1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI THƯƠNG PHẨM TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii) TỈNH BẾN TRE Họ và tên sinh viên : LÊ HOÀNG KHA Ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên Khóa : 2004 2008 Tháng 9

100 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI THƯƠNG PHẨM TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii TỈNH BẾN TRE Tác giả LÊ HOÀNG KHA Luận văn được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI

THƯƠNG PHẨM TÔM CÀNG XANH

(Macrobrachium rosenbergii) TỈNH BẾN TRE

Họ và tên sinh viên : LÊ HOÀNG KHA

Niên Khóa : 2004 - 2008

Tháng 9/2008

Trang 2

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI THƯƠNG

PHẨM TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)

TỈNH BẾN TRE

Tác giả

LÊ HOÀNG KHA

Luận văn được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn

ThS ĐINH THẾ NHÂN

Tháng 9 năm 2008

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản, cùng quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt khóa học (2004 - 2008)

Đặc biệt, tỏ lòng biết ơn sâu sắc gởi đến thầy Đinh Thế Nhân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài tốt nghiệp

Xin gởi lời cám ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo Sở Thủy Sản tỉnh Bến Tre, Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản tỉnh Bến Tre, Phòng Thủy Sản huyện Thạnh Phú, Phòng Kinh Tế huyện Mỏ Cày, các anh chị công tác tại các trại giống Tôm Càng Xanh của tỉnh đã tận tình giúp đỡ, cung cấp đầy đủ các số liệu cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra

Lời cảm ơn xin được gửi đến các bạn sinh viên Thủy Sản 30 đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện đề tài

Cuối cùng lòng biết ơn chân thành con xin được gửi tới bố mẹ và gia đình đã tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật chất để con hoàn thành tốt luận văn và trong những năm học vừa qua

Mặc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng để thực hiện đề tài nhưng khả năng bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi sự thiếu sót, chúng tôi rất mong sự đóng góp ý kiến quý báu của quí Thầy, Cô và bạn bè để bài viết này hoàn thiện hơn

Trang 4

TÓM TẮT

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) đã được xác định là đối tượng nuôi

nước ngọt quan trọng ở Việt Nam, đặt biệt là Đồng bằng sông Cửu Long Ở Bến Tre, nhờ ngày càng sử dụng rộng rải tôm giống nhân tạo nên sản lượng tôm nuôi tăng nhanh từ năm 2003 và đạt sản lượng khoảng 2.565 tấn năm 2007

Đề tài “Điều tra hiện trạng sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm càng

xanh (Macrobrachium rosenbergii) tỉnh Bến Tre”

Đề tài được thực hiện gồm các nội dung chính sau:

- Khảo sát hiện trạng sản xuất giống tôm càng xanh: thực hiện điều tra các trại giống trên địa bàn tỉnh (10 trại giống), các hệ thống sản xuất giống và quy trình sản xuất Hai hệ thống được sử dụng là: Hệ thống nước xanh cải tiến và hệ thống nước trong hở

- Khảo sát hiện trạng nuôi thương phẩm tôm càng xanh: tìm hiểu các vùng nuôi tôm càng xanh của tỉnh, sau đó tiến hành điều tra về các mô hình nuôi Tỉnh có ba mô hình nuôi tôm càng xanh là: nuôi trong mương vườn, nuôi tôm – lúa và nuôi trong ao

Để tiến hành, chúng tôi phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên tổng cộng 17 hộ nuôi trong cả

ba mô hình

Thông qua biểu mẫu điều tra chúng tôi thu được các thông tin về: đặc điểm trại giống và nông hộ, quy trình kỹ thuật sản xuất giống và quy trình nuôi thương phẩm tôm càng xanh Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và một số vấn đề khác như: dịch bệnh, chi phí sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm càng xanh Qua đó, tiến hành

so sánh và đánh giá tiềm năng sản xuất giống; hiệu quả kinh tế giữa các mô hình nuôi tôm càng xanh tỉnh Bến Tre

Trang 5

MỤC LỤC

Đề Mục Trang Trang tựa i Lời cảm tạ ii Tóm tắt iii Mục lục iv Danh sách các chữ viết tắt viii

2.1 Tình Hình Nuôi Tôm Càng Xanh Trên Thế Giới Và Việt Nam 3

2.1.1 Tình hình nuôi tôm càng xanh trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam 5

2.2 Đặc Điểm Sinh Học Của Tôm Càng Xanh 5

2.2.1 Phân loại 5 2.2.2 Hình thái ngoài 6

2.2.3 Phân bố 8 2.2.4 Vòng đời của tôm càng xanh 9

2.2.5 Đặc điểm sinh sản 10

2.2.5.1 Phân biệt đực cái tôm càng xanh 10

2.2.5.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng, ấp trứng 11

2.2.5.3 Quá trình phát triển phôi 13

2.2.5.4 Quá trình phát triển ấu trùng 14

2.2.5.5 Quá trình phát triển hậu ấu trùng 15

2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng 15

2.2.7 Đặc điểm dinh dưỡng 17

Trang 6

2.2.8 Yêu cầu về môi trường sống 18

2.3 Giới Thiệu Các Hệ Thống Sản Xuất Giống Tôm Càng Xanh 19

2.3.1 Hệ thống nước trong-hở 19

2.3.2 Hệ thống nước xanh 19 2.3.3 Hệ thống nước xanh cải tiến 19

2.3.4 Hệ thống nước trong tuần hoàn 20

2.3.5 Hệ thống ương trong ao đất 20

2.4 Một Số Bệnh Thường Gặp Trên Tôm Càng Xanh 20

2.4.1 Bệnh thường gặp trong quá trình sản xuất giống 20

2.4.1.1 Bệnh hoại tử cơ 20 2.4.1.2 Bệnh hoại tử cơ do vi khuẩn 21

2.4.1.3 Bệnh giữa chu kỳ ấu trùng 21

2.4.1.4 Bệnh phát sáng 21 2.4.1.5 Bệnh bẫy lột xác 22 2.4.1.6 Bệnh do Protozoa 22 2.4.2 Bệnh thường gặp trong nuôi tôm thương phẩm 22

2.4.2.1 Bệnh đốm nâu 22 2.4.2.2 Bệnh đen mang 23 2.4.2.3 Bệnh đóng rong 23 2.4.2.4 Bệnh mềm vỏ tôm 23 2.5 Khái Quát Về Tỉnh Bến Tre 23

2.5.1 Giới thiệu chung 23 2.5.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bến Tre 24

2.5.3 Hiện trạng kinh tế - xã hội 26

2.6 Giới Thiệu Về Ngành Thuỷ Sản Tỉnh Bến Tre 28

2.6.1 Hiện trạng thủy sản Bến Tre 28

2.6.2 Tình hình thực hiện các kế hoạch 28

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài 32

3.2 Nội Dung và Phương Pháp Thu Thập Số Liệu 32

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 32

Trang 7

3.2.2 Nội dung số liệu thu thập 32

3.3 Phương Pháp Phân Tích Kết Quả Và Xử Lý Số Liệu 33

3.3.1 Xử lý số liệu 33 3.3.2 Phương pháp phân tích kết quả 33

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Tình Hình Sản Xuất Giống Tôm Càng Xanh 34

4.1.1 Giới thiệu các mô hình sản xuất giống TCX ở Bến Tre 34

4.1.2 Thông tin chung về trại giống 35

4.1.3 Thiết kế trại giống 37 4.1.3.1 Quy mô trại giống 37

4.1.3.2 Nguồn nước sử dụng cho việc sản xuất giống 38

4.1.3.3 Xử lý nước 39 4.1.4 Nguồn tôm bố mẹ 40 4.1.5 Thời vụ sản xuất giống tôm càng xanh 40

4.1.6 Các khâu trong quá trình sản xuất 41

4.1.6.1 Thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh 41

4.1.6.2 Chăm sóc và quản lý bể ương ấu trùng 43

4.1.6.3 Thời gian biến thái của ấu trùng 45

4.1.6.4 Quá trình ương từ tôm post lên tôm giống 46

4.1.7 Vấn đề bệnh trong sản xuất giống 46

4.1.8 Chi phí, thu nhập và lợi nhuận 47

4.1.9 Khó khăn và thuận lợi trong quá trình sản xuất giống 49

4.2 Tình Hình Nuôi Thương Phẩm Tôm Càng Xanh 50

4.2.1 Giới thiệu các mô hình nuôi tôm càng xanh ở Bến Tre 50

4.2.1.1 Mô hình nuôi tôm – lúa 50

4.2.1.2 Mô hình nuôi ao 52 4.2.1.3 Mô hình nuôi tôm trong mương vườn 53

4.2.2 Thông tin về các hộ nuôi tôm càng xanh 54

4.2.3 Thiết kế mô hình nuôi tôm càng xanh 55

4.2.3.1 Diện tích ao nuôi 55 4.2.3.2 Thời vụ nuôi tôm càng xanh 56

Trang 8

4.2.4 Các khâu chính trong quá trình nuôi tôm càng xanh 56

4.2.4.1 Cải tạo ao 56

4.2.4.2 Thả giống tôm càng xanh 57

4.2.4.3 Nguồn thức ăn sử dụng 58

4.2.4.4 Chăm sóc và quản lý 59

4.2.4.5 Quản lý môi trường nuôi 59

4.2.4.6 Tình hình bệnh trên tôm càng xanh và cách phòng trị 61

4.2.5 Thu hoạch và tiêu thụ tôm nuôi 62

4.2.6 Chi phí và lợi nhuận trong một vụ nuôi 63

4.2.7 Khó khăn và thuận lợi trong quá trình nuôi 64

4.3 Những Nhận Xét Và Đánh Giá 65

4.3.1 Tình hình sản xuất giống tôm càng xanh 65

4.3.2 Tình hình nuôi thương phẩm tôm càng xanh 67

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

5.1 Kết Luận 68 5.2 Đề Nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCBVNLTS: Chi Cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

TCX: Tôm càng xanh

NXCT: Hệ thống nước xanh cải tiến

NTH: Hệ thống nước trong hở

TX Bến Tre: Thị xã Bến Tre

EDTA: Ethylene diaminotetra acetic acid

FAO: Food and Agriculture Organization

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân biệt đực cái khi tôm thành thục 10

Bảng 2.2 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh 15

Bảng 2.3 Chu kỳ lột xác của tôm ở các giai đoạn khác nhau (ở 280C) 16

Bảng 4.1 Một số thông tin về các trại giống 35

Bảng 4.2 Thiết kế trại sản xuất giống tôm càng xanh 37

Bảng 4.3 Nguồn nước phục vụ sản xuất giống TCX 38

Bảng 4.4 Tần suất sử dụng các loại hóa xử lý nước 39

Bảng 4.5 Nguồn tôm bố mẹ sử dụng ở các trại sản xuất giống 40

Bảng 4.6 Tỷ lệ về mùa vụ sản xuất tôm càng xanh trong năm 41

Bảng 4.7 Thành phần của thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm càng xanh 42

Bảng 4.8 Kích cỡ thức ăn chế biến qua từng giai đoạn ấu trùng 42

Bảng 4.9 Tỷ lệ nở của trứng trung bình của các trại giống 43

Bảng 4.10 Tỷ lệ về mật độ ương của các trại giống 43

Bảng 4.11 Chế độ thay nước giữa các hệ thống sản xuất 45

Bảng 4.12 Thời gian biến thái của ấu trùng giữa các trại giống 45

Bảng 4.13 Tỷ lệ sống của ấu trùng 46

Bảng 4.14 Tần suất xuất hiện bệnh trên TCX trong quá trình sản xuất giống 46

Bảng 4.15 Tỷ lệ các khoản chi phí/1 đợt sản xuất giống 47

Bảng 4.16 Tổng chi phí của một đợt sản xuất (chi phí sản xuất 1 triệu post) 48

Bảng 4.17 Những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất giống 49

Bảng 4.18 Tổng diện tích, sản lượng nuôi TCX toàn tỉnh theo từng mô hình 50

Bảng 4.19 Thông tin chung của các hộ nuôi TCX 54

Bảng 4.20 Diện tích nuôi trung bình mỗi ao theo từng mô hình 55

Bảng 4.21 Lịch mùa vụ của các mô hình nuôi TCX ở Bến Tre 56

Bảng 4.22 Giá tôm giống 57

Bảng 4.23 Mật độ tôm giống thả nuôi theo từng mô hình nuôi 58

Bảng 4.24 Giá các loại thức ăn sử dụng chế biến thức ăn cho tôm càng xanh 58

Bảng 4.25 Thời gian và lượng nước định kỳ thay cho ao nuôi 60

Trang 11

Bảng 4.26 Tần suất xuất hiện một số bệnh trong quá trình nuôi tôm càng xanh 61

Bảng 4.27 Năng suất thu hoạch trung bình theo từng mô hình 63

Bảng 4.28 Tổng chi phí của một vụ nuôi (tính trên 1 tấn tôm thương phẩm) 64

Bảng 4.29 Những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất giống 64

DANH SÁCH CÁC HÌNH HÌNH Trang Hình 2.1 Vùng phân bố tôm càng xanh 9

Hình 2.2 Vòng đời của tôm càng xanh 10

Hình 2.3 Các đặc điểm phân biệt tôm càng xanh đực và cái 11

Hình 2.4 Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 24

Hình 4.1 Trại giống tôm càng xanh với hệ thống nước xanh cải tiến 34

Hình 4.2 Bể ương ấu trùng với hệ thống nước trong hở 35

Hình 4.3 Vật liệu bể ương: bể composite và bể ximăng có lót bạc 38

Hình 4.4 Các dạng ruộng nuôi tôm càng xanh 51

Hình 4.5 Mô hình tôm – lúa tại huyện Thạnh Phú 52

Hình 4.6 Mô hình nuôi tôm càng xanh trong ao (Huyện Thạnh Phú) 53

Hình 4.7 Ao nuôi tôm càng xanh với mô hình mương vườn (huyện Mỏ Cày) 54

Hình 4.8 Cải tạo ruộng nuôi ở mô hình tôm – lúa 57

Hình 4.9 Sử dụng nhá cho tôm ăn và kiểm tra tôm 59

Hình 4.10 Thu hoạch TCX ở mô hình nuôi mương vườn 63

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

BIỂU ĐỒ Trang

Biểu đồ 2.1 Tổng diện tích nuôi thủy sản và diện tích nuôi tôm càng xanh 29

Biểu đồ 2.2 Sản lượng tôm càng xanh của tỉnh Bến Tre từ 2001 - 2007 29

Biểu đồ 2.3 Diện tích nuôi tôm càng xanh theo từng Huyện năm 2007 29

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ về trình độ chuyên môn của các trại sản xuất giống 36

Biểu đồ 4.2 Tần suất xuất hiện các loai bệnh trên ấu trùng tôm càng xanh 47

Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ các khoản chí phí trong 1 đợt sản xuất giống 48

Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ về hình thức thu hoạch giữa các mô hình 62

Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ các khoảng chi phí trong nuôi tôm càng xanh 64

Biểu đồ 4.6 Sự phát triển số trại SXG TCX và sản lượg tôm post ở ĐBSCL 66

Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ phân bố trại giống TCX ở các tỉnh thuộc ĐBSCL (2003) 66

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất giống TCX của 2 hệ thống sản xuất 41

Sơ đồ 4.2 Tóm tắt quy trình nuôi TCX với mô hình nuôi tôm lúa 51

Sơ đồ 4.3 Tóm tắt quy trình nuôi TCX với mô hình nuôi ao 52

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt Vấn Đề

Để phát triển một đối tượng nuôi một cách hiệu quả, ngành thủy sản cần quan tâm đến rất nhiều yếu tố: khu vực nuôi, nguồn giống, vấn đề thức ăn, điều kiện môi trường liên quan đến đối tượng nuôi… Trong những năm gần đây, hoạt động thủy sản của nước ta đang được phát triển rất đa dạng và phong phú Cùng với các chỉ tiêu phát triển thủy sản của cả nước (phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản trên 2 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD – Bộ Thủy Sản, 2005), việc phát triển từng đối tượng nuôi là vô cùng quan trọng

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii, De Man 1879) là loài có kích thước

lớn, thịt ngon được nhiều người ưa chuộng, có giá trị kinh tế cao, đang có nhu cầu lớn trong nước cũng như thế giới, là một đối tượng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Hiện nay, tôm càng xanh đang được đầu tư và phát triển trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long do có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Tôm càng xanh là đối tượng nuôi không đòi hỏi kỹ thuật cao như các loài tôm khác: cách quản lý và chăm sóc đơn giản, thức ăn giá rẻ và tôm ít nhiễm bệnh Do đó, việc nuôi thương phẩm tôm càng xanh có hiệu quả kinh tế rất cao và dễ mang lại lợi nhuận cho người nuôi Ngoài ra, việc sản xuất giống tôm càng xanh cần phải phát triển song song để cung cấp nguồn giống nội địa cho người dân

Bến Tre là một trong những tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng phát triển tôm càng xanh rất lớn Việc điều tra để đánh giá hiện trạng về tình hình nuôi và tiềm năng sản xuất giống tôm càng xanh là hết sức cần thiết, làm cơ sở để đánh giá, quy hoạch phát triển một cách bền vững và hiệu quả hơn Năm 2007, TS Lê Xuân Sinh đã thực hiện đề tài: “Xây dựng mô hình kinh tế - sinh học của trại sản xuất giống

tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở Đồng bằng sông Cửu Long”

Trang 14

Trên cơ sở đó, được sự đồng ý của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm TP

Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng sản xuất giống

và nuôi thương phẩm tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) tỉnh Bến Tre”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Về nuôi thương phẩm tôm càng xanh:

- Khảo sát hiện trạng về tình hình nuôi tôm càng xanh ở Bến Tre

- Tìm hiểu các mô hình nuôi tôm càng xanh trong tỉnh, so sánh giữa các mô hình

Về sản xuất giống tôm càng xanh:

- Khảo sát hiện trạng sản xuất giống tôm càng xanh, các mô hình sản xuất giống chủ yếu của tỉnh

- Đánh giá tiềm năng phát triển

Đồng thời, tìm hiểu những khó khăn, trở ngại trong quá trình sản xuất và quá trình nuôi thương phẩm tôm càng xanh, từ đó đề xuất một số biện pháp khắc phục

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN 2.1 Tình Hình Nuôi Tôm Càng Xanh Trên Thế Giới Và Việt Nam

2.1.1 Tình hình nuôi tôm càng xanh trên thế giới

Theo trích dẫn của Nguyễn Văn Hảo (2000), tình hình nuôi tôm càng xanh ở một

số nước trên thế giới như sau:

 Đài Loan (Su – Lean Chang, 1990)

- Tôm càng xanh được nhập vào Đài Loan năm 1970 từ Thái Lan Năm 1973, lần đầu tiên sản xuất nhân tạo thành công (Liao và ctv.), đã mở lối cho nghề sản xuất giống và nuôi công nghiệp tại Đài Loan hiện nay

- Ngày nay, hàng trăm trại giống quy mô hộ gia đình thành lập, một phần trong số

đó chuyển từ sản xuất giống tôm nước mặn sang Nuôi tôm chủ yếu ở Pingtung và Kaohsing (Hsieh và ctv., 1989) Nuôi ghép tôm phát triển nhanh hơn nuôi công nghiệp, vì vậy tôm càng xanh được nuôi chung với cá măng

 Malaysia (Tarlochan Singh, Adrian F Vijarungam, 1990)

- Hầu hết nuôi tôm càng xanh trong ao đất, thường được nuôi ghép với cá nước ngọt như họ cá chép Năm 1989, có tổng cộng 13.880 người nuôi tôm càng xanh ở Malaysia, các ao nhỏ với kích thước trung bình khoảng 1.500 m2

- Postlarvae sau khi ương 4 – 6 tuần được chuyển sang ao nuôi thịt Tùy theo hệ thống nuôi quảng canh, bán thâm canh hay thâm canh mà mật độ nuôi khác nhau: 5,

10, 15, 20 hoặc 40 con/m2 Cho tôm ăn thức ăn chế biến, sau 4 tháng nuôi, năng suất đạt từ 900 – 3.150 kg/ha/vụ, tùy thuộc vào mật độ và điều kiện quản lý ao nuôi

 Mauritus (S Parameswaran và ctv., 1990)

Ao nuôi hình chữ nhật, diện tích khoảng 200 m2, sâu 1 m để dễ quản lý và kéo lưới Tôm thả nuôi đơn với mật độ từ 146.000 – 187.000 con/ha Thức ăn chế biến được bỏ vào sàng, 5 -8 sàng đặt gần bờ vào buổi tối, lượng cho ăn khoảng 3% trọng lượng thân Sau từ 5 – 7 tháng nuôi thì thu tỉa bằng lưới có kích thước mắt lưới 25mm

Trang 16

 Bangladesh (A.M.Akand và M.R.Hasan, 1990)

Nuôi ghép tôm càng xanh với cá, chủ yếu là cá chép Nuôi với mật độ 7.000 – 10.000 con/ha Ao được bón phân và bổ sung thức ăn như: bánh dầu mù tạt, bột cá, cám gạo

 Brazil (Wagner C.Valenti, 1990)

Nuôi bán thâm canh, thu hoạch đồng bộ hoặc thu tỉa Ao nuôi có kích thước từ 2.000 – 20.000 m2, mật độ từ 5 – 10 con/m2, thức ăn có hàm lượng đạm từ 25 – 35% Năng suất từ 1.000 – 1.500 kg/ha ở miền nam Brazil và 1.500 – 2.500 kg/ha ở Bắc và Đông Bắc Brazil

 Thái Lan (M.B.NEW, 1980)

- Ao nuôi có kích thước từ <0,2 – 40 ha, mật độ nuôi từ 5 – 10 con/m2 Thả giống postlarvae sau khi chuyển 14 ngày Sau 6 tháng nuôi thu tỉa bằng cách kéo lưới chọn tôm lớn, tôm nhỏ thả nuôi lại hoặc chuyển sang ao mới, sau đó có thể thu tỉa vài lần trước khi thu hoạch hoàn toàn Thức ăn dùng cho gà choai có thể cho tôm ăn, hoặc tấm, cám gạo, bột cá trộn với vitamin premix nấu chín, cho ăn ngày 2 lần

- Năng suất có thể đạt 2.188 – 2.500 kg/ha/năm ở một vài ao nuôi nhưng năng suất trung bình khoảng 1.250 kg/ha

 Hawaii (Michael.B.NEW, 1980)

Ao nuôi có kích thước từ <0,4 – 41 ha, mật độ nuôi 16 – 22 con/m2 Sử dụng thức

ăn viên, thành phần gồm: ngũ cóc, bột đậu nành, bột cá Sau 6 – 12 tháng nuôi, tôm đạt 55,55g/con Năng suất thay đổi theo từng mùa, năm đầu tiên thấp hơn 1125 kg/ha, năm thứ 2 là 1.500 kg/ha, năm thứ 3 là 2.250 – 2.750 kg/ha do đã tích lũy nhiều kinh nghiệm

Trang 17

Theo FAO (2002), tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt trên 119.000 tấn, đạt giá trị 410 triệu USD vào năm 2000 Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, được xem là nơi có sản lượng tôm càng xanh chủ yếu với 95% tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới Theo báo cáo, năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc, sản lượng tôm càng xanh đạt trên 300.000 tấn (Miao, 2003; trích bởi Nguyễn Thanh Phương, 2003)

2.1.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam

Ở nước ta, Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có tiềm năng rất lớn về nuôi trồng thủy sản nói chung và tôm càng xanh nói riêng Theo thống kê năm 2002 của Bộ Thủy Sản thì cả nước đạt khoảng 10.000 tấn tôm càng xanh, mà chủ yếu ở ĐBSCL

Nghề nuôi tôm càng xanh hiện nay phổ biến ở các tỉnh: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình nuôi như: nuôi trong mương vườn, nuôi tôm trên ruộng lúa, nuôi trong ao và nuôi đăng quầng Thức

ăn chủ yếu là: cám gạo, khoai mì, bắp, dừa, cá tạp

Năng suất tôm nuôi đạt bình quân 184 kg/ha/vụ đối với nuôi kết hợp với trồng lúa,

686 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm xen canh với trồng lúa, 4.120 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm đăng quầng và 1.200 kg/ha/vụ đối vơi nuôi tôm trong ao (Nguyễn Thanh Phương và cvt., 2003)

2.2 Đặc Điểm Sinh Học Của Tôm Càng Xanh

với tên loài đầu tiên: Locusta marina, về sau đổi tên là Palaemon carcinus (Nguyễn

Việt Thắng, 1993)

Trải qua gần 2 thế kỷ, trong các công trình nghiên cứu thủy vực khác nhau trên thế giới, xác định các khu hệ giáp xác đều đề cập đến những hình thái, vị trí phân loại của loài này Thon và Aeichrenbach (1838); Gibber (1845, 1850); De Hoan (1880),

Trang 18

Tennent (1861), Von Martens (1868, 1876); De Man (1879); Micrs (1880); Valker (1887); Ortman (1897); Nobili (1899); Doflein (1890); Lenchesster (1900); Thomson (1901); Cowler (1914); Kemp (1918); J.Rouse (1921, 1923); Balse (1930); Gordon

(1935); … nhưng lại mang hàng loạt tên khác nhau như: Cance (Astecus) carcius;

Palaenom carcius; Palaenom rosenbergii; Palaenom (Eu palaemon) carcius; Macrobrachium carcius Chỉ đến Holthuis L.B mới xác định tên gọi ban đầu do De

Man (1879) đề nghị (Nguyễn Kiều Diễm, 2006)

Theo Holthuis (1980), tôm càng xanh có vị trí phân loại như sau:

Ngành tiết túc Arthropoda Lớp giáp xác Crustacea

Bộ phụ giáp xác bậc cao Malacostraca

Bộ mười chân Decapoda

Bộ phụ chân bơi Natantia

Phân họ Palaemoninae

Loài M rosenbergii (De Man, 1879)

Một vài sự khác nhau về mặt hình thái học được phát hiện và được cho là của hai loài phụ Dạng loài phụ thứ nhất được tìm thấy ở phía tây vùng phân bố: Ấn Độ, vịnh Bengal, vịnh Thái Lan, Malaysia, một số vùng thuộc Indonesia như Sumatra, Java và Kalimantan Dạng thứ hai được tìm thấy ở phía đông vùng phân bố: Philippines, vùng Sulawesi, Irianjaya thuộc Indonesia và Papua New Guinea, bắc Australia

Dạng loài phụ ở phía đông được đặt tên là Macrobrachium rosenbergii rosenbergii (de Man, 1879) và dạng loài phụ ở phía tây được đặt tên là Macrobrachium

rosenbergii dacqueti (Sunier, 1925) Thế nhưng, do việc di giống nên việc định danh

(ở cấp độ loài phụ) không còn chính xác nữa (Trần Hữu Lộc, 2006)

2.2.2 Hình thái ngoài

Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt Có thể phân biệt tôm càng với các nhóm tôm khác ở hình dạng và màu sắc của chúng Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên Cơ thể gồm có 2 phần: phần đầu ngực phía

Trang 19

trước và phần bụng phía sau Cơ thể có dạng hơi cong như hình dấu phẩy, to ở phần đầu và thon nhỏ về phía sau

- Phần đầu ngực lớn, có dạng hơi giống hình trụ, bao gồm phần đầu với 5 đốt liền nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực

- Phần bụng gồm có 6 đốt có thể cử động và 1 đốt đuôi Mỗi đốt mang một đôi phụ

bộ gọi là chân bơi Mỗi đốt bụng có tấm vỏ bao, tấm vỏ phía trước xếp chồng lên tấm

vỏ phía sau Tuy nhiên, tấm vỏ của đốt bụng thứ 2 phủ lên cả hai tấm vỏ trước và sau

nó Đặc điểm này giúp dễ dàng phân biệt tôm càng xanh với nhóm tôm biển Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và dẹp 2 bên

Tôm nhỏ cơ thể có màu trong sáng, trên giáp đầu ngực có những sọc xanh đen dọc hai bên Tôm trưởng thành có những vệt màu xanh hơi sậm ngang lưng xen kẽ với màu trắng trong của cơ thể

Tôm có chủy dài vượt vảy râu, uốn cong lên từ đoạn giữa chủy, gốc chủy ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào Chủy có 11-16 răng trên chủy (2-3 răng sau hốc mắt) và 10-15 răng dưới chủy

Các phụ bộ có hình dạng, kích cỡ và chức năng khác nhau với hai đôi râu có chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ

và nghiền mồi, năm đôi chân ngực có chức năng để bò, năm đôi chân bụng để bơi và một đôi chân đuôi có chức năng như bánh lái Hai đôi chân ngực đầu tiên của tôm chuyên hóa thành hai đôi càng, đôi càng thứ hai to và dài dùng để bắt mồi và tự vệ Đặc điểm về kích cỡ, hình dạng, màu sắc và các gai trên đôi càng sẽ thay đổi theo giai đoạn thành thục của tôm, nhất là ở tôm đực Khi tôm còn nhỏ, đôi càng có màu trong, sau chuyển thành vàng cam (còn gọi là càng lửa), chưa có gai hay có gai rất mịn trên càng, chưa có hay có rất ít lông tơ Khi tôm lớn, đôi càng có màu xanh đạm, xuất hiện nhiều gai nhọn và lông tơ trên càng Quá trình thay đổi trên thể hiện qua các giai đoạn như: tôm nhỏ, tôm càng lửa nhạt, tôm càng lửa đậm, tôm càng lửa đậm chuyển tiếp càng xanh, tôm càng xanh nhạt, tôm càng xanh đậm và tôm già (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

Trang 20

2.2.3 Phân bố

Theo Holthius (1980), tôm càng xanh là loài tôm nhiệt đới được phân bố tự nhiên tập trung ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, trải dài từ Australia đến New Guinea và vùng châu thổ sông Ấn

Tôm càng xanh sống ở nước ngọt thuộc vùng nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của nước

lợ cửa sông ven biển do ấu trùng phải sống trong nước lợ (Ling và Merican, 1961;

Sandifer và ctv., 1975) Một số loài thuộc giống Macrobrachium thích sống nước

trong, trong khi số khác thích sống nước đục, tôm càng xanh thuộc nhóm thứ hai (New

và Shingholka, 1985)

Ở Việt Nam, những năm gần đây có Nguyễn Văn Xuân và Trịnh Trường Giang (1979) nghiên cứu hình thái của tôm càng xanh và giới thiệu về sự hiện diện tại vùng duyên hải thuộc Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Thường (1986) giới thiệu phạm vi phân bố của tôm càng xanh ở đồng bằng sông Cửu Long; những nghiên cứu của Phan Hữu Đức và cộng sự (1988) đề cập và giới thiệu phân giới một số vùng tập

trung của tôm càng xanh ở đồng bằng Nam Bộ Loài tôm Macrobrachium rosenbergii

có tính thích ứng sinh thái rộng, có thể phân bố ở các vùng nước ngọt và nước lợ (Nguyễn Kiều Diễm, 2006)

Tôm càng xanh phân bố tự nhiên từ Nha Trang tới đồng bằng Nam bộ và tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (Động vật chí Việt Nam, Tôm nước ngọt, 2001) Phạm vi phân bố, mật độ quần đàn tự nhiên của tôm càng xanh phụ thuộc vào một số yếu tố môi trường mà trước hết là nhiệt độ, độ mặn và độ pH (Nguyễn Việt Thắng, 1995)

Nhiều loài tôm trong giống Macrobrachium được di giống ra khỏi vùng phân bố tự

nhiên của chúng với ý định ban đầu là để phục vụ nghiên cứu Từ Malaysia tôm càng xanh được di nhập vào Hawaii, nơi mà những công trình nghiên cứu đầu tiên của Ling (1969) được phát triển thành phương pháp sản xuất hậu ấu trùng bởi Fujimura và Okamoto (1972) Ngày nay, tôm càng xanh được nuôi ở nhiều nước, những nước và vùng lãnh thổ sản xuất chính là Bangladesh, Brazil, Trung Quốc, Ecuador, Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan (FAO, 2002) Tôm càng xanh được khai thác tự nhiên chủ yếu ở Ấn Độ, Bangladesh và nhiều nước Đông Nam Á (Trần Hữu Lộc, 2006)

Trang 21

Hình 2.1 Vùng phân bố tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)

2.2.4 Vòng đời của tôm càng xanh

Vòng đời của tôm càng xanh gồm bốn giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành (FAO, 1985) Có thể tóm tắt như sau: tôm càng xanh trưởng thành sống và thành thục, sinh sản chủ yếu trong nước ngọt Trong mùa sinh sản, tôm cái thành thục sẽ lột xác tiền giao vĩ (pre-mating moult), sau đó sẽ bắt cặp và giao vĩ (Ling, 1969) Tôm đẻ trứng dính vào các đôi chân bụng, tôm cái mang trứng có xu hướng bơi xuôi dòng ra vùng nước lợ có độ mặn từ 5-20‰ (George, 1969) Ở đó, ấu trùng được nở ra và sống trôi nổi theo kiểu phù du (Ling, 1969; Uno và Kwon, 1969) Theo Ling (1969), ở phạm vi nhiệt độ từ 25-310C, thời gian ấp trứng là 19-23 ngày Theo Nguyễn Việt Thắng và ctv (1995), với nhiệt độ từ 26-300C, thời gian ấp trứng là 17-23 ngày Trứng sẽ nở trong vòng 1-2 ngày, ấu trùng cần có nước lợ để phát triển,

ấu trùng sẽ chết trong vòng vài ngày sau khi nở nếu chúng sống trong nước ngọt hoặc nước có độ mặn cao (Ling, 1969)

Ấu trùng tôm càng sống phù du, hướng quang mạnh, phát triển qua 11 giai đoạn trong khoảng 20-40 ngày (Uno và Kwon, 1969), sau đó chúng sẽ biến thái thành hậu

ấu trùng và bắt đầu sống đáy Trong vòng vài tuần, hậu ấu trùng có xu hướng di chuyển ngược dòng vào các vùng nước ngọt, ở đó chúng sẽ sinh trưởng và thành thục (George, 1969; Ling, 1969) Tôm con có khả năng di chuyển ngược dòng đến 200 km

từ vùng nước lợ vào nội địa (Ling, 1969)

Trang 22

Hình 2.2 Vòng đời của tôm càng xanh (Nguồn: New và Shinghohka, 1985)

2.2.5 Đặc điểm sinh sản

2.2.5.1 Phân biệt đực cái tôm càng xanh

Theo Lương Đình Trung (1999), một số đặc điểm phân biệt tôm càng xanh đực và

cái như sau:

- Phân biệt đực cái khi tôm chưa thành thục: Chính giữa đốt bụng thứ nhất của con

đực có một gai nhọn, dùng ngón tay để gợi có thể cảm nhận được Ngoài ra, bằng mắt

thường chúng ta cũng dễ dàng nhận biết trên chân bụng thứ 2 của tôm đực phụ bộ giao

vĩ, gồm 2 nhánh: nhánh trong và nhánh phụ trong Ở tôm cái không có những đặc

điểm này

- Khi tôm thành thục, đặc điểm để phân biệt tôm đực và cái như ở bảng sau:

Bảng 2.1 Phân biệt đực cái khi tôm thành thục (Lương Đình Trung, 1999)

- Đôi chân bò thứ 2 (càng tôm) rất lớn,

chiều dài càng dài hơn chiều dài thân

- Lỗ sinh dục mở miệng ở chân bò thứ 3

Ống dẫn tinh mở miệng ở phía trong gốc

chân bò, hình thành mấu lồi hình cầu

Trang 23

- Giáp bụng thứ 2 tương đối hẹp viền

xung quanh, chi trong của chân bụng thứ

2 có một chi phụ hình que

- Giáp bụng thứ 2 rất rộng Khoảng cách giữa của gốc chân bò thứ 4 và thứ 5 rộng Phần giữa chân bụng thứ 3 và thứ

4 cong vào phía trong, giáp bụng kéo dài hình thành xoang ôm trứng

Hình 2.3 Các đặc điểm phân biệt tôm càng xanh đực và cái: I - Mặt cắt ngang đốt

bụng thứ nhất; II - Mặt dưới đốt bụng thứ nhất và thứ hai; III - Chân bụng thứ 2

2.2.5.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng, ấp trứng

 Thành thục

Trong tự nhiên, tôm thành thục và giao vĩ xảy ra hầu như quanh năm nhưng có tập trung vào những mùa chính tùy nơi Ở đồng bằng sông Cửu Long, có 2 mùa tôm sinh sản chính là khoảng tháng 4 – 6 và tháng 8 – 10 Tôm cái thành thục lần đầu ở khoảng 3 – 3,5 tháng kể từ hậu ấu trùng 10 – 15 ngày (PL10-15) Kích cỡ tôm nhỏ nhất đạt thành thục đã được phát hiện là khoảng 10 – 13 cm và 7,5 g Tuy nhiên, tuổi thành thục và kích cỡ thành thục của tôm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi trường

và thức ăn Trong quá trình thành thục, buồng trứng trải qua 4 giai đoạn phát triển trong vòng 14 – 20 ngày Đặc điểm của các giai đoạn phát triển như sau:

Trang 24

- Giai đoạn I: Chưa thành thục Buồng trứng nhỏ, trong suốt, nằm ở vùng chót sau của khoang giáp đầu ngực Trứng có hình cầu với nhân rõ ràng và nguyên sinh chất trong suốt Đường kính trứng đạt 0,064 – 0,128 mm

- Giai đoạn II: Chớm thành thục Buồng trứng chiếm khoảng ¼ đến ½ chiều dài khoang giáp đầu ngực và có màu vàng Trứng hơi ngà ngà do có noãn hoàng trong nguyên sinh chất Nhân không thấy rõ, trứng có đường kính 0,191 – 0,447 mm

- Giai đoạn III: Thành thục Buồng trứng phát triển hơn và chiếm hơn ¾ chiều dài khoang đầu ngực, có màu vàng cam Trứng hơi đục, nhân không thấy được do hình thành noãn hoàng Trứng có đường kính 0,319 – 0,545 mm

- Giai đoạn IV: Chín muồi Buồng trứng chiếm toàn bộ khoang giáp đầu ngực, màu vàng sậm Trứng có hình cầu, đục do noãn hoàng tích tụ nhiều Đường kính trứng 0,447 – 0,766 mm

 Giao vĩ

Khi buồng trứng đạt giai đoạn IV, tôm cái lột xác tiền giao vĩ Trước đó vài ngày, tôm cái giảm ăn và giảm hoạt động trong khi tôm đực vẫn bắt mồi bình thường Sau khi lột xác, tôm cái có vỏ mềm, màu vàng nhạt thay vì màu hơi xanh như lúc bình thường Quá trình lột xác tiền giao vĩ của tôm cái sẽ tiết ra hormon có tác dụng kích thích tôm đực tìm đến Sự hiện diện của tôm đực còn giúp bảo vệ tôm cái mới lột khỏi

bị các tôm cái khác tấn công Tuy nhiên, nếu có sự hiện diện của nhiều tôm đực, chúng

sẽ tấn công lẫn nhau và tôm đực yếu sẽ rút lui

Sau khi tôm cái lột xác 1 – 22 giờ, thường 3 – 6 giờ, tôm bắt đầu giao vĩ Tôm đực lúc này vẫn ở trạng thái vỏ cứng, quá trình giao vĩ của tôm có thể chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn tiếp xúc, giai đoạn tôm đực ôm giữ tôm cái, giai đoạn tôm đực trèo lên lưng tôm cái, giai đoạn cuối Ở giai đoạn cuối, trong vòng 20 – 30 giây, con đực chuyển túi tinh vào túi chứa tinh của tôm cái

Quá trình giao vĩ xảy ra vào ban đêm Toàn bộ quá trình tiếp xúc và giao vĩ xảy

ra trong vòng 20 – 35 phút Sau khi giao vĩ, tôm đực nằm cạnh tôm cái khoảng 5 – 10 phút Tôm đực bảo vệ tôm cái vốn còn vỏ mềm khỏi bị tôm khác tấn công Tôm cái ở trong tình trạng chuẩn bị để đẻ Chúng dùng đôi càng để sắp xếp lại các lông tơ ở các chân ngực và chân bụng và chỉnh lại túi chứa tinh trước khi đẻ

Trang 25

Tùy vào kích cỡ và trọng lượng của tôm cũng như chất lượng và số lần tham gia sinh sản của chúng mà sức sinh sản của tôm có thể từ 7.000 – 503.000 trứng Thông thường khoảng 20.000 – 80.000 trứng Trung bình, sức sinh sản tương đối của tôm khoảng 500 – 1.000 trứng/g trọng lượng tôm Tuy nhiên, tôm nuôi trong ao hồ, sức sinh sản của chúng có thấp hơn, trung bình 300 – 600 trứng/g trọng lượng Tôm cái có thể tái phát dục và đẻ lại sau 16 – 45 ngày hay có thể chỉ sau 7 ngày Tùy trường hợp, chúng có thể tái phát dục và đẻ lại sau 5 – 6 lần Sức sinh sản của tôm cũng thay đổi theo các lần đẻ trứng của tôm

 Ấp trứng

Trong quá trình ấp trứng, tôm cái thường dùng chân bụng quạt nước để tạo dòng nước, làm thoáng khí cho trứng Tôm cũng thường dùng các chân ngực để loại bỏ những trứng hư hay vật lạ dính vào khối trứng Tùy theo nhiệt độ ấp mà thời gian ấp trứng có thể từ 15 – 23 ngày

(Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.2.5.3 Quá trình phát triển phôi

Trứng mới đẻ ra có hình elip, có kích cỡ khoảng 0,6 – 0,7 mm Trứng được thụ tinh sau khi đi qua túi chứa tinh trong quá trình đẻ trứng Trứng thụ tinh bắt đầu phân cắt nhân đầu tiên sau 4 giờ Lần phân chia tiếp theo khoảng 1 – 3 giờ Thời gian giữa các lần phân chia nhân sau đó sẽ ngắn dần trong quá trình phát triển của phôi Sự phân chia nhân hoàn thành sau 24 giờ

Trang 26

Quá trình giảm phân xảy ra khi nhân phân cắt lần thứ ba Ở các giai đoạn phân cắt đầu tiên, nhân nằm sâu trong trứng Tuy nhiên, từ giai đoạn phôi bì trở đi, nhân chuyển

ra gần mặt ngoài hơn Đĩa mầm xuất hiện ở mặt bụng của phôi vào ngày thứ hai, quá trình vị hóa xảy ra sau khi hình thành bì Một dãy mầm hình chữ V xuất hiện và phân biệt với phôi bì, chiếm phần lớn bề mặt bụng và đó là vị trí của phôi đang phát triển Ngày thứ ba, vùng phôi được hình thành và phôi phát triển sang giai đoạn phôi Nauplius

Sau 80 giờ, các phụ bộ của Nauplius bắt đầu phát triển Ngày thứ năm, hình thành phụ bộ đầu và các nhú đuôi Ngày thứ bảy, điểm mắt bắt đầu phát triển và nhú đuôi trở thành gai đuôi Từ ngày thứ tám, bắt đầu hình thành giáp đầu ngực, mắt có sắc tố, ruột hình thành và tim bắt đầu đập Ngày thứ 12, phôi nằm theo dọc trứng và ấu trùng phát triển đến khi nở

Theo sự phát triển của phôi, trứng dần dần chuyển từ màu vàng nhạt sang vàng cam, sau đó có màu xám và khi sắp nở có màu xám đen Sự thay đổi màu sắc này tương ứng với quá trình tiêu hết noãn hoàng (màu vàng) và hình thành phôi với mắt to màu đen Sau 17 – 23 ngày, trứng sẽ nở và quá trình nở hoàn thành sau 4 – 6 giờ Khi

nở, tôm mẹ cử động chân bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài

(Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.2.5.4 Quá trình phát triển ấu trùng

Ấu trùng mới nở ra sống phù du, có tính hướng quang mạnh và cần nước lợ (6 – 16‰) để sống và phát triển Ấu trùng sẽ chết sau 3 – 4 ngày nếu không được sống trong nước lợ Ấu trùng bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước

Ấu trùng có tính hướng quang mạnh, chúng bơi lội gần sát mặt nước thành từng đám Ấu trùng ăn liên tục, thức ăn bao gồm các loại động vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng các động vật thủy sinh Ấu trùng trải qua 11 lần lột xác và biến thái để hình thành hậu ấu trùng

Trang 27

Bảng 2.2 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969)

Mắt chưa có cuống

Mắt có cuống

Xuất hiện chân đuôi (Uropod)

Có 2 răng trên chủy, đôi chân có 2 nhánh, có lông tơ Telson hẹp và kéo dài ra

Mầm chân bụng xuất hiện

Chân bụng có 2 nhánh, chưa có lông tơ

Chân bụng có lông tơ

Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong

Có 3-4 răng trên chủy

Răng xuất hiện hết nửa trên chủy

Răng xuất hiện cả trên và dưới chủy, có tập tính như tôm lớn

(Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.2.5.5 Quá trình phát triển hậu ấu trùng

Giai đoạn hậu ấu trùng (Postlarvae), tôm có hình dạng và tập tính sống như tôm lớn Chúng bắt đầu sống đáy, bám vào nền, vật bám hay cây cỏ Postlarvae bắt mồi chủ động, thức ăn của Postlarvae bao gồm các loại côn trùng thủy sinh, giun nước, các miếng nhỏ nhuyễn thể như: ốc, sò, mực, tôm cá, xác bã động thực vật

Giai đoạn hậu ấu trùng (18 – 30 mm) có thể được nhận biết thông qua những sọc ngang trên carapace Đây là điểm đặc trưng của loài Các sọc này sẽ biến mất khi tôm đạt kích cỡ 75 – 90 mm Tuy nhiên, các vệt như vòng đai màu sậm xuất hiện trên các đốt bụng và tồn tại đến tôm trưởng thành (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng

Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: kích cỡ của tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng

Trang 28

Bảng 2.3 Chu kỳ lột xác của tôm ở các giai đoạn khác nhau (ở nhiệt độ 280C) (Sandifer và Smith, 1985)

Trọng lượng (g) Số ngày giữa các

- Giai đoạn tiền lột xác: Chất canxi ở vỏ cũ bị hấp thu làm cho vỏ mềm đi Vỏ mới bắt đầu hình thành dưới lớp vỏ cũ Giai đoạn này mất vài giờ đến 3 – 5 ngày tùy giai đoạn của tôm

- Giai đoạn lột xác: Vỏ cũ nức ra trên mặt lưng nơi tiếp giáp giữa phần ngực và phần bụng Phần đầu ngực và các phụ bộ đầu ngực và tiếp theo là toàn bộ cơ thể rút ra khỏi vỏ cũ Quá trình lột vỏ mất khoảng 10 phút Thời gian này cơ thể hấp thu nhiều nước qua mang làm tăng nhanh kích cỡ

- Giai đoạn hậu lột xác: Là quá trình làm cứng vỏ mới thông qua sự canxi hóa Gai chủy chưa cứng Tôm không thể cử động đôi càng nếu đưa ra khỏi nước Giai đoạn sau, vỏ và gai chủy cứng dần Tuy nhiên, sắc tố trên viền của gai chủy và tấm bụng chưa hình thành Giai đoạn này mất vài giờ đến 3 – 5 ngày tùy theo kích cỡ của tôm

- Giai đoạn giữa chu kỳ lột xác: Giai đoạn này kéo dài, nước trong cơ thể dần dần được thay thế bởi sự phát triển của cơ Các chất khoáng và chất vô cơ khác cũng dần dần được tích lũy Vỏ cứng, sắc tố hình thành trên viền bên của các đốt bụng Thời gian của giai đoạn này thay đổi tùy theo giai đoạn của tôm

Không giống như các loài cá, sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng của tôm cũng như các loài giáp xác khác không tăng liên tục mà theo hình bậc thang Sự tăng trưởng của tôm tùy thuộc nhiều vào giai đoạn, giới tính, điều kiện ương nuôi như: môi trường, mật độ nuôi và dinh dưỡng

Trang 29

 Tôm nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn

 Tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái, đặc biệt là về giai đoạn sau

 Tôm được bổ sung thức ăn động vật lớn nhanh và chậm thành thục hơn so với tôm ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn

Trong điều kiện nuôi, tôm có thể đạt 35 – 40g sau 6 tháng nuôi và 70 – 100g sau 8 tháng nuôi (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.2.7 Đặc điểm dinh dưỡng

Đối với ấu trùng giáp xác, thức ăn tự nhiên ban đầu của chúng chủ yếu là thực vật phiêu sinh, hoặc thực vật phiêu sinh kết hợp với động vật phiêu sinh Ở giai đoạn này tôm không bắt mồi chủ động mặc dù thị giác của chúng tốt Chúng hầu như bắt mồi bơi ngẫu nhiên; thức ăn tươi sống di chuyển hầu như liên tục trong cột nước tạo nên cơ hội tốt cho ấu trùng bắt gặp thức ăn Kích thước của thức ăn sống cũng rất quan trọng,

từ giai đoạn I – III ấu trùng chỉ có thể ăn được ấu trùng artemia mới nở có kích thước khoảng 500 micromet Moina cũng có thể bổ xung làm thức ăn nhưng phải sau giai

đoạn IV (Trần Thị Thanh Hiền, 2003)

Ấu trùng mới nở cho đến khi lột xác lần thứ nhất (1 – 2 ngày) tự dưỡng bằng noãn

hoàng Từ sau khi lột xác lần thứ nhất ấu trùng ăn được ấu trùng artemia và động vật

phù du Sau 5 – 6 lần lột xác bắt đầu ăn mảnh vụn của thịt cá, nhuyễn thể, trứng cá Từ tôm bột (7,68 mm) bắt đầu ăn như tôm trưởng thành, ăn tạp thiên về động vật Tôm ăn

cả động vật tươi sống, động vật chết; các loại côn trùng dưới nước như: giun, ấu trùng

và động vật nhuyễn thể nhỏ, thực vật thủy sinh mềm đều là thức ăn thích hợp của tôm Tôm càng xanh rất phàm ăn, trong điều kiện thiếu mồi ăn chúng thường ăn lẫn nhau vào lúc vừa lột xác xong, vỏ còn mềm (Lương Đình Trung, 1999)

Thức ăn nhân tạo cho tôm phải phù hợp với tập tính bắt mồi của chúng Màu sắc thức ăn, hình dạng, kích cỡ, và mùi vị của thức ăn là những yếu tố đầu tiên cần phải đáp ứng để kích thích và dễ dàng cho tôm bắt mồi Ngoài những yếu tố trên, vấn đề cân bằng các chất dinh dưỡng như: đạm, chất bột đường, chất béo, vitamin và khoáng chất trong thức ăn là vô cùng quan trọng (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

Trang 30

2.2.8 Yêu cầu về môi trường sống

- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho hầu hết các giai đoạn của tôm dao động trong khoảng 26-310C, tốt nhất là 28-300C Nhiệt độ thấp dưới 130C hay trên 380C gây chết tôm Khi nhiệt độ ngoài khoảng 22-330C hoạt động sinh trưởng và sinh sản của tôm sẽ

bị suy giảm Nhiệt độ cao thường làm tôm sớm thành thục và kích cỡ nhỏ

Theo Rao (1991), tôm càng xanh có giới hạn chịu đựng nhiệt độ rộng, từ 18-340C nhưng khoảng 27-320C được cho là tối ưu Chavez Justo (1991) nhận thấy sức tăng trưởng và tần suất lột xác tiền giao vĩ của tôm cái được tăng lên rõ rệt khi nâng nhiệt

độ nuôi vỗ từ 240C lên 320C Chavez Justo và ctv (1991) cho rằng khi duy trì thời gian chiếu sáng là 12 giờ/ngày làm tăng tần suất lột xác tiền giao vĩ của tôm cái hơn là ở chế độ chiếu sáng 9 giờ/ngày

- Độ mặn: Giai đoạn ấu trùng cần độ mặn 6-16‰, tốt nhất là 10-12‰ Các giai đoạn tôm lớn hơn cần độ mặn thấp dưới 6‰ Tôm giống và tôm lớn cần sống trong nước ngọt để sinh trưởng tốt nhất, tuy nhiên, chúng có thể chịu độ mặn đến 25‰ Ở độ mặn 30‰ hay trên, tôm giống chết rất nhanh do quá trình điều hòa ấp suất thẩm thấu

bị phá vỡ hoàn toàn Khả năng chịu đựng độ mặn của tôm còn tùy thuộc vào nhiệt độ nước Ở độ mặn 2-5‰ tôm lớn tương đối nhanh hơn so với ở 0‰ và nhanh hơn nhiều

so với 15‰ Trong nuôi tôm, độ mặn tốt nhất không quá 10‰

- Oxy: Nhu cầu oxy cho hô hấp của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: giai đoạn của tôm, nhiệt độ, độ mặn, Đối với tôm con, oxy tối thiểu phải trên 2,1 ppm ở nhiệt

độ 230C, trên 2,9ppm ở 280C và 4,7ppm ở 330C Tôm lớn cần nhiều oxy hơn tôm nhỏ Trong sản xuất giống, oxy nên được duy trì trên 5ppm

- Đạm: Dạng đạm đầu tiên được bài tiết ra bởi tôm và các loài giáp xác nói chung

là Ammonia vốn rất độc Thông qua quá trình chuyển hóa của vi khuẩn, Ammonia sẽ chuyển thành Nitrite cũng độc cho tôm, sau đó chuyển thành dạng đạm Nitrate không độc Tùy theo pH và nhiệt độ, Ammonia sẽ tồn nhiều hay ít dưới dạng khí NH3 Nồng

độ NH3 càng tăng khi pH và nhiệt độ càng tăng Trong sản xuất giống, hàm lượng đạm nên được duy trì ở mức dưới 0,1ppm đối với đạm Nitrite và dưới 1ppm đối với đạm Amôn

- pH: Độ pH thích hợp nhất cho sinh trưởng của tôm từ 7,0 – 8,5 pH dưới 6,5 hay trên 9,0 kéo dài không tốt cho tôm ở tất cả các giai đoạn

Trang 31

- Độ cứng: Tôm cần các loại chất khoáng như Canxi, Magiê cho quá trình hình thành vỏ mới và lột xác Tuy nhiên, khi độ cứng cao hơn 300ppm sẽ làm tôm chậm lớn, dễ bệnh do các nguyên sinh động vật bám Độ cứng thích hợp nhất cho ương nuôi tôm trong khoảng 50 – 150ppm Đối với ương ấu trùng, độ cứng thấp dưới 50ppm có thể gây ra hiện tượng vỏ mềm (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.3 Giới Thiệu Các Hệ Thống Sản Xuất Giống Tôm Càng Xanh

2.3.1 Hệ thống nước trong-hở (Open-water system)

Qui trình này được khởi xướng bởi Ling vào năm 1969 và được hoàn thiện bởi Aquacop từ năm 1977 Nguyên tắc của qui trình là bảo đảm nước trong sạch bằng cách thay nước hằng ngày Đặc điểm của qui trình này là có mật độ ương cao, thay nước và hút cặn hằng ngày Qui trình này được ứng dụng ở nhiều nước, cũng là qui trình được ứng dụng chủ yếu ở nước ta trước đây Ưu điểm của qui trình này là thường đạt năng suất cao tuy nhiên lại tốn nhiều nước biển để thay nước mỗi ngày và tốn nhiều công lao động (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.3.2 Hệ thống nước xanh (Green water system)

Được nghiên cứu bởi Fujimura từ năm 1966 và được hoàn thiện vào năm 1974 (FAO, 2002) Qui trình này đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Nguyên tắc của qui trình này là dùng tảo để ổn định môi trường nước ương Đặc điểm chính của

qui trình là thường xuyên bổ sung tảo Chlorella thuần vào bể ương để duy trì màu

nước xanh liên tục Qui trình có ưu điểm là hạn chế thay nước so với qui trình nước trong hở, môi trường nước ổn định nhờ có tảo Tuy nhiên, mật độ ương thấp hơn nước trong, kỹ thuật nuôi tảo thuần khá phức tạp và tốn kém Tảo thuần cho vào bể ương thường không bền và phải được bổ sung liên tục (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.3.3 Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified static green water system)

Qui trình này được đề xướng từ năm 1986 bởi Ang, trên cơ sở cải tiến mô hình nước xanh trước đó Nguyên tắc của qui trình là cho phép vi sinh vật phát triển tự

nhiên trong bể để tự ổn định môi trường nước Vỏ Artemia được cho trực tiếp vào bể

để làm giá thể cho các vi sinh vật phát triển Hệ thống này có nhiều ưu điểm quan trọng là không phải thay nước, không vệ sinh bể và không bổ sung thêm tảo trong suốt quá trình ương (tảo chỉ được cho một lần trước khi thả ấu trùng), hệ thống rất đơn

Trang 32

giản, chi phí thấp, dễ áp dụng Hệ thống nước xanh cải tiến còn tương đối mới nhưng cũng cho thấy rất triển vọng (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.3.4 Hệ thống nước trong tuần hoàn (Closed-water system)

Qui trình này do một số tác giả như Sandifer (1977), Menasveta (1980), Singholka (1980) nghiên cứu và được căn bản hoàn chỉnh để đưa vào sản xuất đại trà từ năm

1984 Hệ thống này được ứng dụng ở nhiều nơi Nguyên tắc hoạt động của qui trình là

ổn định môi trường nước ương nhờ hệ thống lọc sinh học Đặc điểm cơ bản của hệ thống này là dùng bể lọc sinh học để lọc nước thải từ bể ương và tái sử dụng Đây là qui trình có kỹ thuật cao, đầu tư cao, thiết bị đồng bộ, phức tạp khi lắp đặt nhưng đơn giản khi vận hành, tiết kiệm được nước và lao động Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố thì rất khó xử lí (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)

2.3.5 Hệ thống ương trong ao đất (Earthen pond system)

Được phát triển bởi nhóm nhà khoa học thuộc cơ quan nuôi trồng thủy sản ven biển tỉnh Phetchaburi, bộ Thủy sản Thái Lan (Tunsutapanich và ctv., 1994) Trong qui trình này, ta cần gây nuôi thức ăn tự nhiên cho ấu trùng; chất lượng nước được ổn định bởi sự cân bằng sinh thái do đó không cần thay nước Ao ương được lắp đặt hệ thống thổi khí để cung cấp oxy; các yếu tố thủy hóa được thu thập thường xuyên nhằm có những điều chỉnh hợp lí cho sự cân bằng sinh thái của ao Ấu trùng sẽ sử dụng động

vật phù du tự nhiên trong ao và Nauplius Artemia và Artemia trưởng thành Thời gian

ương của mô hình này kéo dài hơn so với các mô hình trên nhưng ấu trùng lại có tỉ lệ sống rất cao, có thể đến 88% (Tunsutapanich và ctv., 1994; trích bởi Trần Hữu Lộc, 2006)

2.4 Một Số Bệnh Thường Gặp Trên Tôm Càng Xanh

2.4.1 Bệnh thường gặp trong quá trình sản xuất giống

Trong sản xuất giống, việc phòng bệnh là chủ yếu, trị bệnh chỉ là phương sách cuối cùng, thường ít hiệu quả Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), một số bệnh thường gặp trên ấu trùng như sau:

2.4.1.1 Bệnh hoại tử cơ (Idiopathic Muscle Necrosis – IMN)

Nguyên nhân: Bệnh hoại tử cơ ở tôm càng xanh được biết có liên hệ đến các yếu tố gây sốc của môi trường như: sự biến đổi độ mặn và nhiệt độ, sự giảm oxy, sự hoạt động quá độ và mật độ quá dày

Trang 33

Dấu hiệu bệnh: Trên cơ xuất hiện nhiều điểm đục lan rộng và có thể gây tử vong ấu trùng và hậu ấu trùng hàng loạt kèm với hiện tượng hoại tử các cơ

Cách phòng và trị bệnh: Giữ môi trường ương nuôi ổn định, tránh gây sốc Kịp thời điều chỉnh môi trường nước bể ương khi bệnh xảy ra

2.4.1.2 Bệnh hoại tử cơ do vi khuẩn

Nguyên nhân: Do tôm bị nhiễm khuẩn như: vi khuẩn dạng sợi Leucothix spp., trực

khuẩn và cầu khuẩn trên các tơ lông, mang và các phụ bộ

Dấu hiệu bệnh: Bệnh cấp tính ấu trùng chuyển sang màu xanh lơ nhạt, dạ dày rỗng,

ấu trùng yếu chìm xuống đáy bể và có những chấm nâu trên râu và các phụ bộ mới hình thành Ấu trùng càng nhỏ, nhất là ở giai đoạn IV – V thì bệnh càng nghiêm trọng Cách phòng trị: Vệ sinh tẩy trùng bể nuôi kỹ Chăm sóc quản lý tốt, hạn chế gây sốc, gây thương tích tôm Đối với ấu trùng và hậu ấu trùng, có thể dùng EDTA 10-50 mg/l, formol 10-25 mg/l, furazolido 1 mg/l, nitrofurazon 1 mg/l, erythromycine 0,5-1,3 mg/l để trị

2.4.1.3 Bệnh giữa chu kỳ ấu trùng (Larval Mid Cycle Disease – MCD)

Nguyên nhân: Chưa xác định được nguyên nhân nhưng có lẽ là do nhiễm khuẩn tự

nhiên, nhất là vi khuẩn Enterobacter aerogenes (vi khuẩn sinh bọt khí trong đường

ruột (Johnson, 1978; Brock, 1988))

Dấu hiệu bệnh: Bệnh này thường xảy ra trong các giai đoạn ấu trùng từ IV – XI Biểu hiện cấp tính của bệnh này tương tự như bệnh hoại tử do vi khuẩn Ấu trùng bỏ

ăn và những cá thể bệnh sẽ bị các con khỏe ăn thịt Ấu trùng nhiễm bệnh thường có màu xám xanh lơ, bơi lội yếu ớt và thường bơi theo hình xoắn ốc

Cách phòng trị: Thực hiện tốt vệ sinh trại giống, nên chú ý đến vấn đề dinh dưỡng,

đặc biệt bảo đảm chất lượng Artemia sử dụng thật tốt

2.4.1.4 Bệnh phát sáng

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Vibrio harveyi gây ra

Dấu hiệu bệnh: Ấu trùng ở giai đoạn nhỏ rất mẫn cảm đối với bệnh phát sáng Biểu hiện cấp tính của bệnh này là sự phát sáng ở những ấu trùng nhiễm bệnh và có thể quan sát rất dễ dàng lúc ban đêm Ấu trùng nhiễm bệnh cũng bị vi sinh vật bám, đục

cơ và bơi lội chậm chạp Tử vong có thể đến 100%

Trang 34

Cách phòng trị: Vệ sinh bể ương và các dụng cụ thật kỹ Xử lý nước ương bằng

EDTA 2-5 mg/l Xử lý tảo nuôi bằng Oxytetracycline 30-50 mg/l Xử lý trứng Artemia

bằng chlorine 30-50 mg/l trong 1 giờ Có thể dùng thuốc kháng sinh đặc trị bệnh phát sáng để trị

Cách phòng trị: Cho ăn thêm đậu nành hay thức ăn có bổ sung lecithin cùng với

chất lượng nước tốt sẽ giảm bệnh Tăng cường cho ăn Artemia

2.4.1.6 Bệnh do Protozoa

Nguyên nhân: Các loại Protozoa có thể gây bệnh cho tôm là Zoothamnium sp.,

Epistylis sp., Vorticella sp và Acineta sp

Dấu hiệu bệnh: Ấu trùng bị nhiễm Protozoa có màu hơi mờ đục Nếu nhiễm nhẹ bệnh có thể hết sau khi lột xác, nhưng nếu nhiễm nặng sẽ ảnh hưởng đến quá trình lột xác tăng trưởng và làm chết tôm

Cách phòng trị: Khi quan sát thấy Protozoa trên ấu trùng thì phải cải thiện ngay

chất lượng nước Trị bệnh Zoothamnium trên ấu trùng bằng cách dùng formol 20-30 mg/l xử lý trong 24 giờ (Roegge và ctv, 1979) Trị Epistylis bằng cách nhúng ấu trùng

trong acid acetic 2 ppt trong 1 phút, lập lại nhiều lần (Sindermann, 1977)

2.4.2 Bệnh thường gặp trong nuôi tôm thương phẩm

2.4.2.1 Bệnh đốm nâu

Sau khi nuôi 2-3 tháng trở đi, trên cơ thể tôm xuất hiện các đốm màu nâu và từ từ chuyển sang màu đen, thường khi xuất hiện bệnh sẽ bị ăn mòn các phần phụ như: đuôi, chân bụng, râu, trên thân tôm Tôm bị bệnh yếu, hoạt động chậm chạp, con bị nặng sẽ chết

Bệnh đốm nâu do tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn Aeromonas hydrophila,

Pseudomonas sp., Aeromonas sp

Trang 35

Khi tôm bị bệnh, thay dần nước ao, trộn thuốc Oxytetracyline với nồng độ 0,1g/kg thức ăn, ngày cho ăn một lần, cho ăn 5-10 ngày bệnh sẽ khỏi Kiểm soát phòng ngừa bệnh đốm nâu bao gồm: cải thiện môi trường nuôi thông qua sự quản lý, chăm sóc và cho tôm ăn đầy đủ dinh dưỡng, đáy ao phải bằng phẳng, tăng cường chỗ trú ẩn cho tôm, hạn chế tối đa sự tập trung của tôm để chống hiện tượng ăn thịt lẫn nhau

2.4.2.2 Bệnh đen mang (Black Gill Disease)

Bệnh là nguyên nhân của các hợp chất kết tủa và những sản phẩm thải chứa Nitrogen, những chất này có quan hệ mật thiết với sự thành lập sắc tố melanin của mang (Johnson, 1982)

Kích thích tôm lột xác để loại bỏ những chất màu đen ở mang Quản lý môi trường nước tốt và thay nước thường xuyên

2.5 Khái Quát Về Tỉnh Bến Tre

2.5.1 Giới thiệu chung

Trang 36

mà thành (gồm sông Tiền dài 83 km, sông Ba Lai 59 km, sông Hàm Luông 71 km, sông Cổ Chiên 82 km)

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô Nhiệt độ trung bình năm từ 26 - 27oC Lượng mưa trung bình năm từ 1.250 - 1.500 mm

2.5.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bến Tre

2.7.2.1 Vị trí địa lý

Hình 2.4 Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre

Nhìn trên bản đồ, tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt, mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xòe rộng ra ở phía đông Diện tích tự nhiên của tỉnh có 2.315,01 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung

là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km Bốn con sông lớn: Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc và chia Bến Tre thành

ba phần: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh có phù sa màu mỡ, nhiều vườn cây trái sum suê

Trang 37

+ Điểm cực Nam nằm trên vĩ độ 9o48’ Bắc

+ Điểm cực Bắc nằm trên vĩ độ 10o20’ Bắc

+ Điểm cực Đông nằm trên kinh độ 106o48’ Đông

+ Điểm cực Tây nằm trên kinh độ 105o57’ Đông

2.7.2.2 Địa hình

Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên

Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 1 – 2 m Ở vùng đất giồng, cục bộ có nơi cao hơn địa hình chung quanh từ 3 – 5

m, rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông Bốn bề đều

có sông nước bao bọc

2.7.2.3 Đất đai – thổ nhưỡng

Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông Với chiều cao 3 - 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung

và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ

2.7.2.4 Khí hậu

Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26oC – 27oC Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới 20oC Ngoài ra, nhờ có gió đất liền, nên biên độ dao động ngày đêm giữa các khu vực bị giảm bớt

Trang 38

Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió Tây Nam và đông bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt Mùa gió Đông Bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió Tây Nam là thời

kỳ mưa ẩm Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2 - 6% tổng lượng mưa cả năm

2.7.2.5 Chế độ thủy văn

Nằm kề bên biển đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào Tuy mức độ ở mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước ở các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống Biên độ thủy triều: chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 – 3,5m Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1m

2.5.3 Hiện trạng kinh tế - xã hội

2.7.3.1 Đặc điểm kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: năm 2004 là 10,08%, năm 2005 là 11,24% Bình quân tốc độ tăng trưởng trong 5 năm (2001 - 2005) đạt 9,22%, cao nhất từ trước đến nay (1996 - 2000 là 6,18%) Tăng thu nhập bình quân đầu người từ 4,5 triệu đồng (2001) lên 7,4 triệu đồng (2005) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá nhanh theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 314 triệu USD Tăng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 14.767 tỷ đồng, vuợt 47,4% so mục tiêu

Với những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, Bến Tre đã chủ động hội nhập với các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh thành trong cả nước; tiếp tục có những chính sách kêu gọi đầu tư hấp dẫn về các lĩnh vực như: thủy sản, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, du lịch và đặc biệt là các dự án chế biến thủy sản, trái cây, các sản phẩm từ dừa, cầu đường, khu công nghiệp, du lịch… ; đồng thời thu hút nhân tài, nhằm đưa kinh tế tỉnh nhà phát triển nhanh và bền vững hơn

Trang 39

Nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang bước vào công đoạn xây dựng cuối và bước vào hoạt động như: Khu CN Giao Long, Cụm CN An Hiệp… Đây là cơ sở và tiền đề để Bến Tre tạo ra những bước phát triển vững chắc trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế trong thời gian tới

2.7.3.2 Văn hóa - xã hội

Bến Tre là quê hương Đồng khởi, vùng đất này đã sinh ra nhiều anh hùng nổi tiếng: nữ tướng Nguyễn Thị Định, liệt sĩ Trần Văn Ơn Đây còn nơi sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng của đất nước như: nhà giáo Võ Trường Toản, học giả Phan Thanh Giản

- Vị Tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ đã để lại cho quê hương một gia tài đồ sộ hơn 500 bài thơ, bài văn Trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, báo chí, Bến Tre cũng đã sinh ra những người con có tên tuổi: Nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký - người làm báo đầu tiên ở Việt Nam, Sương Nguyệt Anh, Lê Hoằng Mưu Mảnh đất này còn đóng góp nhiều nghệ sĩ tài năng cho đất nước

Cuộc sống của người dân Bến Tre đang khởi sắc, hứa hẹn những vụ mùa bội thu Nhiều sản phẩm của xứ dừa đã bước ra thế giới, làm giàu cho quê hương trên con đường hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới

2.7.3.3 Cơ sở hạ tầng

Đường giao thông:

- Chiều dài bờ biển là 65 km, những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính, ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia; cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng 6.000 km là một lợi thế của Bến Tre trong phát triển giao thông thủy, hệ thống thủy lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hoá với các tỉnh lân cận

- Hệ thống giao thông đường bộ cũng có một vị trí đặc biệt quan trọng Cầu Rạch Miễu - công trình thế kỷ, là niềm mong ước của bao thế hệ người dân trong tỉnh - đang được gấp rút hoàn thành sẽ gối đầu lên hai bờ sông Tiền; cầu Hàm Luông nối liền cù lao Bảo, cù lao Minh

Hệ thống thủy lợi: được đầu tư khá hoàn chỉnh, chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp Một số tuyến kênh mương đã được đầu tư, nạo vét và đào mới theo yêu cầu Nhiều công trình thủy lợi đã được xây dựng trong toàn tỉnh, trong đó công trình quan trọng nhất là: Cống đập Ba Lai đã hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 2002

Trang 40

Mạng lưới điện: Năm 2000 điện lưới quốc gia đã phủ khắp toàn tỉnh Bến Tre, từ huyện, thị về các xã, các xóm, ấp nhà nào cũng có điện để thấp sáng và dùng trong sinh hoạt

2.6 Giới Thiệu Về Ngành Thuỷ Sản Tỉnh Bến Tre

2.6.1 Hiện trạng thủy sản Bến Tre

Năm 2007 hiện trạng ngành thủy sản tỉnh Bến Tre như sau:

- Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản: 41.850 ha

- Tổng sản lượng thủy sản đạt 175.032 tấn

 Sản lượng nuôi trồng: 99.966 tấn

 Sản lượng khai thác: 75.066 tấn

 Thành phẩm thủy sản chế biến đông lạnh: 24.532 tấn

 Giá trị ngoại tệ xuất khẩu: 65 triệu USD

2.6.2 Tình hình thực hiện các kế hoạch

2.7.2.1 Tình hình phát triển các đối tượng nuôi

Đối với tôm sú: Tổng diện tích nuôi đạt 31.608 ha, chiếm 75,5% diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh Trong đó, diện tích nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh vụ 1

là 5.842 ha, diện tích thả lại vụ 2 là 545 ha, năng suất bình quân đạt 5,53 tấn/ha mặt nước nuôi; diện tích nuôi quảng canh, tôm lúa, tôm rừng đạt 25.776 ha, năng suất bình quân 170 kg/ha

Đối với cá Tra thâm canh: diện tích nuôi tăng nhanh, đến nay toàn tỉnh có 600 ha

đã và đang đầu tư, diện tích đã thả giống là 495 ha, tăng gấp 5,1 lần so với cùng kỳ năm trước, diện tích đã thu hoạch 200 ha, năng suất bình quân 300 tấn/ha Sản lượng thu hoạch đạt 40.640 tấn, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước, chất lượng cá đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu

Đối với tôm càng xanh: Phong trào nuôi tôm càng xanh phát triển khá nhanh, nhất là mô hình nuôi tôm càng xanh liền canh liền cư trong mương vườn và nuôi xen trong ruộng lúa, các địa phương có nghề nuôi phát triển mạnh nhất là huyện Thạnh Phú và Mỏ Cày, mô hình này đang được triển khai nhân rộng cho các huyện còn lại trên địa bàn tỉnh Đặc biệt hình thức nuôi luân canh: 1 tôm sú, 1 tôm càng xanh – lúa phát triển rất nhanh ở huyện Thạnh Phú, từ 1.900 ha năm 2006 tăng lên 5.141 ha

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w