Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP
-& -
VŨ THỊ THANH HUYỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ PHÂN BỔ SẢN XUẤT CAM CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH
HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp
Người hướng dẫn : TS PHẠM VĂN HÙNG
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Huyền
LỜI CÁM ƠN
Được sự đồng ý của Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cũng như sự đồng ý của thấy giáo hướng dẫn TS Phạm Văn Hùng, tôi đã tiến hành nghiên
Trang 3cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ sản xuất cam của các
hộ gia đình huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái” Sau một thời gian thực tập với sự cố gắng của bản thân và được sự giúp đỡ của mọi người đến nay đề tài nghiên cứu của tôi đã hoàn thành Vì vậy, qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến tất cả mọi người
- Thầy giáo hướng dẫn TS Phạm Văn Hùng - người đã định hướng, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
- Các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, đặc biệt
là các thầy cô giáo trong Bộ môn Phân tích định lượng đã tận tình, chỉ bảo, giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thiện luận văn
- Tập thể Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện luận văn
- Các cô, các chú, các anh chị cán bộ Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên Môi trường, Phòng Nông nghiệp huyện Văn Chấn, cùng các cô chú cán bộ thị trấn Nông trường Trần Phú và xã Minh An đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
- Gia đình hai bác Nguyễn Văn Quyến ở thị trấn Trần Phú đã tạo điều kiện về nơi ở và sinh hoạt cho tôi trong qúa trình thực tập tại Văn Chấn
- Các hộ gia đình trồng cam ở thị trấn Trần Phú và xã Minh An đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu
- Các anh chị đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt qúa trình học tập và nghiên cứu khoa học
Tác giả
Vũ Thị Thanh Huyền
Trang 42 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật và
2.2 Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất cam 21
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 33
4.1 Tình hình sản xuất cây có múi trên địa bàn huyện 53 4.2 Phân tích hiệu quả kinh tế của các hộ gia đình trồng cam 55
4.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả kinh tế hộ 64
4.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng năng suất cam của các hộ nông dân 82
Trang 54.3.3 Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nông dân 87
4.5 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cam 99 4.5.1 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 99 4.5.2 Giải pháp công nghệ bảo quản - chế biến 100
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g cây có múi 23 2.2 Sản lượng cam năm 2005 của một số nước trên thế giới 25 2.3 Năng suất, sản lượng cây ăn quả có múi cả nước và miền Bắc những
3.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện (2005 - 2007) 36 3.2 Tình hình sử dụng đất đai của huyện (2005 - 2007) 38 3.3 Thành phần các dân tộc của huyện năm 2007 39
4.1 Diện tích, sản lượng các loại cây ăn quả lâu năm của huyện (2005 - 2007) 53 4.2 Tình hình sản xuất cam của huyện (2005 - 2007) 54 4.3 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra năm 2007 55 4.4 Chi phí đầu tư bình quân tính cho 1 ha cam giai đoạn kiến thiết cơ
4.5 Chi phí đầu tư tính cho 1 ha cam giai đoạn kiến thiết cơ bản phân
4.6 Bảng tổng hợp các yếu tố chi phí sản xuất cam 58
4.7 Kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra 62 4.8 Kết quả kiểm định các chỉ tiêu theo nhóm hộ 63 4.9 Kết quả và hiệu quả kinh tế của hộ phân theo hạng đất 66 4.10 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ theo quy mô diện tích 68 4.11 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ phân theo trình độ học vấn chủ hộ 70 4.12 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ phân theo tuổi chủ hộ 71 4.13 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ phân theo mức độ tham gia tập
Trang 8huấn KN chủ hộ 72 4.14 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ phân theo biện pháp chăm sóc 73 4.15 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ theo mức độ đầu tư 76
4.16 Kết quả và hiệu quả kinh tế của hộ theo mức độ đầu tư 77
4.17 Kết quả và hiệu quả kinh tế của hộ theo mức độ đầu tư 79
4.18 Kết quả và hiệu quả kinh tế của hộ theo mức độ đầu tư 80
4.19 Kết quả, hiệu quả kinh tế của hộ theo mức độ đầu tư thuốc BVTV 81
4.23 Kết quả ước lượng một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật 89
4.28 Hiệu quả kinh tế của hộ theo nguồn lực đất đai 95 4.29 Hiệu quả kinh tế của hộ theo nguồn lực lao động và con người 96 4.30 Hiệu quả kinh tế của hộ theo nguồn vốn sản xuất 97
Trang 9DANH MỤC HÌNH, HÌNH ẢNH
STT Tên hình Trang
Hình 2.1 Quan hệ giữa năng suất cam và các yếu tố đầu vào 6 Hình 2.2 Hiệu quả trong không gian đầu vào - đầu vào 19 Hình 2.3 Hiệu quả trong không gian đầu ra - đầu ra 20 Hình 2.4 Hiệu quả trong không gian đầu vào - đầu ra 21
Hình 3.1 Hàm năng suất trung bình và hàm năng suất tối đa 50
Trang 101 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay nhất là khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì một vấn
đề đặt ra là làm thế nào để thúc đẩy kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển,
mà không bị tác động xấu của hội nhập kinh tế mang lại Đây là một vấn đề quan trọng mà Đảng và Chính phủ phải quan tâm giải quyết
Trồng cây ăn quả là một nghề đã có từ lâu đời, chiếm một vị trí khá quan trọng trong cơ cấu ngành trồng trọt và đời sống của các hộ gia đình Nghề này đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực và to lớn cho đời sống của các hộ gia đình chuyên canh cây ăn quả, làm cho bộ mặt nông thôn ngày một thay đổi và không ngừng phát triển Mặt khác, trong điều kiện hiện nay khi đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng cao thì nhu cầu về quả tráng miệng trở thành một trong những loại thực phẩm không thể thiếu sau bữa ăn hàng ngày của con người Trong sản xuất nông nghiệp thì quả là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, là loài cây vừa có giá trị kinh tế vừa có độ che phủ, vừa tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vừa tham gia vào quá trình xoá đói giảm nghèo Nhưng vấn đề đặt ra cho các hộ gia đình chuyên canh cây ăn quả là làm thế nào để việc sản xuất kinh doanh mặt hàng này ngày càng phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà cả thị trường quốc tế, không bị mặt hạn chế của hội nhập đem lại
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010,
đã đưa ra định hướng: hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn; Đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức
Trang 11tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng nhanh năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản phẩm chủ yếu trên thị trường quốc tế [17]
Trong hệ thống cây ăn quả thì cam là loài cây có giá trị kinh tế cao và
là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Sản phẩm của cam chứa nhiều các chất dinh dưỡng có tác dụng nâng cao sức khoẻ cho con người Văn Chấn là một huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, đất đai ở đây phù hợp cho phát triển loài cây này, phương hướng phát triển kinh tế xã hội dài hạn của huyện đến năm 2010 là duy trì cây ăn quả có múi, tập trung trồng và cải tạo cây ăn quả có múi bằng các giống năng suất cao, chất lượng tốt như cam đường canh, cam sen nhằm tăng diện tích lên 900 ha và trở thành cây ăn quả mũi nhọn của huyện [27] Cam quýt ở Văn Chấn đã có từ lâu và được trồng rãi rác ở các xã trong huyện, nhưng từ đầu những năm 1990 thì nghề này bắt đầu phát triển mạnh làm cho đời sống của một bộ phận dân cư được nâng lên rõ rệt Trước tình hình này để thấy rõ hơn được hiệu quả kinh tế mà
loài cây này mang lại, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ sản xuất cam của các hộ gia đình huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu qủa kinh tế sản xuất cam của các hộ gia đình trồng cam ở huyện Văn Chấn thông qua đánh giá hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cam nói chung, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ nói riêng của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
Trang 12- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cam, thông qua phân tích hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ giúp người nông dân lựa chọn phương pháp canh tác, kinh doanh có hiệu quả hơn Đồng thời, làm căn cứ cho các cấp chính quyền địa phương có chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cam của hộ nông dân
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu tình hình sản xuất cam của các hộ gia đình
từ đó để đánh giá hiệu quả kinh tế và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế
- Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Văn Chấn - Yên Bái
- Về thời gian:
+ Đề tài tiến hành nghiên cứu từ ngày 01/12/07 đến ngày 30/09/08 + Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2005 - 2007
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
- Đối tượng nghiên cứu là các hộ gia đình trồng cam ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái
Trang 13- Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cam của các hộ gia đình trên địa bàn huyện
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ,
HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ PHÂN BỔ
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm kinh tế cơ bản
2.1.1.1 Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả kỹ thuật (TE) là khả năng của người sản xuất có thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp các đầu vào và công nghệ cho trước [11]
Định nghĩa chính thức được Koopman đưa ra vào năm 1951
(Koopman, p.60): “Một nhà sản xuất được xem là có hiệu quả kỹ thuật nếu
một sự gia tăng trong bất kì đầu ra đòi hỏi một sự giảm xuống của ít nhất một đầu ra khác hoặc một sự gia tăng của ít nhất một đầu vào” [13]
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất nông nghiệp trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình
sử dụng các nguồn lực cụ thể Hiệu quả kỹ thuật này thường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu sản phẩm [5] Đồ thị 2.1 thể hiện mối quan hệ giữa năng suất cam với phân bón và trình độ kỹ thuật thâm canh cao (TPP1) và năng suất cam với phân bón và trình độ thâm canh thấp (TPP2) Mọi điểm trên đường cong TPP1 thể hiện rằng cùng một lượng phân bón đầu
tư, năng suất đều cao hơn so với các điểm thuộc đường cong TPP2 Hiệu quả
kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân ra quyết định sản xuất Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ
Trang 15áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng
Hình 2.1: Quan hệ giữa năng suất cam và các yếu tố đầu vào
2.1.1.2 Hiệu quả phân bổ
Hiệu quả phân bổ (AE) là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp các đầu vào tối ưu, nghĩa là tỷ số giữa sản phẩm biên của hai yếu tố đầu vào nào đó sẽ bằng tỷ số giá cả giữa chúng (hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả giá) [11]
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả, hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm
và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản xuất thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả
kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra Vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá (price efficiency) Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận Điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất [5] Đồ thị 2.1 nông dân không đạt hiệu quả phân bổ tại điểm
B mà chỉ đạt hiệu quả phân bổ tại điểm A vì tại đây thoả mãn các điều kiện giá trị sản phẩm biên bằng giá trị chi phí biên về phân bón Như thế có thể nói rằng
A
C
TPP1
TPP2 Năng suất
Phân bón
B
D
Trang 16tại A, sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả phân bổ Tại B chỉ đạt hiệu quả kỹ thuật, tại C đạt hiệu quả phân bổ nhưng không đạt hiệu quả kỹ thuật và tại D không đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ
2.1.1.3 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế (EE) là mục tiêu của người sản xuất bao gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Nó là thước đo phản ánh mức
độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp đầu vào và đầu
ra tối ưu EE được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (EE = TE*AE) [11]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt một trong hai yếu tố trên mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu trên thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế [5]
Tuy nhiên, để hiểu rõ thế nào là hiệu quả kinh tế, cần phải tránh những sai lầm như đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả kinh tế, đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế, hoặc quan niệm cũ về hiệu quả kinh tế đã lạc hậu không phù hợp hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường:
Thứ nhất, kết quả kinh tế và hiệu quả kinh tế là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Hiệu quả kinh tế là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được Còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố trong việc xác định hiệu quả mà thôi Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả là tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá, giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu bán hàng Nhưng
Trang 17kết quả này chưa nói lên được nó tạo ra bằng cách nào? bằng phương tiện gì? chi phí bao nhiêu?, như vậy nó không phản ánh được trình độ sản xuất của tổ chức sản xuất hoặc trình độ của nền kinh tế quốc dân Kết quả của quá trình sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản xuất cao và nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh
tế quốc dân mà theo Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác
Thứ hai, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế vừa là phạm trù trừu tượng vừa là phạm trù cụ thể
Là phạm trù trừu tượng vì nó phản ánh trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất hoặc của nền kinh tế quốc dân Các yếu tố cấu thành của nó là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của xã hội Hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ luật pháp từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc Với nghĩa này thì hiệu quả kinh tế phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội Tính trìu tượng của phạm trù hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất để đạt được kết quả cao ở đầu ra
Là phạm trù cụ thể vì nó có thể đo lường được thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra Đương nhiên, không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh được đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hiệu quả kinh tế Thông qua các chỉ tiêu thống kê, kế toán có thể xác định được hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nào đó của hiệu quả kinh tế trên phạm vi mà nó được tính toán Hệ thống
Trang 18chỉ tiêu này quan hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp, sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố riêng lẻ của quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh, nó bao gồm hai mặt định tính và định lượng Còn các chỉ tiêu hiệu quả chỉ phản ánh từng mặt các quan hệ định lượng của hiệu quả kinh tế Việc nâng cao hiệu quả kinh tế được hiểu là nâng cao các chỉ tiêu đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực
Tóm lại, khi xem xét hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội về lượng là biểu hiện kết quả thu được và chi phí bỏ ra, người
ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Còn về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực của từng khâu, mỗi cấp trong hệ thống sản xuất phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế, nó có quan hệ mật thiết với nhau
Thứ ba, phải có quan niệm về hiệu quả kinh tế phù hợp với hoạt động kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Trước đây khi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì hoạt động của các tổ chức sản xuất kinh doanh được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nước giao như: giá trị sản lượng hàng hóa, khối lượng sản phẩm chủ yếu, doanh thu bán hàng, nộp ngân sách Thực chất đây là các chỉ tiêu kết quả không thể hiện được mối quan hệ so sánh với chi phí bỏ ra Mặt khác, giá
cả trong giai đoạn này mang tính bao cấp nặng nề do Nhà nước áp đặt nên việc tính toán hệ thống các chỉ tiêu kinh tế mang tính hình thức không phản ánh được trình độ thực về quản lý sản xuất của tổ chức sản xuất kinh doanh nói riêng và của cả nền sản xuất xã hội nói chung Khi chuyển sang nền kinh
Trang 19tế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý bằng các chính sách vĩ
mô thông qua công cụ là hệ thống luật pháp hành chính, luật kinh tế, luật doanh nghiệp, nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn xã hội Các chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ đều là các đơn vị pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật Mục tiêu của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế không những nhằm thu được lợi nhuận tối đa mà còn phải phù hợp với những yêu cầu của xã hội theo những chuẩn mực mà Đảng và Nhà nước quy định gắn liền với lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích xã hội [7]
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ năng lực quản lý điều hành của các tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả cao những mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất
Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh tế đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau về vấn đề này chúng ta có thể phân thành hai nhóm quan điểm là:
- Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được
đo bằng các chi phí và lời lãi Nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [9]
Các quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét đến
hiệu quả kinh tế Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng
thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư
Trang 20mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu
tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống
chưa đáp ứng được đầy đủ Thứ hai, nó không tính yếu tố thời gian khi tính
toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi
trong tính toán hiệu quả kinh tế là chưa đầy đủ và chính xác Thứ ba, hiệu quả
kinh tế chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu
về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu từ và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yế tố khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí lúc đầu không hoặc khó lượng hoá được nhưng nó là những con số không phải là nhỏ thì lại không được phản ánh ở cách tính này [9]
- Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế
Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm mới về hiệu quả kinh tế, nhằm khắc phục những điểm thiếu của quan điểm truyền thống Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố
+ Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency); hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế (Economic efficiency) Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số DO/DI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa [9]
Trang 21+ Yếu tố thời gian, các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau
+ Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường
Các quan điểm mới về hiệu quả phù hợp với xu thế thời đại và chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia hiện nay [9]
2.1.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất, hiệu quả kinh tế hàng hóa và tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Hiệu quả kinh tế được hiểu là một mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một phương án hay, một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả cao là một phương án đạt được tối
ưu giữa kết quả đem lại và chi phí sẽ đầu tư
- Nội dung hiệu quả kinh tế
Theo các quan điểm trên về hiệu quả kinh tế, thì hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Vậy nội dung xác định hiệu quả kinh doanh bao gồm:
Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): trước hết hiệu quả kinh
tế là các mục tiêu đạt được của từng doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận v.v
Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai v.v
Trang 22- Bản chất của hiệu quả kinh tế
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sản xuất ra một lượng của cải, vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí lao động xã hội nhỏ nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội [29]
Làm rõ bản chất của hiệu quả cần phân định sự khác nhau và mối liên
hệ giữa “kết quả” và “hiệu quả” Kết quả mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc vào những trường hợp cụ thể xác định Do tính mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu tăng lên của con người mà người ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào và chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh
để tạo ra sản phẩm đó
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Vì vậy, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội, còn tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn tài nguyên hữu hạn [29]
2.1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào, một ngành kinh tế nào hay một đơn vị sản xuất kinh doanh đều mong muốn rằng với nguồn lực có hạn làm thế nào để
Trang 23tạo ra lượng sản phẩm lớn nhất và chất lượng cao nhất nhưng có chi phí thấp nhất Vì thế, tất cả các hoạt động sản xuất đều được tính toán kỹ lưỡng sao cho đạt hiệu quả cao nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng lợi nhuận, từ đó các nhà sản xuất tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tạo ra lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường đồng thời không ngừng nâng cao thu nhập cho người lao động Đây chính là cái gốc để giải quyết mọi vấn đề
Đối với sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế các nguồn lực trong đó hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế các hình thức sử dụng đất nông nghiệp thì một trong những vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực Cụ thể, với nguồn lực đất đai có hạn, yêu cầu đặt ra đối với người sử dụng đất là làm sao tạo ra được số lượng nông sản nhiều và chất lượng cao nhất Mặt khác, phải không ngừng bồi đắp
độ phì của đất Từ đó sản xuất mới có cơ hội để tích luỹ vốn tập trung vào tái sản xuất mở rộng
Nâng cao hiệu quả kinh tế là tất yếu của sự phát triển xã hội Tuy nhiên,
ở các địa vị khác nhau thì có sự quan tâm khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận Ngược lại, người tiêu dùng muốn tăng hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hoá với giá thành ngày càng hạ và chất lượng hàng hoá ngày càng tốt hơn Khi xã hội càng phát triển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả sẽ gặp nhiều thuận lợi Nâng cao hiệu quả sẽ làm cho cả xã hội có lợi hơn, lợi ích của người sản xuất
và người tiêu dùng ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ bền vững giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trước mắt và lâu dài
2.1.4 Phân loại hiệu quả kinh tế
Trang 24Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế ta có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định, từ đó làm rõ nội dung của các loại hiệu quả kinh tế
- Căn cứ vào nội dung và bản chất có thể phân biệt thành ba phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
- Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành các loại: hiệu quả sử dụng đất đai, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên khác nhau, hiệu quả của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Căn cứ theo yếu tố hợp thành bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả phát triển
- Căn cứ theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu gồm: hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành, hiệu quả kinh tế vùng, hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức sản xuất
2.1.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế nói chung phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu kinh tế của nền kinh tế quốc dân và ngành nông nghiệp
- Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống, tức là có cả chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu phục vụ…
- Đảm bảo tính khoa học đơn giản và tính khả thi
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ kinh tế đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu
- Kích thích được sản xuất phát triển và tăng cường ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất
Trang 25Theo hệ thống chỉ tiêu SNA chúng ta có các chỉ tiêu chủ yếu
* Chỉ tiêu thể hiện kết quả [30]
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ của cải vật chất dịch vụ được tạo ra trong thời kỳ thường là một năm
1
*
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm loại i
Pi là đơn giá sản phẩm i
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch
vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất (tính theo chu kỳ của GO) Trong nông nghiệp, chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí như: giống cây, phân bón, thuốc trừ sâu v.v…
Cj là khoản chi phí thứ j trong vụ sản xuất
- Giá trị gia tăng (VA): là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất Được tính bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian
Công thức: MI = GO - IC - (A + T + lao động thuê)
Trang 26Trong đó: MI: thu nhập hỗn hợp
GO: tổng giá trị sản xuất
IC: chi phí trung gian
A: khấu hao tài sản cố định
T: các khoản thuế phải nộp
* Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế
- Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí (TGO): là tỷ số giá trị sản xuất của sản phẩm thu được tính bình quân trên một đơn vị diện tích với chi phí trung gian trong 1 chu kỳ sản xuất
- Tỷ suất giá trị sản xuất theo công lao động gia đình (TGOLĐ)
Công thức: TGOLĐ = GO/công lao động gia đình
- Tỷ suất giá trị gia tăng theo công lao động gia đình (TVALĐ)
Công thức: TVALĐ = VA/công lao động gia đình
- Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo công lao động gia đình (TMILĐ)
Công thức: TMILĐ = MI/công lao động gia đình
Ngoài ra chúng ta có thể đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu khác
Trang 27Trong đó: NPV: giá trị hiện tại thuần
Bi: các luồng tiền thu tại năm thứ i
Ci: các luồng tiền chi tại năm thứ i
i: các năm sx từ năm 0 đến năm n r: tỷ suất chiết khấu (tính bằng tỷ lệ lãi suất ngân hàng) Đối với cây ăn quả là cây trồng một lần nhưng thu nhiều lần nên để tính toán được chỉ tiêu NPV thì đòi hỏi phải có sự ghi chép cụ thể qua từng năm trong suốt chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây Nếu NPV>0 thì sản xuất cây
ăn quả có hiệu quả kinh tế, nếu NPV<0 thì sản xuất cam không có hiệu quả kinh
tế, nếu NPV = 0 thì sản xuất cam không có tác dụng gì dù chấp nhận hay bác bỏ
NPVr1
+ IRR = r1 + (r2 - r1)
NPVr1 - NPVr2
Trong đó: r1: tỷ suất chiết khấu làm cho NPV>0
r2: tỷ suất chiết khấu làm cho NPV<0 NPVr1: giá trị hiện tại ròng tính theo r1
NPVr2: giá trị hiện tại ròng tính theo r2
IRR thể hiện khả năng thu lãi trung bình của tiền đầu tư vào sản xuất cây ăn quả (cây cam) trong suốt thời gian của nó Nếu NPV<0 và IRR>r nên sản xuất cam, NPV<0 và IRR<r thì không nên sản xuất cam, nếu NPV = 0 và IRR = r thì sản xuất cam không có tác dụng gì dù chấp nhận hay không
2.1.6 Phương pháp xác định hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế
- Xét hiệu quả trong không gian đầu vào - đầu vào
P
X 2 /Y
Trang 28Hình 2.2: Hiệu quả trong không gian đầu vào - đầu vào
Nguồn: Phạm Văn Hùng, bài giảng kinh tế lượng, 2005
Q’ là điểm hãng sản xuất vừa đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
bổ Do vậy hiệu quả phân bổ AE = OR/OQ
Hiệu quả kinh tế EE = TE*AE = OR/OP
- Xét hiệu quả trong không gian đầu ra - đầu ra
Trang 29Hình 2.3: Hiệu quả trong không gian đầu ra - đầu ra
Nguồn: Phạm Văn Hùng, bài giảng kinh tế lượng, 2005
PPF: đường giới hạn khả năng sản xuất
Giả sử người sản xuất cần phân bổ nguồn lực hạn chế vào hai sản phẩm
Y1 và Y2 với giá sản phẩm tương ứng là P1 và P2
Người sản xuất có thể lựa chọn sản xuất tại điểm A với tập hợp đầu ra tương ứng là Y1
0
, Y2 0
Nếu tổ hợp đầu vào của người sản xuất được sử dụng một cách hiệu quả hơn thì khi đó họ có thể đạt được mức sản lượng tại B trên đường giới hạn khả năng sản xuất chứ không phải tại A
Hiệu quả kỹ thuật TE = OA/OB
Hiệu quả kinh tế EE = OA/OD
Hiệu quả phân bổ AE = EE/TE = OB/OD
- Xét hiệu quả trong không gian đầu vào - đầu ra
Trang 30Hình 2.4: Hiệu quả trong không gian đầu vào - đầu ra
Nguồn: Phạm Văn Hùng, bài giảng kinh tế lượng, 2005
Đây chính là mối quan hệ trong hàm sản xuất thường được dùng nhiều nhất và được biểu diễn bởi Y = F(X), (trong đó Y là đầu ra, X là vectơ đầu vào)
Ym là mức sản lượng tối đa có thể đạt được tương ứng với các mức đầu vào được ước lượng theo phương pháp hợp lý tối đa (MLE) Tất cả những điểm nằm trên đường Ym đều đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu
Ya là sản lượng trung bình thực tế đạt được tương ứng với các mức đầu vào được ước lượng theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS)
Người sản xuất đầu tư ở mức X1 đạt được sản lượng thực tế Y3 trong khi người sản xuất có trình độ tốt nhất có thể đạt được mức sản lượng Y2 - mức sản lượng cao nhất có thể cùng mức đầu tư
Hiệu quả kỹ thuật đo được TE = Y3/Y2
Người sản xuất đạt mức lợi nhuận cao nhất
Hiệu quả phân bổ AE = Y2/Y1
Hiệu quả kinh tế EE = TE*AE = Y3/Y2
2.2 Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất cam
2.2.1 Đặc điểm thực vật học
Cây cam là cây lâu năm và thường có tuổi thọ cao, đặc biệt ở những nơi khí hậu ôn hoà, đất tốt nhưng có độ dốc thoát nước tốt Cam thường ra nhiều
Trang 31cành, hoa thường ra đồng thời với cành non và thường ra rộ, một cây cam ước tính khoảng 60.000 hoa Vì vậy, hoa non thường rụng nhiều Thụ phấn thường tốt và có những giống thường không thụ phấn
Rễ cam thuộc loại rễ cọc, thời gian đầu cắm sâu xuống đất nhưng bộ rễ cám hút dinh dưỡng chủ yếu, phát triển trên mặt đất từ độ sâu 50cm trở lên
Do đó, phải xới nông, một đặc điểm nữa là bộ rễ chỉ phát triển nếu đất tơi xốp, đủ oxy, nếu tỷ lệ oxy trong đất dưới 1,2 - 1,5% thì sẽ ngừng phát triển [8]
2.2.2 Đặc điểm kỹ thuật sản xuất cam
Cây cam là cây ăn quả lâu năm, có bộ rễ ăn sâu, chỉ mọc tốt ở những nơi đất không có tầng sét, tầng đá gần mặt đất Thường bộ rễ chỉ phát triển tốt
ở những nơi đất thoáng có kết cấu tốt không lẫn quá nhiều sỏi đá, không bị đọng nước dù chỉ thời gian ngắn Vì vậy, đất bị đá ong hoá ở các vùng đồi, đất đầm lầy không thích hợp Đất đỏ, đất phù sa ven sông thoát nước là những đất tốt nhất Đất trồng phải có kết cấu tốt, tơi thoáng, giữ được nhiều nước, nhiều oxy bởi vì vài năm sau khi trồng, khi rễ lan ra khắp nơi thì không còn
có thể cày sới được nữa Cây cam là cây trồng khó tính đòi hỏi trình độ thâm canh cao, trong điều kiện thâm canh tốt cam cho hiệu quả kinh tế cao nhưng nếu chăm sóc không tốt cam dễ bị sâu bệnh tấn công nhất là bệnh Greening (bệnh vàng lá chè) do vi khuẩn Liaerobacteratium gây ra, bệnh loét cam do vi khuẩn Xanthomonas gây ra, sâu đục cành thuộc họ xén tóc Grambixidae, bộ cánh cứng Coleoptera gây ra
Trang 32từ 230C - 280C Cam là cây ưa độ ẩm trung bình, thích hợp với những vùng có lượng mưa từ 1.200 mm - 1.600 mm Cam là cây mẫn cảm với sự dao động của độ ẩm trong đất khi thì cao, khi thì thấp dễ làm cho cam ra quả trái vụ
Trang 33lãng phí dinh dưỡng, loạn nhịp sinh trưởng, hơn nữa khi quả đã lớn, dù chưa chín nếu độ ẩm đất thay đổi thất thường quả cam dễ bị nứt đôi cho nên đất trồng phải tương đối dày, độ mùn hơn 2% tơi xốp, thoát nước, tầng canh tác dày từ 70 cm trở lên, giữ được ẩm [8]
2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Vai trò của sản xuất cam quýt
Cam là thức ăn quý, được thuần dưỡng lâu đời, trong cam quýt có rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho con người: giàu khoáng chất, vitamin nhất là vitamin C giúp chống lại bệnh tật, tăng cường sức đề kháng và sức khoẻ cho con người Vai trò của cam quýt được thể hiện ở Bảng 2.1
Trang 34Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng trong 100g cây có múi (thành phần ăn được) so với một số ngũ cốc và cây ăn quả khác
Thµnh phÇn ho¸ häc Muèi kho¸ng (mg%) Vitamin Quả và thực
phẩm kh¸c
N-íc Protein Lipit Gluxit Xenlu
loz¬ Tro
Calo cho 100g
Trang 35Trên thực tế trong thời gian dài ở Việt Nam do chiến tranh nên người ta chú trọng đến việc ăn no, ăn nhiều chất bột (ngô, khoai, lúa gạo) mà ăn ít trái cây Do đó, một bộ phận người lớn, trẻ em bị suy dinh dưỡng vì thiếu vitamin Trong các loại cam quýt ngoài vitamin, chất khoáng còn chứa một lượng chất xơ, các chất này có tác dụng giúp cho việc tiêu hoá một cách dễ dàng, giúp cho cơ thể chậm hấp thu một số chất dinh dưỡng vào máu và cũng làm tăng độ xốp, làm mềm bã tiêu hoá, đáng chú ý là nó làm cho lượng đường trong máu tăng vừa phải và được duy trì ở mức cần thiết, nhờ đó mà cơ thể không thừa đường, không chuyển mỡ thành dự trữ ở các mô gây béo phì [6]
Mặt khác, trong ăn uống người ta đã đưa vào người một lượng axít béo không bão hoà, các loại rượu, các amin và các chất này vào ống tiêu hoá sẽ diễn ra quá trình oxi hoá để thành các chất có thể hấp thu được trong đó có axít béo không bão hoà Khi axít béo không bão hoà gặp oxi tự do tạo ra gốc
tự do, theo các nhà khoa học thì chính các gốc tự do này đã gây ra sự lão hoá ảnh hưởng đến quá trình già Còn chất chống oxi hoá trong cơ thể là vitamin
A, E, C sẽ giảm dần theo tuổi tác nên rất cần được đưa vào cơ thể các chất này, các vitamin này thường có rất nhiều trong cam quýt Do đó, những người
ăn nhiều cam quýt, uống nước chanh đường thường xuyên da dẻ hồng hào, mịn màng hơn những người ít ăn uống cam quýt [6]
2.3.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới
Cam quýt là loại quả quan trọng nhất so với trước đây vài chục năm, đứng trên cả nho, chuối, táo Tổng diện tích trồng cam quýt trên hai triệu ha, tập trung nhiều nhất ở các nước có khí hậu cận nhiệt đới như Tây Ban Nha, Brazin, Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nước ven Địa Trung Hải, tức là được trồng nhiều ở vĩ tuyến 300 - 350 Hiện nay sản xuất cam quýt từ vùng nhiệt đới đã tăng lên gần bằng các nước cận nhiệt đới, nguyên nhân là điều kiện tự nhiên,
kỹ thuật canh tác có tiến bộ, những trở ngại do nhiệt độ ở vùng ôn đới đã hạ
Trang 36thấp hơn ảnh hưởng đến sản lượng cam quýt Điều quan trọng hơn là dân số các nước nhiệt đới tăng nhanh, điều kiện kinh tế khá hơn nên nhu cầu tiêu thụ cam quýt phát triển kéo theo sản xuất cũng phát triển Hàng năm cam quýt sản xuất tới 65 triệu tấn hoặc cao hơn, chiếm 27% so với tổng các loại trái cây khác
Cam quýt có nhiều loại trong đó quan trọng nhất là cam, chiếm tới 82% tổng sản lượng cam quýt Trong tiêu thụ cam quýt dùng ăn tươi một phần còn
đa số (hai phần ba sản lượng) qua chế biến Các nước ôn đới tỷ lệ cam quýt chế biến đến 80% - 90% trong khi đó các nước nhiệt đới chủ yếu ăn tươi, nên
tỷ lệ quả qua chế biến rất thấp Một số quả như cam, bưởi chùm chế biến dễ dàng, đảm bảo chất lượng tốt nên được nhiều người ưa thích [6]
Theo tổ chức lương thực thế giới (FAO) thì trong những năm tới sản lượng cam vẫn có xu hướng tăng lên với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 2%/năm Nhu cầu cam cũng có sự thay đổi và phát triển chủ yếu ở các nước phát triển và chủ yếu là cam tươi, mặc dù nhu cầu cam chế biến có thể tăng ở một số nước như Trung Quốc, Mexico, Agentina, Brazin
Sản lượng cam năm 2005 của một số nước trên thế giới được thể hiện qua Bảng 2.2
Bảng 2.2: Sản lượng cam năm 2005 của một số nước trên thế giới
Trang 37Iran 1.900.000
Nguồn: Vũ Văn Luân, 2007
2.3.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam
Cho đến nay người ta vẫn chưa xác định được cam quýt trồng ở Việt Nam từ lúc nào, nhưng chắc chắn cam quýt là những cây ăn trái trồng lâu đời nhất và phổ biến nhất Có thể do đây là những cây bản địa, được tổ tiên ta thuần dưỡng, và bản thân chúng cũng rất dễ thích nghi với điều kiện trồng trọt, dùng làm thuốc, làm thực phẩm và làm cây cảnh Màu sắc các quả cam quýt chín đỏ, hoa thơm, lá xanh quanh năm nên được ưa thích, trồng để làm đẹp cho nhà ở Qua đặc điểm khí hậu đất đai cho thấy, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc trồng và phát triển cam quýt nói riêng, cây có múi nói chung Điều đáng chú ý, muốn sản xuất lớn, sản lượng cao cần có quy hoạch ở từng vùng, cần điều tra dịch bệnh để kịp thời phòng bệnh lây lan Song song với việc trồng phải tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển tiêu thụ và chế biến [6]
Theo thống kê của ngành nông nghiệp thì năm 1993 diện tích trồng cam ở nước ta 27.640 ha với sản lượng là 163.778 tấn, năm 1999 cả nước có khoảng trên dưới 30 nghìn ha với sản lượng khoảng 300 nghìn tấn Đất đai ở nước ta phù hợp
để phát triển cây có múi nhưng việc phát triển không đi vào ổn định là do một số nguyên nhân như sâu bệnh hại, hiện tượng thoái hoá cây, kỹ thuật canh tác không được áp dụng đầy đủ và kịp thời, công tác bảo quản chế biến chưa tốt… [4]
Bảng 2.3: Năng suất, sản lượng cây ăn quả có múi cả nước
và miền Bắc những năm gần đây
Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) Chỉ tiêu
Trang 382002 72.688 5.636 91,6 83,9 435.700 41.200
Nguồn: Vũ Văn Luân, 2007
2.2.4 Các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế
2.2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài
- Farell (1957), tiến hành đo lường năng suất và hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp Theo cách tiếp cận này thì hệ số hiệu quả kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ hàm năng suất thực tế và hàm năng suất tiềm năng Nếu doanh nghiệp có hệ số hiệu quả kỹ thuật gần bằng 1 thể hiện được doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả và có khả năng cạnh tranh Nghiên cứu chỉ
ra rằng hiệu quả kỹ thuật cho phép đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp nào có hiệu quả kỹ thuật cao hơn thì sẽ
có khả năng cạnh tranh cao hơn [1]
- Timmer (1971), phát triển phương pháp hàm năng suất tối đa, mô hình của ông đã sử dụng số liệu sản xuất nông nghiệp của Hoa Kỳ từ năm
1960 đến năm 1976 để phân tích Timmer kết luận rằng có khoảng 7,6% các mẫu điều tra nằm xa đường sản lượng tối đa, nông dân Hoa Kỳ sử dụng quá nhiều lao động nhưng lại sử dụng ít vốn [34]
- Aigner và các đồng nghiệp (1977) sử dụng phương pháp hàm năng suất tối đa cho ngành nông nghiệp của Hoa Kỳ Kalirajan và Flinn (1981) và các tác giả khác cũng sử dụng hàm này để phân tích cho các hộ nông dân sản xuất lúa ở Philipin Các nghiên cứu này đều cho ra mức hiệu quả kỹ thuật bình quân Nhưng một trong những hạn chế của các nghiên cứu là không tách được phần sai
số ra làm hai phần, đâu là phần bất hiệu quả, đâu là phần sai số thống kê [19]
Trang 39- Kalirajan và Flinn (1986) đã sử dụng phương pháp hàm năng suất tối
đa tính hiệu quả kỹ thuật cho nông dân trồng lúa ở Bicol, Philipin Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật của nông dân trồng lúa ở khu vực nghiên cứu giao động rất rộng từ 40% đến 90% [32], [33]
Một phương pháp nhằm tách thành phần bất hiệu quả do kỹ thuật và phần bất hiệu quả do phân bổ từ hàm lợi nhuận tối đa đã được Kalirajan và Ali đưa ra vào năm 1986 [31] Năm 1987 Mubarik Ali và John C Flinn (1987) đã sử dụng phương pháp này tính hiệu quả kinh tế cho các hộ nông dân trồng lúa ở Basmati của Pakistan Nghiên cứu này đã chỉ rõ, bình quân tỉ lệ kém hiệu quả của nông dân trồng lúa tại khu vực nghiên cứu là 28% Và từ kết quả của phương pháp này các tác giả đã tính được lợi nhuận mất đi do sản xuất lúa không hiệu quả trên mỗi ha là 1.222 đồng tiền Pakistan Các nhân tố kinh tế,
xã hội như giáo dục, thông tin, thuê mướn ruộng đất ảnh hưởng tới 54% những mất mát này
- Ali và Chaudry (1990) tính hiệu quả kinh tế cho 4 vùng sinh thái tại bang Punjab của Pakistan, kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân đạt hiệu quả
kỹ thuật từ 80% đến 87% cho khu vực trồng lúa và mía Hiệu quả phân bổ cao nhất ở khu vực nông dân trồng bông và thấp nhất ở khu vực nông dân trồng lúa Hiệu quả kinh tế bình quân dao động từ 44% khu vực trồng bông đên 56% khu vực trồng lúa Kết luận cho thấy có thể tăng thu nhập cho nông dân lên 40% đơn thuần bằng cách tăng hiệu quả trong khâu kỹ thuật chăm bón
- Agnes C Rola và cộng sự (1993) sử dụng phương pháp hàm sản xuất cận biên xác định hiệu quả kỹ thuật trong điều kiện đất thấp thuỷ lợi chủ động, không chủ động và vùng đất cao tại 5 khu vực của Philipin Kết quả cho thấy những nông dân sản xuất có hiệu quả nhất ít mua đầu vào hơn các nông dân trung bình Ở trung tâm Luzon, trung tâm Mindanao và thung lũng
Trang 40Cagayan nông dân đạt hiệu quả kỹ thuật trung bình cao nhất tương ứng ở môi trường chủ động nước tưới, không chủ động nước tưới và vùng đất cao [18]
2.2.4.2 Nghiên cứu ở trong nước
- Phan Sỹ Cường (2000), đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cây cam ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, nghiên cứu dùng các chỉ tiêu NPV và IRR để tính hiệu quả kinh tế sản xuất cam cho các hộ nông dân, nghiên cứu đưa ra kết quả NPV = 180.940,7 ở tỷ lệ chiết khấu là 9,5% và tỷ suất thu hồi vốn nội bộ là IRR = 0,398, như vậy sản xuất cam là có hiệu quả Việc tính toán theo chỉ tiêu này chính xác nhưng đòi hỏi sự ghi chép và nhớ cụ thể từng khoản chi phí và thu trong nhiều năm, điều này là rất khó đối với các hộ nông dân cho nên việc tính toán hiệu quả kinh tế theo phương pháp này ít được sử dụng [3]
- Huỳnh Ngọc Vị (2006), phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất cây cà phê tại huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai, nghiên cứu tính toán được các chỉ tiêu NPV = 23.483.000 đ, IRR = 22,24% và lợi nhuận nông dân là 5.425 đồng/tấn Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được đâu là hiệu quả kỹ thuật, đâu là hiệu quả phân bổ để giúp người nông dân nên quan tâm đến lĩnh vực nào để nâng cao năng suất từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của hộ [7]
- Lê Thị Minh Châu (2004), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa tại tỉnh Hà Tây, nghiên cứu dùng hàm giới hạn khả năng sản xuất để xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa Nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các hộ điều tra có hiệu quả kỹ thuật từ 0,80 - 0,95 Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng hiệu quả kỹ thuật của sản xuất lúa chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là năm kinh nghiệm và cơ hội tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật [2]
- Trần Đình Thao (2006), đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ngô hè thu tại Sơn La Nghiên cứu sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-