Đề tài được nghiên cứu dựa biểu giá thu thuế khai thác hàng tháng trên Hồ Trị An của Trung Tâm thủy sản Đồng Nai và ý kiến đánh giá thông qua phiếu điều tra của người dân sống hoặc làm v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
-oOo -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT SẢN LƯỢNG KHAI THÁC MỘT SỐ LOÀI CÁ
TỪ NĂM 1995 – 2007 VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ NĂM 2008
Trang 2KHẢO SÁT SẢN LƯỢNG KHAI THÁC MỘT SỐ LOÀI CÁ
TỪ NĂM 1995 – 2007 VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ NĂM 2008
Ở HỒ TRỊ AN – TỈNH ĐỒNG NAI
Thực hiện bởi
ĐÀO DUY ĐẲNG
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Thủy sản
GVHD: Tiến Sĩ NGUYỄN PHÚ HÒA
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 10/2008
Trang 3và đánh giá sự biến động sản lượng khai thác đối với các loài cá đối với các loài chép,
mè vinh, rô phi, trèn, leo, lăng, lóc, bống tượng từ năm 1995 đến năm 2007
Đề tài được nghiên cứu dựa biểu giá thu thuế khai thác hàng tháng trên Hồ Trị
An của Trung Tâm thủy sản Đồng Nai và ý kiến đánh giá thông qua phiếu điều tra của người dân sống hoặc làm việc trên hồ Trị An từ năm 1995 đến năm 2007 Kết quả, chúng tôi đã thống kê được 73 loài gồm 2 nhóm chính: nhóm thành phần cá thả nuôi
và nhóm thành phần cá tự nhiên Trong 73 loài này có 44 loài cá kinh tế (chiếm 72%)
So với thành phần cá năm 1983, chúng tôi không tìm 26 loài trong đó có 17 loài cá kinh tế (chiếm 27%)
Qua quá trình điều tra, chúng tôi thấy sản lượng cá khai thác được ở Hồ Trị An
đã và đang giảm sút Sự quan tâm không đúng mức từ phía chính quyền cùng với sự khai thác bừa bãi là nguyên nhân dẫn đến hậu quả này
Trang 4CẢM TẠ
Trong quá trình học tập tại trường và thực hiện đề tài, tôi xin chân thành cám ơn:
o Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm - Tp Hồ Chí Minh
o Ban Chủ Nhiêm Khoa Thủy Sản
o Cùng toàn thể Quý Thầy Cô trong khoa và ngoài khoa đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tại trường
Xin gởi lòng biết ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Phú Hòa đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này
Đồng thời, gởi lòng cám ơn chân thành đến:
o Tập thể cán bộ, công nhân viên Trung Tâm Thủy Sản Đồng Nai
o Tập thể cán bộ, công nhân viên Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản Đồng Nai
o Các Anh, các Chú, các Bác ở Trạm bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ Trị An
o Anh Mẫn, chị Hương, các chủ vựa tại các bến cá và các hộ ngư dân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập số liệu thực hiện đề tài
Xin cám ơn các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã cùng trao đổi, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian thực hiện đề tài
Cho con gởi lòng biết ơn sâu sắc đến Ba, Mẹ, người đã sinh thành nuôi dưỡng con đến ngày khôn lớn và dạy dỗ con nên người
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như về kiến thức, do bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn
Trang 5MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG TRANG TỰA
TÓM TẮT……… …ii
CẢM TẠ………iii
MỤC LỤC ……… iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG……… vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ……… … viii
Chương 1 GIỚI THIỆU…… ………… ……… 1
1.1 Đặt vấn đề……… ……… 1
1.2 Mục tiêu đề tài……….2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… ………3
2.1 Giới thiệu khái quát về hồ chứa……… ……….3
2.1.1 Định nghĩa……… ……… 3
2.1.2 Nuôi cá ở hồ chứa……… ……… 3
2.1.3 Khai thác ở hồ chứa……….………4
2.2 Hồ Trị An……… ……… 4
2.2.1 Lịch sử hình thành hồ……… ……….4
2.2.2 Vị trí địa lý……….……… 6
2.2.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn……… ……….6
2.2.4 Địa chất thổ nhưỡng……… ………… 7
2.2.5 Chế độ thủy lý, hóa, sinh của hồ……… ………8
2.2.6 Đặc tính thủy sinh vật……….……….8
2.2.7 Thảm thực vật……….……….9
2.2.8 Những hoạt động thủy sản của hồ……… ……… 9
2.2.8.1 Nghề nuôi……….………9
Trang 62.2.8.2 Khai thác thủy sản……….…….10
2.2.9 Các cơ quan quản lý hoạt động thủy sản trên hồ Trị An……… 11
2.2.9.1 Trung tâm thủy sản Đồng Nai 11
2.2.9.2 Chi cục thủy sản Đồng Nai ………13
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… ……….14
3.1 Thời gian và địa điểm……….…… 14
3.2 Đối tượng điều tra 3.3 Phương pháp nghiên cứu ……… ……….14
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu ……… ……… 14
3.3.2 Phương pháp tính sản lượng cá khai thác……… …… 15
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi……… ………16
3.4.1 Thành phần loài cá……….………16
3.4.2 Sản lượng cá khai thác……….……… 16
3.5 Phương pháp xử lý số liệu……… ….16
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… …………17
4.1 Thành phần loài cá ở hồ Trị An……… …………17
4.1.1 Thành phần loài cá được thả nuôi hằng năm……….…17
4.1.2 Thành phần loài cá tự nhiên năm 2008 với 1983 … 18
4.1.3 Thông tin về một số loài cá khai thác được ở Hồ Trị An 24
4.2 Sản lượng khai thác……… … 30
4.2.1 Sản lượng khai thác theo Trung Tâm Thủy Sản Đồng Nai… …….……30
4.2.1.1 Sản lượng khai thác cá thả nuôi……….………31
4.2.1.2 Sản lượng khai thác cá tự nhiên……….………33
4.2.2 Sản lượng khai thác sản lượng khai thác theo phiếu điều tra……….……35
4.2.2.1 Nhóm thành phần cá thả nuôi……….………36
4.2.2.1.1 Cá rô phi ……… ………36
4.2.2.1.2 Cá chép……… ……36
Trang 74.2.3.2 Nhóm thành phần cá tự nhiên………37
4.2.3.2.1 Cá mè vinh……… …37
4.2.3.2.2 Cá trèn………38
4.2.3.2.3 Cá leo……… …… …39
4.2.3.2.4 Cá lăng……… ………39
4.2.3.2.5 Cá lóc……….………40
4.2.3.2.6 Cá bống tượng………41
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… …………42
5.1 Kết luận……… …… ……42
5.2 Đề nghị……… ………42
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 43
PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1 Các thông số chính của hồ Trị An……… 5
Bảng 2.2 Các thông số môi trường hồ Trị An……… 8
Bảng 2.3 Số lựợng giống sổ sung và sản lượng khai thác hồ Trị An qua các năm……… 12
Bảng 4.1 Thành phần loài cá được thả nuôi trong hồ Trị An……… 17
Bảng 4.2 Thành phần loài cá tự nhiên năm 1983 và 2008……….18
Bảng 4.3 Mùa vụ khai thác một số loài cá 24
Bảng 4.4 Tỷ lệ đánh giá cá rô phi………36
Bảng 4.5 Tỷ lệ đánh giá cá chép……… 36
Bảng 4.6 Tỷ lệ đánh giá cá mè vinh 37
Bảng 4.7 Tỷ lệ đánh giá cá trèn……… 38
Bảng 4.8 Tỷ lệ đánh giá cá leo………39
Bảng 4.9 Tỷ lệ đánh giá cá lăng……… 39
Bảng 4.10 Tỷ lệ đánh giá cá lóc………40
Bảng 4.11 Tỷ lệ đánh giá cá bống tượng……… 41
Trang 9
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH NỘI DUNG TRANG
Hình 2.1 Bản đồ Hồ Trị An……… 4
Hình 4.1 Cyprinus carpio……… 24
Hình 4.2 Oreochromis spp 25
Hình.4.3 Ctenopharyngodon idellus 25
Hình 4.4 Cirrhinus mrigala 25
Hình 4.5 Labeo rohita 25
Hình 4.6 Aristichthys nobilis 26
Hình 4.7 Cichla ocellaris 26
Hình 4.8 Cyclocheilichthys repasson……… 26
Hình 4.9 Oxyeleotris marmoratus 27
Hình 4.10 Mystus mysticentus……… 27
Hình 4.12 Wallago attu……… 27
Hình 4.11 Masrognathus……….27
Hình 4.13 Channa striata ……….28
Hình 4.14 Labiobarbus spilopleura ……….28
Hình 4.15 Mystus sp 28
Hình 4.16 Morulius 28
Hình 4.17 Hyporhamphus unifasciatus 29
Hình 4.18 Notopterus notopterus 29
Hình 4.19 Ompok bimaculatus……… 29
Hình 4.20 Clarias sp 29
Trang 10DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ NỘI DUNG TRANG
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của việc thả giống đến sản lượng
khai thác hàng năm ……… 31
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Khi đề cập đến thủy vực hồ chứa, thường người ta nhằm vào mục đích chính là tích nước cho hoạt động thủy điện, thủy lợi hoặc cấp nước sinh hoạt cho nhân dân Việt Nam được biết có hơn 4.000 hồ chứa lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 340.000
ha (Nguyễn Thị Diệu Hiền, 2005).Với một diện tích rộng lớn như thế nghề cá hồ chứa đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản nước ta Hàng năm, các hồ chứa cung cấp một lượng sản phẩm thủy sản đáng kể được tiêu thụ trên thị trường, mang lại lợi nhuận cho ngư dân hoạt động thủy sản trên hồ, đồng thời giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động
Hồ Trị An với diện tích khoảng 32.400 ha Hồ được hình thành sau khi ngăn dòng sông Đồng Nai (tháng 7/1987) và bắt đầu dâng nước vào (tháng 10/1987) Về mặt tự nhiên, hồ Trị An được xây dựng để làm thủy điện và cấp nước sinh hoạt cho cư dân khu vực hạ lưu sông Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Về mặt kinh tế và xã hội, ngay từ những năm đầu mới ngập nước (1987 - 1988) đã cho thấy nguồn lợi thủy sản trong hồ phát triển dồi dào nên đã thu hút một lượng ngư dân các tỉnh thành trong
cả nước, cùng với Việt kiều Campuchia về đây sinh sống và tham gia hoạt động khai thác và nuôi thủy sản trên hồ
Tuy nhiên, những năm gần đây, do nhu cầu khai thác thủy sản cùng với lượng ngư dân tham gia khai thác và hoạt động nghề cấm ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp hơn đã làm cho nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong hồ càng giảm sút nghiêm trọng, cạn kiệt, tình hình an ninh xã hội ven hồ ngày càng nảy sinh phức tạp Trung tâm Thủy sản Đồng Nai, đại diện cho ngành chức năng của tỉnh, với công tác quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã chủ động can thiệp bằng cách thả bổ sung nguồn cá giống hằng
Trang 12năm vào hồ như: mè trắng, mè hoa, trôi, trắm cỏ v.v… là những loài cá ăn thực vật và trong đó chiếm một tỉ lệ không nhỏ là các loài cá có khả năng tự sinh sản trong hồ (chép, mè vinh, rô phi…) để đáp ứng nhu cầu khai thác cho ngư dân Từ đó, đã làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, nơi cư trú cũng như làm biến động sản lượng quần đàn và thành phần loài cá tự nhiên vốn có của lòng hồ Đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là những loài cá
có giá trị kinh tế trên hồ
Xuất phát từ thực tiễn trên và được sự phân công của Khoa Thủy Sản, Trường
Đại Học Nông Lâm - Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát sản lượng khai thác một số loài cá từ năm 1995 – 2007 và thành phần loài cá năm
2008 ở hồ Trị An tỉnh Đồng Nai” với mong muốn được góp một phần công sức của
mình vào công cuộc tìm ra giải pháp để bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng như bảo vệ môi trường thân thiện vốn có của lòng hồ
1.2 Mục tiêu đề tài
Để tạo cơ sơ dữ liệu giúp cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy
sản được tốt hơn đề tài được thực hiện với mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá thành phần loài cá của hồ Trị An vào năm 2008
- Đánh giá sự biến động sản lượng khai thác đối với các loài cá chép, mè vinh,
rô phi, trèn, leo, bống tượng, lăng, lóc từ năm 1995 đến 2007
Trang 13
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về hồ chứa
2.1.1 Định nghĩa
Hồ chứa là những thủy vực trong nội địa do con người tạo ra bằng cách đắp đập ngăn dòng chảy của sông, suối Hồ chứa là một vùng nước đặc biệt vừa mang tính chất nước đứng vừa mang tính chất nước chảy, hình thái phức tạp và mang nhiều đặc điểm khác với sông ngòi và hồ tự nhiên Nó là loại hình công trình có khả năng sử dụng tài nguyên nước phục vụ cho phát triển các ngành kinh tế khác nhau như: thủy lợi, thủy điện, du lịch, cấp nước phục vụ dân sinh, … Ngoài các lợi ích trên, hồ chứa còn là nơi sinh sống của các loài thủy sản, đem lại lợi ích về cung cấp thực phẩm cho con người
Do đó có thể nói hồ chứa là loại hình công trình có rất nhiều ưu điểm đã và đang được phát triển mạnh ở nước ta
2.1.2 Nuôi cá ở hồ chứa
Việc thả cá trong hồ chứa được xem là phương thức cổ truyền nhất trong việc nuôi thả cá quảng canh cũng như quản lý tập trung nghề khai thác cá trong các hồ chứa Khi hồ chứa được đắp đập ngăn sông, sẽ ảnh hưởng đến sự sinh sản tự nhiên cũng như sự di cư sinh sản tìm bãi đẻ của cá trong hồ và khi nguồn lợi thủy sản bị khai thác quá mức qui định thì việc thả cá bổ sung vào hồ càng trở nên hữu ích và cần thiết Theo Craig và Bodaly, 1988 (trích từ Vũ Cẩm Lương, 2007), có ba hình thức thả cá trong hồ chứa như sau:
thả giới thiệu loài cá mới
thả để duy trì một số loài cá bị hạn chế, có nguy cơ tuyệt chủng hoặc khôngcòn khả năng sinh sản tự nhiên trong hồ
thả để gia tăng sản lượng đàn cá tự nhiên hiện hữu
Theo Vũ Cẩm Lương (2007), ngoài phương thức thả cá vào hồ chứa, còn có ba
mô hình nuôi cá hồ chứa cơ bản, bao gồm: nuôi bè, nuôi lồng và nuôi eo ngách Trong
ba hình thức nuôi này, việc nuôi bè càng trở nên phổ biến đối với các hồ chứa Sự gia
Trang 14tăng quá mức số lượng bè nuôi trên các hồ chứa đã tác động tiêu cực đến nguồn lợi thủy sản và môi trường tự nhiên của lòng hồ Việc nuôi eo ngách và nuôi lồng mặc dù mang tính thân thiện với môi trường nhưng nó cũng gồm cả sự xâm lấn, chiếm dụng mặt nước công cộng và các bãi đẻ tự nhiên của cá, đắp chắn eo ngách làm ao nuôi cá nên không được chú trọng để phát triển
2.1.3 Khai thác ở hồ chứa
Khai thác thủy sản hồ chứa chủ yếu vẫn là khai thác đàn cá thiên nhiên có sẵn trong hồ hoặc từ nguồn cá giống được thả bổ sung hằng năm Tình hình khai thác thủy sản trên các hồ chứa chưa được giám sát và quản lý tích cực phù hợp, một số lớn hộ dân vẫn lén lút sử dụng những loại ngư cụ cấm như: rà điện, chất nổ, lưới mùng v.v… làm cho sản lượng khai thác đàn cá tự nhiên cũng như số lượng cá đạt kích thước lớn
đã giảm đáng kể theo thời gian
Trang 15Thượng lưu của hồ là nơi hợp lưu giữa sông Đồng Nai và sông La Ngà Ngoài ra, còn
có một số suối nhỏ chảy vào hồ như: suối Cái Nha, suối Bún, suối Sa Mách, suối Trâu… Hồ được thành lập với nhiệm vụ tích nước phục vụ cho thủy điện và cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân vùng hạ lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Ngoài ra, hồ còn kết hợp hoạt động nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản tự nhiên nhằm phục
vụ nhu cầu đời sống, giải quyết việc làm của cư dân sống ven hồ và phát triển kinh tế của tỉnh Đồng Nai
Công trình thủy điện được khởi công và xây dựng năm 1982 và chính thức đưa vào vận hành máy vào năm 1988, trong đó hồ chứa nước được xây dựng xong và bắt đầu tích nước vào năm 1987 Công trình với bốn tổ máy có công suất 400MW, sản lượng điện hàng năm là 1,7 tỷ KW cung cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận
Diện tích ngập nước vào mùa mưa : 32.400 ha (cao trình Coste 62)
Diện tích ngập nước vào mùa khô : 7.500 ha (cao trình Coste 48)
Diện tích mặt nước sử dụng có hiệu quả : 25.000 ha (cao trình Coste 56)
Mực nước cao nhất (so với mặt nước biển) : 63,9 m
Mực nước thấp nhất (so với mặt nước biển) : 49 m
Mực nước trung bình (so với mặt nước biển) : 62 m
Lưu tốc bề mặt trung bình vào mùa khô : 0,6-0,9 m/s
Lưu tốc bề mặt trung bình vào mùa mưa : 0,8-1,2 m/s
(Nguồn: CCBVNLTS tỉnh Đồng Nai, 2001)
Trang 162.2.2 Vị trí địa lý
Hồ nằm ở vị trí tọa độ: 11o 09’36”độ vĩ Bắc và 107o08’24” độ kinh Đông Hồ
cách thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai 40km và cách thành phố Hồ Chí Minh 70
km Hồ thuộc địa phận của ba huyện: Vĩnh Cửu, Thống Nhất và Định Quán – tỉnh Đồng Nai theo ranh giới như sau:
- Phía Đông giáp xã Phú Túc, xã Phú Cường, xã Phú Ngọc thuộc huyện Định Quán
- Phía Tây giáp Nhà máy Thủy Điện Trị An và thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu
- Phía Nam giáp xã Gia Tân, xã Cây Gáo thuộc huyện Thống Nhất
- Phía Bắc giáp Lâm trường Mã Đà, Lâm trường Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh
Cửu (Nguồn: CCBVNLTS tỉnh Đồng Nai, 2001)
2.2.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn
Khí hậu vùng hồ thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân chia hai mùa rõ rệt (Phùng Chí Sỹ, 2007):
- Mùa mưa: từ tháng 6 đến tháng 11 do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, khí hậu ẩm ướt, lượng nước lớn nhờ lượng mưa nhiều (chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm) Lưu tốc dòng chảy trung bình từ 0,6 - 1m/s
- Mùa cạn: từ tháng 12 đến tháng 5 do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên gần như không có mưa hoặc lượng mưa rất nhỏ (chiếm 5 - 10% lượng mưa cả năm), cạn nhất vào tháng 5 đến tháng 6 Lưu lốc dòng chảy trung bình từ: 0,3 - 0,5m/s
- Nhiệt độ thay đổi theo không gian nhất là theo độ cao Nhiệt độ cao nhất ở khu vực hạ lưu (25,8oC), thấp nhất ở khu vực thượng nguồn (17,9 oC), trung lưu (19,7 oC) Trong năm, nhiệt độ thường cao vào các tháng 3, 4, 5 và thấp vào các tháng 12 và 1 Biên độ chênh lệch nhiệt độ bình quân tháng trong năm khoảng 3,5 - 3,7oC; chênh lệch ngày và đêm khoảng 10oC
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2200 mm phân bố không đều theo không gian, mưa nhiều từ vùng cao nguyên Bảo Lộc (2779 mm), mưa ít ở khu vực Di Linh (1717 mm)
Số ngày mưa : 130 - 150 ngày/năm
Số ngày nắng: 110 - 112 ngày/năm
Trang 17- Độ ẩm tương đối của không khí tỉ lệ thuận với lượng hơi nước và tỉ lệ nghịch với nhiệt độ của không khí cho nên độ ẩm của hồ còn phụ thuộc vào thời tiết mùa mưa hay mùa khô
Độ ẩm tương đối vào mùa mưa : 86 - 87%
Độ ẩm tương đối vào mùa nắng: 74 - 77%
Trong năm, các tháng ẩm nhất thường là 8 và 9 với độ ẩm bình quân: 88 - 92%; các tháng khô nhất thường là tháng 2 và 3 với độ ẩm bình quân: 72 - 80%
- Chế độ gió: trong năm có hai mùa gió gồm:
Gió mùa mùa hạ: hoạt động từ các tháng 5 đến tháng 10, Tây và Tây Nam với tốc độ gió bình quân là 2,5 m/s (thượng lưu); 1,4 m/s (trung lưu); 1,7 m/s (hạ lưu)
Gió mùa mùa đông: hoạt động vào các tháng còn lại (từ tháng 11 đến tháng 6), hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Bắc ở thượng lưu (2,1 m/s); trung lưu (1,1 m/s) và Đông Nam ở hạ lưu (1,3 m/s)
- Chế độ bốc hơi: sự bốc hơi nước mạnh nhất vào các tháng mùa khô (nhất là tháng 2 và 3) sau đó giảm dần đến các tháng mùa mưa (tháng 8 và 9) Chế độ bốc hơi bình quân ở thượng nguồn là 4,6 mm/s, trung lưu là 1,7 mm/s, hạ lưu là 3,0 mm/s
- Chế độ nắng: tổng số giờ nắng bình quân hàng năm là 1990 giờ ở vùng trung lưu và 2250 giờ ở thượng nguồn
Ảnh hưởng của bão: lưu vực Trị An hầu như chưa chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão
mà chỉ xuất hiện những trận mưa to kéo dài và rơi trên diện rộng
2.2.4 Địa chất thổ nhưỡng
Nền đáy hồ trước đây là rừng núi, gò đồi, chất đất ở hạ lưu hồ là đất sét pha sỏi,
ở trung và hạ lưu là đất thịt Hiện nay, nền đáy được bồi bằng một lớp đất phù sa và đất đảo đa phần bị xói mòn lớp đất tầng mặt (Phùng Chí Sỹ, 2007)
Trang 182.2.5 Chế độ thủy lý, hóa, sinh của hồ
Các thông số môi trường của hồ Trị An được thống kê (bảng 2.9) như sau:
Bảng 2.2 Các thông số môi trường của hồ Trị An
Hàm lượng chất dinh dưỡng ở tầng mặt thấp hơn ở tầng sâu do chất dinh dưỡng
ở tầng mặt được phiêu sinh thực vật sử dụng nhiều
Hàm lượng muối dinh dưỡng ở tầng mặt thấp Không có hiện tượng phân tầng nhiệt độ và oxy hoà tan theo độ sâu liên quan đến chế độ thủy học của hồ, đặc biệt không có sự sai biệt lớn giữa vận tốc dòng nước ở tầng mặt và tầng đáy
2.2.6 Đặc tính thủy sinh vật
Phiêu sinh thực vật ( Phytoplankton)
Có đến 97 loài thuộc 6 nghành, mật độ tảo biến động từ 560.000 – 4.000.000 cá thể/lít, trong đó các nghành tảo lục, tảo silic, tảo lam chiếm ưu thế Đó là thành phần thức ăn có độ dinh dưỡng cao, dễ tiêu hoá
Phiêu sinh động vật ( zooplankton )
Có 32 loài trong đó nhóm luân trùng chiếm ưu thế Mật độ bình quân đạt 18.370 – 75.000 con/m3
Động vật đáy ( zoobenthos)
Trang 19Gồm 6 loài thuộc 3 nhóm: 2 mảnh vỏ, giun nhiều tơ, ấu trùng côn trùng Mật độ đạt 175 - 200 con/m2 và khối lượng 100mg/m2
(Nguồn Phùng Chí Sỹ, 2007)
2.2.7.Thảm thực vật
Thảm thực vật ở lưu vực Đồng Nai rất đa dạng: với độ cao trên 500m chủ yếu
là rừng thông lá kim, khu vực thấp hơn là rừng lá to và rừng tre Ở các bãi là các loại bụi, lùm (cây mai dương) Tại khu vực ven bờ, trên các khu đất trống có dộ dốc nhỏ và thoải là các khu canh tác nông nghiệp (trồng chè, cà phê, rau màu, xoài, bưởi v.v…) ( Phùng Chí Sỹ, 2007)
2.2.8 Những hoạt động thủy sản của hồ
2.2.8.1 Nghề nuôi
a/ Nuôi thả cá trên diện tích mặt nước lớn
Nhằm tận dụng nguồn nước tự nhiên và góp phần làm sạch môi trường lòng hồ bằng con đường sinh học, trong hai năm 1988 - 1989, UBND tỉnh Đồng Nai, bằng nguồn vốn ngân sách đã thả 7 triệu con cá giống (cỡ 8 - 12cm) gồm: mè hoa, mè trắng, trôi Ấn Độ Do ở giai đoạn đầu ngập nước, nguồn thức ăn tự nhiên phong phú nên cá thả lớn nhanh, sau 8 tháng cá mè trắng đạt trọng lượng từ 1,2 – 2kg/con; cá mè hoa đạt
từ 2 - 5 kg/con; cá trôi Ấn Độ đạt 1kg/con
Từ năm 1995, bằng nguồn vốn tự cân đối từ nguồn thu hợp đồng khai thác với ngư dân, Trung tâm thủy sản đã thả vào hồ các loại giống cá: mè, trôi, chép, mè vinh, Những năm về sau, ngoài việc thả các đối tượng cá ăn lọc (sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ có tác dụng làm sạch môi trường nước), Trung tâm thủy sản còn thả các loài cá
có khả năng sinh sản trong hồ nhằm tăng sản lượng khai thác
b/ Nuôi eo ngách
Đây là hình thức mới do tư nhân tiến hành và hình thành những năm gần đây
Họ trúng thầu và nhận thầu tại một eo ngách nào đó rồi nhận đăng chắn và thả con giống bổ sung Đến mùa khô khi nước rút thì tiến hành thu hoạch Cá bị chặn lại nên hầu như thu hoạch triệt để Đây là hình thức nuôi có hiệu quả kinh tế cao Tính đến năm 2003 thì hồ có 21 eo ngách với tổng diện tích 367ha được đề xuất cho tư nhân hợp đồng Nhưng hiện nay nghề này đang tạm ngưng do nhiều nguyên nhân phức tạp
Trang 20bè
Do số lượng bè nhiều, tập trung thành từng cụm nên đã xảy ra tình trạng ô nhiểm cục bộ tại một số khu vực nuôi như cầu La Ngà, Phú Lý, Suối Tượng Trứơc tình hình đó UBND tỉnh Đồng Nai đã triển khai dự án tái định cư ngư dân cá bè trên
hồ Trị An nhằm giảm số lượng và chuyển một bộ phận ngư dân lên bờ để bố trí ở và chuyển đổi nghề nên số lượng bè đã giảm đến năm 2005 là 782 bè, tháng 12/2006 là
699 bè
Mức nước ở hồ Trị An thường biến động nhiều trong năm nên khu vực neo đậu
bè cũng luôn thay đổi nhưng nhìn chung số lượng bè vẫn tập trung nhiều ở khu vực huyện Định Quán dọc theo hai bờ sông La Ngà thuộc xã Phú Ngọc và La Ngà (do nơi đây thuận tiện giao thông, kín gió và dòng chảy ổn định)
Xu hướng nuôi bè vào những năm gần đây đang có chiều hướng giảm do nguồn nước bị ô nhiểm và nguồn cá mồi giảm Đối tượng chủ yếu là cá rô phi đỏ (điêu hồng), chép, lóc và một số loài đặc sản khác như lăng, chình,…Việc sử dụng thức ăn cho cá cũng đã được chuyển dần từ thức ăn tươi sống sang thức ăn được hấp chín và thức ăn viên Tổng sản lượng cá nuôi bè hàng năm đạt xấp xỉ 1700 tấn, số lao động nuôi khoảng 1500 người
Công tác quản lý đối tượng nuôi, khu vực neo đậu bè, thức ăn, thuốc, dịch bệnh
cá chưa được cơ quan chức năng quan tâm đúng mức Việc quản lý các bè cá hiện nay vẫn là mục tiêu không cho phát sinh thêm các bè nuôi mới chờ quy hoạch vùng nuôi
(Nguồn: Sở Khoa Học và Công Nghệ tỉnh Đồng Nai, 2007)
2.2.8.2.Khai thác thủy sản
Lực lượng tham gia khai thác chủ yếu là ngư dân, họ đến đ ây từ nhiều nơi và rất đông Việt kiều trở về từ Campuchia (khoảng 80%) đến sinh sống Đa số họ đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trong đó có khoảng 50% số hộ ngư dân không có đất đai
Trang 21để canh tác nông nghiệp, đời sống của gia đình phụ thuộc hoàn toàn vào nghề khai thác thủy sản trên hồ Vào năm 1993, chỉ có khoảng 300 hộ khai thác, đến năm 2000
số hộ khai thác là 1.078 hộ với khoảng 6.000 nhân khẩu Hiện nay, đã có hơn 1.100
hộ, nhưng chỉ có khoảng 884 hộ có đăng ký hợp đồng khai thác với Trung tâm thủy sản Đồng Nai
Một số ngư cụ tiêu biểu được sử dụng ở hồ Trị An như: lợp tép, lưới rê ba lớp, câu giăng, chài quăng, chài rê, xúc dồn (ủi dồn), lưới kéo cải tiến, lưới đèn măng sông Một số ngư cụ cấm như: chất nổ, các loại lưới rê có kích thước mắt lưới 2a < 4cm, lưới dớn, đăng chắn eo ngách, chà, rà điện vẫn có một số ít ngư dân lén lút sử dụng
2.2.9 Các cơ quan quản lý hoạt động thủy sản trên hồ Trị An
2.2.9.1 Trung tâm thủy sản Đồng Nai
Từ khi hồ Trị An được thành lập, năm 1989 Ủy Ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định thành lập Công ty quản lý kinh doanh tổng hợp hồ Trị An Đến tháng 12 năm 1993 Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai lại ra quyết định đổi tên thành Công ty Thủy sản Đồng Nai và đến cuối tháng 12 năm 2003 lại chuyển đổi thành đơn vị sự nghiệp có thu là Trung tâm Thủy sản Đồng Nai Nhiệm vụ của Trung tâm là: sản xuất, cung cấp con giống, nuôi trồng, kinh doanh thủy sản, quản lý khai thác và tất cả các hoạt động thủy sản trên diện tích hồ Trị An Bên cạnh đó Trung tâm còn có nhiệm vụ thả cá giống bổ sung vào hồ hàng năm để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên nằm nâng cao sản lượng thủy sản của hồ Cá loài cá được thả gồm: mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, chép, trôi, mè vinh, rô phi,
Trang 22Bảng 2.3 Số lựong giống bổ sung và sản lượng khai thác hồ Trị An qua các năm
Năm Số lượng giống thả (con) Sản lượng khai thác (tấn)
( Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của Trung tâm thủy sản Đồng Nai)
Việc khai thác thuỷ sản trên hồ được hợp đồng thông qua hình thức ăn chia sản phẩm với ngư dân (sản phẩm được quy đổi thành tiền) Về mức thu theo công văn số 277/UBT ngày 13/06/1987của UBND tỉnh Đồng Nai, Bộ Tài Chính, Bộ Thủy sản, đại diện các ban ngành của tỉnh và UBND các huyện đối với cá thả nuôi thu 50%, cá tự nhiên thu 25% sản lượng đánh bắt Từ năm 1999 đến nay, Trung tâm thu 30% đối với
cá nuôi, 15% đối với cá tự nhiên Song trên thực tế, việc giám sát sản lượng đánh bắt bao gồm cả cá tự nhiên và cá được thả bổ sung, Trung tâm đã không quản lý được Chính vì thế Trung tâm đã tính toán mức thu bình quân cho từng loại ngư cụ trên một
đơn vị thuyền nghề và có thay đổi theo mùa vụ (Nguồn: Sở Khoa Học và Công Nghệ
tỉnh Đồng Nai, 2007)
Trung tâm tổ chức mạng lưới chốt ghi thu tại các địa điểm cố định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đến giao nộp giá trị ăn chia sản phẩm khai thác.Mỗi tháng Trung tâm theo đợt, mỗi đợt 10 ngày, vào các ngày 04, 05, 06, 14, 15, 16, 24,
Trang 2325, 26 trong tháng Trung tâm còn được trang bị 2 canô và 5 tàu gỗ làm công tác bảo
vệ và làm nhiệm vụ ghi thu, hỗ trợ bảo vệ, trực tiếp bắt giữ và xử phạt những ngư dân
vi phạm trong khai thác Nhờ có các hoạt động quản lý của Trung tâm mà việc đánh bắt thủy sản bằng các loại ngư cụ cấm đã giảm nhiều so với trước đây
2.2.9.2 Chi cục thủy sản Đồng Nai
Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Nai được thành lập năm 1994 với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, tham mưu cho Sở NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy sản và phối hợp với Thanh tra Sở NN&PTNT, chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan kiểm
tra hoạt động thủy sản trên hồ
Trực thuộc Chi cục có hai trạm đặt ở địa phương trong đó một trạm đặt ở hồ Trị
An được gọi là Trạm bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ Trị An Trạm được trang bị tàu và canô để tiện việc quản lý và kiểm tra các phương tiện khai thác thủy sản trên hồ Trạm
có mạng lưới cộng tác viên ở các xã ven hồ để trực tiếp quản lý hoạt động khai thác, kiểm tra tàu thuyền, tuyên truyền việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản đồng thời trực tiếp bắt giữ và xử phạt những ngư dân vi phạm trong khai thác thủy sản Ngoài ra, Chi cục còn phối hợp với các cơ quan chức năng như Công an đường thủy, chính quyền địa phương để tổ chức các đợt kiểm tra ngăn chặn các hoạt động nghề cấm như ngư cụ có mắt lưới nhỏ, xung điện … đây là nhưng loại nghề có tính hủy diệt làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản
Nhìn chung, nhờ có sự quản lý của các cơ quan chức năng nêu trên mà tình hình sử dụng các ngư cụ trái quy định đã giảm nhiều, góp phần bảo vệ và nâng cao nguồn lợi thủy sản hồ Song vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong phối hợp quản lý do nhiều nguyên nhân khác nhau
Trang 24Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1Thời gian và địa điểm
- Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2007
- Địa điểm: Hồ Trị An
3.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra tổng cộng được 34 nguời bao gồm các đối tuợng sau:
Người buôn bán cá trên hồ từ năm 1995 đến nay
Các cán bộ ở Trung Tâm, Chi Cục Thủy Sản Đồng Nai làm việc trên hồ từ năm 1995 đến nay
Những ngư dân khai thác trên hồ từ 1995 đến nay
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp đã được thống kê từ Trung tâm thủy sản Đồng Nai và Chi Cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đồng Nai thông qua sản lượng cá được đánh bắt năm 1995 đến năm 2007
Thu thập các số liệu về bản đồ, các số liệu thống kê, các báo cáo định hướng phát triển nguồn lợi thủy sản hồ Trị An, các báo cáo kinh tế - xã hội có liên quan đến đời sống và tập quán khai thác, đánh bắt của ngư dân sống vùng ven hồ
Thu thập số liệu sơ cấp
Phiếu điều tra (phụ lục 3) cho sản lượng cá khai thác trên hồ của 8 loài được soạn thảo, thu thập số liệu đối với từng loài cá về năng suất bình quân, sản lượng bình quân theo năm, sản lượng khai thác cao nhất, trung bình và thấp nhất ứng với loài cá qua các năm thu thập số liệu tại 6 bến cá xung quanh hồ Cụ thể các bến cá Phú Cường, La Ngà, Suối Tượng, Ấp 1, Trung Tâm và Đồi Cá
Trang 25Ngoài những địa điểm bến cá trên hồ, chúng tôi cũng khảo sát và thu thập số liệu tại những khu vực thu mua cá với quy mô nhỏ và sản lượng nhỏ hơn so với các bến cá, điển hình là một số điểm thu mua cá ở các xã: Châu Thành, Hóc Môn… thuộc huyện Phú Lý, tỉnh Đồng Nai
3.3.2 Phương pháp tính sản lượng cá khai thác
Tính sản lượng dựa phiếu thu thuế của Trung tâm Thủy sản Đồng Nai
Sản lượng khai thác được tính dựa vào biểu giá thu khai thác hàng tháng trên hồ Trị An của Trung tâm thủy sản Đồng Nai và dựa vào tính chất từng loại ngư cụ để tính
sản lượng của từng loài cá từ năm 1995 đến 2007
SLKT = TSP * Doanh thu * 10/(Giá trung bình * Tỉ lệ thu)
Giải thích:
- SLKT là tổng sản lượng khai thác hàng năm của từng loại ngư cụ
- TSP là tổng số phiếu mà Trung tâm đã thu được cho từng loại ngư cụ
- Doanh thu là số tiền thuế Trung tâm thủy sản thu cho mỗi loại ngư cụ
- Giá trung bình là số tiền trung bình tương ứng với giá trị của 1 kg cá của những loài cá mà ngư cụ đó khai thác được
- Tỉ lệ thu là tỉ lệ sản phẩm mà UBND tỉnh Đồng Nai cho phép Trung tâm thu trên sản lượng khai thác của 1 đơn vị thuyền nghề là 15%
- 10 là số ngày được phép khai thác cho mỗi phiếu
Chúng tôi cũng dựa vào đặc tính của mỗi loại ngư cụ, để tính sản lượng trung bình cho mỗi loài cá chúng tôi chia cho đều theo những loài cá mà ngư cụ đó khai thác được Những ngư cụ khai thác của các loài cá là
- Cá chép là lưới gân 4 – 6, lưới mành, chài rê, vó không đèn, lưới rê ba lớp
- Cá rô phi: lưới gân 4 – 6, lưới gân 7 – 14; lưới kéo bãi
- Cá mè vinh: lưới gân 4 – 6
- Cá trèn: lưới xúc cá Kìm, cá Trèn
- Cá lăng: câu giăng, vó không đèn, chụp chà
- Cá leo: câu giăng, vó không đèn, lưới mành, chụp chà, chài rê
- Cá lóc: câu giăng, chài rê
Trang 26- Cá bống tượng: câu giăng, chài rê, lợp bát qiái, cào
Đánh giá sản lượng theo phiếu điều tra
Tuy nhiên, sản lượng tính theo phiếu thu thuế như trên có thể chỉ mang tính tương đối, bình quân, chúng tôi tiến hành đánh giá lại sản lượng khai thác dựa vào nhận xét của những người sống hoặc làm việc ở Hồ Trị An từ năm 1995 đến nay Tổng
số người được điều tra là 34 người Do điều kiện và khả năng ghi nhớ của người được điều tra còn nhiều hạn chế, vì vậy trong đề tài chúng tôi chỉ đánh giá sản lượng của 8 loài cá sau: cá chép, rô phi, trèn, leo, mè vinh, lóc, lăng và bống tượng trong thời gian từ năm 1995 đến năm 2007 Đây là các loài cá có giá trị và sản lượng tương đối cao tại các bến cá Để đánh giá sản lượng khai thác của từng loài một cách cụ thể, chúng tôi chia làm 5 mức thông qua phiếu điều tra:
Mức 1: chiếm <10% tổng sản lượng đánh bắt (sản lượng thấp nhất)
Mức 2: chiếm 10 – 30 % (sản lượng thấp)
Mức 3: chiếm 30 – 60% (sản lượng trung bình)
Mức 4: chiếm 60 – 80% (sản lượng cao)
Mức 5: chiếm >80% (sản lượng cao nhất)
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
a Thành phần loài cá
Thành phần cá thả nuôi
Thành phần cá tự nhiên
b Sản lượng cá khai thác
Sản lượng cá khai thác theo Trung Tâm Thủy sản Đồng Nai
Sản lượng cá khai thác theo phiếu điều tra
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để tổng kết sản lượng các loài cá chép, rô phi, mè vinh, lăng, lóc, trèn, leo, bống tượng đã được điều tra
Trang 27Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần loài cá ở hồ Trị An
Qua quá trình điều tra, chúng tôi nhận thấy thành phần loài cá ở hồ Trị An được
chia ra làm hai nhóm thành phần loài chính gồm: nhóm thành phần loài cá tự nhiên và
nhóm thành phần loài cá được thả nuôi bổ sung hằng năm vào hồ nhằm giúp ngư dân
gia tăng sản lượng khai thác Để xác định những loài cá được đánh giá là loài cá có giá
trị kinh tế ở Hồ Trị An, chúng tôi dựa vào “Cá kinh tế nước ngọt Việt Nam” của Mai
Đình Yên (1983)
4.1.1 Thành phần loài cá được thả nuôi hằng năm
Thành phần loài cá được thả nuôi được bổ sung lần đầu tiên vào năm 1988 và
được duy trì cho đến nay Đối tượng thả gồm 7 loài, kích cỡ giống là loại cá giống cấp
II ( từ 8 – 12 cm) Tùy mỗi năm mà đối tượng thả khác nhau nhằm tận dụng thức ăn
sẵn có trong hồ, thanh lọc nguồn nước và tăng sản lượng khai thác Thành phần loài cá
thả nuôi được cụ thể qua bảng sau:
Bảng 4.1 Thành phần loài cá được thả nuôi trong hồ Trị An
STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài cá có
0 giá trị kinh tế
1 Cyprinus carpio (Linnaeus) Cá chép +
2 Hypophthalmichthys molitrix Cá mè trắng +
3 Aristichthys nobilis (Richardson) Cá mè hoa +
5 Cirrhinus mrigala (Hamilton) Cá trôi trắng +
6 Ctenopharyngodon idellus Cá trắm cỏ +
7 Oreochromis spp Cá rô phi +
Theo Trung Tâm thủy sản Đồng Nai, qua quá trình theo dõi và đánh giá hàng
năm, thành phần loài cá thả nuôi phát triễn tốt và tốc độ sinh trưỡng nhanh Sau một
Trang 28năm thả nuôi trọng lượng đạt trung bình 1,5 – 2kg Cụ thể, mè trắng 0,5 – 0,8kg; mè
hoa 2,5 – 3kg; chép 0,5 – 0,8kg; trôi 0,6 – 1kg
4.1.3 Thành phần loài cá tự nhiên năm 2008
Để đánh giá sự biến động thành phần loài cá trước khi thành lập hồ đối với hiện
nay, chúng tôi so sánh thành phần loài cá thu được năm 1983 của Phạm Văn Miên
(trích Lê Nguyên Đại, LVTN 2001) và 2008 của chúng tôi theo bảng sau:
Bảng 4.2 Thành phần loài cá tự nhiên năm 1983 và 2008
STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài Loài Loài
hiện hiện giá trị diện diện kinh
1983 2008 tế
1 Corica laciniata ( Fowler) Cơm sông + +
5 Puntius daruphani (H.M.Smith) Mè vinh giả +
(Valenciennes-Cuvier)
11 Puntioplites falcifer (Smith) Dảnh trắng + +
17 Probarbus jullienni (Sauvage) Chài sóc/trà sóc + + +
Trang 29STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài Loài Loài
hiện hiện giá trị diện diện kinh
1983 2008 tế
29 Hampala macrolepidota (Valenciennes) Ngựa nam + + +
36 Rasbora tornieri (Ahl) Lòng tong vạch +
Trang 30STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài Loài Loài
hiện hiện giá trị diện diện kinh
1983 2008 tế
54 Cyclocheilichthys apogon Ba kỳ đỏ + + +
(Valenciennes)
(H.M.Smith)
58 Acrossocheilus deauratus Hồng nhau bầu + +
65 Cosmochilus harmandi (Sauvage) Duồng bay +
Trang 31STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài Loài Loài
hiện hiện giá trị diện diện kinh
1983 2008 tế
70 Acanthopsis choirorhynchos (Bleeker) Khoai sông + +
77 Gyrinocheilus aymonieri (Tirant) Ong/may + +
85 Kryptopterus cryptopterus (Bleeker) Trèn mỏng/lá + +
Trang 32STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài Loài Loài
hiện hiện giá trị diện diện kinh
1983 2008 tế
108 Mastacembelus armatus favus (Hora) Chạch bông/lấu + + +
109 Masrognathus siamensis (Gunther) Chạch lá tre/cơm + + +
113 Channa miscropeles Lóc bông + + +
115 Oxyeleotris marmoratus (Bleeker) Bống tượng + + +
117 Pteropangasius cultratus (Smith) Sát bay +
Trang 33STT Tên khoa học Tên Việt Nam Loài Loài Loài
hiện hiện giá trị diện diện kinh
1983 2008 tế
Từ bảng trên cho thấy, có 35 loài ( chiếm 37%) có sự hiện diện lâu dài theo thời
gian như cá thát lát, ngựa nam, đỏ mang, lóc, sơn, rô đồng, rô biển, ba kỳ, mè vinh và
trong đó có 27 loài cá kinh tế ( chiếm 44%) như lóc, chạch, bống tượng, trê, leo, …
Như vậy, so sánh với kết quả của Phạm Văn Miên thu được năm 1983 (93 loài)
thì hiện nay, chúng tôi chỉ thu thấy 67 loài cá tự nhiên (chiếm 73%) Trong số 26 loài
(chiếm 27%) mà chúng tôi chưa tìm được thì có 17 loài cá kinh tế (chiếm 27%) như
hường vện, lươn đồng, sơn đài, sặc điệp, và theo đánh giá của ngư dân thì có nhiều
loài hiện nay đã không còn nữa như cá sặc điệp, sơn đài, ngựa gai, ngựa xám, hồng
nhau bầu,…Chúng tôi nhận thấy sở dĩ những loài này không tìm thấy, một phần là do
sự khai thác quá mức của ngư dân, một phần do điều kiện sinh thái hồ thay đổi một số
giống loài không thích nghi được nên chúng biến mất Các giống loài thích nghi sống
nơi có dòng suối cạn, nước chảy mạnh như cá chạch suối nam, trôi nam, nhóm nước
lợ di cư lên thượng nguồn sinh sống như lăng ki, bống mọi, nhóm cá thích sống tầng
đáy do nền đáy hồ thay đổi, khối nước tầng mặt lớn và sâu hơn Do đó, có nhiều loài
đã không còn khi hồ Trị An được ngăn đập và tích nước
Bên cạnh đó, trong 67 loài mà chúng tôi tìm được thì có 28 loài cá ( chiếm
42%) mới xuất hiện và trong đó có 16 loài cá kinh tế (chiếm 26%) như cá hoàng đế,
chim trắng, kết, chình, mang rổ, linh rìa, linh ống, Những loài cá mới xuất hiện này
phần lớn là các loài cá nuôi của ngư dân ven hồ bị thất thoát ra hồ
Trang 344.1.4 Thông tin về một số loài cá khai thác được ở hồ Trị An
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, chúng tôi xác định được mùa vụ khai thác của
18 loài cá ở Hồ Trị An như sau:
Bảng 4 3 Mùa vụ khai thác một số loài cá
trắm cỏ; trôi trắng; trôi đen; mè hoa
trê; bống tượng ;chạch; lóc
linh; lăng; thát lát; ba kỳ; leo
Rô phi; chép
kìm sông, trèn, ét mọi
Trong số những loài mà chúng tôi thu thập được thông tin thì có 3 loài được
làm cá mồi nuôi cá bè là cá linh, kìm sông, ba kỳ Có loài 8 có giá trị, trong đó giá thu
mua cao trên 30.000đồng/kg là lăng, lóc, leo, bống tượng, trèn, chép cỡ lớn trên 1,5kg,
hoàng đế và thát lát Thông tin cụ thể cho từng loài dưới đây:
A – Loài cá thả nuôi
A1 Cá chép (Cyprinus carpio)
Đây là loài cá có sản lượng cao tại các bến
cá Kích cỡ khai thác phần lớn khoảng 1,5 –
1,8kg/con Ngư cụ đánh bắt là lưới gân (chủ yếu),
lưới rê, lưới mành, chài rê Mùa vụ đánh bắt là từ
tháng 11 đến tháng 6 năm sau
Hình 4.1 Cyprinus carpio
Giá thu mua tại bến cá tùy theo kích cỡ khai thác Nếu trọng lượng trên1,5 kg
giá thu mua 40.000 đồng/kg, nếu dưới 1,5 kg giá 25.000 đồng/kg
Trang 35A2 Cá rô phi (Oreochromis spp)
Qua thực tế điều tra, chúng tôi nhận thấy
kích cỡ khai thác của loài cá này khoảng 200 –
400g/con; 10 – 12cm/con, mùa vụ khai thác từ
tháng 11 – 6 năm sau Ngư cụ khai thác chủ yếu
của loài cá này là lưới gân, lưới kéo bãi,
Giá thu mua tại bến cá là 9.000đồng/kg
A4 Cá trôi trắng (Cirrhinus mrigala)
Loài cá này có mùa vụ khai thác từ tháng
2 – 6 do đây là mùa kiệt, mực nước lúc này
xuống thấp , kích cỡ khai thác phần lớn từ 1,5 –
2kg
Ngư cụ khai thác loài cá này chủ yếu là
chài rê, lưới gân 7 – 14, lưới ba màng Hình 4.4 Cirrhinus mrigala
Giá thu mua tai bến cá là 19.000 đồng/kg
A5 Cá trôi đen (Labeo rohita)
Cũng như cá trôi trắng, loài cá này có mùa
vụ khai thác từ tháng 2 đến tháng 6 hàng năm
Kích cỡ khai thác khoảng 1,5 – 2 kg và ngư cụ
đánh bắt chủ yếu lưới 7 – 14, chài rê, lưới ba
màng, Giá thu mua tại bến là 19.000đồng/kg Hình 4.5 Labeo rohita
Trang 36A6 Cá mè hoa (Aristichthys nobilis)
Tại các bến cá mà chúng tôi điều tra,
kích cỡ cá mè hoa đánh bắt được khoảng 40 –
50cm Cá được đánh bắt chủ yếu bằng các loại
ngư cụ lưới 7 – 14, lưới rê ba lớp,
Giá thu mua tại bến là 14.000đồng/kg
Hình 4.6 Aristichthys nobilis
B – Thành phần cá tự nhiên
B1 Cá hoàng đế (Cichla ocellaris)
Theo Chi cục Thủy sản Đồng Nai, cá
hoàng đế có nguồn gốc từ Nam Mỹ Từ năm 1995
đến 1996, ông Trần Đại Nghĩa (ngụ tại xã Mã Đà,
huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) đã mang năm
cặp cá hoàng đế bố mẹ mua tại một cửa hàng bán
cá cảnh ở chợ Lưu Sơn Tịnh (TP.Hồ Chí Minh) về Hình 4.7 Cichla ocellaris
ương nuôi tại bè cá khu vực eo Mã Đà, thuộc lòng hồ Trị An để sản xuất giống Nhưng
đến năm 2002, khi thị trường không ưa chuộng loài cá này nữa, ông Nghĩa đã ngưng
nhân giống Cũng trong thời gian này, ông Nghĩa có đem thả một số cá hoàng đế
xuống hồ Trị An Một thời gian sau, trong các mẻ lưới đánh bắt cá của người dân đã
xuất hiện cá hoàng đế dính vào lưới
Qua hỏi trực tiếp từ ngư dân, 82% đồng ý với kiến cá hoàng đế xuất hiện năm
2005 Như vây, có thể cá hoàng đế thất thoát từ năm 2002, sau một thời gian sinh sản
gia tăng số lượng quần đàn thì đến năm 2005 ngư dân đã khai thác được
Hiện nay, ngư cụ khai thác loàii cá này là câu, chụp chà, lưới gân Kích cỡ khai
thác từ 10 – 25cm; trọng lượng từ 0,3 – 1kg/con
Giá thu mua tại bên là 30.000đồng/kg
B2 Cá ba kỳ (Cyclocheilichthys repasson)
Đây là loài cá có sản lượng khai thác cao từ
tháng 2 đến tháng 6 ( mùa nước kiệt) Kích cỡ khai
thác từ 4 – 6 cm/con; khoảng 70 – 80con/kg Hình 4.8 Cyclocheilichthys repasson
Trang 37Do có kích thước nhỏ nên chúng thường được dùng làm cá mồi cho các bè nuôi
cá Suối Tượng, La Ngà Ngư cụ khai thác thường là ủi dồn, lưới xúc,
Giá thu mua tại bến là 9.000đồng/kg
B3 Cá bống tượng(Oxyeleotris marmoratus)
Qua điều tra cho thấy, cá bống tượng
được khai thác chủ yếu bằng câu giăng, chài rê,
lợp bát qiái, cào, Mùa vụ khai thác là từ tháng
2 đến tháng 6 hàng năm Kích cỡ khai thác phần
lớn là là 100 – 200g/con Hình 4.9 Oxyeleotris marmoratus
Giá thu mua tại bến cỡ trên 500g/con
là 240.000con, dưới 500g/con là 25.000kg
B4 Cá chốt sọc (Mystus mysticentus)
Kích cỡ khai thác của loài cá này khoảng
5 -10cm/con Ngư cụ khai thác loài này là lưới
kéo bãi, lợp bát quái, chài rê, dớn,
Giá thu mua tại bến là 9.000đồng/kg Hình 4.10 Mystus mysticentus
B5 Cá chạch lá tre (Masrognathus siamensis)
Cá được khai thác chủ yếu từ tháng 2
đến tháng 6 trong năm, kích cỡ đánh bắt khoảng
100 – 200g/con
Giá thu mua tại bến là 9.000đồng/con
Hình 4.11 Masrognathus siamensis
B6 Cá leo (Wallago attu)
Đây là loài cá khai thác được chủ yếu từ tháng 2 – 6
hàng năm Kích cỡ khai thác của loài này phần lớn từ 30 –
40cm/con; trọng lượng khoảng 1 – 1,5kg Khi được hỏi kích
cỡ cá leo khai thác được, đa số người dân cho rằng kích cỡ
hiện nay đã giảm nhiều, chỉ bằng 1/3 kích cỡ cá được khai
thác cách đây 5 – 10 năm Ngư cụ khai thác chủ yếu là câu
giăng, vó không đèn, lưới mành, chụp chà,
Hình 4.12 Wallago attu
Trang 38Giá thu mua tại bến là 50.000đồng/kg
B7 Cá lóc đen (Channa striata)
Đây là loài cá phần lớn có nguồn gốc từ
các bè nuôi bị thất thoát ra hồ Mùa vụ khai thác
từ tháng 2 – 6 hàng năm Kích cỡ khai thác
khoảng 300 – 400g/con, nếu cá còn nhỏ khoảng
5 -10cm sẽ được thả nuôi bè Ngư cụ khai thác
loài này là câu giăng, chài rê, Hình 4.13 Channa striata
chích điện,
Giá thu mua tại bến là 30.000đồng/kg
B8 Cá linh dìa (Labiobarbus spilopleura)
Đây là loài cá dùng làm cá mồi phục vụ
nuôi bè của ngư dân trên hồ Trị An Mùa vụ
khai thác tháng 2 - 6 và ngư cụ khai thác loài cá
này chủ yếu là ủi dồn Kích cỡ khai thác khoảng
30 – 40con/kg, 8 – 10cm/con Hình 4.14 Labiobarbus spilopleura
Giá thu mua tại bến 9.000đồng/kg
B9 Cá lăng (Mystus sp)
Đây là đối tượng nuôi bè chủ yếu hiện nay
Mùa vụ khai thác là từ tháng 2 – 6 hàng năm Kích
cỡ khai thác phần lớn là 10 – 12cm/con và ngư cụ
đánh bắt chủ yếu câu giăng, vó không đèn, chụp
chà, lưới mành, chài rê, Hình 4.15 Mystus sp
Giá thu mua tại bến tùy theo cỡ,
nếu trên 15cm là 90.000đồng/kg, nếu cá nhỏ hơn
15cm là 25.000đồng/kg Loại cá nhỏ này chủ yếu
được thả nuôi bè
B10 Cá ét mọi (Morulius chrysophekadion)
Mùa vụ khai thác từ tháng 11 – 2 năm sau
Kích cỡ khai thác là 15 – 20 cm/con; Hình 4.16 Morulius chrysophekadi