1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHO ĂN CEFALEXIN VÀ COLISTIN LIỀU CAO LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ HẤP THU DƯỠNG CHẤT CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

110 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn Cefalexin và Colistin liều cao lên khả năng tăng trưởng và hấp thu dưỡng chất của cá tra Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878” đư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHO ĂN CEFALEXIN

VÀ COLISTIN LIỀU CAO LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG

VÀ HẤP THU DƯỠNG CHẤT CỦA CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

Sinh viên thực hiện: TRẦN THANH LƯU NGUYỄN THỊ THU THÚY

Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên khoá: 2004 – 2008

Tháng 10/2008

Trang 2

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHO ĂN CEFALEXIN VÀ COLISTIN LIỀU CAO LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ HẤP

THU DƯỠNG CHẤT CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus

Sauvage, 1878)

Tác giả

TRẦN THANH LƯU NGUYỄN THỊ THU THÚY

Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

NGÔ VĂN NGỌC

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn Cefalexin và Colistin liều cao lên

khả năng tăng trưởng và hấp thu dưỡng chất của cá tra (Pangasianodon

hypophthalmus Sauvage, 1878)” được tiến hành nhằm tìm hiểu sự tác động của kháng

sinh liều cao lên khả năng tăng trưởng, sức sống và khả năng hấp thu dưỡng chất của

cá tra trong điều kiện nuôi giai đặt trong ao đất

Đề tài được thực hiện từ 13/05/2008 đến 27/08/2008 tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với một yếu tố là thức ăn và các điều kiện khác như môi trường sống, cho ăn, quản lý và chăm sóc là như nhau

Thí nghiệm trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) với trọng lượng trung

bình của cá bắt đầu thí nghiệm là 8,31 ± 0,17 g và chiều dài trung bình là 8,17 ± 0,09

cm, TN gồm năm nghiệm thức (NT) và được lặp lại ba lần (tương ứng là 3 lô)

Liều lượng kháng sinh tăng dần theo từng NT như sau:

 Nghiệm thức 0 (NT 0): không bổ sung cefalexin và colistin

 Nghiệm thức I (NT I): bổ sung 2 ppt cefalexin và 2 ppt colistin

 Nghiệm thức II (NT II): bổ sung 4 ppt cefalexin và 4 ppt colistin

 Nghiệm thức III (NT III): bổ sung 6 ppt cefalexin và 6 ppt colistin

 Nghiệm thức IV (NT IV): bổ sung 8 ppt cefalexin và 8 ppt colistin Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Mật độ vi khuẩn trong đường ruột của cá giảm hẳn khi cá ăn kháng sinh và tăng trở lại khi không cho ăn kháng sinh Cụ thể là khi cá ăn kháng sinh thì mật độ vi khuẩn đường ruột NT 0 là 6,03 x 105; NT I là 5,63 x 105; NT II là 5,07 x 105; NT III là 3,83 x 105 và NT IV là 2,5 x 105 CFU/g

Trang 4

- Việc bổ sung kháng sinh vào thức ăn đã làm biến đổi các nếp gấp trong ruột

cá tra Chiều dài nếp gấp trung bình của cá NT 0 đều lớn hơn của cá ở NT I; NT II; NT III và NT IV Ngoài ra, số lượng nếp gấp trong ruột của cá có cho ăn kháng sinh cũng thấp hơn so với cá không cho ăn kháng sinh

- Cá tra ở NT IV có độ tiêu hóa (ĐTH) protein và lipid thấp nhất, lần lượt là 79,19 và 24,91% Kế đến là NT III (83,26 và 36,93%); NT II (83,97 và 41,9%); NT I (80 và 32,49%) Cuối cùng, NT có ĐTH cao nhất là cá của NT 0 với ĐTH protein là 87,57% và ĐTH lipid là 55,15%

- Việc bổ sung 8 g cefalexin và 8 g colistin cho mỗi kg thức ăn (NT IV) cho thấy các chỉ số tăng trưởng (tăng trọng, tốc độ tăng trưởng đặc biệt) của cá tra đạt được thấp nhất, cá có trọng lượng trung bình là 60,48 g và cao nhất là NT không bổ sung kháng sinh (NT 0), cá có trọng lượng trung bình là 80,32 g

- Tỷ lệ sống của cá tra ở NT 0 đạt cao nhất (89,05%); kế đến là NT III (86,19%); NT I (84,28 %); NT II (82,38 %) và thấp nhất là NT IV chỉ đạt 81,43%

Dựa trên kết quả đạt được thì việc bổ sung cefalexin và colistin vào thức ăn đã ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của cá tra, thông qua việc giảm khả năng hấp thu dưỡng chất trong thức ăn

Trang 5

CẢM TẠ

Chúng tôi xin gởi lòng biết ơn chân thành đến:

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh;

Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản;

Quý thầy cô ở trường, đặc biệt là thầy cô Khoa Thủy Sản đã hết lòng dìu dắt, truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức và những kinh nghiệm thật quý báu

Đặc biệt là thầy Ngô Văn Ngọc đã giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu để chúng tôi hoàn thành khóa luận này

Các anh nhân viên Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi trong thời gian thực hiện khóa luận

Anh Nguyễn Tấn Lành: cán bộ kỹ thuật của công ty GreenFeed đã tận tình tạo mọi điều kiện thuận lợi và hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Chúng con xin cảm ơn cha mẹ và những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện cho chúng con trong suốt quá trình theo học tại trường

Cuối cùng, chúng tôi xin gởi lòng biết ơn đến các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã động viên giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Do kiến thức chuyên môn còn hạn chế, thời gian thực hiện đề tài có hạn nên khóa luận này không thể tránh khỏi sai sót Vì vậy, chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

Trang Trang tựa i Tóm tắt ii Cảm tạ iv Mục lục v Danh sách các chữ viết tắt ix

Danh sách đồ thị và hình ảnh x

Danh sách các bảng xii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.2 Mục Tiêu Khóa Luận 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.1 Vị trí phân loại và phân bố 3

2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 5

2.4 Hệ Vi Khuẩn Đường Ruột 11

2.5 Tác Dụng Tiêu Cực của Việc Dùng Thuốc Kháng Sinh Trong Nuôi Trồng Thủy

Sản 13

Trang 7

2.5.3 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh 14

2.5.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người 14

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện 16

3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị 16

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

3.2.2 Hệ thống giai thí nghiệm 17

3.2.3 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm 18

3.2.4 Thức ăn 20 3.2.5 Nguồn nước 21 3.3 Phương Pháp Bố Trí Thí Nghiệm 21

3.3.1 Nội dung I: Xác định tốc độ tăng trưởng 21

3.3.2 Nội dung II: Kiểm tra nếp gấp của ruột cá 21

3.3.3 Nội dung III: Khảo sát hệ vi khuẩn trong đường ruột 22

3.3.4 Nội dung IV: Xác định độ tiêu hóa thức ăn 23

3.4 Cho Ăn 24

3.5.1 Các chỉ tiêu môi trường 24

3.5.2 Kiểm tra tăng trưởng 24

3.5.3 Tỷ lệ sống 25 3.5.4 Độ tiêu hóa thức ăn 26

3.5.6 Khảo sát hệ vi khuẩn đường ruột 28

3.6 Phương Pháp Phân Tích Số Liệu 29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Một Số Yếu Tố Chất Lượng Nước trong Thí Nghiệm 30

4.1.1 Nhiệt độ 30

4.1.4 Hàm lượng amonia tổng số 33

Trang 8

NỘI DUNG I: KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CEFALEXIN VÀ COLISTIN

LIỀU CAO LÊN KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ

4.2.2 Tăng trưởng về trọng lượng 37

4.3 Tỷ Lệ Sống của Cá Thí Nghiệm 41

NỘI DUNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CEFALEXIN VÀ COLISTIN LIỀU CAO

LÊN NẾP GẤP CỦA RUỘT CÁ

4.4 Chiều Cao của Nếp Gấp 42

4.5 Độ Khít của Các Nếp Gấp 43

NỘI DUNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA CEFALEXIN VÀ COLISTIN LIỀU CAO

LÊN HỆ VI KHUẨN ĐƯỜNG RUỘT CỦA CÁ

4.6 Mật Độ Vi Khuẩn 49

4.7 Định Danh Vi Khuẩn 52

NỘI DUNG IV: KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CEFALEXIN VÀ COLISTIN

LIỀU CAO LÊN ĐỘ TIÊU HÓA PROTEIN VÀ LIPID TRONG THỨC ĂN

4.8 Thành Phần Sinh Hóa của Thức Ăn và Phân Cá ở Các Nghiệm Thức 56

Phụ lục 1: Các yếu tố chất lượng nước trong quá trình thí nghiệm

Phụ lục 2: Trọng lượng và chiều dài trung bình của cá qua các lần kiểm tra

Phụ lục 3: Chiều cao nếp gấp trong ruột cá qua các lần kiểm tra

Trang 9

Phụ lục 6: Kết quả xử lý thống kê về chiều dài và trọng lượng của cá ở các NT Phụ lục 7: Kết quả xử lý thống kê về mức tăng trưởng trung bình của cá TN Phụ lục 8: Kết quả xử lý thống kê về tỷ lệ sống của cá TN

Phụ lục 9: Kết quả xử lý thống kê về chiều cao nếp gấp trong ruột cá TN Phụ lục 10: Kết quả xử lý thống kê về mật độ vi khuẩn trong ruột cá TN Phụ lục 11: Kết quả xử lý thống kê về độ tiêu hóa

Trang 10

BKC Benzyl Konium Chloride

ppt Part per thousand

SGR Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific Growth Rate)

W Trọng lượng (weight)

T Thời gian (time)

ADC Độ tiêu hóa tạm thời (Apparent Disgestibility Coefficient)

Trang 11

DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

Đồ thị 4.1 Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 31

Đồ thị 4.2 Dao động pH trong quá trình thí nghiệm 32

Đồ thị 4.3 Biến động oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm 32

Đồ thị 4.4 Biến động amonia trong quá trình thí nghiệm 34

Đồ thị 4.5 Tốc độ tăng chiều dài của cá ở các nghiệm thức 36

Đồ thị 4.6 Trọng lượng trung bình của cá thí nghiệm qua các lần kiểm tra 38

Đồ thị 4.7 Mức tăng trọng tuyệt đối của cá ở các nghiệm thức 40

Đồ thị 4.8 Mật độ vi khuẩn trong ruột cá của các NT qua ba lần kiểm tra 50

Hình 2.4 Cấu trúc hóa học của colistin sulfate 9

Hình 3.1 Cá tra thí nghiệm 16 Hình 3.2 Giai nuôi cá tra thí nghiệm 17

Hình 3.4 Máy sấy thức ăn 19 Hình 3.5 Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm 20

Hình 4.1 Cá tra của 5 nghiệm thức sau 12 tuần thí nghiệm 39

Hình 4.2 Nếp gấp của ruột cá NT 0 khi kiểm tra lần thứ nhất 44

Hình 4.3 Nếp gấp của ruột cá NT 0 khi kiểm tra lần thứ hai 44

Hình 4.4 Nếp gấp của ruột cá NT I khi kiểm tra lần thứ nhất 45

Hình 4.5 Nếp gấp của ruột cá NT I khi kiểm tra lần thứ hai 45

Hình 4.6 Nếp gấp của ruột cá NT II khi kiểm tra lần thứ nhất 46

Hình 4.7 Nếp gấp của ruột cá NT II khi kiểm tra lần thứ hai 46

Hình 4.8 Nếp gấp của ruột cá NT III khi kiểm tra lần thứ nhất 47

Hình 4.9 Nếp gấp của ruột cá NT III khi kiểm tra lần thứ hai 47

Hình 4.10 Nếp gấp của ruột cá NT IV khi kiểm tra lần thứ nhất 48

Trang 12

Hình 4.11 Nếp gấp của ruột cá NT IV khi kiểm tra lần thứ hai 48

Hình 4.12 Kết quả định danh Yersinia ruckeri trên mẫu cá 54

Hình 4.13 Kết quả định danh Vibrio metchnikoviii trên mẫu nước 55

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 17

Bảng 3.3 Kết quả LDC và di động được đọc trên chai môi trường LDC 29

Bảng 4.1 Các yếu tố CLN trong quá trình thí nghiệm 30

Bảng 4.2 Chiều dài trung bình (cm) của cá qua các lần kiểm tra 35

Bảng 4.3 Tăng trưởng về chiều dài của cá trong quá trình thí nghiệm 36

Bảng 4.4 Trọng lượng trung bình (g) của cá thí nghiệm qua các lần kiểm tra 37

Bảng 4.5 Mức tăng trọng của cá thí nghiệm 39

Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức 41

Bảng 4.7 Chiều cao trung bình của nếp gấp ruột cá qua các lần kiểm tra 42

Bảng 4.8 Mật độ vi khuẩn trong ruột cá qua các lần kiểm tra (CFU/g) 49

Bảng 4.9 Mật độ vi khuẩn trong nước ao qua các lần kiểm tra 51

Bảng 4.10 Kết quả định danh vi khuẩn 53 Bảng 4.11 Thành phần sinh hóa trong thức ăn và trong phân cá của các NT 56

Bảng 4.12 Độ tiêu hóa protein và lipid của cá trong các nghiệm thức 57

Trang 14

do đó cần thiết phải được bổ sung bằng việc nuôi trồng thủy sản

Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản đã có bước phát triển nhanh chóng ở khắp nơi trên thế giới Đặc biệt ở nước ta, phong trào nuôi cá tra đã phát triển vượt mức, cần phải có một mật độ lớn con giống để cung cấp cho các vụ nuôi Trong khi con giống thu ngoài tự nhiên ngày càng khan hiếm thì công tác sản xuất giống nhân tạo là lựa chọn hàng đầu và đã đem lại lợi nhuận rất lớn Để có được hiệu quả cao trong sản xuất, người nuôi đã áp dụng mọi biện pháp nhằm nâng cao năng suất như nuôi thâm canh với mật độ cao Điều này đã làm cho môi trường nước ngày càng

bị ô nhiễm nên cá nuôi rất dễ bị mắc bệnh

Do sự hiểu biết của người dân về kháng sinh và cách sử dụng còn hạn chế, và vì lợi nhuận trước mắt mà người dân đã sử dụng kháng sinh liều cao để trị bệnh với mong muốn rút ngắn thời gian điều trị và tăng tỉ lệ sống Đặc biệt, trong giai đoạn ương cá giống, người nuôi đã sử dụng thuốc với nồng độ cao đến hàng chục lần làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng con giống, và khiến việc điều trị bệnh cho cá giai đoạn nuôi thương phẩm càng trở nên kém hiệu quả vì có thể vi khuẩn đã kháng với nhiều loại kháng sinh sử dụng trước đó (Nguyễn Đức Hiền, 2008) Bên cạnh đó, việc sử dụng kháng sinh với liều cao hơn khuyến cáo đã làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của vật nuôi, gây nguy hại cho môi trường và cho cả con người

Trang 15

Theo De Silva và ctv (1995), các chất kháng sinh có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu dưỡng chất trong thức ăn thông qua những sự thay đổi về mặt sinh lý học trong ruột hoặc thông qua tương tác vật lý hay hóa học giữa thuốc và vật chất được ăn vào

Do đó, đề tài “ Đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn cefalexin và colistin liều

cao lên khả năng tăng trưởng và hấp thu dưỡng chất của cá tra (Pangasianodon

hypophthalmus Sauvage, 1878)” được chúng tôi thực hiện nhằm đánh giá tác hại của

việc dùng kháng sinh liều cao trong quá trình ương nuôi cá tra giống

1.2 Mục Tiêu Khóa Luận

Khóa luận được thực hiện nhằm các mục tiêu:

- Đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn cefalexin và colistin liều cao lên tốc độ tăng trưởng của cá tra trong điều kiện nuôi trong giai;

- Phân lập và định danh hệ vi khuẩn cộng sinh trong ruột của cá tra có và không

có sử dụng kháng sinh;

- Đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn cefalexin và colistin liều cao lên các nếp gấp trong ruột cá tra;

- Khảo sát độ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn với việc không

và có bổ sung cefalexin và colistin liều cao

Trang 16

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một Số Đặc Điểm Sinh Học của Cá Tra

2.1.1 Vị trí phân loại và phân bố

Cá tra có vị trí phân loại như sau:

Ngành: Chordata (có dây sống)

Ngành phụ: Vertebrata (có xương sống)

Lớp: Pisces Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae

Giống: Pangasianodon Loài: Pangasianodon hypophthamus (Sauvage, 1878)

Tên tiếng Anh: Sutchi River Catfish

Tên Khơ-me: Trey pra

Tên Lào: Pa suay kheo, pa suay

Tên Thái: Pla saa whai, pla suey

Tên tiếng Việt: Cá tra

Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), cá tra là loài đặc trưng và phổ biến ở lưu vực sông Mêkong Ở Việt Nam, cá tra phân bố trên Sông Tiền, Sông Hậu thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Trên thế giới, cá tra phân bố ở Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan, Lào, Campuchia

Trang 17

2.1.2 Đặc điểm hình thái

Cá tra có thân dài, dẹp bên về phía đuôi, đầu và mõm hơi dẹp bằng Mắt nằm hai bên và nửa trước đầu Có hai đôi râu Vây lưng và vây ngực có gai cứng mang răng cưa ở mặt sau, vây mỡ nhỏ, vây đuôi phân thùy nông, mút cuối nhọn và tương đương nhau Thân màu xám, phần lưng thẫm hơn phần bụng (Nguyễn Văn Hảo, 2005)

Hình 2.1: Hình dạng ngoài cá tra

2.1.3 Đặc điểm sinh thái

Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho cá tăng trưởng dao động trong khoảng 26 –

300C Cá tra là loài chịu lạnh kém vì chúng là một trong những loài đặc trưng ở vùng nhiệt đới Ở 150C thì cường độ bắt mồi của cá giảm, nhưng cá vẫn sống; ở 390C thì cá

sẽ bơi lội không bình thường

pH: cá có khả năng chịu đựng pH từ 5 – 11, nhưng pH thích hợp cho cá phát triển là 6,5 – 7,5 Ở pH = 5, cá có biểu hiện mất nhớt, các đôi râu teo dần, hoạt động chậm chạp Khi pH = 11, cá sẽ hoạt động lờ đờ và mất nhớt

Ôxy hòa tan (DO): cá tra chịu được hàm lượng ôxy hòa tan thấp do cá có cơ quan hô hấp phụ là bóng khí và da Do đó, cá có thể nuôi được trong các ao nước tù, nước bẩn, nơi có nhiều chất hữu cơ hay nuôi trong bè mật độ dày

Trang 18

Khả năng chịu mặn: cá tra là loài sống chủ yếu ở nước ngọt, không sống được ở vùng nước mặn Nhưng cá có khả năng sống trong vùng nước lợ, cá có khả năng chịu được độ mặn là 10‰ (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Cá sau khi nở và tiêu hết noãn hoàng có chiều dài từ 1 – 1,5 cm Sau 14 ngày ương, cá có thể đạt được chiều dài trung bình từ 2 – 2,3 cm và có trọng lượng trung bình là 0,25 g Cá ương 5 tuần tuổi có chiều dài từ 5 – 6 cm và trọng lượng từ 1,28 – 1,5 g/con Sau một năm nuôi, cá có thể đạt trọng lượng 1,5 kg; sau 3 – 4 năm,

cá đạt 4 kg Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của cá tùy thuộc rất nhiều vào mật độ, chất lượng và mật độ thức ăn được cung cấp

Trong tự nhiên có thể gặp cá tra 20 tuổi, dài 150 cm và nặng 18 kg (Phạm Văn Khánh, 1996; trích bởi Nguyễn Văn Hảo, 2005)

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra là loài háu ăn, ăn tạp thiên về động vật Ở giai đoạn cá bột và cá hương thì cá tra thích ăn mồi sống, nhưng trong quá trình phát triển cá thể thì cá tra dần dần thích ăn mồi chết và có phổ thức ăn rộng hơn

Dạ dày của cá phình to có dạng hình chữ U và co giãn được Ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá ăn tạp thiên về động vật

Khi nuôi trong ao bè thì cá tra có thể thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein thấp do con người cung cấp như: cám vụn, bí đỏ, ngô, thức ăn chế biến, phân lợn, gà, vịt… Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc nuôi thương phẩm loài cá này

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Ngoài tự nhiên, vào khoảng tháng 1 – 4, cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mêkong sang Campuchia để tìm bãi sinh sản Bãi đẻ tập trung chủ yếu ở khu vực Krantie thuộc Campuchia và khu vực ThanKhon của Lào Tuổi thành thục của cá

Trang 19

khoảng 3 – 4 tuổi, trọng lượng trung bình 5 – 6 kg/con với chiều dài tối thiểu là 60 cm

Cá tra cùng tuổi thì cá cái thường có trọng lượng lớn hơn cá đực từ 30 – 40%

Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ nên nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được đực, cái Sức sinh sản của cá tra khoảng 139.000 – 150.000 trứng/kg cá cái Hệ số thành thục của cá tra cái trong tự nhiên là 3 – 12,57 %; của cá tra đực là 0,83 – 2,1 %

2.2 Sơ Lược về Kháng Sinh Cefalexin và Colistin

2.2.1 Cefalexin

Theo Nguyễn Như Pho (2006), kháng sinh cefalexin thuộc phân nhóm beta – lactamine, nằm trong nhóm cefalosporine thế hệ một

Hình 2.2: Cấu trúc hóa học của cefalexin (nguồn: www.gandfyd.org)

Lịch sử: Vào những nǎm 1970, cephalosporine thường dùng gồm cephalexin dạng uống và hai thuốc dùng ngoài đường uống là cephaloridine và cephalothin Năm

1973 có thêm cephazolin Cũng trong khoảng thời gian này, việc viết tên gốc cephalosporine được thay đổi từ “ceph” thành “cef” (www.thuoc-suckhoe.com)

Kháng sinh cephalosporine được phân loại không chặt chẽ thành các “thế hệ” dựa vào phổ tác dụng và thời gian công bố thuốc Nói chung, thế hệ một là các cephalosporine lâu đời nhất và có phổ tác dụng tương tự nhau Khi cefoxitin và cephamandol được công bố, chúng có những tiến bộ đặc biệt, vượt trội so với tất cả

Trang 20

các thuốc cũ, vì vậy được coi là thuốc thế hệ hai Tuy vậy, cefoxitin và cephamandol

không thay thế được cho nhau Các thuốc thế hệ ba có phổ tác dụng với vi khuẩn gram

âm vượt trội hơn cả hai nhóm kia

Sự phân bố và phổ kháng khuẩn của cefalexin: Nói chung, các cephalosporine

thế hệ một có hoạt tính mạnh chống lại các vi khuẩn gram dương hiếu khí và kém tác

dụng với vi khuẩn gram âm, phân bố vào các mô trừ dịch não tủy

Bảng 2.1: Phổ kháng khuẩn của cefalexin

Clostridium Staphylocoques penicilinase

Staphylocoques Penicilinase Streptocoques Corynebacterium

Pasteurella Salmonella E coli

Klebsiella

Pseudomonas aeruginosa Proteus

Hình 2.3: Sự phân bố của cefalexin

Cơ chế tác dụng: Tất cả các beta-lactam đều có những điểm giống nhau trong

cơ chế tác dụng Điều quan trọng là chúng phải xâm nhập vào màng tế bào vi khuẩn

qua kênh vận chuyển và gắn với protein liên kết penicillin Protein liên kết penicillin

đa dạng ở các loài vi khuẩn khác nhau, chịu trách nhiệm nhiều bước trong quá trình

tổng hợp màng tế bào vi khuẩn và có hàng trǎm đến hàng ngàn phân tử trong một tế

bào Hoạt tính nội tại của beta-lactam phụ thuộc vào khả nǎng tiếp cận và gắn với

Kết hợp

Má u

Trang 21

cuối cùng dẫn đến dung giải tế bào bằng các enzyme tự dung giải màng tế bào vi khuẩn (ví dụ autolysin) Còn chưa rõ mối quan hệ giữa protein liên kết penicillin và autolysin, nhưng có lẽ là kháng sinh nhóm beta-lactam ảnh hưởng đến một chất ức chế autolysin nào đó (www.thuoc-suckhoe.com)

Sự đề kháng thuốc: Kháng sinh cefalexin thuộc nhóm cefalosporine thế hệ một, không bền với enzyme cefalosporinase Vì vậy, một số loại vi khuẩn có thể tiết ra các enzyme này làm chất xúc tác cho sự thủy phân các phân tử có vòng beta – lactamin, do

đó gây bất hoạt kháng sinh Các vi khuẩn này chủ yếu là những vi khuẩn gram âm như

Pseudomonas earuginosa, Enterobacter spp., Bacteriodes spp….Do cơ chế này mà

nhiều liệu pháp mới cho thuốc được quan tâm, như các tác nhân ức chế beta-lactamase đặc hiệu (acid clavunic, sulbactam) đã được phát triển nhằm thiết lập lại hiệu lực của các kháng sinh này Ngoài ra, nhiều tác nhân khác có thể làm giảm hoạt tính của kháng sinh beta-lactam, bao gồm mật độ quần thể vi khuẩn và thời gian nhiễm trùng Các yếu

tố như độ pH, acid không tác động tới cephalosporin ở mức độ như các kháng sinh amynoglycosid (www.thuoc-suckhoe.com)

Colistimethate sodium: 222 – 2230C Trạng thái tự nhiên: Dạng bột kết tinh trắng, bền ở trạng thái khô và dung dịch

Độ tan: Các muối colistin tan vô hạn trong nước Ở 200C, 1 mL nước có thể hòa tan được 1 g colistin Các muối colistin không tan trong ether, acetone và cloroform,

Trang 22

khó tan trong cồn Cũng ở 200C, 10.000 mL cồn mới có thể hòa tan được 1 g colistin (Lynn G Friedlander và Dieter Arnold, 2006)

Hình 2.4: Cấu trúc hóa học của colistin sulfate (nguồn: www.chemblink.com)

Theo Lynn G Friedlander và Dieter Arnold (2006), colistin là kháng sinh được tìm thấy đầu tiên bởi Koyama và các cộng sự được đặt tên là colimycine, được tách từ

dung dịch vi khuẩn Bacillus polymyxa và Bacillus colistin Colistin là một trong những

kháng sinh thuộc họ Polymyxin

Phổ kháng khuẩn: Theo Storm và ctv (1977), colistin có hiệu quả cao đối với

các vi khuẩn gram âm như Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella spp., Haemophilus spp., Shigella spp., Pasteurella spp., Brucella spp., Aerobacter

aerogenes, và Bordetella bronchiseptica Đối với vi khuẩn gram dương thì ít nhạy cảm

hơn Tuy nhiên, chúng cũng có tác dụng đối với một số loại vi khuẩn như

Staphylococcus spp., Bacillus spp., Streptococcus pyogenes và Corynebacterium spp

(trích bởi Dieter Arnold, 2006)

Trang 23

Bảng 2.2: Phổ kháng khuẩn của colistin

Clostridium Staphylocoques penicilinase

Staphylocoques Penicilinase Streptocoques Corynebacterium

Pasteurella

Salmonella

E coli Klebsiella

Pseudomonas aeruginosa Proteus

Cơ chế tác dụng: Colistin tạo liên kết với lipid trên màng bào tương, làm xáo

trộn chức năng thẩm thấu của màng bào tương, khiến các chất có trong bào tương như

Mg2+, K+, Ca2+ thoát ra ngoài (Nguyễn Như Pho, 2006)

2.3 Cấu Trúc Ruột Cá

Ruột là thành phần của hệ tiêu hóa nằm kế sau dạ dày Ruột là một ống thẳng

có cấu trúc đơn giản, nối từ van môn vị đến van chậu – manh tràng của hậu môn,

đường kính tương đối nhỏ và được chia làm hai phần là ruột trước và ruột sau Ranh

giới giữa ruột trước và ruột sau không thể phân biệt được bằng mắt thường, mà chỉ có

thể phân biệt tùy theo cấu tạo tổ chức học của nó

Cấu tạo của ruột gồm ba lớp:

- Trong cùng là lớp màng nhày

- Giữa là lớp cơ trơn

- Ngoài cùng là màng quánh

Độ dài của ruột thay đổi tùy theo loài cá, thường là do tập tính ăn của cá:

- Ruột ngắn: có ở cá ăn động vật Chiều dài của ruột bằng 1/4 hay 1/3 so với

chiều dài thân Ruột thường thẳng hoặc uốn khúc có ở cá lóc, cá rô…

- Ruột dài: có ở cá ăn thực vật Chiều dài của ruột bằng từ 2 - 5 lần so với chiều

dài thân, có khi bằng 15 lần chiều dài thân, có ở cá đối, cá trắm cỏ…

- Ruột trung bình: có ở cá ăn tạp Ruột dài hơn ruột cá ăn động vật nhưng ngắn

hơn ruột cá ăn thực vật, có ở cá tra, rô phi, chép…

Trang 24

Bên trong ruột cá có nhiều nếp gấp sâu do màng nhày lồi ra nhằm gia tăng diện tích bề mặt Đặc biệt như ở cá nhám, các nếp gấp này tạo thành van xoắn ốc để làm tăng diện tích hấp thu vì ruột cá sụn thường ngắn

Các tế bào tiết được tạo thành ở đáy của nếp gấp, di chuyển lên đỉnh và thải chất tiết Ở cá không có các vi nhung mao như ở động vật hữu nhũ

Ruột sau tận cùng bằng trực tràng Ở trực tràng có tuyến trực tràng chỉ tiết dịch nhờn chứ không tiết dịch tiêu hóa

Ở một số loài cá còn có thêm manh tràng là phần phát triển của ruột để làm tăng diện tích bề mặt của ruột, nhờ vậy mà bổ sung thêm chức năng tiêu hóa và hấp thu cho ruột Mật độ của manh tràng và sự sắp xếp thay đổi tùy theo loài cá, ở một số loài cá manh tràng còn được dùng làm đặc điểm phân loại (Trần Trọng Chơn, 1998)

2.4 Hệ Vi Khuẩn Đường Ruột

Hệ vi khuẩn ở ruột gồm hai loại: vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại Hai loại vi khuẩn này ở trạng thái cân bằng nhau và vi khuẩn có lợi chiếm tỉ lệ ưu thế hơn ở những cá thể khỏe mạnh Các vi khuẩn có lợi trong ruột tạo ra các chất có lợi chủ yếu như vitamin hoặc các acid hữu cơ được ruột hấp thu ở niêm mạc ruột, ở gan Các acid hữu cơ này có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của các tác nhân gây bệnh ở ruột

Một số vi khuẩn khác ở ruột tạo ra các sản phẩm có hại cho vật chủ như các chất độc Một khi các vi khuẩn này chiếm ưu thế trong ruột thì các dưỡng chất cần thiết không được sản xuất và nồng độ các chất có hại tăng lên Các chất này có thể không có tác động có hại ngay lập tức trên vật chủ nhưng được xem là các yếu tố gây các bệnh gan, thận, stress, khả năng miễn dịch kém

Các vi khuẩn đường ruột thường sống ở ống tiêu hoá của người và động vật, có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh Ngoài ra chúng có thể sống ở bên ngoài vật chủ (đất, nước) và trong thức ăn

Các vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae là những trực khuẩn Gram âm không sinh nha bào Một số giống vi khuẩn thường không di động

(Klebsiella, Shigella), một số vi khuẩn khác di động nhờ có lông xung quanh thân tế

Trang 25

Các vi khuẩn đường ruột hiếu khí, kị khí tùy tiện, phát triển được trên các môi trường nuôi cấy thông thường

Trên các môi trường đặc, các khuẩn lạc của các vi khẩn đường ruột thường nhẵn, bóng (dạng S) Tính chất này có thể biến đổi sau nhiều lần nuôi cấy liên tiếp thành các khuẩn lạc có bề mặt khô và xù xì (dạng R)

Các khuẩn lạc của các vi khuẩn có vỏ như Klebsiella là khuẩn lạc nhầy, lớn hơn

khuẩn lạc dạng S và có xu hướng hoà lẫn vào nhau

Các vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae lên men glucose, có sinh hơi hoặc không sinh hơi, oxidase âm tính, catalase dương tính, khử nitrate thành nitrite Lên men hoặc không lên men một số đường (ví dụ lactose) Có hay không có một số enzyme như urease, tryptophanase Khả năng sinh ra H2S khi dị hóa protein, acid amin hoặc các dẫn chất có lưu huỳnh

Có thể phân loại các vi khuẩn thuộc họ Enterobacteria thành 13 giống chính như sau:

Trong các giống kể trên thì các giống có ý nghĩa nhất trong y học là:

Escherichia, Shigella, Salmonella, Enterobacter, Proteus và Yersinia còn các giống

khác ít ý nghĩa hơn

Trang 26

2.5 Tác Dụng Tiêu Cực của Việc Dùng Thuốc Kháng Sinh trong Nuôi Trồng Thủy Sản

2.5.1 Tác động đến môi trường sinh thái

Khi dùng kháng sinh để phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn trong nuôi trồng thủy sản bằng các phương pháp cho ăn và cho vào môi trường, một phần không nhỏ kháng sinh không được vật nuôi hấp thụ và được đào thải ra môi trường nuôi; từ đó lan ra môi trường xung quanh và gây nên các tác hại đáng kể

Kháng sinh oxytetracyclin được dùng rất phổ biến trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu bằng phương pháp trộn vào thức ăn Tuy nhiên, chỉ có khoảng 7 – 9% khối lượng kháng sinh đã dùng được cá hấp thụ, còn lại hơn 90% sẽ được đào thải ra môi trường (Cravedi, 1987; trích bởi Bùi Quang Tề và ctv., 2004)

Dư lượng kháng sinh tồn tại trong các trầm tích đã làm giảm mật độ hệ vi sinh vật làm nhiệm vụ phân hủy chất hữu cơ trong trầm tích, nên làm giảm lượng muối phosphate được tạo ra từ sự phân hủy chất hữu cơ bằng con đường sinh học, làm chậm quá trình tự làm sạch vùng nước và tăng quá trình phân hủy yếm khí làm sản sinh ra nhiều khí độc cho thủy vực

Dư lượng kháng sinh trong trầm tích có thể làm giảm 40 – 50% mật độ vi khuẩn trong nền đáy và giảm tới 90% hàm lượng phosphate ở chất trầm tích (Hansen, 1992; trích bởi Bùi Quang Tề và ctv., 2004)

2.5.2 Ảnh hưởng tới vật nuôi

Những loại kháng sinh dùng trong thủy sản ngoài tác dụng tiêu diệt các tác nhân gây bệnh còn có những tác động tiêu cực đến sức khỏe của vật nuôi Hầu hết các loại thuốc đều có tác dụng hai mặt tích cực và tiêu cực, đặc biệt là khi dùng nồng độ cao hay thời gian sử dụng thuốc kéo dài

Sau khi dùng kháng sinh trộn vào thức ăn cho tôm cá ăn, kháng sinh có thể gây độc cho gan, thận, tiêu diệt những vi khuẩn có lợi trong đường ruột, làm giảm đi khả năng thèm ăn của vật nuôi, gây hiện tượng chậm lớn, còi cọc ở đàn cá nuôi thương phẩm và ảnh hưởng đến sự phát triển tuyến sinh dục của cá bố mẹ

Trang 27

Theo Bùi Quang Tề và ctv (2004), trong nghề sản xuất tôm sú giống ở Việt Nam, để phòng bệnh nhiễm khuẩn, người ta thường dùng nhiều loại kháng sinh liên tục trong suốt quá trình ương ấp Do đó, khi thả tôm giống này ra ao nuôi thương phẩm thì chúng sẽ mẫn cảm hơn với các loại tác nhân gây bệnh

2.5.3 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh

Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn có thể ở nhiều dạng khác nhau, bao gồm: Kháng thuốc tự nhiên: do bản chất của vi khuẩn đã có thể kháng với một hay nhiều loại kháng sinh nào đó Đây là hiện tượng bất khả kháng vì nó thuộc về bản chất của vi khuẩn

Kháng thuốc nguyên phát: Khi dùng kháng sinh A để tiêu diệt một quần thể vi khuẩn X, bản chất vi khuẩn này không có khả năng kháng thuốc tự nhiên với kháng sinh A, nên đa phần các tế bào vi khuẩn đều bị tiêu diệt Tuy nhiên, trong đó có một số

ít tế bào vi khuẩn lại có khả năng sống sót, đó là kháng thuốc nguyên phát Các tế bào

vi khuẩn sống sót có thể sản sinh ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc

Kháng thuốc thứ phát: dưới tác động thường xuyên, lặp lại nhiều lần và kéo dài của một loại kháng sinh nào đó, kháng sinh này sẽ tác động vào vật chất di truyền làm xuất hiện gen kháng thuốc và gen này di truyền cho thế hệ sau Ngoài ra, còn có sự trao đổi gen kháng thuốc giữa một tế bào vi khuẩn có gen kháng thuốc và một tế bào chưa có gen kháng thuốc

Một dòng vi khuẩn đã kháng kháng sinh có thể truyền gen kháng thuốc là plasmid và hiện tượng kháng thuốc có nguy cơ xảy ra ở hầu hết các loại kháng sinh đã dùng trong nuôi trồng thủy sản (Brown, 1989; trích bởi Bùi Quang Tề và ctv., 2004)

2.5.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Ảnh hưởng trước tiên và trực tiếp là lên sức khỏe của những người tham gia nuôi trồng thủy sản, khi hằng ngày họ tiếp xúc với hóa chất và kháng sinh nhưng hầu như không có dụng cụ bảo hộ tối thiểu Ảnh hưởng này có thể không nhận thấy ngay tức thời mà thường kéo dài về sau mới thấy rõ tác hại

Việc dùng kháng sinh còn có thể tồn lưu dư lượng thuốc trong cơ, trong nội tạng của vật nuôi Do đó, khi sử dụng các vật nuôi này làm thực phẩm, chúng sẽ ảnh

Trang 28

hưởng đến sức khỏe con người Mặt khác, dư lượng thuốc trong thịt động vật thủy sản

có thể tác động gián tiếp làm hạ thấp giá trị thương phẩm, thu hẹp thị trường tiêu thụ

và vô tình ảnh hưởng tới nghề nuôi trồng thủy sản của quốc gia

Kháng sinh không được hấp thu và thải ra môi trường, các kháng sinh này tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh ở người với nồng độ thấp Đây là nguy cơ cho hiện tượng kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh ở người và động vật trên cạn

Trang 29

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện

Đề tài đã được thực hiện từ ngày 13 tháng 05 năm 2008 đến ngày 27 tháng 08 năm 2008 tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) có trọng lượng

trung bình là 8,31 ± 0,17 g và có chiều dài trung bình là 8,17 ± 0,09 cm Cá được thuần dưỡng trong ao 1 tuần Sau đó, cá được lọc đều cỡ để bố trí thí nghiệm Chọn những cá thể khỏe mạnh, không dị tật hay sây sát

Hình 3.1: Cá tra thí nghiệm

Trang 30

3.2.2 Hệ thống giai thí nghiệm

Thí nghiệm sử dụng 15 giai có kích thước 1 x 1 x 1 m, được đặt trực tiếp trong

ao 600 m2 với mực nước từ 1,2 – 1,5 m Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày tóm tắt qua Bảng 3.1

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

NT

II.3 III.3 NT III.1 NT IV.2 NT NT 0.2 NT I.3 IV.1NT NT 0.3 II.2NT NT 0.1 III.2NT IV.3 NT NT I.1 II.1NT NT I.2 Chú thích:

NT I.1: Lô 1 của NT I NT III.1: Lô 1 của NT III

NT I.2: Lô 2 của NT I NT III.2: Lô 2 của NT III

NT I.3: Lô 3 của NT I NT III.3: Lô 3 của NT III

NT II.1: Lô 1 của NT II NT IV.1: Lô 1 của NT IV

NT II.2: Lô 2 của NT II NT IV.2: Lô 2 của NT IV

NT II.3: Lô 3 của NT II NT IV.3: Lô 3 của NT IV

Hình 3.2: Giai nuôi cá tra thí nghiệm

Trang 31

Trước khi bố trí, ao được tháo cạn, dùng vôi bột (CaCO3) tẩy trùng diệt tạp với liều 7 – 10 kg/100m2 Sau đó phun BKC (Benzyl Konium Chloride) với liều 20 ppm Phơi nắng một ngày trước khi cấp nước vào ao

3.2.3 Dụng cụ và nguyên vật liệu dùng trong thí nghiệm

Trong TN này, các loại dụng cụ và nguyên vật liệu được sử dụng bao gồm:

 Ao đất có diện tích 600 m2

 Nhiệt kế thủy ngân, DO test, pH test, NH3 test

 Cân điện hai số lẻ để cân cá ở các lần kiểm tra và cân kháng sinh cần dùng trong thí nghiệm

 Cân đồng hồ (1 kg) để cân thức ăn

 Thau nhựa, vợt, rổ, giấy kẻ ô ly dùng để đo chiều đài cá ở mỗi đợt kiểm tra

 Dao, kéo, nhíp gắp dùng giải phẫu thu phân cá để xác định độ tiêu hóa

 Máy ảnh kĩ thuật số

 Máy xay nhuyễn thức ăn, máy ép viên thức ăn, máy sấy thức ăn để làm thức

ăn cho thí nghiệm xác định độ tiêu hóa

 Ống nghiệm, đĩa petri, đèn cồn, tủ cấy, tủ hấp, test dùng định danh trực khuẩn gram âm do công ty Nam Khoa sản xuất

 Máy lắc, môi trường nuôi cấy Nutrient Agar (NA)

 Hóa chất sử dụng: Vôi bột (CaCO3), BKC (Benzyl Konium Chloride), Sanmolt – F của công ty Biostadt India Limited sản xuất dùng để khử trùng nước ao và sát khuẩn cá sau khi kiểm tra

 Chromium sesquioxide (Cr2O3) do Trung Quốc sản xuất dùng làm chất đánh dấu bổ sung vào thức ăn để xác định độ tiêu hóa

 Men tiêu hóa, vitamin C dùng để bổ sung vào thức ăn nhằm làm tăng sức đề kháng và tăng khả năng tiêu hóa thức ăn

Trang 32

 Kháng sinh cefalexin với tên thương mại là Vime® – Cicep và colistin nguyên liệu được mua từ Công Ty Cổ Phần Sản Xuất Kinh Doanh Vật Tư và Thuốc Thú Y

Hình 3.3: Máy ép thức ăn viên

Trang 33

1 %, sau đó ép viên và đem sấy ở nhiệt độ 600C

Thức ăn được lưu mẫu để phân tích hàm lượng protein, lipid tại Bộ Môn Dinh Dưỡng thuộc Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Cr2O3 được phân tích tại Trung Tâm Công Nghệ Sau Thu Hoạch thuộc Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II

Hình 3.5: Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm

Thức ăn viên Thức ăn viên

xay nhuyễn Thức ăn có trộn Cr 2 O 3

Trang 34

3.2.5 Nguồn nước

Nguồn nước sử dụng trong suốt quá trình thí nghiệm được bơm trực tiếp từ Hồ Đất, qua lưới lọc cho vào ao, không qua ao lắng

3.3 Phương Pháp Bố Trí Thí Nghiệm

Nghiên cứu được thực hiện bao gồm bốn nội dung chính:

3.3.1 Nội dung I: Xác định tốc độ tăng trưởng

Thí nghiệm gồm có 5 nghiệm thức (NT) theo liều lượng cefalexin và colistin Mỗi NT lặp lại 3 lần (tương ứng với 3 lô) và được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong 15 giai Liều lượng kháng sinh tăng dần theo từng NT như sau:

 NT 0: không bổ sung cefalexin và colistin

 NT I: bổ sung 2 ppt cefalexin và 2 ppt colistin

 NT II: bổ sung 4 ppt cefalexin và 4 ppt colistin

 NT III: bổ sung 6 ppt cefalexin và 6 ppt colistin

 NT IV: bổ sung 8 ppt cefalexin và 8 ppt colistin

Cá dùng bố trí TN cùng một đàn và lọc để phân cỡ thật đều

Mỗi lô bố trí 70 cá thể, do cá được thuần dưỡng trước khi bố trí nên trong 2 ngày đầu cho cá ở 5 NT ăn thức ăn viên bình thường (không có kháng sinh) để cá quen với điều kiện thí nghiệm Từ ngày thứ ba trở đi, cho cá ở các NT ăn thức ăn thí nghiệm (có kháng sinh) liên tục trong 8 ngày Sau đó, cá ở các NT được chuyển sang ăn thức

ăn bình thường (không có kháng sinh) đến tuần thứ sáu Bắt đầu tuần thứ bảy, cho cá

ăn thức ăn thí nghiệm lần thứ hai như lần đầu và liên tục trong 8 ngày Cuối cùng cho

cá ăn thức ăn viên bình thường cho đến khi kết thúc thí nghiệm

3.3.2 Nội dung II: Kiểm tra nếp gấp của ruột cá

Trong quá trình thí nghiệm, chúng tôi tiến hành thu mẫu cá ở các lô để làm tiêu bản kiểm tra nếp gấp của ruột cá Mẫu được thu vào hai thời điểm là:

- Sau khi cho cá ăn kháng sinh lần đầu tiên

Trang 35

Tiến hành thu ngẫu nhiên mỗi giai một cá thể, mổ lấy ruột non một đoạn khoảng 2cm Đoạn ruột non thu cách dạ dày khoảng 1cm Sau đó, mẫu được cố định bằng formol 10% Mẫu được gởi làm tiêu bản tại Phòng Vi Thể Giải Phẫu Bệnh Lý của Bệnh Viện Từ Dũ Các tiêu bản được quan sát và chụp hình trên kính hiển vi với

độ phóng đại là 40 và 100 lần

3.3.3 Nội dung III: Khảo sát hệ vi khuẩn trong đường ruột

Trong thí nghiệm này, chúng tôi tiến hành thu mẫu ba lần như sau:

3; 10-4; 10-5 lấy 0,1 mL trang vào hai đĩa petri có chứa môi trường Nutrient Agar (NA)

và đem ủ ở 300C từ 18 – 24 giờ Sau đó, tiến hành phân lập và làm thuần các khuẩn lạc riêng lẻ căn cứ vào kích thước, hình dạng và màu sắc riêng biệt của chúng, bằng cách mỗi khuẩn lạc được cấy ria lên hai đĩa petri với môi trường tương tự môi trường nuôi cấy ban đầu (NA)

Sau khi làm thuần các khuẩn lạc, chúng tôi tiến hành định danh vi khuẩn qua các bước sau:

 Nhuộm Gram: nhằm phân biệt hai nhóm vi khuẩn dựa vào phản ứng với thuốc nhuộm Nếu vi khuẩn có màu tím thì đó là vi khuẩn gram dương và nếu vi khuẩn

có màu hồng thì là vi khuẩn gram âm

 Thử oxidase: nhằm xác định sự hiện diện của enzyme oxidase của vi khuẩn Lấy một khuẩn lạc riêng lẻ rồi chấm vào đĩa giấy được tẩm hóa chất thử (do Công ty Nam Khoa sản xuất) và nước muối sinh lý, để yên trong vòng 15 giây Nếu trên đĩa giấy có màu tím thì kết quả là dương tính và không có màu là kết quả âm tính

Trang 36

 Thử catalase: nhằm xác định sự hiện diện của enzyme catalase của một

số vi khuẩn hô hấp kỵ khí tùy ý Lấy một giọt thuốc thử catalase cho lên lame kính rồi dùng pipet pasteur lấy khuẩn lạc hòa vào thuốc thử Trong vòng 10 giây, nếu có bọt khí xuất hiện thì kết quả dương tính và không có bọt khí là kết quả âm tính

 Quan sát hình thái: được xác định bằng cách quan sát kết quả nhuộm gram như hình dạng vi khuẩn (cầu, que, xoắn…), cách sắp xếp các vi khuẩn (đơn, đôi, chuỗi…)

 Di động: phản ứng di động được xác định trên môi trường bán rắn (do Công ty Nam Khoa sản xuất) Khi vi khuẩn mọc trên môi trường này và làm mờ đường cấy là có khả năng di động

 Định danh: sử dụng bộ định danh vi khuẩn gồm 14 thử nghiệm sinh hóa định danh trực khuẩn gram âm (IDS 14GNR) Sau khi có code định danh thì tiến hành tra bảng code định danh để xác định tên vi khuẩn

Mỗi lần tiến hành bắt cá, mổ lấy ruột để phân lập và định danh vi khuẩn trong đường ruột, chúng tôi đều tiến hành thu mẫu nước ao để phận lập và định danh vi khuẩn trong nước ao

3.3.4 Nội dung IV: Xác định độ tiêu hóa thức ăn

Sau khi kết thúc thí nghiệm xác định độ tăng trưởng (nội dung I), cá của thí nghiệm này được giữ lại để thực hiện thí nghiệm xác định độ tiêu hóa của cá ở các NT (nội dung IV) Cá được cho ăn thức ăn viên nổi 3 ngày để giảm strees do cân đo lúc cuối nội dung I Sau đó, cá được chuyển sang ăn thức ăn viên chìm có chứa chất đánh dấu cromic oxyde (Cr2O3) trong 1 tuần

Trước khi bố trí thí nghiệm, thức ăn viên nổi được xay thật nhuyễn, trộn 1%

Cr2O3 làm chất đánh dấu và được trộn thật đều, ép viên rồi sấy khô Mẫu được lưu giữ

Trang 37

(3 cm) Sau khi thu xong, đem phân sấy khô ở nhiệt độ 600C Phân được đem phân tích protein, lipid, độ ẩm và Cr2O3

3.4 Cho Ăn

Ngày cho cá ăn ba lần vào buổi sáng lúc 7 giờ; 12 giờ và buổi chiều lúc 17 giờ với khẩu phần 10% trọng lượng thân và giảm xuống còn 7% trọng lượng thân vào tháng cuối thí nghiệm Khi cho ăn thì bỏ thức ăn vào khung đặt trong giai (nội dung I)

và cho vào sàng cho ăn (nội dung IV) để tránh thất thoát thức ăn Hằng ngày, theo dõi hoạt động bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn kịp thời

3.5 Các Chỉ Tiêu Theo Dõi

3.5.1 Các chỉ tiêu môi trường

Trong suốt quá trình thí nghiệm, chúng tôi thường xuyên theo dõi cá và khảo sát các yếu tố thủy lý hóa của nước ao Các yếu tố thủy lý hóa được theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm là:

Nhiệt độ: đo 1 tuần/lần vào buổi sáng và chiều bằng nhiệt kế thủy ngân

DO, pH, NH3: đo 1 tuần/lần vào buổi sáng và chiều bằng các test kit

Định kỳ thay nước 1 tuần/lần, mỗi lần thay từ 1/3 – 1/2 lượng nước trong ao

3.5.2 Kiểm tra tăng trưởng

Để theo dõi sự tăng trưởng của cá, chúng tôi tiến hành kiểm tra định kỳ 2 tuần/lần bằng cách đo chiều dài và cân trọng lượng của cá Mỗi lần bắt ngẫu nhiên 30 con/lô để kiểm tra

Chiều dài được đo bằng giấy kẻ ô li và đơn vị tính là centimet (cm)

Trọng lượng được cân bằng cân điện hai số lẻ, đơn vị tính là gram (g)

Sử dụng nước đá để hạ nhiệt độ nước xuống 18 – 200C; nhờ vậy, cá giảm hoạt động nên việc cân đo được dễ dàng và nhanh chóng hơn Sau khi cân đo xong, cá được sát trùng bằng Sanmolt – F trước khi thả trở lại các lô thí nghiệm

Trang 38

3.5.2.1 Tăng trưởng về chiều dài

Tỉ lệ tăng chiều dài tương đối (%) = (L2 - L1) x 100/L1

Tăng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày) = (L2 - L1) / (T2 - T1)

Trong đó: L1 là chiều dài cá lúc thí nghiệm (cm)

L2 là chiều dài cá cuối đợt thí nghiệm (cm)

T1 là thời điểm đầu thí nghiệm

T2 là thời điểm cuối thí nghiệm

3.5.2.2 Tăng trưởng về trọng lượng

Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) (Specific growth rate)

SGR = (LnW2 – LnW1) x 100 / t

Tỷ lệ tăng trọng tương đối (%) = (W2 – W1) x 100 / W1

Tăng trọng tuyệt đối (g/ngày) = (W2 – W1) / (t2 – t1)

Trong đó: W1 là trọng lượng cá khi thí nghiệm (g)

W2 là trọng lượng cá cuối thí nghiệm (g) LnW1 là logarit nepe của trọng lượng cá đầu thí nghiệm

LnW2 là logarit nepe của trọng lượng cá cuối thí nghiệm

t là thời gian thí nghiệm

t1 là thời điểm đầu thí nghiệm

t2 là thời điểm cuối thí nghiệm

3.5.3 Tỉ lệ sống

Tỉ lệ sống được xác định sau khi kết thúc thí nghiệm ở mỗi nghiệm thức và được tính theo công thức:

Số lượng cá sau thí nghiệm

Tỷ lệ sống của cá sau thí nghiệm (%) = x 100

Số lượng cá đầu thí nghiệm

Trang 39

3.5.4 Độ tiêu hóa thức ăn

Theo Lê Thanh Hùng (2000), độ tiêu hóa thức ăn là khả năng tiêu hóa và hấp thụ loại thức ăn đó

Phương pháp đo gián tiếp độ tiêu hóa thông qua việc sử dụng chất đánh dấu trộn vào thức ăn được sử dụng phổ biến hơn Chất đánh dấu không được tiêu hóa và hấp thụ nên tỉ lệ nồng độ chất đánh dấu trong phân và trong thức ăn chính là độ tiêu hóa thức ăn theo định nghĩa trên

Độ tiêu hóa tổng cộng được tính theo công thức:

Với a: % chất dinh dưỡng có trong thức ăn

c: % chất dinh dưỡng có trong phân

b: % Cr2O3 có trong thức ăn

d: % Cr2O3 có trong phân

N: khối lượng thức ăn

M: khối lượng phân cá

N(g) a%

Chất dinh dưỡng Cr2O3

b%

M(g) c%

Chất dinh dưỡng Cr2O3

d%

Trang 40

Độ tiêu hóa tạm thời ADC (Apparent Disgestibility Coefficient) được tính:

A: lượng chất dinh dưỡng có trong thức ăn (g) A = a x N / 100

B: lượng chất dinh dưỡng có trong phân (g) B = c x M / 100

Do lượng cromic oxide hoàn toàn không tiêu hóa được nên lượng Cr2O3 trong khẩu phần ăn bằng với lượng Cr2O3 trong phân nên ta có:

3.5.5 Kiểm tra nếp gấp của ruột cá

Để đánh giá về ảnh hưởng của kháng sinh lên nếp gấp của ruột cá, chúng tôi tiến hành quan sát tiêu bản nếp gấp trên kính hiển vi Đo chiều cao của nếp gấp và xem

độ khít của các nếp gấp Chỉ tiêu chiều cao của nếp gấp được đo từ gốc đến đỉnh của nếp gấp Chỉ tiêu về độ khít của nếp gấp được đánh giá bằng cảm quan

ADC = 100 x (1 – x )

A – B ADC (%) = x 100

(%)

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w