Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-& -
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PLASMA TRONG CÔNG THỨC THỨC ĂN HỖN HỢP CHO LỢN CON THEO MẸ VÀ SAU CAI SỮA
(YORKSHIRE x LANDRACE)”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã s: 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Vũ Duy Giảng
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2008
Học viên
Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, khoa Sau đại học, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể cán bộ, công nhân viên Công ty TNHH Minh Hiếu, Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi DABACO, Trại lợn giống Thuận Thành, gia đình anh Nguyễn Văn Huyên ở Văn Giang - Văn Lâm - Hưng Yên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tự đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn đối với mọi sự quan tâm, giúp đỡ, động viên quý báu và kịp thời đó!
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2008
Học viên
Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
1 MỞ ĐẦU 1
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON 3
2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng 4
2.1.2 Đặc điểm về tiêu hoá 5
2.1.3 Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt 8
2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 9
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON 10
2.2.1 Nhu cầu về năng lượng 11
2.2.2 Nhu cầu về protein và các axit amin 13
2.2.3 Nhu cầu về khoáng chất 19
2.2.4 Nhu cầu về vitamin 23
2.2.5 Nhu cầu về nước uống 27
2.3 BỆNH TIÊU CHẢY Ở LỢN CON 28
2.3.1 Khái niệm 28
2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh 29
2.3.3 Một số biện pháp giúp ngăn chặn bệnh tiêu chảy ở lợn con 30
2.4 MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ PLASMA 31
2.4.1 Nguồn gốc 31
2.4.2 Phương pháp chế biến 32
2.4.3 Đặc điểm dinh dưỡng 33
2.5 NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 36
2.5.1 Nghiên cứu trong nước 36
2.5.2 Nghiên cứu ngoài nước 36
Trang 53 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 39
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.2.1 Phân tích nguyên liệu và thức ăn hỗn hợp 39
3.2.2 Xây dựng công thức thức ăn 40
3.2.3 Sản xuất thức ăn hỗn hợp 43
3.2.4 Thử nghiệm thức ăn 44
3.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT QUẢ 46
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 KẾT QUẢ KIỂM TRA NGUYÊN LIỆU 47
4.2 QUY TRÌNH SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO LỢN CON THEO MẸ VÀ LỢN CON SAU CAI SỮA 48
4.2.1 Lựa chọn và chế biến nguyên liệu 49
4.2.2 Nghiền nguyên liệu 51
4.2.3 Trộn nguyên liệu 52
4.2.4 Ép viên và làm mát 53
4.2.5 Ra bao 55
4.3 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM TRÊN LỢN CON THEO MẸ 58
4.3.1 Ảnh hưởng của plasma tới tăng trọng của lợn con theo mẹ 58
4.3.2 Ảnh hưởng của plasma tới thu nhận thức ăn của lợn con theo mẹ 62 4.3.3 Ảnh hưởng của plasma tới tình trạng tiêu chảy trên lợn con theo mẹ 65
4.3.4 Ảnh hưởng của plasma tới tỷ lệ nuôi sống của lợn con theo mẹ 68
4.4 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM TRÊN LỢN CON SAU CAI SỮA 70
4.4.1 Ảnh hưởng của plasma tới tăng trọng của lợn con cai sữa 70
4.4.2 Ảnh hưởng của plasma tới thu nhận thức ăn của lợn con cai sữa 74
4.4.3 Ảnh hưởng của plasma tới vi khuẩn phân ở lợn con sau cai sữa 76
4.4.4 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng plasma trong khẩu phần lợn con cai sữa 78
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
5.1 KẾT LUẬN 80
5.2 ĐỀ NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
5 FCR Feed Conversion Ratio - Hệ số sử dụng thức ăn
6 FDI Feed Daily Intake - Thu nhận thức ăn hàng ngày
7 KL Khối lượng
8 KP Khẩu phần
10 ME Metabolizable Energy - Năng lượng trao đổi
11 NRC National Research Council - Hội đồng nghiên cứu
quốc gia Hoa Kỳ
12 PDR Protein Deposition Rate - Tốc độ tích luỹ protein
13 TĂ Thức ăn
14 TĂCN Thức ăn chăn nuôi
15 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Dung tích một số cơ quan đường tiêu hoá ở lợn theo ngày tuổi 5
Bảng 2.2 Sự thay đổi pH trong dạ dày lợn con theo ngày tuổi 6
Bảng 2.3 Nhu cầu lysine và một số axit amin khác tính theo PDR 18
Bảng 2.4 Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai đoạn 28
Bảng 2.5 Tỷ lệ huyết tương và huyết cầu trong máu một số loài gia súc 31
Bảng 2.6 Chiều dài vi lông nhung trong khẩu phần sử dụng plasma và khẩu phần đối chứng 34
Bảng 2.7 Thành phần dinh dưỡng của một số loại plasma 35
Bảng 2.8 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu sử dụng plasma thay thế sữa khử mỡ và khô đậu tương 37
Bảng 3.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn từ sơ sinh đến 20kg 41
Bảng 3.2 Công thức hỗn hợp cho lợn con theo mẹ 41
Bảng 3.3 Giá trị dinh dưỡng ước tính của công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ 42
Bảng 3.4 Công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa 42
Bảng 3.5 Giá trị dinh dưỡng ước tính của công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa 43
Bảng 3.6 Công thức bố trí thí nghiệm cho lợn con theo mẹ 44
Bảng 3.7 Công thức bố trí thí nghiệm cho lợn con sau cai sữa 44
Trang 8Bảng 4.1 Kết quả kiểm tra thành phần hóa học của nguyên liệu sử dụng trong
sản xuất thức ăn cho lợn con tập ăn và lợn con sau cai sữa 47Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra độ cứng và kích thước viên thức ăn hỗn hợp cho
lợn con sau cai sữa 54Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tăng trọng của lợn con theo mẹ 58Bảng 4.4 Kết quả theo dõi thức ăn thu nhận của lợn con theo mẹ và sau cai
sữa 1 tuần 64Bảng 4.5 Kết quả theo dõi tỷ lệ tiêu chảy trên lợn con theo mẹ và sau cai sữa
1 tuần 66Bảng 4.6 Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của lợn con theo mẹ và sau cai sữa
1 tuần 69Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tăng trọng của lợn con cai sữa 71Bảng 4.8 Kết quả theo dõi thức ăn thu nhận trên lợn con sau cai sữa 74Bảng 4.9 Kết quả phân tích vi khuẩn E coli và Salmonella trong phân của
lợn con sau cai sữa 77Bảng 4.10 Kết quả tính toán sơ bộ hiệu quả sử dụng plasma trong thức ăn
hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa (từ 27 - 62 ngày tuổi) 78
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Tóm tắt các công đoạn chính trong sản xuất thức ăn hỗn hợp 57
DANH MỤC ĐỒ THỊ Đồ thị 4.1 Hàm lượng protein thô và chất béo thô của một số loại nguyên liệu sử dụng trong công thức 48
Đồ thị 4.2 Tăng trọng của lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 61
Đồ thị 4.3 Số ngày mắc tiêu chảy ở lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm 68
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Khối lượng lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 59
Biểu đồ 4.2 Thu nhận thức ăn ở lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 65 Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ tiêu chảy trên lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm 67
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 69 Biểu đồ 4.5 Khối lượng lợn con sau cai sữa 72
Biểu đồ 4.6 Tăng trọng lợn con sau cai sữa 72
Biểu đồ 4.7 Thu nhận thức ăn và FCR lợn con sau cai sữa 75
Biểu đồ 4.8 Số lượng vi khuẩn có trong 1g phân lợn 40 ngày tuổi 77
Biểu đồ 4.9 Số lượng vi khuẩn có trong 1g phân lợn 61 ngày tuổi 77
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành kinh doanh lớn, thịt lợn chiếm 40% tổng lượng các loại thịt Còn ở Việt Nam, chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của hàng triệu hộ nông dân, thịt lợn chiếm tới 70% tổng lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường
Trong chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng, giai đoạn quan trọng nhất là giai đoạn lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa Bởi
vì, sự sinh trưởng, phát triển của lợn con từ sơ sinh đến 8 - 9 tuần tuổi là rất quan trọng, quyết định đến toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển của lợn các giai đoạn sau [3]
Ở Việt Nam hiện nay, lợn con thường được cai sữa từ 21 - 24 ngày tuổi Để có thể đảm bảo sự thích nghi của lợn con với điều kiện thay đổi sau cai sữa, từ 5 - 7 ngày tuổi, lợn con đã được làm quen với thức ăn ngoài nguồn sữa mẹ Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn và sau cai sữa không những đòi hỏi đủ chất dinh dưỡng mà còn phải có khả năng tiêu hóa hấp thu cao, kích thích được tính thèm ăn, tăng sức đề kháng, lợn khỏe mạnh, không ỉa chảy và sinh trưởng tốt Do đó, lựa chọn nguyên liệu để sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn và sau cai sữa phải đáp ứng được các yêu cầu trên
Các sản phẩm từ ngành công nghiệp chế biến bơ sữa thường được ưu tiên lựa chọn do có đặc tính gần giống với sữa lợn mẹ Tuy nhiên, nhóm nguyên liệu này thường có hàm lượng protein thấp, đòi hỏi phải có một nguồn protein khác bổ sung Nhưng thực tế hiện nay, nguồn bổ sung protein cho sản xuất thức ăn của lợn con là rất ít Nguồn bổ sung protein chủ yếu cho lợn con trên thị trường là khô đậu tương, bột cá cao đạm, các sản phẩm từ hạt đậu tương lên men Chính vì vậy, nghiên cứu, tìm ra những loại nguyên liệu bổ
Trang 11sung protein chất lượng cao trong sản xuất thức ăn cho lợn con là một việc làm cần thiết
Plasma là một dạng huyết tương tách lọc từ máu động vật (lợn hoặc bò), được xử lý tiệt trùng và sấy khô, có màu trắng ngà đến trắng xám Hàm lượng protein trong plasma cao, dao động từ 70 - 80%, với tỷ lệ các axit amin rất cân đối Do đó, có thể coi plasma là nguồn bổ sung protein rất tốt cho lợn con Ngoài ra, plasma được coi như một loại kháng thể do có tác động lên hệ thống lông nhung ruột, ngăn chặn sự bám dính của các vi khuẩn gây hại trong đường ruột (đặc biệt là E coli), nhờ đó làm tăng sức đề kháng cho vật nuôi Plasma còn có khả năng tiêu hóa, hấp thu cao, làm tăng tính ngon miệng, giúp vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PLASMA TRONG CÔNG THỨC
THỨC ĂN HỖN HỢP CHO LỢN CON THEO MẸ VÀ SAU CAI SỮA
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON
Giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa, lợn con gặp phải ba stress lớn:
- Lúc mới đẻ (sơ sinh): Lợn con từ chỗ được bảo vệ trong tử cung của
lợn mẹ, dinh dưỡng cung cấp qua nhau thai, đến khi ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con chịu tác động trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh, phải tự tìm vú mẹ để lấy dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể
- Lúc 21 ngày tuổi: Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh
nhưng sản lượng sữa mẹ giảm dần theo quy luật tiết sữa Trong khi đó, khả năng tiêu hoá thức ăn ngoài nguồn sữa mẹ là chưa hoàn thiện dẫn tới thiếu dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của cơ thể
- Lúc cai sữa: Lúc này, lợn con phải độc lập trong sống và lấy thức ăn
từ bên ngoài để đảm bảo nhu cầu Với việc chuyển hoàn toàn từ thức ăn dạng lỏng sang thức ăn dạng khô, sự thay đổi về môi trường sống nên lợn con dễ bị các chứng rối loạn do thức ăn hay tiêu hoá thức ăn không tốt
Vì vậy, nuôi dưỡng, chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến cai sữa là khâu quan trọng, quyết định kết quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản đồng thời ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn con trong các giai đoạn sau Chăm sóc lợn con sau sinh phải đảm bảo được ba mục tiêu: Tỷ lệ nuôi sống cao, lợn con sinh trưởng, phát triển bình thường (biểu hiện thông qua chỉ tiêu khối lượng cai sữa cao) và độ đồng đều khi cai sữa cao
Để đạt được ba mục tiêu trên, ngoài việc đầu tư về trang thiết bị, kỹ thuật, chúng ta cần phải có những hiểu biết cơ bản về đặc điểm sinh lý của lợn con Dưới đây, chúng ta cùng xem xét một số đặc điểm về sinh trưởng, tiêu hóa, khả năng điều tiết thân nhiệt và khả năng miễn dịch ở lợn con sơ sinh và sau cai sữa
Trang 132.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng
Sinh trưởng của lợn con tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều Giai đoạn theo mẹ có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất Sau đó, tốc độ sinh trưởng giảm ở 21 ngày tuổi khi lượng sữa mẹ tiết ra giảm Và ở tuần đầu tiên sau cai sữa, lợn con thường bị stress cai sữa nên tốc độ tăng trọng kém hoặc không tăng trọng nếu điều kiện chăm sóc, quản lý không tốt Trong 2 tuần đầu tiên sau cai sữa, lượng thức ăn thu nhận giảm khoảng 23%, tăng trọng giảm 49% [72] Người ta gọi đó là “khoảng hụt tăng trưởng sau cai sữa” Theo Black et al [36], tác động của “khoảng hụt tăng trưởng sau cai sữa” ở lợn thương phẩm đã làm giảm 25% lợi nhuận của các cơ sở chăn nuôi
Lợn con sau sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường, khối lượng lợn con ở 7 - 10 ngày tuổi đã tăng gấp 2 lần, 21 ngày tuổi gấp 4 lần, 30 ngày tuổi gấp 5 lần và đến
60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh [2] Theo Phạm Quang Hùng và cộng sự [14], thời kỳ lợn con theo mẹ có tốc độ tích luỹ protein là lớn nhất, trung bình mỗi kg khối lượng cơ thể có thể tích luỹ được 9 - 14g protein/ngày, trong khi đó, giai đoạn sau chỉ đạt 0,3 - 0,4g protein/ngày
Về mặt lý thuyết, lợn mới đẻ có khối lượng 1,5kg; cai sữa ở 28 ngày tuổi đạt 15kg và 60 ngày tuổi đạt 30kg Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, ở
28 ngày tuổi, lợn chỉ đạt 8kg và 25kg ở 60 ngày tuổi [8] Như vậy, năng suất của lợn con cai sữa thấp hơn so với tiềm năng di truyền của chúng
Khối lượng lợn cai sữa là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất chăn nuôi Khối lượng cai sữa càng lớn, nghĩa là lợn có tốc độ tăng trọng tốt trong giai đoạn theo mẹ thì tăng trọng của lợn các giai đoạn sau càng cao, rút ngắn được thời gian nuôi thịt Theo Vũ Duy Giảng và cộng sự [8], cứ chênh lệch nhau 1kg khối lượng cơ thể lúc cai sữa thì có thể chênh lệch nhau 4,1kg ở 133 ngày tuổi (đạt khối lượng cơ thể khoảng 100kg) Còn theo Varley [73], cứ tăng
Trang 14được 0,1kg khối lượng lợn lúc cai sữa hoặc chỉ với mức tăng trưởng 5 - 10g/ngày có thể rút ngắn được thời gian nuôi đến giết thịt là 1 ngày Do vậy, cần
có các biện pháp kỹ thuật tác động nhằm nâng cao khối lượng lợn con cai sữa
2.1.2 Đặc điểm về tiêu hoá
Sau khi sinh, bộ máy tiêu hoá của lợn con tiếp tục phát triển và hoàn thiện về chức năng Thời kỳ này, kích thước của bộ máy tiêu hoá, đặc biệt là dung tích và khối lượng của dạ dày, ruột tăng lên rất nhanh Ngoài ra, số lượng và hoạt lực của các enzyme trong đường tiêu hoá của lợn con cũng dần được hoàn thiện theo ngày tuổi
Bảng 2.1 Dung tích một số cơ quan đường tiêu hoá ở lợn theo ngày tuổi
Nguồn: Kvasnitskii (dẫn theo [3])
Tuyến tuỵ ở lợn 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, khối lượng của gan gấp 3 lần so với lúc mới sinh Lúc đầu, dạ dày chỉ nặng 6 - 8g, chứa được 35 - 50g sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần, khối lượng dạ dày đã tăng gấp 4 lần; 60 ngày tuổi đã nặng 150g và có khả năng chứa được 700 - 1000g sữa [35]
Trong 2 tuần đầu sau sinh, HCl tự do có được tiết ra nhưng lại nhanh chóng liên kết với niêm dịch dạ dày nên trong dạ dày của lợn con lúc này chưa có axit HCl dạng tự do Chính vì vậy, khả năng kháng khuẩn của lợn con hầu như không có Các vi sinh vật gây hại có điều kiện phát triển gây bệnh dạ dày - ruột, điển hình là bệnh lợn con ỉa phân trắng Ở điều kiện bình thường,
từ ngày thứ 25 trở đi, HCl tự do mới bắt đầu xuất hiện ở dạ dày nhưng với
Trang 15hàm lượng rất nhỏ, và phải đến 40 ngày tuổi, HCl mới phát huy tác dụng kháng khuẩn Để tăng cường sự tiết dịch vị và HCl ở lợn con, ta tập cho lợn con ăn sớm từ 5 - 7 ngày tuổi Nếu tập ăn bằng thức ăn dạng hạt từ 7 - 10 ngày tuổi thì từ ngày tuổi thứ 14, trong dạ dày lợn đã xuất hiện HCl [2]
Hàm lượng HCl có liên quan mật thiết đến độ pH trong dạ dày của lợn con Theo Jane Leibholz [52], pH dạ dày lợn con 28 ngày tuổi là 5,3 - 5,5; ở
56 ngày tuổi là 4,0 Còn theo Fed E.M (dẫn theo [35]), pH trong dạ dày của lợn con thấp hơn và thay đổi theo ngày tuổi
Bảng 2.2 Sự thay đổi pH trong dạ dày lợn con theo ngày tuổi
Độ pH dạ dày cũng phụ thuộc vào thành phần và tính chất của thức ăn tập ăn, thời gian bắt đầu cho lợn con tập ăn Độ pH trong dạ dày lợn có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ thuỷ phân propepsin thành pepsin hoạt động Khi độ
pH = 4,0 thì tốc độ thuỷ phân tương đối chậm, pH = 2,0 thì tốc độ tương đối nhanh, đồng thời hoạt tính của pepsin trở nên mạnh nhất khi pH dạ dày từ 2,0
- 3,5 [33]
Enzyme trong dịch vị đã có từ khi lợn con được sinh ra nhưng chưa có tác dụng phân giải thức ăn do thiếu chất hoạt hoá là HCl Trong 3 tuần tuổi đầu, lợn con chỉ có khả năng tiêu hoá cazein, các đường và chất béo trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng từ thức ăn cung cấp thêm là rất thấp
Hoạt lực của enzyme pepsin tăng lên rõ rệt theo ngày tuổi Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự [26], lợn con 9 ngày tuổi tiêu hoá 30mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2 - 3 giờ và đến 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ
Trang 16Hàm lượng các enzyme tiêu hoá tinh bột cũng tăng cao dần sau 4 - 5 tuần tuổi Khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con dưới 4 tuần tuổi chỉ đạt 50% lượng tinh bột ăn vào Ở tuần tuổi thứ 5 - 6, khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con là tương đối hoàn thiện Tuy nhiên, cần cung cấp cho lợn con thức ăn tinh bột ở dạng đã được làm chín để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá đồng thời hạn chế các yếu tố kháng dinh dưỡng
Lượng dịch vị tiết ra ở lợn con phụ thuộc vào từng thời điểm trong ngày Dịch vị tiêu hoá tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, do đó lợn con thường bú nhiều về đêm Đến gần cai sữa mới có sự cân bằng về tiết dịch vị, ban ngày 49% và ban đêm 51% [4]
* Sự biến đổi hình thái và chức năng của hệ thống lông nhung ruột
ở lợn con
Hệ thống lông nhung ở niêm mạc ruột non là nơi diễn ra quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại những hốc nhỏ (hốc crypt), nơi dịch ruột và các chất lỏng khác được tiết vào khoang ruột Ở những lợn con khoẻ mạnh, chiều cao của lông nhung dài gấp 3 - 4 lần chiều sâu của các hốc crypt
Chiều cao của lông nhung có liên quan trực tiếp đến diện tích bề mặt hấp thu của niêm mạc ruột Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ mối tương quan khá chặt chẽ giữa chiều cao lông nhung với tốc độ sinh trưởng của lợn con sau cai sữa Hệ số tương quan r = 0,63 [57]; r = 0,78 [67]
Lợn con khi cai sữa thường dễ bị stress, làm giảm lượng thức ăn thu nhận, gây ra tình trạng đói dinh dưỡng tạm thời trong đường tiêu hoá, từ đó dẫn đến biến đổi hình thái của niêm mạc ruột trong tuần đầu tiên sau cai sữa Ngoài ra, trong sữa lợn mẹ có axit amin glutamine, loại axit amin cần thiết quyết định sự phát triển của hầu hết các mô và tế bào [65] Glutamine là nguồn năng lượng quan trọng đối với sự phát triển các tế bào ruột trong suốt
Trang 17thời kỳ bú sữa [69], [77] Do đó, khi cai sữa sẽ dẫn đến sự thiếu hụt glutamine Đây cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tế bào niêm mạc ruột của lợn con
Theo Pluske J.R [68], hình thái lông nhung ruột thay đổi rõ nét ở lợn con cai sữa sớm 14 - 28 ngày Theo Lindermann và cộng sự [58], chiều cao của lông nhung giảm 30 - 65% ở lợn con cai sữa lúc 21 ngày và 27% ở lợn con cai sữa lúc 35 ngày Còn theo Hampson D.J [48] đã báo cáo, so với lợn con trước cai sữa, chiều cao của lông nhung giảm 75% sau 24 giờ cai sữa (lợn được cai sữa ở 21 ngày tuổi) Sau 5 ngày cai sữa, chiều cao lông nhung giảm 50% Và sau 5 - 8 ngày cai sữa, chiều cao của các lông nhung ruột non mới bắt đầu được phục hồi
2.1.3 Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt
Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh nhiệt và toả nhiệt của cơ thể, đặc biệt đối với lợn con Có thể coi đó là một chỉ tiêu ảnh hưởng đến đặc điểm và chức năng của cơ quan điều tiết thân nhiệt
Trong tuần lễ đầu tiên, thân nhiệt của lợn con phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ môi trường Lúc mới sinh, thân nhiệt lợn con là 38,5 - 390C, nhiệt độ tiêu chuẩn tới hạn là 33 - 350C Khả năng điều hoà thân nhiệt của lợn con sơ sinh là rất kém, và tăng chậm từ khi sinh đến 2 tuần tuổi
Sau khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con sẽ giảm dần xuống tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi 30 giây sau đẻ, lượng nước trong cơ thể lợn con giảm 1,2 - 2%, thân nhiệt giảm từ 5 - 100C Khi nhiệt độ ngoại cảnh là 55
- 750F thì thân nhiệt lợn con có thể bị giảm từ 3 - 120F sau 1 giờ và sau 1 giờ nữa, thân nhiệt của chúng mới trở lại bình thường Nếu nhiệt độ môi trường <
550F thì sau 2 ngày, lợn con mới điều hoà thân nhiệt trở lại bình thường Nếu xuống dưới 250F thì phải mất 10 ngày sau, thân nhiệt lợn con mới ổn định trở lại [35] Còn theo Vũ Duy Giảng và cộng sự [8], nhiệt độ trực tràng giảm 20C
Trang 18nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180C và giảm 50C nếu nhiệt độ chuồng nuôi là
110C Thân nhiệt lợn con chỉ trở lại bình thường sau 24 giờ
Nhiệt độ trong chuồng quá lạnh còn cản trở đến quá trình bú sữa đầu của lợn con Lợn sống trong chuồng có nhiệt độ 18 - 200C, tiêu thụ sữa đầu giảm 27% so với chuồng có nhiệt độ 30 - 320C
Khi thân nhiệt xuống dưới 32 - 330C, lợn con mất khả năng điều hoà thân nhiệt Hai ngày đầu sau sinh, nhiệt độ môi trường ở mức 5 - 60C, lợn con
sẽ bị mất nhiệt nhanh chóng và chết do lạnh Có thể coi chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp gây tỷ lệ tử vong cao ở lợn con theo mẹ, nhất là khi mới sinh Tỷ lệ chết là 12,1% nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 20 - 250C so với 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 250C
Do đó, giữ ấm trong chuồng nuôi là một biện pháp quan trọng trong chăn nuôi lợn con Có thể sử dụng đèn sưởi (bóng đèn đỏ công suất từ 100W hoặc bóng đèn hồng ngoại 250W), khoảng cách đèn được điều chỉnh phù hợp, cách 50 - 70cm tính từ nền chuồng Nhiệt độ phù hợp tại khu vực lồng sưởi của lợn con là 32 - 350C Ngoài ra, còn phải đảm bảo khu vực chuồng nuôi tránh được gió lùa, mưa tạt
2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Ở lợn con, khả năng miễn dịch là thụ động Cơ thể lợn con mới sinh không có kháng thể, kháng thể này được truyền vào cơ thể khi cho lợn con bú sữa đầu Hàm lượng kháng thể trong máu lợn con lúc này phụ thuộc vào sự hấp thu sữa đầu nhiều hay ít Sữa đầu có hàm lượng dinh dưỡng cao, rất giàu vitamin và kháng thể Hàm lượng γ-globulin chiếm 34,06%, α-globulin chiếm 12,7%, albumin chiếm 11,48% lượng protein sữa đầu Các protein này đóng vai trò miễn dịch quan trọng ở lợn con
Nếu được bú sữa đầu, sau 24 giờ, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con có thể đạt tới 20,3mg/100ml máu, đến 3 tuần tuổi đạt 24mg/100ml máu
Trang 19[14] Từ 3 - 4 tuần tuổi, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con giảm xuống
do nguồn kháng thể cung cấp từ sữa lợn mẹ không còn, khả năng tự tổng hợp kháng thể của lợn con chưa hoàn thiện Theo Liu Xing và Feng Jie [33], 97% IgA, IgM và IgG trong kháng thể từ nguồn sữa mẹ lần lượt bị tiêu hủy thông qua trao đổi chất ở 15, 23, 60 ngày tuổi Đến 5 tuần tuổi, cơ thể lợn con bắt đầu có đáp ứng miễn dịch chủ động, hàm lượng γ-globulin lại tăng lên, đạt mức 65mg/100ml máu Chính vì vậy, việc tìm ra cách thức để tạo dựng hệ thống miễn dịch cho lợn con là đặc biệt quan trọng [40]
Khi mới sinh, khoảng cách giữa các tế bào vách ruột lợn con là rất lớn, cho phép các phân tử có kích thước to đi qua được dễ dàng Ngoài ra, trong sữa đầu của lợn mẹ có chất kháng trypsin, làm mất hoạt lực của enzyme trypsin do tuyến tuỵ tiết ra Nhờ đó, lợn con có thể hấp thu nguyên vẹn phân
tử γ-globulin Lúc này, sự hấp thu γ-globulin theo phương thức ẩm bào
Tuy nhiên, khả năng hấp thu kháng thể của lợn con giảm dần theo thời gian Khả năng này giảm nhanh trong vòng 24 - 30 giờ sau đẻ Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự [26], sau đẻ 4, 6, 12, 20 giờ, khả năng hấp thu kháng thể giảm dần, tương ứng là 25, 20, 17, 12%
Do vậy, sau đẻ từ 1 - 2 giờ, cần cho lợn con bú ngay sữa đầu và duy trì
cữ bú cho lợn con Việc bú sữa đầu lúc này có rất nhiều ích lợi Cho lợn con
bú ngay sữa đầu kích thích lợn mẹ tiếp tục đẻ, giúp tăng thân nhiệt đồng thời cung cấp lượng lớn kháng thể và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON
Nguyên tắc quan trọng khi xây dựng khẩu phần là phải đảm bảo được
sự cân bằng các chất dinh dưỡng cho từng giai đoạn vật nuôi, khối lượng, tính biệt Các chất dinh dưỡng đó là năng lượng, protein và axit amin, các chất khoáng và vitamin
Trang 20Mỗi giai đoạn sinh trưởng của lợn đòi hỏi một nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến nhu cầu dinh dưỡng của lợn con giai đoạn theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa
2.2.1 Nhu cầu về năng lượng
Năng lượng là một trong ba thành phần chiếm chi phí cao nhất khi xây dựng khẩu phần ăn cho lợn Nói chung, lợn cần năng lượng cho duy trì, sản xuất và sinh sản Giá trị năng lượng thức ăn cũng như nhu cầu năng lượng cho lợn thường được biểu thị theo năng lượng tiêu hoá (DE) hay năng lượng trao đổi (ME) Nhiều tác giả đã đưa ra cách ước tính giá trị năng lượng, trong đó, đáng chú ý là công thức của Bo Gohl đưa ra năm 1982 và công thức của Lã Văn Kính năm 2003
Theo Bo Gohl (dẫn theo [8]), giá trị năng lượng DE hoặc ME được ước tính bằng công thức sau:
DE (kcal/kg) = 5,78X1 + 9,42X2 + 4,4X3 + 4,07X4
ME (kcal/kg) = 5,01X1 + 8,93X2 + 3,44X3 + 4,08X4 X1, X2, X3 và X4 lần lượt là protein thô tiêu hoá, chất béo tiêu hoá, xơ thô tiêu hoá và chiết chất không nitơ tiêu hoá tính bằng g/kg thức ăn
Lã Văn Kính (dẫn theo [8]) đề nghị sử dụng công thức:
DE (kcal/kg) = 52,8 CP + 69,7 EE - 11,5 CF + 34,7 NFE + K
ME (kcal/kg) = 46,6 CP + 65,9 EE - 12,4 CF + 34,6 NFE +K
CP, EE, CF và NFE lần lượt là protein thô, chất béo, xơ thô và chiết chất không nitơ tính bằng g/kg thức ăn; K là hệ số điều chỉnh (ví dụ K = +150 (hiệu chỉnh cho DE) và K = +161 (hiệu chỉnh cho ME)
Các công thức đề nghị của Lã Văn Kính có ưu điểm là không cần xác định thành phần dinh dưỡng ở dạng tiêu hoá, giúp giảm được nhiều công sức
và thời gian thí nghiệm So với công thức của Bo Gohl, các công thức này có sai số, tuy nhiên sai số không lớn Ví dụ, ngũ cốc và phụ phẩm của ngũ cốc có sai số thấp nhất là 0,7% và cao nhất 3,8% [8]
Trang 21Con vật ăn trước hết là để thoả mãn nhu cầu năng lượng Khi nồng độ năng lượng khẩu phần thấp, lượng thức ăn thu nhận tăng lên và ngược lại, nồng độ năng lượng khẩu phần cao, lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm Tuy nhiên, nếu nồng độ năng lượng khẩu phần dưới 9MJ DE/kg hoặc trên 15MJ DE/kg thì lợn không có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn thu nhận phù hợp với nhu cầu năng lượng của chúng [10] Vì vậy, đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho vật nuôi là công việc đầu tiên khi tính toán, xây dựng khẩu phần
Nhu cầu năng lượng cho gia súc đang sinh trưởng phụ thuộc vào thành phần và tốc độ tích luỹ các chất trong cơ thể, đặc biệt là tốc độ tích luỹ protein
và tốc độ tích luỹ mỡ
Theo Nguyễn Thiện và cộng sự [28], năng lượng cần cho tích luỹ protein trong cơ thể dao động từ 7,1 đến 14,6 Mcal DE/kg, trung bình là 12,6 Mcal DE/kg Năng lượng cần cho tích luỹ mỡ từ 9,5 đến 16,3 Mcal DE/kg, trung bình là 12,5 Mcal DE/kg
Với lợn con, nhu cầu về năng lượng chủ yếu là cho duy trì và tăng trưởng Ngày đầu tiên sau khi sinh, 1 lợn con nặng 1kg cần khoảng 900 đến 1.000KJ [3] Năng lượng này được đáp ứng từ năng lượng dự trữ trong cơ thể
và trong sữa đầu Tuy nhiên, năng lượng dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, chỉ khoảng 420KJ/kg khối lượng sơ sinh Vì vậy, lợn con phải hấp thu được khoảng 160g sữa đầu trên 1kg khối lượng sơ sinh để sống
Khả năng tiêu hoá chất béo của lợn con tăng từ 69% trong tuần đầu sau cai sữa lên tới 88% ở tuần thứ 4 Vì vậy, trong 2 tuần đầu sau khi cai sữa, lượng chất béo bổ sung nên hạn chế ở mức 2 - 3% khẩu phần, sau đó, từ tuần thứ 3 - 4, tỷ lệ chất béo trong khẩu phần có thể tăng lên 4 - 5%
Nhu cầu năng lượng ở lợn con tăng lên theo tuần tuổi Từ tuần tuổi thứ
3, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần, trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của lợn con lại tăng nhanh, vì vậy, cần bổ sung năng lượng ngoài nguồn sữa mẹ cho
Trang 22lợn con Khi được 3 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chỉ cần khoảng 5%, nhưng ở 5 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chiếm tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn con [5]
Thức ăn cung cấp năng lượng là thành phần chính trong khẩu phần của lợn Lợn con đòi hỏi nguồn thức ăn giàu năng lượng và dễ tiêu Thức ăn cung cấp năng lượng cho lợn con từ 2 nguồn chính là các hạt ngũ cốc và dầu, mỡ
Các hạt ngũ cốc chứa nhiều tinh bột, có khả năng tiêu hoá cao và ngon miệng Điểm hạn chế của chúng là thành phần axit amin không cân đối Ngô thường được lựa chọn để phối hợp khẩu phần cho lợn con 1kg ngô hạt có 3.200 - 3.300 Kcal ME Ngô chứa 65% tinh bột, tỷ lệ xơ thấp, tỷ lệ chất béo tương đối cao, 4 - 6% [6]
Dầu và mỡ có năng lượng trao đổi cao hơn các loại hạt ngũ cốc khoảng 2,25 lần (tính trên cùng đơn vị khối lượng) Nếu bổ sung 1% dầu hoặc mỡ vào khẩu phần sẽ làm giảm 2% tiêu tốn thức ăn [23] Ngoài ra, bổ sung dầu hoặc
mỡ còn giúp làm giảm độ bụi, giảm hao hụt trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, dầu và mỡ thường khó bảo quản, dễ bị ôi, làm giảm tính ngon miệng
và khả năng tiêu hoá nên cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề này trong sản xuất thức ăn cho lợn con
2.2.2 Nhu cầu về protein và các axit amin
Protein liên quan đến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc Trong chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để xác định hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, khẩu phần của lợn cần đảm bảo đủ protein, đặc biệt là
sự cân đối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình tạo nạc tối đa
Theo Võ Trọng Hốt [13], khoảng 15% khối lượng cơ thể là protein, trong đó 6 - 13% protein được chu chuyển hàng ngày để duy trì Trong quá trình chu chuyển, có 6% protein bị mất đi Hàm lượng protein chu chuyển hàng ngày tỷ lệ nghịch với sự phát triển và khối lượng cơ thể lợn, nghĩa là lợn càng
Trang 23lớn, khối lượng cơ thể càng cao thì hàm lượng protein chu chuyển càng giảm
Có thể căn cứ vào hàm lượng protein chu chuyển để xác định nhu cầu protein cho duy trì thông qua hệ số nhu cầu duy trì Ví dụ lợn 20kg có 13% lượng protein chu chuyển hàng ngày, hệ số nhu cầu duy trì là 0,0012 (= 0,15 x 0,13 x 0,06) Nhu cầu protein cho duy trì là 24g protein/ngày (= 0,0012 x 20 x 1.000)
Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120 - 130g protein tiêu hoá/đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu phần
là 17 - 19% [2]
Protein được tổng hợp từ các axit amin Thứ tự nối tiếp nhau của các axit amin tạo nên cấu trúc sơ cấp của protein Do đó, dinh dưỡng protein có nghĩa là dinh dưỡng axit amin Trong quá trình tiêu hoá, protein từ thức ăn sẽ được phân giải thành các axit amin và được hấp thu vào máu Các axit amin này sẽ được cơ thể tổng hợp nên protein đặc hiệu của mô và tế bào Một phần các axit amin được sử dụng để tạo năng lượng Phần axit amin dư thừa sẽ bị bài xuất ra khỏi cơ thể
Ở lợn sinh trưởng, có 10 axit amin quan trọng mà cơ thể không tự tổng hợp được, đó là: lysine, methionine, tryptophan, threonine, isoleucine, valine, leucine, histidine, arginine và phenylalnine Các axit amin này được cung cấp
từ nguồn thức ăn bên ngoài hoặc từ các axit amin công nghiệp
Những axit amin có mặt trong khẩu phần ăn với số lượng ít nhất nhưng
có vai trò quan trọng đối với cơ thể được gọi là axit amin giới hạn thứ nhất Thức ăn hạt ngũ cốc có axit amin giới hạn thứ nhất là lysine; thức ăn hạt đậu tương là methionine Do đó, khi xây dựng khẩu phần cho lợn sinh trưởng, cần phải bổ sung thêm các axit amin công nghiệp Theo Tanksley T.D và cộng sự [25], bất cứ khẩu phần nào cung cấp đầy đủ số lượng 3 loại axit amin là lysine, tryptophan, threonine thì sẽ cung cấp đầy đủ các loại axit amin cần thiết khác để có tăng trọng tối ưu
Trang 24Các axit amin thiết yếu không thể được tổng hợp bởi động vật mà phải được cung cấp thông qua thức ăn (trong khi đó axit amin không thiết yếu được tổng hợp từ các axit amin thiết yếu) Các protein trong cơ thể được tạo nên từ chuỗi của các axit amin Như là một hệ quả, các axit amin thiết yếu được yêu cầu với tỷ lệ nhất định để phù hợp với sự cân bằng cho nhu cầu cho việc tổng hợp protein cơ thể Bằng cách giảm hàm lượng protein có trong thức ăn và duy trì hàm lượng các axit amin thiết yếu tại mức đủ nhu cầu của động vật, ta có thể làm giảm lượng nitơ thải ra qua phân, tránh gây ô nhiễm môi trường
Sự cân bằng của các axit amin trong khẩu phần là rất cần thiết vì nếu thiếu một trong các axit amin nói trên đều dẫn đến sự thiếu hụt protein của cơ thể đồng thời gây lãng phí các axit amin khác Theo D’Mello (dẫn theo [56]), mất cân bằng axit amin làm giảm lượng thức ăn thu nhận ở gia súc non và có ảnh hưởng đến hiệu quả hấp thu của axit amin giới hạn thứ nhất
Người ta thường dựa vào nhu cầu lysine (axit amin giới hạn thứ nhất)
để tính toán nhu cầu các axit amin khác Theo Baker (dẫn theo [34]), nếu coi
tỷ lệ lysine là 100% thì tỷ lệ methionine là 30%; methionine + cystine là 60%; threonine là 58%; tryptophan là 15% Còn theo NRC (1998) [12], tỷ lệ methionine là 26%; methionine + cystine là 56,5%; threonine là 64,3%; tryptophan là 18,2% Boomgaardt và Baker (dẫn theo [53]) cho rằng, nhu cầu lysine cho tăng trọng tối đa chiếm khoảng 4,7% mức protein khẩu phần Theo đó, ở các mức protein là 14, 18 và 23% thì nhu cầu lysine tương ứng là 0,66; 0,88 và 1,05%
Sự lợi dụng protein chịu ảnh hưởng bởi kiểu di truyền, tình trạng sức khoẻ vật nuôi và quan trọng nhất là đặc tính của thức ăn Do đó, cùng với năng lượng, nhóm thức ăn cung cấp protein cũng chiếm chi phí cao trong
Trang 25khẩu phần Protein trong khẩu phần lợn con phải đảm bảo được tính dễ tiêu,
dễ hấp thu hay nói cách khác là phải có giá trị sinh học cao
Nguồn cung cấp protein trong thức ăn của lợn con chủ yếu là bột cá chất lượng cao, các loại bột sữa, khô đậu tương Các protein có nguồn gốc động vật thường được ưu tiên sử dụng vì protein có nguồn gốc thực vật thường gây phản ứng trong ruột lợn con, ảnh hưởng tới quá trình tiêu hoá thức ăn
Bột cá có hàm lượng protein cao, tỷ lệ các axit amin cân đối, làm tăng tính ngon miệng Chất lượng của các loại bột cá trên thị trường hiện nay rất khác nhau Đáng chú ý là hàm lượng protein và hàm lượng muối (NaCl) Do lợi ích kinh tế, nhiều cơ sở sản xuất đã pha trộn thêm các chất khác như bột lông vũ, bột thịt xương, urê làm giảm giá trị thực của bột cá Ngoài ra, ở Việt Nam, cá trước khi chế biến được bảo quản bằng phương pháp ướp muối nên bột cá thường có hàm lượng muối tương đối cao Vì vậy, cũng cần chú ý đến hàm lượng muối khi phối trộn khẩu phần
Các loại bột sữa có đặc tính gần giống với sữa mẹ nên thường được ưu tiên lựa chọn trong sản xuất thức ăn cho lợn con Tuỳ theo phương pháp chế biến, hàm lượng protein và đường lactose trong các loại bột sữa rất khác nhau Hàm lượng protein dao động từ < 10 - > 40% Hàm lượng lactose dao động từ < 50 - > 70% Protein của bột sữa có thành phần axit amin rất cân đối nên thích hợp trong các khẩu phần lợn con tập ăn và kể cả lợn sau cai sữa nếu giá cả thích hợp [20]
Ngoài hai nhóm cung cấp protein động vật nói trên, khô đậu tương được coi là nguồn cung cấp đạm thực vật rất có giá trị Trong hạt đậu tương
có một số yếu tố phi dinh dưỡng như saponine, isoflavon, chất kìm hãm trypsine, hemaglutinine sẽ làm giảm sự hấp thu protein thức ăn [28] Tuy nhiên, những chất này bị phá huỷ dưới tác dụng của nhiệt độ Vì vậy, đậu tương phải được xử lý đúng kỹ thuật trước khi sử dụng làm thức ăn cho lợn
Trang 26nhằm phát huy tối đa hiệu quả dinh dưỡng và không gây độc Khô đậu tương tách vỏ có hàm lượng xơ thấp, tỷ lệ tiêu hoá cao nên được ưu tiên sử dụng trong sản xuất thức ăn cho lợn con
* Mối quan hệ giữa năng lượng, protein và khả năng sinh trưởng của lợn con
Mọi quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể đều cần có năng lượng Quan hệ giữa protein và năng lượng càng cân đối thì hiệu quả sử dụng thức
ăn, năng suất và chất lượng sản phẩm càng cao Khẩu phần giầu protein nhưng nghèo năng lượng làm giảm tốc độ sinh trưởng và năng suất vật nuôi, hiệu quả sử dụng thức ăn kém
Khi cân đối khẩu phần, chúng ta cần quan tâm đến tỷ lệ năng lượng/protein thô hay nói chính xác hơn là tỷ lệ năng lượng/lysine
Theo NRC [12], lợn từ 5 - 10kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein thô là 23,7%, tỷ lệ năng lượng/protein thô là 137,76; lợn từ 10 - 20kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein là 20,9%, tỷ lệ năng lượng/protein thô là 156,22
Cũng theo NRC [12], số gam lysine tổng số trên 1Mcal ME đối với lợn
từ 3 - 5kg là 4,59; lợn từ 5 - 10kg là 4,13 và lợn từ 10 - 20kg là 3,52 Kết quả nghiên cứu của Lã Văn Kính và cộng sự (dẫn theo [8]) trên lợn con sau cai sữa từ 28 - 63 ngày tuổi cho thấy, khẩu phần có mức lysine g/MJ DE từ 1 - 1,1 (tỷ lệ % của methionine, methionine + cystine, threonine và tryptophan so với lysine lần lượt là 40, 57, 63 và 18) cho tăng trọng và FCR tốt nhất, 358g/ngày và 1,48kg thức ăn/kg tăng trọng; các mức lysine g/MJ DE là 0,8 - 0,9 chỉ cho tăng trọng 309 và 305g/ngày, FCR là 1,73 kg thức ăn/kg tăng trọng (hỗn hợp thức ăn có nồng độ năng lượng là 15 - 16 MJ DE/kg (tương đương 3.406 và 3.632 kcal ME/kg)
Tỷ lệ lysine/năng lượng có ảnh hưởng đến tốc độ tích luỹ protein (PDR) ở lợn Tốc độ tích luỹ protein là số đo quan trọng biểu thị tăng trưởng
Trang 27của mô nạc thân thịt lợn Do đó, đây được coi là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay
Bảng 2.3 Nhu cầu lysine và một số axit amin khác tính theo PDR
Axit amin (g/ngày)
Nguồn: Con lợn ở Việt Nam [8]
Tốc độ tích luỹ protein của lợn 14 - 21 ngày tuổi vào khoảng 20 - 30g/ngày, sau đó tăng nhanh và đạt tối đa khi lợn được 100 ngày tuổi Con đực thường có tốc độ tích luỹ protein cao hơn so với con cái, giống cải tiến cao hơn so với giống chưa cải tiến Căn cứ vào quy luật tích luỹ protein nói trên, người ta tính toán thời gian nuôi đến khi giết thịt nhằm đạt hiệu quả chăn nuôi cao nhất
Mức lysine/DE (g/MJ) tối ưu đối với lợn là 0,95 - 1,05 Với tỷ lệ này, tốc độ tích luỹ protein đạt 170 - 175g/ngày (dẫn theo [8])
Khi nồng độ năng lượng trong khẩu phần tăng lên, thu nhận thức ăn giảm, do đó cần tính toán lại nhu cầu các chất dinh dưỡng khác nhằm đảm bảo tỷ lệ giữa năng lượng và các chất dinh dưỡng là tối ưu
Hồ Thị Phương Thảo [27] đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ protein và năng lượng lên năng suất của lợn con giống
Trang 28Yorkshire từ 7 - 60 ngày tuổi Giai đoạn lợn con theo mẹ từ 7 - 24 ngày tuổi: hai mức độ protein (24% và 22%) và năng lượng (14,3MJ/kg và 13,3 MJ/kg) Giai đoạn heo con cai sữa từ 24 - 60 ngày tuổi: hai mức độ protein (22% và 20%) và năng lượng (14,3MJ/kg và 13,3 MJ/kg) Thí nghiệm đã chỉ ra rằng, mức độ protein và năng lượng khác nhau không ảnh hưởng đến tăng trọng và thu nhận thức ăn của lợn từ 7 - 24 ngày tuổi Còn đối với lợn từ 24 - 60 ngày tuổi, khẩu phần có năng lượng cao hơn cho tăng trọng, thu nhận thức ăn cao hơn (P = 0,05)
2.2.3 Nhu cầu về khoáng chất
Chất khoáng đảm nhận chức năng cấu tạo và nhiều chức năng sinh lý khác trong cơ thể động vật Cơ thể lợn có trên 20 loại chất khoáng, trong đó
có 10 loại cần thường xuyên được bổ sung vào khẩu phần Tuỳ theo số lượng
có trong khẩu phần, người ta chia chất khoáng thành hai nhóm
- Nhóm khoáng đa lượng: Canxi, phốt pho, natri, clo
- Nhóm khoáng vi lượng: Sắt, kẽm, iốt, selen, đồng, mangan
a, Canxi (Ca) và phốt pho (P)
Khoảng 99% canxi và 80% phốt pho trong cơ thể tồn tại ở xương và răng Ngoài chức năng cấu tạo nên bộ khung của cơ thể, canxi còn tham gia vào quá trình đông máu và co cơ; phốt pho có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi và chuyển hoá năng lượng
Thiếu hay thừa canxi, phốt pho đều ảnh hưởng đến vật nuôi Thiếu canxi, xương phát triển không bình thường, lợn có hiện tượng còi xương Thiếu phốt pho làm giảm sinh trưởng, rối loạn trao đổi và chuyển hoá năng lượng, giảm hiệu suất lợi dụng thức ăn Tuy nhiên, thừa canxi trên 1% so với nhu cầu sẽ làm giảm sự hấp thu kẽm, dẫn đến các bệnh về da, lông
Lợn con có tốc độ sinh trưởng mạnh, đây là giai đoạn tập trung cho phát triển hệ cơ xương nên đòi hỏi nhu cầu về canxi và phốt pho cao Tỷ lệ
Trang 29canxi và phốt pho trong khẩu phần phải cân đối để tăng khả năng hấp thu Tỷ
lệ tối ưu Ca/P trong khẩu phần là 1/1 đến 1,3/1 Với tỷ lệ này, tỷ lệ hấp thu P
là 40 - 45% Nếu tỷ lệ Ca/P lớn hơn 3/1 sẽ làm giảm hấp thu của phốt pho Tỷ
lệ Ca/P là 5/1 thì tỷ lệ hấp thu P giảm còn 36%
Các loại thức ăn tự nhiên thường thiếu một hoặc cả hai nguyên tố trên hoặc có tỷ lệ Ca/P không cân đối Ví dụ, trong cám gạo, tỷ lệ Ca/P là 1/20, trong gạo là 1/7 Nguồn phốt pho từ thức vật chủ yếu tồn tại dưới dạng phytate, chiếm từ 1/3 đến 2/3 phốt pho tổng số Phytate là một dạng phức hợp chất hữu
cơ của axit phytic và có những liên kết bền vững Ở dạng này, giá trị sinh học của các nguyên tố khoáng rất thấp (dẫn theo [31]) Do đó, khi cân đối khẩu phần, người ta thường quan tâm đến tỷ lệ canxi và phốt pho tiêu hoá được
b, Natri (Na) và Clo (Cl)
Chức năng chính của natri và clo là tham gia vào quá trình duy trì áp suất thẩm thấu của cơ thể Thiếu natri và clo gây hiện tượng chán ăn làm giảm sinh trưởng, giảm năng suất của vật nuôi
Natri và clo được cung cấp một phần từ thức ăn tự nhiên, còn phần chính là từ muối ăn Nhu cầu muối trung bình cho các loại lợn là 0,5% Trong khẩu phần lợn, tỷ lệ muối cao hơn có thể được chấp nhận nếu cung cấp đầy
đủ nước uống cho lợn Tuy nhiên, lượng muối trong khẩu phần không nên vượt quá 1,5% Nếu thiếu nước, tỷ lệ muối 2% gây nên hiện tượng trúng độc thần kinh, lợn yếu, đi lảo đảo, và có thể chết
c, Sắt (Fe) và đồng (Cu)
Sắt và đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu, là thành phần của nhiều enzyme trong cơ thể Thiếu sắt và đồng sẽ gây thiếu máu, lợn còi cọc, giảm tăng trọng
Cơ thể lợn con mới sinh có khoảng 50 - 70mg Fe, nhu cầu mỗi ngày là 15mg Fe, trong khi đó, sữa lợn mẹ chỉ cung cấp được 1mg Fe/ngày Vì vậy,
Trang 30lợn con sơ sinh rất dễ bị thiếu sắt nếu không được cung cấp kịp thời Để khắc phục hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt ở lợn sơ sinh, người ta tiến hành tiêm
bổ sung sắt vào ngày tuổi thứ 3 Sắt được bổ sung cho lợn con dưới dạng dextran sắt hoặc gleptoferron, liều 100 - 200mg/lần tiêm Chỉ cần tiêm sắt một lần duy nhất giúp đảm bảo đủ nhu cầu sắt cho lợn con đến 35 ngày tuổi Sau cai sữa, nhu cầu sắt được đáp ứng từ khẩu phần ăn hàng ngày
Ngoài chức năng vận chuyển sắt, đồng còn có tác dụng kích thích sinh trưởng ở động vật nuôi Theo Bolstedt G (1951) [37], có thể bổ sung đồng dưới dạng đồng sulfate vào trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa với mức 10mg/kg thức ăn Còn theo Nguyễn Quế Côi [2], chỉ cần bổ sung một lượng đồng rất nhỏ trong khẩu phần lợn con, khoảng 6 - 8ppm, cũng có tác dụng kích thích sinh trưởng Đối với lợn con theo mẹ, có thể bổ sung vào khẩu phần với lượng từ 125 - 250ppm cho tốc độ sinh trưởng cao hơn Khi bổ sung đồng trong khẩu phần, cần chú ý trộn thật đều, tránh tập trung một lượng đồng quá lớn dễ gây ngộ độc cho lợn
d, Kẽm (Zn)
Kẽm được tìm thấy ở tất cả các mô bào, là thành phần quan trọng của trên 200 loại enzyme trong cơ thể Các enzyme này tham gia vào quá trình trao đổi chất của protein, carbonhydrate và chất béo; quá trình tổng hợp, dự trữ và tiết ra các hormon liên quan đến hệ miễn dịch cũng như giữ cân bằng điện giải Thiếu kẽm sẽ gây các bệnh về da, làm giảm tính ngon miệng, tăng tiêu tốn thức ăn, sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản
Bổ sung kẽm trong thức ăn giúp cải thiện tăng trọng và khả năng thu nhận thức ăn của lợn con Theo Lei Nin Li và Xiong Dai Jun [19], với 3.000mg/kg oxit kẽm có thể nâng cao 15 - 22% tăng trọng ngày, 9,5 - 14% lượng thức ăn thu nhận
Trang 31Đa số kẽm trong hạt cốc và các loại hạt có dầu đều ở dạng phytate, làm giảm hàm lượng kẽm cung cấp cho cơ thể Có thể bổ sung thêm kẽm trong khẩu phần dưới dạng oxit, sulfate hay carbonate kẽm Khi hàm lượng kẽm vượt quá 2g trong 1kg vật chất khô thức ăn sẽ gây độc cho lợn [7]
e, Các nguyên tố vi lượng khác
Hàm lượng iốt trong cơ thể gia súc rất thấp, chỉ khoảng 0,6mg/1kg khối lượng cơ thể nhưng lại có vai trò rất quan trọng Iốt là thành phần không thể thiếu trong hormon thyroxin của tuyến giáp trạng Đây được coi là hormon sinh trưởng, giúp tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng tiêu thụ oxy của mô bào, kích thích các phản ứng sinh hoá trong tất cả các cơ quan Thiếu iốt gây bệnh cổ to, làm giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi
Selen là thành phần của enzyme giúp chống oxy hoá thành tế bào Mức
bổ sung cho lợn cai sữa là 0,3ppm Thiếu hay thừa selen đều có ảnh hưởng không tốt đến cơ, gan, tim và có thể gây chết Hàm lượng selen từ 5 - 8ppm
sẽ gây trúng độc
Trong dinh dưỡng vật nuôi, cũng cần quan tâm đến hàm lượng mangan Mangan có trong thành phần của một số enzyme liên quan đến quá trình trao đổi năng lượng, hình thành xương và sinh sản Thiếu mangan ở lợn con dẫn đến sinh trưởng kém, chân cong hoặc què chân Nhu cầu mangan đối với lợn đến nay vẫn chưa có số liệu chính xác
Tóm lại, các nguyên tố khoáng có vai trò nhất định trong cơ thể Giữa chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, có thể làm tăng hoặc giảm khả năng hấp thu của một hay nhiều nguyên tố khác Đồng thời, việc thiếu hay thừa khoáng đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể vật nuôi, làm giảm khả năng sinh trưởng, từ đó dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi Vì vậy, khi cân đối khẩu phần, cần tính toán bổ sung hợp lý các nguyên tố khoáng nhằm tạo hiệu quả hấp thu tối ưu nhất
Trang 322.2.4 Nhu cầu về vitamin
Vitamin được coi như một chất xúc tác sinh học tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi chất và mọi hoạt động của cơ thể Chỉ với một lượng rất nhỏ, vitamin giúp cho vật nuôi sinh trưởng và phát triển bình thường, nâng cao sức đề kháng của cơ thể Một số vitamin có thể tự tổng hợp được trong cơ thể lợn, đáp ứng đủ nhu cầu hàng ngày Một số khác được cung cấp từ thức
ăn Tuy nhiên, trong quá trình chế biến và bảo quản thức ăn, giá trị của vitamin bị giảm đi rất nhiều Do đó, cần phải bổ sung thêm vitamin vào khẩu phần nhằm tạo năng suất tối ưu
Có khoảng hơn 15 loại vitamin được coi là thành phần không thể thiếu trong khẩu phẩn ăn cho gia súc, gia cầm Chúng được chia làm hai nhóm:
- Nhóm vitamin hoà tan trong dầu mỡ: Vitamin A, D, E, K
- Nhóm vitamin hoà tan trong nước: Vitamin C, vitamin nhóm B
Tiền chất của vitamin A là β-caroten β-caroten có nhiều trong thực vật
và được chuyển hoá thành vitamin A trong thành ruột lợn Tuy nhiên, lợn con dưới 10 ngày tuổi không có khả năng này Ở 20 ngày tuổi, lợn con có thể chuyển hoá được khoảng 25 - 30% β-caroten thành dạng vitamin A hoạt động Lượng vitamin A nói riêng và các vitamin cần thiết khác được cung cấp cho lợn con sơ sinh từ sữa mẹ Sữa lợn mẹ hầu như đã đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vitamin cho lợn con [2] Trong sữa đầu, hàm lượng vitamin A cao gấp 6 lần so với sữa thường, do đó, cần cho lợn con bú sữa đầu
Thức ăn thực vật cung cấp nhiều vitamin A dưới dạng β-caroten Ngô hạt, một loại thức ăn chiếm số lượng lớn trong khẩu phần lợn cũng có nhiều
Trang 33β-caroten nhưng không có giá trị nhiều do phần lớn β-caroten thường bị phá huỷ trong quá trình sấy khô và bảo quản
Theo NRC [12], nhu cầu vitamin A cho lợn từ 3 - 10kg là 2.200UI/1 kg khẩu phần Nếu tính toán nhu cầu theo β-caroten thì hàm lượng β-caroten phải tăng gấp 3 lần so với bổ sung trực tiếp vitamin A
b, Vitamin D
Các vitamin nhóm D bao gồm D1, D2 và D3, trong đó D2 (dạng có trong sản phẩm thực vật) và D3 (dạng có trong sản phẩm động vật) có vai trò quan trong đối với lợn trong quá trình trao đổi và chuyển hoá canxi - phốt pho Vitamin D giúp tăng cường sự hấp thu canxi ở ruột non, tăng tái hấp thu canxi
từ xương và tăng bài xuất phốt pho từ thận Thiếu vitamin D sẽ gây ra thiếu khoáng, dẫn đến còi xương ở lợn con và chứng nhuyễn xương, xương dễ gãy
ở lợn trưởng thành
Cơ thể lợn có thể tự tổng hợp vitamin D khi có tác động của ánh sáng mặt trời Tuy nhiên, trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay, lợn được nuôi nhốt nên trong khẩu phần cần bổ sung thêm vitamin D Có thể bổ sung vitamin D cho lợn bằng cách sử dụng dầu gan cá hoặc vitamin D công nghiệp Khi cân đối khẩu phần, cần tính toán đủ nhu cầu vì nếu thừa vitamin D sẽ gây độc cho lợn Nếu cho lợn sau cai sữa uống vitamin D3 với liều 250.000UI trong vòng 4 tuần liên tục sẽ làm giảm lượng thu nhận thức ăn, giảm sinh trưởng, gan sưng to, hoại tử ở tim, phổi và thận
Nhu cầu vitamin D ở lợn con là 220UI/1kg khẩu phần [12]
Trang 34Ở lợn, thiếu vitamin E nghiêm trọng gây loét dạ dày, gan bị hoại tử, mỡ
bị nâu vàng, viêm thận, khó thở và viêm da; đồng thời cũng xảy ra hiện tượng
hệ cơ yếu và gây chết đột ngột dơ cơ tim quá yếu không đẩy được máu đi nuôi cơ thể [77]
Nhu cầu vitamin E cho lợn con theo NRC [12] là 16UI/1kg khẩu phần
d, Vitamin K
Vitamin K có liên quan đến quá trình đông máu, đó là thành phần không thể thiếu để tổng hợp nên prothrombin ở gan Prothrombin là tiền chất của enzyme thrombin, enzyme xúc tác chuyển hoá fibrinogen trong huyết tương thành fibrin làm cho máu đông Do đó, thiếu vitamin K sẽ làm chậm quá trình đông máu hoặc gây ra hiện tượng xuất huyết
Vitamin K có thể được tổng hợp trong cơ thể lợn nhờ hệ vi khuẩn đường ruột nhưng trên thực tế, vẫn xảy ra trường hợp thiếu vitamin K, đặc biệt khi thức ăn bị mốc Tuy nhiên, vitamin K thường được tính toán đầy đủ trong công thức phối trộn premix vitamin nên không cần bổ sung riêng
e, Vitamin nhóm B
Vitamin nhóm B bao gồm B1, B2, B6, B12, nicotinamid, axit pantothenic, biotin, folacin và choline Mỗi vitamin giữ một chức năng nhất định trong cơ thể nhưng nói chung, chức năng cơ bản của vitamin nhóm B là tham gia vào các quá trình trao đổi chất Nói chung, thiếu vitamin nhóm B thường dẫn đến rối loạn trao đổi chất, lợn có biểu hiện giảm ăn và chán ăn Tình trạng này sẽ được khắc phụ nhanh chóng ngay sau khi bổ sung đủ hàm lượng vitamin nhóm B vào khẩu phần
Vitamin B1 tham gia vào quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thần kinh, khử carboxyl của axit pyruvic Thiếu vitamin B1, lợn chán ăn, bị tê phù
và có biểu hiện thần kinh Theo NRC [12], nhu cầu vitamin B1 cho lợn từ 5 - 10kg là 1mg/1kg khẩu phần
Trang 35Vitamin B2 tham gia vào hoạt động hô hấp của tế bào, vận chuyển hydro trong cơ thể Ngoài ra, vitamin B2 còn tham gia vào quá trình sản sinh hemoglobin tạo hồng cầu Thiếu vitamin B2 làm giảm tốc độ sinh trưởng, lợn
bị rụng lông, ỉa chảy và nôn mửa Nhu cầu vitamin B2 ở lợn 5 - 10kg là 3,5mg/1kg khẩu phần [12]
Hầu hết các vitamin nhóm B không được dự trữ trong các mô của cơ thể nên chúng phải được cung cấp hàng ngày thông qua thức ăn hoặc nước uống Thức ăn có nguồn gốc thực vật thường rất giàu vitamin nhóm B, ví dụ như cám gạo, cám mỳ
f, Vitamin C
Vitamin C và các dẫn xuất của nó có vai trò quan trọng đối với các phản ứng oxy hoá khử xảy ra trong tế bào Vitamin C cũng tham gia vào cơ chế vận chuyển ion sắt từ transferin trong nguyên sinh chất của các tế bào đến feritin là nơi dự trữ sắt trong tuỷ xương, gan và tuỵ Thiếu vitamin C trong khẩu phần sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc của xương, răng, mô liên kết và hệ cơ
Nhu cầu vitamin C trong khẩu phần lợn chưa được xác định rõ Tuy nhiên, khi lợn bị stress thì nhu cầu viatamin C tăng cao, do đó, vitamin C thường được bổ sung thêm trong thức ăn hoặc nước uống khi lợn bị stress hoặc có nguy cơ bị stress nhằm nâng cao sức đề kháng cho con vật
Tóm lại, vai trò của các vitamin đã được khẳng định từ lâu và đáp ứng
đủ nhu cầu vitamin cho vật nuôi là một việc làm quan trọng khi phối hợp khẩu phần Bổ sung vitamin giúp tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Hiện nay, vitamin được bán dưới dạng đơn chất hoặc đã được trộn sẵn thành premix vitamin Premix vitamin có đầy đủ các loại vitamin cần thiết cho vật nuôi và được tính toán với tỷ lệ phù hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của từng loại vật nuôi theo các giai đoạn khác nhau
Trang 362.2.5 Nhu cầu về nước uống
Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng nhưng lại rất cần thiết cho sự sống Trong cơ thể động vật, nước chiếm tới 60 - 75% khối lượng cơ thể Lượng nước trong cơ thể giảm dần từ 75 - 80% khi mới sinh xuống còn
45 - 60% ở động vật trưởng thành Nước là dung môi giúp hoà tan, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng, là môi trường của nhiều phản ứng sinh hoá học xảy ra trong cơ thể
Cơ thể bị mất nước hoặc không được cung cấp nước đầy đủ sẽ làm thay đổi nồng độ của dịch nội bào và ngoại bào, làm biến đổi cấu trúc tế bào, gây rối loạn cân bằng axit - bazơ dẫn đến rối loạn trao đổi chất Cơ thể bị mất nước nghiêm trọng có thể chết
Với mỗi đối tượng vật nuôi, nhu cầu nước là khác nhau Nhu cầu nước của vật nuôi phụ thuộc vào số lượng thức ăn ăn vào, nhiệt độ môi trường và sản phẩm sản xuất ra Mỗi lứa tuổi khác nhau có nhu cầu lượng nước tối thiểu khác nhau Lợn con đang bú mẹ ít có nhu cầu về nước uống vì lượng nước này được cung cấp qua sữa (hàm lượng nước trong sữa lợn mẹ chiếm tới 90%) Trong 4 ngày đầu, lượng nước trung bình tiêu thụ ở lợn con theo mẹ là 46ml/ngày Lợn con theo mẹ nuôi trong chuồng có nhiệt độ 28 - 320C, nhu cầu nước tăng 4 lần so với lợn con theo mẹ ở nhiệt độ chuồng nuôi là 200C [16] Sau khi lợn con bắt đầu tập ăn, nhu cầu về nước uống tăng dần và phụ thuộc chủ yếu vào lượng thức ăn tiêu thụ
Ở lợn cai sữa, lượng nước thu nhận có thể được tính theo công thức của Brooks et al [38]:
Lượng nước thu nhận (lít/ngày) = 0,149 + (3,053 x kg thức ăn thu nhận/ngày)
Theo William K và Preston [75], nhu cầu nước uống cho các loại lợn được trình bày trong bảng 2.4
Trang 37Bảng 2.4 Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai đoạn
Loại lợn Lít/con/ngày Lít/kg thức ăn
2.3 BỆNH TIÊU CHẢY Ở LỢN CON
Trong chăn nuôi lợn con, bệnh tiêu chảy ở lợn con là khá phổ biến và gây thiệt hại nhiều về kinh tế, gọi thông thường là bệnh lợn con ỉa phân trắng Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm, nguyên nhân gây bệnh chính cũng như một số biện pháp phòng ngừa, điều trị của bệnh tiêu chảy ở lợn con
2.3.1 Khái niệm
Tiêu chảy là một thuật ngữ diễn tả biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hoá Con vật khi bị tiêu chảy sẽ có hiện tượng ỉa nhanh, ỉa nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do ruột tăng cường
co bóp và tiết dịch [32]
Tiêu chảy có thể xảy ra trong suốt thời kỳ lợn con theo mẹ, nhưng tập trung ở thời điểm trước 5 ngày tuổi và khoảng giữa ngày tuổi thứ 7 - 14 [49] Ngoài ra, tỷ lệ mắc tiêu chảy cao trong tuần đầu tiên sau cai sữa Giai đoạn này, lợn con phải tập làm quen dần với những thay đổi về điều kiện sống nên
dễ gặp stress, sức đề kháng giảm nên mẫn cảm với bệnh
Trang 38Lợn con bị tiêu chảy sẽ bị mất nước, mất chất điện giải, cơ thể suy kiệt
và chết nếu không được can thiệp kịp thời Tiêu chảy làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, từ đó làm giảm sinh trưởng Bệnh có tỷ lệ tử vong cao, 50,25%, gây tổn thất lớn trong chăn nuôi [17] Vì vậy, ngăn chặn tiêu chảy là một việc làm hết sức quan trọng
2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, tuỳ từng giai đoạn, lứa tuổi của lợn mà có các nguyên nhân khác nhau Xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh là rất cần thiết, giúp chúng ta đưa ra những biện pháp phòng ngừa
và chữa trị kịp thời
a, Điều kiện ngoại cảnh
Điều kiện ngoại cảnh có tác động rất lớn đến sức khoẻ vật nuôi, đặc biệt đối với lợn con, khả năng phòng vệ của cơ thể là chưa hoàn thiện Thực
tế, lợn con thường bị tiêu chảy vào những ngày mưa nhiều, độ ẩm cao, trời lạnh, gió mùa
b, Dinh dưỡng
Ở lợn con sơ sinh, bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn chỉnh nên dinh dưỡng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu đồng thời cũng là một nguyên nhân chính dẫn đến tiêu chảy ở lợn con
- Hàm lượng, chất lượng và chủng loại protein: Theo Wang Juan và cộng sự [15], lượng protein trong thức ăn lợn con vượt quá 23% sẽ gây ra tiêu chảy Chủng loại protein khác nhau có ảnh hưởng đến phản ứng nhạy cảm và bệnh tiêu chảy với nhiều mức độ khác nhau Protein nguồn gốc thực vật thường chứa nhiều yếu tố kháng dinh dưỡng, làm hạn chế khả năng tiêu hoá của lợn con Protein từ đậu tương có chứa glycinin và β-conglycinin, hai chất kháng nguyên chính gây ra dị ứng đường ruột, dẫn đến tiêu chảy ở lợn con [33] Lợn con dễ bị tiêu chảy nếu protein cung cấp từ khô đậu tương vượt quá 25% protein khẩu phần
Trang 39- Sự mất cân bằng điện giải và độ pH: Cân bằng chất điện giải có liên quan mật thiết đến quá trình thẩm thấu trong đường ruột Thức ăn mất cân bằng điện giải sẽ kéo theo mất cân bằng điện giải trong cơ thể và đường ruột của lợn con, làm thay đổi áp suất thẩm thấu và biến đổi hệ vi sinh vật đường ruột, dẫn đến tiêu chảy Độ pH trong thức ăn cao làm giảm độ axit trong dạ dày lợn con, tạo môi trường thích nghi cho mầm bệnh phát triển
- Sự thiếu hụt khoáng chất và vitamin: Một số nguyên tố kháng và vitamin là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn con Ví dụ, thiếu kẽm có thể gây viêm niêm mạc đường ruột, làm rối loạn hoạt động và cơ chế phân tiết của đường ruột, giảm hoạt tính men tiêu hoá, giảm tỷ lệ hấp thu thức ăn khiến cho thức ăn bị tồn lâu trong đường tiêu hoá gây nên tiêu chảy Hay như thiếu selen và vitamin E, có thể dẫn đến chứng hoại tử ở gan, biểu hiện rõ nét là lợn con lần lượt bị táo bón và tiêu chảy
lệ tương ứng trên lợn con 1 - 21 ngày tuổi và lợn con từ 22 - 60 ngày tuổi)
e, Bệnh tật
Một số bệnh gây ra tiêu chảy trên lợn con như bệnh ký sinh trùng, dịch
tả, phó thương hàn
2.3.3 Một số biện pháp giúp ngăn chặn bệnh tiêu chảy ở lợn con
Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh, người ta đưa ra các phác đồ phòng, trị bệnh tiêu chảy ở lợn con khác nhau Nhưng chúng ta cần quan tâm đến một số biện pháp chính sau:
Trang 40- Tập trung giải quyết vấn đề môi trường, tiêu độc để hạn chế mầm bệnh; đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi 30 - 340C đối với lợn con theo mẹ và 29
- 300C với lợn con sau cai sữa
- Nâng cao sức đề kháng cho lợn con: cho lợn con bú sữa đầu, tiêm sắt phòng thiếu máu, cung cấp protein chất lượng cao, bổ sung chất điện giải, vitamin trong khẩu phần hàng ngày Có thể bổ sung thêm men tiêu hoá, probiotic hoặc prebiotic giúp cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột
- Nếu do nguyên nhân vi khuẩn, điều trị bằng kháng sinh có phổ rộng như Ampicillin, Neomycin, Gentamycin Có thể sử dụng kết hợp hai hoặc ba loại kháng sinh để nâng cao hiệu quả điều trị Quá trình điều trị phải đảm bảo
Huyết tương là một trong hai thành phần của máu động vật Thành phần còn lại là huyết cầu, bao gồm các tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu
Bảng 2.5 Tỷ lệ huyết tương và huyết cầu trong máu một số loài gia súc