1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH SỬ DU NHẬP VÀ KHẢO SÁT TÍNH ĂN CỦA CÁ HOÀNG ĐẾ (Cichla ocellaris, Bloch and schneider, 1801) Ở HỒ TRỊ AN

72 140 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề cá ở hồ Trị An được quan tâm phát triển, cả trong nghề nuôi và khai thác, và đã đạt được những kết quả nhất định, hằng năm cung cấp hàng vạn tấn cá thịt và các loại thuỷ sản phục vụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Tháng 10/2008

Trang 2

LỊCH SỬ DU NHẬP VÀ KHẢO SÁT TÍNH ĂN CỦA CÁ HOÀNG ĐẾ

(Cichla ocellaris, Bloch and Schneider, 1801) Ở HỒ TRỊ AN

Thực hiện bởi

Trần Ngọc Phụng

Khoá luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thuỷ Sản

Giáo viên hướng dẫn: TS Vũ Cẩm Lương

Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2008

Trang 3

TÓM TẮT

Hồ Trị An là hồ chứa lớn ở tỉnh Đồng Nai, với diện tích 32.400 ha, trong đó

diện tích mặt nước có hiệu quả khoảng 2.500 ha, hồ có một tiềm năng rất lớn về phát

triển thuỷ sản Việc phát triển nghề cá ở hồ Trị An đóng vai trò quan trọng trong việc

cải thiện dinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho các hộ ngư dân sống ven hồ, tạo công

ăn việc làm cho hàng ngàn lao động

Tuy nhiên, ở hồ Trị An xuất hiện một số loài cá ngoại lai như: cá Chim trắng

(Colossoma brachypomum), cá Tỳ bà (Hypostomus plesostonius), và cá Hoàng đế

(Cichla ocellaris, Bloch and Schneider, 1801) Trong số này cá Hoàng đế hiện có sản

lượng khai thác thương mại cao nhất Được sự phân công của Khoa thuỷ sản, tôi tiến

hành thực hiện đề tài “ Lịch sử du nhập và khảo sát tính ăn của cá Hoàng đế (Cichla

ocellaris, Bloch and Schneider, 1801) ở hồ Trị An”

Đề tài được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2008, ở Hồ Trị An tỉnh Đồng

Nai Điều tra ngư dân và thu mẫu cá Hoàng đế sau đó phân tích thức ăn trong dạ dày

Kết quả dạt được như sau:

- Cá Hoàng đế có nguồn gốc ở Nam Mỹ, do người nuôi cá cảnh thả vào hồ Trị

An năm 2002

- R2 = 0,9664 cho thấy cá rất thích nghi với môi trường hồ Trị An

- Li/Lo trung bình là 0,43 0,04 cho thấy cá Hoàng đế là loài ăn động vật

- Thức ăn chủ yếu là cá có kích thước nhỏ như cá Cơm, cá Sơn, cá con, Ba

dong…

- Số lượng thức ăn của cá Hoàng đế phụ thuộc nhiều vào kích thước con mồi

Trang 4

CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm Khoa Thuỷ Sản

Quý thầy cô trong và ngoài khoa đã tận tình truyền đạt kiến thức quý báu cho

tôi trong những năm học vừa qua, đồng thời đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian

thực hiện đề tài

Dự án CRSP đã hỗ trợ kinh phí thu mẫu cá Thầy Lê Thanh Hùng, cô Phạm Thị

Thanh Bình và các thành viên dự án đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài

Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến:

Thầy Vũ Cẩm Lương đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện

và hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến:

Tập thể cán bộ Công ty thủy sản Đồng Nai

Chi cục thủy sản tỉnh Đồng Nai

Bà con ngư dân ở hồ Trị An

Xin cảm ơn các bạn sinh viên cùng lớp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình

học tập cũng như khi tiến hành đề tài tốt nghiệp

Do còn hạn chế về mặt thời gian, cũng như kiến thức chuyên môn nên luận văn

không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự chỉ bảo và đóng góp của quý thầy

cô và các bạn

Trang 5

CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.1 Lịch sử hình thành hồ 3

2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 6

21.4.1 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 6

2.1.4.2 Chế độ thuỷ lý, hoá, sinh của hồ 7

Trang 6

2.3.1.3 Các hình thức nuôi khác 13

2.4 Các cơ quan quản lý và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở Hồ Trị An 16

2.4.2 Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản 17

2.5 Cá Hoàng đế 18 2.5.1 Vị trí phân loại 18

2.5.2 Phân bố 19 2.5.3 Đặc điểm phân biệt 19

2.5.4 Đặc điểm sinh học 20

2.5.5 Khả năng tác động môi trường 21

2.5.6 Tình hình khai thác cá Hoàng đế ở hồ Trị An 23

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.2 Đối tượng thu mẫu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.9 Trọng lượng thức ăn trung bình của một cá Hoàng đế 28

Trang 7

4.3 Tính ăn 30 4.4 Khảo sát thời điển ăn 31

4.5 Loại thức ăn 34 4.6 Thành phần trăm số lượng thức ăn 38

4.7 Trọng lượng thức ăn trung bình của một cá Hoàng đế 39

CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42 5.2 Đề nghị 42

TẦI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bảng câu hỏi điều tra ngư dân về lịc sử du nhập cá Hoàng đế

Phụ lục 2 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá Hoàng đế

Phụ lục 3 Tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài chuẩn

Phụ lục 4 Thời điểm ăn của cá

Phụ lục 5 Thành phần thức ăn của cá Hoàng đế

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG NỘI DUNG TRANG

Bảng 2.1 Số lượng cá thả và sản lượng khai thác hàng năm 10

Bảng 2.2 Số lượng bè qua các năm ở hồ Trị An 12

Bảng 2.3 Các eo nghách nuôi thuỷ sản 14 Bảng 2.4 Các địa phương nuôi cá trong ao vùng bán ngập 15

Bảng 4.2 Các khoảng thời gian thu mẫu 31 Bảng 4.3 Trọng lượng thức ăn trung binh của một cá Hoàng đế 31

Bảng 4.4 Số lượng con mồi trung bình của một cá Hoàng đế 31

Bảng 4.5 Số lượng và tỉ lệ phần trăm cá Hoàng đế ăn từng loại thức ăn 35

Bảng 4.6 Số lượng và phần trăm từng loại thức ăn 38

Bảng 4.7 Trọng lượng thức ăn trung bình của một cá Hoàng đế 40

Bảng 4.8 Chiều dài và trọng lượng trung bình các loại thức ăn 41

Trang 9

DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ

Đồ thị 4.1 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá Hoàng đế 30

BIỂU ĐỒ NỘI DUNG TRANG

Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ phần trăm số lượng cá Hoàng đế theo từng loại thức ăn 35

Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ phần trăm số lượng các loại thức ăn 39

Biểu đồ 4.3 Trọng lượng thức ăn trung bình của một cá Hoàng đế 40

Trang 10

Hình 4.1 Xoang bụng cá Hoàng đế 32

Hình 4.2 Dạ dày cá lúc không có thức ăn 33

Hình 4.3 Dạ dày cá lúc đầy thức ăn 33

Hình 4.4 Thức ăn đã phân huỷ không nhận dạng được 34

Hình 4.5 Cá Cơm 36 Hình 4.6 Cá Sơn 37

Trang 11

Chương I

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Hồ Trị An là hồ chứa dạng sông và hiện là hồ chứa có diện tích ngập lớn nhất

nước ta, chức năng chính của hồ là để phục vụ cho nhà máy thuỷ điện Trị An Ngoài ra

hồ còn cấp nước phục vụ cho hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng, khai

thác thuỷ sản, nước phục vụ sinh hoạt cho người dân và còn là địa điểm du lịch (Sở

NN&PTNT Đồng Nai, 2007)

Nghề cá ở hồ Trị An được quan tâm phát triển, cả trong nghề nuôi và khai thác,

và đã đạt được những kết quả nhất định, hằng năm cung cấp hàng vạn tấn cá thịt và

các loại thuỷ sản phục vụ người dân

Tuy nhiên những năm gần đây thì sản lượng khai thác thuỷ sản trên hồ Trị An

đang bị giảm sút rất rõ rệt Nguyên nhân của vấn đề này là do trên hồ chứa còn tồn tại

một số bất cập như: ô nhiễm môi trường các vùng nuôi trên sông, hồ; tình trạng sử

dụng chất nổ, xung điện để đánh bắt thuỷ sản;…

Vài năm trở lại đây ở hồ Trị An xuất hiện một số loài cá ngoại lai, gây ảnh

hưởng không ít đến sinh thái vùng hồ Do nhu cầu kinh tế, một số hộ dân sống trong

vùng lòng hồ Trị An đã xây dựng ao thả nuôi một số loài cá ngoại lai có giá trị kinh tế

và có lẽ đây là nguyên nhân bắt nguồn của những thảm hoạ môi trường xảy ra Đó là

các loài cá Tỳ bà (Hypostomus plesostonius), cá Chim trắng (Colossoma brachypomum)

và gần đây nhất là cá Hoàng đế (Cichla ocellaris, Bloch and Schneider, 1801) Có

nhiều dư luận cho rằng cá Hoàng đế có khả năng làm thay đổi hệ sinh thái, nơi mà nó

du nhập và nó cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm sút sản lượng thủy sản

ở hồ Trị An Nhưng thiếu những nghiên cứu thực tế Tôi được sự phân công của Khoa

Thuỷ Sản tiến hành thực hiện đề tài “Lịch sử du nhập và khảo sát tính ăn cá Hoàng đế

(Cichla ocellaris, Bloch and Schneider, 1801) ở hồ Trị An”

Trang 12

1.2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung của đề tài nhằm tìm hiểu nguồn gốc, lịch sử du nhập và khảo

sát thức ăn tự nhiên của cá Hoàng đế

Trang 13

Chương II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Thông tin chung về Hồ Trị An

2.1.1 Lịch sử hình thành hồ

Hồ Trị An được hình thành do xây đập chắn ngang sông Đồng Nai tại thị trấn

Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu Thượng lưu của hồ là nơi hợp lưu giữa sông Đồng Nai và

sông La Ngà Hồ được thành lập với nhiệm vụ tích nước phục vụ cho thủy điện và

cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân vùng hạ lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn

+ Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3

và là vùng trung lưu của sông Đoạn từ ranh giới Đồng Nai - Lâm Đồng đến cửa sông

Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Địa hình lưu vực đoạn

trung lưu từ 100-300 m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh Đoạn sau Trị

An sông chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai

có sông La Ngà, Sông Bé

+ Sông La Ngà: Đoạn sông La Ngà chảy trong tỉnh Đồng Nai dài 55 km, khúc

khuỷu, nhiều ghềnh thác (ví dụ: thác Trời cao trên 5m) Đoạn này sông La Ngà hẹp, có

nhiều nhánh đổ vào, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tam Bung Suối Gia Huynh

có lưu vực 135 km2, mô đun dòng chảy 91/s km2 vào mùa khô và 47,41/s km2 vào mùa

mưa, bắt nguồn từ vùng Quốc Lộ 1, ranh giới Đồng Nai - Bình Thuận Suối Tam Bung

có diện tích lưu vực 155 km2, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Xuân Lộc, mô đun

dòng chảy 101/s km2 vào mùa khô và 651/s km2 vào mùa mưa Sông La Ngà đổ vào hồ

Trị An một lượng nước khoảng 4,5x109 m3/năm, chiếm 1/3 tổng lượng nước hồ, mô

đun dòng chảy năm 351/s km2

Trang 14

Công trình thuỷ điện Trị An được khởi công từ năm 1982 và hoàn tất năm

1987 và bắt đầu đưa vào hoạt động năm 1988 với sản lượng điện hàng năm là 1,7 tỉ

- Diện tích ngập nước vào mùa mưa: 32.400 ha

- Diện tích ngập nước vào mùa khô: 7.500 ha

- Diện tích mặt nước sử dụng có hiệu quả: 25.000 ha

- Mức nước cao nhất (so với mặt nước biển): 63,9 m

- Mực nước thấp nhất (so với mặt nước biển): 49 m

- Mực nước trung bình (so với mặt nước biển) : 62 m

- Lưu tốc nước trung bình vào mùa khô: 0,6-0,9 m/s

- Lưu tốc nước trung bình vào mùa mưa: 0,8-1,2 m/s

- Lưu lượng nước trung bình: 477m3/s

- Lưu lượng ở đỉnh lũ thiết kế: 21.000m3/s

- Dung tích toàn hồ: 2.760 tỷ m3

- Dung tích hữu ích: 2.754 tỷ m3

(Nguồn: Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Đồng Nai, 2001)

Trang 16

2.1.2 Vị trí đị lý

Hồ nằm ở vị trí 100-12020’ vĩ bắc và 1070-108030’ kinh đông, cách thành phố

Biên Hoà tỉnh Đồng Nai 40 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km

Hồ Trị An thuộc địa phận của 3 huyện: Vĩnh Cửu, Thống Nhất và Định Quán,

theo ranh giới sau:

Phía nam giáp xã Gia Tân, xã Cây Gáo thuộc huyện Thống Nhất

Phía bắc giáp lâm trường Mã Đà, lâm trường Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu

Phía tây giáp Nhà máy thuỷ điện Trị An và thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh

2.1.4 Điều kiện tự nhiên

2.1.4.1 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn

Khí hậu vùng hồ thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự phân chia hai mùa

rõ rệt:

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, khí hậu

ẩm ướt và lượng mưa lớn (chiếm 90-95% lượng mưa cả năm)

Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên gần

như không có mưa hoặc lượng mưa rất nhỏ (chiếm 5-10% lượng mưa cả năm)

Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 25,40C, dao động từ 23,80C đến

28,20C

Nhiệt độ nước biến động từ 12-310C

Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 2000 mm

Độ ẩm tương đối vào mùa mưa: 86-87%

Độ ẩm tương đối vào mùa khô: 74-77%

Chế độ thủy văn của lưu vực sông Đồng Nai hoàn toàn phù hợp với đặc điểm:

Mùa lũ: kéo dài từ tháng 7 đến tháng 11 Lưu lượng nước vào mùa này lớn chủ

yếu là do lượng mưa nhiều, lưu tốc dòng chảy trung bình từ 0,6-1 m/s

Trang 17

Mùa kiệt: kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6, kiệt nhất là vào tháng 5 đến tháng 6

Lưu lượng nước vào mùa này giảm đi rất nhiều, lưu tốc dòng chảy trung bình từ

0,3-0,5 m/s

2.1.4.2 Chế độ thuỷ, lý, hoá, sinh của hồ

Theo kết quả khảo sát qua 3 tháng (tháng 10, 11, 12 năm 2000) của Chi cục bảo

vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Nai thì hồ Trị An có:

Photphat hoà tan: 0,17 mg/l

Hàm lượng chất dinh dưỡng hoà tan: hàm lượng chất dinh dưỡng mùa mưa cao

hơn mùa khô, do lượng phù sa và mùn bã hữu cơ từ các sông suối đổ về cùng với sự

phân hủy các thảm cỏ khi hồ ngập nước Qua quá trình hình thành, hồ Trị An ngày

càng trở nên giàu chất khoáng Đây là yếu tố thuận lợi cho các nguồn lợi thủy sản tự

nhiên phát triển (Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Nai, 2001)

2.2 Chức năng của hồ

2.2.1 Hoạt động thuỷ điện ở hồ Trị An

Công trình thuỷ điện Trị An là công trình năng lượng lớn nhất ở phía Nam được

xây dựng đầu tiên kể từ sau ngày thống nhất đất nước, nhằm tạo ra nguồn điện mới để

giải quyết cơ bản tình hình thiếu điện trầm trọng ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh

trong khu vực

Công trình được khởi công xây dựng năm 1982 và chính thức đưa vào vận hành

các tổ máy vào năm 1988, từ đó đến nay công trình làm việc liên tục theo chế độ và

thông số thiết kế, cung cấp cho hệ thống điện miền nam một nguồn điện với 1,7 tỷ Kw

Trang 18

hằng năm, thực sự góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế ngày càng gia tăng của

thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía Nam

2.2.2 Các chức năng khác

Ngoài nhiệm vụ chính là sản xuất điện năng cho hệ thống điện miền Nam, công

trình Trị An còn đóng góp một phần hết sức quan trọng trong việc duy trì lượng nước

xả tối thiểu ( trung bình 200 m3/s) phục vụ công tác đẩy mặn và tưới tiêu khoảng 30

vạn ha ruộng đất khu vực trong mùa khô ở vùng hạ lưu và cắt được đỉnh lũ để đảm bảo

an toàn cho hạ lưu trong mùa lũ Việc hình thành một hồ chứa nước lớn cũng góp phần

cải thiện giao thông đường thủy

Ngoài ra, còn có nhiệm vụ hết sức quan trọng là đảm bảo nguồn nước cho công

nghiệp và sinh hoạt của nhiều triệu dân thuộc trung tâm kinh tế lớn ở phía Nam là

thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu (N.N.T Hương,

2005)

Qua kết quả phân tích cho thấy nước hồ Trị An đạt yêu cầu là nguồn nước dùng

cho mục đích cấp nước sinh hoạt theo tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường – TCVN

5492:1995, cột A

Tuy nhiên hồ Trị An có dấu hiệu ô nhiễm môi trường cục bộ thể hiện qua nhóm

thông số hoá lý cơ bản, tập trung chủ yếu tại một số vị trí quan trắc Kết quả phân tích

phát hiện các thông số gây ô nhiễm đặc trưng như: Tổng chất rắn lơ lửng - TSS, nhu

cầu oxy hoá học- COD, sắt- Fe, Amoniac (N-NH3) vượt tiêu chuẩn chất lượng môi

trường cho phép, cụ thể:

Khu vực cầu La Ngà huyện Định Quán: đoạn từ vị trí chân cầu La Ngà đến vị

trí cách cầu La Ngà 1.000 m về phía thượng lưu: TSS vượt tiêu chuẩn cho phép 1,9

lần; COD vượt tiêu chuẩn cho phép 1,8 lần; Fe vượt tiêu chuẩn cho phép 2,2 lần

Khu vực xã Thanh Sơn huyện Định Quán: TSS vượt tiêu chuẩn cho phép 3,9

lần; COD vượt tiêu chuẩn cho phép 1,4 lần; Fe vượt tiêu chuẩn cho phép 4,5 lần;

N-NH3 vượt tiêu chuẩn cho phép 3,6 lần

Khu vực xã La Ngà huyện Định Quán: Fe vượt tiêu chuẩn cho phép 2,8 lần;

N-NH3 vượt tiêu chuẩn cho phép 1,2 lần

Khu vực xã Phú Cường huyện Định Quán: TSS vượt tiêu chuẩn cho phép 3,0

lần; COD vượt tiêu chuẩn cho phép 1,6 lần; Fe vượt tiêu chuẩn cho phép 3,9 lần

Trang 19

Khu vực xã Mã Đà huyện Vĩnh Cửu: TSS vượt tiêu chuần cho phép 2,0 lần;

COD vượt tiêu chuẩn cho phép 1,3 lần; Fe vượt tiêu chuẩn cho phép 1,3 lần; Fe vượt

tiêu chuẩn cho phép 1,4 lần; N-NH3 vượt tiêu chuẩn cho phép 1,8 lần

So sánh với kết quả quan trắc quý I/2007 với kết quả quan trắc quý II/2007 cho

thấy: ô nhiễm độc học và vi sinh giảm đáng kể, hầu hết các vị trí quan trắc đều đạt về

thông số vi sinh và không phát hiện ô nhiễm cục bộ độc học Tuy nhiên, trong quý

II/2007, mức độ ô nhiễm do nhóm thông số hoá, lý cơ bản đều cao hơn so với quý

I/2007 và tập trung hầu hết tại các vị trí ven hồ thuộc địa bàn huyện Định Quán (Trung

tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường, 2007)

2.3 Tình hình phát triển thuỷ sản ở hồ Trị An

2.3.1 Tình hình thả nuôi

2.3.1.1 Nuôi cá trên diện tích mặt nước lớn

a Thả nuôi

Hồ Trị An sau khi được hình thành và bắt đầu dâng nước (tháng 10/1987), Ban

quản lý hồ đã thu dọn lòng hồ và thả khoảng 2 triệu con cá giống vào hồ, dựa theo

kinh nghiệm phát triển nghề cá ở các hồ chứa ở miền Bắc và miền Trung, cán bộ kĩ

thuật Ban quản lý lòng hồ đã thả các loài cá nuôi truyền thống gồm cá Trắm cỏ, Mè

trắng, Mè hoa, Chép Công việc thu dọn lòng hồ được hoàn thành trong năm 1988 Để

tận dụng mặt nước tự nhiên và góp phần làm sạch môi trường nước bằng con đường

sinh học, trong 2 năm 1988- 1989 các cán bộ quản lý lòng hồ đã thả ra hồ 7 triệu con

cá giống (cỡ 12- 18 cm) gồm: cá Mè hoa, Mè trắng, Trôi Ấn Độ…cá tự nhiên đã tạo ra

một nguồn lợi to lớn trong hồ Trị An Do thời gian đầu ngập nước nguồn thức ăn tự

nhiên phong phú nên cá thả nuôi lớn nhanh, sau 8 tháng cá Mè trắng đạt trọng lượng từ

1,2- 2 kg/con; cá Trôi đạt 1 kg/con Cuối năm 1989 ban quản lý lòng hồ đã tổ chức

đánh bắt bằng lưới rê 3 lớp và cho dân đánh bắt ăn chia sản phẩm Do số công nhân

đánh cá chưa thành thạo nên kết quả đánh bắt bằng lưới rê 3 lớp thấp Để hạn chế cá

vượt tràn trong mùa lũ 1989, được sự hỗ trợ của Bộ Thủy Sản, Ban quản lý lòng hồ đã

cho xây dựng tuyến đăng thu cá trước đập nhưng do không lường trước được khối

lượng chướng ngại vật và rong rêu tràn về trong mùa lũ nên thiết kế tuyến đăng lưới

không chịu nổi sức chảy của dòng lũ nên đã phải tháo dỡ, kết quả thu cá đăng tuyến

không đạt Năm 1990, Ban quản lý lòng hồ chỉ thả vào hồ 150.000 con cá giống các

Trang 20

loại Từ đó đến nay Ban quản lý lòng hồ nay là Công ty thuỷ sản Đồng Nai thả thêm

cá giống vào hồ với một lượng rất ít Công ty thuỷ sản chỉ quản lý hồ thông qua việc

thu thuế đánh bắt và nuôi cá bè trên hồ

Bảng 2.1: Số lượng cá thả và sản lượng khai thác hàng năm

Năm Số lượng cá thả (con) Sản lượng khai thác (tấn) Ghi chú

Nguồn: Trung tâm thuỷ sản Đồng Nai, 2007

Từ năm 1995 bằng nguồn vốn tự cân đối từ nguồn thu hợp đồng khai thác cá

với ngư dân, Công ty thuỷ sản (nay là Trung tâm thuỷ sản) đã thả vào hồ các loại cá:

Mè, Trắm, Trôi, Rô phi, Chép, Mè vinh So với các năm đầu hồ mới ngập nước, các

năm sau này đối tượng cá thả vào hồ ngoài các loài ăn phù du sinh vật, mùn bã hữu cơ

có tác dụng làm sạch môi trường nước, Trung tâm thuỷ sản còn thả các loài cá có khả

năng tự sinh sản trong hồ nhằm tăng sản lượng khai thác

b Quản lý đàn cá tự nhiên và đàn cá nuôi

Từ tháng 9 đến tháng 10 hàng năm Trung tâm thuỷ sản bắt đầu thả cá giống bổ

sung vào hồ

Về hình thức quản lý: Trung tâm thủy sản là đơn vị sự nghiệp có thu chịu trách

nhiệm sản xuất và quản lý các hoạt động thủy sản trên hồ Trị An Để quản lý đàn cá tự

Trang 21

nhiên và đàn cá nuôi, Trung tâm đã tổ chức một đơn vị chuyên trách là Trạm thủy sản

hồ Trị An trực tiếp quản lý các hoạt động nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên hồ,

biên chế của trạm là 27 người được tổ chức thành 3 đội quản lý bảo vệ ghi thu tại 3 địa

bàn trọng điểm, 2 đội bảo vệ cơ động trên toàn hồ, phương tiện được trang bị 5 tàu gỗ

và 2 ca nô hoạt động thường xuyên trên hồ Trạm còn bố trí có mặt tại các bến cá để

kiểm tra và ghi phiếu thu tiền ăn chia sản phẩm trước khi ngư dân xuống hồ khai thác

Việc khai thác thủy sản được hợp đồng thông qua hình thức ăn chia sản phẩm

với ngư dân (sản phẩm được quy đổi thành tiền) Về mức thu theo công văn số

277/UBT ngày 13/06/1987 của UBND tỉnh Đồng Nai, Bộ Tài Chính, Bộ Thủy Sản,

đại diện các ban nghành của tỉnh và UBND các huyện đối với đàn cá thả nuôi thu

50%, cá tự nhiên thu 25% sản lượng đánh bắt Năm 1993 Công ty thu bình quân 10%

sản lượng đánh bắt Từ 1999 đến nay Trung tâm thu 30% đối với cá nuôi, 15% đối với

cá tự nhiên Song thực tế việc giám sát sản lượng đánh bắt bao gồm cả cá tự nhiên và

cá nuôi Trung tâm không thể thực hiện được Vì thế Trung tâm tính toán mức thu bình

quân cho từng loại ngư cụ trên một đơn vị thuyền nghề và có thay đổi theo mùa vụ

Trang 22

2.3.1.2 Nuôi cá bè

Bảng 2.2: Số lượng bè qua các năm ở hồ Trị An

STT Địa phương Năm 1990 Năm 1998 Năm 2005 Năm 2006

Nguồn: Chi cục thuỷ sản, Ban chỉ đạo tái định cư

Việc nuôi cá bè trên hồ Trị An được hình thành ngay từ năm 1990 Thời gian

này ngư dân đã tiến hành nuôi cá bè trên sông La Ngà và một số vùng hồ có dòng chảy

ổn định, nơi neo đậu thuận lợi Bè được đóng bằng gỗ kích thước tuỳ theo nguồn vốn,

cỡ bè phổ biến lúc này là: 4m x 6m x 1,5m Có 149 bè nuôi cá với đối tượng nuôi là

cá Lóc bông (75 bè), cá Bống tượng (35 bè), cá Trê lai ( 38 bè), cá Rô Phi ( 1 bè) Sản

lượng bình quân 0,5 – 1 tấn/năm/bè

Theo số liệu của Chi cục thuỷ sản Đồng Nai, Ban chỉ đạo tái định cư ngư dân

trên hồ Trị An thì số lượng bè năm 1998 là 1.074 bè, năm 2005 là 782 bè, năm 2006 là

699 bè

Trang 23

Do ở hồ Trị An mực nước biến động nhiều trong năm nên khu vực neo đậu bè

cũng thay đổi nhưng nhìn chung số lượng bè vẫn tập trung nhiều ở khu vực huyện

Định Quán dọc theo 2 bờ sông La Ngà thuộc xã Phú Ngọc và xã La Ngà do ở đây

thuận tiện giao thông, kín gió, lưu tốc dòng chảy ổn định

Mật độ cá thả nuôi trong bè dao động rất cao tuỳ theo đối tượng nuôi (khoảng

80- 150 con/m3), các đối tượng cá Diêu hồng, Chép, Lóc người dân thả nuôi với mật

độ cao Với mật độ nuôi dày như hiện nay trong điều kiện mùa khô khi mực nước hồ

xuống thấp, số lượng bè neo đậu tập trung lại trong một khu vực cao, nguồn nước

không thể khống chế thì độ rủi ro rất lớn Huyện Định Quán là nơi tập trung số lượng

bè nhiều vì thế sản lượng nuôi cá bè ở đây cũng cao hơn những nơi khác trên hồ

2.3.1.3 Các hình thức nuôi khác

a Nuôi cá sử dụng lưới đăng chắn eo ngách

Sau khi kí kết hợp đồng với Công ty thủy sản vào thời điểm tháng 6 hàng năm

(lúc này là mực nước trên hồ thấp nhất) Công ty tiến hành bàn giao mặt bằng, ngư dân

dùng cọc đóng với khoảng cách 5 – 10 m một cây, sau đó dùng lưới 2a < 1cm để đăng

chắn Khi mực nước dâng cao đến cao trình 62 m ngư dân tiến hành kéo lưới lên và thả

cá giống bổ sung vào khu vực nuôi Với hình thức nuôi này người dân không bổ sung

thêm thức ăn Sau 6 – 7 tháng nuôi khi nước bắt đầu rút thì ngư dân bắt đầu thu hoạch

Trang 24

Vùng bán ngập Hồ Trị An có 273 trường hợp người dân tự ý đào đắp ngăn các

eo ngách để làm ao nuôi cá với tổng diện tích khoảng 551,7 ha

Bờ ao tiếp giáp với lòng hồ có chiều dài bờ từ 30- 60 m, chiều rộng từ 2- 8 m,

chiều cao được nâng lên cao trình 62 m Diện tích ao từ 0,5 – 6 ha Đối tượng nuôi

chính là cá Diêu hồng, Chép, Rô phi Thực hiện thông báo kết luận số 54/TP-VPCP

ngày 24/3/2005 của Thủ tướng Chính Phủ, UBND tỉnh đã ra chỉ đạo các ngành, điạ

phương liên quan xử lý nghiêm các trường hợp đào đắp này Đến nay các ao trong khu

vực hồ phụ đã phá bỏ hoàn toàn trả lại nguyên trạng, các ao nằm trong hồ chính cũng

Trang 25

đã phá bỏ một phần để trả lại nguồn nước cho hồ Trị An Hầu hết các ao này hiện nay

không còn nuôi cá và chờ hướng xử lý tiếp

Bảng 2 4: Các địa phương nuôi cá trong ao vùng bán ngập

STT Tên xã Số eo ngách vùng bán ngập Diện tích mặt nước (ha)

Hiện nay lực lượng khai thác chủ yếu là ngư dân sống xung quanh hồ, họ là

những người di dân tự do từ nhiều nơi đến, trong số đó có rất đông bà con Việt kiều

trở về từ Campuchia cũng đến đây định cư sinh sống và hoạt động nghề cá Vào năm

1993 chỉ có khoảng 300 hộ khai thác, nhưng đến năm 2000 số hộ khai thác đã lên đến

1.078 hộ Hiện nay số hộ khai thác là 1.100 hộ, nhưng chỉ có 884 hộ là có đăng kí hợp

đồng khai thác với Trung tâm thủy sản Đồng Nai Điều này dẫn đến tình hình xã hội

và hoạt động khai thác ở đây diễn ra khá phức tạp Một số ngư dân sử dụng chất nổ,

xung điện và các loại ngư cụ không đúng quy định để đánh bắt cá (Trung tâm thủy sản

Đồng Nai, 2007)

Hầu hết ngư dân ở hồ Trị An đều kết hợp khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy

sản, sản phẩm khai thác chủ yếu bán cho thương lái, một số khác được dùng làm thức

ăn cho cá nuôi Ngư dân khai thác rộ vào các tháng cuối mùa khô đầu mùa mưa Hàng

năm, Trung tâm thủy sản Đồng Nai tiến hành thả cá vào hồ, vì thế nguồn lợi thủy sản

trong hồ được bổ sung hàng năm Chính nguồn lợi thủy sản phong phú, diện tích mặt

nước lớn và nguồn nhân lực bảo vệ hồ chưa dày nên tình hình khai thác thủy sản tự

Trang 26

nhiên trên vùng hồ còn nhiều phức tạp, lực lượng quản lý khó kiểm soát tình hình đánh

bắt

Các hình thức khai thác:

- Khai thác cá tự nhiên:

Là hình thức khai thác phổ biến trên hồn ngư dân sử dụng các loại lưới để đánh

bắt Lượng cá đánh bắt theo phương pháp này khá lớn và ít ảnh hưởng đến nguồn lợi

thuỷ sản ở hồ Trị An, các loài cá đánh bắt chủ yếu là cá Mè hoa, Mè trắng, Chép,

Bống tượng,

- Xung điện:

Đây là hình thức đánh bắt cấm nhưng hiện tại trên hồ tình trạng đánh bắt bằng xung

điện còn phổ biến, và rất khó kiểm soát do Trung tâm thủy sản Đồng Nai chỉ có chức

năng quản lý mặt nước và lực lượng bảo vệ trên hồ khá mỏng

- Nổ mìn:

Hiện tại tình trạng đánh bắt bằng nổ mìn đã giảm trên 99% do Trung tâm thủy

sản quản lý khá chặt chẽ về mặt này Mỗi năm trung tâm chỉ phát hiện 1-2 vụ khai thác

bằng nổ mìn

- Lưới vớ:

Là hình thức đánh bắt sử dụng các loại lưới có kích thước nhỏ nên đối tượng

đánh bắt bao gồm cả cá có kích thước nhỏ Hình thức này làm cạn kiệt nguồn lợi cá

trong hồ Người dân đánh bắt các loại cá nhỏ sử dụng làm thức ăn cho cá nuôi bè, do

vậy cần phải quản lý hình thức đánh bắt này để hạn chế tình trạng suy giảm nguồn lợi

thủy sản trong hồ

- Ngăn đăng khu vực ven hồ:

Trên vùng hồ Trị An, một số vùng có thể nuôi cá bằng cách xây đập hoặc ngăn

lưới Khai thác theo hình thức này có thể làm giảm nguồn lợi do đây là bãi đẻ của cá

2.4 Các cơ quan quản lý và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở hồ Trị An

2.4.1 Trung tâm thuỷ sản Đồng Nai

Sau khi hồ đựợc hình thành, năm 1989 Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai ra

quyết định thành lập công ty quản lý kinh doanh tổng hợp hồ Trị An Đến tháng 12

năm 1993, đổi tên thành Công ty thuỷ sản Đồng Nai và đến cuối tháng 12 năm 2003

chuyển đổi thành đơn vị sự nghiệp có thu là Trung tâm thuỷ sản Đồng Nai Nhiệm vụ

Trang 27

của Trung tâm là sản xuất giống, nuôi trồng và kinh doanh thủy sản Bên cạnh đó

trung tâm còn được giao nhiệm vụ quản lý khai thác thủy sản và thả cá giống bổ sung

vào hồ hàng năm để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên nhằm nâng cao sản lượng thủy

sản của hồ

Các hoạt động sản xuất khác do trung tâm quản lý:

- Khai thác thủy sản

Các hoạt động khai thác trên hồ được thực hiện do ngư hợp đồng khai thác với

Trung tâm bằng phương thức thu thuế theo đợt Mỗi đợt 10 ngày, giá cả ghi thu phụ

thuộc vào loại ngư cụ sử dụng

- Nuôi cá bè

Nuôi cá bè ở hồ Trị An chủ yếu tập trung ở các xã Phú Ngọc, La Ngà thuộc

huyện Định Quán và một số xã thuộc huyện Vĩnh Cửu huyện Thống Nhất với hình

thức và quy mô tuỳ theo từng khu vực Hiện nay Trung tâm chưa quản lý được hết tình

hình nuôi cá bè trên hồ

Trung tâm được trang bị 2 ca nô và 2 ghe lớn để làm công tác bảo vệ, ngoài ra

còn có các ghe nhỏ làm nhiệm vụ ghi thu và tham gia vào công tác bảo vệ, trực tiếp bắt

giữ và xử phạt những ngư dân vi phạm trong khai thác Nhờ có các hoạt động quản lý

của Trung tâm mà việc khai thác bằng chất nổ, xung điện và việc sử dụng các ngư cụ

đánh bắt sai quy định đã giảm nhiều so với trước đây

2.4.2 Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản được thành lập năm 1994 với nhiệm vụ quản

lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản Trực thuộc chi cục có 2 trạm đặt ở địa

phương, một trong 2 trạm đặt ở hồ Trị An được gọi la Trạm bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

hồ Trị An Trạm được trang bị một tàu và một ca nô để thực hiện việc quản lý và kiểm

tra các phương tiện khai thác thuỷ sản trên hồ Trạm có mạng lưới cộng tác viên ở các

xã ven hồ để trực tiếp quản lý hoạt động khai thác thủy sản qua việc cấp giấy phép

đăng kí phương tiện khai thác, kiểm tra tàu thuyền, tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy

sản đồng thời cũng trực tiếp bắt giữ và xử phạt các ngư dân vi phạm trong khai thác

thủy sản Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên hiện nay Trạm không còn duy trì đội ngũ

cộng tác viên

Trang 28

Nhìn chung nhờ các hoạt động quản lý của các cơ quan nêu trên mà tình hình sử

dụng các ngư cụ trái quy định đã giảm dần, góp phần bảo vệ và nâng cao nguồn lợi

thủy sản ở hồ Trị An Tuy vậy, việc phối hợp quản lý vẫn còn nhiều khó khăn do nhiều

nguyên nhân khác nhau (Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Đồng Nai, 2001)

2.5 Giới thiệu về cá hoàng đế

Loài: Cichla ocellaris, Bloch and Schneider, 1801

Tên tiếng anh: Peacock bass, eyespot cichlid, lukanaki, pavon, butterfly

peacock bass, tucunare

Sự phân loại các loài trong giống Cichla không giống nhau tuỳ theo từng tác

giả Theo Kullander (1986 - 1989), đã xem xét lại giống Cichla và 15 tên loài của

giống này, bao gồm C argus Valenciennes 1834, C atabapensis Von Humboldt 1834,

C bilineatus Nakashima 1941, C brasiliensis Schneider 1801, C intermedia

Machado-Allison 1971, C monoculus (Spix 1831), C multifasciata (DeCastelnau

1855), C nigrolineatus Ogilvie 1966, C ocellaris Bloch and Schneider 1801, C

orinocensis Von Humboldt 1834, C speciosus (Muller and Troschel 1849), C

temensis Von Humboldt 1834, C toucounarai (De Castelnau 1855), C tucunare

Heckel 1840, và C unitaeniatus Magalhaes 1931 Và Kullander đã tóm lược lại chỉ

gồm 5 tên loài: C intermedia, C monoculus (bao gồm C toucounarai, C bilineatus),

C ocellaris (bao gồm C speciosus), C orinocensis (bao gồm C argus, C

atabapensis) và C temensis (bao gồm C brasiliensis, C tucunare, C unitaeniatus)

Trang 29

Hình 2.2 Một số loài trong giống Cichla

2.5.2 Phân bố

Cá Hoàng đế được tìm thấy ở lưu vực sông Amazon, Orinoco, và Laplata thuộc

Nam Mỹ (Schroeder and Zaret, 1977) Ở vịnh Mexico, chúng sống ở các kênh đào

phía Nam Florida (Courtenay et al., 1991; Shafland, 1996)

2.5.3 Đặc điểm phân biệt

Cá Hoàng đế có thân thon dài Vây lưng dài hình chữ V Miệng rộng, hàm dưới

nhô ra dài hơn hàm trên Nét đặc trưng của chúng là có một đốm đen khá lớn với viền

màu bạc lớn bao quanh rộng đến tận vây đuôi Ở lưng có màu lục vàng nhạt dần đến

màu trắng vàng ở mặt bụng, với 3 vạch lớn màu đen quanh thân, giữa các vạch đen là

những chấm đen Tia vây lưng thứ nhất, vây đuôi trên và vây ngực có màu xám hoặc

đen, tia vây hậu môn, vây đuôi dưới có màu đỏ Một vài các đốm trắng ở các tia vây

lưng thứ nhất và thuỳ vây đuôi Những cá thể trưởng thành thường có các dải màu

vàng cam kéo dài từ miệng cho đến vây đuôi Mống mắt có màu đỏ (Page and Burr,

1991)

Trang 30

Hình 2.3 cá Hoàng đế

Cichla ocellaris and C monoculus rất giống nhau về hình dáng và màu sắc, đặc

biệt là giai đoạn ấu niên Chúng có 3 vạch màu đen thẳng đứng phân bố trên cơ thể có

màu giống như màu đồng thau của chúng Theo kullander (1986), khi trưởng thành C

monoculus có những vạch lớn hơn và dài hơn so với C ocellaris và kéo dài từ vây

lưng hướng thẳng xuống mặt bụng

2.5.4 Đặc điểm sinh học

- Độ mặn: Loài này thường gặp ở vùng nước ngọt Tuy nhiên, theo báo cáo của

Shafland (1993, 1995) chúng có khả năng chịu mặn ở nồng độ 18 ‰

- Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường: nhiệt độ tốt nhất nằm trong khoảng 24 –

27 0 C Loài này chịu lạnh kém so với với hầu hết các loài thuộc họ Cichlidae Theo

báo cáo của Swingle (1966), đối với cá dài 80mm chúng sẽ chết ở nhiệt độ dưới 16oC

Với cá có chiều dài 85-140 mm ngưỡng nhiệt độ gây chết là dưới 15,6 0 C và trên

37,90C (Guest và cộng sự, 1976) Ở môi trường nước có nồng độ muối 10 ‰, một vài

cá thể có thể chịu đựơc nhiệt độ 13,5oC

- Sự tăng trưởng: Trong điều kiện đầy đủ thức ăn, cá có thể đạt đến chiều dài

250-300 mm và đạt độ trưởng thành sinh dục khoảng dưới 12 tháng (Shafland,1996)

Con đực lớn hơn con cái (Shafland,1995) Kích thước tối đa của loài này có thể đạt tới

chiều dài 500-600 mm (Axelrod và cộng sự, 1971; Zaret và Paine, 1973) Cá tăng

Trang 31

trưởng nhanh đạt chiều dài 30 -35 cm trong suốt 16 – 18 tháng đầu Khi chiều dài đạt

đến 43 cm thì trọng lượng khoảng 1,36 kg và chiều dài 48 cm thì trọng lượng lên đến

2,2 kg

- Sinh sản: Cá Hoàng đế sinh sản quanh năm, cao điểm là vào đầu mùa mưa

Thời gian tái thành thục khoảng 2 tháng Cá đẻ trứng trên những bãi đá ở vùng nước

cạn Sinh sản hữu tính, đẻ trứng, mỗi lần đẻ từ 2000-3000 trứng (Schroeder và Zaret,

1977; Shafland, 1995) Đường kính trứng1,4 mm, thời gian nở 78 giờ ở nhiệt độ 28 0C

Cá bố mẹ sẽ canh ổ trứng trong khoảng 9 tuần, sau đó bầy cá con nở và di chuyển đến

vùng bờ nơi có nhiều thực vật Cũng giống như hầu hết các loài thuộc họ Cichlidae, cá

bố mẹ phân chia lãnh thổ và rất hiếu chiến (Zaret and Paine, 1973)

- Về thức ăn: Cá Hoàng đế là loài cá ăn thịt (mồi sống - chưa có ghi nhận chúng

ăn các loài đã chết) (Phùng Mỹ Trung – Cục Hải Quan Đồng Nai) Chúng kiếm ăn ban

ngày và không hoạt động về đêm Chúng bắt mồi nhờ vào tốc độ truy đuổi nhanh,

ngược lại với cách săn mồi phục kích thường thấy ở các loài cá ăn thịt khác (Erdman

in Shafland, 1995) Ở những khu vực không phải vùng bản xứ của chúng như đảo

Barro Colorado, Panama, chúng ăn các loài thuộc họ Atherinidae, Poecilidae,

Characidae, Eleotridae và các loài Cichlidae khác (Zaret and Paine, 1973) Ở Florida,

spotted tilapia, Tilapia mariae là thức ăn chính của chúng (Shafland, 1993, 1995)

Điển hình là có 75% thành phần thức ăn này trong dạ dày của chúng (Shafland, 1993,

1995) Ngoài ra thức ăn của chúng còn có các loài như Oreochromis mossambicus, và

Lepomis macrochirus (Shafland, 1993)

2.5.5 Khả năng tác động môi trường

Hiện tai cá Hoàng đế đã thích nghi được ở những kênh đào và vùng hồ ở phía

Nam Florida, và thức ăn chính của chúng là những loài cá ngoại lai (Shafland, 1996)

Tuy nhiên, cá Hoàng đế được mô tả như 1 loài cá ăn thịt rất hung hăng có khả năng

làm thay đổi hệ sinh thái nơi nó được du nhập Báo cáo của Shafland (1993) cho thấy

sự suy giảm 25% của quần thể các loài cá ăn thực vật thủy sinh ở các kênh đào có cá

Hoàng đế sinh sống Shafland ước lượng sự suy giảm của loài spotted tilapia khoảng

51 kg/ha (40%) từ 1985-1988 và 654 con/ha (58%) từ 1989-1992 Zaret và Paine

(1973) thả cá Hoàng đế vào hồ Gutan, Panama để nghiên cứu sự ảnh hưởng của loài

này với các loài bản địa Loài này đã làm thay đổi nghiêm trọng đến thành phần loài cá

Trang 32

trong hồ, làm biến mất 6 trong 8 loài cá phổ biến trong hồ và góp phần làm gia tăng số

lượng các loài không phổ biến trước đó Qua đó, Zaret và Paine cho rằng chính sự xuất

hiện của cá Hoàng đế đã làm thay đổi thành phần loài của hệ sinh thái

Tuy nhiên, theo báo cáo của Shafland (1931, 1995), có những ảnh hưởng tích

cực đối với việc du nhập cá Hoàng đế Ông nhận thấy có sự liên hệ giữa cá Hoàng đế

và sự phong phú của các loài Lepomis microlophus và Micropterus salmoides

Shafland kết luận sự gia tăng số lượng của các loài bản địa là nhờ vào cá Hoàng đế ăn

các loài ngoại lai khác và làm giảm số lượng của chúng Do đó, rõ ràng loài cá ăn thịt

to lớn này có tầm ảnh hưởng đáng kể đến môi trường nơi chúng cư trú Nếu cá Hoàng

đế tiếp tục gia tăng sự phân bố của chúng khắp Nam Florida, hệ động vật hoặc các hệ

sinh vật khác ở vùng Everglades có thể bị đe doạ

Theo danh mục cá mới đây nhất được công bố năm 2006 thì có 97 loài cá đã

được ghi nhận phân bố trên dòng sông Đồng Nai Có rất nhiều loài được đưa vào vào

Sách đỏ Việt Nam như Cá Ét mọi Morulius chrysophekadion, Cá Còm Notopterus

chitala hay như loài Cá Rồng Scleropages formosus là loài được coi như là tuyệt

chủng ở Việt Nam đã được tìm thấy chúng vẫn còn tồn tại nơi đây Sự đa dạng về loài

được ghi nhận vào bậc nhất nhì ở Việt Nam vì đây là dòng sông lớn duy nhất bắt

nguồn và uốn mình trọn vẹn trong lãnh thổ nước ta nên có rất nhiều loài đặc hữu, quí

hiếm (Phùng Mỹ Trung – Cục hải quan Đồng Nai)

Sau khi xây dựng xong đập thủy điện Trị An, một số lượng cá giống thuộc loài

như Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus, Mè Hypophthalmichthys molitrix, Trắm đen

Mylopharyngodon piceus được thả xuống nhằm làm sạch lòng hồ thì số lượng loài

được tăng lên Do nhu cầu kinh tế của một số người dân sống trong vùng lòng hồ Trị

An họ đã xây dựng ao thả một số loài cá ngoại lai có nguồn lợi kinh tế lớn và và có lẽ

đây là nguyên nhân bắt nguồn của những thảm họa về môi trường xảy ra Thảm hoạ

đáng kể nhất là loài cá Chim trắng Colossoma brachypomum một loài cá ăn thịt đáng

sợ trong họ Characidae du nhập từ Nam Mỹ được nuôi ở các ao hồ nơi đây Rất nhiều

cá thể của loài này đã vượt khỏi tầm kiểm soát của con người thoát ra vùng lòng hồ

Chúng tấn công ăn thịt rất nhiều các loài cá bản địa Tuy nhiên, một điều may mắn

nhất đối với thảm hoạ về môi trường nơi đây là loài cá Chim trắng Colossoma

Trang 33

brachypomum hầu như không có khả năng sinh sản trong môi trường tự nhiên ở Việt

Nam ( Phùng Mỹ Trung – Cục hải quan Đồng Nai)

Phần lớn các loài du nhập không sống được tại những nơi mới đến do môi

trường không phải lúc nào cũng phù hợp Mặc dù vậy, vẫn có một tỷ lệ nhất định các

loài nhập cư thiết lập được sự sống trên vùng đất mới và rất nhiều loài trong số đó còn

vượt trội, xâm lấn các loài bản địa Các loài du nhập này còn cạnh tranh với các loài

bản địa để có được nguồn thức ăn và nơi sống ít ỏi Một số loài du nhập còn ăn thịt các

loài bản địa đẫn đến tuyệt chủng hay làm thay đổi thay đổi nơi cư trú đến mức nhiều

loài biến mất

Sự xuất hiện của loài cá Hoàng đế ở hồ Trị An chắc chắn sẽ là một thảm hoạ

cho môi trường và các loài cá bản địa lòng hồ Trị An Theo quan sát của Phùng Mỹ

Trung – Cục hải quan Đồng Nai cho thấy sự phát triển bùng nổ về số lượng cá thể một

cách kinh khủng, vào tháng 11 năm 2006 cá thể bắt được có kích thước chiều dài

khoảng 10-14 cm và số lượng bắt được rất hiếm trong hàng trăm kg cá mồi (các loại cá

nhỏ dùng làm mồi nuôi cá lóc bè) thì đến nay (2007) kích thước chiều dài của chúng

khoảng 180 đến 200mm Cá thể lớn nhất bắt được vào ngày 8/6/2007 cân nặng 0,83kg

Chúng sinh sản rất nhanh do nguồn thức ăn dồi dào và môi trường sống thích hợp Có

thể mua dễ dàng từ một đến vài chục ký cá Hoàng đế do ngư dân đánh bắt được mỗi

ngày tại chợ cá Vĩnh An Thức ăn của Cá hoàng đế được ghi nhận là các loài cá Trắng

Puntius binotatus , Cá Mè vinh Barbodes gonionotus, và một loài cá Lòng tong khác

Cách tấn công con mồi của chúng rất nhanh và gọn do vậy nguy cơ tiềm ẩn về một số

loài bản địa bị tuyệt chủng chỉ còn là vấn đề thời gian

2.5.6 Tình hình khai thác cá Hoàng đế ở hồ Trị An

Cá Hoàng đế chủ yếu được khai thác vào các tháng nắng, nước rút cạn Đây là

thời gian mà ngư dân đánh bắt được sản lượng cao nhất

Theo các vựa thu mua thì trung bình một ngày thu vào 50-60 kg cá Hoàng đế

mỗi vựa Cá đánh bắt được có nhiều kích cỡ, cá nhỏ thường có trọng lượng khoảng

0,1kg, cá có trọng lượng lớn thường là 0,5 – 1 kg, kích cỡ từ 20 – 35 cm, thỉnh thoảng

có con hơn 1 kg Ở bến cá Phú Cường (xã Phú Cường huyện Định Quán) có 6 vựa thu

mua và ở bến cá Trung Tâm (thị trấn Vĩnh An huyện Vĩnh Cửu) có 1 vựa thu mua

Trang 34

Ngoài ra còn có một số vựa thu mua nằm ở những khu vực khác trên hồ nhưng sản

lượng cá Hoàng đế không đáng kể

Các loại ngư cụ được sử dụng để đánh bắt cá Hoàng đế: lưới đuổi, chụp chà,

câu…

Bắt đầu từ đầu mùa mưa trở đi thì hầu hết ngư dân hành nghề chụp chà, câu đều

chuyển đổi sang các loại nghề khai thác khác do vào mùa mưa nước lên các nghề này

đánh bắt không có hiệu quả Và sản lượng cá Hoàng đế khai thác được cũng giảm hẳn

Có ngày chỉ có vài kg

Theo kết quả điều tra và khảo sát thực tế của Chi cục thủy sản Đồng Nai trên

khu vực hồ Trị An thì sản lượng cá Hoàng đế hiện tại tăng khoảng 10% so với tháng 6

năm 2007 (Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Đồng Nai, tháng 7 năm 2008)

Trang 35

Chương III

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ ngày 15/05/2008 đến ngày 30/08/2008 Trên cơ sở

khảo sát thu mẫu thực địa, phân tích mẫu, kết hợp với bản điều tra câu hỏi và thu thập

số liệu thứ cấp

Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại hồ Trị An và kết hợp với việc phân tích kết quả ở

phòng thí nghiệm của trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

3.2 Đối tượng thu mẫu

Cá Hoàng đế (Cichla ocellais) ở hồ Trị An tỉnh Đồng Nai kết hợp với bảng điều

tra câu hỏi dành cho ngư dân khai thác thuỷ sản trên hồ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thu thập số liệu

Số liệu được thu thập tại Công ty thủy sản Đồng Nai, Chi cục bảo vệ nguồn lợi

thủy sản tỉnh Đồng Nai, Trung tâm khuyến nông tỉnh Đồng Nai, các cơ quan chức

năng quản lý hồ Trị An khác và các thông tin từ internet, sách báo, tạp chí

Trang 36

3.3.2 Phương pháp thu và cố định mẫu

Phương pháp thu mẫu

Mẫu thu trực tiếp từ những người khai thác trên hồ Tất cả mẫu thu đều còn

sống và vừa mới được đánh bắt

Quan sát, mô tả màu sắc tự nhiên, hình dáng bên ngoài Cân trọng lượng, đo

chiều dài cho từng mẫu cá, chụp hình thái ngoài sau đó tiến hành cố định mẫu cá

Lập phiếu thu, ghi địa điểm thu, ngày thu, giờ thu cho từng mẫu cá

Phương pháp cố định mẫu

Cố định bằng formaline nguyên chất (38 – 40%)

Cá được mổ ngay khi vừa thu mẫu và tiêm trực tiếp formaline vào dạ dày

Sau khi tiêm xong đặt dạ dày cá vào lọ nhựa có chứa formaline pha loãng 3-

4%

Hinh 3.1 Lọ nhựa dùng chứa mẫu

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w