1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NUÔI SINH KHỐI BRACHIONUS.SP NƯỚC NGỌT VÀ THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MEN, TẢO, SỮA ĐẬU NÀNH LÊN MẬT ĐỘ LUÂN TRÙNG

67 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 919,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NUÔI SINH KHỐI BRACHIONUS.SP NƯỚC NGỌT VÀ THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MEN, TẢO, SỮA ĐẬU NÀNH LÊN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NUÔI SINH KHỐI BRACHIONUS.SP NƯỚC NGỌT VÀ

THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MEN, TẢO, SỮA

ĐẬU NÀNH LÊN MẬT ĐỘ LUÂN TRÙNG

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN ĐỨC PHÚC Ngành học: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CHUYÊN NGÀNH NGƯ Y Niên khoá: 2004 - 2008

Tháng 10 – 2008

Trang 2

NUÔI SINH KHỐI LUÂN TRÙNG (ROTIFERA) NƯỚC NGỌT VÀ THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MEN, TẢO, SỮA ĐẬU LÊN MẬT ĐỘ LUÂN TRÙNG

Thực hiện bởi

NGUYỄN ĐỨC PHÚC

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ sư thủy sản

Giáo viên hướng dẫn:

ThS LÊ THỊ BÌNH

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

TÓM TẮT

Để góp phần tăng chất lượng con giống, chúng tôi tiến hành đề tài “Nuôi sinh khối luân trùng (Rotifera) nước ngọt và thử nghiệm ảnh hưởng men, tảo, sữa đậu lên mật độ luân trùng” đã được tiến hành từ ngày 24/5/2008 tại trại thực nghiệm Thủy Sản trường Đại học Nông Lâm Tp HCM với hai thí nghiệm sau:

- Nuôi sinh khối luân trùng nước ngọt trong các thùng xốp ngoài trời Kết quả thu được cho thấy, nuôi luân trùng ngoài trời mật độ tương đối cao (mật độ tối đa là 4.327.800 cá thể/lít)

- Thử nghiệm sự ảnh hưởng của các loại thức ăn qua các nghiệm thức:

+ Nghiệm thức I: cho ăn bằng tảo với mật độ tảo 18*103 tế bào/luân trùng/ngày + Nghiệm thức II: cho luân trùng ăn tảo và men bánh mì, với mật độ tảo 14.103

tế bào /luân trùng và 50 mL nước men/ngày.(50 g men pha trong 2 lít nước) + Nghiệm thức III: cho ăn tảo và sữa đậu nành, với mật độ tảo 14.103 tế bào /luân trùng/ngày và 50 mL nước sữa/ ngày ( sữa đậu nành nấu sẵn)

Sau ba đợt nuôi, kết quả thu được cho thấy sự bổ sung thêm men, sữa đậu nành vào tảo làm thức ăn cho luân trùng mang lại hiệu quả cao Mật độ luân trùng tối đa đạt được trong NT II (5.935.200 cá thể/lít) và NT III (8.205.600 cá thể/lít) cao hơn so với

NT I (3.350.000 cá thể/lít) Sự khác biệt giữa ba nghiệm thức có ý nghĩa về mặt thống

Trang 4

CẢM TẠ

Chúng tôi kính gởi lòng biết ơn sâu sắc đến:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban Chủ nhiệm khoa Thủy sản

Cùng toàn thể quý thầy cô trong trường, khoa đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo chúng tôi trong suốt thời gian học tại trường

Xin gởi lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Bình đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành tốt đề tài

Đồng thời chúng tôi chân thành cảm ơn các thầy cô, anh chị quản lý phòng thí nghiệm và quản lý trại đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Sau cùng cảm ơn tất cả các bạn cùng khóa đã giúp đỡ chúng tôi thực hiện đề tài

Do thời gian, điều kiện có hạn và bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu nên chắc chắn sẽ có những sai sót Vì thế rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn

Trang 5

2.4 Tình Hình Nghiên Cứu Luân Trùng trên Thế Giới vàViệt Nam 10

2.4.1 Trên thế giới 10

Trang 6

3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị Dùng trong Thí Nghiệm 15

3.2.1 Dụng cụ trang thiết bị 15

3.2.2 Hóa chất 15

3.2.3 Vật Liệu Nghiên Cứu 16

3.4 Phương Pháp Bố Trí Thí Nghiệm 16

3.4.1 Nuôi tảo làm thí nghiệm 16

3.4.3 Phương pháp theo dõi sự tăng sinh khối của luân trùng 22

4.1 Một Số Yếu Tố Môi Trường Ảnh Hưởng đến Mật Độ Luân Trùng 23

4.2 Mật Độ Luân Trùng Trong Thùng Xốp 28

4.3.2 Ảnh hưởng thức ăn đến mật độ luân trùng trong đợt 2 36

4.3.3 Ảnh hưởng thức ăn đến mật độ luân trùng trong đợt 3 40

4.4 So Sánh Sinh Khối Luân Trùng giữa Các Nghiệm Thức trong Cả 3 Đợt 44

5.1.1 Nuôi sinh khối luân trùng nước ngọt 47

5.2 Đề Nghị 47

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Đề mục Trang

Bảng 2.1: Ảnh hưởng nhiệt độ lên tuôi thọ luân trùng Branchionus plicatilis 6

Bảng 3.1: Môi trường Hannay cải tiến 17

Bảng 4.1: Kết quả pH và mật độ trung bình của luân trùng ở đợt thí nghiệm 1

Bảng 4.4: Biến động mật độ luân trùng (cá thể/lít) theo nhiệt độ (0C) trong ba đợt 28

Bảng 4.5 Mật độ luân trùng trung bình ở các nghiệm thức qua các ngày theo dõi

(cá thể/lít) 29

Bảng 4.6: Mật độ luân trùng trung bình qua các lần kiểm tra ở ba nghiêm thức

(cá thể/lít) 31

Bảng 4.7: Mật độ luân trùng trung bình của ba nghiệm thức trong đợt 1 (cá thể/lít) 34

Bảng 4.8 Mật độ luân trùng trung bình qua các lần kiểm tra ở ba nghiêm thức

Bảng 4.9: Mật độ luân trùng trung bình của ba nghiệm thức trong đợt 1 (cá thể/lít) 39

Bảng 4.10: Mật độ luân trùng trung bình qua các lần kiểm tra ở ba nghiêm thức (cá

Bảng 4.11: Mật độ trung bình của luân trung ở ba nghiệm thức trong 3 đợt 44

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH ẢNH

Đề mục Trang

Hình 2.1: Chu kì sinh sản vô tình và hữu tính của luân trùng Brachionus plicatilis

Hình 3.1: Giữ giống tảo trong phòng thí nghiệm 18

Hình 3.2: Khung nuôi tảo 19 Hình 3.3: Bể nuôi tảo ngoài trời 20 Hình 3.4: Nuôi luân trùng trong thùng xốp 21

Hình 4.2: Luân trùng Brachionus sp 41

Trang 9

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Đề mục Trang

Biểu đồ 4.1: Biến động mật độ luân trùng theo pH (đợt 1) 24

Biểu đồ 4.2: Biến động mật độ luân trùng theo pH (đợt 2) 26

Biểu đồ 4.3: Biến động mật độ luân trùng theo pH (đợt 3) 27

Biểu đồ 4.8: So sánh mật độ luân trùng giữa ba nghiệm thức (đợt 1) 34

Biểu đồ 4.9: Mật độ luân trùng trung bình của ba nghiệm thức (đợt 1) 35

Biểu đồ 4.13: So sánh mật độ luân trùng giữa ba nghiệm thức đợt 2 39

Biểu đồ 4.14: So sánh mật độ luân trùng trung bình các nghiệm thức đợt 2 40

Biểu đồ 4.17: Mật độ luân trùng ở NT III (đợt 3) 42

Biểu đồ 4.18: So sánh mật độ luân trùng giữa 3 nghiệm thức trong đợt 3 43

Biểu đồ 4.19: So sánh mật độ luân trùng trung bình các nghiệm thức đợt 3 43

Biểu đồ 4.20: So sánh sinh khối luân trùng trong 3 đợt 44

Trang 10

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt Vấn Đề

Trong những năm qua, ngành nuôi trồng thủy sản đóng góp một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, việc nâng cao sản lượng nuôi trồng thủy sản nói riêng và trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp nói chung là điều cần thiết Muốn vậy, điều trước tiên phải nâng cao chất lượng và tỷ lệ sống của con giống Vì vậy, thức ăn tự nhiên tươi sống là không thể thiếu trong gian đoạn phát triển Với tính năng vượt trội hơn so với các loại thức ăn nhân tạo, phù hợp với tập tính ăn, cỡ miệng của ấu trùng mới nở, ít làm

ô nhiễm nguồn nước Ngoài khả năng cung cấp một lượng lớn chất dinh dưỡng có giá trị, luân trùng còn là nguồn cung cấp các loại vitamin và một hàm lượng enzyme cần thiết cho quá trình tiêu hóa của một số ấu trùng thủy sản

Cho đến nay, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến kỹ thuật nuôi nhằm nâng cao sinh khối và chất lượng luân trùng, phục vụ cho nghề nuôi thủy sản như: hệ thống nuôi luân trùng thâm canh tuần hoàn sử dụng thức ăn nhân tạo đầu

tiên được phát triển tại Đại Học Gent (Suantika et al., 2000), Hirayama và Hagiwara

(1995) đã ứng dụng hormone trong nuôi sinh khối và tăng kích thước luân trùng, …

Ở nước ta cũng có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ thuật nuôi luân trùng như nghiện cứu thay thế thức ăn selco bằng men bánh mì trong nuôi luân trùng

(Brachionus plicatilis) thâm canh (Dương Thị Hoàng Oanh, 2006), nghiên cứu thiết lập

hệ thống nuôi kết hợp luân trùng (Brachionus plicatilis) với bể nước xanh (Trần Sương Ngọc, 2006), … Tuy nhiên, đa số nghiên cứu về luân trùng nước mặn và

thường ở mức độ nghiên cứu và giữ giống, rất ít đưa ra sản xuất với quy mô lớn, đặc

Trang 11

Phổ thức ăn của luân trùng bao gồm các loại tảo, vi khuẩn, nấm, … Tuy nhiên, việc nuôi luân trùng cần có một lượng lớn tảo, mà nuôi tảo tốn rầt nhiều diện tích, dễ

bị nhiễm tạp và tốn kém, nên điều cần thiết được đặt ra là tìm loại thức ăn bổ sung hoặc thay thế một phần tảo mà hiệu quả vẫn không suy giảm

Xuất phát từ những mục tiêu trên được sự cho phép của Khoa Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nuôi sinh khối luân trùng (Rotifera) nước ngọt và thử nghiệm ảnh hưởng men, tảo, sữa đậu lên mật độ luân trùng”

1.2 Mục tiêu đề tài

- Thử nghiệm nuôi luân trùng nước ngọt ngoài trời bằng tảo

- Thử nghiệm sự ảnh hưởng của thức ăn men tảo sữa lên mật độ luân trùng

Từ đó, rút ra sơ bộ về ưu, nhược điểm của phương pháp nuôi luân trùng ngoài trời, cũng như hiệu quả của men, tảo, sữa đậu lên sinh khối luân trùng Ứng dụng vào thực tế sản xuất nhằm chủ động nguồn thức ăn tự nhiên, nâng cao khả năng sống của các loài thủy sản còn nhỏ

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Luân Trùng

]2.1.1 Phân bố

Luân trùng phân bố khắp thế giới chủ yếu là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đa

số luân trùng sống ở nước ngọt Khoảng 5% trong số 1700 loài sống ở nước mặn và nước lợ, có hai loài sống ở Đại Tây Dương (Pennak, 1961; trích bởi Võ Thị Thanh Tâm, 1996) Chúng sống phiêu sinh, có thể sống ở những nơi rất sâu trong hồ lớn, trong đất ẩm ướt, rong rêu, trong các khe hở giữa các bãi cát ướt

Luân trùng chủ yếu là con cái, con đực rất hiếm gặp và con đực thường xuất hiện với số lượng lớn vào lúc sinh sản hữu tính.

2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Luân trùng dinh dưỡng theo hai hình thức: ăn lọc và ăn động vật

Walker (1981; trích Phạm Đinh Thanh Nhàn và Hoàng Thanh Phương, 2005)

đã tổng kết một số nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ 60, hầu hết đều khẳng định: trong số các động vật ăn lọc phù du thì luân trùng là loài có đặc điểm ăn tạp không chọn lọc Phổ thức ăn của chúng thường là tảo lục, tảo đỏ, tảo nâu, vi khuẩn và các lọai nấm Walker cũng cho rằng theo các nghiên cứu bố trí trong phòng thí nghiệm, luân trùng có xu hướng chọn các tế bào cỡ bé (12-15 µm)

Trong điều kiện sống tối ưu, ở nhiệt độ 220C, mật độ tảo 2,3*106 tb/mL Luân trùng có thể tiêu thụ khoảng 200 tb/cá thể/phút (Lubzens, 1987)

Trang 13

2005) xác nhận: tốc độ lọc của luân trùng Brachionus plicatilis giảm khi mật độ tảo

chlorella lớn hơn 2*106 mặc dù lượng tiêu thụ vẫn không đổi Nguyễn Văn Quyền và

ctv (1988; trích bởi Võ Văn Nha, 2000) đã kết luận rằng tảo Chlorella là thức ăn thích

hợp cho luân trùng

2.1.3 Đặc điểm sinh sản

Tuổi đời của luân trùng khoảng 3,4 - 4,4 ngày ở nhiệt độ 250C Sau 0,5 – 1,5 ngày ấu trùng phát triển thành cá thể trưởng thành và sau đó con cái 4 giờ đẻ trứng một lần Các con cái có thể sản sinh mười thế hệ con trước khi chết (Patrick Lavens and Patrick Sorgeloos, 1996)

Theo Pandian và Marian (1991; trích bởi Milagros Dela Pena, 1995) luân trùng

có hai hình thức sinh sản là sinh sản đơn tính và sinh sản hữu tính luân phiên xen kẽ nhau có tính chất chu kỳ Trong điều kiện sống thuận lợi thì sinh sản đơn tính xảy ra Khi điều kiện sống bất lợi như nhiệt độ cao, độ mặn cao, thiếu thức ăn, … thì sinh sản hữu tính

Khi sinh sản đơn tính, con cái vô phối đơn tính (amictic) đẻ ra trứng vô phối đơn tính amictic (2n), những trứng này sẽ phát triển đơn tính thành con cái amictic và

sự sinh sản đơn tính tiếp nối qua nhiều thế hệ trong điều kiện thuận lợi

Khi môi trường sống bất lợi con cái vô phối lưỡng tính (mictic) xuất hiện, những con cái mictic và amictic có đặc điểm hoàn toàn giống nhau Con cái vô phối lưỡng tính sẽ sinh sản ra những trứng đơn bội (có bộ nhiễm sắc thể n) và các ấu trùng

nở từ các trứng không thụ tinh này sẽ phát triển thành con đực có kích thước rất nhỏ Những con đực này sẽ thụ tinh với con cái có trứng đơn bội (n) để sản sinh ra những trứng nghỉ (2n) có vỏ dày, có thể chịu được điều kiện khắc nghiệt Khi điều kiện môi trường thuận lợi trở lại, những trứng nghỉ này sẽ trở thành con cái amictic (Walker, 1981; Dhert, 1997; trích bởi Phạm Đinh Thanh Nhàn, Hoàng Thanh Phương, 2005)

Trang 14

Hình 2.1 Chu kì sinh sản vô tính và hữu tính của luân trùng

Brachionus plicatilis (đã sửa đổi theo Hoff và Snell, 1987; trích bởi Patrick Lavens và

Sorgeloos, 1996)

2.2 Các Yếu Tố Ảnh Hưởng đến Sự Phát Triển của Luân Trùng

2.2.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của luân trùng phụ thuộc vào kiểu hình thái và

dòng nuôi Dòng có kích thước lớn từ 130 – 340 µm, trung bình là 238,4 µm; nhiệt độ

tối ưu là 18 – 250C Dòng có kích thước nhỏ khoảng 100 – 210 µm thì nhiệt độ tối ưu

là 28 – 350C (Patrick Lavens and Patrick Sorgeloos, 1996)

Olse và ctv (1993; trích bởi Phạm Đinh Thanh Nhàn và Hoàng Thanh Phương,

2005) đã kết luận trong điều kiện nhiệt độ thấp (5 – 80C) luân trùng có thể tồn tại

không cần cung cấp thức ăn mà vẫn không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và thành phần

dinh dưỡng Đây là phương pháp lưu trữ lạnh khi thừa luân trùng

Scott và Bayner (1978; trích từ Hà Tân, 2006) khi nuôi ở nhiệt độ thấp luân

Trang 15

hàm lượng lipid và cacbohyrate trong thời gian khá lâu, còn khi nuôi ở nhiệt độ cao thì

thành phần sinh hóa biến động rất nhanh, đặc biệt là khi biến động thức ăn

Trần Thanh Xuân (1993) cho rằng tuổi thọ luân trùng tùy vào nhiệt độ nuôi

Nguyễn Văn Quyền (1988; trích bởi Võ Văn Nha, 2000; Hà Tân, 2006) khi nghiên cứu

ảnh hưởng của nhiệt độ lên sinh trưởng và phát triển của luân trùng dòng nhỏ cho biết

nhiệt độ phát triển của luân trùng là 25 ± 20C

Nhiệt độ cao nhất là 31,50C ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của luân

trùng (Trần Sương Ngọc, 2006), theo Fulks (1991) nhiệt độ thích hợp cho luân trùng là

20 - 300C

Bảng 2.1: Ảnh hưởng nhiệt độ lên tuổi thọ luân trùng Branchionus

plicatilis (theo Rutner và Klisko, 1972; trích bởi Trần Thanh Xuân, 1993)

Nhiệt độ ( 0 C) Tuổi thọ trung bình (ngày)

Luân trùng có khả năng chịu đựng ở điều kiện oxy < 2 ppm Nồng độ oxy trong

bể nuôi luân trùng sẽ thay đổi rất lớn tùy theo nhiệt độ, mật độ luân trùng, loại thức ăn

và mật độ thức ăn Vì vậy, trong bể nuôi luân trùng nên sục khí để đảm bảo oxy cho

luân trùng

Trang 16

2.2.4 Thức ăn

Luân trùng là loại ăn lọc không chọn lọc, thức ăn chủ yếu là các loại tảo như:

Chlorella, Dunaliella, … Ngoài ra, chúng còn có khả năng ăn nhiều loại thức ăn khác

như: men, bột đậu nành, thức ăn nhân tạo Giá trị thức ăn quyết định đến giá trị dinh dưỡng của luân trùng

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của các loại thức ăn lên tỉ lệ sống và sinh khối của luân trùng

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên, Trần Tấn Huy và Nguyễn Thanh

Phương (2008) đã khẳng định rằng nuôi luân trùng Brachionus rotundiformis dòng SS bằng tảo Chlorella hoặc men bánh thì luân trùng đều phát triển tốt với mật độ tương

đương nhau Tuy nhiên, chất lượng của luân trùng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thức ăn mà chúng sử dụng

Nếu luân trùng được cho ăn bằng tảo Chlorella sẽ có chất lượng tốt hơn với

hàm lượng LNA và tổng HUFA tăng một cách có ý nghĩa so với luân trùng được cho

ăn bằng men bánh mì (Dương Thị Hoàng Oanh, 2005)

2.2.5 Hàm lượng NH 3

Nhiệt độ và pH có ảnh hưởng đến tỷ lệ NH3/NH4+ Hàm lượng NH3 có tác dụng độc hại đối với luân trùng Trong điều kiện nước nuôi hàm lượng NH3 dưới 1 mg/L được xem là an toàn

Theo Schuter và Groneweg (1984) thì cường độ tái sản xuất của luân trùng nuôi bằng nước mặn giảm ở nồng độ amonia từ 3 – 5 mg/L, mặc dù không có cá thể nào chết Nếu như nồng độ amoniac trên 5 mg/L thì luân trùng chết trong vòng 2 ngày (trích bởi Võ Thị Thanh Tâm, 1996)

Trang 17

2.2.6.2 Trùng tiêm mao

Reguera (1984) cho rằng, có hai loài phổ biến là Uronema sp và Fuplotes sp

thường tồn tại trong môi trường sống của luân trùng Mặt có lợi của hai loài này là chúng có tác dụng làm sạch vi khuẩn và chất mùn trong bể nuôi nhưng lại cạnh tranh thức ăn với luân trùng, đồng thời sinh ra những sản phẩm thừa trong trao đổi chất làm tăng NO2 trong nước dẫn đến giảm pH gây hại cho luân trùng

2.2.6.3 Moina

Luân trùng luôn là thức ăn tốt cho Moina phát triển, cho nên trong quá trình nuôi ta nên hạn chế tối đa sự hiện diện của Moina Thường xuyên lọc để giảm bớt số lượng Moina trong bình nuôi

2.3 Vai Trò Luân Trùng trong Nguồn Thức Ăn Tự Nhiên

Nhiều nghiên cứu cho thấy thức ăn tự nhiên là bộ phận không thể tách rời khẩu phần ăn của cá và để có lợi lượng thức ăn tự nhiên phải chiếm một tỉ lệ càng cao càng tốt Kiriya (1957; trích bởi Lê Thị Mỹ Hạnh, 1991) cho rằng hiệu quả tăng trưởng của

cá nuôi bằng thức ăn tự nhiên tốt hơn gấp 10 lần khi cho ăn bằng thức ăn nhân tạo

Trang 18

Các loại tôm cá sau khi phát triển đến giai đoạn ấu trùng chúng phải trải qua nhiều giai đoạn biến thái khác nhau, tập tính ăn thay đổi qua từng giai đoạn Tuy nhiên, hầu hết các loài cá thường trải qua một thời kì nhất định sau khi nở từ trứng ra đều ăn chung một loại thức ăn tự nhiên là động vật phù du, những sinh vật nhỏ nhưng

có giá trị dinh dưỡng cao (Trần Văn Vĩ, 1982)

Thức ăn tự nhiên còn đóng một vai trò quan trọng trong nghề nuôi cá biển như

cá chẽm, bống, mú, Kích thước cá bột ở các đối tượng này rất nhỏ nên Rotifer là đối tượng được chú ý nhiều nhất trong nghề nuôi cá biển ở các nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Philipines và các nước Châu Âu khác Nguồn thức ăn sống được sử dụng cho hơn 60 loài cá biển và 18 loài giáp xác (Nataga, 1989; trích bởi Trần Thanh Xuân, 1993)

Theo Trần Thanh Xuân (1993) có thể lợi dụng cơ thể luân trùng như một túi chứa vitamin quan trọng, kháng sinh, acid béo để đưa vào cơ thể cá bột

Theo Rothbard (1979) thì yếu tố giới hạn trong kỹ thuật ương nuôi cá bột là khả năng sản xuất sinh khối phiêu sinh thực và phiêu sinh động làm thức ăn cho cá bột

Theo Pasoodee và Sirikul (1983; trích bởi Võ Thị Thanh Tâm, 1996) qua quá trình nghiên cứu các tác giả cho rằng cá bột của cá bống tượng sau khi tiêu hết noãn hoàng thì sử dụng Microplankton như là Ciliata và Rotifera

Luân trùng là một mắc xích quan trọng trong chuỗi thức ăn tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất của thủy vực Chính vì vậy nhiều tác giả trong và ngoài nước

đã tiến hành gây nuôi đối tượng này nhằm nâng cao năng suất nuôi trồng thủy sản phục vụ sản xuất

Trang 19

2.4 Tình Hình Nghiên Cứu Luân Trùng trên Thế Giới và Việt Nam

2.4.1 Trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh nguồn thức ăn tự nhiên phục vụ cho nuôi trồng thủy sản đã được công bố nhất là trong lĩnh

vực nuôi sinh khối phiêu sinh động làm thức ăn cho đông vật thủy sản

Fkusho (1976) và Kurecha (1977) đưa ra quy trình nuôi bể bê tông ngoài trời Sau khi mật độ luân trùng đạt 120 - 150 cá thể/mL thì thu hoạch 20 – 30% rồi chuyển phần còn lại sang bể khác Quy trình này cũng giống như quy trình nuôi chuyển bể hằng ngày nhưng ưu điểm là nuôi với quy mô lớn trên bể bê tông ngoài trời

Theo MS Milagos (1995) cho rằng có 3 phương pháp nuôi luân trùng dựa trên

hệ thống nuôi của Nhật:

- Phương pháp nuôi luân chuyển

- Phương pháp nuôi tháo cạn

- Phương pháp nuôi khép kín

2.4.1.1 Phương pháp nuôi luân chuyển

Phương pháp này có hiệu quả trong việc nuôi sinh khối Rotifera Tảo Chlorella

được nuôi đến khi đạt mật độ mong muốn, sau đó thả luân trùng vào nuôi Luân trùng được thu hoạch ngay sau khi tảo được tiêu thụ hết (theo dõi mật độ tảo trên kính hiển

vi hoặc dựa vào màu tảo) Một phần luân trùng được giữ lại để nuôi tiếp, cho qua bể khác được chuẩn bị tảo như bể đầu tiên Đây là phương pháp nuôi tích cực nhưng sản

phẩm Chlorella không thể đáp ứng kịp thời với tốc độ ăn và sự gia tăng mật độ của

luân trùng

Trang 20

Đây là phương pháp thường áp dụng ở các trại sản xuất giống cá biển, sử dụng

tảo Nanochloropis trong các bể Khi tảo phát triển, luân trùng được thả vào với mật độ

50 – 150 cá thể/mL Luân trùng ăn tảo và tăng số lượng rất nhanh Tùy theo yêu cầu nuôi, chất lượng tảo mà người ta bổ sung thêm men bánh mì Lượng men bánh mì bồ sung: 1 g/L triệu luân trùng (lượng này có thể thay đổi) Sau 7 – 14 ngày nuôi luân trùng tăng mật độ khoảng 300 cá thể/mL thì thu hoạch toàn bộ, và giữ lại một ít để

Trang 21

nuôi cho lần sau Bể nuôi tảo có thể tích 1 – 3 m3, có thể lớn hơn tùy vào mục đích sử dụng

2.4.2.2 Phương pháp nuôi liên tục hoặc bán liên tục

Tùy vào yêu cầu sử dụng mà có thể áp dụng phương pháp nuôi liên tục hay bán liên tục Nuôi bán liên tục với mục đích giảm bớt sự tiêu thụ của luân trùng Nuôi liên tục phải nuôi trong điều kiện ổn định và liên tục để thu hoạch luân trùng liên tục

Hiện nay, vấn đề nuôi luân trùng trong nước ta đã được công bố Nguyễn Văn Hảo và ctv (1994, 1995) nghiên cứu giải quyết thức ăn cho ấu trùng cá bống tượng; Trần Thanh Xuân (1993) đã làm thí nghiệm gây nuôi luân trùng làm thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh (Hà Tân, 2006)

Viện Nghiên Cứu Hải Sản (1977 – 1985) đã thử nghiệm nuôi sinh khối luân trùng làm thức ăn cho tôm he bằng phương pháp tuần hoàn cải tiến

Trần Sương Ngọc và Nguyễn Hữu Lộc, Trường Đại Học Cần Thơ (2006) đã nghiên cứu thành công nuôi luân trùng kết hợp với bể nước xanh Trần Sương Ngọc,

Quách Thế Vinh và Trần Tấn Huy (2006) đã nghiên cứu nuôi Artemia để hạn chế sự phát triển của trùng tiêm mao trong bể nuôi luân trùng và kết luận: Artemia có khả năng lọc được Euplotes và trong phạm vi mật độ Euplotes không vượt quá 5000 cá thể/mL, Artemia có thể lọc sạch Euplotes trong thời gian một giờ nếu tỉ lệ giữa mật độ

Euplotes/Artemia < 200

Dương Thị Hoàng Oanh, Trần Công Bình và Trần Tấn Huy trường Đại Học Cần Thơ (2006) nghiên cứu thay thế thức ăn selco bằng men bánh mì trong nuôi luân trùng thâm canh, cho rằng đối với hệ thống nuôi luân trùng thâm canh tuần hoàn, luân trùng được cho ăn bằng men bánh mì có sức tăng trưởng tương đương với luân trùng nuôi bằng thức ăn nhân tạo selco Luân trùng được cho ăn bằng men bánh mì có bổ

sung 3 - 5% tảo Chlorella cho năng suất thu hoạch cao và sự ổn định tương đương với

luân trùng được nuôi bằng thức ăn đặc chế đắt tiền

Trang 22

Nguyễn Thị Kim Liên, Trần Tấn Huy và Nguyễn Thanh Phương (2008) đã

nghiên cứu thành công nuôi luân trùng siêu nhỏ (Brachionus rotundiformis) bằng tảo Chlorella và men bánh mì và cho rằng mật độ luân trùng khi cho ăn hai loại thức ăn là

tương đương nhau

Võ Thị Hương (1985; trích Hà Tân, 2006) thí nghiệm các loại thức ăn gồm phân gà và nấm men, hỗn hợp phân gà và tảo, hỗn hợp phân gà – nấm men – tảo lục, thì hỗn hợp phân gà – nấm men – tảo lục thích hợp cho luân trùng hơn các loại thức ăn còn lại

2.4.2.3 Một số phương pháp làm giàu luân trùng

Hiện nay ngoài lượng thức ăn chủ yếu là tảo thì để làm giàu luân trùng người ta thường sử dụng thức ăn tự chế theo một công thức nhất định, bằng các nhũ tương dầu được lấy từ các loại dầu cá, trứng, … Ngoài ra, người ta còn chú ý đến việc làm giàu vitamin C và protein cho luân trùng

Việc làm giàu luân trùng bằng thức ăn tự chế có ưu điểm là nó có thể làm giàu thức ăn trực tiếp như: lượng acid béo thu được thường ổn định và có thể tái sản xuất, tổn thất về luân trùng thấp, chi phí lao động có thể giảm

Các nhũ tương dầu là một trong những cách làm giàu luân trùng rẻ nhất, mặc dù các nhũ tương tự chế có thể chế biến từ chất lexithin của trứng và các loại dầu cá Có hai loại nhũ tương :

- Nhũ tương dầu tự chế

- Nhũ tương dầu thương mại

Nhũ tương dầu tự chế đầu tiên được sản xuất từ các loại dầu cá giàu HUFA (dầu mực, dầu gan cá tuyết vàng, dầu gan cá tuyết, dầu cá trích dầu, …) Gần đây, người ta sử dụng các loại dầu tinh khiết hơn có chứa hàm lượng đặc biệt cao các acid

Trang 23

trên thị trường thường là một vài loại thức ăn nhũ tương được pha chế biến theo một công thức cụ thể Phổ biến nhất là các chất cô đặc từ nhũ tương hóa (selco, Inve Aquaculture NV, Bỉ, 2002) chúng có thể làm tăng hàm lượng HUFA của luân trùng (Philippe Dhert, 2002) Ngoài ra, việc làm giàu vitamin C và protein cũng được nghiên cứu Hàm lượng vitamin của luân trùng phản ánh hàm lượng acid ascorbic (AA) trong thức ăn cả sau khi nuôi và làm giàu Thí dụ như hàm lượng vitamin trong nuôi luân trùng bằng men bánh mì là 150 mg vitamin C/g trọng lượng thô, trong khi các luân

trùng cho ăn bằng Chlorella chứa 2300 mg vitamin/g trọng lượng thô Việc làm giàu

luân trùng được thực hiện bằng cách dùng palmitat ascorbyl (AP) làm nguồn vitamin

để bổ sung cho các chất tăng trọng AP được các luân trùng chuyển thành các acid ascorbic hoạt tính với nồng độ tới 1700 mg/g trọng lượng thô và làm giàu sau 24 giờ

Protein được làm giàu bằng protein selco là loại thức ăn làm giàu duy nhất được chế biến đặc biệt Hàm lượng protein cho phép đối tượng nuôi tiếp tục sinh trưởng và phát triển trong thời gian làm giàu Thông thường nó được làm theo cách nhũ tương dầu và được cho vào trong bể với nồng độ 125 mg/L nước biển hai lần cách nhau 3 - 4 giờ

Trang 24

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm

Đề tài được thực hiện từ tháng 3 năm 2008 đến tháng 6 năm 2008 tại trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

3.2 Vật liệu và Trang Thiết Bị dùng trong Thí Nghiệm

3.2.1 Dụng cụ trang thiết bị

- Bình tam giác 1lít, bình nhựa 5 lít

- Đèn huỳnh quang, máy sục khí

- Buồng đếm hồng cầu, buồng đếm phiêu sinh động, kính hiển vi

Trang 25

3.2.3 Vật Liệu Nghiên Cứu

Tảo giống Chlorella nước ngọt được mua tại Trung Tâm Giống Thủy Sản Miền

Nam, đường Thùy Vân, thành phố Vũng Tàu, men bánh mì, sữa đậu nành được mua ở quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh

3.3 Phương Pháp Bố Trí Thí Nghiệm

3.3.1 Nuôi tảo làm thí nghiệm

3.3.1.1 Giữ giống tảo

Điều kiện giữ giống

Dụng cụ bằng thuỷ tinh phải được hấp khử trùng ở 1210C, 1 atm trong 20 phút hoặc sấy khử trùng ở 1800C trong 120 phút Các bình nhựa khử trùng bằng chlorine và cồn 960

Môi trường trước khi nuôi được hấp khử trùng ở 1210C, trong 20 phút pH môi trường 5,8 – 7,0 là tốt nhất

Tảo được chiếu sáng và sục khí liên tục trong suốt quá trình giữ giống

Các thao tác nuôi cấy tảo được thực hiện trong khu vực có đèn cồn Tảo luôn ở pha log khi bắt đầu nuôi cấy tảo

Môi trường giữ giống :

Do tảo Chlorella nên môi trường giữ giống cần thiết là Hannay cải tiến

Trang 26

Bảng 3.1: Môi trường Hannay cải tiến

Trang 27

Dụng cụ nuôi cấy được xử lý bằng hóa chất, và được hấp, sấy cẩn thận Trong quá trình nuôi lưu ý tảo bị nhiễm các loài phiêu sinh động Khi tảo trong bình giữ giống bị nhiễm các loài phiêu sinh động, nên bỏ nước tảo đó và rửa bình thật sạch, rửa lại bằng cồn và sau đó rửa bằng nước cất để tránh các loài phiêu sinh động gây nhiễm trong đợt nuôi kế

Hình 3.1: Gây nuôi tảo trong phòng thí nghiệm

3.3.1.2 Nuôi sinh khối tảo làm thức ăn cho luân trùng

Để đảm bảo đầy đủ lượng thức ăn cho luân trùng trong suốt thời gian nuôi ta cần một lượng tảo lớn

Ở đây chúng tôi thực hiên việc nuôi tảo ngoài trời tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

a/ Môi trường nuôi tảo

Để nuôi tảo hiệu quả ta phải cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho nó phát triển Vì vậy, môi trường nuôi không thể thiếu trong quá trình nuôi cấy tảo Môi trường nuôi tảo ngoài trời phát triển dựa trên môi trường nuôi trong phòng thí nghiệm, nhưng do môi

Trang 28

số lượng rất lớn, như thế sẽ không hiệu quả về mặt kinh tế nên người ta thường sử dụng môi trường kết hợp các loại phân sử dụng trông nông nghiệp như ure, NPK, phân lân hoặc các loại phân vô cơ dạng hỗn hợp Ngoài ra có thể bổ sung máu trùng chỉ

Khi cho nước vào bể rất dễ hư bạt do khối lượng nước lớn, vì vậy trước khi phủ bạt ta nên tạo một lớp đất dẻo và lót vào đáy bể vài tấm xốp để làm nền tạo sức chịu lực cho bể, xung quanh khung bể phải có cây chắn để tránh bị thủng hai bên do sức nặng của nước, bên trong hai bên khung có lót những tấm lưới cứng chịu lực cho bạt không bị nước làm hỏng

Hình 3.2: Khung nuôi tảo

c/ Tiến hành nuôi tảo

Trước tiên cho nước vào bể xử lý chlorine để tránh tảo bị nhiễm tạp Để từ 2 - 3 ngày có thể cho tảo giống vào nuôi

Lưới chịu lực

Nền đất Cây chịu lực

Trang 29

Môi trường nuôi ngoài trời chủ yếu bằng các loại phân vô cơ và bổ sung máu trùng chỉ

Tiến hành sục khí mạnh và liên tục để tảo phát triển nhanh hơn

Trong bể nuôi tảo nên cho một số cá rô phi để sinh ra vi tảo nhanh hơn và hạn chế sự phát triển của các loại tảo sợi

Hằng ngày bổ sung urea và nước pha máu trùng, bổ sung 500 mL máu trùng/ngày và 50 g urea/ngày cho tảo nuôi trong thùng xốp, và 5 - 7 lít nước pha máu trùng/ngày, 100 g - 250 g urea/ngày vào bể nuôi tảo thể tích 2 m3 để bổ sung chất dinh dưỡng cho tảo phát triển

Khi nào thấy màu tảo xanh, ta bắt đầu đếm mật độ tảo trên kính hiển vi Nếu tảo đạt mật độ cao thì tiến hành gây nuôi luân trùng

Hình 3.3: Bể nuôi tảo ngoài trời

Trang 30

3.4.2 Phương pháp thử nghiệm nuôi luân trùng

3.4.2.1 Nuôi luân trùng trong các thùng xốp

Các thùng xốp được bố trí ngoài trời, mỗi thùng 15 lít, nuôi trong 10 thùng

Luân trùng được cho vào thùng và cung cấp tảo làm thức ăn với lượng đầy đủ mỗi ngày Khi thấy nước tảo trong thùng nhạt màu (chuyển từ màu xanh đậm sang màu xanh nhạt) thì ta bắt đầu cho ăn thêm

Hình 3.4: Nuôi luân trùng trong thùng xốp

3.4.2.2 Thử nghiệm nuôi sinh khối luân trùng bằng các loại thức ăn khác nhau

Thí nghiệm sử dụng thức ăn cho luân trùng gồm 3 nghiệm thức mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, bố trí trong bình nhựa 5 lít

Đối với nghiệm thức I: Sử dụng tảo cho ăn với mật độ tảo là 18.103 tế bào tảo/luân trùng mỗi ngày

Đối với nghiệm thức II: cho luân trùng ăn tảo và men bánh mì, với mật độ tảo

Trang 31

Đối với nghiệm thức III: cho ăn tảo và sữa đậu nành, với mật độ tảo 14.103/luân trùng/ngày và 50 mL nước sữa đậu nành/ ngày

3.4.3 Phương pháp theo dõi sự tăng sinh khối của luân trùng

Đếm luân trùng bằng buồng đếm phiêu sinh động dưới kinh hiển vi có độ phóng đại 100 lần Mật độ luân trùng được tính theo công thức sau:

để so sánh từng cặp của hai NT

Phần mềm Statgraphics được sử dụng để xử lý

Trang 32

Do hình thức sinh sản (đơn tính hay hữu tính) có lên quan đến mật độ luân trùng trong quá trình thí nghiệm, hai hình thức sinh sản diễn ra theo hướng đơn tính hay hữu tính là do chịu ảnh hưởng của các chỉ tiêu chất lượng nước và thức ăn trong quá trình nuôi Hai hình thức sinh sản này xen kẽ và luân phiên trong quá trình phát triển luân trùng Khi điều kiện sống thích hợp thì sinh sản đơn tính, sinh khối luân trùng tăng lên Khi gặp điều kiện bất lợi: mật độ dày, nhiệt độ cao, thiếu thức ăn, … thì luân trùng sẽ chuyển sang hình thức sinh sản hữu tính, cho ra nhiều trứng nghỉ, dẫn đến mật độ giảm đáng kể Vì thế trong quá trình nuôi ngoài việc cung cấp thức ăn đầy đủ, chúng tôi theo dõi hai yếu tố môi trường: pH, nhiệt độ Kết quả đo được chúng tôi trình bày dưới đây

Trang 33

4.1.1 Ảnh hưởng pH đến mật độ luân trùng

4.1.1.1 Ảnh hưởng của pH đến mật độ luân trùng trong đợt 1

Bảng 4.1: Kết quả pH và mật độ trung bình của luân trùng ở đợt thí nghiệm 1 (cá

Biểu đồ 4.1: Biến động mật độ luân trùng theo pH (đợt 1)

Luân trùng sống và phát triển thích hợp ở pH từ 6 – 8 (Trần Thanh Xuân, 1993) Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu pH cao hơn 9 luân trùng sẽ chết Kết quả theo

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm