HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT SỰ HIỆN DIỆN CỦA GIUN TRÒN Nematoda TRONG TÚI MẬT CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus BỊ BỆNH VÀNG DA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG CẤU TRÚC MÔ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT SỰ HIỆN DIỆN CỦA GIUN TRÒN (Nematoda) TRONG TÚI MẬT CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) BỊ BỆNH
VÀNG DA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG CẤU TRÚC MÔ
Niên khóa : 2004 – 2008
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THẢO SƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh 9/2008
Trang 2KHẢO SÁT SỰ HIỆN DIỆN CỦA GIUN TRÒN (Nematoda) TRONG TÚI MẬT CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) BỊ BỆNH VÀNG DA
VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG CẤU TRÚC MÔ
Tác giả
NGUYỄN THẢO SƯƠNG
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản chuyên ngành
Ngư y
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Lưu Thị Thanh Trúc
Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 3Cũng xin được cảm ơn gia đình chú Hải, các anh chị ở phòng thí nghiệm của công
ty Vĩnh Thịnh, các anh chị ở phòng cắt mô bệnh viện Từ Dũ đã tạo cho tôi một môi trường làm việc vui vẻ và thân thiện, đặc biệt xin cảm ơn thầy Trang Trung Trực Bác
sĩ chuyên khoa II - Trưởng khoa Mô Học - Tế Bào bệnh viện Từ Dũ đã chỉ bảo cho tôi một cách tận tình
Xin được cảm ơn Quốc Huy, Minh Thắng đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực tập, cảm ơn sự quan tâm, động viên, khuyến khích của tất cả các bạn bè lớp DH04NY
Trang 4TÓM TẮT
Nội dung đề tài “ Khảo sát sự hiện diện của giun tròn (Nematoda) trong túi mật của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) bị bệnh vàng da và những biến đổi
trong cấu trúc mô” gồm các phần:
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các trại nuôi cá tra thương phẩm tại Vĩnh Long và Đồng Tháp để thu thập thông tin nông hộ, kĩ thuật nuôi và tình hình dịch bệnh vàng
da
Thu mẫu bệnh phẩm, ghi nhận bệnh tích
Khảo sát sự hiện diện của Nematoda trong túi mật
Tiến hành cắt mô tại phòng thí nghiệm bệnh viện Từ Dũ
Nghiên cứu bệnh tích vi thể trên mô cá bệnh
Sau khi khảo sát trên 87 mẫu cá vàng da thu được ở 13 trại thuộc hai tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:
Dịch bệnh vàng da xảy ra ở cá có trọng lượng phổ biến từ 150 – 500 g (72,4%)
Tỷ lệ cảm nhiễm giun tròn trong cuống mật là rất thấp (0 - 50%)
Cấu trúc mô cá bệnh có sự thay đổi so với cá khỏe với các biến đổi chủ yếu bao gồm: xung huyết, xuất huyết, thoái hóa và hoại tử
Trang 5MỤC LỤC
Đề mục trang
Trang tựa i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC HÌNH vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới Thiệu Về Cá Tra 3
2.1.1 Hình thái 3
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.3 Đặc điểm sinh sản 4
2.2 Tình Hình Nghiên Cứu Mô Bệnh Học Trên Cá 5
2.3 Tổng Quan Về Bệnh Vàng Da 6
2.3.1 Giới thiệu về bệnh vàng da 6
2.3.2 Một số quan điểm về nguyên nhân gây nên tình trạng vàng da trên cá tra 7
2.3.2.1 Về di truyền và chọn giống 7
2.3.2.2 Do tác nhân gây bệnh 8
2.3.2.3 Do môi trường 11
2.3.2.4 Do thiếu hoặc mất cân đối về dinh dưỡng 12
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm 14
3.2 Vật Liệu, Dụng Cụ, Hóa Chất 14
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.2.2 Dụng cụ 14
3.2.3 Hóa chất 14
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu 15
Trang 63.3.1 Phương pháp thu và cố định mẫu 15
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu mô học 16
3.3.2.1 Phương pháp làm tiêu bản 16
3.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu mô 22
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Tổng Quan Về Thời Gian Xuất Hiện Bệnh 23
4.2 Dấu Hiệu Bên Ngoài Của Cá Tra Khỏe Và Cá Bị Bệnh Vàng Da 24
4.3 Dấu Hiệu Bên Trong Của Cá Khỏe Và Cá Bệnh Vàng Da 26
4.4 Kết Quả Về Giun Tròn Ký Sinh Trong Cuống Mật 29
4.5 Kết Quả Về Những Biến Đổi Trong Cấu Trúc Mô 31
4.5.1 Thận 31
4.5.1.1 Cấu trúc thận cá khỏe 31
4.5.1.2 Cấu trúc thận cá bệnh 32
4.5.2 Tỳ tạng 34
4.5.2.1 Cấu trúc tỳ tạng cá khỏe 34
4.5.2.2 Cấu trúc tỳ tạng cá bệnh 34
4.5.3 Gan 38
4.5.3.1 Cấu trúc gan cá khỏe 38
4.5.3.2 Cấu trúc gan cá bệnh 38
4.5.4 Cơ 43
4.5.4.1 Cấu trúc cơ cá khỏe 43
4.5.4.2 Cấu trúc cơ cá bệnh 43
4.5.5 Ruột 44
4.5.5.1 Cấu trúc ruột cá khỏe 44
4.5.5.2 Cấu trúc ruột cá bệnh 45
4.5.6 Túi mật 46
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết Luận 48
5.1.1 Tình hình dịch bệnh vàng da 48
5.1.2 Hiện diện của giun tròn trong túi mật 48
Trang 75.2 Đề Nghị 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình trang
Hình 2.1: Hình thái ngoài cá tra 4
Hình 2.2: Cá tra nghệ (Pangasius kunyit) 8
Hình 2.3: Quá trình tạo bulirubin trong cơ thể 9
Hình 2.4: Thịt cá tra bị vàng do thiếu dinh dưỡng 12
Hình 3.1: Thu và cố định mẫu trong dung dịch Bouin 16
Hình 3.2: Máy đúc khối Tissue-Tek và các khối mô 18
Hình 3.3:Thao tác cắt mô và căng mỏng 19
Hình 3.4: Hematein 20
Hình 3.5: Eosin 21
Hình 3.6: Nhuộm mẫu 22
Hình 4.1: Biểu hiện bên ngoài của cá bị vàng da 26
Hình 4.2: Mang cá bị vàng và nhạt màu 26
Hình 4.3: Biểu hiện bên trong của cá bị vàng da 28
Hình 4.4: Cá bị vàng da và thận có mủ 28
Hình 4.5: Gan cá bị vàng và mềm nhũn 29
Hình 4.6: Túi mật bị sưng to và có màu xanh đen 29
Hình 4.7: Lách cá sưng to và đen 29
Hình 4.8: Cuống mật bị sưng to và có nhiều nốt sần 30
Hình 4.9: Giun tròn ký sinh trong cuống mật 31
Hình 4.10: Sự biến đổi cấu trúc mô thận cá bị vàng da 34
Hình 4.11: Sự biến đổi cấu trúc mô lách cá bị vàng da thu tại Đồng Tháp 37
Hình 4.12: Sự biến đổi cấu trúc mô lách cá bị vàng da thu tại Vĩnh Long 38
Hình 4.13: Sự biến đổi cấu trúc mô gan cá bị vàng da thu tại Vĩnh Long 41
Hình 4.14: Sự biến đổi cấu trúc mô gan cá bị vàng da thu tại Nha Mân, Đồng Tháp 42 Hình 4.15: Sự biến đổi cấu trúc mô gan cá bị vàng da thu tại Cái Tàu Hạ, Đồng Tháp 43
Hình 4.16: Sự biến đổi cấu trúc mô cơ cá bị vàng da 45
Hình 4.17: Sự biến đổi cấu trúc mô ruột cá bị vàng da thu tại Vĩnh Long 46
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG Bảng trang
Bảng 4.1: Kích cỡ cá bị vàng da trong quá trình thu mẫu 24
Bảng 4.2: Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm giun tròn trên các mẫu cá thu
được 32
Trang 10Chương 1
MỞ ĐẦU1.1 Đặt Vấn Đề
Thủy sản nước ngọt là một trong những lợi thế phát triển kinh tế vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Bộ Thủy Sản cũng đã đánh giá ngành nuôi trồng thủy sản nước ngọt đóng vai trò làm tăng nhanh giá trị xuất khẩu Đặc biệt, cá tra đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực Tuy nhiên do xu hướng nuôi thâm canh ngày càng phát triển nên vấn đề dịch bệnh cũng xảy ra nhiều hơn Do đó, nếu kỹ thuật nuôi chưa được đảm bảo, việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong các công đoạn nuôi chưa được đồng bộ thì vấn
đề ô nhiễm môi trường nước, phá vỡ môi trường sinh thái, bùng nổ dịch bệnh… là một thực tế không thể tránh khỏi và gây ra nhiều thiệt hại lớn cho người nuôi Cá tra cũng như nhiều loài cá nước ngọt khác dễ bị nhiễm nhiều loại bệnh phổ biến ở tất cả các giai đoạn nuôi: cá bố mẹ nuôi vỗ sinh sản, cá hương, cá giống và cá thịt Nguyên nhân gây bệnh được chia thành 2 nhóm: bệnh truyền nhiễm (do virus, vi khuẩn và kí sinh trùng) và tác nhân không truyền nhiễm như bệnh do môi trường hoặc do dinh dưỡng Hiện nay đang xảy ra một dịch bệnh mới gây nên hiện tượng vàng da trên cá tra chiếm
tỉ lệ khá cao 21,6% (theo thống kê của Lý Thị Thanh Loan, 2008) làm ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị xuất khẩu cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nuôi Bên cạnh đó, việc tìm ra nguyên nhân gây bệnh thực sự để có hướng khắc phục và chữa trị vẫn chưa đem lại kết quả khả quan Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất và mong muốn làm rõ một giả thuyết về nguyên nhân gây bệnh, được sự phân công của Khoa Thủy Sản, Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, chúng tôi tiến hành đề tài
“Khảo sát sự hiện diện của giun tròn (Nematoda) trong túi mật của cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) bị bệnh vàng da và những biến đổi trong cấu
trúc mô”
Trang 111.2 Mục Tiêu Đề Tài
Khảo sát sự hiện diện của giun tròn (Nematoda) ở cá tra bị bệnh vàng da từ đó làm
cơ sở củng cố cho giả thuyết về nguyên nhân gây nên hiện tượng bệnh lý trên là do giun tròn kí sinh trong ống mật
Khảo sát sự biến đổi trong cấu trúc mô của cá bị vàng da so với cá khỏe
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới Thiệu Về Cá Tra
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những loài cá có giá trị kinh tế
quan trọng và được nuôi rộng rãi ở khu vực ĐBSCL Cá tra có khả năng chịu đựng môi trường nước khắc nghiệt, thích nghi rộng với nhiều loại thức ăn Tốc độ tăng trưởng khá nhanh: 0,7 - 1,5 kg/năm Mật độ nuôi trong ao có thể đạt tới 15 - 20 con/m2, năng suất trung bình từ 10 - 15 tấn/ha (Trần Thanh Xuân, 1996)
Trước đây giống cá tra được vớt ở sông Cửu Long (vùng giáp giới với Campuchia) Đến nay tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, việc nuôi cá bè phân bố ở một nửa số tỉnh của vùng trong đó cá tra thường được nuôi ở các bè cỡ lớn (Phạm Văn Khánh, 2000)
Cá tra là loài cá da trơn, có thân dài, bề ngang hẹp, đầu nhỏ vừa phải, miệng rộng Loài này có hai đôi râu, trong đó có râu hàm trên ngắn hơn ½ chiều dài đầu, râu hàm dưới ngắn hơn ¼ chiều dài đầu Vây lưng và vây ngực của cá tra có gai cứng, có răng cưa ở mặt sau Điểm khởi đầu của vây lưng gần đối xứng với vây bụng Vây hậu môn
Trang 13tương đối dài Thân cá có màu xám hơi xanh trên lưng, bụng có màu trắng hơi bạc (Phạm Văn Khánh, 2000)
Hình 2 1 Hình thái ngoài cá tra
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng
Sau khi nở được 14 ngày cá có chiều dài từ 2 - 2,3 cm và nặng 0,25 g Cá tra 5 tuần tuổi có chiều dài 5 - 6 cm, nặng 1,28 - 1,50 gr/con Sau một năm đạt 0,7 – 1,5 kg/con
và sau 3 - 4 năm đạt 3 - 4 kg/con (Phạm Văn Khánh, 1997)
2.1.3 Đặc điểm sinh sản
Trong tự nhiên, tuổi thành thục của cá tra từ 3 - 4 năm, thường sinh sản vào tháng
5 - 7 hàng năm Cá tra có tập tính bơi ngược dòng đến các bãi đẻ, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp cho sự phát triển của tuyến sinh dục Các bãi đẻ thường nằm ở vùng Kratie của Campuchia (www.fistenet.com.vn)
Cá mẹ nặng 8 – 10 kg/con có sức sinh sản thực tế 3 - 6 vạn trứng/con, cá nặng 3,2 kg/con có sức sinh sản tương đối 139 - 150 ngàn trứng/con (Phạm Văn Khánh, 1997) Trong sinh sản nhân tạo, cá được nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên, cá tra có thể phát dục 1 – 3 lần trong một năm (Phạm Văn Khánh, 2000)
Trang 142.2 Tình Hình Nghiên Cứu Mô Bệnh Học Trên Cá
Theo Robert (1995), phân tích mô bệnh học là nghiên cứu những thay đổi hiển vi diễn ra trong mô của cơ thể trong suốt quá trình bệnh Những thay đổi này thường là điểm đặc trưng của bệnh và cho phép chẩn đoán bệnh một cách chính xác
Việc nghiên cứu tế bào học và mô học được bắt đầu từ cuối thế kỷ 17 nhưng mãi đến cuối thế kỷ 19 tế bào học và mô học mới thực sự được coi là ngành khoa học Sau khi học thuyết tế bào ra đời (1839), đặc biệt là sau khi lĩnh vực mô học mô tả ra đời thì những thành phần cấu tạo khác của cơ quan và các mô được nghiên cứu cẩn thận và tỉ
mỉ hơn Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này là chế tạo ra máy cắt lát mỏng (microtome) cho phép nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc vi thể của tế bào và mô (Phan Thanh Địch, 1998)
Từ khi học thuyết tế bào ra đời, sự phát triển của tế bào học và mô học diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là giữa thế kỉ 20 đến nay
Một vài nghiên cứu của nước ngoài về mô bệnh học trong lĩnh vực thủy sản từ cuối
thập niên 70 đến 90:
Angka (1990) nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý, LD50, và mô bệnh trên cá trê trắng
(Clarias batrachus) bị nhiễm vi khuẩn Aeromonas hydrophyla Kết quả mô học cho
thấy những vùng hoại tử, xuất huyết trên gan, thận, tỳ tạng và cơ quan sinh dục
Palisoc (1990) tiến hành nghiên cứu mô bệnh trên cá lóc (Ophiocephalus striatus)
mắc bệnh EUS (hội chứng lở loét) Mẫu mô được quan sát ở 8 cơ quan: da, gan, thận, lách, tim, bóng bơi, dạ dày, mang Các mẫu mô được thu và cố định trong dung dich Formaline 10%
Sau khi mẫu mô đã qua xử lý được nhuộm H&E và kiểm tra dưới kính hiển vi Kết quả nghiên cứu cho thấy mô ở cơ, da thể hiện hầu hết các thay đổi bệnh lý đặc trưng ở các giai đoạn bệnh, ngoài ra còn có sự gia tăng về số lượng của trung tâm đại thực bào sắc tố, các tế bào mô bị phá vỡ ở trên thận là rất ít Mẫu lách thì cho thấy sự gia tăng của tế bào sản xuất tủy trắng và các trung tâm hoại tử, chỉ có vài thay đổi nhỏ trên tim, gan, mang, còn trên dạ dày và bóng bơi thì không có thay đổi gì đáng chú ý
Si Si Ha Bu và Leong Takseng (1997) nghiên cứu mô bệnh học trên cá bống mú bị bệnh “sleepy grouper disease’’ bằng phương pháp thu 3 mẫu cá khỏe và 6 mẫu cá bệnh
Trang 15não, da, dạ dày, ruột Các cơ quan này được cố định, xử lý, nhuộm và quan sát dưới kính hiển vi quang học Kết quả có 5 cơ quan có sự thay đổi về cấu trúc hiển vi khi so sánh giữa cá khỏe và cá bệnh là gan, thận, tỳ tạng, mang và tim
Đối với bệnh vàng da, Sakai et al (1998) nghiên cứu về bệnh vàng da trên cá trác
bằng phương pháp mô học, mỗi nơi thu mẫu gồm 8 mẫu cá bệnh (trọng lượng trung bình 5,39 kg/con), và 5 mẫu cá khỏe (trọng lượng trung bình 5,4 kg/con) Về mô học khảo sát trên gan, thận và tỳ tạng Kết quả ở cá bệnh, tế bào tỳ tạng có hiện tượng phì đại, tế bào gan bị hoại tử và thành phần huyết tương có sự thay đổi so với cá khỏe
Ở nước ta cũng đã có những công trình nghiên cứu về mô học trong lĩnh vực thủy sản như:
Nguyễn Quốc Thịnh (2002) nghiên cứu về mô bệnh đốm trắng trong nội tạng cá tra thu ở ao, bè Tác giả đã đưa ra sự so sánh về những biến đổi cấu trúc của mô cá bệnh như hiện tượng xuất huyết, xung huyết, hoại tử trên các cơ quan: gan, thận, lách, mang, tim, cơ so với cá khỏe
Trần Hồng Ửng (2003) nghiên cứu mô bệnh học bệnh trắng gan trên cá tra, cơ quan khảo sát là tỳ tạng kết quả thu được là: tùy từng giai đoạn khác nhau của bệnh mà cấu trúc mô của tỳ tạng có những đặc điểm như: hoại tử dạng hạt, hoại tử hóa lỏng hay cấu trúc của tủy đỏ và tủy trắng khác nhau
2.3 Tổng Quan Về Bệnh Vàng Da
2.3.1 Giới thiệu về bệnh vàng da
Theo y học trên người thì có nhiều cách phân loại vàng da nhưng cách phân loại phổ biến và đơn giản nhất có lẽ vẫn là phân loại theo sự tăng bilirubin trực tiếp là chủ yếu hay sự tăng biluribin gián tiếp là chủ yếu Với vàng da do tăng bilirubin trực tiếp
có thể do ứ mật hoặc tắc mật
Nguyên nhân gây tắc mật phần lớn là các bệnh lý ngoại khoa gồm: tắc trong đường mật và tắc ngoài đường mật Các nguyên nhân gây tắc trong đường mật gồm: sỏi đường mật (và biến chứng), nang đường mật, chít hẹp đường mật, xơ gan mật nguyên phát, viêm đường mật xơ hóa nguyên phát và do ký sinh trùng (giun tròn) Nếu giun tròn làm tắc ống mật sẽ ảnh hưởng đến việc bài tiết của mật hoặc giun đem theo vi khuẩn vào ống dẫn mật thì mật bài tiết ra bị bế tắc gây ra bệnh Hoàng Đản hay còn gọi
là bệnh vàng da (http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com)
Trang 16Trên thủy sản, Pearson và Chinabut (1993) nghiên cứu về bệnh vàng da trên cá trê lai ở Thái Lan, tác giả cho biết bệnh thường xuất hiện ở giai đoạn cá có kích cỡ từ 150 – 350 g và tỉ lệ cá chết cao có khi lên đến 100%
Theo các kết quả nghiên cứu trước đây có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây bệnh vàng da chẳng hạn Sakai và ctv (1987, 1988, 1990) cho rằng nguyên nhân gây bệnh vàng da trên các loài cá tác giả phân tích (cá trác, cá vền, cá hồi) là do sự tồn tại Bilirubin kết hợp trong túi mật và 1989 tác giả cho rằng sự gia tăng quá trình oxy hóa lipid trong cơ thể cá là nguyên nhân chủ yếu của bệnh vàng da
Ngoài ra còn một ý kiến khác cho rằng nguyên nhân của bệnh vàng da là do sự tích
lũy sắc tố mật trong hệ tuần hoàn và trong mô (Turnbull, 1998) Tonguthai et al
(1993) nghiên cứu một số bệnh trên cá trê, trong đó có nói đến bệnh vàng da và theo tác giả thì bệnh có nguyên nhân từ chế độ dinh dưỡng, cụ thể là do cá ăn phế phẩm từ nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn này có hàm lượng dinh dưỡng thấp và có khi bị phân hủy hoặc do cá ăn thức ăn viên cũ đã bị nấm phát triển (trích dẫn bởi Phan Thị Hừng, 2004)
2.3.2 Một số quan điểm về nguyên nhân gây nên tình trạng vàng da trên cá tra
Hình 2.2: Cá tra nghệ (Pangasius kunyit)
Trang 172.3.2.2 Do tác nhân gây bệnh
a) Bệnh do giun tròn kí sinh trong ống mật
Một số giả thuyết cho rằng nguyên nhân gây nên bệnh vàng da có liên quan đến gan
và mật Tác nhân gây bệnh là do có sự hiện diện của giun tròn ký sinh trong túi mật của cá gây tắc nghẽn ống mật, làm sai lệch chức năng gan
Theo Turnbull (1998), tại cơ quan tạo máu Hemoglobin tách globin và Fe2+ (của Heme) tạo nên bilirubin không kết hợp (có màu vàng và độc cho cơ thể), tiếp theo bilirubin này lại kết hợp với albumin theo máu chuyển đến gan, tại gan lại tách albumin và được vận chuyển tích cực vào tế bào gan để kết hợp với 1 hoặc 2 gốc acid glucoronic tạo thành bilirubin kết hợp (không màu và không độc cho cơ thể) được vận chuyển vào ống mật trong gan và theo mật xuống ruột non
Ở ruột non bilirubin kết hợp sẽ bị thuỷ phân thành bilirubin không kết hợp và được khử tiếp thành chất không màu, 50% sẽ được tái hấp thu trở lại gan và 50% còn lại sẽ được thải ra ngoài Quá trình này xảy ra liên tục và đều đặn
Trang 18Hình 2.3: Quá trình tạo bilirubin trong cơ thể Nếu ống mật bị tắc quá trình chuyển hóa này không thể diễn ra một cách bình thường và khi ống mật bị tắc nghẽn, hồng cầu vỡ ồ ạt hay gan bị tổn thương sẽ gây nên bệnh vàng da
Theo Bùi Quang Tề (1991) giun tròn trưởng thành thường được tìm thấy trong ruột
cá, tuy nhiên tùy thuộc vào loài giun tròn, loại cá, giun trưởng thành hoặc ấu trùng có thể tìm thấy ở các nơi khác của cơ thể như: bong bóng, cơ quan nội tạng, dưới da hoặc giữa các lớp cơ
Về cấu tạo: Nematoda thường có thân dài, hình sợi hoặc hình thoi, luôn luôn tròn
trong mặt cắt ngang Thành cơ thể có tầng cuticul bao ở ngoài, tiếp theo là tầng biểu
mô, lớp cơ dọc Tầng cuticul có nhiệm vụ bảo vệ chống lại tác động cơ học, hóa học của môi trường, tầng cuticul nhẵn nên có thể có thêm gờ hay móc cảm giác để di chuyển hoặc để con đực bám vào con cái khi giao phối
Ở phía trước cơ thể giun tròn có lỗ miệng, thường có ba môi: một môi lưng, hai môi bụng bao quanh Cấu tạo môi, số lượng và sự phân bố về phía sau của những cơ quan cảm giác – cơ quan đường bên có ý nghĩa quan trọng trong phân loại
Hệ thống tiêu hóa: sau khoang miệng là thực quản, ruột giữa và ruột sau, xoang miệng thay đổi theo loài Thực quản có thành cơ tương đối khỏe, có khi phình to thành bầu thực quản, cấu tạo và hình dạng của thực quản là một chỉ tiêu phân loại của loài
Thực quản của một số giống loài thuộc Nematoda được chia làm hai phần: thực
quản cơ và thực quản tuyến, có loài ở vị trí giáp ranh giữa thực quản và ruột có mọc manh nang Ruột chia thành các đoạn trước, giữa và sau Hậu môn thông ra ngoài, ở
Trang 19con cái hậu môn riêng biệt, ở con đực hậu môn liên thông ống phóng tinh thành xoang bài tiết sinh dục nên hậu môn gọi là lỗ huyệt
Hệ thống sinh dục: giun tròn có sự phân tính đực cái khác cơ thể Tuyến sinh dục đực có một tinh hoàn hình sợi, lớn dần thành ống dẫn tinh nằm dưới ruột hướng về sau hình thành một phần ngắn là túi tinh Gần huyệt sinh dục, túi tinh thắt lại một ống nhỏ
đó là ống phóng tinh Ống này đổ vào ruột sau, trước huyệt sinh dục bài tiết Ở mặt lưng có thêm một đôi túi giao phối, trong đó có 1-2 gai giao cấu Khi giao phối, móc con đực móc vào huyệt con cái Có con đực đuôi xòe rộng bám vào con cái Con cái có
2 buồng trứng hình sợi mảnh, lớn dần thành ống dẫn trứng, chứa đầy trứng chưa có vỏ
và chưa phân cắt, ống dẫn trứng chuyển thành tử cung chứa đầy trứng đang phát triển Hai tử cung tập trung thành âm đạo đôi, ngắn
Đa số giống loài có một đôi buồng trứng và một đôi tử cung, trứng được thụ tinh trong tử cung và được bao lại bằng vỏ trứng do cơ thể phân tiết, âm đạo thông với lỗ sinh dục cái ở mặt bụng đoạn giữa cơ thể Cơ quan sinh dục cái uốn khúc nhiều lần, cuốn quanh ruột Phần lớn giun tròn đẻ trứng, trứng dày thường có lông và những sợi
tơ, hình dạng, kích thước trứng cũng rất khác nhau, có ý nghĩa trong phân loại, một số
Những vật chủ trung gian của Nematoda ở cá chủ yếu là giáp xác (Copepoda,
Amphipoda), đồng thời còn là ấu trùng của côn trùng và Oligocheta Trong xoang thân của vật chủ trung gian ấu trùng phát triển lột xác và trở thành kí sinh, nói chung chu kỳ phát triển của giun tròn có khác nhau tùy theo từng giống loài
b) Do bệnh đốm trắng
Có một số giả thuyết cho rằng bệnh mủ gan (bệnh đốm trắng trên gan, thận) cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng vàng da trên cá tra Qua một số tài liệu thu thập được thì đây cũng là một giả thuyết có căn cứ Bệnh mủ gan được ghi nhận lần đầu tiên trên
cá tra ở đồng bằng Sông Cửu Long vào cuối năm 1998 (Ferguson và ctv., 2001),
Trang 20nguyên nhân được biết đến là do vi khuẩn gram (-) Edwardsiella ictaluri (Crumlish và
Khi cá bệnh nặng, những tổn thương lan rộng làm gan không còn chức năng khử độc và lọc máu, làm chất độc tích tụ trong cơ thể kết hợp với những yếu tố khác làm cá chết Ngoài ra, do tổ chức gan bị hư hại làm mất khả năng tiết mật của gan Một số cá mới chết khi mổ ra thấy túi mật bị vỡ, dịch mật lan tràn khắp nội quan Điều này có thể
do khi gan bị hoại tử đồng thời cũng hoại tử ống dẫn mật và túi mật làm túi mật vỡ, dịch mật thoát ra ngoài (Nguyễn Quốc Thịnh, 2002).Ngoài ra, nếu cá bị bệnh kéo dài hoặc lặp lại nhiều lần thì thịt cá cũng bị vàng (Thoại Sơn, 2006)
2.3.2.3 Do môi trường
Cá được nuôi trong môi trường nước ao tù đọng, dưỡng khí hòa tan thấp, nhiều mùn bã hữu cơ, vi sinh vật, tảo và khí độc thì thịt cá tra sẽ bị vàng Trong một ao cá, sắc tố của từng con cũng khác nhau, cá càng lớn nuôi càng lâu trong môi trường có nhiều tảo và mùn bã hữu cơ thì quá trình tích lũy sắc tố ảnh hưởng đến màu sắc càng tăng Trong ao cá nuôi nếu tình trạng thiếu oxy kéo dài thì cũng làm cho thịt cá bị vàng (Vương Học Vinh, 2005)
Theo báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Đồng Tháp, 2004
về tổng kết các mô hình nuôi cá tra thì mỗi mô hình nuôi đều có những ưu nhược điểm riêng của nó, theo thứ tự như sau:
Cá nuôi nước tĩnh ít thay nước thì hệ số thức ăn thấp, tỷ lệ sống cao, cá ít bệnh nhưng thịt cá có màu vàng
Trang 21 Cá nuôi ao ở những bãi bồi có chế độ thay nước thường xuyên thì hệ số thức ăn cao hơn, tỷ lệ sống thấp hơn nhưng thịt cá chiếm tỷ lệ thịt trắng nhiều hơn
Cá nuôi bè, đăng quầng nước chảy thì hệ số thức ăn cao hơn hết, tỷ lệ sống thấp nhất (chỉ đạt khoảng 70 - 75%), nhưng cho thịt cá trắng đẹp, tỷ lệ thịt vàng rất thấp Tuy nhiên, mô hình nuôi này cá dễ nhiễm bệnh hơn do phải thường xuyên thay nước bên ngoài
2.3.2.4 Do thiếu hoặc mất cân đối về dinh dưỡng
Các loại vitamin là thành phần rất cần thiết đối với cá Thức ăn thiếu vitamin C cá
bị tóp nắp mang, dị hình cột sống, nhất là trong giai đoạn cá giống ương nuôi Cá thương phẩm nếu thiếu vitamin C dễ dẫn đến thịt bị vàng, chất lượng thịt kém, hàm lượng protein (đạm) trong thịt giảm thấp Nếu thiếu trầm trọng cá bị giảm sức đề kháng, dễ nhiễm bệnh, hệ miễn dịch kém, màu sắc cá sậm lại, cá chậm lớn, gầy yếu Nếu thiếu các vitamin thiết yếu khác như vitamin A, B12, axit folic, thiamin gây cho cá kém ăn, thiếu máu, gầy Nếu thiếu biotin hay vitamin E thì mỡ và thịt của cá cũng bị vàng
Màu sắc thịt cá còn chịu nhiều tác động của các loại thức ăn mà chúng hấp thu Cơ thịt cá tra sẽ bị vàng nếu chúng không được cung cấp đầy đủ thức ăn cần thiết và buộc chúng phải tìm nguồn thức ăn khác, trong đó có những thức ăn chứa sắc tố khiến mỡ
và cơ thịt chúng bị vàng
Hình 2.4: Thịt cá tra bị vàng do thiếu dinh dưỡng
(Nguồn: công ty Bayer Việt Nam)
Bên cạnh đó, thành phần các loại thức ăn cũng ảnh hưởng rất lớn đến màu sắc cơ thịt của cá tra nuôi Dù nuôi ở bất kỳ hình thức nào (ao, bè, đăng quầng) hay bất cứ
Trang 22môi trường nào (nước chảy hay nước tĩnh), nếu sử dụng những loại thức ăn xanh (rau muống), chất kết dính (bột gòn) thì thịt cá sẽ có màu vàng (Thoại Sơn, 2006)
Trang 23Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời Gian Và Địa Điểm
Thời gian thực hiện: 04/2008 – 08/2008
Địa điểm thực hiện:
Các ao nuôi cá tra thương phẩm thuộc tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long
Phòng mô học – bệnh viện Từ Dũ
Phòng bệnh học Khoa Thủy Sản, Đại học Nông Lâm Tp.HCM
3.2 Vật Liệu, Dụng Cụ, Hóa Chất
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá tra khỏe và cá tra bị bệnh vàng da ở giai đoạn nuôi thịt
3.2.2 Dụng cụ
Dụng cụ quan sát: KHV điện
Dụng cụ thu mẫu: lame, lamelle
Dụng cụ giải phẫu : kéo lớn, kéo nhỏ, dao, kẹp, dùi, khay nhôm
Dụng cụ cắt mô : Máy Tissue-Tek, máy cắt mỏng Microtome, bồn nước ấm…
Các dụng cụ khác : đĩa petri, cốc đong, cân, thước đo, lọ nhuộm tiêu bản, máy ảnh, cassette…
3.2.3 Hóa chất
Dung dịch Bouin
Paraffin
Xylene
Thuốc nhuộm Hematoxylin, Eosin
Keo Baume Canada, Mayer’s Albumen
Cồn 90%, 70%, 50%
Trang 243.3 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.3.1 Phương pháp thu và cố định mẫu
Khi thu mẫu cá phải còn sống hoặc gần chết, ít bị tổn thương do đánh bắt
Đặt cá trong khay nhôm sạch, giữ ẩm Nếu cá quẫy mạnh thì làm chết ngay
Cân trọng lượng, đo chiều dài và chụp hình cá
Quan sát và ghi nhận các dấu hiệu hình thái bên ngoài
Tiến hành giải phẫu cá
Dùng kéo nhọn cắt túi mật ra, quan sát dịch mật, sau đó cạo nhớt bên trong túi mật, ống mật, ép và quan sát dưới kính hiển vi xem có sự hiện diện của giun tròn hay không, đếm và tính tỉ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm
+ Tỷ lệ cảm nhiễm (%): (số cá bị nhiễm giun tròn/tổng số cá được kiểm tra)*100
+ Cường độ cảm nhiễm: số lượng kí sinh trùng/ống mật
Mẫu mô được lấy ở các cơ quan: cơ, gan, thận, tỳ tạng, dạ dày, ruột, cuống mật được cố định trong dung dịch Bouin Cách lấy mẫu như sau:
+ Tỳ tạng và cuống mật: dùng kéo cắt lấy nguyên tỳ tạng và cuống mật + Gan, thận, cơ…: dùng dao bén cắt dứt khoát, lưỡi dao thẳng góc với bề mặt cơ quan, diện tích cắt mẫu khoảng 2cm2, độ dày 1cm
Hình 3.1: Thu và cố định mẫu trong dung dịch Bouin
Trang 253.3.2 Phương pháp nghiên cứu mô học
Tiến hành rửa mẫu dưới vòi nước chảy để loại sạch dung dịch cố định
Quá trình rửa nước được tiến hành như sau: Sau khi đổ hết dung dịch cồn 70%, mẫu được rửa dưới vòi nước sạch chảy nhẹ trong 5 phút Tiếp đến ngâm mẫu trong nước sạch 30 phút Sau thời gian ngâm mẫu, nước trong lọ đựng mẫu được đổ ra và lại tiếp tục ngâm rửa mẫu Qua 3 lần rửa và ngâm nước dung dịch cố định đã được loại ra khỏi mẫu
b) Cắt tỉa và định hướng cho mẫu mô đã được cố định
Mục đích:
Xác định chính xác mẫu cần quan sát
Tiết kiệm thời gian, chi phí
Làm nổi bật cấu trúc của mẫu vật
Rửa mẫu cố định
Khử nước Làm trong mẫu
Hydrate hóa Nhuộm
Cắt tỉa, định hướng mẫu
Dán và hoàn tất tiêu bản
Trang 26 Mẫu mô có thể được cắt đôi theo chiều nằm ngang, hoặc cắt thẳng đứng dọc ở giữa, có độ dày vừa với cassette
c) Khử nước
Nguyên tắc:
Không làm tế bào bị biến dạng
Không làm thay đổi vị trí cấu tạo của tế bào trong mô
Quá trình:
Mẫu mô được nhúng qua một loạt các dung dịch cồn (ethanol) với nồng độ gia tăng 10% cho mỗi bước) từ cồn 50% đến cồn 80%
Sau đó nhúng mẫu 3 lần trong cồn 96%
Chuyển sang cồn 100% Thời gian khử nước thay đổi tùy theo độ dày của mẫu
Đối với mẫu mô ngấm chậm, thời gian ngâm từ 6 - 12 giờ
Sự ngấm paraffin phụ thuộc vào quá trình khử nước và khử cồn
f) Đúc khối
Mẫu mô trong casstte được lấy ra, cho vào giữa khuôn, cẩn thận đổ hỗn hợp paraffin và sáp ong đã được làm nóng chảy vào khuôn, đặt lên bộ phận làm lạnh của máy Tissuep-Tek để mẫu mô trong khuôn được cố định cứng chắc, tiến hành hạ nhiệt bằng nước đá Sau 10 phút tiến hành tách khuôn và gọt khối
Trang 27Hình 3.2: Máy đúc khối Tissue - Tek và các khối mô
g) Cắt mẫu
Mục đích: cắt mẫu mô thành những lát thật mỏng có khả năng cho ánh sáng xuyên qua để có thể quan sát dưới kính hiển vi
Có nhiều phương pháp và máy cắt mẫu:
Máy cắt quay với lưỡi dao thép hay lưỡi dao mỏng thường được sử dụng nhiều nhất
Phương pháp cắt lạnh
Cắt mô đúc trong khối paraffin
Mẫu mô được cắt ở bệnh viện Từ Dũ bằng máy cắt quay với lưỡi dao thép Khối được đặt lên máy cắt cắt mỏng thành dây ruban Cho vào bồn nước ấm để làm mẫu căng thẳng, chọn mẫu đẹp và dán lên lame đã được quét qua dung dịch Mayer’s Albumen, sau đó lame được đưa vào tủ ấm ở 800C để tiến hành tẩy sáp hoàn toàn
Hình 3.3: Thao tác cắt mô và căng mỏng
Trang 28h) Nhuộm mẫu
Loại bỏ Paraffin: do Paraffin rất khó ngấm các loại thuốc nhuộm nên cần loại chúng ra khỏi mẫu Xylen là loại hóa chất thường được sử dụng cho mục đích này Mẫu sẽ được nhúng qua 3 lọ xylen, mỗi lọ trong vòng 3 phút
Loại bỏ Xylen bằng cồn tuyệt đối: Xylen hòa tan được trong các dung dịch có nước
do đó cần loại Xylen ra khỏi mẫu bằng cách nhúng qua 2 lọ cồn 1000C, mỗi lọ 1 phút
Xử lý mẫu qua cồn với nồng độ giảm dần: nhằm làm giảm các dòng nước khuếch tán, tránh sự co giãn đột ngột có thể làm cho mẫu bị vỡ vụn và tách rời khỏi phiến kính, mẫu sẽ được nhúng qua một loạt dung dịch cồn với nồng độ giảm dần từ 90%, 70%, 50%, mỗi lọ trong vòng 1 phút
Làm cho mẫu ngậm nước: là bước trung gian để chuyển mẫu về cùng điều kiện với dung môi hòa tan loại thuốc nhuộm đầu tiên Rửa bằng nước cất trong vòng 1 phút Nhuộm màu với Hematoxylin: nhuộm màu với Hematoxylin chính là quá trình nhuộm nhân tế bào Hematoxylin là một phẩm nhuộm tự nhiên chiết suất bằng ête từ lõi cây
Haematoxylon campechianum mọc trong vùng nhiệt đới Campeche ở Mehico Bản
thân Hematoxylin không có đặc tính nhuộm mà phải trải qua quá trình oxy hóa để biến thành Hematein mới nhuộm được: đó là hiện tượng ‘‘Hematoxylin đã chín’’
Hình 3.4: Hematein
Hematein bản thân ít ưa các tổ chức, vì vậy nên phải dùng một chất gắn màu thường là Aluminium dưới thể Alum (Alum ammoniac, potassium hay sắt) chất sơn được hình thành có tính điện dương mạnh và như vậy giống như những phẩm nhuộm bazơ mạnh nên cố định trên các acid nucleic, đặc biệt là acid nucleic của nhân Các sự khác nhau về đặc tính nhuộm phụ thuộc vào cách pha chế dung dịch Hematoxylin và thành phần chất gắn màu
Trang 29Công thức pha chế Hematoxylin theo Mayer:
Nhuộm màu với Eosin: nhuộm màu với Eosin là quá trình nhuộm nguyên sinh chất Eosin bao gồm Eosin Y và Eosin B
Eosin Y Eosin B
Hình 3.5: Eosin Eosin nói chung thuộc về nhóm Xanthen tức là Fluorescein, Eosin Y là phẩm nhuộm nguyên sinh chất thông dụng nhất Nó là muối sodium của dẫn chất tetrabrom của fluorescein Eosin Y có màu huỳnh quang vàng- xanh lá cây nhạt Khi cho vào cồn huỳnh quang càng mạnh Eosin B có màu lơ nhạt: là dẫn chất dibrom của dinitro fluorescein, ít được sử dụng hơn Eosin Y khi phối hợp với Hematoxylin
Công thức pha chế Eosin 1%
Eosin Y 1 g
Nước cất 100 mL
Trang 30Ở bệnh viện Từ Dũ tùy theo thuốc nhuộm, mẫu cũng được nhuộm bằng Eosin trong vòng 30 giây đến 1 phút 30 giây
Khử nước hoàn toàn: lát mẫu cắt phải được cố định và bảo quản trong môi trường
có thể hòa tan với Xylen, vì thế cần thiết phải loại nước ra khỏi mẫu bằng cồn trước khi chuyển sang Xylen Mẫu lần lượt được nhúng qua cồn 100, 100, 96%, mỗi lọ trong vòng 1 phút
Làm trong mẫu: mẫu được làm trong và cồn được loại hoàn toàn ra khỏi lát cắt khi
nhúng mẫu vào trong Xylen 3 lần, mỗi lần 1 phút
Hình 3.6: Nhuộm mẫu
Đóng khung hoàn tất tiêu bản: để bảo quản và duy trì mẫu lâu dài Mẫu sau khi
được thấm khô dùng dung môi (keo Canada) dán lại bằng lamelle Baume Canada thường là loại chất lỏng sánh đặc, dễ đông cứng lại và thỏa mãn các điều kiện sau:
Giữ mẫu sạch và trong suốt
Không làm thay đổi màu sắc hay phản ứng với phẩm nhuộm
Giữ cố định phiến kính phủ trên mẫu
Độ chiết quang của dung môi tương đương với độ chiết quang của thủy tinh Với phương pháp nhuộm này:
Nhân tế bào có màu xanh dương
Vùng tế bào chất với lưới nội chất có màu xanh nhạt hay tím
Phần tế bào còn lại sẽ dao động quanh màu hồng sậm
Trang 313.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu mô
Dựa vào giáo trình mô học của trường đại học Y Hà Nội (1998), Bài giảng sinh học động vật của Lê Minh Nguyệt, Nguyễn Anh Tuấn (2004) để có cái nhìn tổng quát về các loại mô Giáo trình Mô bệnh học (2007) của Lưu Thị Thanh Trúc, Atlas of Tilapia Histology của Carol M.Morrison, Kevin Fitzsimmons, James R.Wright Jr (2006) để nhận biết mô các cơ quan trên cá, cấu trúc bình thường và các biểu hiện bệnh lý bất thường
Ngoài ra còn dựa vào một số tài liệu khác như Anatomy and histology of the channel catfish (Grizzle, M.J and W.A.Rogers, 1976), Bước đầu nghiên cứu đặc điểm
mô bệnh học bệnh phù mắt trên cá Tra (Pangasius hypophthalmus) của Bùi Châu Trúc
Đan (2003), Bệnh học thủy sản (Bùi Quang Tề, 2004)…
Tất cả các hình về mô học khi nghiên cứu đều được chụp ở vật kính ×10
Trang 32Kết quả điều tra chúng tôi thu được 130 mẫu cá ở các trại nuôi, trong đó có 87 mẫu
cá bị vàng da Trong 87 mẫu cá vàng da, có 63 mẫu cá ở trọng lượng 150 - 500g chiếm
tỷ lệ cao nhất (72,4%), kế đến là cá từ 500 – 1000 gr chiếm 18,4%, cá có kích cỡ
>1000g chiếm 6,9%, còn lại là cá có kích cỡ <150 gr chiếm 2,3% (Bảng 4.1) Cũng theo Nguyễn Phước Hựu (2005) thì trọng lượng phổ biến của cá bị bệnh vàng da chủ yếu là khoảng hơn 500 gr, tuy nhiên qua thực tế điều tra nhận thấy cá bị bệnh vàng da xuất hiện ở nhiều kích cỡ, điều đó chứng tỏ sự diễn biến ngày càng phức tạp của bệnh
Bảng 4.1: Kích cỡ cá bị vàng da trong quá trình thu mẫu
Trang 334.2 Dấu Hiệu Bên Ngoài Của Cá Tra Khỏe Và Cá Bị Bệnh Vàng Da
Cá khỏe khi thu mẫu thì bơi lội linh hoạt, khả năng bắt mồi mạnh và phản ứng nhanh nhẹn với tiếng động, cơ thể trơn láng, màu sắc bình thường, các vây không bị mòn hay rách, lưng màu xanh đen, phần bụng có màu trắng bạc Không có những biểu hiện bất thường như là bỏ ăn, lờ đờ, trên thân không có vết lở loét hay những vùng da
bị mất màu, không có biểu hiện xuất huyết trên da, vây cũng như hậu môn, không có
kí sinh trùng hay có nhưng với số lượng không đáng kể
Khi cá bị bệnh vàng da có biểu hiện bệnh lý như: cá bơi lờ đờ cạnh mé ao, cá thường tập trung nơi thay nước của ao vào buổi sáng sớm Cá phản ứng chậm với tiếng động và cá bỏ ăn Số cá bị bệnh vàng da chết nhiều nhất vào buổi sáng sớm
Dấu hiệu bên ngoài của cá bị vàng da thì ở vùng đầu, phần miệng, quanh mắt, rìa nắp mang và các vây, bụng đều có màu vàng, tùy theo mức độ nặng hay nhẹ của bệnh
mà màu sắc của cá biến đổi từ vàng nhạt đến vàng đậm
Trang 34
Hình 4.1: Biểu hiện bên ngoài của cá bị vàng da
Trang 35Quan sát các cung mang của cá vàng da thường có biểu hiện bị tưa, chuyển sang màu hồng nhạt (Hình 4.2), nếu cá bệnh nặng mang cá có thể chuyển thành màu vàng
4.3 Dấu Hiệu Bên Trong Của Cá Khỏe Và Cá Bệnh Vàng Da
Cá tra khỏe khi mổ không xuất hiện dịch xoang bụng, gan có màu đỏ cam, thận và
tỳ tạng có màu đỏ nâu Màu sắc trên từng cơ quan phải đồng nhất và cấu trúc rắn chắc, không có biểu hiện sưng to hoặc nhũn
Cá bệnh vàng da thì trong xoang bụng có chất dịch màu vàng (Hình 4.2B), những
cá bệnh nặng thì dịch có màu vàng sậm, mỡ và cơ thịt vàng Do cá không ăn nên trong
hệ tiêu hóa không có thức ăn, chứa chất dịch lỏng màu trắng Cá tra khỏe có túi mật bình thường với màu vàng đến xanh, cá bị bệnh thì túi mật sưng to, màu xanh đen (Hình 4.5) Đối với cá vàng da có nhiễm giun tròn, giun kí sinh bên trong thành cơ của cuống mật làm cho thành cơ dày lên, cuống mật bị phình to và có những hạt màu trắng đục (Hình 4.7)
Đối với gan, bệnh tích chủ yếu là gan nhạt màu, sưng to, cá bị bệnh nặng gan có màu vàng, nhũn (Hình 4.4), đôi khi chuyển sang màu tái xanh, có những vùng xuất huyết (Hình 4.2A) Tương tự với gan, thận của cá bị bệnh sưng to, tràn ra che lấp một phần xoang bụng (Hình 4.2B) Ở cá bệnh nặng, thận đôi khi bị mềm nhũn hoặc không còn cấu trúc, tỳ tạng sưng to đôi khi chuyển sang màu đen (Hình 4.6)
Một số trường hợp khi mổ khám nội quan chúng tôi quan sát thấy trên gan, thận, lách có nhiều đốm mủ trắng tương tự với bệnh tích như trên bệnh gan, thận mủ (Hình 4.3), kết quả phỏng vấn các trại nuôi cũng cho biết thường trước khi cá chuyển sang bệnh vàng da, hầu hết các trại nuôi đều mắc phải dịch bệnh này, điều này cũng phù hợp với giả thiết cho rằng bệnh gan, thận, mủ có thể là một trong những nguyên nhân gây nên dịch bệnh và cần được quan tâm nghiên cứu thêm
Trang 36Hình 4.3: Biểu hiện bên trong của cá bị vàng da
Trang 37Hình 4.5: Gan cá bị vàng, mềm nhũn
Hình 4.6: Túi mật bị sưng to và có màu xanh đen
Hình 4.7: Lách cá sưng to và đen
Trang 38Hình 4.8: Cuống mật bị sưng to và có nhiều nốt sần
4.4 Kết Quả Về Giun Tròn Ký Sinh Trong Cuống Mật
Giun tròn thường gây nhiễm với tỷ lệ khá cao trên cá nuôi Trên các cá thể nhiễm giun ít, chỉ thấy cá ăn nhiều nhưng chậm lớn Nếu nhiễm nhiều giun cá có dấu hiệu yếu ớt, chậm lớn, còi cọc, một số con chết, gây thiệt hại lớn về kinh tế Theo Bùi
Quang Tề (2001) cá tra thịt nhiễm giun tròn Cucullanellus minutus, tỷ lệ nhiễm ở
cuống mật là 35,71% với cường độ nhiễm trung bình là 8 trùng/cá
Trang 39Hình 4.9: Giun tròn ký sinh trong cuống mật
Qua kết quả kiểm tra cá bị nhiễm kí sinh trùng tại các trại nuôi ở An Giang và Đồng Tháp, chúng tôi nhận thấy giun tròn chủ yếu xuất hiện ở cá có cỡ từ 150 - 500g Tuy nhiên ở cá tra bị bệnh vàng da, tỷ lệ cá bị nhiễm giun tròn kí sinh trong cuống mật
là rất thấp (0 – 50%), tỉ lệ cảm nhiễm chỉ chiếm 9,09% và 16,67% ở các trại số 3 và 4, trừ trại số 6, các trại còn lại, khi thu mẫu cá vàng da đều không thấy trong ống mật có
sự hiện hiện của giun tròn (Bảng 4.2) Riêng ở trại số 6 trong lần thu mẫu đầu tiên vào ngày 15/05/2008 chúng tôi chỉ thu được cá bị nhiễm kí sinh trùng với tỉ lệ cảm nhiễm cao, lên đến 72,73% (8/11), không thấy cá có hiện tượng vàng da Tuy nhiên, đến đợt thu mẫu lần 2 vào ngày 29/5/2008, tỉ lệ cảm nhiễm giun tròn vẫn chiếm đến 60% nhưng tỷ lệ cá bị vàng da lại chiếm 80% (4/5) trong tổng số cá thu được Trong số cá
bị vàng da thì tỷ lệ cảm nhiễm của giun tròn là 50% (2/4) Điều này có thể được giải thích là do trong thời gian đầu giun tròn kí sinh với mật độ cao nhưng chưa gây tắc nghẽn ống mật nên cá chưa có biểu hiện bệnh lý ra ngoài
Trang 40Bảng 4.2: Tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm giun tròn trên các mẫu cá thu
được
Trại Tỉ lệ cảm
nhiễm giun tròn (của tổng số cá kiểm tra) (%)
Tỉ lệ cá bị vàng da/tổng số
cá kiểm tra (%)
Tỉ lệ cảm nhiễm giun tròn trên cá bị vàng da (%)
Cường độ cảm nhiễm (của cá vàng da)
Thận chia làm 2 phần: thận trước và thận sau Thận sau tách ra từ thận trước trong