1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYỄN TRẦN HOÀNG 15130007 nội DUNG CHƯƠNG 3

6 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 23,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm qua, quan hệ giữa ASEAn và các đối tác chính theo khuôn khổ ASEAN +1 được đầy mạnh và nâng cấp. Việc tổ chức ASEAN +1 với một số đối tác ( Nga, Australia, New Zeland, Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc ngoài cấp cao hàng năm với 4 nước ( Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ), đã tạo động lực phát triển hơn nữa quan hệ giữa ASEAN và các đối tác này. Quan hệ ASEAN Hàn Quốc được nâng lên thành đối tác chiến lược, trong lúc quan hệ đối tác chiến lược giữa Nhật Bản và Trung Quốc tiếp tục phát triển sâu rộng hơn. Quan hệ ASEAN Hoa Kỳ được nâng lên tầm chiến lược; quan hệ với các đối tác còn lại (Nga, Australia, New Zeland, Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc ) đều trở thành quan hệ đối tác toàn diện Tính đến năm 1976, ASEAN có các cuộc đối thoại với Australia, Nhật Bản, Canada, New Zealand, EU và chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Quan hệ đối thoại với Hoa Kỳ được thiết lập năm 1997, Hàn Quốc năm 1989, Ấn Độ năm 1993, Trung Quốc năm 1994, Nga năm 1996, … Bên cạnh đó, ASEAN còn là quan sát viên của Liên hợp quốc, có quan hệ với nhiều tổ chức và thể chế tiểu khu vực, khu vực và quốc tế khác. ASEAN ngày càng củng cố quan hệ song phương với các đối tác thông qua việc xây dựng cơ chế cũng như các văn kiện pháp lí ghi nhận sự thoả thuận của các bên. Khuôn khổ hợp tác ASEAN +1 là một trong những khuôn khổ hợp tác của ASEAN đạt được nhiều thành tựu trên thực tế.

Trang 1

CHƯƠNG 3: KHUÔN KHỔ HỢP TÁC NGOẠI KHỐI ASEAN

3.1 Hợp tác ASEAN + 1

ASEAN + 1 là khuôn khổ hợp tác song phương của ASEAN với từng đối tác bên ngoài Đây là khuôn khổ hợp tác ngoại khối được thành lập sớm nhất của ASEAN Từ khi thành lập ASEAN đã thiết lập quan hệ song phương với các quốc gia và các thực thể khác trong khu vực cũng như trên thế giới nhằm củng cố vị thế của ASEAN

Hiện nay ASEAN duy trì đối ngoại (bao gồm cả đối ngoại chính thức và đối ngoại theo từng lĩnh vực) với 12 quốc gia và tổ chức quốc tế là Australia, Nhật Bản, Canada, New Zeland, EU, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Pakistan…

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển quan hệ hợp tác

Tính đến năm 1976, ASEAN có các cuộc đối thoại với Australia, Nhật Bản, Canada, New Zealand, EU và chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) Quan hệ đối thoại với Hoa Kỳ được thiết lập năm 1997, Hàn Quốc năm 1989, Ấn Độ năm 1993, Trung Quốc năm 1994, Nga năm 1996, …

Bên cạnh đó, ASEAN còn là quan sát viên của Liên hợp quốc, có quan

hệ với nhiều tổ chức và thể chế tiểu khu vực, khu vực và quốc tế khác

ASEAN ngày càng củng cố quan hệ song phương với các đối tác thông qua việc xây dựng cơ chế cũng như các văn kiện pháp lí ghi nhận sự thoả thuận của các bên Khuôn khổ hợp tác ASEAN +1 là một trong những khuôn khổ hợp tác của ASEAN đạt được nhiều thành tựu trên thực tế

3.1.2 Thiết chế điều phối quan hệ hợp tác

Hợp tác ASEAN +1 còn hình thành các thiết chế điều phối riêng:

- Các cuộc gặp chính thức ở cấp bộ trưởng và Cấp cao với các bên đối thoại, tại các cuộc gặp này, đại diện của ASEAN và bên đối thoại sẽ trao đổi kế hoạch định chiến lược phát triển quan hệ hợp tác giữa các bên

- Diễn đàn quan hệ đối thoại hoặc Cuộc họp đối thoại tiến hành định kì 18 tháng một lần với sự tham gia của các quan chức cao cấp các bên nhằm kiểm soát, theo dõi, thúc đẩy việc thực thi các dự án hợp tác giữa ASEAN

và bên đối thoại

- Uỷ ban hợp tác chung của ASEAN và bên đối thoại được thành lập là cơ quan thúc đẩy trực tiếp quan hệ hợp tác nhằm bảo đảm việc thực hiện thuận lợi các chương trình hợp tác giữa ASEAN và bên đối thoại

3.1.3 Nội dung hợp tác

3.1.3.1 Hợp tác kinh tế - thương mại

Trang 2

Vấn đề hợp tác trên khuôn khổ ASEAN +1 rất được các thành viên ASEAN quan tâm và coi đó là một trong những trọng tâm hợp tác của ASEAN với các đối tác bên ngoài Hợp tác kinh tế - thương mại đã đạt được một số thành tựu đáng kể thể hiện tính hiệu quả của khuôn khổ ASEAN +1

Nhìn chung thành tựu hợp tác kinh tế- thương mại trong khuôn khổ ASEAN +1 chủ yếu thể hiện thông qua việc ASEAN và các nước, các khu vực trên thế giới gặp gỡ thiết lập quan hệ, ký hiệp định hợp tác đầu tư trong khu vực như ưu tiên phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, đồ gỗ, điện tử, … cắt giảm thuế quan

3.1.3.2 Hợp tác chính trị - an ninh

Nhằm nâng hợp tác chính trị, an ninh lên một tầm cao mới với sự tham gia

và đóng góp của các đối tác bên ngoài, nhằm bảo đảm cho các nước ASEAN chung sống hoà bình với nhau và với thế giới trong một môi trường công bằng, dân chủ và hoà hợp

Hợp tác chính trị, an ninh sẽ thúc đẩy cách tiếp cận toàn diện về an ninh, gồm cả các khía cạnh chính trị, kinh tế văn hoá- xã hội và môi trường, tăng cường hợp tác chính trị, xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử chung, thúc đẩy xu hướng không sử dụng vũ lực và giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, rộng mở quan hệ với các đối tác bên ngoài và giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực với những điểm tích cực sau:

- Một cộng đồng hoạt động theo luật lệ trên cơ sở các giá trị và chuẩn mực chung;

- Một khu vực gắn kết, hoà bình, ổn định và tự cường, chia sẻ trách nhiệm vì một nền an ninh toàn diện;

- Một khu vực năng động, rộng mở với bên ngoài trong một khu vực ngày càng liên kết chặt chẽ và tuỳ thuộc lẫn nhau

3.2 Hợp tác ASEAN + 3

ASEAN + 3 là một cơ chế hợp tác đa phương mang tính khu vực giữa ASEAN

và ba quốc gai Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Cơ chế hợp tác

ở khu vực Đông Á này ra đời từ cuối những năm 90 thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, và cho tới nay vẫn dựa trên nguyên tắc hoạt động của ASEAN Nội dung chính của cơ chế hợp tác bao gồm các Hội nghị cao cấp, các kỳ gặp mặt của các nguyên thủ quốc gia, các cấp bộ trưởng, và Hội nghị thượng đỉnh với tên gọi là hội nghị cấp cao Đông Á lần đầu tiên được tổ chức tại Kualalumpur vào cuối năm 2005

3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển quan hệ hợp tác

Trang 3

Tiến trình ASEAN+3 (với ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản

và Hàn quốc) Khuôn khổ này được hình thành năm 1997 với việc họp Cấp cao không chính thức lần đầu tiên giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và được chính thức hóa năm 1999 với việc thông qua Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á ASEAN+3 ra đời xuất phát từ nhu cầu hợp tác của các nước khu vực nhằm đối phó với tác động của khủng hoảng tài chính khu vực năm

1997

Sau 10 năm, hợp tác ASEAN+3 đang phát triển nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, với sự hình thành 52 cơ chế hợp tác ở các cấp khác nhau, kể cả Cấp cao hàng năm Các lĩnh vực hợp tác được mở rộng bao gồm cả an ninh-chính trị, kinh tế, tài chính-tiền tệ, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, giao thông vận tải, năng lượng, môi trường, du lịch, công nghệ thông tin, y tế, lao động, văn hóa, tội phạm xuyên quốc gia và an sinh xã hội

Tháng 1/2007, Lãnh đạo các nước liên quan đã ra Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á và kế hoạch hành động thực hiện kèm theo nhằm đề ra phương hướng và biện pháp gia tăng hợp tác, hướng tới mục tiêu lâu dài là xây dựng cộng đồng Đông Á và ASEAN+3 được coi là khuôn khổ chính để tiến tới mục tiêu này Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN+3 đã thông qua Định hướng triển khai Chương trình công tác ASEAN+3 thực hiện Tuyên bố chung và Kế hoạch hành động

3.2.2 Thiết chế điều phối quan hệ hợp tác

ASEAN sẽ duy trì các cuộc gặp chính thức ở cấp quan chức, cấp tổng vụ trưởng, cấp bộ trưởng và cấp cao với các quốc gia Đông Bắc Á

- Hội nghị Cấp cao ASEAN +3: gồm tất cả các nguyên thủ quốc gia của cộng đồng ASEAN kết hợp với nguyên thủ của các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Đây được xem là thiết chế điều phối cao nhất trong khuôn khổ ASEAN +3 với chức năng là hoạch định, xây dựng các đường lối, chính sách

- Hội nghị ngoại trưởng ASEAN +3: của các bộ trưởng ngoại giao các quốc gia thành viên ASEAN +3 Hội nghị này có trách nhiệm phối hợp các hoạt động của các thành viên trong khuôn khổ ASEAN +3

- Hội nghị bộ trưởng chuyên ngành: các thành viên ASEAN +3 đều xây dựng thiết chế hội nghị cấp bộ trưởng để triển khai các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực hợp tác chuyên ngành như Hội nghị bộ trưởng kinh tế, Hội nghị bộ trưởng tài chính, Hội nghị bộ trưởng năng lượng, Hội nghị bộ trưởng môi

Trang 4

trường, …kết quả các hội nghị này đều phải được báo cáo lên Hội nghị Cấp cao ASEAN +3

- Hội nghị các quan chức cao cấp: gồm các quan chức cao cấp có nhiệm vụ chuẩn bị và tư vấn về các lĩnh vực hợp tác an ninh, chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, … cho Hội nghị cấp bộ trưởng và Hội nghị cấp cao ASEAN +3

- Hội nghị cấp tổng vụ trưởng: hội nghị này được coi là cơ chế phối hợp để đảm bảo sự gắn kết, hiệu quả và tiến bộ của tiến trình ASEAN +3

- ASEAN +3 còn hình thành các thiết chế điều phối thuộc kênh không chính thức.1

3.2.3 Nội dung hợp tác

3.2.3.1 Hợp tác tài chính – tiền tệ

Trong khuôn khổ ASEAN +3, hợp tác tài chính- tiền tệ là lĩnh vực đạt kết quả tích cực; Các bên đã đạt được các thoả thuận:

- Với việc ra Tuyên bố về đối phó với khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu vào 2/6/2009, ASEAN+3 đã thể hiện quyết tâm của các nước tăng cường hợp tác thông qua các biện pháp cụ thể xử lý hiệu quả tác động tiêu cực của khủng hoảng đối với kinh tế khu vực ASEAN+3 cũng nhất trí triển khai đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai (đề xuất năm 2000) 2với quy mô vốn tăng từ 80 tỉ USD lên 120 tỉ USD trong năm 2009 và lập một cơ chế giám sát khu vực độc lập Cơ chế Bảo hiểm tín dụng và Đầu tư trong Sáng kiến Thị trường trái phiếu Châu Á (đề xuất năm 2003) nhằm hỗ trợ phát hành trái phiếu bằng đồng bản tệ với khoản vốn ban đầu 500 triệu USD đã bắt đầu đi vào triển khai Ngoài ra, ASEAN+3 đang xem xét khả năng lập Khu vực Mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) 3 trên cơ sở Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2 về EAFTA của Kênh II

- Quỹ Hợp tác ASEAN+3 đã được lập với số vốn ban đầu là 3 triệu USD nhằm tập trung nguồn lực hỗ trợ triển khai các biện pháp trong Kế hoạch Công tác ASEAN+3 (2007-2017) và tài trợ cho các dự án hợp tác khác trong khuôn khổ ASEAN+3

1 Kênh không chính thức thu hút sự tham gia của giới học giả, các nhà nghiên cứu chiến lược, đại diện giới doanh nghiệp và xã hội dân sự nhằm tư vấn cho các thiết chế thuộc kênh chính thức trong quá trình hoạch định chính sách phát triển hợp tác của ASEAN +3

định vào Quỹ Dự trữ Ngoại hối chung Như vậy, khi một nước nào đó gặp phải khó khăn thiếu vốn ngoại hối, các nước khác có thể giúp họ làm dịu khủng hoảng.

một hiệp định thương mại tự do(FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước.

Trang 5

3.2.3.2 Hợp tác kinh tế - thương mại

Hợp tác kinh tế- thương mại ASEAN 3+ tập trung vào 3 lĩnh vực:

- Đẩy mạnh buôn bán, đầu tư và chuyển giao công nghệ;

- Khuyến khích hợp tác kỹ thuật trên các phương tiện kỹ thuận tin học

và thương mại điện tử;

- Tăng cường doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp đồng bộ;

Hiện nay, các quốc gia ASEAN 3+ đang hướng tới thiết lập quan hệ đối tác kinh tế toàn diện và hình thành khu vực thương mại tự do Đông Á nhằm nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và đầu tư giữa các quốc gia ASEAN và 3 quốc gia Đông Bắc Á (Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản)

3.2.3.3 Các lĩnh vực hợp tác khác

Hợp tác chính trị- an ninh, giúp các nhà lãnh đạo 13 quốc gia có cơ hội tiếp xúc thường xuyên và trao đổi quan điểm về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm vì mục tiêu hoà bình và ổn định ở khu vực

Ngoài ra, hợp tác ASEAN +3 còn tập trung vào các nội dung:

- Thúc đẩy một cộng đồng chăm sóc xã hội ở Đông Á;

- Hợp tác chống biến đổi khí hậu, dịch bệnh…;

3.3 Cấp cao Đông Á (EAS)

EAS ra đời tháng 12/2005 với sự tham gia của 16 thành viên gồm 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Ấn Độ, Ôt-xtrây-lia và Niu Di-lân Tại Hội nghị EAS đầu tiên, Lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bố chung về Cấp cao Đông

Á, trong đó đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và các phương thức chính cho hoạt động của EAS Theo đó, EAS sẽ là diễn đàn của các Lãnh đạo đối thoại về các vấn

đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng ở khu vực Đông Á là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó ASEAN giữ vai trò chủ đạo bổ sung và hỗ trợ cho các diễn đàn khu vực khác hiện có, họp hàng năm do ASEAN chủ trì nhân dịp Cấp cao ASEAN

Lãnh đạo các nước đã nhất trí xác định 5 lĩnh vực hợp tác ưu tiên gồm năng lượng, tài chính, giáo dục, thiên tai và bệnh dịch, tiến hành tiệm tiến và tận dụng các cơ chế hiện có của ASEAN (ASEAN+1, +3…) Đến nay, Cấp cao Đông Á đã họp 4 lần chưa lập cơ chế hỗ trợ chính thức, nhưng đã tổ chức một số cuộc họp không thức ở kênh ngoại giao (Bộ trưởng Ngoại giao và cấp Quan chức cao cấp) và một số kênh khác thuộc các lĩnh vực ưu tiên như Hội nghị Bộ trưởng Môi trường EAS, Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng EAS Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2

Trang 6

về lập Đối tác Kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) của Kênh II đã hoàn tất và trình lên Cấp cao Đông Á lần thứ 4 (Thái Lan, 25/10/2009)

Ngày đăng: 18/07/2018, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w