1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỦY LÝ HÓA SINH TRONG EO NGÁCH TẠI HỒ DẦU TIẾNG, TÂY NINH.

71 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 639,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài thực hiện nhằm tìm hiểu sự biến đổi các yếu tố thủy lý, hóa học đồng thời tìm hiểu cơ sở thức ăn tự nhiên và sự biến động thành phần, số lượng loài phiêu sinh vật tại điểm khảo sá

Trang 1

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỦY LÝ HÓA SINH TRONG EO NGÁCH TẠI HỒ DẦU TIẾNG, TÂY NINH

Tác giả

NGUYỄN VĂN SANG

Luận văn được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

Đặng Thị Thanh Hòa

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

- Ban chủ nhiệm và quý thầy cô trong và ngoài Khoa Thủy Sản đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, chúng tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến cô Đặng Thị Thanh Hòa

đã tận tình hướng dẫn tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành quyển khóa luận tốt nghiệp này

Đồng thời cũng gửi lòng cảm ơn đến:

- Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Tây Ninh

- Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Tây Ninh

- Công ty Khai Thác Thủy Lợi Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh

- Các cán bộ ở Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản tỉnh Tây Ninh

- Các anh chị và các bạn sinh viên đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong học tập cũng như trong khi thực hiện khóa luận

- Cám ơn ba mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng và tạo điều kiện cho con tiến bước trong học tập và cuộc sống

Mặc dù khóa luận đã được thực hiện với tất cả sự cố gắng, tuy nhiên do nhiều lý

do mà khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các đọc giả

Tác giả

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát một số đặc điểm thủy hóa, thủy sinh trong eo ngách tại hồ

Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh” được thực hiện từ 7/4 đến 14/7/2008 tại hồ Dầu Tiếng tỉnh

Tây Ninh

Đề tài thực hiện nhằm tìm hiểu sự biến đổi các yếu tố thủy lý, hóa học đồng thời tìm hiểu cơ sở thức ăn tự nhiên và sự biến động thành phần, số lượng loài phiêu sinh vật tại điểm khảo sát

Kết quả cho thấy không có sự chênh lệch lớn của nhiệt độ trong thời gian khảo sát, nhiệt độ nước trung bình 29,80C, cao nhất 310C, thấp nhất 28,50C; oxy hòa tan có hàm lượng 4 mg/L; pH dao động 6,5 – 7,5; độ kiềm tổng cộng trung bình 28,8 mg CaCO3/L, cao nhất 38 mg CaCO3/L, thấp nhất 19 mg CaCO3/L; độ cứng tổng cộng trung bình 54,84 mg CaCO3/L, cao nhất 62,06 mg CaCO3/L, thấp nhất 48,05 mg CaCO3/L; hàm lượng chất hữu cơ lơ lững (TPM) trung bình 0,0051 mg/L, cao nhất 0,008 mg/L, thấp nhất 0,003 mg/L; hàm lượng NH3 và Nitrit < 0,5 mg/L

Phiêu sinh thực vật: hiện diện 115 loài, trong đó tảo lục nhiều nhất với 68 loài, tảo silic 16 loài, tảo lam 12 loài, tảo vàng ánh 7 loài, tảo giáp 7 loài Mật độ tảo trung bình 5.308 cá thể/L, biến thiên từ 1.052 đến 14.877 Các giống tảo chiếm ưu thế:

Closterium, Staurastrum, Melosira, Micrasterias, Oscillatoria và Cosmarium

Phiêu sinh động vật: bao gồm 24 giống, trong đó Copepoda 4 giống, Cladocera 7 giống, Rotifera 10 giống, Protozoa 3 giống Mật độ trung bình 76 cá

thể/L Các giống phiêu sinh động chiếm ưu thế: Bosmina, Moina, Brachionus, Trichocera, Eucyclops

Trang 4

MỤC LỤC

Đề mục Trang

TRANG TỰA i LỜI CẢM ƠN ii TÓM TẮT iii

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 2.1 Khái Quát Về Hồ Chứa 3

2.2 Một Số Nét Cơ Bản Về Hồ Dầu Tiếng 4

2.2.1 Lịch sử hình thành 4

2.2.2 Vị trí địa lý 4

2.2.3 Đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng 4

2.2.4 Khí hậu 5

2.2.5 Thủy văn 5

2.2.6 Chất lượng nước 6

2.2.7 Sản lượng cá khai thác 7

2.2.8 Một số đặc điểm về eo ngách 7

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8 3.1 Thời Gian Và Địa Điểm 8

3.2 Phương Pháp Thu Và Phân Tích Mẫu 8

3.2.1 Thủy hóa 8

3.2.1.1 Phương pháp thu mẫu nước 8

3.2.1.2 Phương pháp phân tích mẫu nước 9

3.2.2 Phiêu sinh vật 9

Trang 5

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11

4.1 Thủy Hóa 11

4.1.1 Nhiệt độ 11

4.1.2 pH 13

4.1.3 Oxy hòa tan (DO) 14

4.1.4 Nitrogen 15

4.1.5 Độ cứng tổng cộng 16

4.1.6 Độ kiềm tổng cộng 17

4.1.7 Hàm lượng vật chất lơ lửng 18

4.2 Phiêu Sinh Vật 19

4.2.1 Phiêu sinh thực vật 19

4.2.1.1 Thành phần giống loài tảo 20

4.2.1.2 Mật độ tảo 23

4.2.2 Phiêu sinh động vật 27

4.2.2.1 Phân tích định tính 27

4.2.2.2 Phân tích định lượng 30

4.3 So Sánh Thành Phần, Số Lượng Phiêu Sinh Vật Thời Điểm Khảo Sát Với Vùng Hạ Lưu Hồ Dầu Tiếng Năm 2005 .34

4.3.1 Phiêu sinh thực 34

4.3.2 Phiêu sinh động 34

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35 5.1 Kết Luận 35

5.1.1 Thủy hóa 35

5.1.2 Phiêu sinh vật 36

Trang 6

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê lượng mưa tại lưu vực hồ Dầu Tiếng năm 2007 5 Bảng 2.2 Sản lượng khai thác thủy sản hồ Dầu Tiếng năm 2003 7 Bảng 4.1 Sự thay đổi nhiệt độ ở các vùng thu mẫu (hồ Dầu Tiếng) 13 Bảng 4.2 Sự biến thiên pH qua các đợt khảo sát 14 Bảng 4.3 Sự biến thiên hàm lượng oxy qua các đợt khảo sát 15 Bảng 4.4 Biến thiên độ cứng tổng cộng (mg CaCO3/L) tại hồ Dầu Tiếng 17 Bảng 4.5 Biến thiên độ kiềm tổng cộng (mg CaCO3/L) tại hồ Dầu Tiếng 17 Bảng 4.6 Thành phần loài tảo tại các vùng thu mẫu 22 Bảng 4.7 Mật độ tảo trung bình tại các vùng khảo sát 26 Bảng 4.8 Mật độ tảo trung bình giữa các tháng khảo sát tại hồ Dầu Tiếng 26 Bảng 4.9 Số lượng giống loài phiêu sinh động tại ba vùng khảo sát 28 Bảng 4.10 Thành phần giống loài phiêu sinh động qua các tháng khảo sát 29

Trang 7

DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

Đồ thị 4.1 Biến thiên hàm lượng chất hữu cơ qua các đợt khảo sát 19

Đồ thị 4.2 Thành phần loài phiêu sinh thực vật tại hồ Dầu Tiếng 20

Đồ thị 4.4 Mật độ các ngành tảo qua các đợt khảo sát tại vùng I 24

Đồ thị 4.5 Mật độ các ngành tảo qua các đợt khảo sát tại vùng II 25

Đồ thị 4.6 Mật độ các ngành tảo qua các đợt khảo sát tại vùng III 25

Đồ thị 4.7 Thành phần giống loài phiêu sinh động tại hồ Dầu Tiếng 28

Đồ thị 4.8 Mật độ cá thể trung bình/lít nước qua các lần khảo sát 30

Đồ thị 4.9 Biến động mật độ cá thể qua các tháng khảo sát 31

Đồ thị 4.10 Mật độ các nhóm, ngành phiêu sinh động tại vùng I 31

Đồ thị 4.11 Mật độ các nhóm, ngành phiêu sinh động tại vùng II 32

Đồ thị 4.12 Mật độ các nhóm, ngành phiêu sinh động tại vùng III 33

Trang 8

Hồ Dầu Tiếng là một công trình thủy lợi lớn của miền Đông Nam Bộ có diện tích mặt hồ ước khoảng 270 km2 thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Bình Phước, trong đó Tây Ninh chiếm 2/3 diện tích mặt nước Hồ Dầu Tiếng đã góp phần phục vụ tốt cho hoạt động nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh và các vùng phụ cận Không những vậy hồ còn nhận được khu hệ động vật thủy sản phong phú của hệ thống sông Sài Gòn Đây là nguồn lợi không nhỏ cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh khi biết khai thác, sử dụng hợp lí

Tuy nhiên trong những năm gần đây việc khai thác, nuôi trồng thủy sản ở hồ Dầu Tiếng không được quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền địa phương, người dân tự do khai thác, nuôi trồng thủy sản nên sản lượng khai thác ngày càng giảm, môi trường nước trở nên ô nhiễm nghiêm trọng

Trước tình hình đó để đánh giá hiện trạng của hồ, chúng ta cần phải dựa trên nền tảng nghiên cứu các đặc điểm thủy lý, hóa học và sinh học để có một cái nhìn thật khái quát về tiềm năng thủy sản của hồ, từ đó định hướng cho sự phát triển thủy sản trong tương lai

Trang 9

Do vậy để tìm hiểu phần nào về tình hình chất lượng nước của hồ, được sự phân công của Khoa Thủy Sản chúng tôi thức hiện đề tài: “Khảo sát một số đặc điểm thủy hóa, thủy sinh trong eo ngách tại hồ Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài được thực hiện nhằm:

Tìm hiểu một phần chất lượng nước hồ Dầu Tiếng thông qua việc khảo sát sự biến đổi các yếu tố thủy lý, hóa học đồng thời tìm hiểu cơ sở thức ăn tự nhiên thông qua sự biến động thành phần, số lượng loài phiêu sinh vật của hồ

Trang 10

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái Quát Về Hồ Chứa

Hồ chứa nước là công trình xây dựng của con người nhằm sử dụng tổng hợp tài nguyên phục vụ nhiều ngành kinh tế như thủy điện, thủy lợi, du lịch, giao thông, nuôi trồng thủy sản,…Theo số liệu thống kê, ở Việt Nam có gần 4.000 hồ chứa được xây dựng, trong đó có 460 hồ có diện tích 1.000 – 10.000 ha, dung tích 1 triệu m3 trở lên, có 5 hồ diện tích trên 10.000 ha (hồ Hòa Bình 30.000 ha, Thác Bà 23.400 ha, Trị

An 32.400 ha, Dầu Tiếng 27.000 ha, Thác Mơ 10.600 ha) Tổng diện tích hồ chứa khoảng 300.000 ha với dung lượng 25 tỉ m3 nước (Trần Văn Vĩ và Huỳnh Thị Dung,

2003 trích bởi Mạc Thị Bửu Châu, 1998) Nói chung, các hồ chứa nước ta đều nhằm phục vụ cho tưới tiêu, chống lũ và thủy điện

Hồ chứa nước được tạo thành do ngăn sông suối để phục vụ cho kinh tế, sinh hoạt của người dân Bên cạnh lợi ích to lớn do hồ chứa mang lại, việc hình thành hồ chứa có ý nghĩa to lớn đến dân cư trong vùng sẽ bị ngập nước cuộc sống sẽ gặp nhiều khó khăn Trong hoàn cảnh đó, dùng mặt nước hồ chứa để phát triển nuôi trồng thủy sản tăng thêm thu nhập cho người dân là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nghề cá hồ chứa sẽ góp phần cải thiện đời sống dân cư quanh khu vực lòng hồ

Trước đây, nhà nước đã quan tâm đáng kể đối với việc phát triển nghề cá hồ chứa, tuy nhiên do việc đầu tư về vật chất và kỹ thuật cho các cơ sở thực hiện chưa được đúng mức, đồng thời công tác quản lý chăm sóc hồ chứa chưa được nghiên cứu nhiều cho nên sự phát triển nghề cá hồ chứa bị hạn chế Thời gian gần đây, việc phát triển nghề cá trong hồ chứa đang được các địa phương đẩy mạnh thông qua nhiều dự

Trang 11

án tổng thể phát triển nghề cá và kinh doanh tổng hợp vùng hồ cùng với cán bộ quản

lý, cán bộ kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, đội ngũ công nhân quản lý hồ có tay nghề cao

và phẩm chất tốt Việc phát triển nghề cá trong hồ chứa được hoạch định thông qua việc khai thác, bảo vệ thủy sản vùng hồ, thả cá nuôi trong hồ, nuôi cá bè trong hồ,…đã được triển khai tại một số hồ chứa trên cả nước như hồ Ba Bể, hồ Trị An, hồ Sông Mây…

2.2 Một Số Nét Cơ Bản Về Hồ Dầu Tiếng

2.2.1 Lịch sử hình thành

Hồ Dầu Tiếng được hình thành do chặn dòng thượng lưu sông Sài Gòn (thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh), được xây dựng vào tháng 4/1981 và đến tháng 1/1985 được đưa vào sử dụng

Diện tích lòng hồ khoảng 27.000 ha trải dài qua 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước thuộc phạm vi 4 huyện: Tân Châu và Dương Minh Châu thuộc tỉnh Tây Ninh, Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, Bình Long thuộc tỉnh Bình Phước

Hồ Dầu Tiếng nằm trên sông Sài Gòn có lưu lượng bình quân mùa kiệt bằng

14 m3/giây, thuộc 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Bình Phước, trong đó Tây Ninh chiếm 2/3 diện tích mặt nước Diện tích mặt hồ ứng với mực nước 24,4 m là 27.000

ha Lưu lượng xả trung bình mùa khô 20 – 28 m3/giây Mực nước gia cường của hồ là 25,1 m, mực nước chết 17,0 m Hai hệ thống kênh chính dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng là

hệ thống kênh Đông về huyện Củ Chi (TP Hồ Chí Minh) và hệ thống kênh Tây về các huyện Đức Hòa, Đức Huệ (Long An)

2.2.2 Vị trí địa lý

Công trình thủy lợi hồ Dầu Tiếng chủ yếu thuộc hai tỉnh Tây Ninh và Bình

Trang 12

2.2.4 Khí hậu

Lưu vực hồ Dầu Tiếng nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới, gió mùa Với hai mùa mưa nắng rõ rệt:

- Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam

- Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc

Nhiệt độ trung bình năm là 270C

Mưa trên lưu vực diễn ra không đồng bộ, lượng mưa phân bố không đều giữa các vùng, lượng mưa trung bình nhiều năm trên toàn khu vực khoảng 2.010 mm

Bảng 2.1 Thống kê lượng mưa tại các trạm thuộc lưu vực hồ Dầu Tiếng năm 2007

Lượng mưa tháng(x mm)S

2.2.5 Thủy văn

Trong lưu vực và vùng hưởng lợi của hồ Dầu Tiếng có hai con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng núi của tỉnh Bình Phước có độ cao 200 m

Diện tích lưu vực từ thượng lưu đến đập chính hồ Dầu Tiếng là 270 km2 Lượng

dòng chảy trong lưu vực hồ chiếm 70 ÷ 80% tổng lượng dòng chảy năm, tập trung

vào các tháng mưa Về mùa lũ, lưu vực hồ Dầu Tiếng thường hay bị ảnh hưởng do

Trang 13

dòng chảy mang nhiều bùn cát bị rửa trôi chảy vào hồ, đặc biệt là các trận mưa đầu mùa có lượng mưa lớn dễ bị rửa trôi gây nên hiện tượng bồi lắng lòng hồ

Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ vùng núi thấp thuộc Campuchia Chế độ mưa của lưu vực sông biến đổi theo mùa và có lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1.650 mm (Nguồn: Công ty khai thác thủy lợi Dầu Tiếng, 2007)

2.2.6 Chất lượng nước

Theo tài liệu khảo sát của Đoàn Văn Tiến (2005) thì pH biến động trong khoảng 6 – 8,2; hàm lượng sắt biến động 0,000 – 0,17 mg/L phù hợp đối với nước sinh hoạt và các mục đích khác Hàm lượng COD biến động trong khoảng 1,16 – 6,51 mg/L; DO trong khoảng 6,01 – 7,98 mg/L; phosphate 0,19 – 1,78 mg/L; ammonia 0,24 – 1,9 mg/L; nitrite 0,000 – 0,023 mg/L; độ trong 58 – 240 cm

Nguồn nước có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ do các thành phần đạm ammonia, phosphate gây nên, trong nguồn nước này còn có sự hiện diện của cadmium, arsen và nitrite Nguồn nước chứa nhiều ion kim loại do có hàm lượng tổng chất rắn tan (TDS) và độ dẫn điện (EC) cao, tức là nguồn nước có hàm lượng sắt cao, đồng thời hàm lượng oxy hòa tan trong nước càng giảm

Một số yếu tố chất lượng nước có hàm lượng vượt mức cho phép của Tiêu Chuẩn Việt Nam đối với đời sống thủy sinh vật: ammonia, phosphate, sắt tổng cộng, chì

Độ trong quá cao cho thấy nguồn nước nghèo phiêu sinh vật Đây là khâu quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên trong thủy vực Độ trong cao dẫn đến sự phát triển của các loài tảo có hại cho tôm cá

Trang 14

2.2.7 Sản lượng cá khai thác

Theo thống kê của Công Ty Khai Thác Thủy Lợi Dầu Tiếng, trích bởi Châu Trần Phước Sang, 2004 thì sản lượng khai thác thủy sản toàn hồ năm 2003 là 581 tấn Được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.2 Sản lượng khai thác thủy sản hồ Dầu Tiếng năm 2003

TT Ngư cụ Số lượng Sản lượng TB

(kg/năm)

Tổng sản lượng (kg)

có dạng hẹp về bề ngang và kéo dài theo hình các dòng chảy phụ lưu vào hồ Eo ngách dùng để giữ nước và điều tiết nước theo yêu cầu kỹ thuật Ngoài ra, eo ngách giúp đánh bắt và khai thác thủy sản được dễ dàng và chủ động hơn so với hồ chứa

Trang 15

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm

Chúng tôi tiến hành thu mẫu từ ngày 07/4/2008 đến 14/7/2008, thời gian lấy mẫu từ 7 giờ đến 8 giờ 30 sáng trong ngày theo định kỳ 2 tuần 1 lần tại eo ngách hồ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh Trong đó mẫu được thu tại các điểm thuộc ba vùng khác nhau

Vùng I: là vùng nước đứng, không có sự trao đổi nước với môi trường xung quanh

Vùng II: có sự trao đổi nước với môi trường xung quanh

Vùng III: là vùng nước chảy

3.2 Phương Pháp Thu Và Phân Tích Mẫu

3.2.1 Thủy hóa

3.2.1.1 Phương pháp thu mẫu nước

Vị trí thu mẫu: mẫu được thu cách bờ khoảng 30 đến 50 m Mỗi vùng chúng tôi tiến hành thu ở ba vị trí sau đó trộn lẫn với nhau để có được mẫu đại diện

Đối với các chỉ tiêu nhiệt độ nước, nhiệt độ không khí, oxy hòa tan, pH, ammonia và nitrite chúng tôi tiến hành đo ghi nhận kết quả tại hiện trường, trong đó:

Trang 16

Đối với các chỉ tiêu như độ kiềm tổng cộng, độ cứng tổng cộng, hàm lượng vật chất lơ lửng; mẫu nước được thu và phân tích tại phòng thí nghiệm thủy hóa – Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM

Cách thu mẫu: dùng bình thu mẫu, thu ở tầng nước cách mặt 0,3 – 0,5 m, cho đầy vào 6 bình nhựa có dung tích 1 lít (mỗi vùng thu 2 lít), sau đó đem bảo quản lạnh bằng thùng đá

Tất cả các chỉ tiêu đem phân tích tại phòng thí nghiệm được thực hiện trong vòng 3 ngày sau khi thu mẫu, để tránh hiện tượng bay hơi kèm theo các chất cần phân tích

3.2.1.2 Phương pháp phân tích mẫu nước

Độ cứng được phân tích theo phương pháp chuẩn độ EDTA

Độ kiềm được phân tích theo phương pháp chuẩn độ bằng dung dịch acid

H2SO4 0,02N với chất chỉ thị màu methyl orange

Hàm lượng vật chất lơ lửng (TSS) được đo bằng cách dùng giấy lọc Whatman

có đường kính 2,5 cm, đã cân trước trọng lượng, lọc 500 ml nước mẫu, sau đó đem sấy ở nhiệt độ 1000C trong thời gian 1 giờ, để nguội sau đó cân lại Hàm lượng các chất vẩn hữu cơ sẽ bằng khối lượng chênh lệch giữa hai lần cân

Tất cả các chỉ tiêu được phân tích theo APHA, 1989

3.2.2 Phiêu sinh vật

Phương pháp thu mẫu

Đối với mẫu định tính chúng tôi dùng vợt phiêu sinh có đường kính miệng vợt

30 cm Giữ miệng vợt luôn cách mặt nước 30 – 50 cm trong lúc thu mẫu và cho vợt lượn theo kiểu hình số 8, kéo nhiều lần, mẫu được thu ở đáy vợt bằng lọ P.E 120 ml (lượng nước mẫu chứa trong lọ P.E chiếm 2/3 thể tích)

Đối với mẫu định lượng, mỗi lần thu 36 lít nước cách mặt nước 30 – 50 cm, sau đó lọc qua lưới phiêu sinh để cô đặc lại và thu ở đáy vợt bằng lọ P.E 120 ml

Mẫu định tính và định lượng được cố định bằng formol 4% ngay sau khi thu mẫu

Trang 17

Phương pháp phân tích mẫu

Mẫu định tính được lắng sau 2 ngày, dùng ống nhỏ giọt hút phần cặn lắng, quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 10 và 40 để xác định đặc tính giống loài và định danh theo Smith (1950), Shirota (1966), Bourrelly (1966, 1968, 1970)

Đối với mẫu định lượng, lắc và khuấy đều mẫu, sau đó hút ngẫu nhiên 1 ml cho vào buồng đếm Sedgewick Rafer và đếm dưới kính hiển vi ở vật kính 10 Mỗi mẫu được lặp lại 3 lần qua 3 tiêu bản, sau đó lấy trung bình cộng và suy ra kết quả số

cá thể trên 1 lít theo công thức sau:

N = n *(A/a)*(v/V)*1000 Trong đó:

N: Số cá thể/lít

n: Số cá thể đếm được

A: Tổng số ô của buồng đếm

a: Tổng số ô đã đếm

v: Thể tích mẫu sau khi cô đặc

V: Thể tích mẫu lúc ban đầu

Trang 18

4.1.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng đối với đời sống của thủy sinh vật vì không những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động sống

mà còn tác động đến các yếu thủy lý hóa khác

Nhiệt độ phụ thuộc vào vĩ độ, độ cao và nhất là phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng trong ngày Ngoài ra, nhiệt độ nước còn bị ảnh hưởng bởi độ đục, sức gió, độ che phủ của cây cối trong thủy vực Nhiệt độ nước còn thay đổi theo chu kỳ ngày đêm, theo mùa

Trong nuôi trồng thủy sản, nhiệt độ là một yếu tố môi trường ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các hoạt động sống như sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư của các thủy sinh vật Theo Niconski, 1951; trích bởi Mạc Thị Bửu Châu, 1998 thì nhiệt

Trang 19

độ cơ thể cá chỉ chênh lệch nhiệt độ môi trường từ 0,5 – 10C, khi nhiệt độ môi trường gia tăng cá tăng cường độ trao đổi chất, cường độ hô hấp, phôi phát triển nhanh, thời gian thành thục ngắn…Vì vậy, việc theo dõi nhiệt độ môi trường nước rất cần thiết trong nuôi trồng thủy sản, đồng thời tạo môi trường sống thích hợp cho phiêu sinh vật phát triển để làm nguồn thức ăn tự nhiên cho các động vật thủy sinh nói chung và

cá nói riêng

Qua quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy vùng I có nhiệt độ trung bình

300C, nhiệt độ dao động qua các lần khảo sát từ 28,5 đến 310C Vùng II có nhiệt độ trung bình 29,80C Trong khi đó vùng III có nhiệt độ trung bình là 29,70C Nhìn chung nhiệt độ cả 3 vùng không có sự chênh lệch lớn, mặc dù 3 vùng thuộc 3 môi trường nước khác nhau (Bảng 4.1)

Thời điểm khảo sát vào cuối mùa khô đến đầu mùa mưa, nhưng sự thay đổi nhiệt độ không lớn lắm Từ đó, chúng tôi có thể kết luận nhiệt độ nước trong hồ Dầu Tiếng là tương đối ổn định, vào những tháng mưa nhiệt độ nước trong hồ giảm không đáng kể (từ 1 đến 20C) Ngoài ra, nhiệt độ không khí cũng không có sự dao động lớn, nhiệt độ không khí luôn nhỏ hơn hoặc bằng nhiệt độ nước

Qua kết quả chúng tôi ghi nhận được nhiệt độ trung bình tầng mặt qua các lần khảo sát là 29,80C, nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá sống ở tầng mặt Do hạn chế đề tài chúng tôi không khảo sát nhiệt độ ở tầng giữa và tầng đáy nên không có cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của nhiệt độ đến các loài cá sống trong hồ

Trang 20

Bảng 4.1 Sự thay đổi nhiệt độ ở các vùng thu mẫu (hồ Dầu Tiếng)

07/4 21/4 05/5 19/5 02/6 16/6 30/6 14/7 Trung

bình Địa điểm

(0C) (0C) (0C) (0C) (0C) (0C) (0C) (0C) (0C)

to nước 28,5 29,5 30,5 29 31 29 31 31 30 Vùng I

toKK 26 27,5 28 26 25,5 26 26,5 27 26,6

to nước 29 29 30,5 28,5 30,5 29 31 31 29,8 Vùng II

toKK 27,5 27 28 27,5 26 26,5 27 29 27,3

to nước 30 28,5 30,5 29 30 29,5 30 30 29,7 Vùng III

to KK 28 27 28,5 29 26,5 27 27 29 27,8

to nước 29,2 29 30,5 28,8 30,5 29,2 30,7 30,7 29,8 Trung

bình to KK 27,2 27,2 28,2 27,5 26 26,5 26,8 28,3 27,2

4.1.2 pH

pH là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của thủy sinh vật pH quá cao hay quá thấp sẽ làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sinh vật với môi trường ngoài

Theo Đặng Ngọc Thanh (1974) độ pH trong thủy vực có thể biến đổi theo ngày đêm, do biến đổi của hàm lượng CO2 trong nước trong quá trình quang hợp Độ

pH cũng biến đổi theo độ sâu, càng xuống sâu độ pH càng giảm do sự thay đổi hàm lượng CO2 Ngoài ra, độ pH còn thay đổi theo mùa do biến đổi của quá trình phân hủy chất hữu cơ

Cũng theo Đặng Ngọc Thanh (1974) độ pH trong nước và thủy sinh vật có quan hệ mật thiết với nhau Hoạt động sống của thủy sinh vật (quang hợp, hô hấp) làm thay đổi độ pH của nước Ngược lại pH của nước ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phân bố và hoạt động sống của thủy sinh vật (sinh sản, hô hấp)

Trang 21

Bảng 4.2 Sự biến thiên pH qua các lần khảo sát

Thời gian (Ngày/tháng) Địa điểm

07/4 21/4 05/5 19/5 02/6 16/6 30/6 14/7 Vùng I 7,0 7,0 7,0 6,5 7,0 6,5 6,5 6,5

Vùng II 7,0 7,0 7,0 6,5 7,0 6,5 6,5 6,5

Vùng III 7,0 6,5 6,5 6,5 6,5 6,5 6,5 6,5

Kết quả phân tích cho thấy pH dao động 6,5 – 7, pH tương đối ổn định qua các lần khảo sát (Bảng 4.2) Giá trị pH nằm trong giới hạn an toàn cho đời sống của thủy sinh vật

4.1.3 Oxy hòa tan (DO)

Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong thủy vực (O2, CO2, CH4, NH3, H2S,…) Nó rất cần thiết đối với đời sống sinh vật, đặc biệt là các thủy sinh vật Ngoài ra, oxy còn là vật chất cần thiết để tạo nên sản lượng ban đầu của thủy vực

Oxy được tạo ra trong môi trường nước chủ yếu từ quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh, hay từ sự khuếch tán từ không khí Sự biến động của hàm lượng oxy trong nước trong một ngày đêm phụ thuộc vào sự quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật

Đối với thủy vực nước đứng như ở vùng I của hồ Dầu Tiếng thì nguồn cung cấp oxy chủ yếu từ sự quang hợp, vùng II thì nguồn cung cấp oxy chủ yếu từ sự quang hợp, xáo trộn dòng nước và khuếch tán từ không khí rất ít, vùng III là thủy vực nước chảy nguồn cung cấp oxy chủ yếu từ sự quang hợp, xáo trộn dòng nước và

Trang 22

Bảng 4.3 Sự biến thiên hàm lượng oxy qua các đợt khảo sát

Thời gian (Ngày/tháng) Địa điểm

Ammonia

Trong thủy vực ammonia tồn tại ở 2 dạng ammonium NH4+ (ion hóa) và ammonia NH3 (không ion hóa) Ammonia và ammonium đều có khả năng gây độc cho cá, tuy nhiên dạng không ion hóa có tác động nhiều hơn

Theo Boyd, 1990; trích bởi Mạc Thị Bửu Châu, 1998, khi hàm lượng NH3trong nước cao thì nó sẽ gây độc, do NH3 khó được bài tiết từ máu cá ra môi trường ngoài, NH3 trong máu và các mô gia tăng làm tăng pH máu, làm rối loạn những phản ứng xúc tác của các enzyme và độ bền vững của màng tế bào Khi hàm lượng NH3

trong nước quá thấp cũng không có lợi cho thủy sinh vật, đối với thực vật thủy sinh khi NH3 trong nước quá thấp chúng không phát triển được do nguồn thức ăn bị hạn chế, đối với động vật thủy sinh khi hàm lượng NH3 thấp kéo dài sẽ làm cá phát triển chậm, cá con bị dị hình

Trang 23

Theo Nguyễn Phú Hòa (2000), hàm lượng ammonia gây chết cho cá và giáp xác phụ thuộc vào từng loài và điều kiện môi trường Hàm lượng ammonia cao sẽ gây chết hoặc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển, sinh sản, khả năng phòng bệnh của cá…Hàm lượng ammonia quá thấp cũng không tốt cho thủy sinh vật, thực vật thủy sinh không phát triển được, thủy sinh động chậm phát triển

Qua quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy hàm lượng ammonia ở mức thấp (< 0,5 mg/L), không xác định được chính xác hàm lượng (do sử dụng Test Kit)

Nitrite

Hàm lượng nitrite thích hợp cho thủy sản phát triển là 0,01 – 0,1 ppm Nồng

độ nitirte gây chết cho cá cũng phụ thuộc vào từng loài Nồng độ nitrite cao hơn 1,7 ppm sẽ gây chết cá

Theo Schwedler, 1985; trích bởi Mạc Thị Bửu Châu, 1998, một số yếu tố môi trường khác có thể ảnh hưởng đến hàm lượng nitrite trong thủy vực: pH, kích cỡ chủng quần động vật phiêu sinh, tình trạng dinh dưỡng…

Kết quả phân tích qua các lần thu mẫu thì hàm lượng nitrite ở mức thấp (< 0,5 mg/L) Điều này không gây tác động xấu đến các loài động vật thủy sản

4.1.5 Độ cứng tổng cộng

Độ cứng của nước được quyết định bởi hàm lượng Ca2+ và Mg2+ tồn tại trong nước dưới các dạng muối chlorua, sulfat, silicate,… Độ cứng được xác định bằng mg CaCO3/L

Theo Sawey và Mc Carty, 1967; trích bởi Boyd, 1990, độ cứng của nước được phân chia như sau:

Trang 24

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy không có sự biến động lớn hàm lượng độ cứng giữa ba vùng thu mẫu cũng như qua các lần khảo sát Độ cứng tổng cộng tại hồ Dầu Tiếng thấp, trung bình 54,84 mg CaCO3/L, dao động trong khoảng 48,05 – 62,06 mg CaCO3/L (Bảng 4.4), điều này có ý nghĩa cho sự sinh trưởng, phát triển cũng như quá trình sinh sản của các loài thủy sản trong hồ

Bảng 4.4 Biến thiên độ cứng tổng cộng (mg CaCO3/L) tại hồ Dầu Tiếng

Thời gian 07/4 21/4 05/5 19/5 02/6 16/6 30/6 14/7 Trung bình Địa điểm

Vùng I - 60,06 62,06 58,06 54,60 55,06 - 57,06 57,82 Vùng II - 52,55 52,05 55,06 52,60 53,05 - 54,05 53,23 Vùng III - 50,10 48,05 57,56 60,06 52,05 - 53,05 53,48 Trung bình - 54,24 54,05 56,89 55,75 53,39 - 54,72 54,84

4.1.6 Độ kiềm tổng cộng

Độ kiềm tổng cộng là hàm lượng của tất cả các base có thể chuẩn độ được có trong nước Các base thường gặp ở trong nước là muối carbonate, bicarbonate, silicate, phosphate, ammonia, OH- và nhiều hợp chất hữu cơ khác Tuy nhiên, trong nuôi thủy sản CO3-, HCO3-, OH- được coi là những base đại diện cho độ kiềm của nước mà có thể phân tích được

Theo Boyd (2000) trích bởi Mạc Thị Bửu Châu (1998), độ kiềm tổng cộng của nước có thể biến động trong khoảng 5 – 500 mg CaCO3/L

Bảng 4.5 Biến thiên độ kiềm tổng cộng (mg CaCO3/L) tại hồ Dầu Tiếng

Thời gian 07/4 21/4 05/5 19/5 02/6 16/6 30/6 14/7 Trung bình Địa điểm

Vùng II - 30 31 36 19 25 - 25,5 27,8

Vùng III - 34 35 28 20,5 23,5 - 24 27,5 Trung bình - 34 30,2 32,2 23,3 26,8 - 26,5 28,8

Trang 25

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy độ kiềm tổng cộng tại hồ Dầu Tiếng thấp, trung bình 28,8, dao động trong khoảng 19 - 38 (Bảng 4.5) Nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển cũng như quá trình sinh sản của các loài thủy sản trong hồ

Giữa ba vùng có sự chênh lệch về độ kiềm tổng cộng, vùng I có độ kiềm tổng cộng trung bình cao nhất 31,2 mg CaCO3/L, vùng II và vùng III không có sự chênh lệch với nồng độ trung bình lần lượt là 27,8 mg CaCO3/L và 27,5 mg CaCO3/L Điều này có thể giải thích như sau: Vùng I là vùng nước đứng, nguồn nước được biệt lập với các vùng xung quanh, mật độ tảo dày đặc nên vào lúc sáng sớm hàm lượng CO2trong nước cao làm cho độ kiềm tổng cộng cao Vùng II và vùng III có sự trao đổi nước qua lại với nhau nên độ kiềm tổng cộng không có sự khác biệt

4.1.7 Hàm lượng vật chất lơ lửng

Trong thành phần nước tự nhiên, ngoài lượng chất hữu cơ bao gồm trong sinh vật, còn có thành phần chất hữu cơ ở các dạng khác ngoài sinh vật: chất hữu cơ hòa tan, chất vẩn và chất keo Thành phần chất hữu cơ này do hai nguồn:

 Nguồn 1: Các chất mùn bã từ bên ngoài trôi vào thủy vực, các chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp đổ vào thủy vực

 Nguồn 2: Các sinh vật trong thủy vực chết đi, phân hủy thành

Chất hữu cơ trong thủy vực, một phần cung cấp thức ăn cho các loài sinh vật, phần còn lại lắng động xuống nền đáy tạo thành lớp bùn Khi lượng chất hữu cơ quá nhiều, quá trình phân hủy sẽ tiêu hao nhiều oxy hòa tan trong nước, gây ô nhiễm cho nguồn nước ảnh hưởng đến đời sống của thủy sinh vật

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy hàm lượng chất hữu cơ lơ lững thấp, hàm

Trang 26

Đồ thị 4.1 Biến thiên hàm lượng chất hữu cơ qua các đợt khảo sát

Nhìn chung hàm lượng chất hữu cơ trong hồ thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản, cần có chế độ quản lý chặt chẽ nguồn nước thải từ các nhà máy, sinh hoạt của người dân xung quanh hồ để duy trì chất lượng nước trong hồ

4.2 Phiêu Sinh Vật

4.2.1 Phiêu sinh thực vật

Phiêu sinh thực vật là nhóm thực vật bậc thấp sống trong nước và là nguồn chủ yếu tạo ra chất hữu cơ làm thức ăn cho các thủy sinh vật khác và bổ sung oxy cho thủy vực, do có khả năng quang hợp tạo nên các sản phẩm đồng hóa nhờ mang sắc

tố

Vì có kích thước hiển vi nên không thể nhìn thấy phiêu sinh thực vật bằng mắt thường, tuy nhiên sự hiện diện của tảo trong thủy vực vẫn dễ được cảm nhận thông qua màu sắc của nước được nhuộm bởi các sắc tố của tảo Khi sống tảo silic hiện màu vàng nhạt vì chứa các sắc tố Chlorophyll, Caroten, β- Xanthophyll; tảo lục có màu xanh lá cây do có sắc tố Chlorophyll chiếm ưu thế; tảo lam có màu xanh nhạt hoặc xanh rỉ đồng do chứa các sắc tố như Chlorophyll a, Phycocyanin…

Do có hàm lượng dinh dưỡng khá cao (chiếm 30 - 60% protein; 20 - 30% lipid;

20 - 40% hydrat cacbon tình theo trọng lượng khô) nên tảo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho cá và thủy sinh vật Tuy nhiên nếu môi trường nước trong hồ không được giám sát chặt chẽ do xu hướng gia tăng việc nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, nông nghiệp, đô thị…sẽ dẫn đến trình trạng phú dưỡng hóa

Trang 27

Trong điều kiện không có sự phú dưỡng hóa, tảo sử dụng CO2, Nitơ vô cơ, Orthophosphate và các chất dinh dưỡng khác để quang hợp Tảo được coi là mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn trong thủy vực

4.2.1.1 Thành phần giống loài tảo

a/ Thành phần và tỷ lệ các loài tảo hiện diện ở hồ Dầu Tiếng

Kết quả phân tích của 8 đợt khảo sát trên 3 vùng khác nhau ở hồ Dầu Tiếng cho thấy thành phần loài tảo khá đa dạng với tổng số 110 loài thuộc 5 ngành tảo chính: tảo lục (Chlorophyta), tảo silic (Bacillariophyta), tảo lam (Cyanophyta), tảo vàng ánh (Chrysophyta), tảo giáp (Pyrrophyta) Trong đó tảo lục chiếm tỷ lệ cao nhất (68 loài; 61,8%), kế đến là tảo silic (16 loài; 14,6%), tảo lam (12 loài; 10,9%), tảo vàng ánh và tảo giáp đều có 7 loài loài chiếm tỷ lệ 6,4% (Đồ thị 4.2) Các loài tập trung chủ yếu

ở các giống Closterium, Staurastrum, Melosira, Micrasterias, Oscillatoria và Cosmarium, các nhóm tảo này được coi là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm, cá

cũng như các động vật thủy sinh khác trong thủy vực

Bacillariophyta 15%

Cyanophyta 11%

Chrysophyta 6% Pyrrophyta

6%

Chlorophyta 62%

Trang 28

Số loài tảo qua các lần khảo sát tại 3 vùng biến thiên từ 12 loài (7/4 Vùng I)

đến 32 loài (19/5 Vùng II) (Phụ lục 3)

b/ Thành phần loài tảo tại mỗi vùng thu mẫu

Số lượng loài tảo trong mỗi vùng là không đều nhau (vùng I 60 loài, vùng II 64 loài, vùng III 74 loài) (Bảng 4.6)

Vùng I xác định được 60 loài hiện diện thuộc 5 ngành gồm tảo lục (34 loài; 56,7%), tảo lam (9 loài; 15%), tảo silic (9 loài; 15%), tảo giáp (4 loài; 6,7%), tảo vàng ánh (4 loài; 6,7%) (Phụ lục 3.1)

Ở vùng này tảo lục là ngành chiếm tỷ lệ cao nhất (56,7%) với 34 loài Trong đó

các loài chiếm ưu thế là: Arthrodesmus convergens, Closterium lineatum, Micrasterias alata, Onychonema filiforme, Pleodorina californica, Pleurotaenium ehrenbergii, Staurastrum arctiscon, Staurastrum ophiura, Staurastrum sexangulari,…Kế đến là tảo lam và tảo silic hiện diện với số lượng bằng nhau với tỷ

Vùng III gồm 74 loài thuộc 5 ngành gồm tảo lục (44 loài; 59,5%), tảo lam (9

loài; 12,2%), tảo silic (9 loài; 12,2%), tảo giáp (5 loài; 6,8%), tảo vàng ánh (7 loài; 9,5%) Số lượng loài trong mỗi lần thu mẫu thay đổi từ 15 loài (21/4) đến 34 loài (02/6) (Phụ lục 3.3)

Trang 29

Bảng 4.6 Thành phần loài tảo tại các vùng thu mẫu

Ngành tảo

Số lượng % Số lượng % Số lượng % Pyrrophyta 4 6,7 4 6,3 5 6,8 Chrysophyta 4 6,7 3 4,7 7 9,5 Cyanophyta 9 15 9 14 9 12,2

Chlorophyta 34 56,7 41 64 44 59,5 Tổng cộng 60 64 74

Như vậy, tổng số loài tảo hiện diện tại 3 vùng có sự chênh lệch đáng kể, ưu thế về thành phần loài và số lượng vẫn thuộc ngành tảo lục

c/ Thành phần loài tảo giữa các tháng thu mẫu

Qua kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy số loài tảo có sự chênh lệch qua các tháng khảo sát, thay đổi từ 58 loài (4/08) đến 82 loài (5/08) (Phụ lục 3)

Tháng 4/08 có 58 loài, trong đó tảo lục 33 loài (57%), tảo lam 9 loài (15,5%), tảo giáp 6 loài (10,3%), tảo vàng ánh và tảo silic có 5 loài như nhau (8,6%) (Biểu đồ 4.3)

Tháng 5/08 có 82 loài, trong đó tảo lục 48 loài (58,5%), tảo silic 14 loài (17,1%), tảo lam 9 loài (11%), tảo vàng ánh 6 loài (7,3%) và thấp nhất là tảo giáp 5 loài (6,1%) (Biểu đồ 4.3)

Tháng 6/08 có 66 loài, trong đó tảo lục 38 loài (57,6%), tảo lam và tảo silic có

số loài như nhau 8 loài (12,1%), tảo giáp 7 loài (10,6%), tảo vàng ánh 5 loài (7,6%)

Trang 30

0 10 20 30 40 50

Biểu đồ 4.3 Thành phần loài giữa các tháng thu mẫu

Mặc dù có sự biến động về thành phần loài giữa các tháng thu mẫu nhưng chúng tôi nhận thấy cả 4 tháng đều có tỷ lệ số loài trong mỗi ngành là tương đương nhau, trong đó tỷ lệ chiếm cao nhất là tảo lục (55 – 58,5%), kế đến là tảo silic (8,6 – 17,1%), tảo lam (11 – 15,5%), tảo giáp (6,1 – 10,6%), và cuối cùng là tảo vàng ánh (7,3 – 8,6%) Theo chúng tôi thành phần loài tảo trong các tháng khảo sát ít thay đổi

là do khí hậu ở hồ Dầu Tiếng trong thời gian khảo sát là ít biến đổi Ngoài ra, sự sống của các loài tảo còn tùy thuộc vào các chất cần thiết trong môi trường: nhiệt độ, ánh sáng, pH, các muối dinh dưỡng Mà các yếu tố này có sự dao động rất ít, nên thành phần và tỷ lệ các loài tảo hiện diện ở hồ Dầu Tiếng qua các tháng khảo sát gần như nhau

4.2.1.2 Mật độ tảo

a/ Sự biến động mật độ tảo trong hồ Dầu Tiếng

Qua thời gian thu mẫu chúng tôi xác định được mật độ tảo trung bình ở hồ Dầu Tiếng là 7.806 cá thể/L, mật độ tảo qua các lần thu mẫu thay đổi từ 1.552 cá thể/L

đến 17.765 cá thể/L

Ngoài ra chúng tôi cũng nhận thấy mật độ tảo cao nhất xác định được ở vùng I

có mật độ tảo trung bình 14.199 cá thể/L, vùng II 6.314 cá thể/L, vùng III có mật độ tảo thấp nhất 2.905 cá thể/L Vì ba vùng có môi trường nước khác nhau, vùng I là loại hình thủy vực nước đứng, vùng III là vùng nước chảy và vùng II là vùng trung

Trang 31

gian giữa vùng I và vùng III Bên cạnh đó vùng I được chăn thả thủy cầm nên tích lũy nhiều chất dinh dưỡng tạo điều kiện cho phiêu sinh thực vật phát triển

b/ Sự biến động mật độ tảo tại mỗi vùng thu mẫu

Qua kết quả phân tích chúng tôi nhận thấy số lượng tảo tại ba vùng khảo sát có

sự chênh lệch nhau khá rõ rệt, vùng I có mật độ tảo cao nhất, kế đến là vùng II, vùng III có mật độ tảo thấp nhất

Vùng I là loại hình nước đứng nên ít nhiều cũng mang đặc tính của ao hồ, có mật độ tảo 14.199 cá thể/L, mật độ tảo thay đổi từ 10.428 cá thể/L (19/5) đến 17.765

cá thể/L (07/4) (Biểu đồ 4.4)

Vùng này ngành tảo lục chiếm ưu thế với mật độ dao động trong khoảng 6.674

cá thể/L (19/5) đến 13.217 cá thể/L (07/4) Các giống tảo lục có số lượng lớn: Arthrodesmus , Micrasterias, Onychonema, Pleodorina, Staurastrum, Staurastrum,

0 4.000 8.000 12.000

Lục Vàng Giáp Silic Lam

Biểu đồ 4.4 Mật độ các ngành tảo qua các đợt khảo sát tại vùng I

Vùng II có mật độ tảo 6.314 cá thể/L, thấp hơn vùng I mật độ tảo thay đổi từ

Trang 32

0 4.000 8.000 12.000

Lục Vàng Giáp Silic Lam

Biểu đồ 4.5 Mật độ các ngành tảo qua các đợt khảo sát tại vùng II

Vùng III có mật độ tảo 2.906 cá thể/L, mật độ tảo thay đổi từ 1.555 cá thể/L

(30/6) đến 4.587 cá thể/L (19/5) Qua kết quả thu được chúng tôi nhận thấy mật độ

tảo ở vùng này có biên độ dao động nhỏ hơn vùng I và vùng II (Biểu đồ 4.6)

Cũng giống như vùng I và vùng II, vùng III có ngành tảo lục chiếm ưu thế, với

các loài hiện diện như Kirchneriella obesa, Arthrodesmus convergens, Micrasterias alata, Onychonema filiforme, Micrasterias radiata, Pediastrum duplex var clathratum, Spirogyra sp, Staurastrum apiculatum, Staurastrum chaetoceras,…

0 4.000 8.000 12.000

Lục Vàng Giáp Silic Lam

Biểu đồ 4.6 Mật độ các ngành tảo qua các đợt khảo sát tại vùng III

Trang 33

Nhìn chung qua khảo sát ba vùng chúng tôi nhận thấy có sự chênh lệch đáng kể

về mật độ tảo giữa vùng I so với vùng II và vùng III, còn vùng II và vùng III không

có sự chênh lệch đáng kể, điều này cũng dễ hiểu do vùng I là vùng nước đứng, hàm lượng chất dinh dưỡng cao thích hợp cho sự phát triển của tảo, vùng II và vùng III là vùng nước chảy (Bảng 4.7)

Bảng 4.7 Mật độ tảo trung bình tại các vùng khảo sát

c/ Sự biến động mật độ tảo qua các tháng khảo sát

Qua kết quả khảo sát về điều kiện thủy lý hóa ở hồ Dầu Tiếng giữa các tháng thu mẫu chúng tôi nhận thấy các yếu tố như pH, nhiệt độ, DO… ít có sự biến động, nên mật độ tảo ít có sự biến động lớn Tảo lục vẫn là ngành chiếm ưu thế, kế đến là tảo silic (Bảng 4.8)

Bảng 4.8 Mật độ tảo trung bình giữa các tháng khảo sát tại hồ Dầu Tiếng

Ngành tảo 4/08 5/08 6/08 7/08

Trang 34

Nhận xét:

Hồ Dầu Tiếng là nơi có các yếu tố thủy lý hóa: nhiệt độ, pH, oxy…tương đối

ổn định qua các lần thu mẫu, kể cả những tháng mưa nên thành phần loài qua mỗi lần thu mẫu đều không có sự thay đổi lớn, lúc nào tảo lục cũng chiếm ưu thế, kế đến là tảo silic, tảo lam, và thấp nhất là tảo vàng ánh và tảo giáp

Ngoài ra chúng tôi nhận thấy số lượng tảo ở vùng I là cao nhất, vùng II và vùng

III có số lượng tảo gần tương đương nhau Ở vùng I giống tảo Onychonema chiếm số lượng rất lớn, vùng II và vùng II chủ yếu là giống tảo Staurastrum

Do sự khác nhau về địa hình (nước chảy và nước đứng, thủy vực rộng và hẹp, nông và sâu,…) nên ba vùng có sự chênh lệch về thành phần và số lượng các loài tảo, nhưng nhìn chung cả ba vùng đều có ngành tảo lục chiếm tỷ lệ cao nhất

4.2.2 Phiêu sinh động vật

4.2.2.1 Phân tích định tính

a/ Thành phần giống loài phiêu sinh động vật tại hồ Dầu Tiếng

Phiêu sinh động vật là các nhóm động vật không xương sống chuyên sống trôi nổi hoặc phù du trong nước, chúng có thể hấp thụ các chất hữu cơ hòa tan qua vách ruột và sử dụng tảo và vi sinh vật làm thức ăn, sau đó đến lượt chúng lại làm mồi cho một số thủy sinh vật khác Do hạn chế về phân tích mẫu, chúng tôi chỉ tìm hiểu về 4 nhóm phiêu sinh động là Protozoa, Cladocera, Rotifera và Copepoda

Qua 8 đợt khảo sát đã tìm được 24 giống thuộc 4 ngành phân bố ở hồ chứa Dầu Tiếng, trong đó, Protozoa: 3 giống (12,5%), Cladocera: 7 giống (29,2%), Rotifera: 10 giống (41,2%), Copepoda: 4 giống (16,7%) (Biểu đồ 4.7)

Trang 35

Rotifera41%

Cladocera29%

Protozoa13%

Biểu đồ 4.7 Thành phần giống loài phiêu sinh động tại hồ Dầu Tiếng

b/ Thành phần, số lượng giống loài phiêu sinh động tại ba vùng khảo sát

Trong cùng một thủy vực có thể xảy ra hiện tượng một số giống loài chỉ xuất hiện ở vùng này mà không xuất hiện ở vùng kia Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy sự phân bố của các giống loài phiêu sinh động trong hồ Dầu Tiếng là không đồng đều

Do tính chất của ba vùng thu mẫu khác nhau nên số loài phiêu sinh động cũng thể hiện sự khác nhau Vùng I là vùng nước đứng, không có sự trao đổi nước với môi trường xung quanh, vùng II có sự trao đổi nước với môi trường xung quanh, vùng III

là vùng nước chảy Chúng tôi cũng ghi nhận được ở vùng I không có sự hiện diện của

Brachionus mà thay vào đó là Moina và Eucyclops Vùng III có sự hiện diện của Brachionus qua các lần khảo sát Vùng II mang đặc tính chung của vùng I và vùng

III Ngoài ra, chúng tôi còn nhận thấy có sự biến động về số lượng các giống loài phiêu sinh động tại ba vùng khảo sát

Bảng 4.9 Số lượng giống phiêu sinh động tại ba vùng khảo sát

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w