[Luận văn]đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái lai c22 và CA được phối với lợn đực lai 402 tại trung tâm giống lợn đông mỹ, đông hưng thái bình
Trang 11 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền nông nghiệp nước ta có hai ngành sản xuất chính đó là trồng trọt
và chăn nuôi Trong chăn nuôi thì chăn nuôi lợn giữ vị trí quan trọng, sản phẩm chăn nuôi cung cấp cho thị trường chủ yếu là thịt lợn chiếm khoảng 75%, thịt gia cầm chiếm khoảng 15%, thịt trâu bò và các loại thịt khác chiếm khoảng 10% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) [6]
Ngoài vai trò cung cấp thực phẩm, chăn nuôi lợn còn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Theo báo cáo Tổng kết chăn nuôi thời kỳ 1990 - 2002 của Bộ NN & PTNT thì chăn nuôi lợn nước ta những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng kể
Năm 1990 đàn lợn nước ta có 12,2 triệu con, năm 2000 có 20,2 triệu con và đến năm 2002 đàn lợn trên toàn quốc đã lên tới 23,2 triệu con (gấp 1,9 lần so với năm 1990) Mức tiêu thụ thịt lợn hơi bình quân / người / năm tăng
đáng kể, năm 1991 là 11kg, năm 2000 là 15,1 kg và đến năm 2002 tăng lên 20,71kg/ người / năm Tuy nhiên mức tiêu thụ trên so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn thấp Ví dụ ở Trung quốc mức tiêu thụ là 50.8 kg,Thái Lan 33 kg, Malaysia 49.7kg/ người/ năm ( Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn , 2003) [ 6 ]
Trước đây, người tiêu dùng không quan tâm nhiều đến chất lượng thịt, nhưng hiện nay mức sống đã tăng cao nhu cầu sử dụng thịt cũng thay đổi theo hướng nạc là chủ yếu Ngoài ra nhu cầu của thị trường nước ngoài cũng chủ yếu là thịt lợn có tỷ lệ nạc cao Để phục vụ cho nhu cầu thị trường, nhiệm vụ của các cở sở giống là phải đáp ứng cho các cơ sở chăn nuôi lợn cả số lượng, chất lượng con giống Muốn đạt được yêu cầu đó cần phải thay đổi cơ cấu đàn
Trang 2giống bằng biện pháp nhập những giống lợn ngoại (có chọn lọc), sau đó tiến hành cho lai tạo với các giống lợn nội, và lai giữa các giống ngoại với nhau, tạo ra đàn con lai thương phẩm nuôi thịt có năng suất thịt cao và nhiều nạc Trước đây chúng ta đã nhập một số giống thuần: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, gần đây chúng ta tiếp nhận và sản xuất một số dòng thuần và lai ngoại: L19,L95,L06,L11, L64, C1230, C1050, C22, CA, 402
Thời gian gần đây Trung tâm giống lợn Đông mỹ, Tỉnh Thái bình đã nhập về một số giống ông bà C1050, C1230,L!9, sản xuất ra giống bố mẹ CA, C22, nhập đực giống 402 (Y x Pi) cho phối giống với dòng nái C22 và CA tạo ra con lai thương phẩm nuôi thịt 4 và 5 máu ngoại Tuy nhiên việc nghiên cứu khả năng sinh sản của hai dòng nái CA,C22 cũng như khả năng sinh trưởng của đời con (khi cho phối với đực giống 402) vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể
và đầy đủ
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện đề tài: "Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái lai C22 và CA được phối với lợn đực lai 402 tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ - Đông Hưng - Thái Bình"
1.2 Mục đích đề tài
+ Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái CA và C22 qua các lứa (1- 6) + Đánh giá tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
+ Xác định tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản sau một lứa đẻ xuất bán lợn con ở 60 ngày tuổi
+ Xác định hệ số tương quan giữa một số chỉ tiêu năng suất sinh sản
1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- ý nghĩa khoa học
Hiện nay nhu cầu thịt nạc của thị trường trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng Vấn đề đặt ra cho công tác giống là cần tạo ra được những giống
Trang 3lợn thương phẩm nuôi thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh và cho nhiều thịt nạc
Để giải quyết tốt được yêu cầu trên chúng ta phải tiến hành chọn lọc, nhân thuần, lai tạo sản xuất giống lợn ngoại có năng suất sinh sản cao đáp ứng nhu cầu của những cơ sở chăn nuôi lợn nái Mặt khác, góp phần đẩy nhanh tiến độ của chương trình “ nạc hoá,, đàn lợn của cả nước nói chung và Thái Bình nói riêng
- ý nghĩa thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho Trung tâm xác định việc áp dụng công thức lai nào để đem lại hiêụ quả kinh tế cao nhất, từ đó có những định hướng đúng đắn trong việc phát triển chăn nuôi lợn nái lai ngoại
+ Cung cấp thêm thông tin để Trung tâm có thể xác định thời điểm xuất bán lợn con thích hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản
Trang 42 Tổng quan tài liệu
2.1 đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn
2.1.1 Tuổi thành thục tính dục và các nhân tố ảnh hưởng
+ Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ về tính và
có các biểu hiện sau:
- Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng lần đầu, con đực sinh tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
- Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuất hiện
- Các phản xạ sinh dục xuất hiện: con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối
Như vậy ở lợn cái sự thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng
động dục lần đầu Hughes và cộng sự (1980) [56] cho biết: lợn cái thường thành thục về tính lúc 6 - 8 tháng tuổi Sau khi thành thục về tính thì biểu hiện
động dục lần thứ nhất thường không rõ ràng và tiếp sau đó ở vào thời kì sau, dần đi vào qui luật bình thường, đây là một quá trình sinh lý đặc biệt của lợn cái
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính
- Yếu tố giống: các giống gia súc khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau, sự thành thục về tính ở những gia súc có tầm vóc nhỏ thường sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc có tuổi thành thục về tính là: 4 - 5 tháng tuổi, các giống lợn khác như Landrace, Yorkshire là 6 - 7 tháng tuổi Giống lợn Meishan đạt tuổi thành thục về tính sớm hơn khoảng 100 ngày và có số con đẻ ra nhiều hơn từ 2, 4 - 3,2 con / ổ ( Despres và ctv, 1992) [48]
Trang 5Để đánh giá ảnh hưởng của giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn (11,3 ngày), tỷ lệ thành thục cao hơn (2 - 4 %), số trứng rụng lớn hơn (0,5 trứng), số con đẻ ra trên ổ (0,6 - 0,7 con) và số con cai sữa trên ổ (0,8 con) nhiều hơn so với nái thuần chủng Tỷ lệ nuôi sống lợn con ở các nái cao hơn (5%) và khối lượng sơ sinh trên ổ (1 kg), khối lượng 21 ngày tuổi trên ổ (4,2 kg) cao hơn so với giống thuần (Gunsett và Robinson, 1990) [51]
Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (1985) [10] thì tuổi thành thục sinh dục ở lợn lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (ỉ, Móng Cái) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày tuổi) Lợn F1 thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi, lợn ngoại 6 - 8 tháng tuổi
- Yếu tố dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng
Nguyễn Tấn Anh (1998) [1] cho biết kinh nghiệm từ thực tiễn chăn nuôi Hoa Kì, để duy trì năng suất sinh sản cao thì cần lưu ý tới nhu cầu dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 - 90
kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (ở chu kì động dục thứ 2 hoặc thứ 3): 2kg / ngày (protein thô trong khẩu phần đạt 14 %)
Hoặc có thể điều chỉnh để khối lượng cơ thể đạt 120 - 140 kg ở chu kỳ
động dục thứ 3 và cho phối giống Trước phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1 - 1,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố chỉ trong 14 ngày, sẽ giúp lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 - 2.1 trứng / lần động dục/ nái
Lợn cái hậu bị ở giai đoạn 40 - 80 kg (tương ứng với 4 đến 6 tháng tuổi) khi cho ăn khẩu phần thích hợp sẽ bộc lộ tối đa tiềm năng di truyền về tốc độ sinh trưởng Sau khi đạt khối lượng 80 kg, nếu sự thành thục về tính vẫn bình thường, có thể khống chế mức tăng trọng: cho ăn 2 kg / con / ngày với loại thức ăn có mức năng lượng trao đổi: 2900 Kcal / kg thức ăn và 14%
Trang 6protein thô Việc khống chế năng lượng sẽ tiết kiệm chi phí thức ăn, đảm bảo lợn có khối lượng chuẩn khi bước vào giai đoạn sinh sản
- ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng tới tuổi động dục lần
- ảnh hưởng của việc nuôi nhốt đến tuổi phát dục
Mật độ nuôi nhốt cao trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian trước phát dục sẽ làm chậm tuổi động dục lần đầu Tuy nhiên cũng cần tránh việc nuôi lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển vì sẽ làm lợn cái chậm thành thục về tính Do vậy, cần thiết phải nuôi lợn cái hậu bị theo nhóm với mật độ phù hợp
- Điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản và tuổi động dục lần đầu Sự hình thành tiểu khí hậu chuồng nuôi có rất nhiều tác nhân: khí hậu vùng, kiểu chuồng, hướng chuồng, độ thông thoáng, thoát nước, hàm lượng khí NH3, H2S, CO2 Ngoài ra sự trao đổi không khí, lượng phân trong chuồng cùng ảnh hưởng đến tiểu khí hậu chuồng nuôi.Theo Paul Hughes và James (1996) [67] thì hàm lượng NH3 cao làm chậm động dục lần đầu 25 - 30 ngày
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của lợn cái hậu bị
Trang 7Cách li lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm trễ sự thành thục so với những cái hậu bị cùng độ tuổi được tiếp xúc với con đực Tuy nhiên về độ dài thời gian khác nhau và sự thường xuyên hay không có sự tiếp xúc giữa lợn đực và lợn cái cũng có những ý kiến khác nhau Nói chung nếu cho lợn đực tiếp xúc với lợn cái hằng ngày là rất có lợi Theo Paul Hughes (1996) [67] nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với thời gian từ 15 - 20 phút/ lần thì 83 % lợn nái (ngoài 90 kg thể trọng)
động dục lúc 165 ngày tuổi
Trang 8Hughes PE (1975) [55] cho rằng những lợn đực dưới 10 tháng tuổi không có tác dụng trong việc kích thích phát dục, vì bản thân chúng chúng chưa tiết ra lượng feromon, đó là thành phần cần thiết của “ hiệu ứng đực giống ’’ “ Hiệu ứng đực giống ” được thực hiện thông qua feromon trong nước bọt của con đực (3 α androsterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua
đường miệng Tuy nhiên nếu chỉ có feromon mà không có mặt của lợn đực thì tác dụng kích thích sẽ không đạt tối đa “ Hiệu ứng đực giống ” tốt nhất khi lợn cái hậu bị khoảng 160 ngày tuổi và lợn đực ít nhất là 10 tháng tuổi Việc nhốt lợn cái hậu bị cạnh chuồng đực giống và cho chúng tiếp xúc trong một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày sẽ tạo ra đáp ứng tốt nhất ở lợn cái hậu bị
động dục Nói cách khác chu kỳ động dục là sự lặp lại của các lần động dục
có tính chu kỳ
Chu kỳ động dục ở lợn thường kéo dài từ 20 - 22 ngày nhưng có sự biến động trong phạm vi 18 - 25 ngày (theo John R Diehl và cộng sự; 1996 [20])
Trong quá trình động dục các nhân tố ngoại cảnh như ánh sáng, nhiệt
độ, thức ăn, mùi con đực tác động vào vùng dưới đồi (hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên thuỳ trước tuyến yên, làm tuyến này tổng hợp và tiết ra FSH (Folliculo Stimulin Hormone), LH (Lutein Stimulin Hormone) tác động lên tuyến sinh dục
Trang 9Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, tế bào hạt trên mặt thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Hàm lượng oestrogen trong máu lúc này tăng từ 64 mg% đến 112 mg%, từ đó gây kích thích toàn thân, con vật có biểu hiện động dục
Dưới tác dụng của oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi, tử cung hé mở,
âm đạo xung huyết, niêm dịch đặc keo dính, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh, tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này
Khi hàm lượng oestrogen tăng cao nhất sẽ tác động lên tuyến yên làm tuyến này giảm tiết FSH và tăng tiết LH Khi trứng chín, hàm lượng FSH/LH đạt tỷ lệ nhất
định sẽ gây ra sự rụng trứng; sau khi trứng rụng, tại vị trí trứng rụng sẽ hình thành thể vàng, thể vàng này tiết progesteron Trong trường hợp con cái không được thụ tinh sẽ chuyển sang giai đoạn yên tĩnh Còn nếu con cái được thụ tinh - có chửa - thì progesteron do thể vàng tiết ra ở những tháng chửa đầu có tác dụng ức chế tuyến yên làm giảm tiết FSH, LH Lợn cái không động dục trong suốt thời gian mang thai,
ở những tháng có chửa sau, progesteron do nhau thai tiết ra sẽ thay thế dần progesteron do thể vàng tiết ra Như vậy progesterron đã có vai trò “an thai”.Bình thường ở lợn cái mỗi lần rụng trứng kéo dài 4 - 6 giờ, ở lợn cái tơ quá trình này kéo dài hơn 10 giờ
Số lượng trứng rụng phụ thuộc vào giống, tuổi, nồng độ hormon GRH (Gonado Tropine Releaser Hormone) Do số trứng rụng ở 2 buồng trứng là không đều nhau, nên trong quá trình mang thai 23% số trứng phải di động để
số lượng thai ở 2 bên sừng tử cung như nhau, tạo điều kiện tốt cho quá trình phát triển của bào thai Trong thời gian động dục nếu trứng và tinh trùng gặp nhau ở vị trí thích hợp: 1/3 phía trên ống dẫn trứng sẽ diễn ra sự thụ tinh và hợp tử được hình thành Sau khi được hình thành hợp tử sẽ di chuyển về làm tổ
ở sừng tử cung và phát triển thành thai Thời gian mang thai ở lợn nái thường
là 114 ngày
Trang 10Sau khi cai sữa cho lợn con khoảng 7 ngày thì lợn mẹ động dục trở lại, thời gian này có thể dao động từ 5 - 12 ngày Biết được đặc điểm sinh lý này giúp việc phát hiện động dục kịp thời và phối giống đúng thời điểm, sẽ góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
2.2 Khả năng sinh sản của lợn nái
2.2.1 Các tham số di truyền đối với các chỉ tiêu sinh sản
- Các chỉ tiêu sinh sản thường có hệ số di truyền thấp Hệ số di truyền về các chỉ tiêu này được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Hệ số di truyến đối với một số chỉ tiêu sinh sản
0.17 Nguyễn Văn Thiện (1995) [28] Khoảng cách giứa 2 lứa đẻ 0.08 Rydhmer và cộng sự (1995) [73]
Các chỉ tiêu sinh sản có mối quan hệ với nhau, độ lớn của hệ số là khác nhau và tuỳ thuộc vào kết quả nghiên cứu (bảng 2.2)
Trang 11Bảng 2.2: Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản ở lợn
Hệ số tương quan kiểu gen
Số con đẻ ra
và số con đẻ
ra còn sống
Số con đẻ ra sống và số con 21 ngày
Số con đẻ ra sống và số con cai sữa
Trang 12Trần Đình Miên (1997) [24] cho biết việc tính toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/ lứa
H.A.M Vander Steen (1986) [80] cho rằng sức sinh của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ ổ và thời gian
từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả
Legaul.C (1990) [64] cho rằng ở các trại chăn nuôi tiên tiến, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất về năng suất sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa đẻ thứ nhất đến lứa đẻ cuối cùng)
Hamon M (1994) [18] cho biết đặc tính sinh sản ở lợn nái gồm tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa Theo tác giả trên thì số con cai sữa/ nái/ năm ở lợn Lage White và Landrace Pháp là 21.2 con, ở lợn Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17.9 con
ở nước ta theo tiêu chuẩn nhà nước (TCVN - 1280 - 81, 3879 - 54,
3900 – 84, ngày 1/1/1995) [31], các chỉ tiêu giám định về khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại các cơ sở công nghiệp lợn giống nhà nước như sau:
- Số con đẻ ra sống/ lứa (con)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/ lứa (kg)
- Khối lượng cai sữa / lứa (kg)
- Tuổi đẻ lứa đầu (với lợn đẻ lứa 1) (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
Thông thường các chỉ tiêu sau thường được đề cập tới để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái:
- Tính đều đặn của chu kỳ (ngày)
Trang 13- Số con đẻ ra/ ổ (con)
- Số con đẻ ra còn sống / ổ (con)
- Số con đẻ ra chết / ổ (con)
- Khối l−ợng sơ sinh/ ổ (kg)
- Khối l−ợng sơ sinh/ con (kg)
- Số con để nuôi / ổ (con)
- Số con 21 ngày tuổi/ ổ (con)
- Khối l−ợng 21 ngày/ con (kg)
- Khối l−ợng 21 ngày/ ổ (kg)
- Số con cai sữa/ ổ (con)
- Khối l−ợng cai sữa / ổ (kg)
- Khối l−ợng cai sữa / con (kg)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
- Tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian phối giống sau cai sữa (ngày)
- Số lứa đẻ/ nái/ năm
- Số con cai sữa / nái / năm (con)
Hughes và Varley (1980) [56] cho rằng các thành phần cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái đ−ợc thể hiện ở sơ đồ 2.2
Trang 14Thời gian từ cai sữa đến phối giống có kết quả
Số lợn con đẻ
ra còn sống
Tỷ lệ chết cho đến khi cai sữa
Số trứng rụng
Tỷ lệ thụ thai
Tỷ lệ phôi chết
Tỷ
lệ thai chết
Sức sản xuất hàng năm của lợn nái
Thời gian
từ cai sữa
đến động dục lại
Sơ đồ 2.2: Các yếu tố cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái
- ảnh hưởng của giống
Giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau Gia súc có tầm vóc nhỏ thì sự thành thục về tính thường sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Lợn nội thành thục về tính thường sớm hơn lợn ngoại ở các giống lợn khác nhau thì năng suất sinh sản cũng khác nhau Giống lợn Meishan (Trung Quốc) được coi là một kiểu mẫu di truyền về sức sinh sản cao, đạt 14 - 18 lợn sơ sinh, trên
12 con lợn cai sữa/ ổ ở lứa đẻ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998 [34])
Trang 15- Số trứng rụng: số trứng rụng trong một chu kì động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra / lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dưới 10 con Như vậy trứng rụng bao giờ cũng nhiều hơn số con đẻ ra Sự chênh lệch này
có thể do một số trứng được thụ tinh nhưng không phát triển thành hợp tử
C.E Haines và cs (1959) [52] cho biết số trứng rụng ở chu kì động dục lần đầu là 11,3, ở chu kì động dục lần hai là 12,3 Theo J.F.Perry (1954) [68], số trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là 21,4 Số trứng rụng trung bình của lợn nái là 15 - 20 (O.vangen,1981[79], Haines, 1959 [ 52], Skinner,1977 [77])
Số trứng rụng ở các chu kì động dục 1, 2, 3 có ảnh hưởng đến số con
đẻ ra / lứa ở lợn cái hậu bị (Paul Hughes và cs, 1996 [67])
Do số trứng rụng ở chu kì động dục lần đầu ít , nên khi phối giống cho lợn ngoại thường tiến hành ở chu kì động dục lần thứ hai hoặc thứ ba
Trần Cừ và cộng sự (1975) [8] cho biết ở lợn nái mỗi chu kì động dục
có thể rụng 15 - 20 trứng, có khi đến 40 trứng, và số trứng rụng ở buồng trứng bên trái thường nhiều hơn bên phải
Trong kĩ thuật nuôi dưỡng lợn nái hậu bị trước ngày dự kiến phối giống 11 - 14 ngày, tập trung mức năng lượng cao sẽ làm tăng số lượng trứng rụng Kĩ thuật này đã được áp dụng rộng rãi trong qui trình chăn nuôi lợn nái hậu bị, được gọi là phương pháp Flushing
Theo Trần Cừ và cs (1975) [8], Phạm Hữu Doanh (1995) [11] thì ở lợn áp dụng phương pháp phối kép có thể làm thời gian thải trứng sớm hơn và tăng số lượng trứng rụng
Hughes và Varley (1980) [56] cho rằng nếu lợn nái được ăn với mức dinh dưỡng cao trong vòng 0 - 1 ngày (trước động dục) thì số trứng rụng tăng 0,4 trứng, trong vòng 2 - 7 ngày (trước động dục) số trứng rụng tăng 1,6 trứng
Trang 16và trong vòng 21 ngày (trước động dục) thì số trứng rụng tăng 3,1 trứng
Tập đoàn Cagill (1998) đã áp dụng qui trình nuôi dưỡng lợn nái theo bốn giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn tăng số lợn con / lứa: trước phối giống 14 ngày với mức
ăn 2,8 - 3,6 kg / ngày với nái hậu bị và nái nuôi con từ lúc cai sữa đến phối giống
+ Giai đoạn kinh tế: 91 ngày sau khi phối giống, khẩu phần của lợn nái mang thai là 1,8 - 2,2 kg / ngày
+ Giai đoạn tăng trọng lượng lợn con sơ sinh: 21 - 23 ngày trước khi
đẻ với mức ăn 2,8 - 3,2 kg / ngày
+ Giai đoạn tạo sữa (sau khi đẻ): ăn không hạn chế
- Tỷ lệ thụ tinh: xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định
tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong một chu kì động dục của lợn nái Trong
điều kiện bình thường tỷ lệ thụ tinh có thể đạt 90 - 100 %, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hancock (1961) [53] Nếu cho phối giống trực tiếp thì tỷ lệ thụ tinh thường cao hơn từ 10 - 20 % so với phối giống nhân tạo Trong kĩ thuật phối giống nhân tạo thì môi trường pha loãng để bảo tồn tinh dịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện và Lưu Kỷ, 1995 [2], Nguyễn Văn Thưởng, 1998 [35])
Tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vaò mùa vụ phối giống, nếu cho lợn nái phối giống vào các tháng 6 - 8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10 % so với phối giống ở các tháng 11, 12 (Akina Ogasa,1992 [40])
Tỷ lệ chết phôi và thai: Johanson (1980) [59] cho rằng từ 9 - 13 ngày sau khi phối giống là thời kì khủng hoảng của sự phát triển của phôi vì phôi chết chủ yếu ở thời kì này Ngày nay các nghiên cứu đều xác định rằng: 30 -
40 % phôi bị chết trong thời gian làm tổ ở sừng tử cung Perry (1954) [68] và
Trang 17Joakimsen (1977) [58] cho biết phôi bị chết vào ngày 13 - 18 sau khi thụ tinh.Tỷ lệ thai chết tỉ lệ thuận với số phôi còn sống ở đầu thời kì bào thai (Đặng Vũ Bình, 1995 [3]) Theo Perry (1954) [68] thì tỉ lệ thai chết thường cao ở sừng tử cung chứa trên 5 bào thai
- Thời gian mang thai
Theo Trần Cừ và cs (1975) [8] thì thời gian mang thai của lợn dao
động từ 110 - 120 ngày và tuỳ thuộc vào giống, tuổi, các yếu tố khí hậu, thời tiết và điều kiện dinh dưỡng
Tuy nhiên J P Burger (1952) [47] cũng cho biết không thấy có sự khác biệt về thời gian mang thai giữa giống lợn Large White và giống Large Black
Brande và cs (1954) [46] lại cho rằng thời gian mang thai của các giống lợn trắng ở Anh là 114 ngày với phạm vi biến động là 110 - 120 ngày
Nhìn chung nếu xét trong phạm vi các giống lợn thì thời gian mang thai có sự sai khác không đáng kể và dao động trong khoảng 113 - 115 ngày
- Số lợn con được sinh ra trong ổ thường được đánh giá theo ba loại lợn con (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, 1998 [30], Nguyễn Văn Thiện, 1998 [29]):
+ Loại đẻ ra còn sống: trong số này có một số con chết trong vòng 24 giờ, như vậy số con sơ sinh sống đến 24 giờ được tính là số con còn sống trừ
đi số con chết trong 24 giờ
+ Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra Nguyên nhân có thể do lợn mẹ nhiễm bệnh hoặc do thiếu dinh dưỡng trong thời gian mang thai
+ Loại thai gỗ: là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi Thai chết trong giai đoạn này thường không gây xảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại Nguyên nhân có thể các thai này không được cung cấp
Trang 18dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai dị dạng,
hoặc do nhiễm vi rút Pavovirus Lợn nái chửa nhiễm vi rút Pavovirus lúc 70
ngày có chửa trở về trước thì mới gây ra thai gỗ Số con chết lúc sơ sinh, số
thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống
đến 24 giờ cho một lứa đẻ
Hughes và cs (1980) [56] cho rằng năng suất của đàn lợn giống được
xác định bởi chỉ tiêu số con bán được khi cai sữa / nái / năm Do đó, số con
trong ổ là tính trạng năng suất rất quan trọng Giới hạn cao nhất của số con
trong ổ là số trứng rụng Từ giới hạn này, số con trong ổ bị giảm đi là do:
(*): Những lợn con < 1,8 pount thì bị giết (1 pount = 453 g)
Trang 19Khá nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh
đến cai sữa Người ta đã thống kê được khoảng 3 - 5% lợn con chết khi sơ sinh bao gồm cả lợn con chết do đẻ khó và lợn con chết ở giai đoạn chửa
Các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong quá trình từ sơ sinh
Kết quả ở bảng 2.3 cho thấy có tới 55 % lợn con bị hao hụt trước khi cai sữa do một số nguyên nhân như bị đói, bị dẫm đạp, bị thương và bị loại do khối lượng cơ thể thấp
Theo Lê Thanh Hải và cs (1998) [16] thì lợn nái được nuôi dưỡng bằng chuồng lồng đã làm tăng số lợn con 60 ngày tuổi bình quân / ổ thêm 18,51 % hay tăng tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi lên 23,19 % so với nuôi chuồng nền
- Thời gian nuôi con của lợn mẹ: Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và qua đó ảnh hưởng tới số lợn con / nái/ năm
P.E Hughes và cs (1980) [56] nhận định rằng mặc dù cai sữa ở 8 tuần tuổi là tốt nhất cho cả mẹ và con nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến số lứa đẻ / nái/
Trang 20năm Trong trường hợp này số lứa đẻ chỉ đạt 1,8 - 2,0 lứa , nhưng nếu cai sữa
ở 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5 lứa / nái / năm với chi phí thấp
Để rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con đường sinh học nào khác ngoài biện pháp cai sữa sớm lợn con Muốn vậy vấn đề quan trọng là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày thứ 30 lợn con
có thể sống độc lập không cần sữa mẹ (Lê Hải , 1981 [13])
Hiện nay trên thế giới, lợn con được cai sữa ở 23 - 28 ngày tuổi ở úc thời gian cai sữa trung bình hiện nay 23,6 ngày tuổi (Theo Hilda Meo và Gordon, 1997 [54])
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa
Một trong những giải pháp có thể rút ngắn chu kì sinh sản là cai sữa sớm lợn con Nhưng cai sữa sớm lợn con không đi liền với sớm động dục lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ ngày cai sữa đến ngày động dục lại càng dài, trứng rụng càng ít
J Hamon (1975) [17] đã tiến hành cai sữa sớm lợn con ở các ngày tuổi:10, 21 và 56 ngày Kết quả là thời gian nuôi con của lợn mẹ càng dài thì chu kì động dục lại của lợn mẹ càng ngắn và số lượng trứng rụng trong một lần động dục càng cao Cụ thể: thời gian cai sữa lợn con là 10, 21, và 56 ngày thì thời gian động dục trở lại sau cai sữa đạt tương ứng là 9,4; 6,2 và 4 ngày
Số trứng rụng / lần động dục đạt tương ứng như sau : 12,8; 15,2 và 16,6 trứng
Đồng thời tác giả cũng cho biết thời gian chờ phối ngắn hay dài không chỉ phụ thuộc thời gian cai sữa lợn con mà còn phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng lợn nái trong thời gian nuôi con và sau cai sữa, cũng như độ hao mòn của lợn mẹ
Lê Thanh Hải và cs (1996) [15] cho rằng khối lượng của lợn mẹ bị hao hụt tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 và có giảm xuống ở các lứa sau
Trang 21Theo Nguyễn Tấn Anh (1998) [1] thì mức năng lượng và khẩu phần ăn
có ảnh hưởng đến tỷ lệ động dục, tỷ lệ trứng rụng và thời gian phối giống trở lại, với mức ăn 3 kg/ ngày thì thời gian phối giống trở lại là 8 ngày, với mức
ăn 5 kg/ ngày thì thời gian phối giống trở lại là 5,5 ngày
- ảnh hưởng của nuôi dưỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt
động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Protêin: mức độ prôtêin được cung cấp ảnh hưởng rất lớn tới thành tích sinh sản của lợn mẹ
Nếu nhu cầu prôtêin của lợn mẹ không được đáp ứng đầy đủ sẽ làm chậm động dục và làm giảm số lứa đẻ/ nái/ năm ở giai đoạn chửa, nếu trong khẩu phần thiếu prôtêin thì lợn con khi sinh ra sẽ có khối lượng sơ sinh thấp, còn ở giai đoạn tiết sữa sẽ làm giảm khả năng tiết sữa, vì thế mà ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh trưởng của lợn con
Năng lượng: năng lượng là yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động sống của cơ thể Nếu không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sống của lợn nhất là lợn chửa và nuôi con Điều này sẽ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh kém Tuy nhiên nếu cung cấp quá thừa năng lượng trong thời gian có chửa lại dẫn tới tình trạng chết phôi, đẻ khó, mặt khác năng lượng thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ và lợn con sẽ bị mắc các bệnh đường ruột do sữa mẹ có hàm luợng mỡ sữa cao
Vitamin: vitamin không phải là chất dinh dưỡng nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà các hoạt động sinh lý của cơ thể
Thiếu Vitamin A và E sẽ dẫn đến khả năng sinh sản kém, thiếu vitamin
B sẽ dẫn đến khả năng tiêu hoá tinh bột giảm, ảnh hưởng tới thần kinh
Trang 22Thiếu vitamin D dẫn tới hiện tượng xốp xương, rối loạn chuyển hoá và hấp thu can xi, phốt pho
V.D Reddy và cs (1958) [69], CE Haines và cs (1959) [52] cho biết: nếu thiếu trầm trọng vitamin và khoáng có thể gây chết toàn bộ phôi
Khoáng: khoáng được chia làm 2 loại gồm khoáng đa lượng và vi lượng Trong khẩu phần ăn của lợn khoáng chỉ chiếm một lượng nhỏ, nhưng
có tác dụng quan trọng trong việc hình thành xương, tạo máu và cân bằng nội môi Do đó trong quá trình nuôi dưỡng cần cung cấp đủ với hàm lượng thích hợp và tỷ lệ giữa các chất trên phải cân đối
Ngoài các nhân tố trên, còn nhiều yếu tố khác như : tuổi phối giống lứa
đầu, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, phẩm chất tinh dịch, kỹ thuật phối giống, khí hậu, bệnh tật đều có ảnh hưởng đến năng suất, sinh trưởng của lợn nái
2.3 Quá trình phát triển của lợn ở trong thai và giai
đoạn bú sữa
2.3.1 Quá trình sinh trưởng và phát dục
Theo Trần Đình Miên (1995) [23] thì sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ nhờ đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật, trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước
Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới trong cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của cơ thể sinh vật, hay có thể hiểu phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là sự tăng thêm, hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận trong cơ thể gia súc
Sinh trưởng phát dục là sự phát triển chung của cơ thể sống, có sinh trưởng thì có phát dục và ngược lại, ở bộ phận này có phát dục thì ở bộ phận
Trang 23khác có thể có sự sinh trưởng, hoặc sinh trưởng và phát dục đều thực hiện song song trong cùng một bộ phận cơ thể Theo Nguyễn Hải Quân và cộng sự (1995) [26], giữa sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu phát triển không đầy đủ sẽ trở nên dị tật và nếu sinh trưởng không đầy đủ cơ thể sẽ bị còi cọc, gầy, yếu
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự phát triển của cơ thể động vật
có tính giai đoạn, mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì quá trình sinh trưởng phát dục cũng khác nhau
Viện sỹ A.F Midendorpho (1967) nghiên cứu về tính giai đoạn trong quá trình sinh trưởng và phát dục của gia súc cho rằng gia súc non sinh trưởng mạnh nhất trong thời gian sau khi sinh, sau đó mức tăng trọng giảm dần theo từng tháng Tính giai đoạn không chỉ đặc trưng cho cả cơ thể sống nói chung
+ Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và phát dục của gia súc
- Sinh trưởng tích luỹ là khối lượng, kích thước, thể tích của gia súc tích luỹ được trong một thời gian
- Sinh trưởng tuyệt đối là khối lượng, thể tích, kích thước cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau đây:
12
12
T T
V V
Trang 24V1 là khối lượng tích luỹ đo được ở thời điểm T1
V2 là khối lượng tích luỹ đo đựơc ở thời điểm T2
2.3.2 Quá trình phát triển của lợn ở trong thai
Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn trong thai được tính từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi lợn con được sinh ra Giai đoạn trong thai thường kéo dài trung bình 114 ngày
Giai đoạn này được chia làm ba thời kì : thời kì phôi thai, thời kì tiền thai và thời kì bào thai
+ Thời kì phôi thai: được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 của quá trình mang thai Sau khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, tại đây diễn ra sự thụ tinh Trứng được thụ tinh hình thành hợp tử, 1 đến
3 ngày sau khi thụ tinh hợp tử di chuyển về hai bên sừng tử cung và làm tổ tại
đó Đây là thời kì phôi phát dục mạnh nhất và chất dinh dưỡng được cung cấp
+ Thời kì tiền thai : thời kì này kéo dài từ ngày thứ 23 đến ngày thứ 39 Đặc điểm của thời kì này là phôi thai phát triển mạnh dần, bắt đầu hình thành nhau thai, mối liên hệ giữa phôi thai và tử cung chắc chắn hơn, ít xảy ra hiện tượng xảy thai Các khí quan hình thành rõ rệt Cuối thời kì này khối lượng thai đạt 6 - 7g
Trang 25+ Thời kì bào thai : thời kì này kéo dài từ ngày thứ 39 đến khi đẻ
ở thời kì này, thai phát triển mạnh nhất là 30 ngày trước khi đẻ Khối lượng bào thai tăng lên ở tháng cuối cùng trước khi đẻ có thể chiếm 2/3 hoặc 3/4 so với toàn bộ khối lượng bào thai
Trong thực tế để thuận tiện cho áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, người ta chia giai đoạn chửa của lợn nái thành hai thời kỳ, chửa kỳ I: từ ngày
có chửa thứ 1 đến ngày thứ 84; chửa kỳ II: từ ngày chửa thứ 85 trở đi
Cần chú ý việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái chửa kỳ II, cần cung cấp thức ăn có chất lượng tốt, khẩu phần cần được chia nhỏ để tránh sự chèn ép, gây ảnh hưởng bất lợi cho thai
2.3.3 Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn bú sữa
Giai đoạn này nguồn dinh dưỡng được cung cấp từ sữa mẹ, quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh và khối lượng cơ thể tăng nhanh
Theo Trương Lăng (1993) [21] thì khối lượng cơ thể lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần lúc sơ sinh Các cơ quan tiêu hoá phát triển, tăng về kích thước
và hoàn thiện dần về chức năng Dung tích dạ dày sau 10 ngày tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh; sau 20 ngày tăng lên 8 lần và khi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít
Chiều dài ruột non sau 20 ngày tăng 3 lần, ruột già tăng 1,5 lần so với lúc sơ sinh
Chức năng của bộ máy tiêu hoá chưa được hoàn chỉnh nhất là ở 3 - 4 tuần đầu Nguyên nhân do thiếu HCl, men pepsinogen không được hoạt hoá thành pepsin, nên ở giai đoạn này lợn con tiêu hoá rất kém, đặc biệt là các thức ăn ngoài sữa, lợn con chỉ tiêu hoá tốt được sữa nhờ men capepxin và tripxin hỗ trợ HCl trong dạ dày có chức năng diệt khuẩn, do trong dạ dày bị thiếu, nên giai đoạn này lợn con dễ mắc bệnh ỉa chảy và ỉa phân trắng
Chỉ sau 4 tuần men pepsin mới có hoạt tính mạnh, còn các men
Trang 26amilase, maltase trong 2 - 4 tuần hoạt tính yếu, nên lợn con tiêu hoá tinh bột rất kém đặc biệt là tinh bột sống
Chính vì vậy trong công nghệ sản xuất thức ăn cho lợn hiện nay, thành phần tinh bột cần được làm chín bằng phương pháp ép đùn
Trong giai đoạn này phản xạ thần kinh và thể dịch của lợn con còn yếu, khả năng phân tiết dịch vị chậm, hoạt tính của dịch vị và khả năng kháng khuẩn còn kém nên cần phải chú ý tới vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại Lợn con khi sinh ra thường bị thiếu sắt do sữa me bị thiếu, vì thế cần phải bổ sung bằng cách tiêm sắt dưới dạng Dextran Fe ở ngày tuổi thứ 3 và ngày tuổi thứ 10
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Nửa đầu thế kỷ XX nội dung chủ yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần Nhưng từ nửa sau thế kỷ này có thêm những hiểu biết mới
về ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo lợn, nên ở các nước có ngành công nghiệp tiên tiến đã phát triển mạnh về lai kinh tế ở lợn Lúc đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa 2 giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ 3, 4, 5 giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn hybrid
Các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Canada đã sử dụng các tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ các giống lợn cao sản như Landrace, Yorkshire, Duroc, Hampshire Các nước này thường dùng lợn nái lai từ 2 giống lợn, sau đó cho phối giống với lợn đực thứ 3 để sản xuất ra lợn thương phẩm Ví dụ: đực Duroc lai với cái F1 (Landrace x Yorkshire) Cũng có khi sử dụng lợn đực lai cho phối với lợn nái lai để sản xuất ra lợn con nuôi thịt 4 máu Tổ hợp lai dưới đây được nhiều nước ứng dụng trong sản xuất:
Trang 27♂ (Duroc x Landrace) x ♀ (Hampshire x Yorkshire)
Hiện nay Mỹ đã sử dụng “hình tháp di truyền truyền thống” và mô hình
“hình tháp di truyền cải tiến” để xây dựng hệ thống giống lợn Đối với mô hình hình tháp truyền thống ở đàn lợn cụ kỵ (GGP) thường là lợn nái Yorkshire cho phối với lợn đực Yorkshire để sản xuất ra lợn Yorkshire thuần chủng ở đàn ông bà Lợn nái Yorkshire ở đàn ông bà (GP) được phối với lợn
đực Landrace để sản xuất ra lợn bố mẹ (P) là F1(LxY) Để sản xuất ra lợn thương phẩm người ta thường dùng nái F1 phối với lợn đực cuối cùng như Hampshire hoặc Duroc để sản xuất ra lợn lai thương phẩm 3 máu:
♂H x ♀F1(LxY) để sản xuất ra lợn thương phẩm [H (LxY)]
♂ D x ♀F1 (L xY) để sản xuất ra lợn thương phẩm [D (L x Y)]
Trong mô hình hình tháp di truyền cải tiến, ở đàn lợn cụ kị vẫn dùng lợn nái Yorkshire cho phối với đực Yorkshire để sản xuất ra lợn thuần thay thế trong đàn lợn cụ kỵ (GPP), còn những lợn nái Yorkshire khác cho phối với lợn
đực khác giống để sản xuất ra lợn ông bà (GP) Các lợn lai thuộc ông bà được phối giống với lợn đực giống Landrace để sản xuất ra lợn bố mẹ (P) là những lợn lai “3 máu,, Cuối cùng những lợn lai “ 3 máu,, này được phối với lợn đực cuối cùng để sản xuất ra lợn thương phẩm Căn cứ vào nhu cầu thị trường mà người ta chọn lợn đực kết thúc cho phù hợp như (Hampshire x Large White), Duroc, Berkshire, (Duroc x Hampshire), (Duroc x Large White) (Nguyễn Văn Thiện, 1998) [29] và (Trần Đình Miên, 1998) [25]
- Lai kinh tế ở một số nước Châu Âu: ở Liên Xô (cũ), Hungari, Đức kết quả lai kinh tế đã làm tăng số lợn con sơ sinh trung bình / ổ là 12 - 16%
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa cao hơn từ 10 - 15% so với lợn thuần Khả năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian vỗ béo từ 25 - 30 ngày, đạt khối lượng giết mổ 100 kg Nhiều kết quả nghiên cứu của Winters và cộng tác viên (1978) [39] đã chứng minh, lợn lai khác giống vượt lợn thuần chủng về số
Trang 28lượng lợn con nuôi sống và vỗ béo đến khi xuất chuồng, tiêu tốn thức ăn / kg tăng khối lượng thấp hơn Tác giả nhận xét lợn lai từ 2 giống có số con trung bình/ ổ lúc sơ sinh cao hơn 11.6 %, giảm thời gian nuôi thịt là 17 ngày và tiết kiệm được 28 kg thức ăn cho một đời lợn nuôi thịt đạt khối lượng 100 kg/ con
so với lợn nuôi thuần
Lợn lai từ 3 giống có số con trung bình một ổ khi sơ sinh cao hơn 7.2
% so với lợn lai 2 giống và cao hơn 19.6 % so với lợn thuần
Bảng 2.4: Kết quả nghiên cứu về lai 2, 3 giống so với nhân thuần
Tuổi đạt khối lượng 100 kg/con (ngày)
TTTĂ cho lợn
đạt 100 kg (kg)
Đỗ Thị Tỵ (1994) [36] cho biết ở Hà Lan chăn nuôi là một trong những ngành quan trọng Thịt lợn chiếm 60 % tổng sản lượng thịt các loại được sản xuất trong năm Trong chăn nuôi lợn thì trên 90 % lợn vỗ béo là lợn lai Tổ hợp lai hai máu (Landrace x Yorkshire) chiếm tới 69 %, các tổ hợp lai nhiều giống tham gia ngày càng tăng ở Hà Lan Các giống lợn chủ yếu dùng trong lai kinh tế là Landrace Hà Lan, Landrace Bỉ, Đại Bạch, Pietrain Hà Lan Nhiều địa phương của Hà Lan đã sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số
Trang 29địa phương khác thì ưa chuộng lợn lai 3 - 4 máu, trong đó giống thứ 3, 4 thường được chọn là lợn đực Duroc Canada Lợn lai có ưu thế đẻ nhiều con, trung bình một ổ lợn con lúc sơ sinh là 9,9 con và đạt 18,2 con cai sữa / năm
Khi nghiên cứu con lai giữa lợn Duroc với lợn Landrace cho thấy tăng khối lượng đạt 804 g / ngày, tỷ lệ thịt nạc là 51,86% Khi cho lợn đực Pietrain phối với lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire), tỷ lệ thịt nạc đạt 52 - 55 % và đạt khối lượng 100 kg ở 161 ngày tuổi (Pavlik và cộng sự, 1989) [66]
Chương trình lai tạo giống lợn “PIC CAMBOROGH 22” của Anh quốc sau nhiều năm nghiên cứu PIC đã lựa chọn được tổ hợp lai từ 4 giống lợn:
♂(Pi xY) x ♀[D x (L x Y)] Tổ hợp lai này có khả năng sinh sản cao từ 14 -
16 con / lứa Lợn thịt từ 30 - 90 kg tăng khối lượng trung bình 850 g / ngày, tỷ
lệ thịt xẻ trên 80 %, độ dày mỡ lưng tại vị trí P2 là 10,5 mm (giết lúc 80 kg),
tỷ lệ nạc trên 69 % so với thịt xẻ, chất lượng và hương vị thịt thơm ngon Tổ hợp từ 4 giống lợn Pietrain, Yorkshire, Duroc, Landrace được nuôi phổ biến ở các nước Anh, Pháp , Mỹ, Canada , Nhật ,Thái Lan và đã được đưa vào Việt Nam từ năm 1997 (PIC Việt Nam)
- Lai kinh tế lợn ở Trung Quốc và Thái Lan:
Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất thịt lợn, số lượng lợn của Trung Quốc chiếm trên 40 % tổng số lợn của thế giới Thịt lợn của Trung Quốc chiếm 85 % tổng các loại thịt trong nước
Để nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đã nhập một số giống lợn có khả năng sản xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn Yorkshire, Duroc, Hampshire, Landrace cho phối với lợn nái Meishan của Trung Quốc vì vậy đã làm tăng khả năng sinh sản của lợn nái, đạt trung bình 12,5 con / ổ Lợn vỗ béo đạt khối lượng 90 kg lúc180 ngày tuổi, tiêu tốn 3,4 kg thức ăn/ 1kg tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng trung bình là 26 mm và đạt tỷ lệ thịt nạc trên 48
% (Đỗ Thị Tỵ,1994) [36]
Trang 30Tương tự như các nước ở Châu Âu, trước năm 1960 Thái Lan chỉ quan tâm đến dòng thuần, phải sau năm 1960 mới quan tâm lai kinh tế 2 máu (2 giống) Sau năm 1970 các nhà khoa học Thái Lan tiến hành lai kinh tế 3 máu (3 giống) và sau 1980 đã tiến tới lai 4 máu (4 giống) Các giống lợn được sử dụng chủ yếu để lai kinh tế ở Thái Lan là Yorkshire, Landrace, Duroc, Hampshire.Hiện nay ở Thái Lan lợn thương phẩm chủ yếu là lợn lai từ 3 - 4 giống có tỷ lệ thịt nạc từ 50 - 55 %
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Từ năm 1964 Việt Nam đã nhập các giống lợn Đại Bạch, Berkshire của Liên Xô (cũ) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lợn thịt trong nước Tiếp sau đó, đến các năm gần đây Việt Nam nhập tiếp các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace, DE, Duroc từ CuBa, Nhật, Pháp, Đức về nuôi tại các trại giống lợn của các viện nghiên cứu, các trường đại học nông nghiệp, các cơ
sở giống của Trung ương và tỉnh để nuôi thích nghi và phục vụ lai tạo sản xuất giống lợn trong nước
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landarce được thể hiện ở thông báo của Đặng Vũ Bình (1999) [4] ở lợn Yorkshire tuổi đẻ lứa đầu là 418 ngày tuổi, số con đẻ ra còn sống 9,77 con / ổ,
số con 21 ngày tuổi là 8,61 con /ổ, số con 35 ngày tuổi là 8,15 con /ổ và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 con.ở lợn Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con /ổ, 8,68 con / ổ, 8,22 con /ổ và 8,2 kg.Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng độ lớn lứa đẻ đạt giá trị thấp nhất ở lứa 1, sau đó tăng dần lên, ổn định và
có khuynh hướng giảm ở lứa thứ 6
Bảng 2.5: Năng suất sinh sản của một số giống lợn ngoại
Giống Chỉ tiêu
Yorkshire Landrace Duroc
Trang 31Số con đẻ ra / ổ (con) 9,37 8,4 9,1 Khối lượng toàn ổ sơ sinh (kg) 11,89 11,30 12,10 Khối lượng toàn ổ 21 ngày tuổi (kg) 33,67 31,30 33,45 Khối lượng toàn ổ 45 ngày tuổi (kg) 60,04 66,13 58,43 Khối lượng toàn ổ 60 ngày tuổi (kg) 79,24 84,05 -
Phùng Thị Vân và cộng sự (2000) [38] cho biết tổ hợp lai đực Yorkshire
và cái Landrace nâng cao số con đẻ sống / ổ: 1,03 con, tỷ lệ nuôi sống lợn con
đến cai sữa là 3,52 %, khối lượng bình quân / 1 lợn con lúc 60 ngày tuổi là 1,0
kg và giảm mức tiêu tốn thức ăn/ 1 lợn con lúc 35 và 60 ngày tuổi tương ứng
là 6,76 % và 9,64 % so với lợn nái Landrace phối thuần Tổ hợp lai đực Landrace với cái Yorkshire không làm tăng số con đẻ ra còn sống / ổ nhưng tăng tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa là 1,61%, tăng khối lượng bình quân /
1 lợn con lúc 60 ngày là 0,4 kg đồng thời giảm chi phí thức ăn cho 1kg lợn con 35 và 60 ngày tuổi tương ứng là 6,6 và 4,94% so với lợn Yorkshire thuần chủng
Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cộng sự (1994) [14] về sử dụng đực lai (Pietrain x Yorkshire) cho giao phối với nái Yorkshire chỉ ra rằng con lai đạt mức tăng trọng 537,04 g / ngày, tiêu tốn thức ăn 3,51 kg / 1 kg tăng trọng và tỷ lệ nạc 56,23 % Trong khi đó ở lợn Yorkshire thuần chủng, các chỉ tiêu tương ứng đạt được là 523,84 g / ngày, 3,65 kg thức ăn / kg tăng trọng và 52,85%.Đồng thời Lê Thanh Hải và cộng sự (1996) [15] cũng thông báo kết quả nghiên cứu xác định một số tổ hợp lai ngoại x ngoại để sản xuất lợn lai nuôi thịt đạt tỷ lệ nạc cao trên 52 % Kết quả cho thấy tỷ lệ nạc ở Yorkshire thuần đạt 55,03 %, con lai Landrace x Yorkshire và Landrace x (Landrace x
Trang 32Yorkshire) từ 54,05 % - 55,30 %, còn con lai Landrace x (Duroc x Yorkshire) , (Duroc x Landrace) x (Landrace xYorkshire), Duroc x (Landrace x Yorkshire) từ 56,00 % - 57,31%
Hiện nay nước ta đã đạt được một số tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi, trong đó kỹ thuật lai kinh tế lợn là một trong những kỹ thuật quan trọng nhất Vài năm trở lại đây chúng ta đã tiếp thu được kỹ thuật lai tạo tiên tiến của Anh quốc dựa trên cơ sở các giống lợn có tiềm năng năng suất sinh sản và khả năng cho thịt cao: Pietrain, Duroc, Meishan Kết quả của việc áp dụng các công thức lai giữa các giống trên đã tạo ra được những giống lợn thương phẩm nuôi thịt có năng suất và chất lượng thịt cao
Đàn lợn thịt của nước ta hiện nay có khoảng 67 % là lợn lai kinh tế Trong đó, đàn lợn nái ở Miền Nam chiếm khoảng 65 - 70% , nhưng đàn lợn nái ở Miền Bắc chỉ chiếm 30 - 35 % Do đó cần phát triển nhanh đàn lợn ở Miền Bắc cả về số và chất lượng bằng cách khuyến khích nhân nhanh các mô hình chăn nuôi tiên tiến, các cơ sở giống của Trung ương và các tỉnh cần đảm bảo cung cấp đủ, nhanh các giống bố mẹ để sản xuất lợn thương phẩm nuôi thịt nhiều máu ngoại đạt năng suất cao, chất lượng tốt đồng thời có hiệu quả
về kinh tế
Trang 333 Vật liệu, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Lợn nái lai CA và C22 nuôi tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ - Đông
♂L19 x ♀C1050 (L11 x L06)
♀C22 (3 giống)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tạo cái lai CA Sơ đồ 3.2: Sơ đồ tạo cái lai C22
- Dòng L95: là dòng Meishan (Ms)tổng hợp, màu trắng, dùng để lai với
dòng L06 sản xuất lợn nái ông bà C1230
- Dòng L06: là dòng Landrace (LR) thuần chuyên dùng phối với dòng
L95 sản xuất C1230 và phối với dòng L11 sản xuất lợn nái ông bà C1050
Trang 34- Dòng L11: là dòng Large White (LW) thuần chuyên phối với dòng
L06 để sản xuất lợn nái ông bà C1050 và phối với đực L64 để sản xuất lợn đực cuối cùng 402
- Dòng L19: là dòng Duroc (Dr) tổng hợp, màu trắng, chuyên sản xuất
lợn đực để phối với lợn nái ông bà sản xuất lợn nái bố mẹ
- Lợn lai nuôi thịt 4 và 5 giống
Công thức lai để tạo lợn nuôi thịt được thể hiện như sau:
Sử dụng đực lai 402 (L64 x L11) cho giao phối với lợn nái C22 và CA
để sản xuất lợn lai nuôi thịt 4 và 5 giống Công thức tạo lợn đực lai 402 và lợn
lai nuôi thịt được trình bày ở sơ đồ 3.3, sơ đồ 3.4 và sơ đồ 3.5
♂L64 x ♀L11
♂402 (L64xL11)
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ tạo đực lai 402
- Dòng L64: là dòng Pietrain (Pi) thuần dùng để phối với lợn cái dòng
L11 sản xuất lợn đực cuối cùng 402 Đực 402 chuyên dùng phối với lợn nái bố
mẹ để sản xuất lợn thương phẩm 4 và 5 máu
♂402 x ♀CA
TP (5 giống) (L64xL11)x(L19xL06xL95)
♂402 x ♀C22
TP (4 giống) (L64xL11)x(L19xL11xL06)
Sơ đồ 3.4: Sơ đồ tạo lợn thương
phẩm thịt 4 giống
Sơ đồ 3.5: Sơ đồ tạo lợn thương
phẩm thịt 5 giống
Trang 35Số lượng lợn lai nuôi thịt bao gồm:
- Lợn lai ngoại : 108 con (402 x CA) hay (L06 x L11) x (L19 x L06 x L95)
- Lợn lai ngoại: 96 con (402 x C22) hay (L64 x L11) x (L19 x L11 x L06)
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ - Đông Hưng - Thái Bình
Thời gian nghiên cứu: từ tháng tháng 11/ 2004 đến tháng 6 / 2005
3.3 Điều kiện nghiên cứu
- Nái lai CA và C22 do Trung tâm tự sản xuất giống theo sơ đồ 3.1 và sơ đồ 3.2
- Lợn đực lai 402 được nhập từ Trại giống hạt nhân Tam Điệp - Ninh Bình và đã được kiểm tra năng suất cá thể
- Lợn nái được phối giống với đực lai 402
- Trung tâm thực hiện qui trình phòng, trị bệnh của chi cục thú y tỉnh - Lợn nái và lợn con ở các giai đoạn được nuôi theo phương thức công nghiệp, chuồng trại đảm bảo yêu cầu thiết kế: chuồng lồng, diện tích theo qui định
- Các loại lợn được nuôi dưỡng và chăm sóc theo qui trình hướng dẫn của Viện chăn nuôi
- Thức ăn của mẹ và con: sử dụng thức ăn chế biến công nghiệp của hãng Hà Lan và ProConco Giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho từng loại lợn
được trình bày ở bảng 3.1 và bảng 3.2
- Khẩu phần ăn cho lợn mẹ và lợn con:
+ Lợn chờ phối + Lợn chửa kì I : 2 kg / con /ngày
+ Lợn chửa kì II : 2,5 kg / con /ngày
+ Lợn nái nuôi con : 2kg + 0,3kg * Số lợn con để nuôi / ổ
Trang 36+ Lợn con tập ăn (theo mẹ) : 0,018 - 0,022 kg / con / ngày
+ Lợn con từ cai sữa - 60 ngày tuổi: 0,7 - 0,8 kg / con /ngày
- Nước uống: hình thức cung cấp nước tự động
Bảng 3.1: Giá trị dinh dưỡng cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của lợn nái
Thức ăn cho lợn Thành phần dinh dưỡng Chờ phối + Chửa kì I
Lợn tập ăn Cai sữa - 60 ngày
Trang 373.4 Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái C22 và CA qua các lứa 1
đến 6
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
+ Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
+ Thời gian mang thai (ngày)
+ Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
+ Thời gian không sản xuất (ngày)
+ Số con đẻ ra / ổ (con)
+ Số con đẻ ra sống / ổ (con)
+ Số con để nuôi / ổ (con)
+ Khối l−ợng sơ sinh / ổ (kg)
+ Khối l−ợng sơ sinh / con (kg)
+ Số con 21 ngày tuổi / ổ (con)
+ Khối l−ợng 21 ngày tuổi / ổ (kg)
+ Khối l−ợng 21 ngày tuổi /con (kg)
+ Số con cai sữa / ổ (con)
+ Khối l−ợng cai sữa / ổ (kg)
+ Khối l−ợng cai sữa /con (kg)
+ Thời gian cai sữa (ngày)
+ Tỷ lệ nuôi sống (%)
3.4.2 Xác định tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
Chỉ tiêu theo dõi là tăng trọng của lợn con ở giai đoạn từ sơ sinh đến cai
sữa
Trang 383.4.3 Xác định tiêu tốn thức ăn
+ Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa
Tổng lượng thức ăn (cho nái + lợn con) (kg)
T.T.T.Ă(kg) / kg =
Tổng khối lượng lợn con cai sữa (kg)
3.4.4 Tính hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái sinh sản sau một lứa đẻ
đến thời điểm xuất bán lợn con 60 ngày tuổi
3.4.5 Xác định hệ số tương quan di truyền giữa một số chỉ tiêu năng suất
- Theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa
+ Đối với chỉ tiêu này theo dõi trên cơ sở thừa kế các số liệu cập nhật tại Trung tâm, sau đó áp dụng công thức tính mức độ tăng trọng như sau:
A (g / ngày) =
A là tăng trọng g / ngày
W1 là khối lượng ở thời điểm t1
W0 là khối lượng ở thời điểm t0
Trang 39- Tính tiêu tốn thức ăn
+ Tiêu tốn thức ăn / kg lợn con cai sữa:
Tổng lượng thức ăn (cho nái + lợn con)(kg)
T.T.T.Ă (kg) =
Tổng khối lượng lợn con cai sữa(kg)
- Tính hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái sinh sản đến thời điểm xuất bán lợn con ở 60 ngày tuổi
Hiệu quả kinh tế = Σ thu (bán lợn con ở 60 ngày tuổi) - Σ chi (Phối giống, thức ăn mẹ, thức ăn lợn con theo mẹ,thức ăn của lợn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi, thuốc thú y)
3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu về khả năng sinh sản của lợn nái được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học, trên máy vi tính với chương trình Excel tại phòng vi tính bộ môn Di truyền giống gia súc - Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học nông nghiệp I - Hà Nội
- Các tham số thống kê được tính toán bao gồm
Trang 404 Kết quả và thảo luận
4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái c22 và ca
Kết quả về năng suất sinh sản của lợn nái C22 và CA được dẫn ra ở bảng 4.1
- Tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái C22 là 376,46; ở lợn nái CA là 353,74 ngày Như vậy tuổi đẻ lứa đầu ở lợn nái CA thấp hơn C22
Theo Đặng Vũ Bình (1999)[4] cho biết tuổi đẻ lứa đầu của lợn Yorkshire là 418,54 và của Landrace là 409, 30 ngày Như vậy, kết quả thu
được trong theo dõi này đối với lợn C22 và CA đều thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả trên Nhìn chung, tuổi đẻ lứa đầu ở lợn C22 cao hơn, nhưng ở lợn CA thì thấp hơn so với thông báo của các tác giả nước ngoài Cụ thể: tuổi đẻ lứa đầu là 374,2 ngày đối với Yorkshire (Rydhmer và cộng sự 1992)[72]; 367,8 ngày đối với Yorkshire và 361,4 ngày đối với Landrace (Ducos và cộng sự 1996) [49]
Trong theo dõi này, tuổi đẻ lứa đầu của C22 còn cao, của CA tương đối thấp Điều này có thể giải thích do dòng nái CA có máu của giống Meishan, là giống lợn có nguồn gốc từ Trung Quốc, thành thục về tính sớm (có tuổi phối giống lứa đầu 239,78 ngày) do đó đã rút ngắn tuổi đẻ lứa đầu của nái CA xuống còn 353,74 ngày
- Thời gian mang thai
Chỉ tiêu này ở lợn C22 và CA đều là 113,99 ngày Giá trị này nằm trong phạm vi cho phép về thời gian mang thai ở lợn Thời gian mang thai ít bị chi phối (112- 117 ngày) bởi điều kiện ngoại cảnh, mà phụ thuộc chủ yếu vào
đặc tính sinh lý sinh sản của mỗi loài