1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878) GIỐNG SẠCH THEO TIÊU CHUẨN SQF 1000 TẠI TRẠI GIỐNG THỦY SẢN BÌNH THẠNH, AN GIANG

73 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển về chất lượng cũng như về quy mô của các Liên hợp sản xuất SQF 1000 của công ty SGS để áp dụng cho hệ thống sản xuất giống cá tra của đơn cá sạch trong tỉnh An Gia

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ TRA (Pangasius

hypophthalmus Sauvage, 1878) GIỐNG SẠCH THEO TIÊU

CHUẨN SQF 1000 TẠI TRẠI GIỐNG THỦY SẢN

Trang 2

KHẢO SÁT KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878) GIỐNG SẠCH THEO TIÊU CHUẨN SQF 1000

TẠI TRẠI GIỐNG THỦY SẢN BÌNH THẠNH, AN GIANG

Tác giả

Chau Xom Monl

Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu được cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn Ngô Văn Ngọc

Tp Hồ Chí Minh Tháng 8/2008

Trang 3

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

- Ba mẹ và gia đình đã luôn ở bên cạnh, động viên và hỗ trợ về tinh thần lẫn vật chất cho con trong suốt những năm đi học cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất

để con hoàn thành khóa luận này

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM;

- Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản cùng toàn thể quý thầy cô đã tạo mọi điều kiện

và tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt khóa học;

- Đặc biệt, thầy Ngô Văn Ngọc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận;

- Cô Nguyễn Thị Ngọc Trinh, Giám đốc Trung Tâm Khuyến Ngư và Giống Thủy Sản An Giang

- Anh Trần Phùng Hoàng Tuấn, Trại trưởng Trại Giống Thủy Sản Bình Thạnh Đồng thời, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn đến các anh chị em nhân viên, công nhân của Trại GTS Bình Thạnh đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp DH04NT đã động viên giúp đỡ chúng tôi trong thời gian học tập và quá trình thực hiện khóa luận

Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên khóa luận này không tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được tốt hơn

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát kỹ thuật ương cá tra (Pangasius hypophthalmus) giống sạch

theo tiêu chuẩn SQF 1000” được thực hiện từ 14/04/2008 đến 03/08/2008 tại Trại Giống Thủy Sản Bình Thạnh (An Giang)

Quá trình ương cá tra (Pangasius hypophthalmus) từ giai đoạn cá bột (18 - 22

giờ tuổi) lên cá hương, cá giống được thực hiện vào cùng một thời điểm, ao có cùng

Sau khi cải tạo ao, chúng tôi tiến hành cấp nước và gây thức ăn tự nhiên cho cá bằng bột huyết kết hợp với zeofish trước khi thả cá bột 1 ngày

Tuần đầu tiên, chúng tôi sử dụng bột sữa và bột đậu nành để gây thức ăn tự nhiên cho cá Các tuần tiếp theo, chúng tôi tiến hành sử dụng thức ăn công nghiệp để tập cho

cá ăn, thay thế nguồn thức ăn tự nhiên

Các chỉ tiêu môi trường được kiểm tra 2 ngày/lần và kiểm tra hai lần vào lúc 6 -

0,009 mg/L - 0,03 mg/L, DO từ 4 - 7 mg/L, pH từ 7,5 - 8,5

Thí nghiệm cho thấy tuần đầu cá phát triển bình thường Khi tiến hành thay thế thức ăn tự nhiên bằng thức ăn công nghiệp cá bắt đầu tăng trưởng chậm Sau một tuần tập luyện cá đã sử dụng tốt thức ăn công nghiệp

Kết quả thu được sau 28 ngày ương, cá đạt chiều dài là 7,13cm, trọng lượng là 3,76g

Khi tiến hành ương 3 ao và thu hoạch chúng tôi nhận thấy hiệu quả của mô hình ương khá tốt Tỉ lệ sống của cá khá cao từ 31,1% - 33,1%, cá ít bệnh và lợi nhuận đem lại rất cao (khoảng 20 triệu đồng/ao trong bốn tuần ương)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các chữ viết tắt vii

Danh sách các bảng viii

Danh sách các hình ảnh ix

Danh sách các đồ thị x

Danh sách các phụ lục xi

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 4

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Hiện Trạng và Xu Hướng Phát Triển Nghề Nuôi Cá Tra 5

2.2 Bước Đầu Thực Hiện Tiêu Chuẩn Quốc Tế SQF 1000CM tại An Giang 8

2.3 Một Số Kết Quả Bước Đầu 9

2.3.1 Giá bán cá tra giống và tình hình sản xuất, ương nuôi 9

2.3.2 Tình hình nuôi và giá bán cá tra thương phẩm 10

2.4 Đặc Điểm Sinh Học Cá Tra 12

2.4.1 Phân loại 12

2.4.2 Nguồn gốc và Phân bố 12

2.4.3 Đặc điểm hình thái 12

2.4.4 Tập tính và điều kiện sống 13

2.4.5 Đặc điểm dinh dưỡng 13

2.4.6 Đặc điểm sinh trưởng 13

2.4.7 Sinh sản 13

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu 15

3.2 Vật Liệu Nghiên Cứu 15

Trang 6

3.3 Đối Tượng Nghiên Cứu 15

3.4 Nguồn Nước Sử Dụng 15

3.5 Phương Pháp Nghiên Cứu 16

3.5.1 Quá trình theo dõi 16

3.5.2 Bố trí thí nghiệm 16

3.5.3 Khảo sát các chỉ tiêu 16

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 Chuẩn Bị Ao Ương 18

4.1.1 Vị trí ao ương 18

4.1.2 Cấu tạo ao 18

4.1.3 Cải tạo ao 19

4.1.4 Cấp nước và gây màu nước ao ương 21

4.2 Thả Cá vào Ao Ương 23

4.2.1 Cá bột 23

4.2.2 Thả cá bột 23

4.2.3 Mật độ ương 24

4.3 Chăm Sóc và Quản Lí 24

4.3.1 Thức ăn và cách cho ăn 24

4.3.2 Tập cho gom cầu 26

4.3.3 Quản lí môi trường 27

4.3.3.1 Nhiệt độ 27

4.3.3.2 Độ pH 28

4.3.3.3 Hàm lượng oxy hoà tan 29

4.3.3.4 Hàm lượng ammonia 30

4.3.4 Sự tăng trưởng của cá 31

4.3.4.1 Sự tăng trưởng về trọng lượng 31

4.3.4.2 Sự tăng trưởng về chiều dài 33

4.4 Tỉ Lệ Sống của Cá ở Ba Ao 34

4.5 Hiệu Quả Kinh Tế 36

4.6 Phòng Trừ Địch Hại và Dịch Bệnh trong Quá Trình Ương 37

4.7 Các Bệnh Thường Gặp và Cách Phòng Trị 39

Trang 7

4.7.1 Bệnh chướng hơi 39

4.7.2 Bệnh kí sinh trùng 39

4.7.3 Bệnh nhiễm khuẩn do Pseudomonas 40

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42

5.1 Kết Luận 42

5.2 Đề Nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 45

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Giá cá tra theo cỡ cá (24/4/2007) 10

Bảng 4.1 Chiều dài và trọng lượng trung bình của cá ở 3 ao ương 31

Bảng 4.2 Tỷ lệ sống của cá ở ba ao 35

Bảng 4.3 Chi phí ương và lợi nhuận ao C1 36

Bảng 4.4 Chi phí ương và lợi nhuận ao C3 37

Bảng 4.5 Chi phí ương và lợi nhuận ao C4 37

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Trang

Hình 4.1 Ao ương cá tra 19

Hình 4.2 Hút bùn đáy ao 20

Hình 4.3 Bón vôi khử trùng đáy ao 20

Hình 4.4 Ao lắng đã xử lí nước để cấp vào ao ương 21

Hình 4.5 Cấp nước vào ao ương 22

Hình 4.6 Bột huyết dùng để gây nuôi thức ăn tự nhiên 22

Hình 4.7 Tạt hỗn hợp thức ăn cho cá .24

Hình 4.8 Kiểm tra Moina và sức khỏe cá bột 25

Hình 4.9 Thau thức ăn có bổ sung bột huyết 25

Hình 4.10 Cho cá ăn tại cầu 27

Hình 4.11 Thu hoạch cá giống .35

Hình 4.12 Khung bẩy bọ gạo ban ngày 38

Hình 4.13 Khung bẩy bọ gạo ban đêm 39

Hình 4.14 Trùng bánh xe (Trichodina) trong nhớt của cá 40

Hình 4.15 CuSO4 dùng trị kí sinh trùng 41

Hình 4.17 Cá 7 ngày tuổi 60

Hình 4.18 Cá 14 ngày tuổi 60

Hình 4.19 Cá 21 ngày tuổi 61

Hình 4.20 Cá 28 ngày tuổi 61

Trang 11

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 4.1 Sự tăng trọng của cá trong 3 ao 32

Đồ thị 4.2 Sự tăng trưởng chiều dài của cá trong 3 ao 34

Trang 12

DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC

Trang

Phụ lục 1 Một số chỉ tiêu thủy lý hoá trong quá trình ương 45

Phụ lục 2 Chiều dài và trọng lượng cá tra trong 3 ao ương 48

Phụ lục 3 Lượng ăn của cá ở 3 ao 51

Phụ lục 4 Chi phí 3 ao ương 57

Phụ lục 5 Một số hình ảnh cá tra từ 7 ngày tuổi đến 28 ngày tuổi 60

Trang 13

Chương 1

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề

đáp ứng được nhu cầu thực phẩm trong nước và cho xuất khẩu Tuy nhiên, nguồn lợi thủy sản tự nhiên của nước ta đang bị khai thác một cách bất hợp lí, ngày càng trở nên cạn kiệt Theo phương châm khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi, ngành thủy sản nước ta đã đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nước mặn trong phạm vi cả nước

An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, nơi được xem là có tiềm năng lớn đồng bằng sông Cửu Long và cả nước về sản xuất thủy sản nước ngọt Bởi An Giang

có điều kiện tự nhiên ưu đãi như nguồn nước có chất lượng nước tốt, nhiều sông, kênh, rạch, ruộng, ao… Năm 2003, An Giang là tỉnh có sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt cao nhất trong toàn quốc, đạt 136.231 tấn, chiếm 20,3% tổng sản lượng thủy sản nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long (670.562 tấn, theo Niên giám thống kê 2003) và 13,1% tổng sản lượng thủy sản toàn quốc (1.038.575 tấn, theo Bộ Thủy Sản, 2004) Đối tượng nuôi chủ yếu là cá da trơn (trong đó cá tra và basa chiếm hơn 80% tổng sản lượng), tôm càng xanh, các loài cá bản địa khác (cá lóc bông, rô đồng…) và gần đây là

cá rô phi

Nuôi trồng thủy sản hiện đóng vai trò rất quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu của An Giang Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của An Giang năm 2003 đạt được là 66 triệu USD

Chính sự phát triển nuôi trồng thủy sản đã tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân trong vùng bao gồm người trực tiếp nuôi cá và người gián tiếp như các hoạt động dịch vụ sản xuất và cung cấp thức ăn, thuốc thú y thủy sản và đặc biệt là lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, công tác quản lý, quy hoạch vùng nuôi, tổ chức lại sản xuất, kỹ thuật nuôi và môi trường…cần phải được xem xét và điều chỉnh

Trang 14

nhằm đảm bảo cho nghề nuôi cá phát triển theo hướng bền vững Để ngành này phát triển bền vững, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá giống có chất lượng là một trong những vấn đề rất cần thiết và cực kỳ quan trọng Cùng với sự phát triển về chất lượng cũng như về quy mô của các Liên hợp sản xuất SQF 1000 của công ty SGS để áp dụng cho hệ thống sản xuất giống cá tra của đơn cá sạch trong tỉnh An Giang nói riêng và trong khu vực nói chung, để có đủ tư cách tham gia các liên hợp sản xuất cá sạch, TTNC & SXGTS An Giang đã chọn tiêu chuẩn vị

SQF: Viết tắt từ chữ : Safe quality food (an toàn chất lượng thực phẩm)

SQF : Hệ thống quản lý và phòng ngừa những rủi ro bao gồm các kết quả của việc thực hiện và vận hành kế hoạch SQF nhằm bảo đảm cho an toàn và chất lượng trong doanh nghiệp thực phẩm

Hệ thống này được thiết kế bởi các chuyên viên thực hành SQF, được đánh giá bởi các chuyên gia đánh giá SQF và được chứng nhận bởi tổ chức được phép chứng nhận khi thỏa mãn các tiêu chuẩn của SQF

Kế hoạch SQF là kế hoạch SQF 1000CM hoặc kế hoạch SQF 2000CM tùy trường hợp

SQF 1000CM : Áp dụng cho người nuôi trồng thủy sản và các nhà sơ chế

SQF 2000CM : Áp dụng cho nhà chế biến

SQF 1000CM : Hệ thống quản lý và phòng ngừa những rủi ro bao gồm các kết quả của việc thực hiện và vận hành kế hoạch SQF trong nuôi trồng thủy sản nhằm tạo

ra những sản phẩm chất lượng và an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng

CM: Thương hiệu được chứng nhận (Certificated Mark)

 Bộ tiêu chuẩn chất lượng SQF:

- Là bộ tiêu chuẩn dựa trên HACCP được thiết kết cho nghành công nghiệp thực phẩm

- Đó là sự thống nhất với những nhà huấn luyện được đăng kí và những chuyên gia đánh giá có bằng cấp về thực phẩm an toàn được công nhận bởi những bên quốc tế thứ ba

- Tập trung vào thị trường giải quyết những mối nguy cho chất lượng cùng với những mối nguy cho an toàn thực phẩm

Trang 15

- Biểu tượng SQF có thể được sử dụng trên sản phẩm hoặc bì trung gian,

- Được viện SQF của Mỹ chính thức công nhận như là một hệ thống chứng nhận công khai

Đây là bộ tiêu chuẩn dựa trên HACCP bảo đảm cho nhà cung cấp trong công nghệ thực phẩm Nó được phát triển đáp ứng nhu cầu kỹ nghệ cho một chương trình bên thứ ba đánh giá nhà cung cấp Tiêu chuẩn này cùng cấp cho nhà cung cấp nguyên liệu Chương trình chủ yếu sẽ chuyển khai thực hiện:

- Công tác quản lí quy trình chế biến và rủi ro được cải hiện và quản lí tốt hơn

- Giảm các chi phí bảo hiểm

do nông dân sản xuất Tuy nhiên để đảm bảo xuất khẩu mặt hàng cá tra chế biến được

ổn định và bền vững lâu dài thì nghành nuôi thủy sản An Giang nói chung và nuôi cá nói riêng phải đi theo hướng sản xuất ra sản phẩm an toàn Xuất phát từ yêu cầu thực

tế của thị trường xuất khẩu thủy sản theo định hướng trên năm 2005 UBND tỉnh An Giang đã phê duyệt cho phép nghành thủy sản trong tỉnh được thực hiện “Chương trình hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn SQF 100 cho vùng nuôi cá tra tỉnh An Giang trong đó khâu sản xuất con giống là rất quan trọng

Tại Trại Giống Thủy Sản Bình Thạnh An Giang khi áp dụng tiêu chuẩn SQF bất

cứ một công đoạn nào ta cũng phải nhận diện phân tích và đánh giá được từng mối nguy ở từng mối công đoạn, từ đó mới đưa ra những giải pháp, biện pháp kiểm soát những mối nguy đó Ví dụ áp dụng vào quy trình chọn con giống, vị trí ao nuôi và thiết kế ao

 Chọn con giống:

- Nguồn gốc cá bố mẹ phải rõ ràng

- Cá bố mẹ được chọn để sinh sản nhân tạo phải ở những vùng nuôi khác nhau

Trang 16

Ở Bình Thạnh nguồn cá bố mẹ sử dụng đựợc Viện Nuôi Trồng Thủy Sản II cung cấp, cá bố mẹ được gắn chíp và được kiểm tra rất kĩ nên rất an toàn

 Vị trí ao nuôi:

- Mối nguy vật lý: Vùng đất bị sạt lỡ

- Mối nguy hóa học: Đất bị nhiễm phèn, dư lượng thuốc sâu , hóa chất khu công nghiệp

- Mối nguy sinh vật: Vùng đất bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh

- Nguyên nhân: Vị trí ao nuôi không nằm trong vùng quy hoạch, không được khuyến cáo của cơ quan chuyên ngành, không có ao lắng và ao sử lí nước thải

- Biện pháp: chọn vị trí ao nào trong vùng quy hoạch, được thông báo của cơ quan chuyên ngành, có ao lắng và ao sử lí nước thải

 Thiết kết ao:

- Mối nguy vật lý: Sạt lỡ, rò rĩ

Nguyên nhân: Thiết kế không đạt yêu cầu kĩ thuật (hệ số mái không đảm bảo kĩ thuật, độ dầm, nén không tốt)

Biện pháp: Tuân thủ kĩ thuật thiết kế dầm, nén tốt

- Mối nguy hóa học: xì phèn thiết kế ao quá sâu

- Mối nguy sinh học: Cá dễ bị nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng

Nguyên nhân: Thiết kế hệ thống cấp, thoát cùng chung một đường

Biện pháp: Thực hiện đúng kỹ thuật

Từ thực tế đó, được sự phân công của Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm T.p Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Khảo sát kỹ thuật ương cá tra (Pangasius hypoththalmus) giống sạch theo tiêu

chuẩn SQF 1000 tại Trại GTS Bình Thạnh, An Giang”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau:

- Khảo sát một số chỉ tiêu kỹ thuật trong ương nuôi cá tra giống như tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống,…

- Hiệu quả kinh tế trong ương cá tra giống sạch tại Trại Bình Thạnh, An Giang

Trang 17

Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam Ở Campuchia, tỉ lệ cá tra (Pangasius

hypoththalmus) thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài thuộc họ cá tra, chỉ có 2% là cá basa (Pangasius bocourti) và cá vồ đém (Pangasius larnaudii bocourti), sản lượng cá tra

nuôi chiếm một nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi Tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi

cá nhiều nhất, có 50% số trại nuôi cá tra, đứng thứ hai sau cá rô phi Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ những thập niên 70-80

Ðồng bằng Nam Bộ của Việt Nam đã có truyền thống nuôi cá tra và cá basa Cá tra nuôi phổ biến trong cả ao và bè, cá basa chủ yếu nuôi trong bè Hiện nay nuôi cá tra

và basa đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam Bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này

Những năm gần đây, nghề nuôi loài cá này phát triển mạnh nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và nguyên liệu cho xuất khẩu Ðặc biệt, từ khi chúng ta hoàn toàn chủ động về sản xuất giống nhân tạo thì nghề nuôi càng ổn định và phát triển triển vượt bậc Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt

Trong năm 2002, chỉ tính riêng hai tỉnh An Giang và Ðồng Tháp, sản lượng cá tra, basa nuôi đã đạt 180.000 tấn

Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam

Bộ Hầu như nhà nào cũng có một vài ao lớn nhỏ và đối tượng nuôi chính là cá tra

Trang 18

Việc phát triển nuôi cá tra ở Nam Bộ đã góp phần duy trì nguồn thực phẩm chính yếu

và có mặt trên thị trường quanh năm

Vào mùa lũ, nguồn cá tự nhiên do sông Mê kông tải về một lượng khổng lồ cung ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ của cư dân Vào mùa khô, lượng cá trên sông ít đi do nước sông cạn, cá rút khỏi các khu đồng trũng thì cá cung cấp cho thị trường trở nên khan hiếm, lúc này cá nuôi hoặc cá lưu giữ trong ao, nhất là cá tra trở thành một nguồn thực phẩm quan trọng

Tài liệu thống kê của tỉnh An Giang, cho thấy năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn của tỉnh lúc bấy giờ là nuôi cá tra Có lẽ do An Giang là một trong hai tỉnh (cùng Ðồng Tháp) có nguồn cá tra giống tự nhiên phong phú vớt trên sông và nghề cá tra giống phát triển nhất trong cả nước Tài liệu của Ủy Hội Sông Mê kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền Nam Việt Nam trong thập niên 50 - 70 Nuôi cá tra truyền thống và ghép với một số loài khác, người dân thu hoạch cá thường vào cuối năm hoặc những tháng mùa khô Từ những năm 1970 về trước, khi nghề cá còn hạn chế về kỹ thuật nuôi, về con giống và tập quán nuôi cá, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, còn các đối tượng khác thì rất ít Do đặc tính chịu đựng được môi trường khắc nghiệt nên người nuôi cá tra không cần phải đào ao lớn mà nuôi vẫn có kết quả

Nghề nuôi cá bè có lẽ được bắt nguồn từ Biển Hồ (Tonlé Sap) của Campuchia, được một số kiều dân Việt Nam hồi hương áp dụng khởi đầu từ vùng Châu Đốc, Tân Châu thuộc tỉnh An Giang và Hồng Ngự thuộc tỉnh Ðồng Tháp vào khoảng cuối thập niên 50 của thế kỷ trước Dần dần nhờ cải tiến và bổ sung kinh nghiệm cũng như kỹ thuật, nuôi cá bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc Ðồng bằng sông Cửu Long có hơn một nửa số tỉnh nuôi cá bè nhưng tập trung nhất vẫn ở hai tỉnh An Giang và Ðồng Tháp, với hơn 60% số bè nuôi và có năm đã chiếm tới 76% sản lượng nuôi cá bè của toàn vùng

Nguồn giống cá tra và basa trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Hàng năm, vào khoảng đầu tháng 5 âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồn sông Mê-kông bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân Châu (An Giang) và Hồng Ngự (Ðồng Tháp) dùng một loại lưới hình phểu gọi là 'đáy' để vớt cá bột Cá tra bột được chuyển về ao để ương nuôi thành cá giống cỡ chiều dài 7 – 10 cm và được vận chuyển đi bán cho người

Trang 19

nuôi khắp vùng Nam Bộ Khu vực ương nuôi cá giống từ cá bột vớt tự nhiên tập trung chủ yếu ở các địa phương như Tân Châu, Châu Đốc, Hồng Ngự, các cù lao trên sông Tiền Giang như Long Khánh, Phú Thuận

Trong những thập niên 60 - 70 của thế kỷ 20, sản lượng cá bột vớt mỗi năm từ 500-800 triệu con và cá giống ương nuôi được từ 70 - 120 triệu con Sản lượng vớt cá bột ngày càng giảm dần do biến động của điều kiện môi trường và sự khai thác quá mức của con người Ðầu thập niên 90, sản lượng cá bột vớt hàng năm chỉ đạt 150 -

200 triệu con (Vương Học Vinh, 1994) Ðồng thời, khi vớt cá tra, rất nhiều cá bột của các loài cá khác cũng lọt vào 'đáy' và bị lọc ép để loại bỏ Khối lượng các loài cá khác ngoài cá tra có thể gấp 5 -10 lần so với cá tra, do đó đã ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lợi cá tự nhiên

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra được bắt đầu từ năm 1978 và cá basa từ

1990 Ðến năm 1999, khi chúng ta đã chủ động và xã hội hóa sản xuất giống nhân tạo

cá tra và basa thì nghề vớt cá tra bột hoàn toàn chấm dứt Vào năm 1999, sản lượng cá bột sản xuất nhân tạo đã cao hơn số lượng những năm trước vớt ngoài tự nhiên Cho đến khi có quy định bãi bỏ vớt cá bột, số ' đáy' vớt cá đã giảm chỉ bằng 25% so với thời kỳ 1975 - 1980

Cá basa giống trước đây hoàn toàn vớt ngoài tự nhiên bằng câu hoặc các hình thức thu bắt cá giống khác để ương thành giống lớn và cung cấp cho các bè nuôi thịt Mỗi năm nhu cầu con giống cá basa từ 20 - 25 triệu con Từ năm 1996, các cơ quan nghiên cứu như Trường Ðaị học Cần Thơ, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II, Công ty Agifish đã nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ và cho đẻ nhân tạo cá basa thành công, đã chủ động giải quyết con giống cho nghề nuôi cá basa

Từ khi chúng ta mở rộng xuất khẩu cá tra, cá basa và tìm được thị trường tiêu thụ nước ngoài thì nghề nuôi cá tra và basa như bước sang một trang mới Cùng với thành công sản xuất đủ nhu cầu giống cá tra và basa nhân tạo, nghề nuôi cá tra và basa trong

bè cũng như trong ao phát triển mạnh mẽ, sản lượng cá thịt tăng lên đột biến trong 3 năm trở lại đây Cá tra và basa đã trở thành đối tượng xuất khẩu chính với nhiều mặt hàng chế biến đa dạng, phong phú và được xuất sang hàng chục nước và vùng lãnh thổ khác nhau Nhưng nhu cầu thực phẩm trong nước vẫn đang là một thị trường vô cùng rộng lớn mà chúng ta còn bỏ ngỏ, chưa được quan tâm đúng mức Cá tra hiện đang có

Trang 20

sản lượng xuất khẩu nhiều nhất trong các loài cá nuôi nước ngọt, cá basa có nhiều đặc điểm giống với cá tra nhưng thịt và mỡ có màu trắng nên có giá trị thương phẩm và xuất khẩu còn cao hơn cá tra

2.2 Bước Đầu Thực Hiện Tiêu Chuẩn Quốc Tế SQF 1000CM tại An Giang

An Giang là tỉnh đầu nguồn khu vực hạ lưu sông Mê-Kong, với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua (170 km) cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt (5.100 km), đã tạo cho An Giang lợi thế và tiềm năng to lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản nước ngọt

“Định hướng quy hoạch phát triển thủy sản của tỉnh đến năm 2010” thì diện tích nuôi thủy sản của tỉnh An Giang không ngừng tăng lên mà chủ yếu là nuôi ao, trong

đó nuôi cá tra thâm canh là chủ yếu (chiếm 80% cơ cấu) Nghề nuôi cá tra trong ao phát triển mạnh vì lợi nhuận cao và từ đó quy mô và diện tích nuôi ngày càng có xu hướng tăng Sản lượng nuôi trồng thủy sản của tỉnh cũng tăng nhanh trong giai đoạn từ năm 1996 - 2005 Nếu như năm 1996 là 48.427 tấn thì năm 2005 con số này là 180.809 tấn

Từ những năm đầu của thế kỷ 21, việc nâng cao chất lượng thủy sản nuôi để giữ vững thị trường và tăng uy tín hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới được đặt ra như một thách thức cho các nhà quản lý cũng như các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu Việc xác định các mối nguy từ nuôi trồng thủy sản đối với người tiêu dùng như:

Mối nguy vật lý: Bao gồm những vật cứng, sắc, nhọn, có thể gây thương tích cho

hệ tiêu hoá của người tiêu dùng

Mối nguy sinh học: Bao gồm các loại ký sinh trùng, virus, các loại vi khuẩn gây bệnh

Mối nguy hóa học: Là các hóa chất độc hại, kháng sinh cấm hoặc hạn chế sử dụng trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khoẻ người tiêu dùng

Trong các mối nguy trên thì mối nguy hóa học là quan trọng nhất Các nhà nhập khẩu thường lợi dụng để dựng lên các hàng rào kỹ thuật để áp đặt giá cho các nhà xuất khẩu

Mong muốn của ngành thủy sản An Giang là tổ chức sản xuất ở vùng nuôi sao cho chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu về chất lượng của các thị trường lớn thế giới đòi

Trang 21

hỏi An Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong việc tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế để làm nền tảng cho việc nâng cao chất lượng thủy sản nuôi Cuối năm 2002, tỉnh An Giang đã tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế SQF 1000CM thông qua Công ty TNHH SGS Việt Nam Qua đó, nhận thức việc thực hiện tiêu chuẩn SQF 1000CM nhằm:

- Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng thủy sản Việt Nam và thế giới trong thời hội nhập

- Đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm của các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm

- Tránh thiệt hại cho người nuôi và nhà sản xuất do sản phẩm có chứa dư lượng các chất có hại vượt quá giới hạn cho phép

2.3 Một Số Kết Quả Bước Đầu

2.3.1 Giá bán cá tra giống và tình hình sản xuất, ương nuôi

càng lớn, giảm giá trị nhiều Cá giống giảm giá vì giá bán cá thịt giảm chỉ là phần nhỏ

mà chủ yếu là do nhiều hộ muốn sớm bán cá đi để tránh hao hụt Nguyên nhân hao hụt

là do đa số ao ương cá đã lớn nên dầy đặc, cộng với nguồn nước kiệt và nóng nên cá bị sốc Đồng thời, với giá giảm đi 20% thì các hộ ương giống vẫn còn có lợi nhuận khá Nhiều người bán thì nguồn cung tăng, do đó giá giảm càng nhiều

Có thể điểm qua tình hình sản xuất, ương nuôi và giá cả cá tra giống tại các vùng nuôi trong tỉnh thời điểm ngày 24/4/2007 như sau:

- Cá tra bột có giá từ 1 - 1,5 đồng/con Cá bột vẫn giữ được mức giá nầy không giảm giá trong khi cá tra bố mẹ thành thục tốt, là vì số lượng hộ thu hoạch cá giống khá nhiều nên nhu cầu mua cá bột vẫn còn cao

- Cá tra giống có kích cỡ 2.000 con/kg giá khoảng 80 đồng/con, và cá 1.500 con/kg, giá khoảng 120 đồng/con Giá chỉ giảm nhẹ so tuần trước vì nhu cầu mua vẫn còn cao

- Cá tra giống có kích cỡ từ 1 – 3 cm chiều cao: giá giảm khá nhiều so tuần trước, giảm từ 30 - 500 đồng/con, tùy cỡ cá từ nhỏ đến lớn Cụ thể giá bán cá tra giống theo Bảng 2.1 sau:

Trang 22

Bảng 2.1 Giá cá tra theo cỡ cá (24/4/2007)

Thân (cm)

Giá bình quân (đồng/con)

(+), (-) Tăng, giảm

so với

10 ngày trước (đồng/con)

Mặc dù hiện tại giá cá tra giống vẫn còn khá cao nhưng có lẽ trong tuần tới, giá

cá tra giống các loại chỉ giảm nhẹ Bởi vì, tỷ lệ ương giống phổ biến chỉ đạt tối đa là 20% và đồng thời nhu cầu mua cá giống vẫn khá cao

2.3.2 Tình hình nuôi và giá bán cá tra thương phẩm

- Tình hình giá: Giá mua cá tra có chênh lệch khá nhiều giữa ao nuôi đạt sản lượng lớn và ao nuôi đạt sản lượng nhỏ Nhưng giữa cá đạt đúng cỡ 1 kg/con và cá chưa đạt cỡ 1 kg/con chỉ chênh lệch giá khoảng 200 đồng/kg

* Với ao nuôi có sản lượng 50 tấn trở lên, thường là loại cá được đánh giá là cá trắng, trắng hồng, giá mua của các doanh nghiệp trong tỉnh từ 15.000 - 15.500 đồng/kg, giảm khoảng 500 đồng/kg Có nhiều doanh nghiệp trả giá mua dưới 15.000 đồng/kg, nhưng đa số hộ nuôi không bán Nhưng vẫn có hộ bán vì nhiều lý do, đã bán

cá tra thịt trắng với giá là 14.500 đồng/kg Tuy số lượng mua được với giá trên là rất nhỏ nhưng giá mua đó vẫn được tính là giá để báo cáo và nhận định đó là giá thị trường Trong khi có doanh nghiệp chế biến ngoài tỉnh vẫn đến An Giang mua cá tra

ao với giá 15.800 đồng/kg, cao hơn 500 đồng/kg so mức giá bình quân của các doanh nghiệp trong tỉnh mua

Trang 23

* Với ao nuôi có sản lượng từ vài tấn đến dưới 20 tấn, chất lượng cá thường là màu thịt vàng hồng và vàng chanh, giá mua từ 14.000 - 14.500 đồng/kg, cũng giảm khoảng 500 đồng/kg như cá thịt trắng Có doanh nghiệp trong tỉnh vẫn mua được loại

cá trên với giá 13.000 đồng/kg, vì vẫn có hộ với sản lượng nuôi vài tấn đến dưới 10 tấn

đã kêu bán, và giá mua đó vẫn gọi là giá để báo cáo, cũng như nhận định đó là giá thị trường và lấy mức giá đó làm cơ sở để trả giá mua với những hợp đồng tiêu thụ có đặt trước tiền cọc

Trong ba năm trở lại đây, tỉnh An Giang từ chỗ “cung cấp nguyên liệu cá tra cho vùng ĐBSCL”, đã trở thành phải “mua nguyên liệu cá tra từ các tỉnh khác về để đủ chế biến” Điều này khẳng định rằng, năng lực chế biến xuất khẩu cá tra của các doanh

Tháng 3/2006, công ty SGS đã chứng nhận cho Trung Tâm Nghiên Cứu và Sản

Ngoài việc thực hiện chương trình SQF trong tỉnh, Ban thực hiện chương trình SQF 1000CM còn hỗ trợ cho Nông trường Sông Hậu (Sohafarm) lập các hồ sơ và thủ tục để chứng nhận tiêu chuẩn SQF 2000CM cho nhà máy chế biến của Nông trường và tiêu chuẩn SQF 1000CM cho nông trại của Nông trường; trong đó, có 4 trại nuôi cá tra thương phẩm phục vụ xuất khẩu

Tỉnh An Giang đã đăng ký chứng nhận cho 50 chuyên viên thực hành SQF 1000CM là các cán bộ chuyên ngành của tỉnh để mở rộng mạng lưới tư vấn lập thủ tục, hồ sơ chứng nhận cho các tổ chức, cá nhân tham gia các Hội nuôi cá sạch của các doanh nghiệp trong tỉnh

Đã thành lập Hội nuôi cá sạch của Công ty AFIEX An Giang và Công ty TNHH Nam Việt, tập huấn nuôi thủy sản an toàn chất lượng theo tiêu chuẩn SQF 1000CM cho các hộ nuôi cá tra cung ứng nguyên liệu cho doanh nghiệp

Tiếp tục triển khai rộng chương trình SQF 1000CM cho 100% các doanh nghiệp trong tỉnh thông qua chương trình thành lập Hội nuôi cá sạch của các doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp sẽ tạo cho mình vùng nguyên liệu sạch cung ứng cho nhà máy chế biến, lấy tiêu chuẩn SQF 1000 làm nền tảng của mối liên kết chủ đạo giữa doanh nghiệp và người nuôi

Trang 24

2.4 Đặc Điểm Sinh Học Cá Tra

Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã được xác định ở vùng nước sông Cửu Long

Cá tra phân bố ở các tầng nước nhưng thường sống ở tầng giữa và tầng đáy Cá

có thể sống được ở các thủy vực nước tĩnh và nước chảy

Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê-Kông, phân bố ở cả bốn nước: Lào, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan

Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mê-Kông và Chao Phraya

Ở Việt Nam cá tra phân bố từ khu vực Bình Thuận trở vào Hiện nay, cá được nuôi ở miền Bắc và miền Trung đặc biệt phân bố nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long

2.4.3 Đặc điểm hình thái

Cá tra là loài cá da trơn, có đầu rộng dẹp bằng, mõm ngắn, miệng cận dưới, rộng ngang không co duỗi được Răng vòm miệng chia làm 4 đám nhỏ, mỏng năm trên đường vòng cung Có 2 đôi râu dài, râu mép kéo dài chưa đạt được đến gốc vây ngực Thân thon dài, phần sau dẹp Đường bên hoàn toàn và phân nhánh bắt đầu từ mép trên của lỗ mang đến vi đuôi Mặt sau của gốc vi lưng, vi ngực có răng cưa hướng xuống gốc vi Vi bụng kéo dài chưa chạm đến gốc vi hậu môn

Khi còn nhỏ, phần đầu và thân có màu xanh lục và 2 sọc màu xanh lục chạy dài theo chiều dọc của thân, các sọc này lợt dần và mất đi khi cá lớn Ở cá lớn, mặt lưng của đầu và thân có màu xanh xám hoặc nâu đen và lợt dần xuống bụng, bụng có màu trắng bạc Gốc vi bụng và vi hậu môn màu vàng

Trang 25

2.4.4 Tập tính và điều kiện sống

Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, chúng có thể sống trong vùng nước có độ mặn nhỏ hơn 100/00.

Khoảng pH có thể sống được dao động từ: 5,5 - 8,5

Lượng hồng cầu của cá tra nhiều so với các loài cá khác

Cá có cơ quan hô hấp phụ (bóng hơi và da) nên chịu được môi trường có hàm lượng oxy thấp

2.4.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra là loài ăn tạp thiên về động vật Chúng sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như bèo cám, rau muống, cám gạo, ngũ cốc….nhưng thiên về động vật

Giai đoạn cá bột mới nở cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng Khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi sống vì vậy chúng có thể ăn lẫn nhau trong bể ấp

Giai đoạn cá giống: cá ăn sinh vật phù du, ấu trùng của giáp xác

Cá trưởng thành ăn tạp thiên về động vật Cá có thể ăn mùn bã hữu cơ, xác động thực vật

Trong quá trình ương nuôi ở giai đoạn cá bột lên cá giống cá có thể cho ăn cám gạo, bột đậu nàng, bột sữa…

2.4.6 Đặc điểm sinh trưởng

Cá có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, giai đoạn nhỏ cá tăng trưởng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao 2 tháng, chiều dài đạt khoảng 10 - 15cm (14 - 15g) Khi cá đạt 2,5kg trở lên mức tăng trọng nhanh hơn chiều dài cơ thể Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm

Trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ, cá đạt tới 25kg khi được 10 năm tuổi Nuôi ao 1 năm

cá đạt 1 - 1,5kg/con (năm đầu tiên)

Độ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm khi đi vào mùa sinh sản

2.4.7 Sinh sản

thành thục đầu tiên khoảng 2,5 - 3 kg Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở

Trang 26

Campuchia và Thái Lan Năm 1972, Thái Lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất

Cá không có cơ quan sinh dục phụ, nên khi chỉ nhìn hình dạng bên ngoài thì khó phân biệt được đực cái

Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái là từ giai đoạn II tuy màu sắc tuyến sinh dục chưa khác nhau nhiều Các giai đoạn sau buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh màu hồng chuyển sang màu trắng sữa

Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76 - 12,9% (cá cái)

và từ 0,83 - 2,1% (cá đực) đối với cá tự nhiên bắt trên sông cỡ từ 8 - 11kg (Nguyễn Văn Trọng, 1989) Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục của cá có thể đạt tới 19,50/0 Mùa vụ sinh sản của cá trong tự nhiên từ tháng 5 - 6 dương lịch Cá có tập tính di

cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái thích hợp ở địa phận của Campuchia và Thái Lan, không đẻ tự nhiên ở Việt Nam

Cá đẻ trứng dính vào giá thể chìm trong nước, thường là rể của các loài cây sống ven sông, sau 24h thì trứng nở thành cá bột và theo dòng nước trôi về hạ nguồn Trong sinh sản nhân tạo, người ta có thể nuôi để cá thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn Cá tra có thể tái phát dục 1 - 3 lần trong một năm

Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 20.000 đến vài triệu trứng/cá thể Sức sinh sản tương đối có thể đạt tới 135.000 trứng/kg cá cái

Trang 27

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu

Đề tài được thực hiện từ ngày 16/04/2008 đến ngày 03/08/2008 tại Trại Giống Thủy Sản Bình Thạnh thuộc xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

3.2 Vật Liệu Nghiên Cứu

thời điểm

Thức ăn sử dụng trong quá trình ương là bột sữa, bột đậu nành, thức ăn công nghiệp dạng bột mịn 40% đạm, thức ăn công nghiệp dạng mảnh 40% đạm

BKC (Benzylkonium chloride), Avaxide, Parasite, Anti-Shock

Kháng sinh: chỉ sử dụng Tỏi (Allium sativum L) chưa sử dụng kháng sinh

Vitamin C: MutiC, Nova C

Men vi sinh: Zeofish

Men tiêu hóa: Bacillac, Grow-Min

Các vật dụng cần thiết khác: Thau, thùng nhựa, cân, vợt, thước, giấy kẻ ô ly, phao, ca…

3.3 Đối Tượng Nghiên Cứu

Cá tra bột (18 - 22 giờ tuổi) được nhận trực tiếp từ trại để ương lên cá hương, cá giống

3.4 Nguồn Nước Sử Dụng

Nguồn cấp nước cho ao ương được lấy từ một nhánh của sông Hậu Nguồn nước này được chứa và xử lí qua ao lắng, sau đó được bơm vào các dãy ao để sử dụng

Trang 28

3.5 Phương Pháp Nghiên Cứu

3.5.1 Quá trình theo dõi

Chúng tôi theo dõi định kỳ các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH…và hoạt động bắt mồi của cá khi tiến hành cho ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của cá

3.5.2 Bố trí thí nghiệm

thời điểm và cùng mật độ như sau:

Mỗi lần đo, chúng tôi tiến hành bắt ngẫu nhiên 30 con

Xác định trọng lượng trung bình trong các lần đo để đánh giá tốc độ tăng trọng của cá

Công thức tính trọng lượng trung bình của cá

1 i

Pn

1PP: trọng lượng cá đo được (g)

P : trọng lượng trung bình của cá (g)

n: số cá đo

b/ Tăng trưởng chiều dài

Đo tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá bằng phương pháp định kỳ lấy mẫu 7 ngày một lần, đo riêng từng cá thể sau đó lấy trung bình mẫu đo Chúng tôi tiến hành

đo từ đỉnh mõm đến hết vây đuôi

Dùng giấy kẻ ô li để đo

Trang 29

Công thức tính chiều dài trung bình của cá:

1 i

Ln

1LL: chiều dài thân cá đo được (cm)

L : chiều dài trung bình thân cá (cm)

Trang 30

Hệ thống ao ương của Trại Giống Thủy Sản Bình Thạnh An Giang được xây dựng ở vùng đất thịt pha cát, gần một nhánh sông lớn của sông hậu trên một cù lao với tổng diện tích toàn trại là 10ha

4.1.2 Cấu tạo ao

quản lí và thu hoạch sau này

Ao hình chữ nhật một đầu là cống cấp nước, đầu kia là cống thoát Đáy ao có lớp bùn từ 3-5cm và hơi nghiêng về phía cống thoát để thuận tiện cho việc thay nước, rút cạn nước trong quá trình ương

Ao bố trí thí nghiệm của chúng tôi là ao hình chữ nhật, diện tích nền đáy là

cống thoát nước tầng mặt và một cống thoát nước tầng đáy Đáy ao hơi nghiêng về cống thoát

Trang 31

Hình 4.1 Ao ương cá tra

4.1.3 Cải tạo ao

Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình ương từ cá bột lên cá giống

Cải tạo ao giúp tiêu diệt mầm bệnh trong ao, địch hại và tạo nền đáy tốt hơn Tại Trại Giống Thủy Sản Bình Thạnh, chúng tôi tiến hành cải tạo ao như sau:

Ao sau khi sử dụng xong chúng tôi tiến hành tháo nước và giữ mực nước trong

ao còn khoảng 0,9-1,2m để thuận tiện cho việc hút bùn đáy ao bằng máy hút bùn Dùng máy hút bùn hút lớp bùn đáy ao thật kỹ Không nên hút hết lớp bùn đáy ao

mà giữ lại lớp bùn mỏng từ 3-5cm để thuận tiện cho việc gây nuôi thức ăn tự nhiên trong tuần đầu khi tiến hành ương Bùn hút vào ao chứa và được xử lý bằng vôi bột và BKC trước khi thải ra môi trường ngoài

Sau khi hút lớp bùn đáy ao xong chúng tôi tiến hành đặt máy bơm để tiếp tục tháo cạn nước

Tiến hành gia cố bờ ao, đắp các lỗ mọi, đồng thời vớt các ốc và rác xung quanh nền đáy ao trong ao

đáy ao Sau khi hoàn tất, tiến hành phơi ao một ngày và tiến hành dọn cỏ xung quanh

bờ ao

Trang 32

Hình 4.2 Hút bùn đáy ao

Hình 4.3 Bón vôi khử trùng đáy ao

Trang 33

4.1.4 Cấp nước và gây màu nước ao ương

ngày sau đó mới cấp vào ao

Nước cấp vào có túi vải mịn bọc ở đầu cống cấp để tránh sự xâm nhập của địch hại như: trứng cá tạp, giáp xác, cá dữ,…

Không nên cấp nước vào ao sớm, chỉ nên cấp nước vào ao trước khi thả cá bột một ngày để hạn chế sự xâm nhập của địch hại

Tiến hành gây màu nước trước 1 ngày để tạo thức ăn tự nhiên cho cá

Ở Trại giống Thủy Sản Bình Thạnh chúng tôi gây màu nước để tạo thức ăn tự

Hình 4.4 Ao lắng đã xử lí nước để cấp vào ao ương

Trang 34

Hình 4.5 Cấp nước vào ao ương

Hình 4.6 Bột huyết dùng để gây nuôi thức ăn tự nhiên

Trang 35

4.2 Thả Cá vào Ao Ương

4.2.1 Cá bột

Khi ương cá tra giống sạch theo tiêu chuẩn SQF 1000 nên chọn mua cá bột từ những trại sản xuất có công bố chất lượng và nguồn gốc rõ ràng, để nâng cao hiệu quả của quá trình ương

Trước khi nhận cá bột, chúng tôi kiểm tra sức khỏe của cá bột mạnh hay yếu tại nơi sản xuất bằng cách cho cá bột vào một li thủy tinh nhỏ rồi dùng ngón tay khuấy điều nước trong li thủy tinh Quan sát hoạt động của cá như sau:

+ Nếu cá bột khỏe, cá sẽ bơi lên xuống mặt nước một cách đều đặn hoặc

cá bơi ngược dòng

+ Nếu cá yếu cá sẽ tập trung dưới đáy li nhiều và bơi yếu

Cá bột được sản xuất tại trại nên chất lượng bột tốt và khỏe mạnh

này cá vẫn còn noãn hoàng, miệng cá chưa mở to, do đó sẽ giảm tỉ lệ hao hụt trong vận chuyển

Cá bột được vận chuyển trong bao nylon, với 4lít nước được bom oxy với mật độ 50.000 cá bột/bao cỡ 100 x 60 cm

4.2.2 Thả cá bột

Thời gian thả cá bột vào ao nuôi tốt nhất vào sáng sớm hoặc chiều mát

Trước khi thả cá bột, tiến hành kiểm tra các yếu tố môi trường nước ao ương Chỉ tiêu môi trường đo được trước khi thả bột:

Chúng tôi tiến hành thả cá bột trong 3 ao ương là vào khoảng thời gian 8 - 9 giờ

10 phút rồi mở miệng bao, dựng đứng (đầu bao ngập nước), dùng tay phải gỏ nhẹ vào đầu bao ở trên sau đó nhấc lên từ từ Cách làm này giúp thả cá bột triệt để, không dính

cá bột trong bao

Trang 36

4.2.3 Mật độ ương

Mức nước trước khi thả 1 - 1,2m, đây là mực nước thích hợp cho việc thả cá bột

vì vừa thuận tiện cho việc gây nuôi thức ăn tự nhiên vừa thích hợp cho việc bắt mồi của cá và hạn chế sự ăn nhau của cá nên giảm tỉ lệ hao hụt

4.3 Chăm Sóc và Quản Lí

4.3.1 Thức ăn và cách cho ăn

Theo Lê Thanh Hùng (1998), trong tuần đầu thức ăn ưa thích của cá bột là các

loài động vật phù du có kích thước nhỏ như Rotifera, Cladocera và các dạng Nauplii Trong đó giống Moina và Bosmia là được cá tra bột ưa chuộng nhất Về thành phần thức ăn, Cladocera chiếm tới 99,6%, Rotifera chỉ chiếm 0,4% trong hệ tiêu hoá của cá

Hình 4.7 Tạt hỗn hợp thức ăn cho cá

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm