1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KH O SÁT QUI TRÌNH VÀ PHÂN TÍCH HIEU QU KINH TÊ MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) THÂM CANH TI XÃ LIÊU TÚ HUYEN LONG PHÚ TNH SÓC TRANG

75 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huyện Long Phú là một trong những huyện có sản lượng tôm nuôi lớn trong tỉnh Sóc Trăng với phần lớn diện tích nuôi áp dụng mô hình nuôi tôm sú thâm canh và những hộ nuôi tôm sú tại xã Li

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT QUI TRÌNH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ

MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) THÂM CANH

TẠI XÃ LIÊU TÚ - HUYỆN LONG PHÚ - TỈNH SÓC TRĂNG

Họ và tên sinh viên: BÙI ĐÌNH CƯƠNG Ngành: NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

Niên khóa: 2004 – 2008

Trang 2

KHẢO SÁT QUI TRÌNH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ

HÌNH NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) THÂM CANH TẠI XÃ LIÊU

TÚ - HUYỆN LONG PHÚ - TỈNH SÓC TRĂNG

Tác giả

BÙI ĐÌNH CƯƠNG

Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

NGUYỄN VĂN TƯ

Trang 3

Sau ba tháng điều tra chúng tôi nhận thấy rằng:

- Trình độ nuôi tôm sú thâm canh của các hộ nuôi khá cao, năng suất trung bình đạt 5.531 kg/ha/vụ nuôi

- Chi phí đầu tư trung bình cho một ha ao nuôi là: 394.975.000 đồng/vụ

- Lợi nhuận trung bình trên một ha ao nuôi là: 91.905.000 đồng/vụ

- Thu nhập của hộ nuôi bị giảm đi do sự biến động giá cả trung bình trên một ha

ao nuôi là 17.374.000 đồng/vụ

- Nguồn nước ô nhiễm, dịch bệnh đã làm cho nhiều hộ nuôi thất bại Để phát triển bền vững người dân phải có ý thức hơn tới bảo vệ môi trường chung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

- Ban Chủ nhiệm và các Thầy Cô Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khoá luận tốt nghiệp

Xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:

- Thầy Nguyễn Văn Tư đã tận tình hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian

thực hiện đề tài

- Ông Đinh Thiên Cần, chủ trại nuôi tôm, kỹ sư Nguyễn Minh Tùng, kỹ sư Nguyễn Quốc Huy đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình thực hiện

đề tài

- Trung tâm khuyến ngư tỉnh Sóc Trăng

- Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Long Phú

- Cùng toàn thể các anh chị em, các bạn sinh viên đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài

Đề tài được thực hiện với rất nhiều sự cố gắng và nhiệt tình, tuy nhiên không tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự chỉ dẫn của quý thầy cô và các bạn

Trang 5

MỤC LỤC

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục tiêu 1

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2 2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Tỉnh Sóc Trăng 2

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 2

2.1.1.1 Vị trí địa lý 2

2.1.1.2 Đặc điểm địa hình 3

2.1.1.3 Khí hậu 4

2.1.1.4 Chế độ thuỷ văn 4

2.1.1.5 Độ mặn 4

2.1.2 Diện tích và dân số 5

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 5

2.2 Tình Hình Nuôi Tôm Sú Trên Thế Giới Và Việt Nam 6

2.2.1 Tình hình nuôi tôm sú trên thế giới 6

2.2.2 Tình hình nuôi tôm sú tại Việt Nam 7

2.2.3 Tình hình nuôi tôm sú tại Sóc Trăng 9

2.2.3.1 Tình hình nuôi tôm sú tại Sóc Trăng 9

2.2.3.2 Tình hình nuôi tôm sú tại Huyện Long Phú 11

2.2.3.3 Công tác khuyến ngư năm 2007 của tỉnh Sóc Trăng 12

2.3.1 Phân loại 15

2.3.2 Phân bố 15

2.3.3 Tập tính sống 16

Trang 6

2.3.6 Đặc điểm sinh trưởng 16

2.3.7 Đặc điểm sinh sản 16

2.3.8 Khả năng thích nghi với môi trường sống 17

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 3.1 Thời Gian và Địa Điểm 18

3.2 Phương Pháp Điều Tra và Thu Thập Thông Tin 18

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18

3.2.2 Nội dung điều tra 18

3.2.3 Xử lý số liệu 18

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20 4.1 Hiện Trạng Kinh Tế Xã Hội Của Xã Liêu Tú Huyện Long Phú Sóc Trăng 20

4.1.1 Sự phân bố theo độ tuổi 20

4.1.2 Số lao động trong nông hộ 20

4.1.3 Diện tích nuôi của nông hộ 21

4.1.4 Trình độ học vấn 22

4.1.5 Tham gia các lớp tập huấn khuyến ngư 23

4.1.6 Kinh nghiệm nuôi tôm sú của nông hộ 23

4.2 Sơ Lược Chung Về Qui Trình Nuôi Tôm Sú Của Nông Hộ 24

4.2.1 Ao nuôi 24

4.2.2 Cải tạo ao 25

4.2.3 Ao lắng, xử lý nước và gây màu nước 26

4.2.4 Giống 28

4.2.5 Quản lý và chăm sóc ao nuôi 30

4.2.6 Thu hoạch 34

4.2.7 Khó khăn trong quá trình nuôi 36

4.3.1 Chi phí cố định 36

4.3.2 Chi phí biến đổi 36

4.3.3 Hiệu quả kinh tế của hộ nuôi 40

Trang 7

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42 5.1 Kết Luận 42 5.2 Đề Nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng Nội dung Trang

Bảng 2.1 Sự biến đổi khí hậu trong năm của tỉnh Sóc Trăng 4

Bảng 2.2 Sự biến động độ mặn (‰) tại một số nơi tại Sóc Trăng năm 2002 4

Bảng 2.3 Diện tích đất nông nghiệp phân theo huyện, thị 5

Bảng 2.4 Sản lượng tôm trong năm 2003 6

Bảng 2.5 Diện tích nuôi tôm sú năm 2007 tỉnh Sóc Trăng phân theo các huyện 9

Bảng 2.6 Sản lượng tôm sú của các huyện năm 2007 10

Bảng 4.1 Tuổi của các hộ nuôi 20

Bảng 4.2 Diện tích nuôi của nông hộ 21

Bảng 4.3 Trình độ học vấn và năng suất 22

Bảng 4.4 Kinh nghiệm nuôi và năng suất 24

Bảng 4.5 Tỷ lệ phần trăm diện tích ao lắng so với tổng diện tích nuôi 27

Bảng 4.6 Sử dụng thức ăn cho tôm qua từng giai đoạn 30

Bảng 4.7 Các loại thức ăn mà hộ nuôi sử dụng 31

Bảng 4.8 Tương quan giữa ngày nuôi và hệ số thức ăn 34

Bảng 4.9 Chi phí trang thiết bị dụng cụ cho 1 ha ao nuôi 36

Bảng 4.10 Chi phí cho cải tạo 1 ha ao nuôi 36

Bảng 4.11 Chi phí cho con giống 37

Bảng 4.12 Giá thức ăn 38

Bảng 4.13 Chênh lệch chi phí do giá thức ăn tăng 38

Bảng 4.14 Lợi nhuận của hộ nuôi qua việc sử dụng các loại thức ăn 39

Bảng 4.15 Chi phí thuốc, vi sinh, hoá chất trung bình của hộ nuôi 39

Bảng 4.16 Chi phí và lợi nhuận bình quân trên 1 ha 41

Trang 9

Bản đồ

Bản đồ 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng 3 Bản đồ 2.2 Bản đồ thuỷ sản tỉnh Sóc Trăng 11

Hình

Hình 4.2 Xử lý nước trong ao lắng bằng chlorine 27

Trang 10

Huyện Long Phú là một trong những huyện có sản lượng tôm nuôi lớn trong tỉnh Sóc Trăng với phần lớn diện tích nuôi áp dụng mô hình nuôi tôm sú thâm canh và những hộ nuôi tôm sú tại xã Liêu Tú của huyện Long Phú cũng áp dụng mô hình nuôi tôm sú thâm canh này Trong thời gian gần đây giá cả thị trường luôn biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người nuôi tôm sú

Được sự phân công của Khoa Thuỷ Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố

Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát qui trình và phân tích

hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh tại xã Liêu Tú -

huyện Long Phú - tỉnh Sóc Trăng”

1.2 Mục tiêu

Chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu như sau:

- Tìm hiểu một số yếu tố kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm sú thâm canh tại xã Liêu Tú - huyện Long Phú, và

- Phân tích hiệu quả kinh tế của hộ nuôi tôm

- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi tôm sú thâm canh

Trang 11

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Tỉnh Sóc Trăng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Sóc Trăng là tỉnh nằm cuối hạ lưu sông Hậu, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long,

có 72 km bờ biển, với 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh

Phía Bắc và phía Tây giáp Thành phố Cần Thơ

Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh

Phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu

Phía Nam giáp Biển Đông

Đơn vị hành chính của tỉnh Sóc Trăng gồm 8 huyện và 1 thành phố, với 105 xã, phường, thị trấn

Trang 13

2.1.1.3 Khí hậu

Bảng 2.1 Sự biến đổi khí hậu trong năm của tỉnh Sóc Trăng

Hạng mục Trung bình cả năm Cao nhất Thấp nhất

Nhiệt độ (0C) 26,8 28,6 24,6

Độ ẩm (%) 84 89 (T.7) 79 (T.3)

Lượng mưa (mm) 2105 cả năm 419 (T.7) 0 (T.1)

Nắng (giờ) 207,4 290,1 (T.3) 117,2 (T.12)

(Nguồn: Trung tâm khuyến ngư tỉnh Sóc Trăng, 2005)

Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình của Sóc Trăng năm 2005 là

26,80C, độ ẩm 84%, lượng mưa cả năm là 2.105,2 mm, số giờ nắng trung bình các

tháng trong năm là 207,4 giờ, là điều kiện tốt cho phát triển nông nghiệp và đặc biệt là

phát triển nuôi trồng thuỷ sản

2.1.1.4 Chế độ thuỷ văn

Hệ thống sông rạch của tỉnh Sóc Trăng chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều

không đều của biển Đông, mực nước triều dao động từ 0,4 m đến 1,0 m

2.1.1.5 Độ mặn

Tỉnh Sóc Trăng, với điều kiện địa hình nằm ven biển, nên độ mặn hằng năm

cũng biến động với mùa nước ngọt (mùa mưa) và mùa nước lợ (mùa nắng) Sự biến

động độ mặn tại một số nơi tại Sóc Trăng năm 2002 được trình bày qua Bảng 2.2

Bảng 2.2 Sự biến động độ mặn (‰) tại một số nơi tại Sóc Trăng năm 2002

Trang 14

- Sự biến động độ mặn ở tỉnh Sóc Trăng khá lớn, độ mặn cao nhất là 22,5‰ và thấp nhất là 0‰ Nơi có độ mặn cao và ổn định là tại huyện Long Phú rất phù hợp với

sự phát triển của tôm sú (Penaeus monodon)

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Bảng 2.3 Diện tích đất nông nghiệp (ha) phân theo huyện, thị của tỉnh Sóc Trăng (đo

đạc ngày 1/1/2005)

Trong đó Tổng số Đất sx nông

nghiệp

Đất lâm nghiệp

Đất nuôi trồng thuỷ sản

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2005)

Với diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản: 44.503,7 ha, chiếm gần 16% tổng diện tích đất nông nghiệp Đây là một thế mạnh cho định hướng phát triển thuỷ sản lâu dài của

Trang 15

Hơn nữa Sóc Trăng là tỉnh nằm cuối hạ lưu sông Hậu, có 72 km bờ biển, với 3 cửa sông lớn (Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh), hệ thống sông rạch tương đối phong phú rất thuận lợi cho phát triển thuỷ sản nước lợ, nước mặn và đánh bắt thuỷ sản

2.2 Tình Hình Nuôi Tôm Sú Trên Thế Giới Và Việt Nam

2.2.1 Tình hình nuôi tôm sú trên thế giới

Theo Nguyễn Văn Hảo (2003) thì sản lượng tôm nuôi thâm canh hàng năm trên thế giới khoảng 258.000 tấn (chiếm 36% sản lượng thu hoạch), với tổng diện tích nuôi

là 52.000 ha (Chiếm 5% tổng diện tích nuôi tôm) Từ đây ta có thể thấy được hiệu quả của mô hình nuôi thâm canh rất cao và hiệu quả cả về kinh tế và hiệu quả sử dụng đất

Bảng 2.4 Sản lượng tôm (tấn) trong năm 2003

(Nguồn Chalor Limsuwan, 2005)

Từ bảng chúng tôi nhận thấy sản lượng tôm sú của hai nước Trung Quốc và Thái Lan là rất lớn Công nghệ nuôi tôm của Thái Lan những năm gần đây rất phát triển và đạt năng suất rất cao

Do nhu cầu thị trường đối với tôm rất cao nên trong những năm qua lợi nhuận mang lại từ xuất khẩu đã tác động rất lớn đến các quốc gia nuôi tôm trên thế giới Năm

1998, Bangladesh đã chọn nuôi tôm sú xuất khẩu là quốc sách Ấn Độ khuyến khích

Trang 16

người dân nuôi tôm bằng các chính sách như: hỗ trợ vốn vay, phát triển dịch vụ kỹ thuật, giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu phục vụ nuôi tôm …

Công nghệ nuôi tôm ở Châu Á tuy phát triển rất mạnh nhưng cũng mang lại những vấn đề về dịch bệnh, suy thoái môi trường do phát triển ào ạt và không quy hoạch Kết quả đưa tới nhiều thiệt hại cho người nuôi tôm

2.2.2 Tình hình nuôi tôm sú tại Việt Nam

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km kéo dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang với nhiều cửa sông, rừng ngập mặn, đầm, phá,… rất thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là tôm sú Theo thống kê của Bộ Thủy Sản (cũ) năm 1999 thì diện tích nuôi tôm

cả nước tăng từ 50.000 ha năm 1985 lên 295.000 ha năm 1998 với 30 tỉnh có nuôi tôm

Sự bùng nổ của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu vào năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP, cho phép chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi tôm đã tăng từ 250.000 ha năm 2000 lên đến 478.000 ha năm 2001 và 540.000 ha năm 2003 Chỉ trong vòng 1 năm sau khi ban hành Nghị quyết 09, đã có 235.000 ha gồm 232.000 ha ruộng lúa, 1.900 ha ruộng muối và 1.200 ha diện tích đất hoang hoá ngập mặn được chuyển đổi thành ao nuôi tôm Cho đến nay, diện tích nuôi tôm ở Việt Nam vẫn tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ đã có phần chững lại Theo số liệu hiện có, Việt Nam là nước có diện tích nuôi tôm vào loại lớn trên thế giới, vượt xa Inđônêxia, nước có diện tích nuôi tôm lớn nhất vào năm 1996, khoảng 360.000 ha (Hanafi và Ahmad, 1999) Phần lớn diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, rải rác dọc các cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở Đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc

Tuy nhiên năng suất nuôi tôm trung bình vẫn còn thấp với hơn 80% diện tích nuôi quảng canh Ngoài ra, tình hình dịch bệnh trong những năm qua cũng gây tổn thất không nhỏ cho người nuôi tôm, đặc biệt là bệnh đốm trắng trên tôm sú

Theo Bộ Thủy Sản (cũ) (2003) thì tổng diện tích tôm nuôi cả bước khoảng 546.757 ha Trong đó:

Trang 17

nhiệt độ thích hợp cho tôm sú phát triển là 25 – 350C Năm 1989 mô hình nuôi tôm sú thử nghiệm ở Hải Phòng đạt hiệu quả rất thấp Tuy nhiên trong năm 1995 nghề nuôi tôm sú ở Hải Phòng đã cải thiện đáng kể và có khả năng phát triển trở thành nghề nuôi chủ lực của thành phố Đây cũng là động lực thúc đẩy các địa phương khác trong khu vực phía Bắc mạnh dạn đầu tư vào nuôi tôm, mở rộng sản xuất

- Khu vực miền Trung là 28.803 ha, chiếm tỉ lệ 5,3% thấp nhất cả nước, do nơi đây có rất ít sông lớn, hạn hán thường xuyên xảy ra Hệ thống sông thường ngắn, dốc nên nguồn nước thường cạn kiệt vào mùa khô và lũ lụt thường xuyên xảy ra vào mùa mưa Tuy nhiên, do mực nước ven bờ sâu, độ mặn cao nên rất thích hợp cho việc sản xuất giống

- Khu vực miền Nam có tổng diện tích nuôi tôm là 476.582 ha chiếm tỉ lệ 87,1%, do nơi đây có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho tôm tăng trưởng Theo số liệu của Bộ Thủy Sản (cũ) thì Cà Mau có diện tích nuôi tôm lớn nhất cả nước với 105.520 ha, lớn hơn cả diện tích nuôi tôm của Thái Lan, nhưng do trình độ kỹ thuật còn lạc hậu, chủ yếu là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến nên năng suất đạt rất thấp, tình hình dịch bệnh cũng thường xuyên xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại về kinh tế rất lớn cho người dân

Trang 18

2.2.3 Tình hình nuôi tôm sú tại địa phương

2.2.3.1 Tình hình nuôi tôm sú tại Sóc Trăng

Với những ưu đãi về điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi thì tỉnh Sóc Trăng trong những năm gần đây không ngừng cải tiến qui trình nuôi, thu hẹp dần diện tích nuôi tôm quảng canh đồng thời tăng diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận cao nhất cho người nuôi

Bảng 2.5 Diện tích nuôi tôm sú (ha) năm 2007 tỉnh Sóc Trăng phân theo các huyện

Địa phương Nuôi tôm

sú QCCT

Nuôi tôm sú BTC

Nuôi tôm sú

TC

Tổng diện tích nuôi tôm sú

Trang 19

Bảng 2.6 Sản lượng tôm sú (tấn) của tỉnh Sóc Trăng năm 2007

Trang 20

Bản đồ 2.2 Bản đồ thuỷ sản tỉnh Sóc Trăng

2.2.3.2 Tình hình nuôi tôm sú tại Huyện Long Phú

Từ các Bảng 2.5 và 2.6 về diện tích và sản lượng tôm sú, cho thấy rằng huyện Long Phú với diện tích nuôi chỉ 3.800 ha, chiếm hơn 7,8% tổng diện tích nuôi tôm sú của tỉnh, nhưng với sản lượng 10.546 tấn, chiếm tới 17,9% tổng sản lượng nuôi, với năng suất trung bình 2.775 kg/ha (qui mô thâm canh năng suất đạt 3.500 kg/ha), là huyện có năng suất cao nhất trong tỉnh Sóc Trăng

Trang 21

2.2.3.3 Công tác khuyến ngư năm 2007 của tỉnh Sóc Trăng

Hoạt động khuyến ngư, tập huấn kỹ thuật được Trung tâm khuyến ngư tỉnh triển khai xuyên suốt trong vụ nuôi, từ khâu cải tạo công trình, quản lý chăm sóc đến khi thu hoạch với hình thức, nội dung thường xuyên được cải tiến, có hình ảnh minh hoạ trực quan, hỏi - đáp… giúp cho nông dân dễ hiểu, tiếp thu nhanh Kết quả trong năm 2007 đơn vị phối hợp với địa phương tổ chức triển khai 561 lớp tập huấn kỹ thuật

và hội thảo có 17.174 lượt người dự

Trong năm 2007 đơn vị tổ chức được 2 lớp đào tạo kỹ thuật viên 3 tháng, dành cho đối tượng cán bộ chủ chốt địa phương (xã, CLB, HTX và hiệp hội) Ngoài ra chuyển giao kỹ thuật thông qua nhiều hình thức khác như hướng dẫn cho hơn 100 học sinh, sinh viên thực tập chuyên về thuỷ sản Ký kết hợp đồng với trường dạy nghề tỉnh Sóc Trăng tổ chức sản xuất giống tôm càng xanh cho học sinh thực tập

Xét nghiệm được 1.181 mẫu, trong đó có 302 mẫu xét nghiệm kiểm tra các yếu

tố môi trường, đánh giá mức độ cảm nhiễm; bên cạnh phối hợp tốt với Đài thủy văn Nam Bộ, cảnh báo kịp thời tình hình diễn biến môi trường thời, tiết đến từng địa phương, chủ động phòng ngừa dịch bệnh, góp phần tăng hiệu quả cho sản xuất

Công tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh, tác động qua nhiều kênh thông qua toạ đàm, hỏi đáp trực tiếp với nông dân báo, đài; các chuyên đề kỹ thuật được phát thường xuyên trên đài phát thanh địa phương Kết quả thông tin tuyên truyền trên đài 384 lượt (phát hình mỗi tuần 2 lượt và phát trên đài phát thanh 6 lượt)

Mô hình trình diễn có tập trung theo hướng đa canh, nhiều đối tượng được triển khai và có ưu tiên triển khai mô hình theo vùng dự án, vùng qui hoạch nhằm tác động tốt đến phong trào nuôi Trong năm 2007 triển khai 10 mô hình trình diễn, gồm các đối tượng tôm, cá; trong đó, ngân sách tỉnh đầu tư 4 mô hình, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia (cũ) 6 mô hình Các mô hình đang trong giai đoạn phát triển tốt

Bên cạnh đó nhằm nâng cao năng lực của cán bộ kỹ thuật, cán bộ địa phương trong công tác khuyến ngư, đơn vị đã tổ chức 9 lượt cán bộ kỹ thuật và các địa phương

đi tham quan học tập kinh nghiệm từ các mô hình nuôi cá chẽm, cá chình, cá bống tượng, … tại các tỉnh lân cận

Trang 22

Đơn vị tổ chức mời giảng viên Trường Đại học Nông Lâm về trao đổi kỹ thuật cũng như kinh nghiệm làm công tác khuyến ngư cùng với đội ngũ cán bộ kỹ thuật Đây là việc lần đầu tiên Trung tâm Khuyến Ngư thực hiện được

Phát triển mạng lưới cộng tác viên

Nhằm phát huy tính cộng đồng trong sản xuất thủy sản, quản lý môi trường, thông tin được hai chiều về diễn biến tình hình phát triển thủy sản, tạo thuận lợi cho công tác khuyến ngư, đơn vị đã ký kết hợp đồng với 45 cộng tác viên Bên cạnh đó trung tâm cùng hội nghề cá vận động địa phương thành lập tổ hợp tác, toàn tỉnh đến nay tổng số 158 câu lạc bộ và 32 hợp tác xã, diện tích canh tác 7.880 ha với 6.490 hộ tham gia

Những mặt làm được

Quản lý chặt chẽ được diễn biến môi trường, công tác cảnh báo dự báo thực hiện tốt, xác định mùa vụ phù hợp, hầu hết các hộ chấp hành tốt lịch xuống giống của ngành khuyến cáo, thả giống không ồ ạt tập trung như nhũng năm trước

Công tác khuyến ngư được triển khai đồng bộ, luôn được cải tiến về nội dung, hình thức chuyển giao, thông tin tuyên truyền được tăng cường; đơn vị tổ chức được nhiều cuộc hội thảo nhân rộng mô hình tiên tiến, mang tính phát triển thuỷ sản theo vùng quy hoạch

Đạt được kết quả như nêu ở trên là do sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Sở Thuỷ Sản (cũ), bên cạnh được sự ủng hộ của Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia (cũ), các tổ chức hội, đoàn thể, chính quyền địa phương; mặt khác đơn vị chủ động được kế hoạch công việc, sự năng nổ tích cực của toàn thể cán bộ viên chức của Trung tâm Khuyến ngư, nên công tác khuyến ngư triển khai khá tốt và mang lại hiệu quả, các chỉ tiêu được giao đều đạt vượt kế hoạch

Trang 23

Những mặt hạn chế và nguyên nhân

Công tác khuyến ngư về lĩnh vực khai thác, chế biến còn nhiều hạn chế, một mặt thiếu thông tin, mặt khác lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức Tài liệu còn thiếu, nhiều đối tượng nuôi chưa có qui trình cụ thể

Tỉnh chưa có trung tâm giống Cơ sở kinh doanh giống chủ yếu của nông hộ, hình thức ương là chủ yếu; không chủ động được nguồn giống, nhiều đối tượng rất khó tìm nguồn giống, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên Bên cạnh đó đơn vị chưa phát huy hết tiềm năng của Trại giống thực nghiệm Mỹ Thanh;

Công tác phối hợp giữa các bộ phận đôi lúc chưa tốt nhất là việc thu mẫu và đưa ra giáp pháp xử lý Thiếu trang thiết bị phục vụ cho công tác, nhất là các dụng cụ

đo các yếu tố môi trường Kinh phí hoạt động được giao hàng năm còn thấp chưa đáp ứng cho sự phát triển của phong trào, làm hạn chế một số hoạt động khuyến ngư Tổ chức biên chế đơn vị còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng kịp yều cầu phát triển chung

Mặc dù ngành đã khuyến cáo không nên thả sớm, thả nuôi ngoài vùng qui hoạch hoặc thả tôm vụ 2 sẽ ảnh hưởng môi trường nuôi cho vụ sau, nhưng không ít nông hộ còn chủ quan thực hiện không đúng qui trình trong sản xuất, hiệu quả mang

lại không cao; ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường một số nơi chưa tốt…

Vai trò lãnh đạo một số địa phương chưa có giải pháp xử lý vấn đề này, nên hàng năm việc ngành chức năng khuyến cáo nhưng địa phương nuôi vẫn thả nuôi

Nông ngư dân còn thiếu vốn trong sản xuất Giá cả tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định nhất là đối tượng cá, khâu hậu cần còn nhiều hạn chế

Hiện tượng phân trắng, sâu đuôi trên tôm sú chưa có biện pháp khắc phục cụ thể rõ ràng, nhất là bệnh phân trắng chưa có biện pháp điều trị cụ thể Chỉ có phương pháp phòng ngừa, nhưng tâm lý người dân ít chịu phòng mà chỉ khi nào có dấu hiệu bệnh mới tham gia điều trị nên thiệt hại vẫn xảy ra (Nguồn: Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Sóc Trăng, 2007)

Trang 24

2.3 Sơ Lược Về Tôm Sú

Tên tiếng Việt: Tôm sú Tên tiếng Anh: Giant tiger shrimp

Ở vùng biển các nước Đông Nam Á, tôm sú phân bố nhiều ở Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Philippine

Tại vùng biển Việt Nam tôm sú phân bố nhiều ở vùng biển miền Trung và miền

Trang 25

2.3.3 Tập tính sống

Tôm sú sống chủ yếu ở môi trường nước mặn và nước lợ ở vùng cửa sông ven biển Sống đáy, nơi có bùn cát hoặc cát bùn Hoạt động bắt mồi mạnh về đêm, sống vùi mình và lột xác để tăng trưởng

2.3.4 Chu kỳ sống

Tôm sú có tập tính là di cư sinh sản, thành thục và đẻ trứng ở biển khơi Sau nhiều lần lột xác ấu trùng biến thái qua các giai đoạn Nauplius – Zoea – Mysis − Postlarvate Ấu trùng sống trôi nổi trong nước và được thủy triều đưa vào vùng ven

bờ, rừng ngập mặn, cửa sông để phát triển và trưởng thành Khi trưởng thành (khoảng

1 năm tuổi) tôm tiếp tục di cư ra biển khơi để bắt cặp và sinh sản

2.3.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Tôm sú là loài ăn tạp Trong tự nhiên ở giai đoạn trưởng thành tôm sú ăn loại thức ăn như: giáp xác sống ở dưới đáy, giun nhiều tơ, loài hai mảnh vỏ, ấu trùng của động vật đáy… Trong ao nuôi thâm canh và bán thâm canh, thức ăn chính cho tôm sú

là thức ăn viên công nghiệp

2.3.6 Đặc điểm sinh trưởng

Tôm sú lột xác theo chu kỳ để tăng trọng lượng và kích thước cơ thể Chu kỳ lột xác là thời gian giữa hai lần lột xác liên tiếp Chu kỳ này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cơ thể, điều kiện dinh dưỡng và môi trường sống…

2.3.7 Đặc điểm sinh sản

Ngoài tự nhiên, khi đạt đến tuổi trưởng thành và thành thục về sinh dục tôm bắt đầu di cư ra biển để giao vĩ Tôm thường đẻ trứng về đêm lúc gần sáng, số trứng đẻ tùy thuộc vào kích thước và trọng lượng của tôm mẹ Sức sinh sản của tôm ngoài tự nhiên khoảng từ 200.000 – 1.200.000 trứng/con tôm mẹ

Ngoài tự nhiên, tôm thường đẻ quanh năm nhưng tập trung nhiều nhất vào hai thời kỳ chính: tháng 3 đến tháng 4 và tháng 7 đến tháng 10 hàng năm

Trang 26

2.3.8 Khả năng thích nghi với môi trường sống

Tôm sú có khả năng thích ứng với độ mặn thay đổi từ 0 – 40‰, độ mặn thích hợp nhất là 15 – 25‰

Nhiệt độ: tôm sú thích ứng với nhiệt độ từ 18 – 350C, khoảng nhiệt độ thích hợp nhất là 28 – 300C

Hàm lượng ôxy hòa tan tốt nhất trong khoảng 4 – 7 mg/lít

pH biến động từ 6,5 – 9,5 thích hợp nhất từ 7,5 – 8,5 và pH biến động trong ngày nhỏ hơn 0,5

Độ kiềm thích hợp từ 80 – 150 mg CaCO3/lít

Trang 27

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm

Đề tài được thực hiện tại xã Liêu Tú – Huyện Long Phú – Tỉnh Sóc Trăng từ tháng 4/2008 đến tháng 8/2008

3.2 Phương Pháp Điều Tra và Thu Thập Thông Tin

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Để tìm hiểu tình hình nuôi tôm sú thâm canh tại xã Liêu Tú – Huyện Long Phú – Tỉnh Sóc Trăng chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có mục đích, phỏng vấn trực tiếp nông dân có mô hình nuôi tôm sú thâm canh tại xã Liêu Tú bằng bản điều tra đã soạn sẵn

Thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu bằng cách phỏng vấn trực tiếp 35 hộ trong tổng số 110

hộ nuôi tôm để lấy thông tin về nông hộ, kỹ thuật nuôi, hiệu quả kinh tế, những thuận lợi và khó khăn của các hộ nuôi…

Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được lấy từ các ban ngành có liên quan như: Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Sóc Trăng, Sở Thuỷ Sản (cũ) tỉnh Sóc Trăng, Phòng Nông nghiệp huyện Long Phú, và các tài liệu có liên quan

3.2.2 Nội dung điều tra

Tìm hiểu qui trình sản xuất, mức đầu tư, kỹ thuật nuôi, sản lượng và năng suất tôm nuôi, sự tác động của biến động giá tới hiệu quả kinh tế của hộ nuôi đồng thời tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cũng như trong vùng nuôi

3.2.3 Xử lý số liệu

Trang 28

lệch chi phí giữa giá ở thời điểm vụ nuôi so với giá ở cuối thời điểm vụ nuôi… để thấy được sự tăng giá ảnh hưởng tới thu nhập của người nuôi tôm là bao nhiêu và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi… Và biểu đồ được vẽ trong phần mền này

Chúng tôi tính các chi phí theo những công thức sau:

- Tổng chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi

- Doanh thu = Sản lượng thu hoạch * Giá bán

- Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi phí

- Chênh lệch = Tổng chi phí cuối vụ - Tổng chi phí so với giá ở thời điểm đầu vụ,…

Trang 29

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Hiện Trạng Kinh Tế Xã Hội Của Nông Hộ Nuôi Tôm Ở Xã Liêu Tú - Huyện Long Phú - Sóc Trăng

4.1.1 Sự phân bố theo độ tuổi

Qua khảo sát thực tế 35 hộ nuôi tôm thâm canh tại xã Liêu Tú - huyện Long Phú - tỉnh Sóc Trăng, kết quả về sự phân bố tuổi của chủ hộ được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.1 Tuổi của các hộ nuôi

lý ao nuôi Độ tuổi có tỷ lệ cao nhất là trên 50 tuổi chiếm 42,8% đây là những hộ nuôi

đã gắn bó với nghề nuôi tôm từ rất lâu nên họ có rất nhiều kinh nghiệm trong sản xuất

4.1.2 Số lao động trong nông hộ

Trong qui trình nuôi tôm thâm canh thì lao động trực tiếp tại ao tôm rất quan trọng vì chăm sóc ao tôm cần rất nhiều thời gian trong ngày nên đòi hỏi người trực tiếp nuôi phải có sức khoẻ, kiên nhẫn, tỉ mỉ trong quá trình nuôi Vì vậy các chủ hộ phải

Trang 30

nhân công trực tiếp nuôi Vì vậy số người trong gia đình trực tiếp tham gia chỉ là một, hai người với công việc quản lý trại nuôi, nhân công và theo dõi quá trình nuôi

4.1.3 Diện tích nuôi của nông hộ

Diện tích nuôi tôm ảnh hưởng rất lớn tới năng suất nuôi, vốn đầu tư và nhân lực cho việc quản lý và chăm sóc ao nuôi Qua khảo sát chúng tôi đã ghi nhận được diện tích nuôi của các hộ nuôi như sau:

Bảng 4.2 Diện tích nuôi của nông hộ

Diện tích nuôi (ha) Số hộ nuôi Tỷ lệ (%) Năng suất

Biểu đồ 4.1 Mối tương quan giữa diện tích nuôi và năng suất

Chúng tôi nhận thấy: diện tích nuôi từ 2 – 5 ha chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 34,2% diện tích này tương ứng với số ao nuôi là từ 3 – 10 ao và năng suất đạt được rất cao là 6.462 kg/ha Đứng thứ hai là những hộ nuôi có diện tích nuôi trên 5 ha, đây là

Trang 31

ha phần lớn là do chuyển đổi từ đất trồng lúa qua nuôi tôm theo phong trào nuôi tôm tại xã Liêu Tú nên năng suất đạt chưa cao, một phần do thiếu kinh nghiệm nuôi hoặc đầu tư chưa qui mô Trong đó có 3 hộ thuê đất để nuôi vì họ là kỹ sư hoặc là người nơi khác tới

Nhìn vào Bảng 4.2 ta có thể kết luận: năng suất tỉ lệ thuận với diện tích ao nuôi bởi vì khi diện tích lớn, hộ nuôi phải có nguồn vốn rất lớn, mô hình nuôi được đầu tư qui mô hơn

4.1.4 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn là một yếu tố rất quan trọng trong nghề nuôi tôm thâm canh vì khi trình độ học vấn cao người nuôi dễ dàng tiếp thu được nhiều kinh nghiệm cũng như kỹ thuật nuôi mới có năng suất cao hơn Không thể phủ nhận rằng có những người trình độ học vấn thấp nhưng có thể đạt được năng suất cao bởi vì sau nhiều năm nuôi

họ có nhiều kinh nghiệm tốt Khi họ áp dụng kinh nghiệm đó vào sản xuất và thành công, khi đó cán bộ khuyến ngư tới hướng dẫn kỹ thuật mới trong nuôi tôm sẽ khó khăn hơn Dưới đây là bảng số liệu thể hiện trình độ học vấn của người nuôi

Mù chữ

Trang 32

Kết quả cho thấy năng suất ao nuôi có khuynh hướng gia tăng với trình độ học vấn Những hộ nuôi có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên đạt năng suất nuôi rất cao là 7.122 kg/ha

4.1.5 Tham gia các lớp tập huấn khuyến ngư

Qua thực tế điều tra có 6 hộ không tham gia các lớp tập huấn khuyến ngư hoặc hội thảo do trung tâm khuyến ngư địa phương, đại lý thức ăn – thuốc – hoá chất tổ chức, chiếm 17,1% trên tổng số hộ nuôi; vì vậy năng suất của họ chỉ đạt trung bình là 4.484,9 kg/ha Năng suất trung bình của các hộ nuôi có tham gia các lớp khuyến ngư

là 5.747 kg/ha, cao hơn rất nhiều so với các hộ không tham gia các lớp tập huấn

Trình độ và kỹ thuật nuôi tôm không ngừng phát triển, qua nhiều vụ nuôi kinh nghiệm nuôi của người nuôi cũng không ngừng tăng nhưng không phải vấn đề nào ta cũng giải quyết được Vì vậy khi người nuôi tôm tham gia các lớp tập huấn khuyến ngư hay hội thảo là điều kiện cho nông dân hỏi - đáp và tìm giải pháp cho những khó khăn, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất Những đại lý khi họ tổ chức hội thảo cho nông dân để giới thiệu sản phẩm, thì họ cũng mang đến nhiều sản phẩm tốt giúp làm tăng năng suất nuôi, còn cán bộ khuyến ngư sẽ triển khai được kỹ thuật mới cho nông dân

Bước vào mùa vụ, quan niệm xưa nay của hộ nuôi là được nước, con giống là tiến hành thả nuôi; chính vì vậy vào thời điểm sau tết Nguyên Đán (tháng 1, 2) bà con bắt đầu vào mùa vụ mới Qua điều tra chúng tôi thấy rằng hầu hết những hộ nuôi được cán bộ khuyến ngư tới hướng dẫn nuôi rải vụ (từng hộ sẽ thả giống vào những thời điểm khác nhau trong năm để khi thu hoạch không đồng loạt, giảm được tình trạng ép giá của thương lái và giảm bớt được lây lan dịch bệnh khi có hộ nuôi nào đó gặp phải); nhưng phần lớn các hộ nuôi đều không nghe theo và họ thả nuôi theo thời vụ

4.1.6 Kinh nghiệm nuôi tôm sú của nông hộ

Trong nghề nuôi tôm sú ngoài việc có đủ các điều kiện như: ao nuôi, vốn, nhân lực, thì kinh nghiệm nuôi chiếm một phần khá quan trọng, ảnh hưởng tới năng suất của vụ nuôi Qua nhiều vụ nuôi với con mắt quan sát các trường hợp rủi ro bất thường xảy ra đối với ao nuôi thì người nuôi rút ra cho mình một bài học hoặc tham khảo từ

Trang 33

Bảng 4.4 Kinh nghiệm nuôi và năng suất

Biểu đồ 4.3: Mối tương quan giữa kinh nghiệm nuôi và năng suất

Qua biểu đồ chúng tôi thấy rằng nhóm hộ nuôi có kinh nghiệm từ 2 – 5 năm chiếm 34,3% và đạt năng suất trung bình là 4.892 kg/ha Phần lớn những hộ nuôi này mới nuôi và có diện tích nuôi không lớn, bao gồm từ 1 – 3 ao Còn những hộ nuôi có kinh nghiệm lâu năm hơn thì năng suất đạt rất cao từ 6.313 kg/ha tới 7.150 kg/ha

4.2 Sơ Lược Chung Về Qui Trình Nuôi Tôm Sú Của Nông Hộ

4.2.1 Ao nuôi

Trong nuôi tôm thâm canh vấn đề thiết kế ao nuôi sao cho phù hợp với điều kiện của nông hộ, áp dụng các giải pháp kỹ thuật và đạt được năng suất cao nhất là rất quan trọng Qua khảo sát từ các hộ nuôi chúng tôi nhận thấy phần lớn ao nuôi của hộ

Trang 34

nuôi có hình dạng là hình chữ nhật vo tròn các góc của ao, tạo điều kiện cho việc luân chuyển nước từ các giàn quạt được dễ dàng

Ao nuôi có diện tích từ 4.000 – 6.000 m2 chiếm tỷ lệ lớn nhất là 71,4%; các hộ nuôi có diện tích ao nhỏ hơn 4.000 m2 chiếm tỷ lệ 17,1% bởi vì những hộ nuôi này đa phần có tổng diện tích nuôi nhỏ và hộ nuôi có diện tích ao nuôi lớn hơn 6.000 m2chiếm 11,5%

Độ sâu của ao tại các hộ nuôi dao động từ 1,5 – 2,2 m

Bờ ao được gia cố bằng cơ giới chắc chắn tránh rò rỉ nước trong quá trình nuôi cũng như thất thoát tôm nuôi

Kết quả điều tra cho thấy 91,4% số hộ nuôi tôm nuôi trên diện tích đất có sẵn của gia đình còn lại 8,6% số hộ điều tra nuôi tôm trên diện tích đất thuê

4.2.2 Cải tạo ao

Trong qui trình nuôi tôm thâm canh, việc cải tạo ao ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả trong quá trình nuôi như: giảm được dịch bệnh, góp phần tăng tỷ lệ sống của tôm nuôi Quá trình cải tạo ao được tiến hành qua những bước chung sau:

Sau khi thu hoạch thì cho nước vào ao khoảng 40 cm và tiến hành nạo vét đáy

ao Việc nạo vét nhằm loại bỏ mùn bả hữu cơ tích lũy ở đáy ao của vụ nuôi trước Quá trình nạo vét sử dụng kết hợp giữa thủ công và cơ giới Bùn được công nhân tập trung vào khu vực máy bơm để đưa ra ngoài kênh xả Ngoài ra, khu vực xung quanh ao cũng được vệ sinh Bờ ao được gia cố lại, lấp hang lỗ trước khi lót bạt xung quanh nhằm mục đích giảm tối đa việc sạt lở bờ ao, chủ yếu do quá trình quạt nước

Sau khi nạo vét ao, tiến hành diệt các loài cá, giáp xác như còng, cua… là những ký chủ trung gian mang mầm bệnh vào ao nuôi Sau đó rải vôi nông nghiệp CaCO3 vào ao nuôi với liều lượng 100 kg/1000 m2 và phơi ao khoảng 15 ngày

Trang 35

Hình 4.1 Phơi đáy ao

Ao nuôi sau khi được xử lý để diệt tạp, phần bờ ao sẽ được phủ bạt nylon Xung quanh ao nuôi được rào lưới cao 50 cm để ngăn sự xâm nhập của các loài giáp xác từ bên ngoài vào ao nuôi và từ ao này sang ao khác có thể làm lây lan mầm bệnh

4.2.3 Ao lắng, xử lý nước và gây màu nước

Trong mô hình nuôi tôm sú thâm canh, ao lắng là một phần quan trong không thể thiếu Nước trước khi được cấp vào ao nuôi đều được xử lý thật kỹ ở ao lắng Ao lắng là nơi dự trữ nước cho ao nuôi khi ta thay nước định kỳ hoặc châm thêm nước khi nước trong ao nuôi hao hụt Nước ở ao lắng được xử lý qua các bước:

Nguồn nước được lọc qua túi lọc bằng vải mịn Nước sau khi cho vào ao nuôi

sẽ được để lắng trong ao khoảng 3 tới 7 ngày Sau khoảng thời gian trên, tiến hành xử

lý nước bằng chlorine với liều lượng sử dụng từ 25 – 30 ppm vào buổi chiều mát Chlorine được hòa tan vào nước và tạt đều khắp ao Sau khoảng 3 ngày khi tác dụng của chlorine tự do đã hết, tiến hành diệt cá tạp Hóa chất diệt tạp là saponine có chứa trong bã hạt chè Bã hạt chè được ngâm 24 giờ và tạt xuống ao nuôi vào khoảng 9- 10 giờ sáng Liều lượng sử dụng là 15 – 20 kg/1.000 m3 nước

Trang 36

Hình 4.2 Xử lý nước trong ao lắng bằng chlorine

Theo quy trình xử lý nước được áp dụng cho thấy việc sử dụng chlorine có thể đạt hiệu quả cao để tiêu diệt các loài virus, vi khuẩn, cá và giáp xác

Sau 7 – 10 ngày bơm vào ao nuôi chờ thả giống

Từ khảo sát thực tế 100% số hộ điều tra đều sử dụng ao lắng để đảm bảo nguồn nước lấy vào ao nuôi có chất lượng tốt nhất, giảm thiểu rủi ro

Bảng 4.5 Tỷ lệ phần trăm diện tích ao lắng so với tổng diện tích nuôi

Diện tích

nuôi (ha) Số hộ nuôi

Tỷ lệ (%)

Phần trăm diện tích ao lắng so với diện tích nuôi (%)

Theo Phạm Văn Tình năm 2007 tỷ lệ phần trăm diện tích ao lắng so với diện tích

ao nuôi nên từ 12 – 15% Qua điều tra tỷ lệ diện tích ao lắng của hộ nuôi phù hợp với khuyến cáo trên, đây là cơ sở cho việc đảm bảo hiệu quả về năng suất cuối vụ nuôi

Trang 37

Gây màu nước

Trong nuôi tôm, gây màu nước là rất cần thiết vì gây màu nước là nhằm thúc đẩy sự phát triển của các phiêu sinh vật, tạo một môi trường sống thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của tôm trong quá trình nuôi

Có nhiều phương pháp gây màu nước, có thể sử dụng hỗn hợp các thành phần như sau:

5 kg cám gạo + 1 kg đậu nành + 1 kg bột cá cho 1000 m3, hỗn hợp trên được trộn đều, nấu sôi, để nguội, lọc bỏ phần bã, lấy phần nước tạt đều khắp ao Tiếp tục tạt hỗn hợp trên cho ao nuôi 1 tới 2 lần nữa, đảm bảo cho ao lên màu tốt Ngoài ra nông dân còn sử dụng thêm phân vô cơ như DAP, urê…, mật đường và sử dụng kết hợp Dolomite (20 kg/1000 m3 nước) và Super - Ca (10 kg/1000 m3 nước) trong quá trình này để ổn định hệ đệm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tảo Hoặc dùng Boom Plankton với liều lượng 2 lít/1600 m3 nước tạt liên tục 2- 3 ngày đến khi độ trong đạt 30 – 40 cm là chuẩn bị thả giống được

Phần lớn những hộ nuôi tôm tự mình chủ động tìm nguồn giống bằng cách đi mua tại các trại giống trên

+ Cách chọn tôm giống được nông dân sử dụng

- Tới các trại giống uy tín mà họ thường mua những vụ nuôi trước

- Chọn những bể tôm cùng lứa tuổi, kích cỡ tương đối đồng đều

- Chân đuôi xòe rộng; khi quan sát dưới kính hiển vi, các tế bào sắc tố là những đốm nhỏ có dạng hình sao

- Dạ dày, gan tụy và ruột phải chứa đầy thức ăn

- Tôm phải có đầy đủ phụ bộ, không bị dị hình, không bị ăn mòn hay có màu

Ngày đăng: 18/07/2018, 07:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm