1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT KỸ THUẬT NUÔI CÁ KÈO (Pseudapocryptes lanceolatus Block et Schneider, 1981) TẠI HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG

58 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 720,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢO SÁT KỸ THUẬT NUÔI CÁ KÈO Pseudapocryptes lanceolatus Block et Schneider, 1801 TẠI HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Tác giả NGUYỄN THỊ OANH Luận văn được đệ trình để đáp ứng yêu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT KỸ THUẬT NUÔI CÁ KÈO

(Pseudapocryptes lanceolatus Block et Schneider, 1981)

TẠI HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

Trang 2

KHẢO SÁT KỸ THUẬT NUÔI CÁ KÈO

(Pseudapocryptes lanceolatus Block et Schneider, 1801)

TẠI HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG

Tác giả

NGUYỄN THỊ OANH

Luận văn được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

Trần Văn Phát

Tháng 09 năm 2008

Trang 3

TÓM TẮT

Nghiên cứu “Khảo sát kỹ thuật nuôi cá kèo (Pseudapocryptes lanceolatus

Block et Schenider, 1801) tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang”, được thực hiện từ tháng 04/2008 đến tháng 08/2008

Phỏng vấn trực tiếp 30 nông hộ nuôi cá kèo theo bảng câu hỏi được soạn sẵn, cho thấy rằng:

- Diện tích nuôi trung bình từ 2.000 - 5.000 m2 Diện tích nuôi lớn nhất là 20.000 m2 và diện tích nuôi nhỏ nhất 1.400 m2

- Mật độ thả: hầu hết các hộ nuôi thả giống với mật độ cao lên tới 100 con/m2, ngoại trừ có 1 hộ nuôi với mật độ thấp 40 con/m2

- Nguồn thức ăn: giai đoạn cá nhỏ dưới một tháng tuổi cho ăn thức ăn dạng mịn và có bổ sung thêm phân gà để tạo nguồn thức ăn tự nhiên Giai đoạn cá từ 1,5

- 2 tháng cho ăn thức ăn viên nổi của cá tra

- Mùa vụ nuôi: từ tháng 6 đến tháng 10 sau khi đã thu hoạch vụ tôm và sau

vụ nuôi cá giống

- Năng suất trung bình đạt 500 kg/1.000 m2/vụ; năng suất cao nhất 1.013 kg/1.000 m2/vụ; năng suất thấp nhất 43 kg/1.000 m2/vụ

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Trong suốt bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm tạ đến:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm Khoa Thủy sản cùng tất cả Quý Thầy Cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo cho chúng tôi trong suốt quá trình học tại trường

Thầy Trần Văn Phát đã hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp

Ủy Ban Nhân Dân huyện Gò Công Đông, hội Khuyến Nông xã Phước Trung anh Lê Thanh Tùng ấp Sơn Quy B xã Tân Trung; chú Nguyễn Văn Yến, chú Nguyễn Văn Chà xã Phước Trung cùng các hộ nuôi cá kèo trong địa bàn huyện Gò Công Đông đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp những thông tin cần thiết trong quá trình điều tra

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ba Mẹ đã nuôi dạy tôi trưởng thành và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và có được thành công ngày hôm nay

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình Bà Huỳnh Thị Út huyện Cần Giuộc, cùng các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản Khóa 2004 đã quan tâm chia sẻ và ủng hộ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian thực tập

Do lần đầu thực hiện đề tài, và do trình độ chuyên môn, kiến thức bản thân còn hạn chế nên luận văn này không tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được

ý kiến đóng góp từ quý Thầy Cô và các Bạn để luận văn này được hoàn chỉnh hơn

Trang 5

MỤC LỤC

Đề Mục Trang

TÓM TẮT ii

LỜI CẢM TẠ iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC BẢNG vii

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH viii I GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới Thiệu Sơ Lược về Cá Kèo 3

2.1.1 Phân loại 3

2.1.2 Phân bố 3

2.1.3 Đặc điểm hình thái 4

2.1.4 Đặc điểm môi trường sống 4

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 5

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 6

2.1.7 Đặc điểm sinh sản 6

2.2 Tình Hình Nuôi Cá Kèo Tại Việt Nam 9

2.3 Sơ Lược về Huyện Gò Công Đông 10

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 10

2.3.2 Kinh tế xã hội 11

2.3.3 Tình hình phát triển của huyện 11

2.3.4 Tài nguyên tự nhiên 14

2.3.5 Tiềm năng kinh tế 14

2.3.6 Tình hình phát triển thủy sản ở Gò Công Đông 15

Trang 6

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Thời Gian và Địa Điểm 17

3.2 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu 17

3.3 Xử Lý Số Liệu 17

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Thông Tin Về Nông Hộ 19

4.1.1 Độ tuổi 19

4.1.2 Trình độ học vấn 20

4.1.3 Kinh nghiệm nuôi 20

4.1.4 Học hỏi kinh nghiệm 21

4.2 Thông tin về mô hình 22

4.2.1 Diện tích nuôi 22

4.2.2 Mùa vụ nuôi 23

4.2.3 Nguồn nước cung cấp 23

4.3 Kỹ Thuật Nuôi 24

4.3.1 Chuẩn bị ao 24

4.3.2 Nguồn giống, chất lượng giống và mật độ nuôi 26

4.3.3 Quản lý thức ăn 27

4.3.4 Quản lý môi trường 28

4.3.5 Quản lý sức khỏe cá 29

4.3.6 Công tác phòng trừ bệnh 29

4.3.7 Thu hoạch 30

4.3.8 Năng suất thu được 31

4.4 Đánh Giá Của Người Nuôi 32

4.4.1 Thuận lợi 32

4.4.2 Khó khăn 32

4.4.3 Hướng phát triển trong tương lai 33

Trang 7

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35

5.1 Kết luận 35

5.2 Đề nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC 38

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Sự tăng trưởng chiều dài và trọng lượng cá kèo qua 5 tháng nuôi 6

Bảng 2.2: Diện tích nuôi thủy sản của huyện 16

Bảng 4.1: Độ tuổi của nông hộ 19

Bảng 4.2: Trình độ học vấn của nông hộ 20

Bảng 4.3: Kinh nghiệm nuôi của nông hộ 21

Bảng 4.4: Công tác chuẩn bị ao 24

Bảng 4.5: Năng suất thu hoạch 31

Bảng 4.6: Số hộ nuôi đạt và không đạt 32

Bảng 4.7: Khó khăn của các hộ nuôi 33

Bảng 4.8: Hướng phát triển của người nuôi trong thời gian tới 33

Trang 9

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

Đồ thị Trang

Đồ thị 4.1 Nguồn học hỏi kinh nghiệm 21

Đồ thị 4.2: Diện tích nuôi cá kèo 22

Hình 2.1: Cá kèo 3

Hình 3.1: Bản đồ hành chánh huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang 18

Hình 4.1: Bón vôi, phơi ao 25

Hình 4.2: Ao nuôi cá kèo thương phẩm .26

Hình 4.3: Thức ăn nuôi cá kèo 28

Hình 4.4: Ao nuôi cá có phủ lưới bảo vệ 29

Hình 4.5: Cá kèo thương phẩm .31

Trang 10

nghiên cứu góp phần đa dạng hóa loài và mô hình nuôi Cá kèo (Pseudapocryptes

lanceolatus Block et Schneider, 1801) là loài rộng nhiệt, có khả năng sống ở cả ba

môi trường mặn, lợ và ngọt Chúng thường phân bố ở bãi bồi các vùng sú, vẹt ven biển.Có thể nói cá kèo là loài cá khá gần gũi trong bữa ăn hàng ngày của người dân sống ven biển

Cá có mùi vị thịt thơm ngon, đặc biệt là trong cách chế biến rất khác so với các loài cá khác Đây cũng là đặc trưng hấp dẫn nhất của các món ăn chế biến từ cá kèo Có thể nói cá kèo là một trong những loài cá có giá trị kinh tế cao, đặc sắc ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá kèo ngày càng cao trên thị trường, các mô hình nuôi cá kèo theo hướng quảng canh, thâm canh, bán thâm canh…cũng xuất hiện ngày càng nhiều Cùng với xu thế đó thì việc nuôi cá kèo tại khu vực Gò Công Đông cũng manh nha phát triển Để hiểu rõ hơn về tình hình nuôi cá kèo tại khu vực này và được sự cho phép của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo Sát Kỹ Thuật Nuôi Cá Kèo

(Pseudapocryptes lanceolatus Block et Schneider, 1801) tại huyện Gò Công Đông,

tỉnh Tiền Giang”

Trang 11

Khảo sát kỹ thuật nuôi của các hộ nuôi cá kèo trong địa bàn điều tra

Qua đó biết được những khó khăn, thuận lợi trong kỹ thuật nuôi cá kèo thương phẩm của người nuôi trong vùng

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới Thiệu Sơ Lược về Cá Kèo

Myanmar,…Cá kèo cũng xuất hiện ở Tahiti và tới vùng ven biển Nam Trung Quốc

Ở Việt Nam cá kèo tập trung ở khu vực cửa sông, cửa biển và các bãi triều Chúng phân bố chủ yếu tại khu vực ven biển của đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt tại Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang… nơi có độ mặn trung

Trang 13

bình và ổn định Cá kèo còn tập trung sinh sống tại các ao hồ, đầm, kênh mương nước lợ

2.1.3 Đặc điểm hình thái

Cá kèo có đầu nhỏ hình chóp Miệng cá tù, hướng xuống, miệng trước hẹp, rạch miệng nằm ngang kéo dài đến bờ sau của ổ mắt Răng hàm trên có đỉnh tù, răng bên trong nhỏ mịn; răng hàm dưới xiên thưa Cá kèo không có râu Mắt tròn, nhỏ nằm sát đỉnh đầu, khoảng giữa hai mắt hẹp Lỗ mang hẹp, màng mang phát triển Cá kèo có thân hình trụ dài, dẹp dần về phía đuôi, có phủ vảy nhỏ tròn rất bé Hai vây lưng rời nhau Hai vây bụng dính nhau tạo thành giác bám dạng phiễu hình bầu dục Vây ngực, vây bụng có khởi điểm trên một đường thẳng đứng Vây đuôi dài nhọn Vây ngực có màu nhạt lấm tấm các đốm, dây đuôi có nhiều hàng chấm đen Các vây còn lại trắng nhạt (Nguyễn Nhật Thi,1999; trích bởi Lê Thị Phương Thụy, 2007)

Cá có màu xám vàng hay xám trắng, nửa thân trên lưng có 7 - 8 sọc đen hướng về phía trước Các sọc này rõ về phía đuôi Bụng màu nhạt

Cá bống kèo cùng với các loài cá bống họ Gobiidae đều không có dạ dày, thực quản nối liền với ruột Do không có dạ dày nên vai trò tiêu hoá, hấp thu thức

ăn và chất dinh dưỡng đều do ruột đảm nhận Đầu trước của ruột phình ra to thành

“cầu ruột”, không có tế bào tiết acid cũng như không có enzyme pepsin Ở toàn bộ ống tiêu hoá của chúng có các enzyme phân giải chất đường (amylase, glycogenase…), enzyme phân giải mỡ (lypase), enzyme phân giải chất đạm (trypsinogen…) Ruột cá kèo ngắn, uốn khúc 3 - 4 lần nối các cơ quan tiêu hoá khác (Nguyễn Chung, 2008)

2.1.4 Đặc điểm môi trường sống

2.1.4.1 Nhiệt độ

Cá kèo là loài rộng nhiệt sống ở khoảng nhiệt độ từ 15 - 370C Chúng có tập tính nằm phơi mình dưới ánh sáng mặt trời và sống ở bãi bồi có mực nước thấp Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của cá kèo là 27 - 330C

Khi nhiệt độ trong nước quá cao cá kèo có xu hướng chui sâu xuống bùn, đào những hang sâu để ngủ hè trốn nóng

Trang 14

2.1.4.2 pH

Mỗi loài cá đều có khả năng sống và phát triển tốt trong một khoảng pH nhất định Khi pH trong môi trường nước quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của cá Theo Leivestad, 1982 (trích bởi Nguyễn Văn Luận, 2005) khi pH trong môi trường nước thấp sẽ làm cho bề mặt mang cá gia tăng tiết nhớt Nếu lượng nhớt tiết ra nhiều gây trở ngại cho việc hô hấp và trao đổi các ion qua mang Đối với cá kèo độ pH thích hợp nhất là 6,5 - 8

2.1.4.3 Độ mặn

Cá kèo có tính thích nghi rộng sống được ở môi trường nước lợ mặn, lợ và ngọt với độ mặn từ 0 - 30‰ Tuy vậy độ mặn thích hợp nhất cho cá kèo sống và sinh trưởng là 10‰

2.1.4.4 Hàm lượng oxy hòa tan

Oxy hoà tan là yếu tố rất quan trọng đối với mọi cơ thể sống Cá cũng như các loài sinh vật khác đều cần một lượng oxy nhất định để thực hiện quá trình trao khí cũng như quá trình trao đổi chất cho cơ thể

Cá kèo và các loài cá không vẩy đều có khả năng hô hấp qua da nên chúng

có thể sống dễ dàng ở các khu vực nước cạn, bãi bồi hay trong hang một thời gian dài Chính vì thế, hàm lượng oxy hòa tan trong nước ít ảnh hưởng đến khả năng sống và phát triển của cá kèo Mặc dù vậy, để duy trì chất lượng nước và hàm lượng oxy hòa tan cần thiết cho phiêu sinh động vật phát triển nên hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi cá kèo là 2 - 4 mg/L

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Tuy cá kèo là loài tạp ăn nhưng không hiếu động, háu ăn Cá ăn mồi vào ban ngày khi trời mát và cả ban đêm thường vào con nước rong

Cá kèo là loài ăn tạp thiên về thực vật, tỉ lệ giữa chiều dài ruột và chiều dài chuẩn là 3,27 (Trần Khắc Định, 2002) Tác giả khảo sát trong ống tiêu hóa của cá kèo thì thấy tảo khuê, mùn bã hữu cơ và tảo lam là ba loại thức ăn có tần số xuất hiện nhiều nhất với tỉ lệ: tảo khuê 83,12%, mùn bã hữu cơ 14,1%, tảo lam 1,89%

và thấp nhất là Copepoda và Cladocera 0,058% Cùng với nghiên cứu trên theo

Johnstone,1903 (trích bởi Dương Nhật Long, 2004) mô tả khảo sát trong ống tiêu

Trang 15

hóa của cá kèo phát hiện rằng các thành phần thức ăn gồm có khoảng 70% tảo silic

và 30% tảo sợi, một ít giáp xác, một ít lab lab và mùn bã hữu cơ

Giai đoạn ấu trùng, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng được tạo ra từ cơ thể

mẹ Giai đoạn sau cá dinh dưỡng bằng thức ăn bên ngoài thức ăn tự nhiên hoặc thức

ăn nhân tạo Thức ăn tự nhiên gồm có tảo, mùn bã hữu cơ, giun ít tơ, ấu trùng muỗi

lắc, côn trùng thủy sinh, luân trùng và các loại giáp xác hoặc động vật đáy khác

Thức ăn nhân tạo: thức ăn tự chế biến, thức ăn của tôm, cá hoặc cám chăn nuôi

Khi cá đạt trên 15 cm thì khoảng 50% là ăn các loài giáp xác: tôm, cua, ghẹ,

ốc nhỏ và cá nhỏ, còn lại là mùn bã hữu cơ, xác động vật, thực vật phân rã

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện dinh dưỡng, môi trường

sống và các giai đoạn phát triển của cá Lúc nhỏ cá tăng trọng chiều dài nhanh hơn

tăng trưởng về trọng lượng, và ngược lại khi lớn lên chúng lại đạt sự tăng trọng cao

hơn

Bảng 2.1: Sự tăng trưởng chiều dài và trọng lượng cá kèo qua 5 tháng nuôi

Tháng nuôi Chiều dài trung bình (cm) Trọng lượng trung bình (g)

Trong tháng đầu cá tăng trưởng nhanh về chiều dài từ 1,3 lên 7,45, trong khi

đó trọng lượng tăng ít từ 0,056 lên 1,83 Từ tháng thứ hai trở đi sự tăng trọng lượng

cao hơn về chiều dài

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

Để đảm bảo sự duy trì nòi giống, cá cũng có hoạt động sinh sản như các loài

động vật khác Cá thuộc loại sinh sản hữu tính nên trong quá trình sinh sản phải có

sự tham gia của cá thể đực và cái Cơ quan sinh dục đực và cái sẽ sản xuất ra tinh

Trang 16

trùng và trứng Khi trứng và tinh trùng kết hợp với nhau sẽ tạo ra hợp tử và phát triển thành phôi Có một số loài cá khi nhìn vào hình dạng bên ngoài ta có thể phân biệt được cá đực và cái còn đối với cá kèo thì khó phân biệt hơn vì cá kèo đực và cái có hình dạng giống nhau Chúng ta có thể phân biệt dựa vào các đặc điểm sau:

2.1.7.1 Phân biệt giới tính

Theo Ngô Ngọc Vân, 2005 cá kèo rất khó phân biệt được giới tính bằng cách quan sát hình thái bên ngoài, ngoại trừ trong mùa sinh sản khi cá đã thành thục sinh dục Đến giai đoạn thành thục, cá có một số thay đổi hình dạng ngoài so với bình thường:

a/ Cá kèo cái

Cũng như các loài cá khác, khi đạt đến giai đoạn thành thục sinh dục cá

có các biểu hiện khác so với bình thường: cá có màu sậm hơn, các sọc và các đốm trên lưng rõ hơn, bụng to đặc biệt là lỗ sinh dục có màu ửng hồng

b/ Cá kèo đực

Thân cá thon dài, đầu hơi thon nhỏ, bụng nhỏ, lỗ sinh dục tái nhợt, màu sắc trên cơ thể sặc sỡ với nhiều vân hơn so với cá cái

Hình thái giải phẩu

- Cá cái: Buồng trứng có kích thước nhỏ, dài khoảng 8 - 14 mm, màu vàng nhạt đến màu vàng cam tùy vào mức độ phát dục của buồng trứng Buồng trứng có dạng hai thùy nằm dọc bên trong bụng cá và dính sát vào xương sống của cá bởi một lớp màng mỏng

- Cá đực: Buồng tinh rất nhỏ, có dạng sợi xoắn, màu trắng đục, dài khoảng

5 - 7 mm, nằm dọc bên trên buồng trứng và kề với ruột Khi giải phẩu cá rất khó phân biệt giữa ruột và tinh sào (nếu như ruột bị đứt)

Theo Nguyễn Chung 2008, cá kèo có sự thay đổi giới tính, cá đực sau khi tham gia sinh sản đầu tiên có thể biến đổi thành cá cái Ngô Ngọc Vân, 2005 cũng cho rằng cá kèo là loài lưỡng tính nhưng lưỡng tính theo kiểu đực trước cái sau hay ngược lại thì vẫn chưa có kết luận chắc chắn

Trang 17

2.1.7.3 Mùa vụ sinh sản và đặc tính môi trường sinh sản

Nghiên cứu của Bộ Thủy Sản Việt Nam cá kèo có thể đẻ quanh năm, thời vụ chính là trước mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 5 Người dân thu được cá kèo bột, cá kèo con có kích thước 1 - 2 cm vào tháng 5 - 8 Mùa vụ phụ khoảng cuối mùa mưa

từ tháng 6 - 8 nên từ tháng 9 - 12 là thu được cá kèo giống đợt hai

Cá kèo đực và cái khi thành thục sẽ tách đàn và vượt chướng ngại vật để tìm đến những vùng biển thích hợp cho sinh sản

Trước khi sinh sản cá không ăn, cá cái đến thời kỳ thành thục, chín mùi sinh dục sẽ chủ động gia tăng hoạt động sinh dục với cá đực Cá đực và cá cái chín mùi sinh dục sẽ bắt thành từng cặp, khi sắp đẻ cá thường xuyên bơi lội ở tầng nước mặt Khi giao phối chúng áp thân vào nhau và nổi lên mặt nước mỗi lần khoảng 3 - 5 phút Sau đó tách ra và cá cái tiết trứng Cá đẻ từng đợt kéo dài trong 7 ngày, thời gian thường từ sáng sớm đến nửa đêm

2.1.7.4 Phát triển ấu trùng và cá bột của cá kèo

Ấu thể cá kèo mới nở có chiều dài 0,8 - 1,21 mm, noãn hoàng dài 0,4 - 0,6

mm Trong thời gian đầu ấu trùng sống nhờ noãn hoàng và có màu trong suốt Sau khi sử dụng hết noãn hoàng, miệng ấu trùng mở ra và hàm bắt đầu cử động để tìm mồi ăn Lúc này ấu trùng có màu vàng nhạt rồi chuyển dần sang màu nâu tái hay nâu đỏ, bụng cá có màu trắng

Tiếp theo, ấu trùng bắt đầu đời sống của cá bột, lúc này cá có màu vàng sáng

và cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh Khi cá tự động săn mồi là trở thành cá con thực thụ

Trang 18

Cá con có chiều dài 1,2 - 1,5 cm, cá khỏe mạnh thân có màu sáng hơn và cá chủ động bơi lội Do trong tự nhiên hoang dã có nhiều địch hại nên tỉ lệ sống của cá bột thường rất thấp Khi tới vùng cửa sông, cửa biển, vùng rừng đước tỉ lệ sống của

cá kèo không quá 0,1%

2.2 Tình Hình Nuôi Cá Kèo Tại Việt Nam

Trong phong trào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long đang nổi lên mô hình nuôi cá kèo Nhưng hiệu quả nhất là mô hình nuôi luân canh cá kèo - tôm sú; cá kèo - muối Đến nay có gần 5.000 ha mô hình nuôi luân canh cá kèo - muối ở các tỉnh ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long Riêng huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu đã có 545 ha đất muối nuôi

cá kèo.Trà Vinh hiện có hơn 100 trang trại thả giống và có hàng ngàn hộ dân nuôi

cá kèo từ tự nhiên Xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc Trăng, xã Thừa Đức (Bình Đại) tỉnh Bến Tre cũng đã ứng dụng thành công mô hình nuôi cá kèo thương phẩm và mô hình nuôi thâm canh cá kèo trong ao tôm sú công nghiệp

Hiện nay mô hình này đang được nhân rộng tại ba huyện thuộc Bến Tre (Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú), Nhà Bè Nuôi cá kèo không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, cải thiện đời sống nhân dân vùng ven biển mà còn khai thác tối đa tiềm năng đất đai trong mùa mưa, cải tạo độ phì nhiêu của đất trong

vụ nuôi tôm sú, môi trường ổn định và phát triển bền vững môi trường

Tại Nhơn Trạch, Đồng Nai hình thức nuôi này còn nhằm mục đích phòng hộ, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch sinh thái

Các hình thức nuôi cá kèo hiện nay:

- Nuôi quảng canh, bán thâm canh trong ao nuôi tôm sú

- Nuôi thâm canh

- Nuôi ghép hoặc nuôi độc canh trong các ruộng lúa bị nhiễm mặn, trong các vuông nuôi tôm hay trên các ruộng muối vào mùa mưa

Trang 19

2.3 Sơ Lược về Huyện Gò Công Đông

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Gò Công Đông là một trong 9 huyện thị thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm

ở tọa độ địa lý từ 106035’ - 10607’30’’ kinh độ Đông và 10007’ - 10030’ độ vĩ Bắc

Phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp huyện Tân Phú Đông của tỉnh Tiền Giang, phía Tây giáp thị xã Gò Công và huyện Gò Công Tây, phía Đông giáp biển Đông

Huyện Gò Công Đông có 13 đơn vị hành chính có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Tỉnh Bao gồm: Thị trấn Tân Hòa, xã Phước Trung, xã Tăng Hòa, xã Tân Thành, xã Tân Điền, xã Vàm Láng, xã Tân Phước, xã Gia Thuận, xã Kiểng Phước, xã Tân Đông, xã Tân Tây, xã Bình Ân và xã Bình Nghị

Toàn bộ phía Đông của huyện tiếp giáp với 32 km bờ biển với hai cửa sông lớn là Cửa Tiểu và cửa Soài Rạp là các cửa ngõ thông ra biển Đông, là điều kiện thuận lợi để giao lưu với tỉnh bạn và quốc tế

2.3.1.2 Địa hình

Huyện Gò Công Đông có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc dưới 1% Cao trình biến thiên từ 0 m đến 1,6 m so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8 m đến 1,1 m, có khuynh hướng thấp dần theo hướng Bắc Nam và Tây Đông

2.3.1.3 Khí hậu thời tiết

Gò Công Đông nằm trong chế độ khí hậu chung cả miền Tây Nam bộ, có hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trùng với gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ cao và ổn định, trung bình năm là 27,90C, nhiệt độ chênh lệch giữa các tháng không lớn khoảng 40C

2.3.1.4 Lượng mưa

Lượng mưa vào loại thấp của Đồng bằng sông Cửu Long, trung bình năm 1.191 mm và có khuynh hướng giảm dần theo hướng biển Đông Trong năm có hai mùa gió chính là: Gió mùa Tây Nam với tần suất 60 - 70%, tốc độ gió trung bình

Trang 20

2,4 m/giây và gió mùa Đông Bắc với tần suất 50 - 60%, tốc độ gió trung bình 3,8 m/giây Nhìn chung, yếu tố độ ẩm, không khí, gió bốc hơi, giờ nắng phân hoá sâu sắc theo mùa mưa và mùa khô

2.3.1.5 Chế độ thủy văn

Gò Công Đông có hệ thống sông rạch chằng chịt có ba hệ thống sông lớn như sông Soài Rạp, sông Cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ cung cấp đủ nguồn nước cho sinh hoạt của người dân Phía Đông các xã Tân Điền, Tân Thành và xã Phú Tân giáp

biển Đông chịu ảnh hưởng bán nhật triều không đều

2.3.2 Kinh tế xã hội

2.3.2.1 Kinh tế

Phát huy lợi thế của vùng kinh tế biển, cùng với chương trình ngọt hóa Gò Công đã khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế, cơ cấu giá trị tính theo giá trị thực tế năm 2007 Cụ thể như sau:

- Khu vực I (nông - lâm - ngư) đạt 68,8%

- Khu vực II (công nghiệp - xây dựng) đạt 9,5%

- Khu vực III (thương mại - dịch vụ) đạt 21,7%

Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, quốc phòng và an ninh có nhiều tiến bộ Đời sống của nhân dân được ổn định và cải thiện

2.3.2.2 Xã hội

Dân số 143.418 người, mật độ 415 người/km² Đa số dân cư tập trung ở ven đường, ven sông và khu vực thị xã để được thuận lợi trong việc huy động sản xuất, trao đổi hàng hoá, giải quyết tiện nghi kỹ thuật và sinh hoạt

2.3.3 Tình hình phát triển của huyện

Huyện Gò Công Đông trước đây là một vùng đất nhiễm mặn phèn lâu đời, thường xuyên nên hàng năm chỉ sản xuất được một vụ lúa mùa năng suất thấp, bấp bênh do đó đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn Sau vụ mùa nhân dân phải đi làm thuê mướn nơi khác để tìm nguồn thu nhập thêm Trước tình hình đó, được Trung ương và Tỉnh quan tâm đầu tư thực hiện dự án ngọt hóa Gò Công đã tạo sự chuyển biến tích cực cho vùng Gò Công, trong đó có huyện Gò Công Đông

Trang 21

2.3.3.1 Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp đã phát triển ổn định, từ sản xuất chỉ một vụ/năm đến năm 2002 có 13.000 ha sản xuất ba vụ lúa/năm, 3.256 ha sản xuất hai vụ/năm Năng suất lúa bình quân 4,5 tấn/ha Sản lượng lương thực 180.000 tấn, bình quân lương thực 960kg/đầu người Riêng trong năm 2007, tổng sản lượng lương thực 195.931 tấn, trong đó sản lượng lúa thơm giá trị cao chiếm 60%, sản lượng lúa chất lượng cao chiếm 30%

Từ thực tế độc canh cây lúa dần dần chuyển sang đa dạng hóa cơ cấu cây trồng Sản xuất hoa màu gia tăng với diện tích gieo trồng hàng năm 8.300 ha Kinh

tế vườn từng bước phát triển với diện tích 2.160 ha (trong đó khoảng 700 ha trồng cây sơ ri)

Phong trào chăn nuôi ổn định hàng năm duy trì đàn heo 44.012 con, gần 1.000.000 con gia cầm Nuôi bò, dê đang có xu thế phát triển

2.3.3.2 Thủy sản

Sản xuất thủy sản đang được quan tâm đầu tư có bước phát triển khởi sắc nhất là lĩnh vực nuôi thủy sản Đến năm 2008, huyện có diện tích nuôi thủy sản hàng năm là 3.566 ha Trong đó nuôi tôm sú vẫn giữ vai trò chủ đạo với số lượng con giống thả nuôi gần 300.000.000 con đã tạo nguồn thu nhập đáng kể Hoạt động đánh bắt hải sản giảm số phương tiện do nguồn lợi thủy sản ven bờ cạn kiệt, ngư dân thiếu vốn tích lũy để đầu tư cải tạo, đóng mới phương tiện đánh bắt xa bờ Tổng sản lượng thủy hải sản thu hoạch hàng năm của huyện 55.140 tấn

Để khai thác tiềm năng thủy sản huyện đang tranh thủ cấp trên đầu tư để đưa vào khai thác các vùng dự án nuôi tôm bắc Gò Công, diện tích đất lúa ven đê năng suất thấp sang nuôi thủy sản

Tình hình nuôi cá kèo ở huyện: Từ năm 2006 tình hình nuôi tôm sú trong địa bàn và các khu vực lân cận như huyện Cần Đước, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long

An phát triển mạnh, nước thải ra từ các ao nuôi gây ô nhiễm nguồn nước làm tôm bệnh và chết hàng loạt Mặt khác trên thị trường giá tôm thương phẩm lại sụt giảm, một số hộ có xu hướng chuyển sang nuôi loài khác Cùng với sự thành công của các hộ nuôi cá kèo tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu một số hộ nuôi tôm trong vùng

Trang 22

đã mạnh dạn chuyển hướng sang nuôi cá kèo Ban đầu chỉ có một vài hộ nuôi, đến năm 2007 số hộ nuôi tăng dần lên 26 hộ Đến nay số hộ nuôi tăng lên trên 30 hộ và

xu hướng nuôi cá kèo trong vùng sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới

2.3.3.3 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện còn yếu kém, quy

mô sản xuất nhỏ, máy móc thiết bị lạc hậu Sản phẩm nông nghiệp, hải sản chủ yếu bán thô chưa qua chế biến nên thu nhập còn thấp

Toàn huyện đã xây lắp được 284 km điện trung thế, 332 km điện hạ thế đáp ứng được 31.964 hộ có điện sử dụng, đạt 98,98% trong đó có 19.283 sử dụng điện

kế chính chiếm tỉ lệ 57,6% góp phần đáng kể phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của hộ nông thôn Nước: 73,5% số hộ có nước sạch sử dụng Điện thoại: đến tháng 6 năm 2008 đạt 10.432 thuê bao, quản lý tốt 25 đại lý điện thoại công cộng, 3 đại lý bưu điện, 30 đại lý Internet Mật độ điện thoại cố định bình quân đạt 7 máy/100 dân

Với kết quả trên kinh tế xã hội huyện đã có sự chuyển biến đáng kể, tốc độ tăng GDP 9,2% Giá trị xản xuất nông nghiệp tăng 4,5%/năm, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 29,8%/năm, thương mại dịch vụ tăng 15,1%/năm

Trang 23

2.3.4 Tài nguyên tự nhiên

Nhóm đất mặn chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện, chủ yếu ở các xã ven biển: xã Tân Phước, xã Vàm Láng, xã Kiểng Phước Chương trình ngọt

hoá Gò Công bằng biện pháp đắp đê ngăn mặn và đưa nguồn nước ngọt về đã mở ra

một diện tích lớn đất tăng vụ mùa khô hoặc đầu mùa khô

Nhóm đất phèn có nhiều ở xã Tân Phước

Nhóm đất cát giồng Do đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, nên chủ yếu sử dụng làm thổ cư và canh tác cây ăn trái, hoa màu…

2.3.4.2 Tài nguyên rừng

Gò Công Đông có ba thảm thực vật mang tính chất tự nhiên là: rừng ngập mặn ven biển gồm: bần, mắm, đước, rau muống biển, cỏ lức…; thảm thực vật rừng nước lợ gồm: dừa nước, bần chua, ôrô, cóc kèn, mái dầm…; thảm thực vật vùng đất phèn hoang gồm: cỏ năng, cỏ mồm, bàng, tràm tái sinh…

2.3.5 Tiềm năng kinh tế

2.3.5.1 Tiềm năng du lịch

Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội không ngừng phát triển, an ninh quốc phòng được giữ vững Hai lễ hội truyền thống của địa phương là lễ hội Nghinh Ông được tổ chức tại Vàm Láng hàng năm vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, và lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Công Định được

tổ chức trọng thể tại ấp 4, xã Tân Phước, ngày 20 tháng 8 dương lịch, thu hút rất đông người dân trong khu vực đến tham dự

Trang 24

Gò Công Đông còn bảo tồn các di tích quan trọng như đình Gia Thuận nơi thờ anh hùng dân tộc Trương Công Định, miếu thờ Đốc binh Trương Công Luận ở Tăng Hòa, ngôi miếu thờ Nam Hải tướng quân (còn gọi Lăng Ông) ở Vàm Láng, đình Bình Ân, lăng Hoàng Gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắt Tứ

Với ưu thế bãi biển, huyện đã hình thành khu du lịch sinh thái biển Tân Thành, hàng năm đón tiếp đông đảo du khách khắp nơi, hàng năm lượng du khách đến đạt hơn 331.500 lượt người Với sự đầu tư và nâng cấp của Nhà nước, Gò Công Đông hứa hẹn sẽ mở ra điểm du lịch lý tưởng cho nhân dân toàn khu vực

Với những thành tựu và thế mạnh kinh tế, Gò Công Đông có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần giữ vững an ninh vùng biển, tạo tiền đề và điều kiện

cơ bản tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp

2.3.5.2 Những lợi thế so sánh

Với ưu thế về hệ thống sông và các cửa biển (Cửa Tiểu và cửa Soài Rạp) sẽ hình thành các cảng biển với quy mô nhỏ và vừa, mạng lưới giao thông thủy khá phát triển có tác động thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá của huyện Gò Công với các tỉnh trong vùng và cả nước Mặc khác gần đường hàng hải quốc tế (cách Vũng Tàu

40 km), Gò Công có lợi thế để trở thành đầu mối khu vực đồng bằng sông Cửu Long về giao lưu vận tải biển với cả nước, nhất là đủ khả năng tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về lao động

2.3.6 Tình hình phát triển thủy sản ở Gò Công Đông

Mũi nhọn kinh tế của huyện là khai thác, nuôi trồng thủy sản, phát huy thế mạnh ven biển, các "làng cá" từ xưa hình thành như Vàm Láng, Tân Phước tiếp tục phát triển với trên 3.000 ngư dân Toàn huyện có 735 phương tiện đánh bắt, trong đó có 350 phương tiện khai thác xa bờ, hàng năm sản lượng đạt trên 55.000 tấn Cảng cá Vàm Láng được nâng cấp cải tạo

Song song với đánh bắt, nghề nuôi thủy hải sản cũng tăng trưởng đáng kể Hai dự án nuôi tôm sú “Nam, Bắc Gò Công” đã đưa trên 70 ha vào nuôi công nghiệp, bán công nghiệp hàng năm, 1.550 ha nuôi quảng canh Tôm sú Gò Công thịt ngọt,

Trang 25

thơm, hàm lượng dinh dưỡng cao là sản phẩm được ưa chuộng của nhiều thị trường trong và ngoài nước Nghề nuôi nghêu được hình thành trên địa bàn huyện với diện tích 1.600 ha nuôi ven biển, hàng năm đạt trên 31.000 tấn, mang lại hàng trăm tỷ đồng cho nhân dân Gò Công

Bảng 2.2: Diện tích nuôi thủy sản của huyện

Chỉ tiêu Năm 2007 6 tháng đầu năm

Trang 26

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm

Khảo sát kỹ thuật nuôi cá kèo được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2008 Khảo sát được tiến hành trên 30 hộ nuôi cá kèo tại các xã: xã Tân Trung, xã Bình Đông, xã Phước Trung, xã Kiểng Phước và xã Vàm Láng của huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

3.2 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu

Các số liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Kinh Tế, Phòng Thống Kê huyện

Trang 27

Hình 3.1: Bản đồ hành chánh huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

(Nguồn: http://www.tiengiang.gov.vn/BĐO2006/Gocongdong.html)

Trang 28

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thông Tin Về Nông Hộ

4.1.1 Độ tuổi

Độ tuổi của các hộ nuôi phần nào phản ánh được thành phần lao động của

vùng Trong địa bàn điều tra các hộ nuôi có độ tuổi từ 34 - 63 tuổi thể được thể hiện

ở Bảng 4.1

Bảng 4.1: Độ tuổi của nông hộ

Trong 8 hộ nuôi cá kèo nước lợ vừa thì có 6 hộ nuôi trong độ tuổi trung niên

từ 34 - 40 tuổi, chiếm tỉ lệ 75% Điều này cho thấy đây là những người trẻ tuổi có

nhiều quyết tâm trong nghề nuôi và họ nhanh chóng tiếp thu các kỹ thuật nuôi mới,

họ biết tận dụng thời gian nhàn rỗi sau vụ nuôi cá giống và nguồn lao động sẵn có

trong gia đình nuôi cá kèo nhằm tăng thêm thu nhập

Đối với mô hình nuôi nước lợ mặn thì hộ nuôi trong độ tuổi trung niên cao

nhất, chiếm 42,5% Đây là những người nuôi tôm lâu năm, đã có nhiều kinh nghiệm

trong nghề nuôi nhưng khi việc nuôi tôm gặp khó khăn họ chuyển sang nuôi tôm

luân canh với cá kèo để cải tạo môi trường nuôi và tận dụng nguồn thức ăn sau khi

nuôi tôm cho cá kèo

Trang 29

4.1.2 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp thu kiến thức và áp

dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Nó còn ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả

sản xuất và mức độ thành công của vụ nuôi Trình độ học vấn của nông hộ trong địa

bàn điều tra được trình bài ở Bảng 4.2

Đối với mô hình nuôi nước lợ vừa thì có 6 hộ học đến cấp 2, chiếm 75%

Trong mô hình nuôi nước lợ mặn nhìn chung mặt bằng dân trí của các hộ

nuôi thấp 59,1% hộ nuôi có trình độ học vấn tiểu học Điều này ảnh hưởng lớn đến

việc tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật và sản lượng thu hoạch

4.1.3 Kinh nghiệm nuôi

Đối với loài thủy sản nào cũng có đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng riêng

biệt Để biết được những đặc tính riêng ấy thì người nuôi phải tìm hiểu và tích lũy

qua thời gian nuôi Khi đã biết được thì người nuôi có thể chủ động hơn từ khâu

chọn giống, công tác cho ăn, chăm sóc và từ đó có thể nâng cao sản lượng thu

hoạch Kinh nghiệm nuôi thể hiện qua thời gian nuôi và số vụ nuôi, nuôi qua nhiều

vụ thì thu thập được nhiều kinh nghiệm

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm