1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quá trình phát triển ngành công nghệ may và thời trang việt nam

30 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 628,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày truyền thống Ngành Dệt May Việt Nam Dựa vào lịch sử ra đời, quá trình hình thành và phát triển của ngành Dệt May Việt Nam, theo đề nghị của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) và Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 798QĐTTg ngày 04 tháng 06 năm 2010, đồng ý lấy ngày 25 tháng 03 làm Ngày truyền thống hàng năm của Ngành Dệt May Việt Nam. Ý nghĩa Lịch sử của “Ngày 25 tháng 03” đối với Ngành Dệt May Việt Nam Những năm đầu của thế kỷ XX, trong cảnh khốn cùng nước mất nhà tan, đội ngũ công nhân nhà máy Dệt Nam Định đã liên tục đấu tranh giành quyền sống và không ngừng trưởng thành về nhận thức, ý thức gia cấp. Năm 1929 tổ chức Việt Nam Cách Mạng thanh niên trong nhà máy được thành lập có 29 hội viên trong tổng số 168 hội viên toàn tỉnh, chiếm gần 18%, trên cơ sở đó sớm hình thành Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Nam Định, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh ngày 25 tháng 03 năm 1930 của hơn 4.000 công nhân nhà máy Sợi Nam Định đã diễn ra trong 21 ngày liên tục. Cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi to lớn, kẻ thù đã buộc phải chấp nhận các yêu sách của công nhân.

Trang 1

Ngày truyền thống Ngành Dệt May Việt Nam

Dựa vào lịch sử ra đời, quá trình hình thành và phát triển của ngành Dệt May Việt Nam, theo đề nghị của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) và Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 798/QĐ-TTg ngày

04 tháng 06 năm 2010, đồng ý lấy ngày 25 tháng 03 làm Ngày truyền thống hàng năm của Ngành Dệt May Việt Nam.

Ý nghĩa Lịch sử của “Ngày 25 tháng 03” đối với Ngành Dệt May Việt Nam

Những năm đầu của thế kỷ XX, trong cảnh khốn cùng nước mất nhàtan, đội ngũ công nhân nhà máy Dệt Nam Định đã liên tục đấu tranhgiành quyền sống và không ngừng trưởng thành về nhận thức, ý thứcgia cấp Năm 1929 tổ chức Việt Nam Cách Mạng thanh niên trong nhàmáy được thành lập có 29 hội viên trong tổng số 168 hội viên toàn tỉnh,chiếm gần 18%, trên cơ sở đó sớm hình thành Chi bộ Đảng đầu tiêncủa tỉnh Nam Định, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh Tiêu biểu làcuộc đấu tranh ngày 25 tháng 03 năm 1930 của hơn 4.000 công nhânnhà máy Sợi Nam Định đã diễn ra trong 21 ngày liên tục Cuộc đấutranh đã giành thắng lợi to lớn, kẻ thù đã buộc phải chấp nhận các yêusách của công nhân

Ngày 25 tháng 03 đã đi vào lịch sử vẻ vang và trở thành ngày Hội truyềnthống đấu tranh cách mạng và là niềm tự hào của đội ngũ công nhânDệt Nam Định Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, côngnhân Nhà máy đã dũng cảm tổ chức nhiều cuộc mít tinh đấu tranh đểbảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ Cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp giành thắng lợi, ngày 1/7/1954 bọn chủ tư bản buộc phải traochiếc chìa khóa nhà máy cho đội ngũ công nhân Đội ngũ công nhân đãđược đổi đời, từ kiếp nô lệ, tủi nhục, nay trở thành người công nhân làmchủ nhà máy, làm chủ cuộc đời mình, được sống trong độc lập, tự do

Trang 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy Dệt Nam Định năm 1957

Những chặng đường phát triển

Sau ngày hòa bình vào tháng 10/1954, Đảng và Chính phủ đã quyếtđịnh khôi phục các nhà máy sợi, dệt, nhuộm-đặc biệt là các Xưởng máytại thành phố Nam Định và xây dựng nhiều cơ sở sản xuất mới trênmiền Bắc như Dệt 8/3, Dệt kim Đông Xuân, Dệt vĩnh Phú, Dệt vải côngnghiệp, Dệt len Hải Phòng.v.v

Tiếp sau ngành công nghiệp dệt, ngành may công nghiệp nước ta hìnhthành muộn hơn vào những năm cuối của thập kỷ 50 Những năm 1956-

1958, ở phía Bắc mới có 2 xí nghiệp may với sản lượng hàng năm chỉkhoảng vài trăm ngàn sản phẩm, chủ yếu là hàng may sẵn phục vụ nhucầu nội địa Tại miền Nam, ngành may công nghiệp hình thành từ năm

1971 với 6 xí nghiệp may phục vụ cho xuất khẩu

Trong những năm từ 1955-1975 khi đất nước còn bị chia cắt thì ngànhDệt phía Bắc được phát triển tập trung ở thành phố Nam Định, Hà Nội,

Hà Tây, Hải Phòng, Vĩnh Phú Còn ở phía Nam được phát triển tậptrung ở Sài Gòn (cũ) trong các quận huyện Chợ Lớn, Tân Bình, ThủĐức, Biên Hòa và các tỉnh miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam), các tỉnhđồng bằng sông Cửu Long (Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Minh Hải)v.v

Trang 3

Sau ngày thống nhất nước nhà (30.4.1975), ngành Công nghiệp dệtmay Việt Nam có những thuận lợi mới để phát triển về qui mô, chủngloại mặt hàng và chất lượng sản phẩm Ngành được tiếp quản toàn bộcác cơ sở sản xuất dệt, may với công nghệ tương đối hiện đại ở cáctỉnh phía Nam và đầu tư xây dựng nhiều nhà máy mới với qui mô lớntrên phạm vi cả nước nhằm bảo đảm các chương trình hợp tác sản xuấtgiữa các nước trong hội đồng tương trợ kinh tế (CAEM) như : Sợi HàNội, Sợi Vinh, Sợi Huế, Sợi Nha Trang, Dệt Minh Khai, Dệt kim HoàngThị Loan v.v và nhiều cơ sở may ra đời theo Hiệp định 19/5 v.v.

Chính nhờ vậy, mặc dù vào những năm 80 đất nước bị khủng hoảngnhưng ngành Công nghiệp dệt may vẫn phát triển ổn định, duy trì sảnxuất và thực hiện thắng lợi ba kế hoạch 5 năm (1976-1980, 1981-1985

và 1986-1990), bảo đảm được các cân đối lớn của Nhà nước nhưnguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra và nhu cầu thiết yếu của nhândân và quốc phòng

Việt Nam trở thành thành viên thứ 6 của Liên đoàn Thời trang Châu Á

AFF năm 2009

Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, ngành Dệt May Việt Nam tiếp tụcgiữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước bằng những đóng góplớn vào việc thu dụng lao động và ổn định đời sống xã hội cũng như

Trang 4

đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu Ngành hiện sử dụng trên 2 triệu laođộng-trong đó hơn 1,3 triệu lao động công nghiệp, chiếm tỉ trọng trên10% so với lao động công nghiệp cả nước.

Là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất với mức đóng góp trên 16%tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2011 KNXK toàn ngànhđạt 16 tỷ USD, xuất siêu trên 6,7 tỷ USD Trên bản đồ xuất khẩu dệtmay thế giới, ngành Dệt May Việt Nam cũng đã vươn lên rất nhanh:Năm 1995 Dệt May Việt Nam chỉ xuất khẩu được 850 triệu USD vàchưa có tên trong bản đồ xuất khẩu dệt may thế giới, thì năm 2011vẫnduy trì vị trí trong Top 5 thế giới về kim ngạch xuất khẩu), trong đó Mỹ:hơn 7 tỷ USD, tăng 13% ; EU: đạt 2,4 tỷ USD, tăng 25% ; Nhật Bản: hơn1,6 tỷ USD, tăng 43% ; Hàn Quốc: 904 triệu USD, tăng 109%.;Xuất khẩu

xơ sợi các loạ đạt trên 1,8 tỷ USD

Sự bùng nổ xuất khẩu của ngành Dệt May Việt Nam trong 15 năm qua

đã gắn liền với sự ra đời và phát triển của Tổng công ty dệt may ViệtNam (được thành lập theo quyết định 253/QĐ – TTg, ngày 29 tháng 4năm 1995 trên cơ sở hợp nhất từ Tổng Công ty Dệt Việt Nam và Liênhợp SX –XNK May Việt Nam Ngày 05 tháng 12 năm 2005, thủ tướngchính phủ đã có quyết định 136/QĐ –TTg về việc chuyển đổi mô hình tổchức hoạt động từ Tổng công ty thành Công ty mẹ - Tập đoàn dệt mayViệt Nam (Vinatex)

Vinatex là Tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động theo mô hình công tymẹ/con với Công ty mẹ Vinatex là doanh nghiệp nhà nước và trên 100công ty con là các công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty Liên doanhtrong và ngoài nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và luật Đầu tưnước ngoài có vốn đầu tư của Vinatex ở nhiều mức độ khác nhau Mặc

dù chiếm 9% về lao động, nhưng Tập đoàn Vinatex đã chiếm 97% sảnlượng bông hạt, 33% sản lượng sợi, 32% sản lượng vải, 13% sản lượngmay và 18% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành

Trang 5

Lễ khánh thành Nhà Truyền thống ngành Dệt May Việt Nam

Qua vị trí và các hoạt động cụ thể của mình, có thể nói Vinatex đã khẳng định là đơn vị hạt nhân nòng cốt, là đầu kéo trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của ngành Dệt May Việt Nam:

Một là Vinatex và hệ thống các công ty con của mình đã đóng góp tích

cực cho sự ra đời và hoạt động của Hiệp hội Dệt may Việt Nam ( Vitas)

từ năm 1998 Tập đoàn đã sát cánh cùng Hiệp hội và các doanh nghiệptrong các hoạt động xây dựng chiến lược và các chương trình phát triểncho toàn ngành (Vinatex là tổ chức tham mưu chính cho Chính phủtrong các Quyết định 55/CP , 36/CP…về chiến lược phát triển ngànhDệt May Việt Nam) tham gia tích cực vào hoạt động các tổ chức dệtmay quốc tế và khu vực Đặc biệt là phối hợp có hiệu quả với các Bộngành và các tổ chức trong nước và nước ngoài trong việc vận độngđầu tư nước ngoài vào ngành dệt may tại Việt Nam, xúc tiến mở cửa thịtrường xuất khẩu và chống các rào cản thương mại quốc tế

Hai là Vinatex với sức mạnh tổng hợp của mình về tài chính, kỹ thuật,

thị trường, cán bộ, đã hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho các đơn vị khókhăn ở các địa phương

Ba là vinatex đã kết hợp để phát triển ngành dệt may với hầu hết các

địa phương trong cả nước nhằm thực hiện chiến lược phát triển côngnghiệp địa phương và tái cấu trúc ngành dệt may Vinatex đã tổ chứcthành công 5 khu công nghiệp dệt may nhằm phát triển ngành dệt maytheo chiến lược của Chính phủ

Trang 6

Bốn là Vinatex là tổ chức tham gia chính trong Hiệp hội Dệt May Việt

Nam để thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại và xây dựnghình ảnh ngành thời trang Việt Nam, đã góp phần tích cực trong việcxây dựng hình ảnh ngành dệt may Việt Nam Chất lượng – Trách nhiệm

xã hội – Thân thiện môi trường trên thị trường thế giới Hơn nữa, quacông ty Vinatex Mart, hệ thống bán lẻ các sản phẩm thời trang đã và sẽphủ kín các tỉnh thành, thị trấn trong cả nước

Năm là Vinatex với hệ thống 5 trường Cao đẳng Dệt May & Thời trang

và 3 Viện nghiên cứu đã đóng góp tích cực vào hoạt động nghiên cứu

và đào tạo nguồn nhân lực chủ lực cho toàn ngành

Sáu là Vinatex luôn đi đầu trong việc thực hiện chương trình đổi mới mô

hình và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trong ngành dệtmay Bắt đầu thực hiện chương trình sắp xếp và cổ phần hóa doanhnghiệp từ năm 2001, đến nay Vinatex đã cổ phần hóa được trên 95%các đơn vị thành viên

Bảy là Vinatex và các công ty con của mình là hình mẫu của ngành

trong việc xây dựng và thực hiện văn hóa doanh nghiệp, mối quan hệlao động hài hòa và chính sách xã hội Vinatex thực hiện tích cực tốt cáchoạt động xã hội, từ thiện Thực hiện NQ 30a của chính phủ, Vinatexđang tích cực hỗ trợ huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang và chương trìnhđồng hành cùng doanh nghiệp Dệt May Việt Nam vì đồng bào biển đảo

Tổ quốc

Với những thành tựu đã đạt được, Tập đoàn Dệt May Việt Nam đã có 6đơn vị thành viên và 8 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng Lao độngthời kì đổi mới, 6 tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vàhàng năm Đảng và Nhà nước đã tặng Huân chương các loại cho các tập thể cá nhân Riêng Công ty mẹ Tập đoàn nhiều năm liền được tặng

Cờ thi đua của Chính phủ, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Độclập hạng Ba năm 2010 và Huân chương Hồ Chí Minh năm 2005 vàHuân chương Sao Vàng năm 2010

Định hướng phát triển

Trong vòng 20-30 năm tới, dư địa ngành Dệt May Việt Nam còn nhiềutiềm năng và cơ hội để phát triển mạnh mẽ hơn nữa Chính phủ đã đặtmục tiêu ngành Dệt May Việt Nam nằm trong top 5 các nước sản xuất

và xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu 25 tỉUSD và tỉ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2015 Chắc chắn Vinatex với kinhnghiệm và và những chiến lược bài bản đã có càng khẳng định vị trí hạt

Trang 7

nhân của mình trong việc thực hiện mục tiêu nói trên Với những đónggóp to lớn của trên một triệu lao động trong ngành cùng sự thành công,khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế, ngành Dệt MayViệt Nam khẳng định là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Việc lấy ngày 25 tháng 03 làm ngày truyền thống hàng năm của ngành Dệt May Việt Nam là để các thế hệ người lao động ôn lại truyền thống quý báu trong công cuộc đấu tranh và bảo vệ tổ quốc, xây dựng đất nước và tự hào phấn đấu vì một Ngành Dệt May Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.

Nguồn: Vinatex

Tag: Textile industry, textile company, textile fabric, vai, vải, gia

công, gia cong, hoàng dũng, bảo hộ, bao ho, thời trang, thoi trang, dệt may, vải đồng phục, det may, đồng phục, dong phuc, cong ty det, the fabric, may mặc,

Dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người Sau thời kỳ ăn lông ở lỗ, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã bắt chước thiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu.

Theo các nhà khảo cổ thì sợi lanh (flax) là nguyên liệu dệt may đầu tiêncủa con người Sau đó sợi len xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà(Mésopotamia) và sợi bông (cotton) ở ven sông Indus (Ấn Độ)

Trong thời kỳ cổ đại, may dệt cũng tuỳ thuộc vào thổ nhưỡng và sinh hoạt kinh tế: các dân tộc sống về chăn nuôi dùng len (Lưỡng Hà,

Trung Đông và Trung Á), vải lanh phổ biến tại Ai Cập và miền Trung Mỹ,vải bông tại Ấn Độ và lụa (tơ tằm) tại Trung Quốc Các dân tộc Inca,Maya, Tolteca, v.v tại châu Mỹ thì dùng các sợi chuối (abaca) và sợithùa (sisal) Theo Kinh Thi của Khổng Tử, tơ tằm được tình cờ phát hiệnvào năm 2640 trước Công nguyên Sau khi vua Phục Hy, vị hoàng đếđầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm,

tơ lụa trở thành một ngành phồn thịnh, một trong những hàng hoá đầutiên trao đổi giữa Đông và Tây Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc là nướcduy nhất sản xuất và xuất khẩu lụa và tơ tằm Con Đường Tơ Lụa (SilkRoute), còn được truyền tụng đến ngày nay, không chỉ là địa bàn củacác nhà buôn mà còn mở đường cho các luồng giao lưu văn hoá, nghệthuật, tôn giáo, và cả các cuộc viễn chinh binh biến

Trang 8

Tuy các kỹ thuật may dệt đã mau chóng đạt mức độ tinh vi, có khi thành

cả nghệ thuật, nhưng trong suốt 5 ngàn

năm, con ngườivẫn chỉ dùng cácnguyên liệu tựnhiên, lấy từ cây

cỏ như các sợibông, sợi đay (jute), sợi gai dầu (hemp), sợi lanh, hay từ thực vật như da, sợi len,

tơ tằm, v.v Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản phẩm quí, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quí tộc, thượng lưu, đại đa số dân chúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu mè kiểu cọ Mãiđến giữa thế kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máy dệt cơ khí hoá, chạy bằng hơi nước (steam loom), ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở thành một kỹ nghệ.Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhàkhoa học ở Âu Châu tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sảnxuất hàng loạt, với giá rẻ Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, bátước Hilaire Bernigaud de Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo

tơ nhân tạo, sau 6 năm nghiên cứu, song song với nhà khoa học LouisPasteur, để tìm cách khắc phục các bệnh dịch tàn phá các cơ sở nuôitằm Năm 1889, ông Chardonnet trưng bày tại Hội chợ triển lãm thế giớiParis một máy kéo sợi nhân tạo và những tấm lụa nhân tạo đầu tiên.Năm sau, ông khánh thành nhà máy sợi nhân tạo, bắt đầu sản xuất năm

1892 Nhưng lúc ấy các phương pháp chưa hoàn chỉnh và giá thànhcòn cao nên phải đợi đến đầu thế kỷ 20, cơ sở này mới hoạt động vớiqui mô lớn và thành công

Ông Chardonnet được coi như cha đẻ của kỹ nghệ sợi hoá

học (chemical fibres) là chữ gọi chung cho các sợi nhân tạo (man-made

fibres) và sợi tổng hợp (synthetic fibres) Mục đích của ông khi tìm cách làm tơ nhân tạo là để bình dân hoá vải vóc, để

bất cứ ai cũng có thể có được những bộ quần

áo lụa là cho tới lúc ấy chỉ dành cho một thiểu

số Ông đã thành công hơn dự kiến vì kỹ nghệ

phát sinh từ các sáng chế của ông đã dẫn đến

cả một cuộc cách mạng trong may mặc, biến thời trang thành một hiện tượng quần chúng trong mọi nước Ngành dệt may từ đó cũng phát triểnngày càng nhanh, cùng với đà tiến triển của kinh tế và thương mại Từ

Cây sợi gai dầu

Chardonnet

Trang 9

1889 đến 1939, phải sau 50 năm sản lượng sợi hoá học trên thế giới mới đạt mức 1 triệu tấn một năm, nhưng chỉ 12 năm sau đã tăng gấp đôi, và cứ thế tăng vọt.

Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người,tiêu thụ 3,8 triệu tấn sợi, hầu như toàn bộ

là các sợi tự nhiên - bông (81%) và len(19%)-, số sợi hoá học dưới 1000 tấn.Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấnsợi, trong đó 50% bông, 6% len và 44%sợi hoá học Như thế, chỉ trong 3 phần tưthế kỷ, số lượng tiêu thụ đã nhân lên 4,3lần cho sợi bông, 2,2 lần cho sợi len, và

11 000 lần cho sợi hoá học Mức tăngtrưởng phi thường này tuy thế khựng lại sau năm 1973, vì cuộc khủnghoảng về dầu lửa và giai đoạn kinh tế suy thoái sau đó Ngoài ra, vì dầuhoả là nguyên liệu chính của sợi hoá học, khuynh hướng thay thế cácsợi tự nhiên bằng sợi hoá học cũng chậm lại và ngày nay sợi tự nhiên,chủ yếu là bông, vẫn tồn tại trên thị trường, và sợi hóa học chỉ chiếm đa

số với khoảng 60%

Sản phẩm của ngành dệt maykhông chỉ là quần áo, vải vóc vàcác vật dụng quen thuộc như khănbàn, khăn tắm, chăn mền, nệm,rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ nónv.v mà còn cần thiết cho hầu hếtcác ngành nghề và sinh hoạt: lều,buồm, lưới cá, cần câu, các loạidây nhợ, dây thừng, dây chão, cácthiết bị bên trong xe hơi, xe lửa,máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải),vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệudùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cáchđiện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bôngbăng

Có thể hiểu tại sao ngành dệt may đã đi liền với sự phát triển của cácnước công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiênthừa hưởng những phát minh kỹ thuật vừa là động cơ chuyển biến cảnền kinh tế từ thủ công sang công nghiệp trong thời kỳ cách mạng kỹ

Trang 10

nghệ Điều này cũng giải thích tại sao các nước công nghiệp vẫn quyếttâm bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh của các nướcnghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xây dựngngành này thành trọng điểm của chiến lược phát triển Và tại sao đócũng là một trong những mối tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trongquan hệ thương mại giữa các nước giàu và nghèo.

Tin Chuyên Nghành Ngành Dệt May Xuất Khẩu: Trở Lại Gia Công

Nâng tỷ lệ xuất khẩu (XK) hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) làmục tiêu của ngành dệt may (DM) Việt Nam, nhằm giảm tỷ lệ gia công, giatăng giá trị XK Tuy nhiên, với nhiều rào cản trong chính sách thuế, kếhoạch sản xuất nguồn nguyên phụ liệu (NPL) nội địa bị "bể", không nhữngkhông tăng lên mà nhiều doanh nghiệp (DN) DM còn phải chuyển từ sản

Hàng DM luôn nằm trong nhóm hàng XK chủ lực của Việt Nam(VN), nhưng giá trị mang lại rất thấp, chỉ chiếm khoảng 35% so với kimngạch XK Theo số liệu "ước đoán", hàng FOB XK chỉ chiếm khoảng 20% -30%, còn lại là gia công Hiện ngành DM đang phấn đấu để nâng tỷ lệ XKhàng FOB lên khoảng 50% trong 2 năm tới Bằng cách nào để đạt được con

số trên? Sử dụng nguồn NPL trong nước là cơ sở vững chắc để đạt được mụctiêu này Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, các dự án, chương trình thúc đẩyphát triển nguồn NPL trong nước đã bị "bể" kế hoạch Và mục tiêu đề ra vẫn

Ngành DM VN hiện đứng vị trí thứ 9 trong top 10 nước XK hàng DMlớn nhất thế giới, nhưng so với nhiều nước ở châu Á, tốc độ tăng trưởng củahàng DM VN vẫn còn thấp, chỉ khoảng 20% - 30% Trong khi đó, TrungQuốc đạt tăng trưởng 80%, Indonesia 48%… Nguyên nhân là do gia công

Ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN đánh giá, nếu hiểuđúng nghĩa sản xuất FOB thì ngành DM VN chỉ mới dừng lại ở sản xuấtFOB "sơ khai" - gia công với giá cao hơn! Vì thực tế, DN của VN được nhànhập khẩu chỉ định mua NPL, may theo mẫu họ đưa ra và được hưởng 5% -10% trên giá trị của sản phẩm (ví dụ, may áo sơ mi giá 2 USD/áo, DN sẽ cóthêm 20 cent (hưởng 10%) của hàng FOB) Sản xuất FOB "thật sự", DN phải

tự thiết kế mẫu mã, chọn NPL, chào hàng (mua đứt, bán đoạn) Sản xuấtFOB "cao cấp", ở VN chỉ thực hiện được vài phần trăm, nhưng phần lớn lạirơi vào DN sản xuất tiêu thụ ở thị trường nội địa Và đại bộ phận sản xuất

Trang 11

FOB tại VN hiện nay vẫn là FOB "sơ khai" Các DN DM cho biết, con số 5% - 10% có được trên giá trị của hàngFOB đối với DN VN là khá cao Nhưng xét trên thực tế, nhà nhập khẩu nướcngoài có nhiều cái lợi Để có được 5% - 10%, DN VN phải bỏ tiền trước đểsản xuất, gánh những rủi ro (thiếu NPL đột xuất, đảm bảo chất lượng…) cóthể xảy ra trong quá trình sản xuất thay cho nhà nhập khẩu Đối với nhữngđơn hàng gia công, nhiều khi nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm chính về

Đẩy mạnh đầu tư, phát triển nguồn NPL trong nước để phục vụ cho

XK DM đã được Bộ Công thương đề ra thành một chiến lược Bộ Côngthương đã có chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải, phát triển cây bông có nướctưới, đào tạo nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển ngành DM VN đếnnăm 2010 và tính đến năm 2025, nhưng tốc độ đầu tư và kết quả đạt đượccòn chậm Nhiều dự án đầu tư đã rục rịch triển khai, nhưng đến nay mọi thứrơi vào im lặng, dường như các nhà đầu tư đã đuối sức ngay từ những bướcchạy đầu tiên! Nhiều dự án bị "bể" kế hoạch cho việc "trình làng" Các DN DM e ngại, với cái đà này thì ngành công nghiệp sản xuấtNPL của VN sẽ mãi mãi đi sau các nước Hiện ở VN chỉ có vài DN tiênphong đầu tư cho ngành dệt, nhưng công nghệ kéo sợi kẻ chỉ mới dừng lại ở

50 sợi, trong khi đó Trung Quốc đã có công nghệ dệt lên đến hàng trăm sợi

và số lượng DN trang bị công nghệ này rất nhiều Do vậy, mà các DN sảnxuất NPL trong nước không thể cạnh tranh với NPL từ Trung Quốc Các DN

DM tại TPHCM cho biết, thực tế hiện nay, các DN cung cấp vải trong nướcsản xuất rất hạn chế, chủ yếu sản xuất theo đơn hàng Ở Trung Quốc, các DNsản xuất hàng loạt vải mộc để sẵn, khi khách hàng cần vải có hoa văn, chitiết, họ chỉ cần mang vải mộc làm thêm chi tiết, hoa văn Ở VN, khi đặthàng, nhà sản xuất đi thực hiện thì rất lâu mới có hàng Sản xuất FOB là mục tiêu các DN hướng đến, tuy nhiên, với nhiềukhó khăn trong chính sách thuế hiện nay, nhiều DN DM chỉ muốn nhận đơnhàng gia công Theo các DN, sản xuất hàng gia công sẽ không chiếm dụngvốn như sản xuất FOB Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Dệt may -Thêu đan TPHCM nhận xét, nhiều DN DM tại TPHCM có dự định chuyểnsản xuất FOB sang gia công trở lại Gia công sẽ thuận lợi hơn vì không bị ápthuế

Hiện tại, khi nhập NPL để sản xuất, DN phải nộp một khoản thuếlớn, đến khi xuất hàng thì hải quan mới trả lại Với các DN mới, khi XK phải

có bảo lãnh của ngân hàng, muốn ngân hàng bảo lãnh DN phải gởi tiền ởngân hàng đó; sau 1 năm, DN làm tốt sẽ được xem xét lại Các DN kinhdoanh NPL không có kho ngoại quan để chứa hàng để có thể nhanh chóng

Ông Kiệt cho biết thêm, hiện nay, các ngân hàng nước ngoài cóchuẩn vay thấp hơn các ngân hàng VN Khi đàm phán giá cả với các đối tác,

Trang 12

nhà nhập khẩu chỉ tin vào lãi suất của các ngân hàng nước ngoài và họ sẽkhông thông cảm cho chúng ta Đây cũng là một khó khăn trong đàm phántăng giá bán của DN VN và đang làm các DN DM nản lòng Xem ra sản xuất FOB đang bị thụt lùi và mục tiêu nâng tỷ lệ sản

xuất FOB lên 50% trong 2 năm tới khó mà đạt được (Theo SGGP)

Ông tổ của ngành may mặc:

Năm 1845, máy may công nghiệp đầu tiên của ông Elias Howe 1867), một kỹ sư chế tạo máy người Mỹ, đã ra đời và tạo ra một bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực này với năng suất cao hơn nhiều so với phương pháp may thủ công trước đó

(1819-Nhà sáng chế người Mỹ Elias Howe

Từ năm 1840, ông Elias đã tốn nhiều công sức nghiên cứu về vấn đề này nhưng chưa tìm ra “lời giải cho bài toán khó” Sáng chế được hình thành trong một giấc mơ, khi ông bị một nhóm người man rợ chém đầu

và cho vào nồi để nấu ăn Ông liều mạng bò ra khỏi nồi, nhưng lại bị họ dùng ngọn giáo dài dọa đâm chết, lúc này ông nhìn thấy trên đầu nhọn của ngọn giáo có đục một lỗ hổng Chính giấc mơ này đã khiến Elias Howe quyết định từ bỏ nguyên lý may thủ công Thiết kế một loại kim cong với lỗ kim để luồn chỉ may được khoan ở đầu nhọn, phối hợp với con suốt chỉ, tạo nên đường may Cho tới những năm 1800, hầu hết quần áo đều được may thủ công và tiêu tốn rất nhiều thời gian Không lâu sau, chiếc máy may công nghiệp đầu tiên do ông Elias Howe sáng chế đã ra đời, mở ra một thời kỳ phát triển cho công nghiệp dệt may Đặc biệt máy may này sử dụng nguyên lý hoàn toàn mới là dùng hai sợi chỉ, một qua lỗ kim và xuyên qua vải rồi tạo một vòng ở bên dưới để mộtcon thoi luồn sợi chỉ thứ hai qua vòng đó tạo thành một mũi khâu Cuối cùng, ông Howe đã hoàn thành phát minh vĩ đại của mình nên mọi

người coi Elias Howe là “ông tổ của máy may công nghiệp”

Lịch sử cho thấy con người đã biết may áo quần bằng tay từ hàng nghìn năm trước công nguyên Các kim may đầu tiên làm bằng xương hay sừng và sợi chỉ là gân súc vật Kim sắt được phát minh vào thế kỷ 14 và kim có lỗ bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 15 Nhiều sáng chế phát minh

Trang 13

máy may xuất hiện từ năm 1755 nhưng không có máy may nào hoạt động hiệu quả Máy may cơ khí đầu tiên hoạt động được là do

Barthelemy Thimonnier, một thợ may người Pháp sáng chế năm 1830 Máy may dùng một sợi chỉ và một kim móc tạo ra một mũi khâu y như thêu Một đám thợ may người Pháp sợ phát minh này sẽ làm cho họ bị thất nghiệp nên đã giận dữ đốt xưởng may của ông Thimonnier và suýt giết chết nhà phát minh này Trước đó, ông Walter Hunt chế tạo thành công chiếc máy may thủ công đầu tiên ở Mỹ vào năm 1834, nhưng không đăng ký bản quyền sáng chế phát minh vì cho rằng phát minh này sẽ làm cho nhiều người thất nghiệp

Máy may công nghiệp đầu tiên được Howe Elias sáng chế từ giấc mơ kỳlạ

Vào thập niên 1850, Isaac Singer chế tạo thành công hàng loạt máy may thương mại với bàn đạp chân, nhưng thua kiện và phải trả tiền bản quyền cho Elias Howe Năm 1873, ông Helen Augusta Blanchard đăng

ký bản quyền sáng chế máy may mang tên zig-zag và nhiều sáng chế cải tiến máy may khác Đến năm 1905, máy may chạy bằng động cơ điện được sử dụng rộng rãivà cũng tạo ra bước ngoặt mới cho ngành công nghiệp nhiều lợi nhuận này Hiện nay có rất nhiều loại máy may công nghiệp chuyên dụng được sáng chế và sử dụng

Nguồn: http://khoahoctoday.vnanet.vn/

Trang 14

Sự ra đời của chiếc máy khâu

Tags: Charles Weisenthal, Thổ dân da đỏ, bằng sáng chế, sự ra

đời, được sử dụng, máy khâu, chế tạo, đầu tiên, thợ may, tuy nhiên, tạo

ra, đến, kim, anh, công

Một trong những chiếc máy khâu cổ xưa nhất

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1755 ở London Một di dân người

Đức tên là Charles Weisenthal chế tạo chiếc kim đầu tiên dành

cho máy khâu và đã nhận bằng sáng chế cho phát minh này Tuy

nhiên, không ai biết chiếc kim đã được sử dụng cho loại máy nào,

vì 34 năm sau, chiếc máy khâu đầu tiên của nhân loại mới ra đời

Sản phẩm do công dân Anh tên Thomas Saint chế tạo là một

chiếc máy bấm lỗ Nhờ có những lỗ này, người thợ may có thể

xuyên chỉ qua khâu đính vải, da dễ dàng Nhiều người cho rằng

sản phẩm của Saint đã đặt nền tảng cho nhiều loại máy khâu cải

tiến sau này, nếu không có lẽ giờ này con người vẫn đang may

tay

Đầu thế kỷ 19, Madersperger, một thợ may người Australia, chế

tạo hàng loạt máy khâu, mỗi chiếc thực hiện một thao tác khác

nhau Ông nhận được bằng sáng chế cho nỗ lực của mình Sau khi

nhận được bằng, ông vẫn không ngừng làm việc để chế tạo những

chiếc máy khác tiện dụng hơn Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó,

Trang 15

Josef chết vì bệnh và nghèo đói.

Năm 1918, hai người Mỹ tên là John Adam Doge và John

Knowles chế tạo ra một chiếc máy khâu có thể thực hiện được những đường may ngắn Nhân vật nổi cộm trong danh sách

những người chế tạo ra máy khâu còn có Barthelemy Thimonnier,người được chính phủ Pháp trao bằng sáng chế vào năm 1830 Chiếc may khâu của Thimonnier phần lớn được làm bằng gỗ nhưng cho phép người thợ may có thể thực hiện nhiều thao tác Không giống như những người đã chế tạo ra máy khâu trước đây, Thimonnier chỉ thích làm ăn lớn Vì vậy, ông đã thuyết phục quânđội Pháp thành lập một xưởng may chuyên may quân phục Gần

10 năm phục vụ trong quân đội, ông có trong tay hơn 80 chiếc máy khâu Cơ sở của ông ngày càng phát đạt và tạo được tiếng vang lớn trong ngành may Điều này đồng thời đã "hất đổ chén cơm" của giới thợ may tại Paris Những người này lo sợ rằng nếu Thimonnier quá thành công, họ sẽ bị thất nghiệp Vì vậy, vào mộtđêm tối trời, một toán thợ may cuồng nộ ở Paris đã kéo đến

xưởng may của Thimonnier, đập phá tan tành mọi tài sản ở đây Thimonnier may mắn trốn thoát Nhờ sự giúp đỡ của quân đội Pháp, một thời gian sau, Thimonnier thành lập lại xưởng may khác, định dần dần gây dựng lại sự nghiệp Biết tin, nhóm thợ may lại đến quậy phá Lần này do trong nước có nhiều biến loạn

về chính trị, nên quân đội không còn quan tâm tới Thimonnier nữa Ông đành mang theo một chiếc máy khâu nguyên vẹn trốn sang Anh

Thimonnier là người đầu tiên đưa máy khâu vào ứng dụng sản xuất với quy mô lớn và là người chủ xưởng may quân đội đầu tiên trên thế giới Sau này ở Anh, Thimonnier còn chế tạo máy khâu với mục đích kinh doanh Tuy nhiên, dù đã nỗ lực bằng nhiều cách, Thimonnier vẫn có cuộc sống cuối đời hết sức nghèo khổ và chết trong một ngôi nhà tồi tàn ở Anh

Năm 1933, chiếc máy khâu đầu tiên cho phép người thợ may không phải qua các công đoạn may tay ra đời Đây là tác phẩm của một người Mỹ tên Walter Hunt Tương truyền, Walter đã chế tạo ra chiếc máy này vài năm trước khi nó được đưa vào ứng dụng, vì ông không sao tìm ra chiếc kim thích hợp Bao nhiêu kim đưa vào máy đều bị gãy Một đêm, Walter mơ thấy mình đi lạc vào một khu rừng, bị thổ dân da đỏ bắt và bị trói chặt, đưa ra

Ngày đăng: 18/07/2018, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w