lứa thứ 6, thứ 7 thì bắt đầu giảm dần Trong sản xuất, người ta thường chú ý giữ vững số con/lứa

ở các lứa thứ 6 trở đi bằng kỹ thuật nuôi dưỡng, quản lý, chăm sóc sao cho đàn lợn mẹ không tăng cân quá và cũng không gầy sút quá

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, việc giữ vững năng suất sinh sản bằng cách kéo dài thành tích sinh sản của các lứa đẻ từ lứa thứ 6 cho đến thứ 10 sẽ

có lợi nhiều hơn là loại thải chúng để thay thế bằng đàn nái hậu bị Nếu tăng

Trang 21

số lợn nái hậu bị đẻ lứa 1 vào đàn nái sinh sản sẽ làm tăng giá thành của 1 kg khối lượng lợn con cai sữa, làm giảm lợi nhuận của cơ sở chăn nuôi do chi phí tạo ra một lợn nái hậu bị là khá cao

* Kỹ thuật phối giống

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng lợn con đẻ ra/lứa Kỹ thuật phối giống bao gồm việc xác định thời điểm phối giống thích hợp và số lần cho phối giống Trong kỹ thuật phối giống ngoài các thao tác nghề nghiệp

ra, điều cốt yếu là phải xác định được thời điểm phối giống thích hợp Thời điểm phối giống thích hợp có sự khác nhau giữa lợn nội và lợn ngoại, giữa nái

cơ bản và nái hậu bị

Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Nên chú ý rằng nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 - 40 giờ sau khi bắt đầu động dục Do vậy, cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và

số con/lứa giảm

Có nhiều phương thức phối giống cho lợn nái nhưng tốt nhất nên áp dụng phương thức phối lặp Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp từ

12 - 24 giờ cho lợn nái cơ bản và 10 -12 giờ cho lợn nái hậu bị

* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho lợn nái trước phối giống, yếu tố thức ăn rất quan trọng ở thời kỳ này Hughes và Varley (1980)[34] đã thông báo kết quả nghiên cứu về chế độ ăn tăng đối với lợn nái hậu bị trước phối giống như sau:

Trang 22

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của chế độ ăn tăng đối với số trứng rụng

* Ảnh hưởng của mùa vụ

Mùa vụ có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái: Với lợn mang thai, nhiệt độ môi trường tăng cùng lúc ẩm độ cao dẫn đến hô hấp tăng nhanh, mạnh (ẩm độ cao cản trở quá trình bốc hơi nước bề mặt da) lợn mệt mỏi, kém ăn,…Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh sản Nhiệt độ cao

sẽ làm chậm hoặc ngăn cản sự xuất hiện động dục, giảm mức độ rụng trứng,

Trang 23

số trứng thụ thai giảm, tăng hiện tượng chết thai sớm liên quan đến số lợn con

đẻ ra ở mỗi lứa Kết quả nghiên cứu ở Michigan - Hoa Kỳ cho thấy lợn nái

giống thì tỷ lệ phôi sống giảm 35 - 40%

Với lợn con, nhiệt độ thấp và ẩm độ cao , hoặc nhiệt độ cao, ẩm độ lớn đều làm giảm sức đề kháng, lợn con dễ mắc bệnh đường ruột, sinh trưởng kém Theo kết quả nghiên cứu của Trương Hữu Dũng (2003)[12], mùa lạnh khô, năng suất sinh sản của lợn nái cao nhất (60 ngày tuổi tỷ lệ sống đạt 87,42%, khối lượng đạt 14,15 kg/con, khối lượng toàn ổ đạt 116 kg/ổ) Mùa lạnh ẩm, nhiệt độ thấp, ẩm độ cao ảnh hưởng không tốt đến năng suất sinh trưởng, phát triển của lợn con (60 ngày tuổi tỷ lệ sống đạt 78,64%, khối lượng đạt 11,20 kg/con, khối lượng toàn ổ đạt 97,70 kg/ổ)

* Ảnh hưởng của thời gian cai sữa

Cai sữa sớm cho lợn con là biện pháp hữu hiệu để tăng số lứa đẻ của lợn nái/ năm cũng như giảm được tỷ lệ hao hụt lợn nái nhằm tăng năng suất sinh sản của lợn nái

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến năng suất sinh sản

của lợn nái (Hovorka, 1985)

Trang 24

* Yếu tố bệnh tật

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài các yếu tố giống, thức ăn dinh dưỡng, mùa vụ, lứa đẻ,… bệnh tật cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Các bệnh truyền nhiễm, nội khoa, ngoại khoa, sản khoa đều ảnh hưởng, nhưng trong đó bệnh sản khoa là quan trọng hơn cả Một trong những bệnh sản khoa thường gặp mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản phải nói đến “Hội chứng M.M.A” (viêm vú, viêm tử cung, mất sữa) Hội chứng này xuất hiện phổ biến tại các khu vực chăn nuôi tập trung Theo Nguyễn Như Pho (2001)[20] tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A hiện nay lên đến 40 - 60% tại các trại chăn nuôi lớn, trong đó chủ yếu là chứng viêm tử cung Bệnh gây thiệt hại khá nghiêm trọng, những lợn nái mắc bệnh thường lười chăm sóc con, làm lợn con còi cọc, dễ mắc bệnh tiêu chảy, tỷ lệ chết cao và ảnh hưởng tới lần phối giống sau của lợn nái (Hội Thú y Việt Nam, 2002)[20]

2.2 Sinh trưởng

2.2.1 Khái niệm về sinh trưởng

Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, đặc biệt là chăn nuôi lợn thịt, muốn có năng suất và chất lượng thịt cao cần phải nắm vững đặc điểm phát triển của lợn Quá trình phát triển của lợn gồm 2 mặt đó là quá trình sinh trưởng và phát dục

Theo Trần Đình Miên và cộng sự (1995)[17] thì sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ nhờ quá trình đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên

về khối lượng, thể tích và kích thước các bộ phận và của toàn bộ cơ thể do sự tăng lên về khối lượng và lớn lên về kích thước của các tế bào trong các cơ quan tổ chức của cơ thể con vật, trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào

Trang 25

trong cơ thể vật nuôi (Đặng Vũ Bình, 2000)[3]

Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới của cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của sinh vật, hay có thể hiểu phát dục là quá trình thay đổi về chất, chức năng của các bộ phận trong cơ thể gia súc

Sinh trưởng và phát dục là sự phát triển chung của cơ thể sống, có sinh trưởng thì có phát dục và ngược lại Ở bộ phận có phát dục thì ở bộ phận khác

có thể có sự sinh trưởng, hoặc sinh trưởng và phát dục đều thực hiện song song trong cùng một bộ phận của cơ thể Giữa sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu phát triển không đầy đủ sẽ trở nên dị tật và nếu sinh trưởng không đầy đủ cơ thể sẽ bị còi cọc, gầy, yếu

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự phát triển của cơ thể động vật

có tính giai đoạn, mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì quá trình sinh trưởng phát dục cũng khác nhau

Theo Viện sĩ Midendorpho (1987) nghiên cứu về tính giai đoạn trong quá trình sinh trưởng và phát dục của gia súc cho rằng gia súc non sinh trưởng mạnh nhất trong thời gian sau khi sinh, sau đó mức tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng Tính giai đoạn không chỉ đặc trưng cho cả cơ thể sống nói chung mà còn đặc trưng cho từng bộ phận, hệ thống Tuy nhiên, khả năng sinh trưởng của gia súc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: di truyền, giống, dinh dưỡng, phương thức nuôi dưỡng, điều kiện ngoại cảnh,…

Sự phát triển của cơ thể gia súc tuân theo 3 quy luật: quy luật phát triển theo giai đoạn, quy luật phát triển không đồng đều và quy luật theo tính chu

kỳ Hiểu biết về các quy luật phát triển của gia súc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sẽ giúp chúng ta tác động đúng vào quy luật sinh trưởng và phát dục để gia súc thể hiện hết tiềm năng di truyền của chúng nhằm đem lại lợi ích nhiều hơn cho con người

Trang 26

Khi nghiên cứu về sinh trưởng và phát dục của lợn theo độ sinh trưởng người ta quan tâm đến độ sinh trưởng tích luỹ, độ sinh trưởng tuyệt đối và độ sinh trưởng tương đối

2.2.1.1 Độ sinh trưởng tích luỹ

Độ sinh trưởng tích luỹ là khả năng tích luỹ các chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá, biểu thị tốc độ tăng trưởng về khối lượng, thể tích, kích thích các chiều của cơ thể gia súc trong một thời gian nhất định Đồ thị sinh trưởng có dạng chữ S Sinh trưởng tích luỹ liên quan mật thiết đến khả năng cho thịt của lợn, độ sinh trưởng tích luỹ cao thì khả năng cho thịt cao cho nên việc theo dõi sinh trưởng tích luỹ không những có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế

2.2.1.2 Độ sinh trưởng tuyệt đối

Độ sinh trưởng tuyệt đối là khối lượng, thể tích, kích thước các chiều của cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian Đồ thị sinh trưởng

G - độ sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày)

Trang 27

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng thịt

* Yếu tố di truyền

Ở những giống khác nhau, khả năng sinh trưởng và cho thịt cũng khác nhau Trong giai đoạn lợn bú sữa sự khác nhau này chưa rõ mà nó được biểu hiện rõ sau khi con vật cai sữa và rõ nét nhất là trong giai đoạn trưởng thành Trong giai đoạn trưởng thành các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt của các giống khác nhau là khác nhau Cụ thể: lợn Landrace có chiều dài thân thịt dài hơn so với lợn Yorkshire là 1,5 cm; ngược lại tỷ lệ móc hàm của lợn Yorkshire lại cao hơn so với lợn Landrace (Sather và cộng sự, 1991)[39]

Tuy nhiên đứng trên góc độ sinh trưởng và cho thịt của lợn thì mối quan tâm chủ yếu đến nhân tố di truyền chính là việc tạo ưu thế lai Vì con lai cho ưu thế cao hơn so với bố mẹ về tăng trọng và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày (Sellier và cộng sự, 1998)[41] Chính vì vậy, hiện nay hầu hết các đàn lợn thương phẩm của các nước đều dùng lợn lai

* Yếu tố ngoại cảnh

- Dinh dưỡng: là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc Dinh dưỡng tạo năng lượng cho gia súc hoạt động và giúp gia súc sinh trưởng, phát triển Trong dinh dưỡng có các mối quan hệ như giữa năng lượng và protein là yếu

tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng trọng, tỷ lệ nạc, mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt Còn mối quan hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và chất khoáng quyết định tốc độ tăng trọng, phẩm chất thịt của gia súc Ngoài ra, bổ sung các axit amin giới hạn vào khẩu phần lợn thịt cũng giúp tăng trọng nhanh hơn, tiết kiệm được thức ăn và protein

- Thời gian nuôi vỗ béo: Sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô

Trang 28

mỡ lợn chủ yếu xảy ra trong giai đoạn 4 tháng tuổi Dựa vào quy luật sinh trưởng tích luỹ người ta đề ra 3 phương pháp nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian nuôi ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn nuôi lấy mỡ thịt Còn phương thức nuôi lấy mỡ đòi hỏi thời gian dài, khối lượng giết thịt lớn hơn

- Yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng: nhiệt độ chuồng nuôi cao hoặc thấp hơn nhiệt độ giới hạn đều là yếu tố bất lợi đối với sự sinh trưởng của lợn thịt Các yếu tố stress trong thời gian nuôi cũng ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất, sức sản xuất và chất lượng thịt lợn

2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và chất lượng thịt

* Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng

- Tuổi bắt đầu nuôi vỗ béo (ngày)

- Khối lượng bắt đầu nuôi vỗ béo (kg)

- Tuổi kết thúc nuôi vỗ béo (ngày)

- Khối lượng kết thúc nuôi vỗ béo (kg)

- Tăng trọng trong thời gian vỗ béo (g/ngày)

- Tiêu tốn thức ăn/ 1 kg tăng trọng (kg)

* Chỉ tiêu chất lượng thịt

- Tỷ lệ mất nước khi bảo quản, khi chế biến (%)

- Màu sắc thịt

- Độ dai của thịt

Trang 29

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

King (1991)[36] cho biết: giống lợn Yorkshire và Landrace là 2 giống chính được sử dụng chủ yếu ở nhiều nước Ngoài việc sử dụng vào mục đích nhân giống thuần chủng, chúng còn tham gia vào chương trình lai tạo giữa các giống khác nhau Có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả về khả năng sinh sản của 2 giống này

Jang Hyung Lee (1993)[35], khi nghiên cứu tính trạng sinh sản của lợn nái cho thấy: số lợn con sơ sinh/ lứa là 10 con; số con cai sữa/ lứa là 8 con Hamon M (1994)[33] nghiên cứu trên 9387 lứa đẻ của lợn Yorkshire

ở 66 trại; 4389 lứa đẻ của lợn nái Landrace Pháp ở 33 trại và 433 lứa đẻ của lợn nái Landrace Bỉ ở 5 trại cho thấy: số lợn con sơ sinh sống/lứa theo thứ tự là 10,4; 10,0 và 9,5 con; số con cai sữa là 9,0; 9,0 và 8,3 cho 3 giống tương ứng nói trên

Trong nghiên cứu của Estang và Sorensen (1995)[31] trên 19666 lứa đẻ của 12597 lợn nái Landrace Đan Mạch thấy: số con sơ sinh sống là 10,37 ± 2,91 con và nghiên cứu trên 29330 lứa đẻ của 15533 lợn nái Yorkshire thấy số

con sơ sinh sống là 10,08 ± 3,10 con

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Việc nghiên cứu để đánh giá khả năng sinh sản của các giống lợn ngoại được nhập vào Việt Nam từ lâu đã được sự quan tâm của các nhà chăn nuôi, với mục đích nhằm cải tiến các giống lợn nội thông qua việc cho lai giữa các giống với nhau và từng bước nâng cao dần tính thích nghi của các giống lợn nhập nội với điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam

Đặng Vũ Bình (1994)[1] đã thông báo kết quả nghiên cứu một số chỉ

Trang 30

tiêu sinh sản của hai giống lợn Yorkshire và Landrace trong điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam (Bảng 2.3)

Bảng 2.3 Các chỉ tiêu sinh sản của Yorkshire và Landrace

(Đặng Vũ Bình, 1994)

Nguyễn Văn Thiện và cộng sự (1995)[23] thông báo: Lợn nái Yorkshire có số con đẻ ra sống/lứa là: 9,38 ± 2,1 con; số con cai sữa/lứa là: 7,29 ± 1,2 con Lợn nái Landrace có số con đẻ ra sống/lứa là: 9,25 ± 1,7 con;

số con cai sữa/lứa là: 7,21 ± 1,6 con Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa là 77,70% đối với lợn nái Yorkshire và 80,28% đối với lợn nái Landrace

Trang 31

Năm 1995, Nguyễn Khắc Tích [24] đã thông báo về khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại ở lứa thứ nhất (Bảng 2.4)

Bảng 2.4 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn Yorkshire và Landrace

Yorkshire (n = 30) Landrace (n = 20) Giống

Tại trung tâm nghiên cứu Thuỵ Phương, Phùng Thị Vân và cộng sự (2000)[27] khi nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace cho biết: số con sơ sinh sống/lứa ở lợn nái Yorkshire là: 10,40 con

và ở lợn nái Landrace là: 9,61 con; số con cai sữa/lứa ở nái Yorkshire là 9,26

Trang 32

con và nái Landrace là 8,82 con Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa ở nái Yorkshire là 91,90% và ở nái Landrace là 87,79%

Lê Thanh Hải và cộng sự (2001)[14] thông báo: số con sơ sinh/lứa của lợn Yorkshire nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Bình Thắng là 10,2 con

2.3.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cho tới nay, tại CHDCND Lào mới chỉ có kết quả công bố nghiên cứu trên lợn Móng Cái của tác giả Chittavong Malavanh và cộng sự Theo Chittavong và cộng sự (2008)[42] thì lợn Móng Cái có số con đẻ ra/ổ, số con

sơ sinh sống/ổ, số con ở 28 ngày và số con cai sữa tương ứng đạt 10,80; 10,20; 9,60 và 9,20 con/ổ; tỷ lệ sống đạt 94,44%; tỷ lệ nuôi sống đạt 89,80%; khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng 28 ngày tuổi và khối lượng cai sữa/ổ tương ứng đạt 5,12; 26,50 và 35,90 kg Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về năng suất sinh sản của 2 giống lợn Yorkshire và Landrace cũng như sinh trưởng của con lai giữa chúng với đực Duroc được công bố

Trang 33

3 NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và lợn nái Yorkshire phối giống với lợn đực Duroc nuôi tại Trung tâm giống lợn Nong Teng (Viêng Chăn)

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai thương phẩm giữa đực Duroc với nái Landrace và Yorkshire nuôi tại một số trang trại trong khu vực Viêng Chăn

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại Trung tâm giống lợn Nong Teng và một

số trang trại trong khu vực Viêng Chăn

- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Trung tâm giống lợn Nong Teng

và khu vực Viêng Chăn

- Quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức, sản xuất của Trung tâm giống lợn Nong Teng

- Số lượng, cơ cấu đàn lợn qua các năm của Trung tâm giống lợn Nong Teng

Trang 34

- Tình hình chăn nuôi lợn khu vực Viêng Chăn: số trang trại, quy mô chăn nuôi

3.3.2 Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và lợn nái Yorkshire phối giống với lợn đực Duroc nuôi tại Trung tâm giống lợn Nong Teng (Viêng Chăn)

Phương pháp:

Thu thập số liệu về khả năng sinh sản thông qua sổ ghi chép sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire

Số lượng nái sinh sản: 26 nái Landrace và 27 lợn nái Yorkshire

Số ổ đẻ: 137 ổ đẻ của nái Landrace và 125 ổ đẻ của nái Yorkshire Các chỉ tiêu thu thập:

- Ngày sinh

- Ngày phối giống lứa đầu

Đối với tất cả các lứa đẻ:

- Ngày phối giống

- Đực phối giống

- Ngày đẻ

- Số con đẻ ra/lứa

- Số con đẻ ra sống/lứa

- Số con để lại nuôi/lứa

- Số con 21 ngày tuổi/lứa

- Số con cai sữa/lứa

- Khối lượng sơ sinh/ổ

Trang 35

- Khối lượng 21 ngày tuổi/ổ

- Khối lượng cai sữa /ổ

- Ngày cai sữa

- Ngày phối giống trở lại sau cai sữa

Trên cơ sở số liệu thu được sẽ tính toán thêm các chỉ tiêu:

- Tuổi đẻ lứa đầu

- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

- Thời gian mang thai

- Thời gian cai sữa

- Thời gian chờ phối

- Khối lượng trung bình lợn con khi sơ sinh

- Khối lượng trung bình lợn con ở 21 ngày tuổi

- Khối lượng trung bình lợn con khi cai sữa

- Tỷ lệ sống khi sơ sinh

- Tỷ lệ sống tới cai sữa

3.3.3 Đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai thương phẩm giữa đực Duroc với nái Landrace và Yorkshire nuôi tại một số trang trại trong khu vực Viêng Chăn

Phương pháp:

Theo dõi sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, tính toán hiệu quả giá trị gia tăng của nuôi lợn thịt là con lai thương phẩm giữa đực Duroc với nái Landrace và Yorkshire tại 2 trang trại chăn nuôi Mỗi trang trại theo dõi 15 lợn thịt/đợt nuôi của mỗi công thức lai Tổng số theo dõi 2 đợt

Trang 36

Các chỉ tiêu:

- Loại thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt qua các giai đoạn nuôi, giá của 1 kg thức ăn trong từng giai đoạn nuôi

- Khối lượng toàn ổ bắt đầu nuôi

- Khối lượng toàn ổ kết thúc nuôi

- Ngày bắt đầu nuôi

- Ngày kết thúc nuôi

- Tổng số thức ăn tiêu tốn trong từng giai đoạn nuôi

Trên cơ sở các chỉ tiêu theo dõi được sẽ tính toán thêm các chỉ tiêu:

- Số ngày nuôi thịt

- Tăng trọng trung bình trong thời gian nuôi

- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng

- Chi phí thức ăn (kip/kg tăng trọng)

3 4 Xử lý số liệu

Tất cả các số liệu theo dõi đều được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học trên chương trình Excel và SAS tại phòng máy vi tính Bộ môn Di truyền - Giống động vật, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng theo mô hình:

Trang 37

Mj : ảnh hưởng của đực giống (7 đực D khác nhau)

Tính các trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM) và sai số trung bình

(SE) bằng thủ tục GLM

Trang 38

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi của Trung tâm Nong Teng - Viêng Chăn

Trung tâm Nong Teng nằm ngay tại Viêng Chăn Viêng Chăn là thủ đô của CHDCND Lào Vừa là thủ đô hành chính, là trung tâm văn hóa, Viêng Chăn cũng là trung tâm giao thông, thương mại của cả nước Viêng Chăn có diện tích tự nhiên là 320.000 ha Phía Bắc và Phía Tây giáp tỉnh Viêng Chăn hai, phía Nam giáp biên giới Thái Lan, phía Đông giáp tỉnh Bo Ly Khăm Xay Viêng Chăn có 9 huyện: Chăn Tha Bu Li, Si Khôt Ta Bong, Si Sat Ta Nak, Xay Set Tha, Hađ Xai Phong, Xay Tha Ni , Pak Ngum, Na Xai Thong

va Sang Thong Địa hình của Viêng Chăn bao gồm vùng đồng bằng rộng và rừng núi nhỏ, thuận lợi cho việc sản xuất nông - lâm nghiệp, bao gồm nhiều loại cây trồng và chăn nuôi trâu bò, lợn, gia cầm

mưa và mùa khô

Mùa mưa: Bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 10 Thời gian này mưa

(Cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp - Lâm nghiệp Lào)[9] Do số ngày mưa nhiều, độ ẩm trung bình cao, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng cũng như chăn nuôi gia súc phát triển, nhưng cũng kéo theo những đe dọa của dịch bệnh

Mùa khô: Bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất ít, thời tiết nóng nực hơn Nhìn chung, trong mùa khô nhiệt độ không khí cao, tuy nhiên vào thời gian chuyển sang mùa mưa, thời tiết dịu hơn

Trang 39

Giao thông của Viêng chăn rất phong phú đa dạng Có 4 đường quốc lộ chính đi qua tỉnh và nhiều quốc lộ nhỏ như quốc lộ 13B là đường đi các tỉnh phía Bắc và đường đi các tỉnh phía Nam, quốc lộ 3 là đường đi qua biên giới Thái Lan, quốc lộ 6 đi qua tỉnh Viêng chăn hai Giao thông phát triển thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá giữa thủ đô Viêng chăn và các tỉnh trong cả nước

Theo thống kê của Cục thống kê, năm 2005 dân số trong tỉnh Viêng Chăn là 695.473 người Kinh tế của tỉnh chủ yếu là nông nghiệp, trong đó trồng trọt và chăn nuôi phát triển mạnh Các huyện không có điều kiện chăn nuôi thì phát triển các ngành nghề khác Tuy nhiên, các huyện có điều kiện chăn nuôi vẫn gặp nhiều khó khăn về vốn, cơ sở vật chất và trình độ khoa học

kỹ thuật bị hạn chế

Viêng Chăn có Trung tâm giống lợn Nong Teng và nhiều trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, trong đó những trang trại có quy lớn nhất cả nước, như trang trại chăn nuôi lợn Lad Khoai

Trung tâm giống lợn Nong Teng được thành lập từ tháng 6 năm 1977

và là một Trung tâm chăn nuôi của Nhà nước Hiện nay trung tâm có 21 lao động chính Cơ cấu tổ chức lao động của Trung tâm bao gồm:

Trang 40

công nhân là 500.000 kip/người/tháng Với mức lương trên, tuy so với mặt bằng chung của xã hội là chưa cao, nhưng đây cũng là mức thu nhập tương đối ổn định

Trung tâm giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học về chăn nuôi lợn có tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp cho người chăn nuôi trong và ngoài tỉnh nhằm xây dựng các mô hình chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao

* Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm giống lợn Nong Teng qua ba

năm (2005-2007)

bị (con)

Khai thác (con)

Hậu

bị (con)

Sinh sản (con)

Hậu

bị (con)

Sinh sản (con)

Hậu

bị (con)

Sinh sản (con)

Lợn thịt (con)

( Nguồn số liệu: Trung tâm giống lợn Nong Teng )

Các số liệu cho thấy cơ cấu đàn lợn của Trung tâm có sự thay đổi qua các năm Cụ thể:

+ Lợn đực: Tổng số có 8 con khai thác trong năm 2005, năm 2006 đã tăng lên là 9 con và năm 2007 tăng lên là 11 con

Ngày đăng: 08/08/2013, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình (1994), “Các tham số thống kê di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace”. Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa Chăn nuôi thú y 1991 – 1995, Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tham số thống kê di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace”. "Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa Chăn nuôi thú y 1991 – 1995
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Năm: 1994
2. Đặng Vũ Bình (1999), “Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học Chăn nuôi - Thú y (1996-1998), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.5 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, "Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học Chăn nuôi - Thú y (1996-1998)
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
3. Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân (2000), Giáo trình Chọn lọc và nhân giống vật nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chọn lọc và nhân giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
4. Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, Đoàn Văn Soạn, Nguyễn Thị Kim Dung (2005), “Khả năng sản xuất của một số công thức lai của đàn lợn chăn nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng”, Tạp chí KHKT Nông nghiệp, tập III, (4), tr.304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của một số công thức lai của đàn lợn chăn nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng”, "Tạp chí KHKT Nông nghiệp
Tác giả: Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, Đoàn Văn Soạn, Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2005
6. Đinh Văn Chỉnh và cs (1995), “Năng suất sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống gia súc Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu khoa học khoa chăn nuôi thú y, 1991 – 1995, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống gia súc Hà Tây"”, Kết quả nghiên cứu khoa học khoa chăn nuôi thú y, 1991 – 1995
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
7. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Chung (2001), “Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống Phú Lãm- Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu KHKT khoa Chăn nuôi thú y (1991- 1995), Trường Đại học Nông nghiệp Hà nội, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống Phú Lãm- Hà Tây”, "Kết quả nghiên cứu KHKT khoa Chăn nuôi thú y (1991- 1995)
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
8. Cục Chăn nuôi, Bộ Nông – Lâm nghiệp Lào (2004), Báo cáo tổng kết ngành chăn nuôi năm 2004, Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo tổng kết ngành chăn nuôi năm 2004
Tác giả: Cục Chăn nuôi, Bộ Nông – Lâm nghiệp Lào
Năm: 2004
9. Cục Chăn nuôi, Bộ Nông – Lâm nghiệp Lào (2007), Báo cáo tình hình chăn nuôi giai đoạn 2004 – 2007, Lào, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo tình hình chăn nuôi giai đoạn 2004 – 2007
Tác giả: Cục Chăn nuôi, Bộ Nông – Lâm nghiệp Lào
Năm: 2007
10. Phạm Thị Kim Dung (2005), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới một số tính trạng về sinh trưởng và cho thịt của lợn lai F 1 (LY), F 1 (YL), D(LY) và D(YL) ở miền Bắc Việt Nam, Luận án TS Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới một số tính trạng về sinh trưởng và cho thịt của lợn lai F"1"(LY), F"1"(YL), D(LY) và D(YL) ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Kim Dung
Năm: 2005
11. Phạm Thị Kim Dung (2006), “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn L, Y, D và một số tổ hợp lai giữa chúng”. Báo cáo khoa học, Viện Chăn nuôi, tháng 08/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn L, Y, D và một số tổ hợp lai giữa chúng”. "Báo cáo khoa học
Tác giả: Phạm Thị Kim Dung
Năm: 2006
12. Trương Hữu Dũng, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc (2003), “ Khảo sát khả năng sinh trưởng, cho thịt của hai tổ hợp lai F 1 (LY) và F 1 (YL)”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 3, tr. 282 – 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng sinh trưởng, cho thịt của hai tổ hợp lai F1(LY) và F1(YL)”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 3
Tác giả: Trương Hữu Dũng, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc
Năm: 2003
13. Trương Hữu Dũng, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc (2004), Khả năng sinh trưởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai Dx(LY) và Dx(YL), Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (4), tr.471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh trưởng và thành phần thịt xẻ của tổ hợp lai Dx(LY) và Dx(YL)
Tác giả: Trương Hữu Dũng, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc
Năm: 2004
14. Lê Thanh Hải (2001), Nghiên cứu chọn lọc, nhân thuần chủng và xác định công thức lai thích hợp cho heo cao sản để đạt tỷ lệ nạc từ 50 – 55%, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Nhà nước KHCN 08 – 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc, nhân thuần chủng và xác định công thức lai thích hợp cho heo cao sản để đạt tỷ lệ nạc từ 50 – 55%
Tác giả: Lê Thanh Hải
Năm: 2001
15. Trần Thị Minh Hoàng, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Văn Đức (2003), “Một số tính trạng cơ bản của tổ hợp lai giữa P và MC nuôi trong nông hộ huyện Đông Anh – Hà Nội”, Tạp chí Chăn nuôi số 6 (56), tr. 4 -6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tính trạng cơ bản của tổ hợp lai giữa P và MC nuôi trong nông hộ huyện Đông Anh – Hà Nội”, "Tạp chí Chăn nuôi số 6 (56)
Tác giả: Trần Thị Minh Hoàng, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Văn Đức
Năm: 2003
17. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995), Chọn giống và nhân giống gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà nội, tr.73 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
18. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2003), Giáo trình chăn nuôi lợn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Nguyễn Ngọc Phục và cs (2006), “Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn ông bà TĐ1, C1230, C1050 và lợn bố mẹ CA, C22”, Báo cáo khoa học, Viện Chăn nuôi tháng 08/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn ông bà TĐ1, C1230, C1050 và lợn bố mẹ CA, C22”, "Báo cáo khoa học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phục và cs
Năm: 2006
23. Nguyễn Thiện và cs (1995), Di truyền học số lượng tính trạng ứng dụng trong chăn nuôi. NXB Nông nghiệp – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học số lượng tính trạng ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thiện và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp – Hà Nội
Năm: 1995
24. Nguyễn Khắc Tích và cs (1995), “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh dục, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên”, Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa chăn nuôi thú y, 1991- 1995, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh dục, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên”, "Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa chăn nuôi thú y, 1991- 1995
Tác giả: Nguyễn Khắc Tích và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
25. Đoàn Xuân Trúc và cs (1998), Khả năng sinh sản của đàn lợn giống Landrace và Yorkshire nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên”, Tạp chí Nông nghiệp công nghiệp thực phẩm số 7, tr. 288 – 289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp công nghiệp thực phẩm số 7
Tác giả: Đoàn Xuân Trúc và cs
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Các yếu tố cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Sơ đồ 1 Các yếu tố cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái (Trang 18)
Bảng 2.2. Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến năng suất sinh sản   của lợn nái (Hovorka, 1985) - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 2.2. Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến năng suất sinh sản của lợn nái (Hovorka, 1985) (Trang 23)
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu sinh sản của Yorkshire và Landrace  (Đặng Vũ Bình, 1994) - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu sinh sản của Yorkshire và Landrace (Đặng Vũ Bình, 1994) (Trang 30)
Bảng 2.4 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn Yorkshire và  Landrace - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 2.4 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn Yorkshire và Landrace (Trang 31)
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm giống lợn Nong Teng qua ba  năm (2005-2007) - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm giống lợn Nong Teng qua ba năm (2005-2007) (Trang 40)
Bảng 4.2. Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.2. Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn (Trang 42)
Bảng 4.3. Khẩu phần ăn của lợn nái ở từng giai đoạn - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.3. Khẩu phần ăn của lợn nái ở từng giai đoạn (Trang 43)
Bảng 4.4. Khẩu phần ăn của lợn nái giai đoạn mang thai cuối và nuôi con - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.4. Khẩu phần ăn của lợn nái giai đoạn mang thai cuối và nuôi con (Trang 44)
Bảng 4.5.  Cơ cấu đàn lợn của một số trang trại khu vực Viêng Chăn - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.5. Cơ cấu đàn lợn của một số trang trại khu vực Viêng Chăn (Trang 45)
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản  của lợn nái Landrace và Yorkshire - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire (Trang 46)
Bảng 4.7.  Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.7. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire (Trang 48)
Bảng 4.8. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 1 - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.8. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 1 (Trang 57)
Bảng 4.9. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 2 - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.9. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 2 (Trang 58)
Bảng 4.10. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 3 - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.10. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 3 (Trang 59)
Bảng 4.11. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 4 - [Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng giữa lợn nái landrace, yorkshire với đực duroc tại trung tâm giống lợn nong teng và một số trang trại trong khu vực viêng chăn
Bảng 4.11. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa 4 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm