1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)

99 585 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (Yorkshire x Landrace)
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Người hướng dẫn GS.TS. Vũ Duy Giảng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-& -

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PLASMA TRONG CÔNG THỨC THỨC ĂN HỖN HỢP CHO LỢN CON THEO MẸ VÀ SAU CAI SỮA

(YORKSHIRE x LANDRACE)”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã s: 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Vũ Duy Giảng

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2008

Học viên

Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, khoa Sau đại học, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể cán bộ, công nhân viên Công ty TNHH Minh Hiếu, Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi DABACO, Trại lợn giống Thuận Thành, gia đình anh Nguyễn Văn Huyên ở Văn Giang - Văn Lâm - Hưng Yên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tự đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn đối với mọi sự quan tâm, giúp đỡ, động viên quý báu và kịp thời đó!

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2008

Học viên

Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ viii

DANH MỤC ĐỒ THỊ viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

1 MỞ ĐẦU 1

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON 3

2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng 4

2.1.2 Đặc điểm về tiêu hoá 5

2.1.3 Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt 8

2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 9

2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON 10

2.2.1 Nhu cầu về năng lượng 11

2.2.2 Nhu cầu về protein và các axit amin 13

2.2.3 Nhu cầu về khoáng chất 19

2.2.4 Nhu cầu về vitamin 23

2.2.5 Nhu cầu về nước uống 27

2.3 BỆNH TIÊU CHẢY Ở LỢN CON 28

2.3.1 Khái niệm 28

2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh 29

2.3.3 Một số biện pháp giúp ngăn chặn bệnh tiêu chảy ở lợn con 30

2.4 MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ PLASMA 31

2.4.1 Nguồn gốc 31

2.4.2 Phương pháp chế biến 32

2.4.3 Đặc điểm dinh dưỡng 33

2.5 NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 36

2.5.1 Nghiên cứu trong nước 36

2.5.2 Nghiên cứu ngoài nước 36

Trang 5

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 39

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.2.1 Phân tích nguyên liệu và thức ăn hỗn hợp 39

3.2.2 Xây dựng công thức thức ăn 40

3.2.3 Sản xuất thức ăn hỗn hợp 43

3.2.4 Thử nghiệm thức ăn 44

3.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT QUẢ 46

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

4.1 KẾT QUẢ KIỂM TRA NGUYÊN LIỆU 47

4.2 QUY TRÌNH SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO LỢN CON THEO MẸ VÀ LỢN CON SAU CAI SỮA 48

4.2.1 Lựa chọn và chế biến nguyên liệu 49

4.2.2 Nghiền nguyên liệu 51

4.2.3 Trộn nguyên liệu 52

4.2.4 Ép viên và làm mát 53

4.2.5 Ra bao 55

4.3 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM TRÊN LỢN CON THEO MẸ 58

4.3.1 Ảnh hưởng của plasma tới tăng trọng của lợn con theo mẹ 58

4.3.2 Ảnh hưởng của plasma tới thu nhận thức ăn của lợn con theo mẹ 62 4.3.3 Ảnh hưởng của plasma tới tình trạng tiêu chảy trên lợn con theo mẹ 65

4.3.4 Ảnh hưởng của plasma tới tỷ lệ nuôi sống của lợn con theo mẹ 68

4.4 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM TRÊN LỢN CON SAU CAI SỮA 70

4.4.1 Ảnh hưởng của plasma tới tăng trọng của lợn con cai sữa 70

4.4.2 Ảnh hưởng của plasma tới thu nhận thức ăn của lợn con cai sữa 74

4.4.3 Ảnh hưởng của plasma tới vi khuẩn phân ở lợn con sau cai sữa 76

4.4.4 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng plasma trong khẩu phần lợn con cai sữa 78

5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80

5.1 KẾT LUẬN 80

5.2 ĐỀ NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

5 FCR Feed Conversion Ratio - Hệ số sử dụng thức ăn

6 FDI Feed Daily Intake - Thu nhận thức ăn hàng ngày

7 KL Khối lượng

8 KP Khẩu phần

10 ME Metabolizable Energy - Năng lượng trao đổi

11 NRC National Research Council - Hội đồng nghiên cứu

quốc gia Hoa Kỳ

12 PDR Protein Deposition Rate - Tốc độ tích luỹ protein

13 TĂ Thức ăn

14 TĂCN Thức ăn chăn nuôi

15 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Dung tích một số cơ quan đường tiêu hoá ở lợn theo ngày tuổi 5

Bảng 2.2 Sự thay đổi pH trong dạ dày lợn con theo ngày tuổi 6

Bảng 2.3 Nhu cầu lysine và một số axit amin khác tính theo PDR 18

Bảng 2.4 Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai đoạn 28

Bảng 2.5 Tỷ lệ huyết tương và huyết cầu trong máu một số loài gia súc 31

Bảng 2.6 Chiều dài vi lông nhung trong khẩu phần sử dụng plasma và khẩu phần đối chứng 34

Bảng 2.7 Thành phần dinh dưỡng của một số loại plasma 35

Bảng 2.8 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu sử dụng plasma thay thế sữa khử mỡ và khô đậu tương 37

Bảng 3.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn từ sơ sinh đến 20kg 41

Bảng 3.2 Công thức hỗn hợp cho lợn con theo mẹ 41

Bảng 3.3 Giá trị dinh dưỡng ước tính của công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ 42

Bảng 3.4 Công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa 42

Bảng 3.5 Giá trị dinh dưỡng ước tính của công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa 43

Bảng 3.6 Công thức bố trí thí nghiệm cho lợn con theo mẹ 44

Bảng 3.7 Công thức bố trí thí nghiệm cho lợn con sau cai sữa 44

Trang 8

Bảng 4.1 Kết quả kiểm tra thành phần hóa học của nguyên liệu sử dụng trong

sản xuất thức ăn cho lợn con tập ăn và lợn con sau cai sữa 47Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra độ cứng và kích thước viên thức ăn hỗn hợp cho

lợn con sau cai sữa 54Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tăng trọng của lợn con theo mẹ 58Bảng 4.4 Kết quả theo dõi thức ăn thu nhận của lợn con theo mẹ và sau cai

sữa 1 tuần 64Bảng 4.5 Kết quả theo dõi tỷ lệ tiêu chảy trên lợn con theo mẹ và sau cai sữa

1 tuần 66Bảng 4.6 Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của lợn con theo mẹ và sau cai sữa

1 tuần 69Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tăng trọng của lợn con cai sữa 71Bảng 4.8 Kết quả theo dõi thức ăn thu nhận trên lợn con sau cai sữa 74Bảng 4.9 Kết quả phân tích vi khuẩn E coli và Salmonella trong phân của

lợn con sau cai sữa 77Bảng 4.10 Kết quả tính toán sơ bộ hiệu quả sử dụng plasma trong thức ăn

hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa (từ 27 - 62 ngày tuổi) 78

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Tóm tắt các công đoạn chính trong sản xuất thức ăn hỗn hợp 57

DANH MỤC ĐỒ THỊ Đồ thị 4.1 Hàm lượng protein thô và chất béo thô của một số loại nguyên liệu sử dụng trong công thức 48

Đồ thị 4.2 Tăng trọng của lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 61

Đồ thị 4.3 Số ngày mắc tiêu chảy ở lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm 68

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Khối lượng lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 59

Biểu đồ 4.2 Thu nhận thức ăn ở lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 65 Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ tiêu chảy trên lợn con qua các giai đoạn thí nghiệm 67

Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ qua các giai đoạn thí nghiệm 69 Biểu đồ 4.5 Khối lượng lợn con sau cai sữa 72

Biểu đồ 4.6 Tăng trọng lợn con sau cai sữa 72

Biểu đồ 4.7 Thu nhận thức ăn và FCR lợn con sau cai sữa 75

Biểu đồ 4.8 Số lượng vi khuẩn có trong 1g phân lợn 40 ngày tuổi 77

Biểu đồ 4.9 Số lượng vi khuẩn có trong 1g phân lợn 61 ngày tuổi 77

Trang 10

1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành kinh doanh lớn, thịt lợn chiếm 40% tổng lượng các loại thịt Còn ở Việt Nam, chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của hàng triệu hộ nông dân, thịt lợn chiếm tới 70% tổng lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường

Trong chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng, giai đoạn quan trọng nhất là giai đoạn lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa Bởi

vì, sự sinh trưởng, phát triển của lợn con từ sơ sinh đến 8 - 9 tuần tuổi là rất quan trọng, quyết định đến toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển của lợn các giai đoạn sau [3]

Ở Việt Nam hiện nay, lợn con thường được cai sữa từ 21 - 24 ngày tuổi Để có thể đảm bảo sự thích nghi của lợn con với điều kiện thay đổi sau cai sữa, từ 5 - 7 ngày tuổi, lợn con đã được làm quen với thức ăn ngoài nguồn sữa mẹ Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn và sau cai sữa không những đòi hỏi đủ chất dinh dưỡng mà còn phải có khả năng tiêu hóa hấp thu cao, kích thích được tính thèm ăn, tăng sức đề kháng, lợn khỏe mạnh, không ỉa chảy và sinh trưởng tốt Do đó, lựa chọn nguyên liệu để sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn và sau cai sữa phải đáp ứng được các yêu cầu trên

Các sản phẩm từ ngành công nghiệp chế biến bơ sữa thường được ưu tiên lựa chọn do có đặc tính gần giống với sữa lợn mẹ Tuy nhiên, nhóm nguyên liệu này thường có hàm lượng protein thấp, đòi hỏi phải có một nguồn protein khác bổ sung Nhưng thực tế hiện nay, nguồn bổ sung protein cho sản xuất thức ăn của lợn con là rất ít Nguồn bổ sung protein chủ yếu cho lợn con trên thị trường là khô đậu tương, bột cá cao đạm, các sản phẩm từ hạt đậu tương lên men Chính vì vậy, nghiên cứu, tìm ra những loại nguyên liệu bổ

Trang 11

sung protein chất lượng cao trong sản xuất thức ăn cho lợn con là một việc làm cần thiết

Plasma là một dạng huyết tương tách lọc từ máu động vật (lợn hoặc bò), được xử lý tiệt trùng và sấy khô, có màu trắng ngà đến trắng xám Hàm lượng protein trong plasma cao, dao động từ 70 - 80%, với tỷ lệ các axit amin rất cân đối Do đó, có thể coi plasma là nguồn bổ sung protein rất tốt cho lợn con Ngoài ra, plasma được coi như một loại kháng thể do có tác động lên hệ thống lông nhung ruột, ngăn chặn sự bám dính của các vi khuẩn gây hại trong đường ruột (đặc biệt là E coli), nhờ đó làm tăng sức đề kháng cho vật nuôi Plasma còn có khả năng tiêu hóa, hấp thu cao, làm tăng tính ngon miệng, giúp vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

"ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PLASMA TRONG CÔNG THỨC

THỨC ĂN HỖN HỢP CHO LỢN CON THEO MẸ VÀ SAU CAI SỮA

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON

Giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa, lợn con gặp phải ba stress lớn:

- Lúc mới đẻ (sơ sinh): Lợn con từ chỗ được bảo vệ trong tử cung của

lợn mẹ, dinh dưỡng cung cấp qua nhau thai, đến khi ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con chịu tác động trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh, phải tự tìm vú mẹ để lấy dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể

- Lúc 21 ngày tuổi: Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh

nhưng sản lượng sữa mẹ giảm dần theo quy luật tiết sữa Trong khi đó, khả năng tiêu hoá thức ăn ngoài nguồn sữa mẹ là chưa hoàn thiện dẫn tới thiếu dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của cơ thể

- Lúc cai sữa: Lúc này, lợn con phải độc lập trong sống và lấy thức ăn

từ bên ngoài để đảm bảo nhu cầu Với việc chuyển hoàn toàn từ thức ăn dạng lỏng sang thức ăn dạng khô, sự thay đổi về môi trường sống nên lợn con dễ bị các chứng rối loạn do thức ăn hay tiêu hoá thức ăn không tốt

Vì vậy, nuôi dưỡng, chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến cai sữa là khâu quan trọng, quyết định kết quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản đồng thời ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn con trong các giai đoạn sau Chăm sóc lợn con sau sinh phải đảm bảo được ba mục tiêu: Tỷ lệ nuôi sống cao, lợn con sinh trưởng, phát triển bình thường (biểu hiện thông qua chỉ tiêu khối lượng cai sữa cao) và độ đồng đều khi cai sữa cao

Để đạt được ba mục tiêu trên, ngoài việc đầu tư về trang thiết bị, kỹ thuật, chúng ta cần phải có những hiểu biết cơ bản về đặc điểm sinh lý của lợn con Dưới đây, chúng ta cùng xem xét một số đặc điểm về sinh trưởng, tiêu hóa, khả năng điều tiết thân nhiệt và khả năng miễn dịch ở lợn con sơ sinh và sau cai sữa

Trang 13

2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng

Sinh trưởng của lợn con tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều Giai đoạn theo mẹ có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất Sau đó, tốc độ sinh trưởng giảm ở 21 ngày tuổi khi lượng sữa mẹ tiết ra giảm Và ở tuần đầu tiên sau cai sữa, lợn con thường bị stress cai sữa nên tốc độ tăng trọng kém hoặc không tăng trọng nếu điều kiện chăm sóc, quản lý không tốt Trong 2 tuần đầu tiên sau cai sữa, lượng thức ăn thu nhận giảm khoảng 23%, tăng trọng giảm 49% [72] Người ta gọi đó là “khoảng hụt tăng trưởng sau cai sữa” Theo Black et al [36], tác động của “khoảng hụt tăng trưởng sau cai sữa” ở lợn thương phẩm đã làm giảm 25% lợi nhuận của các cơ sở chăn nuôi

Lợn con sau sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường, khối lượng lợn con ở 7 - 10 ngày tuổi đã tăng gấp 2 lần, 21 ngày tuổi gấp 4 lần, 30 ngày tuổi gấp 5 lần và đến

60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh [2] Theo Phạm Quang Hùng và cộng sự [14], thời kỳ lợn con theo mẹ có tốc độ tích luỹ protein là lớn nhất, trung bình mỗi kg khối lượng cơ thể có thể tích luỹ được 9 - 14g protein/ngày, trong khi đó, giai đoạn sau chỉ đạt 0,3 - 0,4g protein/ngày

Về mặt lý thuyết, lợn mới đẻ có khối lượng 1,5kg; cai sữa ở 28 ngày tuổi đạt 15kg và 60 ngày tuổi đạt 30kg Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, ở

28 ngày tuổi, lợn chỉ đạt 8kg và 25kg ở 60 ngày tuổi [8] Như vậy, năng suất của lợn con cai sữa thấp hơn so với tiềm năng di truyền của chúng

Khối lượng lợn cai sữa là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất chăn nuôi Khối lượng cai sữa càng lớn, nghĩa là lợn có tốc độ tăng trọng tốt trong giai đoạn theo mẹ thì tăng trọng của lợn các giai đoạn sau càng cao, rút ngắn được thời gian nuôi thịt Theo Vũ Duy Giảng và cộng sự [8], cứ chênh lệch nhau 1kg khối lượng cơ thể lúc cai sữa thì có thể chênh lệch nhau 4,1kg ở 133 ngày tuổi (đạt khối lượng cơ thể khoảng 100kg) Còn theo Varley [73], cứ tăng

Trang 14

được 0,1kg khối lượng lợn lúc cai sữa hoặc chỉ với mức tăng trưởng 5 - 10g/ngày có thể rút ngắn được thời gian nuôi đến giết thịt là 1 ngày Do vậy, cần

có các biện pháp kỹ thuật tác động nhằm nâng cao khối lượng lợn con cai sữa

2.1.2 Đặc điểm về tiêu hoá

Sau khi sinh, bộ máy tiêu hoá của lợn con tiếp tục phát triển và hoàn thiện về chức năng Thời kỳ này, kích thước của bộ máy tiêu hoá, đặc biệt là dung tích và khối lượng của dạ dày, ruột tăng lên rất nhanh Ngoài ra, số lượng và hoạt lực của các enzyme trong đường tiêu hoá của lợn con cũng dần được hoàn thiện theo ngày tuổi

Bảng 2.1 Dung tích một số cơ quan đường tiêu hoá ở lợn theo ngày tuổi

Nguồn: Kvasnitskii (dẫn theo [3])

Tuyến tuỵ ở lợn 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, khối lượng của gan gấp 3 lần so với lúc mới sinh Lúc đầu, dạ dày chỉ nặng 6 - 8g, chứa được 35 - 50g sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần, khối lượng dạ dày đã tăng gấp 4 lần; 60 ngày tuổi đã nặng 150g và có khả năng chứa được 700 - 1000g sữa [35]

Trong 2 tuần đầu sau sinh, HCl tự do có được tiết ra nhưng lại nhanh chóng liên kết với niêm dịch dạ dày nên trong dạ dày của lợn con lúc này chưa có axit HCl dạng tự do Chính vì vậy, khả năng kháng khuẩn của lợn con hầu như không có Các vi sinh vật gây hại có điều kiện phát triển gây bệnh dạ dày - ruột, điển hình là bệnh lợn con ỉa phân trắng Ở điều kiện bình thường,

từ ngày thứ 25 trở đi, HCl tự do mới bắt đầu xuất hiện ở dạ dày nhưng với

Trang 15

hàm lượng rất nhỏ, và phải đến 40 ngày tuổi, HCl mới phát huy tác dụng kháng khuẩn Để tăng cường sự tiết dịch vị và HCl ở lợn con, ta tập cho lợn con ăn sớm từ 5 - 7 ngày tuổi Nếu tập ăn bằng thức ăn dạng hạt từ 7 - 10 ngày tuổi thì từ ngày tuổi thứ 14, trong dạ dày lợn đã xuất hiện HCl [2]

Hàm lượng HCl có liên quan mật thiết đến độ pH trong dạ dày của lợn con Theo Jane Leibholz [52], pH dạ dày lợn con 28 ngày tuổi là 5,3 - 5,5; ở

56 ngày tuổi là 4,0 Còn theo Fed E.M (dẫn theo [35]), pH trong dạ dày của lợn con thấp hơn và thay đổi theo ngày tuổi

Bảng 2.2 Sự thay đổi pH trong dạ dày lợn con theo ngày tuổi

Độ pH dạ dày cũng phụ thuộc vào thành phần và tính chất của thức ăn tập ăn, thời gian bắt đầu cho lợn con tập ăn Độ pH trong dạ dày lợn có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ thuỷ phân propepsin thành pepsin hoạt động Khi độ

pH = 4,0 thì tốc độ thuỷ phân tương đối chậm, pH = 2,0 thì tốc độ tương đối nhanh, đồng thời hoạt tính của pepsin trở nên mạnh nhất khi pH dạ dày từ 2,0

- 3,5 [33]

Enzyme trong dịch vị đã có từ khi lợn con được sinh ra nhưng chưa có tác dụng phân giải thức ăn do thiếu chất hoạt hoá là HCl Trong 3 tuần tuổi đầu, lợn con chỉ có khả năng tiêu hoá cazein, các đường và chất béo trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng từ thức ăn cung cấp thêm là rất thấp

Hoạt lực của enzyme pepsin tăng lên rõ rệt theo ngày tuổi Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự [26], lợn con 9 ngày tuổi tiêu hoá 30mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2 - 3 giờ và đến 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ

Trang 16

Hàm lượng các enzyme tiêu hoá tinh bột cũng tăng cao dần sau 4 - 5 tuần tuổi Khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con dưới 4 tuần tuổi chỉ đạt 50% lượng tinh bột ăn vào Ở tuần tuổi thứ 5 - 6, khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con là tương đối hoàn thiện Tuy nhiên, cần cung cấp cho lợn con thức ăn tinh bột ở dạng đã được làm chín để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá đồng thời hạn chế các yếu tố kháng dinh dưỡng

Lượng dịch vị tiết ra ở lợn con phụ thuộc vào từng thời điểm trong ngày Dịch vị tiêu hoá tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, do đó lợn con thường bú nhiều về đêm Đến gần cai sữa mới có sự cân bằng về tiết dịch vị, ban ngày 49% và ban đêm 51% [4]

* Sự biến đổi hình thái và chức năng của hệ thống lông nhung ruột

ở lợn con

Hệ thống lông nhung ở niêm mạc ruột non là nơi diễn ra quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại những hốc nhỏ (hốc crypt), nơi dịch ruột và các chất lỏng khác được tiết vào khoang ruột Ở những lợn con khoẻ mạnh, chiều cao của lông nhung dài gấp 3 - 4 lần chiều sâu của các hốc crypt

Chiều cao của lông nhung có liên quan trực tiếp đến diện tích bề mặt hấp thu của niêm mạc ruột Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ mối tương quan khá chặt chẽ giữa chiều cao lông nhung với tốc độ sinh trưởng của lợn con sau cai sữa Hệ số tương quan r = 0,63 [57]; r = 0,78 [67]

Lợn con khi cai sữa thường dễ bị stress, làm giảm lượng thức ăn thu nhận, gây ra tình trạng đói dinh dưỡng tạm thời trong đường tiêu hoá, từ đó dẫn đến biến đổi hình thái của niêm mạc ruột trong tuần đầu tiên sau cai sữa Ngoài ra, trong sữa lợn mẹ có axit amin glutamine, loại axit amin cần thiết quyết định sự phát triển của hầu hết các mô và tế bào [65] Glutamine là nguồn năng lượng quan trọng đối với sự phát triển các tế bào ruột trong suốt

Trang 17

thời kỳ bú sữa [69], [77] Do đó, khi cai sữa sẽ dẫn đến sự thiếu hụt glutamine Đây cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tế bào niêm mạc ruột của lợn con

Theo Pluske J.R [68], hình thái lông nhung ruột thay đổi rõ nét ở lợn con cai sữa sớm 14 - 28 ngày Theo Lindermann và cộng sự [58], chiều cao của lông nhung giảm 30 - 65% ở lợn con cai sữa lúc 21 ngày và 27% ở lợn con cai sữa lúc 35 ngày Còn theo Hampson D.J [48] đã báo cáo, so với lợn con trước cai sữa, chiều cao của lông nhung giảm 75% sau 24 giờ cai sữa (lợn được cai sữa ở 21 ngày tuổi) Sau 5 ngày cai sữa, chiều cao lông nhung giảm 50% Và sau 5 - 8 ngày cai sữa, chiều cao của các lông nhung ruột non mới bắt đầu được phục hồi

2.1.3 Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt

Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh nhiệt và toả nhiệt của cơ thể, đặc biệt đối với lợn con Có thể coi đó là một chỉ tiêu ảnh hưởng đến đặc điểm và chức năng của cơ quan điều tiết thân nhiệt

Trong tuần lễ đầu tiên, thân nhiệt của lợn con phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ môi trường Lúc mới sinh, thân nhiệt lợn con là 38,5 - 390C, nhiệt độ tiêu chuẩn tới hạn là 33 - 350C Khả năng điều hoà thân nhiệt của lợn con sơ sinh là rất kém, và tăng chậm từ khi sinh đến 2 tuần tuổi

Sau khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con sẽ giảm dần xuống tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi 30 giây sau đẻ, lượng nước trong cơ thể lợn con giảm 1,2 - 2%, thân nhiệt giảm từ 5 - 100C Khi nhiệt độ ngoại cảnh là 55

- 750F thì thân nhiệt lợn con có thể bị giảm từ 3 - 120F sau 1 giờ và sau 1 giờ nữa, thân nhiệt của chúng mới trở lại bình thường Nếu nhiệt độ môi trường <

550F thì sau 2 ngày, lợn con mới điều hoà thân nhiệt trở lại bình thường Nếu xuống dưới 250F thì phải mất 10 ngày sau, thân nhiệt lợn con mới ổn định trở lại [35] Còn theo Vũ Duy Giảng và cộng sự [8], nhiệt độ trực tràng giảm 20C

Trang 18

nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180C và giảm 50C nếu nhiệt độ chuồng nuôi là

110C Thân nhiệt lợn con chỉ trở lại bình thường sau 24 giờ

Nhiệt độ trong chuồng quá lạnh còn cản trở đến quá trình bú sữa đầu của lợn con Lợn sống trong chuồng có nhiệt độ 18 - 200C, tiêu thụ sữa đầu giảm 27% so với chuồng có nhiệt độ 30 - 320C

Khi thân nhiệt xuống dưới 32 - 330C, lợn con mất khả năng điều hoà thân nhiệt Hai ngày đầu sau sinh, nhiệt độ môi trường ở mức 5 - 60C, lợn con

sẽ bị mất nhiệt nhanh chóng và chết do lạnh Có thể coi chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp gây tỷ lệ tử vong cao ở lợn con theo mẹ, nhất là khi mới sinh Tỷ lệ chết là 12,1% nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 20 - 250C so với 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 250C

Do đó, giữ ấm trong chuồng nuôi là một biện pháp quan trọng trong chăn nuôi lợn con Có thể sử dụng đèn sưởi (bóng đèn đỏ công suất từ 100W hoặc bóng đèn hồng ngoại 250W), khoảng cách đèn được điều chỉnh phù hợp, cách 50 - 70cm tính từ nền chuồng Nhiệt độ phù hợp tại khu vực lồng sưởi của lợn con là 32 - 350C Ngoài ra, còn phải đảm bảo khu vực chuồng nuôi tránh được gió lùa, mưa tạt

2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch

Ở lợn con, khả năng miễn dịch là thụ động Cơ thể lợn con mới sinh không có kháng thể, kháng thể này được truyền vào cơ thể khi cho lợn con bú sữa đầu Hàm lượng kháng thể trong máu lợn con lúc này phụ thuộc vào sự hấp thu sữa đầu nhiều hay ít Sữa đầu có hàm lượng dinh dưỡng cao, rất giàu vitamin và kháng thể Hàm lượng γ-globulin chiếm 34,06%, α-globulin chiếm 12,7%, albumin chiếm 11,48% lượng protein sữa đầu Các protein này đóng vai trò miễn dịch quan trọng ở lợn con

Nếu được bú sữa đầu, sau 24 giờ, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con có thể đạt tới 20,3mg/100ml máu, đến 3 tuần tuổi đạt 24mg/100ml máu

Trang 19

[14] Từ 3 - 4 tuần tuổi, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con giảm xuống

do nguồn kháng thể cung cấp từ sữa lợn mẹ không còn, khả năng tự tổng hợp kháng thể của lợn con chưa hoàn thiện Theo Liu Xing và Feng Jie [33], 97% IgA, IgM và IgG trong kháng thể từ nguồn sữa mẹ lần lượt bị tiêu hủy thông qua trao đổi chất ở 15, 23, 60 ngày tuổi Đến 5 tuần tuổi, cơ thể lợn con bắt đầu có đáp ứng miễn dịch chủ động, hàm lượng γ-globulin lại tăng lên, đạt mức 65mg/100ml máu Chính vì vậy, việc tìm ra cách thức để tạo dựng hệ thống miễn dịch cho lợn con là đặc biệt quan trọng [40]

Khi mới sinh, khoảng cách giữa các tế bào vách ruột lợn con là rất lớn, cho phép các phân tử có kích thước to đi qua được dễ dàng Ngoài ra, trong sữa đầu của lợn mẹ có chất kháng trypsin, làm mất hoạt lực của enzyme trypsin do tuyến tuỵ tiết ra Nhờ đó, lợn con có thể hấp thu nguyên vẹn phân

tử γ-globulin Lúc này, sự hấp thu γ-globulin theo phương thức ẩm bào

Tuy nhiên, khả năng hấp thu kháng thể của lợn con giảm dần theo thời gian Khả năng này giảm nhanh trong vòng 24 - 30 giờ sau đẻ Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự [26], sau đẻ 4, 6, 12, 20 giờ, khả năng hấp thu kháng thể giảm dần, tương ứng là 25, 20, 17, 12%

Do vậy, sau đẻ từ 1 - 2 giờ, cần cho lợn con bú ngay sữa đầu và duy trì

cữ bú cho lợn con Việc bú sữa đầu lúc này có rất nhiều ích lợi Cho lợn con

bú ngay sữa đầu kích thích lợn mẹ tiếp tục đẻ, giúp tăng thân nhiệt đồng thời cung cấp lượng lớn kháng thể và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON

Nguyên tắc quan trọng khi xây dựng khẩu phần là phải đảm bảo được

sự cân bằng các chất dinh dưỡng cho từng giai đoạn vật nuôi, khối lượng, tính biệt Các chất dinh dưỡng đó là năng lượng, protein và axit amin, các chất khoáng và vitamin

Trang 20

Mỗi giai đoạn sinh trưởng của lợn đòi hỏi một nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến nhu cầu dinh dưỡng của lợn con giai đoạn theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa

2.2.1 Nhu cầu về năng lượng

Năng lượng là một trong ba thành phần chiếm chi phí cao nhất khi xây dựng khẩu phần ăn cho lợn Nói chung, lợn cần năng lượng cho duy trì, sản xuất và sinh sản Giá trị năng lượng thức ăn cũng như nhu cầu năng lượng cho lợn thường được biểu thị theo năng lượng tiêu hoá (DE) hay năng lượng trao đổi (ME) Nhiều tác giả đã đưa ra cách ước tính giá trị năng lượng, trong đó, đáng chú ý là công thức của Bo Gohl đưa ra năm 1982 và công thức của Lã Văn Kính năm 2003

Theo Bo Gohl (dẫn theo [8]), giá trị năng lượng DE hoặc ME được ước tính bằng công thức sau:

DE (kcal/kg) = 5,78X1 + 9,42X2 + 4,4X3 + 4,07X4

ME (kcal/kg) = 5,01X1 + 8,93X2 + 3,44X3 + 4,08X4 X1, X2, X3 và X4 lần lượt là protein thô tiêu hoá, chất béo tiêu hoá, xơ thô tiêu hoá và chiết chất không nitơ tiêu hoá tính bằng g/kg thức ăn

Lã Văn Kính (dẫn theo [8]) đề nghị sử dụng công thức:

DE (kcal/kg) = 52,8 CP + 69,7 EE - 11,5 CF + 34,7 NFE + K

ME (kcal/kg) = 46,6 CP + 65,9 EE - 12,4 CF + 34,6 NFE +K

CP, EE, CF và NFE lần lượt là protein thô, chất béo, xơ thô và chiết chất không nitơ tính bằng g/kg thức ăn; K là hệ số điều chỉnh (ví dụ K = +150 (hiệu chỉnh cho DE) và K = +161 (hiệu chỉnh cho ME)

Các công thức đề nghị của Lã Văn Kính có ưu điểm là không cần xác định thành phần dinh dưỡng ở dạng tiêu hoá, giúp giảm được nhiều công sức

và thời gian thí nghiệm So với công thức của Bo Gohl, các công thức này có sai số, tuy nhiên sai số không lớn Ví dụ, ngũ cốc và phụ phẩm của ngũ cốc có sai số thấp nhất là 0,7% và cao nhất 3,8% [8]

Trang 21

Con vật ăn trước hết là để thoả mãn nhu cầu năng lượng Khi nồng độ năng lượng khẩu phần thấp, lượng thức ăn thu nhận tăng lên và ngược lại, nồng độ năng lượng khẩu phần cao, lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm Tuy nhiên, nếu nồng độ năng lượng khẩu phần dưới 9MJ DE/kg hoặc trên 15MJ DE/kg thì lợn không có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn thu nhận phù hợp với nhu cầu năng lượng của chúng [10] Vì vậy, đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho vật nuôi là công việc đầu tiên khi tính toán, xây dựng khẩu phần

Nhu cầu năng lượng cho gia súc đang sinh trưởng phụ thuộc vào thành phần và tốc độ tích luỹ các chất trong cơ thể, đặc biệt là tốc độ tích luỹ protein

và tốc độ tích luỹ mỡ

Theo Nguyễn Thiện và cộng sự [28], năng lượng cần cho tích luỹ protein trong cơ thể dao động từ 7,1 đến 14,6 Mcal DE/kg, trung bình là 12,6 Mcal DE/kg Năng lượng cần cho tích luỹ mỡ từ 9,5 đến 16,3 Mcal DE/kg, trung bình là 12,5 Mcal DE/kg

Với lợn con, nhu cầu về năng lượng chủ yếu là cho duy trì và tăng trưởng Ngày đầu tiên sau khi sinh, 1 lợn con nặng 1kg cần khoảng 900 đến 1.000KJ [3] Năng lượng này được đáp ứng từ năng lượng dự trữ trong cơ thể

và trong sữa đầu Tuy nhiên, năng lượng dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, chỉ khoảng 420KJ/kg khối lượng sơ sinh Vì vậy, lợn con phải hấp thu được khoảng 160g sữa đầu trên 1kg khối lượng sơ sinh để sống

Khả năng tiêu hoá chất béo của lợn con tăng từ 69% trong tuần đầu sau cai sữa lên tới 88% ở tuần thứ 4 Vì vậy, trong 2 tuần đầu sau khi cai sữa, lượng chất béo bổ sung nên hạn chế ở mức 2 - 3% khẩu phần, sau đó, từ tuần thứ 3 - 4, tỷ lệ chất béo trong khẩu phần có thể tăng lên 4 - 5%

Nhu cầu năng lượng ở lợn con tăng lên theo tuần tuổi Từ tuần tuổi thứ

3, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần, trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của lợn con lại tăng nhanh, vì vậy, cần bổ sung năng lượng ngoài nguồn sữa mẹ cho

Trang 22

lợn con Khi được 3 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chỉ cần khoảng 5%, nhưng ở 5 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chiếm tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn con [5]

Thức ăn cung cấp năng lượng là thành phần chính trong khẩu phần của lợn Lợn con đòi hỏi nguồn thức ăn giàu năng lượng và dễ tiêu Thức ăn cung cấp năng lượng cho lợn con từ 2 nguồn chính là các hạt ngũ cốc và dầu, mỡ

Các hạt ngũ cốc chứa nhiều tinh bột, có khả năng tiêu hoá cao và ngon miệng Điểm hạn chế của chúng là thành phần axit amin không cân đối Ngô thường được lựa chọn để phối hợp khẩu phần cho lợn con 1kg ngô hạt có 3.200 - 3.300 Kcal ME Ngô chứa 65% tinh bột, tỷ lệ xơ thấp, tỷ lệ chất béo tương đối cao, 4 - 6% [6]

Dầu và mỡ có năng lượng trao đổi cao hơn các loại hạt ngũ cốc khoảng 2,25 lần (tính trên cùng đơn vị khối lượng) Nếu bổ sung 1% dầu hoặc mỡ vào khẩu phần sẽ làm giảm 2% tiêu tốn thức ăn [23] Ngoài ra, bổ sung dầu hoặc

mỡ còn giúp làm giảm độ bụi, giảm hao hụt trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, dầu và mỡ thường khó bảo quản, dễ bị ôi, làm giảm tính ngon miệng

và khả năng tiêu hoá nên cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề này trong sản xuất thức ăn cho lợn con

2.2.2 Nhu cầu về protein và các axit amin

Protein liên quan đến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc Trong chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để xác định hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, khẩu phần của lợn cần đảm bảo đủ protein, đặc biệt là

sự cân đối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình tạo nạc tối đa

Theo Võ Trọng Hốt [13], khoảng 15% khối lượng cơ thể là protein, trong đó 6 - 13% protein được chu chuyển hàng ngày để duy trì Trong quá trình chu chuyển, có 6% protein bị mất đi Hàm lượng protein chu chuyển hàng ngày tỷ lệ nghịch với sự phát triển và khối lượng cơ thể lợn, nghĩa là lợn càng

Trang 23

lớn, khối lượng cơ thể càng cao thì hàm lượng protein chu chuyển càng giảm

Có thể căn cứ vào hàm lượng protein chu chuyển để xác định nhu cầu protein cho duy trì thông qua hệ số nhu cầu duy trì Ví dụ lợn 20kg có 13% lượng protein chu chuyển hàng ngày, hệ số nhu cầu duy trì là 0,0012 (= 0,15 x 0,13 x 0,06) Nhu cầu protein cho duy trì là 24g protein/ngày (= 0,0012 x 20 x 1.000)

Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120 - 130g protein tiêu hoá/đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu phần

là 17 - 19% [2]

Protein được tổng hợp từ các axit amin Thứ tự nối tiếp nhau của các axit amin tạo nên cấu trúc sơ cấp của protein Do đó, dinh dưỡng protein có nghĩa là dinh dưỡng axit amin Trong quá trình tiêu hoá, protein từ thức ăn sẽ được phân giải thành các axit amin và được hấp thu vào máu Các axit amin này sẽ được cơ thể tổng hợp nên protein đặc hiệu của mô và tế bào Một phần các axit amin được sử dụng để tạo năng lượng Phần axit amin dư thừa sẽ bị bài xuất ra khỏi cơ thể

Ở lợn sinh trưởng, có 10 axit amin quan trọng mà cơ thể không tự tổng hợp được, đó là: lysine, methionine, tryptophan, threonine, isoleucine, valine, leucine, histidine, arginine và phenylalnine Các axit amin này được cung cấp

từ nguồn thức ăn bên ngoài hoặc từ các axit amin công nghiệp

Những axit amin có mặt trong khẩu phần ăn với số lượng ít nhất nhưng

có vai trò quan trọng đối với cơ thể được gọi là axit amin giới hạn thứ nhất Thức ăn hạt ngũ cốc có axit amin giới hạn thứ nhất là lysine; thức ăn hạt đậu tương là methionine Do đó, khi xây dựng khẩu phần cho lợn sinh trưởng, cần phải bổ sung thêm các axit amin công nghiệp Theo Tanksley T.D và cộng sự [25], bất cứ khẩu phần nào cung cấp đầy đủ số lượng 3 loại axit amin là lysine, tryptophan, threonine thì sẽ cung cấp đầy đủ các loại axit amin cần thiết khác để có tăng trọng tối ưu

Trang 24

Các axit amin thiết yếu không thể được tổng hợp bởi động vật mà phải được cung cấp thông qua thức ăn (trong khi đó axit amin không thiết yếu được tổng hợp từ các axit amin thiết yếu) Các protein trong cơ thể được tạo nên từ chuỗi của các axit amin Như là một hệ quả, các axit amin thiết yếu được yêu cầu với tỷ lệ nhất định để phù hợp với sự cân bằng cho nhu cầu cho việc tổng hợp protein cơ thể Bằng cách giảm hàm lượng protein có trong thức ăn và duy trì hàm lượng các axit amin thiết yếu tại mức đủ nhu cầu của động vật, ta có thể làm giảm lượng nitơ thải ra qua phân, tránh gây ô nhiễm môi trường

Sự cân bằng của các axit amin trong khẩu phần là rất cần thiết vì nếu thiếu một trong các axit amin nói trên đều dẫn đến sự thiếu hụt protein của cơ thể đồng thời gây lãng phí các axit amin khác Theo D’Mello (dẫn theo [56]), mất cân bằng axit amin làm giảm lượng thức ăn thu nhận ở gia súc non và có ảnh hưởng đến hiệu quả hấp thu của axit amin giới hạn thứ nhất

Người ta thường dựa vào nhu cầu lysine (axit amin giới hạn thứ nhất)

để tính toán nhu cầu các axit amin khác Theo Baker (dẫn theo [34]), nếu coi

tỷ lệ lysine là 100% thì tỷ lệ methionine là 30%; methionine + cystine là 60%; threonine là 58%; tryptophan là 15% Còn theo NRC (1998) [12], tỷ lệ methionine là 26%; methionine + cystine là 56,5%; threonine là 64,3%; tryptophan là 18,2% Boomgaardt và Baker (dẫn theo [53]) cho rằng, nhu cầu lysine cho tăng trọng tối đa chiếm khoảng 4,7% mức protein khẩu phần Theo đó, ở các mức protein là 14, 18 và 23% thì nhu cầu lysine tương ứng là 0,66; 0,88 và 1,05%

Sự lợi dụng protein chịu ảnh hưởng bởi kiểu di truyền, tình trạng sức khoẻ vật nuôi và quan trọng nhất là đặc tính của thức ăn Do đó, cùng với năng lượng, nhóm thức ăn cung cấp protein cũng chiếm chi phí cao trong

Trang 25

khẩu phần Protein trong khẩu phần lợn con phải đảm bảo được tính dễ tiêu,

dễ hấp thu hay nói cách khác là phải có giá trị sinh học cao

Nguồn cung cấp protein trong thức ăn của lợn con chủ yếu là bột cá chất lượng cao, các loại bột sữa, khô đậu tương Các protein có nguồn gốc động vật thường được ưu tiên sử dụng vì protein có nguồn gốc thực vật thường gây phản ứng trong ruột lợn con, ảnh hưởng tới quá trình tiêu hoá thức ăn

Bột cá có hàm lượng protein cao, tỷ lệ các axit amin cân đối, làm tăng tính ngon miệng Chất lượng của các loại bột cá trên thị trường hiện nay rất khác nhau Đáng chú ý là hàm lượng protein và hàm lượng muối (NaCl) Do lợi ích kinh tế, nhiều cơ sở sản xuất đã pha trộn thêm các chất khác như bột lông vũ, bột thịt xương, urê làm giảm giá trị thực của bột cá Ngoài ra, ở Việt Nam, cá trước khi chế biến được bảo quản bằng phương pháp ướp muối nên bột cá thường có hàm lượng muối tương đối cao Vì vậy, cũng cần chú ý đến hàm lượng muối khi phối trộn khẩu phần

Các loại bột sữa có đặc tính gần giống với sữa mẹ nên thường được ưu tiên lựa chọn trong sản xuất thức ăn cho lợn con Tuỳ theo phương pháp chế biến, hàm lượng protein và đường lactose trong các loại bột sữa rất khác nhau Hàm lượng protein dao động từ < 10 - > 40% Hàm lượng lactose dao động từ < 50 - > 70% Protein của bột sữa có thành phần axit amin rất cân đối nên thích hợp trong các khẩu phần lợn con tập ăn và kể cả lợn sau cai sữa nếu giá cả thích hợp [20]

Ngoài hai nhóm cung cấp protein động vật nói trên, khô đậu tương được coi là nguồn cung cấp đạm thực vật rất có giá trị Trong hạt đậu tương

có một số yếu tố phi dinh dưỡng như saponine, isoflavon, chất kìm hãm trypsine, hemaglutinine sẽ làm giảm sự hấp thu protein thức ăn [28] Tuy nhiên, những chất này bị phá huỷ dưới tác dụng của nhiệt độ Vì vậy, đậu tương phải được xử lý đúng kỹ thuật trước khi sử dụng làm thức ăn cho lợn

Trang 26

nhằm phát huy tối đa hiệu quả dinh dưỡng và không gây độc Khô đậu tương tách vỏ có hàm lượng xơ thấp, tỷ lệ tiêu hoá cao nên được ưu tiên sử dụng trong sản xuất thức ăn cho lợn con

* Mối quan hệ giữa năng lượng, protein và khả năng sinh trưởng của lợn con

Mọi quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể đều cần có năng lượng Quan hệ giữa protein và năng lượng càng cân đối thì hiệu quả sử dụng thức

ăn, năng suất và chất lượng sản phẩm càng cao Khẩu phần giầu protein nhưng nghèo năng lượng làm giảm tốc độ sinh trưởng và năng suất vật nuôi, hiệu quả sử dụng thức ăn kém

Khi cân đối khẩu phần, chúng ta cần quan tâm đến tỷ lệ năng lượng/protein thô hay nói chính xác hơn là tỷ lệ năng lượng/lysine

Theo NRC [12], lợn từ 5 - 10kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein thô là 23,7%, tỷ lệ năng lượng/protein thô là 137,76; lợn từ 10 - 20kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein là 20,9%, tỷ lệ năng lượng/protein thô là 156,22

Cũng theo NRC [12], số gam lysine tổng số trên 1Mcal ME đối với lợn

từ 3 - 5kg là 4,59; lợn từ 5 - 10kg là 4,13 và lợn từ 10 - 20kg là 3,52 Kết quả nghiên cứu của Lã Văn Kính và cộng sự (dẫn theo [8]) trên lợn con sau cai sữa từ 28 - 63 ngày tuổi cho thấy, khẩu phần có mức lysine g/MJ DE từ 1 - 1,1 (tỷ lệ % của methionine, methionine + cystine, threonine và tryptophan so với lysine lần lượt là 40, 57, 63 và 18) cho tăng trọng và FCR tốt nhất, 358g/ngày và 1,48kg thức ăn/kg tăng trọng; các mức lysine g/MJ DE là 0,8 - 0,9 chỉ cho tăng trọng 309 và 305g/ngày, FCR là 1,73 kg thức ăn/kg tăng trọng (hỗn hợp thức ăn có nồng độ năng lượng là 15 - 16 MJ DE/kg (tương đương 3.406 và 3.632 kcal ME/kg)

Tỷ lệ lysine/năng lượng có ảnh hưởng đến tốc độ tích luỹ protein (PDR) ở lợn Tốc độ tích luỹ protein là số đo quan trọng biểu thị tăng trưởng

Trang 27

của mô nạc thân thịt lợn Do đó, đây được coi là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay

Bảng 2.3 Nhu cầu lysine và một số axit amin khác tính theo PDR

Axit amin (g/ngày)

Nguồn: Con lợn ở Việt Nam [8]

Tốc độ tích luỹ protein của lợn 14 - 21 ngày tuổi vào khoảng 20 - 30g/ngày, sau đó tăng nhanh và đạt tối đa khi lợn được 100 ngày tuổi Con đực thường có tốc độ tích luỹ protein cao hơn so với con cái, giống cải tiến cao hơn so với giống chưa cải tiến Căn cứ vào quy luật tích luỹ protein nói trên, người ta tính toán thời gian nuôi đến khi giết thịt nhằm đạt hiệu quả chăn nuôi cao nhất

Mức lysine/DE (g/MJ) tối ưu đối với lợn là 0,95 - 1,05 Với tỷ lệ này, tốc độ tích luỹ protein đạt 170 - 175g/ngày (dẫn theo [8])

Khi nồng độ năng lượng trong khẩu phần tăng lên, thu nhận thức ăn giảm, do đó cần tính toán lại nhu cầu các chất dinh dưỡng khác nhằm đảm bảo tỷ lệ giữa năng lượng và các chất dinh dưỡng là tối ưu

Hồ Thị Phương Thảo [27] đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ protein và năng lượng lên năng suất của lợn con giống

Trang 28

Yorkshire từ 7 - 60 ngày tuổi Giai đoạn lợn con theo mẹ từ 7 - 24 ngày tuổi: hai mức độ protein (24% và 22%) và năng lượng (14,3MJ/kg và 13,3 MJ/kg) Giai đoạn heo con cai sữa từ 24 - 60 ngày tuổi: hai mức độ protein (22% và 20%) và năng lượng (14,3MJ/kg và 13,3 MJ/kg) Thí nghiệm đã chỉ ra rằng, mức độ protein và năng lượng khác nhau không ảnh hưởng đến tăng trọng và thu nhận thức ăn của lợn từ 7 - 24 ngày tuổi Còn đối với lợn từ 24 - 60 ngày tuổi, khẩu phần có năng lượng cao hơn cho tăng trọng, thu nhận thức ăn cao hơn (P = 0,05)

2.2.3 Nhu cầu về khoáng chất

Chất khoáng đảm nhận chức năng cấu tạo và nhiều chức năng sinh lý khác trong cơ thể động vật Cơ thể lợn có trên 20 loại chất khoáng, trong đó

có 10 loại cần thường xuyên được bổ sung vào khẩu phần Tuỳ theo số lượng

có trong khẩu phần, người ta chia chất khoáng thành hai nhóm

- Nhóm khoáng đa lượng: Canxi, phốt pho, natri, clo

- Nhóm khoáng vi lượng: Sắt, kẽm, iốt, selen, đồng, mangan

a, Canxi (Ca) và phốt pho (P)

Khoảng 99% canxi và 80% phốt pho trong cơ thể tồn tại ở xương và răng Ngoài chức năng cấu tạo nên bộ khung của cơ thể, canxi còn tham gia vào quá trình đông máu và co cơ; phốt pho có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi và chuyển hoá năng lượng

Thiếu hay thừa canxi, phốt pho đều ảnh hưởng đến vật nuôi Thiếu canxi, xương phát triển không bình thường, lợn có hiện tượng còi xương Thiếu phốt pho làm giảm sinh trưởng, rối loạn trao đổi và chuyển hoá năng lượng, giảm hiệu suất lợi dụng thức ăn Tuy nhiên, thừa canxi trên 1% so với nhu cầu sẽ làm giảm sự hấp thu kẽm, dẫn đến các bệnh về da, lông

Lợn con có tốc độ sinh trưởng mạnh, đây là giai đoạn tập trung cho phát triển hệ cơ xương nên đòi hỏi nhu cầu về canxi và phốt pho cao Tỷ lệ

Trang 29

canxi và phốt pho trong khẩu phần phải cân đối để tăng khả năng hấp thu Tỷ

lệ tối ưu Ca/P trong khẩu phần là 1/1 đến 1,3/1 Với tỷ lệ này, tỷ lệ hấp thu P

là 40 - 45% Nếu tỷ lệ Ca/P lớn hơn 3/1 sẽ làm giảm hấp thu của phốt pho Tỷ

lệ Ca/P là 5/1 thì tỷ lệ hấp thu P giảm còn 36%

Các loại thức ăn tự nhiên thường thiếu một hoặc cả hai nguyên tố trên hoặc có tỷ lệ Ca/P không cân đối Ví dụ, trong cám gạo, tỷ lệ Ca/P là 1/20, trong gạo là 1/7 Nguồn phốt pho từ thức vật chủ yếu tồn tại dưới dạng phytate, chiếm từ 1/3 đến 2/3 phốt pho tổng số Phytate là một dạng phức hợp chất hữu

cơ của axit phytic và có những liên kết bền vững Ở dạng này, giá trị sinh học của các nguyên tố khoáng rất thấp (dẫn theo [31]) Do đó, khi cân đối khẩu phần, người ta thường quan tâm đến tỷ lệ canxi và phốt pho tiêu hoá được

b, Natri (Na) và Clo (Cl)

Chức năng chính của natri và clo là tham gia vào quá trình duy trì áp suất thẩm thấu của cơ thể Thiếu natri và clo gây hiện tượng chán ăn làm giảm sinh trưởng, giảm năng suất của vật nuôi

Natri và clo được cung cấp một phần từ thức ăn tự nhiên, còn phần chính là từ muối ăn Nhu cầu muối trung bình cho các loại lợn là 0,5% Trong khẩu phần lợn, tỷ lệ muối cao hơn có thể được chấp nhận nếu cung cấp đầy

đủ nước uống cho lợn Tuy nhiên, lượng muối trong khẩu phần không nên vượt quá 1,5% Nếu thiếu nước, tỷ lệ muối 2% gây nên hiện tượng trúng độc thần kinh, lợn yếu, đi lảo đảo, và có thể chết

c, Sắt (Fe) và đồng (Cu)

Sắt và đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu, là thành phần của nhiều enzyme trong cơ thể Thiếu sắt và đồng sẽ gây thiếu máu, lợn còi cọc, giảm tăng trọng

Cơ thể lợn con mới sinh có khoảng 50 - 70mg Fe, nhu cầu mỗi ngày là 15mg Fe, trong khi đó, sữa lợn mẹ chỉ cung cấp được 1mg Fe/ngày Vì vậy,

Trang 30

lợn con sơ sinh rất dễ bị thiếu sắt nếu không được cung cấp kịp thời Để khắc phục hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt ở lợn sơ sinh, người ta tiến hành tiêm

bổ sung sắt vào ngày tuổi thứ 3 Sắt được bổ sung cho lợn con dưới dạng dextran sắt hoặc gleptoferron, liều 100 - 200mg/lần tiêm Chỉ cần tiêm sắt một lần duy nhất giúp đảm bảo đủ nhu cầu sắt cho lợn con đến 35 ngày tuổi Sau cai sữa, nhu cầu sắt được đáp ứng từ khẩu phần ăn hàng ngày

Ngoài chức năng vận chuyển sắt, đồng còn có tác dụng kích thích sinh trưởng ở động vật nuôi Theo Bolstedt G (1951) [37], có thể bổ sung đồng dưới dạng đồng sulfate vào trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa với mức 10mg/kg thức ăn Còn theo Nguyễn Quế Côi [2], chỉ cần bổ sung một lượng đồng rất nhỏ trong khẩu phần lợn con, khoảng 6 - 8ppm, cũng có tác dụng kích thích sinh trưởng Đối với lợn con theo mẹ, có thể bổ sung vào khẩu phần với lượng từ 125 - 250ppm cho tốc độ sinh trưởng cao hơn Khi bổ sung đồng trong khẩu phần, cần chú ý trộn thật đều, tránh tập trung một lượng đồng quá lớn dễ gây ngộ độc cho lợn

d, Kẽm (Zn)

Kẽm được tìm thấy ở tất cả các mô bào, là thành phần quan trọng của trên 200 loại enzyme trong cơ thể Các enzyme này tham gia vào quá trình trao đổi chất của protein, carbonhydrate và chất béo; quá trình tổng hợp, dự trữ và tiết ra các hormon liên quan đến hệ miễn dịch cũng như giữ cân bằng điện giải Thiếu kẽm sẽ gây các bệnh về da, làm giảm tính ngon miệng, tăng tiêu tốn thức ăn, sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản

Bổ sung kẽm trong thức ăn giúp cải thiện tăng trọng và khả năng thu nhận thức ăn của lợn con Theo Lei Nin Li và Xiong Dai Jun [19], với 3.000mg/kg oxit kẽm có thể nâng cao 15 - 22% tăng trọng ngày, 9,5 - 14% lượng thức ăn thu nhận

Trang 31

Đa số kẽm trong hạt cốc và các loại hạt có dầu đều ở dạng phytate, làm giảm hàm lượng kẽm cung cấp cho cơ thể Có thể bổ sung thêm kẽm trong khẩu phần dưới dạng oxit, sulfate hay carbonate kẽm Khi hàm lượng kẽm vượt quá 2g trong 1kg vật chất khô thức ăn sẽ gây độc cho lợn [7]

e, Các nguyên tố vi lượng khác

Hàm lượng iốt trong cơ thể gia súc rất thấp, chỉ khoảng 0,6mg/1kg khối lượng cơ thể nhưng lại có vai trò rất quan trọng Iốt là thành phần không thể thiếu trong hormon thyroxin của tuyến giáp trạng Đây được coi là hormon sinh trưởng, giúp tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng tiêu thụ oxy của mô bào, kích thích các phản ứng sinh hoá trong tất cả các cơ quan Thiếu iốt gây bệnh cổ to, làm giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi

Selen là thành phần của enzyme giúp chống oxy hoá thành tế bào Mức

bổ sung cho lợn cai sữa là 0,3ppm Thiếu hay thừa selen đều có ảnh hưởng không tốt đến cơ, gan, tim và có thể gây chết Hàm lượng selen từ 5 - 8ppm

sẽ gây trúng độc

Trong dinh dưỡng vật nuôi, cũng cần quan tâm đến hàm lượng mangan Mangan có trong thành phần của một số enzyme liên quan đến quá trình trao đổi năng lượng, hình thành xương và sinh sản Thiếu mangan ở lợn con dẫn đến sinh trưởng kém, chân cong hoặc què chân Nhu cầu mangan đối với lợn đến nay vẫn chưa có số liệu chính xác

Tóm lại, các nguyên tố khoáng có vai trò nhất định trong cơ thể Giữa chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, có thể làm tăng hoặc giảm khả năng hấp thu của một hay nhiều nguyên tố khác Đồng thời, việc thiếu hay thừa khoáng đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể vật nuôi, làm giảm khả năng sinh trưởng, từ đó dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi Vì vậy, khi cân đối khẩu phần, cần tính toán bổ sung hợp lý các nguyên tố khoáng nhằm tạo hiệu quả hấp thu tối ưu nhất

Trang 32

2.2.4 Nhu cầu về vitamin

Vitamin được coi như một chất xúc tác sinh học tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi chất và mọi hoạt động của cơ thể Chỉ với một lượng rất nhỏ, vitamin giúp cho vật nuôi sinh trưởng và phát triển bình thường, nâng cao sức đề kháng của cơ thể Một số vitamin có thể tự tổng hợp được trong cơ thể lợn, đáp ứng đủ nhu cầu hàng ngày Một số khác được cung cấp từ thức

ăn Tuy nhiên, trong quá trình chế biến và bảo quản thức ăn, giá trị của vitamin bị giảm đi rất nhiều Do đó, cần phải bổ sung thêm vitamin vào khẩu phần nhằm tạo năng suất tối ưu

Có khoảng hơn 15 loại vitamin được coi là thành phần không thể thiếu trong khẩu phẩn ăn cho gia súc, gia cầm Chúng được chia làm hai nhóm:

- Nhóm vitamin hoà tan trong dầu mỡ: Vitamin A, D, E, K

- Nhóm vitamin hoà tan trong nước: Vitamin C, vitamin nhóm B

Tiền chất của vitamin A là β-caroten β-caroten có nhiều trong thực vật

và được chuyển hoá thành vitamin A trong thành ruột lợn Tuy nhiên, lợn con dưới 10 ngày tuổi không có khả năng này Ở 20 ngày tuổi, lợn con có thể chuyển hoá được khoảng 25 - 30% β-caroten thành dạng vitamin A hoạt động Lượng vitamin A nói riêng và các vitamin cần thiết khác được cung cấp cho lợn con sơ sinh từ sữa mẹ Sữa lợn mẹ hầu như đã đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vitamin cho lợn con [2] Trong sữa đầu, hàm lượng vitamin A cao gấp 6 lần so với sữa thường, do đó, cần cho lợn con bú sữa đầu

Thức ăn thực vật cung cấp nhiều vitamin A dưới dạng β-caroten Ngô hạt, một loại thức ăn chiếm số lượng lớn trong khẩu phần lợn cũng có nhiều

Trang 33

β-caroten nhưng không có giá trị nhiều do phần lớn β-caroten thường bị phá huỷ trong quá trình sấy khô và bảo quản

Theo NRC [12], nhu cầu vitamin A cho lợn từ 3 - 10kg là 2.200UI/1 kg khẩu phần Nếu tính toán nhu cầu theo β-caroten thì hàm lượng β-caroten phải tăng gấp 3 lần so với bổ sung trực tiếp vitamin A

b, Vitamin D

Các vitamin nhóm D bao gồm D1, D2 và D3, trong đó D2 (dạng có trong sản phẩm thực vật) và D3 (dạng có trong sản phẩm động vật) có vai trò quan trong đối với lợn trong quá trình trao đổi và chuyển hoá canxi - phốt pho Vitamin D giúp tăng cường sự hấp thu canxi ở ruột non, tăng tái hấp thu canxi

từ xương và tăng bài xuất phốt pho từ thận Thiếu vitamin D sẽ gây ra thiếu khoáng, dẫn đến còi xương ở lợn con và chứng nhuyễn xương, xương dễ gãy

ở lợn trưởng thành

Cơ thể lợn có thể tự tổng hợp vitamin D khi có tác động của ánh sáng mặt trời Tuy nhiên, trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay, lợn được nuôi nhốt nên trong khẩu phần cần bổ sung thêm vitamin D Có thể bổ sung vitamin D cho lợn bằng cách sử dụng dầu gan cá hoặc vitamin D công nghiệp Khi cân đối khẩu phần, cần tính toán đủ nhu cầu vì nếu thừa vitamin D sẽ gây độc cho lợn Nếu cho lợn sau cai sữa uống vitamin D3 với liều 250.000UI trong vòng 4 tuần liên tục sẽ làm giảm lượng thu nhận thức ăn, giảm sinh trưởng, gan sưng to, hoại tử ở tim, phổi và thận

Nhu cầu vitamin D ở lợn con là 220UI/1kg khẩu phần [12]

Trang 34

Ở lợn, thiếu vitamin E nghiêm trọng gây loét dạ dày, gan bị hoại tử, mỡ

bị nâu vàng, viêm thận, khó thở và viêm da; đồng thời cũng xảy ra hiện tượng

hệ cơ yếu và gây chết đột ngột dơ cơ tim quá yếu không đẩy được máu đi nuôi cơ thể [77]

Nhu cầu vitamin E cho lợn con theo NRC [12] là 16UI/1kg khẩu phần

d, Vitamin K

Vitamin K có liên quan đến quá trình đông máu, đó là thành phần không thể thiếu để tổng hợp nên prothrombin ở gan Prothrombin là tiền chất của enzyme thrombin, enzyme xúc tác chuyển hoá fibrinogen trong huyết tương thành fibrin làm cho máu đông Do đó, thiếu vitamin K sẽ làm chậm quá trình đông máu hoặc gây ra hiện tượng xuất huyết

Vitamin K có thể được tổng hợp trong cơ thể lợn nhờ hệ vi khuẩn đường ruột nhưng trên thực tế, vẫn xảy ra trường hợp thiếu vitamin K, đặc biệt khi thức ăn bị mốc Tuy nhiên, vitamin K thường được tính toán đầy đủ trong công thức phối trộn premix vitamin nên không cần bổ sung riêng

e, Vitamin nhóm B

Vitamin nhóm B bao gồm B1, B2, B6, B12, nicotinamid, axit pantothenic, biotin, folacin và choline Mỗi vitamin giữ một chức năng nhất định trong cơ thể nhưng nói chung, chức năng cơ bản của vitamin nhóm B là tham gia vào các quá trình trao đổi chất Nói chung, thiếu vitamin nhóm B thường dẫn đến rối loạn trao đổi chất, lợn có biểu hiện giảm ăn và chán ăn Tình trạng này sẽ được khắc phụ nhanh chóng ngay sau khi bổ sung đủ hàm lượng vitamin nhóm B vào khẩu phần

Vitamin B1 tham gia vào quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thần kinh, khử carboxyl của axit pyruvic Thiếu vitamin B1, lợn chán ăn, bị tê phù

và có biểu hiện thần kinh Theo NRC [12], nhu cầu vitamin B1 cho lợn từ 5 - 10kg là 1mg/1kg khẩu phần

Trang 35

Vitamin B2 tham gia vào hoạt động hô hấp của tế bào, vận chuyển hydro trong cơ thể Ngoài ra, vitamin B2 còn tham gia vào quá trình sản sinh hemoglobin tạo hồng cầu Thiếu vitamin B2 làm giảm tốc độ sinh trưởng, lợn

bị rụng lông, ỉa chảy và nôn mửa Nhu cầu vitamin B2 ở lợn 5 - 10kg là 3,5mg/1kg khẩu phần [12]

Hầu hết các vitamin nhóm B không được dự trữ trong các mô của cơ thể nên chúng phải được cung cấp hàng ngày thông qua thức ăn hoặc nước uống Thức ăn có nguồn gốc thực vật thường rất giàu vitamin nhóm B, ví dụ như cám gạo, cám mỳ

f, Vitamin C

Vitamin C và các dẫn xuất của nó có vai trò quan trọng đối với các phản ứng oxy hoá khử xảy ra trong tế bào Vitamin C cũng tham gia vào cơ chế vận chuyển ion sắt từ transferin trong nguyên sinh chất của các tế bào đến feritin là nơi dự trữ sắt trong tuỷ xương, gan và tuỵ Thiếu vitamin C trong khẩu phần sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc của xương, răng, mô liên kết và hệ cơ

Nhu cầu vitamin C trong khẩu phần lợn chưa được xác định rõ Tuy nhiên, khi lợn bị stress thì nhu cầu viatamin C tăng cao, do đó, vitamin C thường được bổ sung thêm trong thức ăn hoặc nước uống khi lợn bị stress hoặc có nguy cơ bị stress nhằm nâng cao sức đề kháng cho con vật

Tóm lại, vai trò của các vitamin đã được khẳng định từ lâu và đáp ứng

đủ nhu cầu vitamin cho vật nuôi là một việc làm quan trọng khi phối hợp khẩu phần Bổ sung vitamin giúp tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Hiện nay, vitamin được bán dưới dạng đơn chất hoặc đã được trộn sẵn thành premix vitamin Premix vitamin có đầy đủ các loại vitamin cần thiết cho vật nuôi và được tính toán với tỷ lệ phù hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của từng loại vật nuôi theo các giai đoạn khác nhau

Trang 36

2.2.5 Nhu cầu về nước uống

Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng nhưng lại rất cần thiết cho sự sống Trong cơ thể động vật, nước chiếm tới 60 - 75% khối lượng cơ thể Lượng nước trong cơ thể giảm dần từ 75 - 80% khi mới sinh xuống còn

45 - 60% ở động vật trưởng thành Nước là dung môi giúp hoà tan, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng, là môi trường của nhiều phản ứng sinh hoá học xảy ra trong cơ thể

Cơ thể bị mất nước hoặc không được cung cấp nước đầy đủ sẽ làm thay đổi nồng độ của dịch nội bào và ngoại bào, làm biến đổi cấu trúc tế bào, gây rối loạn cân bằng axit - bazơ dẫn đến rối loạn trao đổi chất Cơ thể bị mất nước nghiêm trọng có thể chết

Với mỗi đối tượng vật nuôi, nhu cầu nước là khác nhau Nhu cầu nước của vật nuôi phụ thuộc vào số lượng thức ăn ăn vào, nhiệt độ môi trường và sản phẩm sản xuất ra Mỗi lứa tuổi khác nhau có nhu cầu lượng nước tối thiểu khác nhau Lợn con đang bú mẹ ít có nhu cầu về nước uống vì lượng nước này được cung cấp qua sữa (hàm lượng nước trong sữa lợn mẹ chiếm tới 90%) Trong 4 ngày đầu, lượng nước trung bình tiêu thụ ở lợn con theo mẹ là 46ml/ngày Lợn con theo mẹ nuôi trong chuồng có nhiệt độ 28 - 320C, nhu cầu nước tăng 4 lần so với lợn con theo mẹ ở nhiệt độ chuồng nuôi là 200C [16] Sau khi lợn con bắt đầu tập ăn, nhu cầu về nước uống tăng dần và phụ thuộc chủ yếu vào lượng thức ăn tiêu thụ

Ở lợn cai sữa, lượng nước thu nhận có thể được tính theo công thức của Brooks et al [38]:

Lượng nước thu nhận (lít/ngày) = 0,149 + (3,053 x kg thức ăn thu nhận/ngày)

Theo William K và Preston [75], nhu cầu nước uống cho các loại lợn được trình bày trong bảng 2.4

Trang 37

Bảng 2.4 Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai đoạn

Loại lợn Lít/con/ngày Lít/kg thức ăn

2.3 BỆNH TIÊU CHẢY Ở LỢN CON

Trong chăn nuôi lợn con, bệnh tiêu chảy ở lợn con là khá phổ biến và gây thiệt hại nhiều về kinh tế, gọi thông thường là bệnh lợn con ỉa phân trắng Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm, nguyên nhân gây bệnh chính cũng như một số biện pháp phòng ngừa, điều trị của bệnh tiêu chảy ở lợn con

2.3.1 Khái niệm

Tiêu chảy là một thuật ngữ diễn tả biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hoá Con vật khi bị tiêu chảy sẽ có hiện tượng ỉa nhanh, ỉa nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do ruột tăng cường

co bóp và tiết dịch [32]

Tiêu chảy có thể xảy ra trong suốt thời kỳ lợn con theo mẹ, nhưng tập trung ở thời điểm trước 5 ngày tuổi và khoảng giữa ngày tuổi thứ 7 - 14 [49] Ngoài ra, tỷ lệ mắc tiêu chảy cao trong tuần đầu tiên sau cai sữa Giai đoạn này, lợn con phải tập làm quen dần với những thay đổi về điều kiện sống nên

dễ gặp stress, sức đề kháng giảm nên mẫn cảm với bệnh

Trang 38

Lợn con bị tiêu chảy sẽ bị mất nước, mất chất điện giải, cơ thể suy kiệt

và chết nếu không được can thiệp kịp thời Tiêu chảy làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, từ đó làm giảm sinh trưởng Bệnh có tỷ lệ tử vong cao, 50,25%, gây tổn thất lớn trong chăn nuôi [17] Vì vậy, ngăn chặn tiêu chảy là một việc làm hết sức quan trọng

2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh

Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, tuỳ từng giai đoạn, lứa tuổi của lợn mà có các nguyên nhân khác nhau Xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh là rất cần thiết, giúp chúng ta đưa ra những biện pháp phòng ngừa

và chữa trị kịp thời

a, Điều kiện ngoại cảnh

Điều kiện ngoại cảnh có tác động rất lớn đến sức khoẻ vật nuôi, đặc biệt đối với lợn con, khả năng phòng vệ của cơ thể là chưa hoàn thiện Thực

tế, lợn con thường bị tiêu chảy vào những ngày mưa nhiều, độ ẩm cao, trời lạnh, gió mùa

b, Dinh dưỡng

Ở lợn con sơ sinh, bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn chỉnh nên dinh dưỡng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu đồng thời cũng là một nguyên nhân chính dẫn đến tiêu chảy ở lợn con

- Hàm lượng, chất lượng và chủng loại protein: Theo Wang Juan và cộng sự [15], lượng protein trong thức ăn lợn con vượt quá 23% sẽ gây ra tiêu chảy Chủng loại protein khác nhau có ảnh hưởng đến phản ứng nhạy cảm và bệnh tiêu chảy với nhiều mức độ khác nhau Protein nguồn gốc thực vật thường chứa nhiều yếu tố kháng dinh dưỡng, làm hạn chế khả năng tiêu hoá của lợn con Protein từ đậu tương có chứa glycinin và β-conglycinin, hai chất kháng nguyên chính gây ra dị ứng đường ruột, dẫn đến tiêu chảy ở lợn con [33] Lợn con dễ bị tiêu chảy nếu protein cung cấp từ khô đậu tương vượt quá 25% protein khẩu phần

Trang 39

- Sự mất cân bằng điện giải và độ pH: Cân bằng chất điện giải có liên quan mật thiết đến quá trình thẩm thấu trong đường ruột Thức ăn mất cân bằng điện giải sẽ kéo theo mất cân bằng điện giải trong cơ thể và đường ruột của lợn con, làm thay đổi áp suất thẩm thấu và biến đổi hệ vi sinh vật đường ruột, dẫn đến tiêu chảy Độ pH trong thức ăn cao làm giảm độ axit trong dạ dày lợn con, tạo môi trường thích nghi cho mầm bệnh phát triển

- Sự thiếu hụt khoáng chất và vitamin: Một số nguyên tố kháng và vitamin là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn con Ví dụ, thiếu kẽm có thể gây viêm niêm mạc đường ruột, làm rối loạn hoạt động và cơ chế phân tiết của đường ruột, giảm hoạt tính men tiêu hoá, giảm tỷ lệ hấp thu thức ăn khiến cho thức ăn bị tồn lâu trong đường tiêu hoá gây nên tiêu chảy Hay như thiếu selen và vitamin E, có thể dẫn đến chứng hoại tử ở gan, biểu hiện rõ nét là lợn con lần lượt bị táo bón và tiêu chảy

lệ tương ứng trên lợn con 1 - 21 ngày tuổi và lợn con từ 22 - 60 ngày tuổi)

e, Bệnh tật

Một số bệnh gây ra tiêu chảy trên lợn con như bệnh ký sinh trùng, dịch

tả, phó thương hàn

2.3.3 Một số biện pháp giúp ngăn chặn bệnh tiêu chảy ở lợn con

Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh, người ta đưa ra các phác đồ phòng, trị bệnh tiêu chảy ở lợn con khác nhau Nhưng chúng ta cần quan tâm đến một số biện pháp chính sau:

Trang 40

- Tập trung giải quyết vấn đề môi trường, tiêu độc để hạn chế mầm bệnh; đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi 30 - 340C đối với lợn con theo mẹ và 29

- 300C với lợn con sau cai sữa

- Nâng cao sức đề kháng cho lợn con: cho lợn con bú sữa đầu, tiêm sắt phòng thiếu máu, cung cấp protein chất lượng cao, bổ sung chất điện giải, vitamin trong khẩu phần hàng ngày Có thể bổ sung thêm men tiêu hoá, probiotic hoặc prebiotic giúp cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột

- Nếu do nguyên nhân vi khuẩn, điều trị bằng kháng sinh có phổ rộng như Ampicillin, Neomycin, Gentamycin Có thể sử dụng kết hợp hai hoặc ba loại kháng sinh để nâng cao hiệu quả điều trị Quá trình điều trị phải đảm bảo

Huyết tương là một trong hai thành phần của máu động vật Thành phần còn lại là huyết cầu, bao gồm các tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu

Bảng 2.5 Tỷ lệ huyết tương và huyết cầu trong máu một số loài gia súc

Ngày đăng: 08/08/2013, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Thanh Bình (1998), Nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ (Yorkshire và Landrace), thức ăn đậm đặc cho lợn thịt Yorkshire và lợn F 1 (Yorkshire x Móng Cái), Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ (Yorkshire và Landrace), thức ăn đậm đặc cho lợn thịt Yorkshire và lợn F"1" (Yorkshire x Móng Cái)
Tác giả: Phạm Thị Thanh Bình
Năm: 1998
2. Nguyễn Quế Côi (2006), Chuyên đề “Chăn nuôi lợn thịt”, Bài giảng dùng cho chương trình cao học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn thịt”, "Bài giảng dùng cho chương trình cao học
Tác giả: Nguyễn Quế Côi
Năm: 2006
3. Dividich J. L. (2007), "Quản lý heo con từ sơ sinh đến cai sữa nhằm cải thiện tỷ lệ sống, tăng trưởng và đạt tăng trưởng đồng đều hơn", Hội thảo Chăm sóc và nuôi dưỡng heo con trước cai sữa, Công ty TNHH Diethelm Việt Nam, 21/6/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý heo con từ sơ sinh đến cai sữa nhằm cải thiện tỷ lệ sống, tăng trưởng và đạt tăng trưởng đồng đều hơn
Tác giả: Dividich J. L
Năm: 2007
4. Phạm Hữu Doanh, Nguyễn Văn Thưởng (2000), “Cẩm nang chăn nuôi lợn”, Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm (tập 1), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn”, "Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Nguyễn Văn Thưởng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
5. Frank Aherne, Maynard Ghogberg, Kornegay E.T., Gerard C. Shurson (2006), “Chăm sóc và dinh dưỡng cho lợn con mới cai sữa”, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc và dinh dưỡng cho lợn con mới cai sữa”, "Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp
Tác giả: Frank Aherne, Maynard Ghogberg, Kornegay E.T., Gerard C. Shurson
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2006
6. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1999), Dinh dưỡng và thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và thức ăn gia súc
Tác giả: Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
7. Vũ Duy Giảng, Bùi Văn Chính (2000), “Dinh dưỡng gia súc, gia cầm”, Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm (tập 1), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng gia súc, gia cầm”, "Cẩm nang chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Vũ Duy Giảng, Bùi Văn Chính
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
8. Vũ Duy Giảng (2005), Chuyên đề “Thức ăn và nuôi dưỡng lợn”, Con lợn ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng lợn”, "Con lợn ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
9. Vũ Duy Giảng (2007), Thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
10. Vũ Duy Giảng (2007), Chuyên đề “Thu nhận thức ăn”, Bài giảng dùng cho chương trình cao học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhận thức ăn”, "Bài giảng dùng cho chương trình cao học
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Năm: 2007
11. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội. Điều trị thử nghiệm, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội. Điều trị thử nghiệm
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
12. Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (1998), Nhu cầu dinh dưỡng của lợn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu dinh dưỡng của lợn
Tác giả: Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
13. Võ Trọng Hốt (2006), Chuyên đề “Chăn nuôi lợn’, Bài giảng dùng cho chương trình cao học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn’", Bài giảng dùng cho chương trình cao học
Tác giả: Võ Trọng Hốt
Năm: 2006
14. Phạm Quang Hùng, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Thắng, Đoàn Liên, Nguyễn Thị Tú (2006), Giáo trình chăn nuôi cơ bản, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi cơ bản
Tác giả: Phạm Quang Hùng, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Thắng, Đoàn Liên, Nguyễn Thị Tú
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
15. Wang Juan và Wang Yong Cai (2007), “Chứng tiêu chảy do dinh dưỡng ở heo con cai sữa và biện pháp ngăn chặn”, Tiếng nói Mỹ Nông, Kỳ 2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng tiêu chảy do dinh dưỡng ở heo con cai sữa và biện pháp ngăn chặn”, "Tiếng nói Mỹ Nông
Tác giả: Wang Juan và Wang Yong Cai
Năm: 2007
16. Trần Duy Khanh (2007), Nhu cầu nước uống hàng ngày của lợn, Báo Nông nghiệp, số 139, ngày 12/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu nước uống hàng ngày của lợn
Tác giả: Trần Duy Khanh
Năm: 2007
17. Đỗ Kháng (2005), Phòng trị bệnh tiêu chảy ở heo con, Báo Nông nghiệp, số 119, ngày 16/6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh tiêu chảy ở heo con
Tác giả: Đỗ Kháng
Năm: 2005
18. Đỗ Lân (2006), Xác định tỷ lệ bột whey trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa có bổ sung enzyme và hiệu quả của việc dùng kháng thể cho lợn con theo mẹ, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ bột whey trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa có bổ sung enzyme và hiệu quả của việc dùng kháng thể cho lợn con theo mẹ
Tác giả: Đỗ Lân
Năm: 2006
19. Lei Nin Li và Xiong Dai Jun (2005), “Tiến triển của quá trình nghiên cứu về tác động của kẽm đối với heo con”, Tiếng nói Mỹ Nông, Kỳ 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến triển của quá trình nghiên cứu về tác động của kẽm đối với heo con”, "Tiếng nói Mỹ Nông
Tác giả: Lei Nin Li và Xiong Dai Jun
Năm: 2005
20. Dương Thanh Liêm (2000), Các thực liệu cung cấp đạm trong thức ăn gia súc,http://longdinh.com/home.asp?act=chitiet&amp;ID=2277&amp;catID=2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thực liệu cung cấp đạm trong thức ăn gia súc
Tác giả: Dương Thanh Liêm
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Dung tích một số cơ quan đường tiêu hoá ở lợn theo ngày tuổi - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.1. Dung tích một số cơ quan đường tiêu hoá ở lợn theo ngày tuổi (Trang 14)
Bảng 2.2. Sự thay đổi pH trong dạ dày lợn con theo ngày tuổi - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.2. Sự thay đổi pH trong dạ dày lợn con theo ngày tuổi (Trang 15)
Bảng 2.3. Nhu cầu lysine và một số axit amin khác tính theo PDR - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.3. Nhu cầu lysine và một số axit amin khác tính theo PDR (Trang 27)
Bảng 2.4. Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai đoạn - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.4. Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai đoạn (Trang 37)
Bảng 2.5. Tỷ lệ huyết tương và huyết cầu trong máu một số loài gia súc - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.5. Tỷ lệ huyết tương và huyết cầu trong máu một số loài gia súc (Trang 40)
Bảng 2.7. Thành phần dinh dưỡng của một số loại plasma - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.7. Thành phần dinh dưỡng của một số loại plasma (Trang 44)
Bảng 2.8. Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu sử dụng plasma thay thế   sữa khử mỡ và khô đậu tương - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 2.8. Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu sử dụng plasma thay thế sữa khử mỡ và khô đậu tương (Trang 46)
Bảng 3.1. Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn từ sơ sinh đến 20kg - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 3.1. Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn từ sơ sinh đến 20kg (Trang 50)
Bảng 3.2. Công thức hỗn hợp cho lợn con theo mẹ - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 3.2. Công thức hỗn hợp cho lợn con theo mẹ (Trang 50)
Bảng 3.4. Công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 3.4. Công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa (Trang 51)
Bảng 3.5. Giá trị dinh dưỡng ước tính của công thức hỗn hợp   cho lợn con sau cai sữa - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 3.5. Giá trị dinh dưỡng ước tính của công thức hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa (Trang 52)
Bảng 3.6. Công thức bố trí thí nghiệm cho lợn con theo mẹ - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 3.6. Công thức bố trí thí nghiệm cho lợn con theo mẹ (Trang 53)
Bảng 4.1. Kết quả kiểm tra thành phần hóa học của nguyên liệu sử dụng   trong sản xuất thức ăn cho lợn con tập ăn và lợn con sau cai sữa - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
Bảng 4.1. Kết quả kiểm tra thành phần hóa học của nguyên liệu sử dụng trong sản xuất thức ăn cho lợn con tập ăn và lợn con sau cai sữa (Trang 56)
Đồ thị 4.1. Hàm lượng protein thô và chất béo thô của một số loại   nguyên liệu sử dụng trong công thức - [Luận văn]đánh giá hiệu quả của plasma trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa (yorkshire và landrace)
th ị 4.1. Hàm lượng protein thô và chất béo thô của một số loại nguyên liệu sử dụng trong công thức (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w