Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-& -
VŨ VĂN BÍNH
ẢNH HƯỞNG LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG
ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ LAI DK - 888
TẠI HUYỆN CƯ JÚT - ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuy ên ngành: Tr ồng tr ọt
M ã số :60 62 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hùng
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2008
Tác giả luận văn
Vũ Văn Bính
Trang 3
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thế Hùng người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2008
Tác giả luận văn
Vũ Văn Bính
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LAI (Leaf area Index) Diện tích lá
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu 3
1.2.2 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước 5
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
2.1.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 8
2.2 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm và mật độ cho cây ngô trên thế giới và Việt Nam 12
2.2.1 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm và mật độ cho cây ngô trên thế giới 12
2.2.2 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm và mật độ cho cây ngô ở Việt Nam 22
2.2.3 Sản xuất ngô ở huyên Cư Jút – Đăk Nông 28
Trang 6III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Vật liệu nghiên cứu 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Sơ đồ thí nghiệm 31
3.3.2 Chăm sóc thí nghiệm 31
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.3.3.1 Thời gian sinh trưởng 32
3.3.3.2 Các chỉ tiêu về hình thái cây 32
3.3.3.3 Các yếu tố cấu thành năng suất 33
3.3.3.4 Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ 34
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến sự sinh trưởng
và phát triển của giống ngô DK - 888 36
4.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống ngô DK - 888 39
4.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến tăng trưởng chiều cao cây 39
4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến tốc độ tăng trưởng
chiều cao của cây 43
4.3 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến tốc độ tăng trưởng số
lá ngô DK - 888 45
4.4 Ảnh hưởng của mật độ và các liều lưọng đạm đến diện tích lá và chỉ
số diện tích lá (LAI) 47
4.5 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm khác nhau đến đặc điểm hình thái cây của giống ngô DK - 888 51
Trang 74.5.1 Chiều cao cây cuối cùng 51
4.5.2 Chiều cao đóng bắp 52
4.6 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến đường kính gốc và
chiều dài lóng của giống ngô DK - 888 54
4.7 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến khả năng chống đổ và sâu bệnh của giống ngô DK - 888 55
4.8 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô DK - 888 58
4.9 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến năng suất của giống
ngô DK - 888 60
4.9.1 Năng suất lý thuyết 60
4.9.2 Năng suất thực thu 62
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của một số nước trồng ngô
hàng đầu trên thế giới năm 2003 5
Bảng 2.2 Sản lượng ngô sản xuất trên thế giới năm 2005 – 2007 7
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam giai đoạn 1985 - 2007 9
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô phân theo vùng của Việt Nam 11
Bảng 2.5 Lượng dinh dưỡng cây hút đất và phân bón (kg/ha) 12
Bảng 2.6 Diện tích các loại cây trồng của huyện Cư Jut
giai đoạn 2002 - 2006 28
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất ngô ở huyện Cư Jút giai đoạn 1996 - 2006 29
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến thời gian sinh trưởng của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 36
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến thời gian sinh trưởng của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 37
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến tăng trưởng chiều cao cây của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 40
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến tăng trưởng chiều cao của giống ngô DK- 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 42
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 46
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 47
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 48
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 49
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến chiều cao cây cuối cùng và chiều cao đóng bắp của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 51
Trang 9Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến chiều cao cây cuối
cùng và chiều cao đóng bắp của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 53 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến đường kính gốc và
chiều dài lóng của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 54 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến đường kính gốc và
chiều dài lóng của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 55 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến khả năng chống
chịu của giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 56 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến khả năng chống
chịu của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 56 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất của
giống ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 58 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 60 Bảng 4.17 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến năng suất của giống
ngô DK - 888 trên đất đỏ Bazan 61 Bảng 4.18 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm đến năng suất của
giống ngô DK - 888 trên đất đen lẫn sỏi đá 62 Bảng 4.19 Hiệu suất sử dụng phân đạm của giống ngô DK - 888 trên
đất đỏ bazan 63 Bảng 4.20 Hiệu suất sử dụng phân đạm của giống ngô DK - 888 trên đất đen
lẫn sỏi đá 64
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hỡnh 4.1 Mật độ và liều lượng đạm ảnh hưởng chiều cao cõy trờn nền
đất đỏ Bazan 40
Hỡnh 4.2 Mật độ và liều lượng đạm ảnh hưởng chiều cao cõy trờn nền
đất đen 42
Hỡnh 4.3 Mật độ và liều lượng đạm ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng
chiều cao cõy trờn nền đất đỏ Bazan 44
Hỡnh 4.4 Mật độ và lượng đạm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng
chiều cao cõy trờn nền đất đen 44
Hỡnh 4.5 Ảnh hưởng mật độ và liều lượng đạm đến chiều cao cõy
trờn nền đất đỏ Bazan 52
Hỡnh 4.6 Ảnh hưởng mật độ và liều lượng đạm đến chiều cao cõy
trờn nền đất đen lẫn sỏi đỏ 53
Hỡnh 4.7 Hiệu suất sử dụng phõn đạm của giống ngụ DK - 888 trờn
hai nền đất đỏ Bazan và đất đen lẫn sỏi đỏ 64
Trang 11I MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế
toàn cầu Ngô có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực ở mỗi quốc gia trên thế giới nhất là ở các nước kém phát triển Đồng thời là nhân tố đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài và ổn định xã hội
Ngô được sử dụng với 3 mục đích chính: Sử dụng làm lương thực cho người, làm thức ăn cho chăn nuôi và nguyên liệu cho nền công nghiệp chế biến như: Là nguyên liệu chính cho các nhà máy sản xuất rượu, bánh kẹo, tinh bột Trong những năm gần đây ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ngày càng phát triển thì ngô càng khẳng định vai trò to lớn trong việc sản xuất các sản phẩm phục vụ xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao Trên thế giới hàng năm ngô được sản xuất khoảng 76,62 triệu tấn [55]
Để không ngừng nâng cao năng suất, sản lượng ngô nhằm đáp ứng với nhu cầu lương thực của con người, làm thức ăn cho chăn nuôi và làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm trên thế giới, chúng ta phải biết áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để có được những sản phẩm có năng suất và chất lượng cao, đáp ứng với yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng bến vững Vì vậy mà ngày càng có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng cải tiến và nâng cao việc áp dụng các biện pháp
kỹ thuật vào sản xuất, phục vụ đời sống
Ở Việt Nam ngô là cây lương thực thứ hai đứng sau lúa, được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái và thời vụ khác nhau Đến năm 2004 diện tích trồng ngô của việt nam là 990,4 nghìn ha, năng suất 34,9 tạ/ha và sản lượng đạt 3.453,6 nghìn tấn [38]
Đăk Nông là một tỉnh miền núi thuộc cao nguyên Nam trung bộ có điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai màu mỡ rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát
Trang 12triển của cây ngô Nhưng đến năm 1995 cây ngô lai mới được đưa vào trồng thử nghiệm tại Đăk Lăk (nay tách ra thành hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông) và hiện đã trở thành là một trong những loại cây trồng chính trong ngành sản xuất nông nghiệp của tỉnh Theo báo cáo tổng kết năm 2006, hiện nay diện tích trồng ngô của toàn tỉnh khoảng 29.000 ha, sản lượng 153.000 tấn (chiếm 73,91% sản lượng lương thực của tỉnh), là một trong những tỉnh có diện tích ngô khá lớn trong nước Tuy nhiên năng suất bình quân trong toàn tỉnh lại không cao chưa phản ánh hết tiềm năng về khí hậu thời tiết, đất đai của vùng Một trong những nguyên nhân làm năng suất và sản lượng ngô của Đăk Nông nói chung và của địa bàn huyện Cư Jút chưa cao là do yếu tố về kỹ thuật sản xuất, nhất là yếu tố về phân bón và mật độ
Mặc dù hiện đã có những kết quả nghiên cứu về liều lượng phân bón, mật độ cho một số vùng để ngô có năng suất cao như: Tỷ lệ bón phân hiệu quả ở đồng bằng sông Hồng N : P : K = 50:20:30 và liều lượng cho năng suất cao là: 180N – 60P2O5 và 120K2O; ở Duyên hải miền Trung là: 120N – 90P2O5 – 60K2O; ở miền Đông Nam Bộ là: 90N – 90P2O5 – 30K2O và ở đồng bằng sông Cửu Long mức bón phân có hiệu quả cao là: 150N – 50P2O5 – 0K2O [34] Mật độ thích hợp trồng các giống ngô ngắn ngày là từ 57.000 – 61.000 cây /ha các giống trung và dài ngày là từ 45.000 – 55.000 cây/ha Ở điều kiện nông dân trồng ngô thuần DK - 888 với mật độ thích hợp 53.000cây/ha đầy đủ điều kiện thâm canh cho hiệu quả kinh tế cao hơn trồng thưa 37.000cây/ha, năng suất cao hơn từ 9 – 20%/ ha [26] Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về liều lượng phân đạm và mật độ thích hợp cho ngô lai DK-888 trên đất đỏ bazan và đất xám ở Tây Nguyên
Thực hiện kế hoạch của Nhà nước về tăng nhanh tổng sản lượng ngô
mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế trong sản xuất về mặt yêu cầu kỹ thuật Dự kiến đến năm 2010 diện tích trồng ngô cả nước đạt 1,2 triệu ha, năng suất đạt
6 triệu tấn; trong đó tỷ lệ sử dụng giống ngô lai lên tới 96% [41] đòi hỏi
Trang 13chúng ta không ngừng nghiên cứu cải tíến quy trình kỹ thuật sản xuất; trong
đó có quy trình bón đạm thích hợp khi cố định Lân, Kali và mật độ thích hợp cho một số loại đất trồng ngô ở các tỉnh Tây Nguyên;
Để góp phần giải quyết vấn đề này, đồng thời đáp ứng với yêu cầu
thực tế sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng liều lượng phân đạm và mật độ trồng đến năng suất của giống ngô lai DK - 888 tại huyện Cư Jút – Đăk Nông”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Nhằm xác định lượng phân đạm và mật độ gieo trồng phù hợp đối với giống ngô lai DK - 888 trên đất đỏ Bazan và đất đen lẫn sỏi đá, để cho năng xuất và hiệu quả kinh tế cao tại huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
- Góp phần bổ sung để hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cho giống ngô lai DK – 888 trên hai loại đất đỏ Bazan và đất đen lẫn sỏi đá
1.2.2 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Đề tài thí nghiệm được tiến hành trên vùng đất đỏ bazan và đất đen lẫn sỏi đá tại huyện Cư Jút – Đăk Nông
- Chủ yếu tập trung vào 2 vấn đề: Liều lượng phân đạm và mật độ
- Thời gian thực hiện trong vụ hè thu năm 2007
+ Thí nghiệm 1: Gieo ngày 02/5 thu hoạch ngày 24/8/2007+ Thí nghiệm 2: Gieo ngày 02/5 thu hoạch ngày 22/8/2007
- Địa điểm thực hiện: Tại xã Eapô – Cư jút – Đăk Nông
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về
ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô lai DK- 888 tại huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
Trang 14- Góp phần làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu giống ngô lai DK-888 ở các vùng có điều kiện sinh thái tương tự như huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông và làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác khuyến nông trên địa bàn của huyện và tỉnh Đăk Nông
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác định được lượng phân đạm và mật độ trồng trên đất đỏ bazan và đất đen lẫn sỏi đá cho giống ngô lai DK-888
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp phần làm tăng hiệu quả kinh
tế, tăng sản lượng ngô trên địa bàn
Trang 15II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là loại cây ngũ cốc quan trọng đứng thứ ba sau lúa mì và lúa gạo sản lượng ngô sản xuất ngô trên thế giới trung bình hàng năm từ 696,2 đến 723,3 triệu tấn (năm 2005 – 2007) Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62 % tổng sản lượng ngô và 59,38 % do các nước khác sản xuất
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của một số nước trồng
ngô hàng đầu trên thế giới năm 2003
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 16giá bán quốc tế năm 2003 là 108 đôla/tấn) Trong đó các nước đang phát triển chiếm hai phần ba diện tích trồng, các nước công nghiệp chiếm một phần ba [75]
Qua bảng 2.1, chúng ta thấy năm nước sản xuất ngô hàng đầu là Mỹ (256,9 triệu tấn), Trung Quốc (114,17 triệu tấn), Braxin (47,8 triệu tấn), Mêxicô (19,6 triệu tấn) và Argentina (15 triệu tấn) Trong đó, hai nước có diện tích trồng ngô lớn nhất trên thế giới đó là Mỹ và Trung Quốc chiếm 36,75% tổng diện tích và chiếm 58,21% tổng sản lượng ngô trên toàn thế giới
Về năng suất, năng suất ngô ở Mỹ là cao nhất, đạt 89,2 tạ/ha, tiếp đến là Canada đạt 78,2 tạ/ha; Pháp đạt 71,4 tạ/ha; Argentina đạt 64,7 tạ/ha Trung Quốc là nước có diện tích và sản lượng ngô đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) nhưng năng suất ngô Trung Quốc chỉ đạt ở mức độ trung bình là 48,5 tạ/ha (năm 2003) Sản lượng ngô Trung Quốc năm 2007 dự báo đạt 149 triệu tấn Xuất khẩu ngô của Trung Quốc niên vụ 2007/2008 sẽ đạt 1,5 triệu tấn Năm 2006/2007, Trung Quốc vẫn là nước nhập khẩu ngô Tiêu thụ ngô ở nước này niên vụ 2006/2007 dự kiến đạt 145 triệu tấn và năm 2007/2008 sẽ đạt 147 triệu tấn, trong đó tiêu thụ ngô trong ngành công nghiêp sẽ đạt 37,5 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn tương đương 6% so với niên vụ trước [21] Sản lượng sản xuất ngô ở trên thế giới trung bình hàng năm từ 696,2 đến 723,3 triệu tấn (năm 2005 – 2007) Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản lượng ngô và 59,38% còn lại là do các nước khác sản xuất [21] (bảng 2.2)
Qua bảng 2.2 ta thấy nhu cầu tiêu thụ ngô nội địa là rất lớn, trung bình hàng năm từ 702,5 đến 768,8 triệu tấn Trong đó nước Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng ngô tiêu thụ trên toàn thế giới và các nước khác chiếm 66,48% Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm từ 82,6 đến 86,7 triệu tấn Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41% tổng sản lượng và các nước khác chiếm 35,59% Sản lượng ngô trên thế giới năm 2007 tăng gấp đôi
Trang 17so với 30 năm trước đây (năm 1977 sản lượng ngô trên thế giới vào khoảng
Trang 18Theo thống kê của FAO diện tích ngô của thế giới năm 1993 là 134.125 nghìn ha tăng lên 142.331 nghìn ha năm 2003 và tốc độ tăng diện tích là 0,3% Các nước Đông Nam Á từ 38.465 nghìn ha tăng lên 480.580 nghìn ha năm 2003 Về sản lượng, ngô thế giới từ 476.711,6 nghìn tấn tăng lên 637.444,48 nghìn tấn năm 2003 và tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,1% [35], [53] Những quốc gia Đông Nam Á có tốc độ tăng sản lượng hàng năm cao nhất là Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam, tốc độ tăng hàng năm trên 10% (Việt Nam là 11,1%) Năng suất ngô thế giới tăng từ 3,62 tấn/ha năm 1993 lên 4,47 tấn/ha năm 2003 và tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,7%, trong đó năng suất ngô của Việt Nam tăng hàng năm khoảng 5,3% Ngô là một loại ngũ cốc đa dạng cho tiêu dùng và chế biến Các sản phẩm chế biến được tạo ra từ nhiều loại như ngô trắng, ngô vàng và những loại đặc biệt như ngô đá và ngô nếp có hiệu quả khá cao Một ví dụ, ở Mỹ hiện nay mới tập trung vào ngô thường ưu thế lai, ngô nếp ưu thế lai được trồng khoảng 700,000 acres chủ yếu cho nhu cầu tinh bột dạng amylopectin thay thế cho sản phẩm này ở sắn, xuất khẩu, làm thuốc, chế biến nước hoa Giá ngô nếp ở
Mỹ khoảng 10 đến 25 đô la/giạ (36 lít) [42], [53]
Tuy nhiên, ngô nếp về năng suất cũng như sản lượng chưa tương xứng với tiềm năng của nó Diện tích trồng ngô trắng và ngô nếp trên thế giới là 32 triệu ha và Châu Á là 6,9 triệu ha, năng suất trung bình mới chỉ đạt 1,7 ha Phần trăm diện tích trồng giống ngô ưu thế lai trong đó có ngô nếp ở một số nước Mỹ là 100%, Đông Phi 24%, còn lại là ở các quốc gia khác [42], [53]
2.1.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngô là cây trồng có từ lâu đời Nhờ những đặc điểm quý, cây ngô sớm được người Việt chấp nhận và mở rộng sản xuất, coi là một trong những cây lương thực chính, đặc biệt đối với vùng đất cao không có điều kiện tưới nước [9] Trước cách mạng tháng 8/1945 diện tích trồng ngô là rất ít, năng suất rất thấp 11,8tạ/ha (Nguyễn Trần Trọng, 1977) (dẫn theo Ngô Hữu Tình,
Trang 191997) [11], [12] Sau khi đất nước thống nhất diện tích trồng ngô của nước ta tăng lên rất nhanh và ngô đã trở thành một trong những cây lương thực quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp của nước ta [8], [9], [10], [13]
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam
giai đoạn 1985 - 2007
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 20Sản xuất ngô ở nước ta những năm qua đã đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Diện tích, năng suất và sản lượng tăng nhanh (bảng 2.3), tỷ lệ diện tích sử dụng các giống mới có năng suất cao và chất lượng tốt ngày càng tăng lên [5], [6], [24] Trong suốt 20 năm qua diện tích, năng suất và sản lượng ngô Việt Nam tăng liên tục với tốc độ rất cao Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm về diện tích là 7,5%, về năng suất là 6,7% và sản lượng là 24,5%, cao hơn nhiều so với giai đoạn 10 năm trước đó 1975-1985 (4,2%, 3,9% và 10,0%, theo thứ tự) So với năm 1985, sản xuất ngô năm 2004 tăng trưởng 2,53 lần diện tích; 2,34 lần năng suất và 5,9 lần sản lượng [39]
Nguồn: Cục khuyến nông Bộ NN & PTNT năm 2007
Đồ thị 1 Tiến độ sử dụng ngô lai ở Việt Nam trong giai đoạn 1985 - 2007
Nguyên nhân chính là do thay đổi giống ngô lai và cải tiến kỹ thuật canh tác, số liệu thống kê cho thấy trước năm 1990 không có bất kì diện tích ngô lai nào, sau năm 1990 diện tích gieo trồng ngô lai liên túc tăng, hiện nay diện tích trồng ngô lai đã chiếm tới 95% (năm 2007) Nhóm giống có diện tích gieo trồng trên 10.000 ha là: LVN10, CP888, CP999, C919, G49, P11, B9681, CP989 Nhóm có diện tích 5000-10.000 ha: LVN4, B9797, P60, Nếp
Nù, Tẻ địa phương Nhóm có diện tích 1000-5000 ha: HQ2000, Ngô Nù xanh,
Trang 21VN4, TSB1, NK46, LVN17, Nếp Vàng, P848, LVN2, VN2 LS6, MX4, MX2, NK4300, B9999 Như vậy diện tích trồng ngô nhóm chất lượng nói chung và ngô nếp nói riêng còn hạn chế ở nước ta [6], [15]
Hiện nay, cả nước đã hình thành 8 vùng sản xuất ngô Trong đó, năm vùng có diện tích lớn nhất cả nước là Tây Nguyên chiếm 21,8%, Đông Bắc 21,09%, Tây Bắc 15,35%, Bắc Trung Bộ 14,36% và Đông Nam Bộ 12,11% Tổng diện tích 5 vùng này chiếm 84,71% Còn lại là đồng bằng sông Hồng 7,69%, Duyên Hải Nam Trung Bộ 4,14% và đồng bằng sông Cửu Long 3,47% [19], [23]
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô phân theo vùng của Việt Nam
(1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Diện tích (1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê 2007[39]
Hiện diện tích ngô của Việt Nam đạt khoảng trên 1 triệu ha với năng suất bình quân 37 tạ/ha và tổng sản lượng đạt khoảng 3,82 triệu tấn (năm 2006) Sản xuất ngô ở Việt Nam theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn phấn đấu đến năm 2010 sản lượng ngô đạt 6 – 7 triệu tấn/năm [42], [18] Để đạt được mục tiêu, chúng ta cần phải vượt qua một số trở ngại khách quan như diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, khí hậu khắc
Trang 22nghiệt và sâu bệnh ngày càng trở nên trầm trọng
2.2 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm và mật độ cho cây ngô trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm và mật độ cho cây ngô trên thế giới
2.2.1.1 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm cho cây ngô trên thế giới
Cây ngô là cây có tiềm năng năng suất to lớn Trong các biện pháp thâm canh năng suất ngô phân bón giữ vai trò quan trọng nhất Theo Berzenyi Z, Gyorffy B (Berenyi và CS, 1996) [6] thì phân bón ảnh hưởng tới 30,7 % năng suất ngô còn các yếu tố khác như mật độ cây, phòng trừ cỏ dại, đất trồng
có ảnh hưởng ít hơn Theo kết quả của viện Lân, Kali (Mỹ) cho thấy để tạo ra
10 tấn ngô hạt/ha, cây ngô lấy đi một lượng dinh dưỡng như sau
Bảng 2.5 Lượng dinh dưỡng cây hút đất và phân bón (kg/ha)
chất khô %
Nguồn: Ngô Hữu Tình, 1997 [35]
Phân đạm (N) được coi là yếu tố tăng năng suất cây trồng quan trọng và
có hiệu quả cao nhất Đạm là yếu tố phân bón đầu tiên cần chú ý bón cho cây trồng vì: Cây cần với lượng nhiều mà đất không cung cấp đủ, nhất là đạm dễ tiêu Trong các cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng đạm tham gia vào các thành phần axit amin, protein, các enzim, các chất kích thích sinh trưởng, chất diệp lục (chất quyết định khâu chính của quá trình quang hợp…) Cây trồng được cung cấp đủ đạm sinh trưởng nhanh, lá phát triển mạnh, nâng cao khả năng tổng hợp các chất để tạo nên sinh khối lớn và sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, đạm là yếu tố quyết định năng suất cây trồng, đặc biệt là cây ngô
Theo Chudry G.A., và cộng sự (CS) (Chudry G.A.,) [46] đạm là yếu tố
Trang 23dinh dưỡng quan trọng của ngô, nó tham gia vào thành phần cấu tạo tất cả các chất Protein, các axit Nucleotid là chất giữ vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp Protein và trao đổi các chất trong cơ thể Phân đạm thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây, nâng cao hàm lượng protein trong sản phẩm, khi thiếu đạm lá kém xanh Tất cả các loại đất trồng trọt cần phải bón thêm đạm đặc biệt trên các loại đất tưới
Theo Smith (De.Geus, 1973) [52], trong trường hợp không bón đạm năng suất ngô chỉ đạt 1.192 kg/ha, khi bón đạm (N) năng suất tăng 7.338kg/ha
Theo Velly và CS (De.Geus, 1973) [52] khi bón cho ngô với liều lượng 40kg N/ha năng suất thu được 12,11 tạ/ha
80kg N/ha năng suất thu được 16,61 tạ/ha
120kg N/ha năng suất thu được 32,12 tạ/ha
160kg N/ha năng suất thu được 41,47 tạ/ha
200kg N/ha năng suất thu được 52,18 tạ/ha
Qua các số liệu trên cho thấy đạm (N) đóng vai trò quyết định trong việc tăng năng suất ngô và trong một khoảng liều lượng nhất định năng suất ngô tỷ
lệ thuận với liều lượng đạm bón Tuy nhiên, cần phân biệt năng suất tối đa và năng suất kinh tế tối đa
Theo Ramirez và Laird (De.Geus, 1973) [52] ở Toluca valley - Mehicô cho rằng với mật độ 5 vạn cây/ha bón đạm với mức 120 kg/ha đem lại hiệu quả kinh tế nhất
Theo Sinclair và Muchow, (1995) [66], hàng thập kỷ gần đây năng suất ngô tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức cung cấp N cho ngô Đạm được cây ngô hút với một lượng lớn và đạm có ảnh hưởng khác nhau rõ rệt đến sự cân bằng cation và anion ở trong cây Khi cây hút N - NH4+ sự hút các cation khác chẳng hạn như K+, Ca2+, Mg2+ sẽ giảm trong khi sự hút anion đặc biệt là Phosphorus sẽ thuận lợi xảy ra chiều hướng ngược lại, khi cây hút N nitrat
Trang 24(Mengel, 1968) (dẫn theo Arnon, 1974) [44] Tùy thuộc vào tuổi của cây với
các cây ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hút đạm nitrat, trái lại các
cây ngô già dạng đạm hút chủ yếu là đạm nitrat và có thể chiếm tới hơn 90%
tổng lượng đạm cây hút (Coic, 1964) (dẫn theo Arnon, 1974) [43] Đạm cũng
là thành phần cấu trúc của vách tế bào (Schrader, 1984), William Bennet,
(1993) Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần
của tất cả các Prôtêin Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất để xác định
năng suất ngô Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển đầy đủ hoàn toàn,
sự phân chia tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả làm giảm diện
tích lá, kích thước của cây và năng suất giảm Phân đạm có thể tạo ra sự tăng
diện tích lá hiệu quả ngay từ đầu vụ và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào
cuối vụ để quá trình đồng hóa quang hợp đạt cực đại (dẫn theo Patrick Loo,
2001) [61], Wolfe và cộng sự (1988) [71]
Mức đạm thấp làm giảm số hạt và năng suất hạt (Barbieri và cộng sự
2000) [45], điều mà ai cũng biết là các giống ngô lai khác nhau có thể sử dụng
phân đạm ở mức độ khác nhau, năng suất cây trồng cao cần phải cung cấp
một lượng lớn phân bón, đặc biệt là đạm (Debreczen, 2000) [53]
Đất càng màu mỡ thì đất càng có tác dụng lớn trong việc cung cấp đạm
cho cây, cây trồng sử dụng được rất ít đạm amôn liên kết do một phần đạm
này bị khoáng sét của đất giữ chặt, số lượng đạm amôn bị giữ chặt này từ 134
- 344 kg/ha Moxolov, (1979) [20] (Peterburgxki và CTV., 1965, 1966) [19]
Năng suất ngô vùng Nhiệt đới thường thấp hơn năng suất ngô vùng ôn
đới bởi số hạt/diện tích đất và chỉ số thu hoạch (HI) của ngô nhiệt đới thấp
hơn ngô vùng ôn đới (Goldsworthy và cộng sự 1974; Fisher and Palmer, 1983
(dẫn theo Mitsuru Osaki, 1994; 1995) [58] [59], đã chỉ ra rằng sức chứa có thể hạn chế năng suất ngô nhiệt đới Nhìn chung, cây ngô quang hợp
theo chu trình C4 và phù hợp với nhiệt độ cao, người ta công nhận ngô có thể
đạt năng suất chất khô cao ở vùng nhiệt đới (Evan, 1985), Mitsuru Osaki
Trang 25Poss and Saragoni (1992) nhận thấy rằng có tới 13 - 36 kg N/ha đã bị rửa trôi bên dưới vùng rễ ngô trong thời kỳ sinh trưởng Mayers (1988) thông báo rằng cây ngô chỉ hấp thu 20 - 40% lượng đạm trong suốt thời gian sinh trưởng, (dẫn theo Sing và cộng sự 2004) [67] Đạm cũng dễ bị mất bởi một phần các hợp chất đạm khoáng bị rửa trôi khỏi lớp đất cày (Misuxtin and Peterburgxki, 1975) [19]
Tốc độ quang hợp có liên quan mật thiết đến thành phần đạm trong lá (Makino và cộng sự, 1988) Năng suất ngô cao chỉ có thể đạt được khi thời gian diện tích lá xanh kéo dài và tỷ lệ đồng hóa đạm cao sau thời kỳ ra hoa (Mitsuru Osaki và cộng sự, 1994) [58]
Một số báo cáo về khả năng hút N cũng đã chỉ ra rằng tốc độ đồng hóa cực đại xảy ra gần giai đoạn phun râu (Hay và cộng sự 1953, Hanway, 1962; Mengel and Barber, 1974; Bigeriego và cộng sự 1979), kết thúc vào cuối giai đoạn tung phấn Cây ngô đã có sự đồng hóa ở rễ và thân một lượng lớn NO3-N (Hay và CS 1953; Chevalier and Schreder, 1977) Mitsuru Osaki, (1995) [59] Theo Moxolov (1979) [20], nếu mức dinh dưỡng nitơ đủ thì kali sẽ xâm nhập vào cây nhiều hơn và sự hút kali mạnh hơn là nguyên nhân thúc đẩy nhanh chu trình chuyển hóa các hợp chất phốt pho trong cây
Theo Uhart and Andrade (1995) [69], [70] thiếu đạm làm chậm sinh trưởng của cả hai giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, giảm tốc độ ra lá, hạn chế mạnh đến sự phát triển diện tích lá Thiếu đạm hạn chế đến hiệu quả sử dụng bức xạ, nhất là thời kỳ ra hoa, ảnh hưởng đến năng
Trang 26suất bắp tổng số Cũng theo hai tác giả trên việc cung cấp và tích lũy N ở thời
kỳ ra hoa có tính quyết định số lượng hạt ngô, thiếu N trong thời kỳ này làm giảm khả năng đồng hóa cacbon của cây, nhất là giai đoạn ra hoa sẽ giảm năng suất hạt Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây ngô, nghiên cứu vai trò của đạm đối với cây ngô ở Việt Nam mới chỉ được đề cập
về liều lượng dùng và tỷ lệ giữa nó với các yếu tố dinh dưỡng khác
Dự trữ đạm ở cây ngô có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển lá, sự tích lũy sinh khối và sự tăng trưởng của hạt (Muchow, 1988b, 1994), (dẫn theo Thomas và cộng sự 1995) [68], ảnh hưởng về sau của đạm là quan trọng khi đánh giá phản ứng của cây trồng đối với phân N Số liệu trích dẫn của Viets (1965); Rhoads, (1984) [62] ở một thí nghiệm ngô tưới nước theo rãnh cho thấy: Năng suất ngô 1.200kg/ha khi không bón phân đạm và 6.300kg/ha khi bón 224kg/ha N trên đất chưa bao giờ trồng ngô và năm trước
đó không bón đạm Ở năm tiếp theo năng suất ngô là 4.400kg/ha khi không bón đạm và 7.000kg/ha khi bón đạm ở mức 224kg/ha
Trong nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng vai trò của phân đạm và lưu huỳnh đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai (Cargill 707), tác giả Hussain và cộng sự (1999) [56], cho rằng sự cung cấp phân bón
ở các mức 150N + 30S và 150N + 20S (kg/ha) làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất khô/cây, số hạt/bắp và khối lượng hạt/bắp so với các xử lý khác Năng suất ngô đạt cao nhất (8,59 tấn/ha) ở công thức bón 150N + 30S (kg/ha) Nhưng đạm (N) cũng có những nhược điểm đáng kể; Nếu bón quá nhiều đạm thì thân lá mềm, chống đổ kém, sâu bệnh nhiều, thời gian sinh trưởng bị kéo dài, chất lượng sản phẩm giảm
Kết quả nghiên cứu cho thấy để phân đạm phát huy hiệu lực phải bón cân đối với các nguyên tố lân (P2O5) và kali (K2O), kali là nguyên tố được xếp thứ hai sau đạm (N) Kali cần thiết cho hoạt động của nguyên sinh chất, điều khiển đóng mở khí khổng, năng cao khả năng chống chịu sâu bệnh, khô hạn
Trang 27và nhiệt độ thấp Kali xúc tiến quá trình quang hợp, vận chuyển các sản phẩm quang hợp tích luỹ về hạt Khi thiếu kali bắp ngô sẽ nhỏ, cây dễ đổ, mép và phần cuối của cuốn lá có màu vàng hoặc vàng thẩm Ngoài ra hiệu lực của kali thường cao và ổn định trên một loại đất
Theo các tác giả Afendulop K.P., 1972 [1] và Nguyễn Văn Bào (1996) [5] kali có trong đất được chia làm 4 loại: Kali hoà tan, kali trao đổi, kali không trao đổi (kali hữu hiệu chậm) và kaili cấu trúc tinh thể, trong đó kali hoà tan và kali trao đổi được gọi là kali hữu hiệu, căn cứ vào hàm lượng kali trao đổi trong đất (mg/100g) người ta phân ra các loại đất sau:
rễ kém, phân hoá các cơ quan của ngô bị ảnh hưởng, làm cho bắp bé, bông cờ nhỏ, ít hoa Để đánh giá khả năng cung cấp lân cho cây trồng của các loại đất người ta dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu có trong đất Theo Matrenkop P.P., Potasop A.I., Trenlavin A.S., 1964: Agi D 1959 (Nguyễn Văn Bào, 1996) [5] đất được phân theo hàm lượng lân đễ tiêu như sau (mg/100gđất):
- Từ 0 - 2,5 rất thiếu lân
- Từ 2,5 - 5 thiếu lân
Trang 28Theo Cook G.W (Cook.G W.,1975) [51] ở Indonexia đã khuyến cáo bón phân cho ngô với lượng : 90N - 60P2O5 - 20K2O kg/ha
Ở Inđonexia : (120 - 180) N - (45 - 60) P2O5 - (30 - 60) K2O
Ở Thái Lan : (45 - 120) N - (45 - 60) P2O5 - (0 - 60) K2O
Ở Philipin : (90 - 140) N - (45 - 60) P2O5 - (0 - 60) K2O
Để tăng năng suất và phẩm chất của ngô, ngoài việc nghiên cứu phân đa lượng cho ngô các nhà khoa học còn chú ý đến phân vi lượng
Theo tổng kết của FAO (Nguyễn Văn Bộ, 1996) [9] trong 10 nguyên nhân làm giảm hiệu lực phân bón thì nguyên nhân quan trọng nhất là bón phân không cân đối Bón phân cân đối là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón phân hợp lý cho từng đối tượng cây trồng, đất, mùa vụ cụ thể để đảm bảo năng suất cao cũng như có chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường sinh thái Để
có cơ sở cho việc bón phân cân đối cần thiết phải biết được khả năng cung cấp dinh dưỡng của mỗi loại đất, nhu cầu dinh dưỡng cuả mỗi loại cây trồng
và sự phụ thuộc của mỗi yếu tố vào từng điều kiện thời tiết cũng như chế độ canh tác cụ thể Do vậy, giải quyết vấn đề này sẽ cho phép tăng năng suất cây trồng và tiết kiệm phân bón
2.2.1.2 Các kết quả nghiên cứu mật độ gieo trồng đối với cây ngô trên thế giới
Thay đổi mật độ cây trồng trong điều kiện khô hạn để đạt được sự cân bằng giữa số lượng cây che phủ và độ ẩm đất hạn chế, luôn là một kỹ thuật trồng trọt dễ được chấp thuận Với các giống ngô lai mật độ cây được khuyến
Trang 29cáo trong điều kiện tưới nước, ở mức phân bón như hiện nay ít nhất cũng cao hơn từ 50-100% khi gieo trồng so với các giống ngô thụ phấn tự do (Rosmsn and Cook, 1996), (dẫn theo Arnon, 1974) [44]
Mật độ cây với điều kiện ngô không được tưới ở vùng bán khô hạn của
Mỹ được giới thiệu trong phạm vi từ 1,5-3 cây/m2 (Colvile và cộng sự 1964)
Ở phía Nam bang Dakota ngô trồng trên đất khô, khi điều kiện độ ẩm thuận lợi năng suất đạt cao nhất ở mật độ 4 cây/m2 Trong điều kiện hạn vừa phải mật độ 2 cây/m2 là tối ưu, dưới các điều kiện khô hạn này mật độ 1 cây/m2 sẽ cho thu hoạch hạt rất ít hoặc không cho thu hoạch (Termunde và cộng sự 1963), (dẫn theo Arnon, 1974) [44]
Ở vùng phía Nam thảo nguyên bán khô hạn của Ukraina mật độ cây tối
đa là 2,2 - 2,5 cây/m2, với khoảng cách hàng 140 cm Vùng trồng ngô chính là vùng thảo nguyên phía Bắc, khu vực phía Nam và khu Trung tâm của Cao nguyên rừng Mật độ gieo trồng tối ưu ở đây là 3,5 - 4 cây/m2 với khoảng cách hàng 90-105 cm Momotenko, 1968 (dẫn theo Arnon, 1974) [44] Ở Đức, khuyến cáo mật độ từ 4-10 cây/m2 tùy thuộc trạng thái chín sớm Zscheischler and Gross, 1966 (dẫn theo Arnon, 1974) [44]
Ở Israel, dưới điều kiện tưới nước năng suất ngô cao nhất đã đạt được với mật độ 5-6 cây/m2, với giống ngô lai đơn thấp cây thì năng suất tốt nhất là
7 cây/m2 (Shloan, 1968) Ở Angiêri, 4-5 cây/m2 nói chung sẽ cho năng suất tốt nhất Gueit and Laby, 1956 (dẫn theo Arnon, 1974) [44]
Mức tăng năng suất của ngô khi có tưới phụ thuộc cả mật độ gieo, có liên quan với độ chiếu sáng khác nhau cũng như với cường độ quang hợp khác nhau Theo tác giả Beredznop, 1968, (dẫn theo Krugilin, 1988) [16], khi gieo với khoảng cách 70 x 70cm năng suất cao nhất thu được khi gieo 3 - 4 cây/hốc (61 - 80 ngàn cây/ha) và một bắp bình thường/cây Còn khi gieo 2cây/hốc, năng suất bị giảm nhiều, với 4 cây/hốc năng suất tăng không đáng kể Kết quả này giống với kết quả nghiên cứu trước đây của Lopukhop, (1967) and
Trang 30Guxalop, (1968), Krugilin, (1988) [16] cho rằng trong điều kiện có tưới, ở Bắc Kapcazơ, các giống chín sớm cần gieo dầy hơn: 3 cây/hốc với mật độ 80.000cây/ha Còn các giống chín muộn 40.000 - 50.000 cây/ha Ở Hungari, khi có tưới nước người ta gieo 50.000 - 60.000 cây/ha đã cho thu được năng suất hạt tới 130 - 140 tạ/ha (Nemet,1963), dẫn theo Krugiulin (1988) [16] Theo tác giả Crookston và cộng sự 1978, (dẫn theo Neal C.Stoskopf, 1981) [60], thì khi tăng mật độ cây không có nghĩa là làm tăng khối lượng vật chất khô Trong khi đó Duncan, (1971) (dẫn theo Neal C Stoskopf, 1981) [60], cho rằng: sự tăng năng suất về mặt lý thuyết chỉ đạt được khi chỉ số diện tích lá (LAI) xấp xỉ 4,0 và năng suất sẽ không tăng khi chỉ số diện tích lá là 4,7
Theo các tác giả Rutgers, Francis and Grogan (1971) (dẫn theo Neal, C Stoskopf, 1981) [60], mối quan hệ giữa năng suất hạt và chỉ số diện tích lá ở ngô đã phát hiện được sự khác nhau rất rõ giữa các kiểu gen Ở mật độ 34.600
và 65.200 cây/ha (Mason and Zuber., 1976) đo chỉ số LAI tương ứng là 2,47
và 4,00, ở mật độ cây cao chỉ số LAI rất khác nhau giữa 15 giống từ mức thấp 3,45 đến mức cao 4,61 Sự khác nhau rất lớn của LAI ở mật độ cây cao của các giống, chỉ ra việc quản lý để điều chỉnh diện tích lá thông qua mật độ cây Theo El - Lakany and Russell (1971) (dẫn theo Robert và cộng sự 1985) [64], mối quan hệ giữa các đặc tính của ngô với năng suất khi kiểm tra các cặp lai đơn gieo trồng ở những mật độ khác nhau cho thấy: Ở mật độ thấp, chiều cao cây, chiều cao đóng bắp quan hệ có ý nghĩa đối với năng suất; Ở mật độ cây trung bình, đường kính bắp, tỷ lệ hạt/bắp, chiều cao cây và chiều cao đóng bắp là quan hệ có ý nghĩa đối với năng suất; ở mật độ cây cao tất cả các đặc tính là có quan hệ ý nghĩa đối với năng suất ngoại trừ khối lượng 1.000 hạt, ngày tung phấn, ngày phun râu
Theo Richard D Waldren (1968) [63], giữa LAI và mật độ cây trồng có quan hệ trực tiếp với nhau LAI tăng theo đường thẳng khi mật độ cây tăng từ 34.000 đến 69.000 cây/ha cho dù diện tích lá/cây giảm khi mật độ cây tăng
Trang 31Theo Derieux, (1988) [54] khi làm thí nghiệm mật độ với giống ngô chín sớm Browing ở khoảng cách hàng 80cm cho thấy, mật độ cây có liên quan đến năng suất ngô cũng như tỷ lệ đổ
Ở mật độ 12 cây/m2 năng suất ngô hạt đạt 72,3 tạ/ha, tỷ lệ đổ 18%
Ở mật độ 15 cây/m2 năng suất tăng lên 73,9 tạ/ha và tỷ lệ đổ là 25% Khi thay đổi khoảng cách hàng từ 80 cm xuống khoảng cách hàng 45 cm, ở mật độ 12 cây/m2 năng suất đạt 80 tạ/ha, tỷ lệ đổ là 7%; ở mật độ 15 cây/m2năng suất đạt 88 tạ/ha, tỷ lệ đổ 12% Như vậy ở cùng một mật độ gieo trồng thì khoảng cách hàng hẹp đã có ảnh hưởng tích cực đến việc tăng năng suất hạt và cho tỷ lệ cây bị đổ thấp hơn Nếu tăng mật độ lên 20 cây/m2 thì năng suất vẫn đạt 9,4 tạ/ha đồng thời tỷ lệ đổ cũng tăng 19%, tiếp tục tăng mật độ cây cao hơn nữa năng suất hạt hầu như không tăng thậm chí còn giảm và tỷ lệ
đổ sẽ tăng cao hơn
Tại Achentina, đã công bố kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách hàng và mức cung cấp đạm đến sự hấp thụ bức xạ mặt trời, số hàng hạt, năng suất hạt ở ngô chỉ được làm đất tối thiểu, với khoảng cách hàng gieo là 0,35 và 0,7 m ở các mức đạm 0, 120, 140N (kg/ha), với 2 giống ngô Dekalb
636 và Dekalb 639 Mật độ cây lúc thu hoạch là cố định ở tất cả các công thức
xử lý trong thời gian 2 năm 1995 - 1996 và 1996 - 1997 Mức đạm thấp làm giảm số hạt và năng suất, trong khi đó khoảng cách hàng hẹp (0,35 m) đã tăng
số hạt/đơn vị diện tích và năng suất hạt thực sự là có ý nghĩa Trung bình khoảng cách hàng hẹp đã tăng 14,5% số hạt và 20,5% năng suất Tuy nhiên sự tăng này rõ rệt hơn ở khoảng cách hàng hẹp trong điều kiện đạm thấp Kết quả đã chỉ ra rằng năng suất ngô tăng từ 27 - 46% khi gieo ở khoảng cách hàng hẹp trong trường hợp ngô bị thiếu đạm nghĩa là trong điều kiện thiếu đạm thì việc thu hẹp khoảng cách gieo là cần thiết để cho năng suất cao hơn
so với khoảng cách gieo truyền thống (Barbieri và cộng sự 2000) [45]
Tại Thổ Nhĩ Kỳ đã nghiên cứu khoảng cách cây tối ưu (từ 10,0; 12,5;
Trang 3215,0; 17,5 và 20 cm) đối với các giống ngô lai thương phẩm; khoảng cách hàng là như nhau: 70 cm; bón phân 2 lần: Lần 1 lượng phân bón là 90kg/ha
N - P - K trước khi gieo và lần 2 bón thúc lượng 180kg/ha (Sener và cộng sự 2004) [65], theo đó ảnh hưởng tương tác giữa giống ngô lai và khoảng cách cây đến chiều dài bắp và năng suất hạt là có ý nghĩa Năng suất hạt cao nhất ở giống ngô Pioneer 3.223 là 11.718kg và ở giống Dracma là 11.180kg ở khoảng cách cây là 15cm
Ở Thái Lan mật độ khoảng cách gieo đối với ngô đường và ngô nếp là 50.000 - 60.000 cây/ha, khoảng cách 75 x 50 cm, 2 - 3 cây/hốc, với giống ngô rau mật độ 118.000 cây/ha, khoảng cách 50 x 50 cm gieo 3 cây/hốc (Chanika Lamsupasit and Supachai Kaewmeechai, 1997) [46]
2.2.2 Các kết quả nghiên cứu về phân bón đạm và mật độ cho cây ngô ở Việt Nam
2.2.2.1 Các kết quả nghiên cứu phân bón đạm cho cây ngô ở Việt Nam
Ngoài vai trò của giống mới, trong mấy thập niên vừa qua năng suất cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng không ngừng tăng lên còn do tác dụng của phân bón Giống mới chỉ phát huy tiềm năng của mình, cho năng suất cao khi được bón phân đầy đủ và hợp lý
Theo Nguyễn Thị Quý Mùi (1995) [22] thì dinh dưỡng quyết định 50 - 60% năng suất của ngô Các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam cũng cho thấy đạm (N) là nguyên tố quan trọng nhất để tăng năng suất ngô Theo các tác giả Nguyễn Văn Soàn và Lê Văn Căn (1970) [28] nghiên cứu trong 10 năm giai đoạn những năm 60 cho thấy: Hiệu suất phân đạm đối với ngô là 15 - 20kg ngô hạt/kg N, liều lượng N bón để đạt hiệu quả kinh tế cao đối với Bông > Ngô > Lúa (60 kg N/ha); Loại phân đạm Nitrat > Sunphát > Clo Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [43] ảnh hưởng của bón phân đạm như sau: Không bón năng suất đạt 40,0 tạ/ha
Bón 40 kg N năng suất đạt 56,5 tạ/ha
Trang 33Bón 80 kg N năng suất đạt 70,8 tạ/ha
Bón 120 kg N năng suất đạt 76,2 tạ/ha
Bón 162 kg N năng suất đạt 79,9 tạ/ha
Khi nghiên cứu về phân bón cho ngô trên đất bạc màu, Nguyễn Thế Hùng (1996) [14] đã chỉ ra rằng phân N có tác dụng rất rõ đối với ngô trên đất bạc màu, song lượng bón tối đa là 225 kg/ha, ngưỡng bón N kinh tế là: 150kg/ha trên nền cân đối PK
Nguyên tố được đánh giá là quan trọng thứ hai sau N là Kali (K2O) và thứ ba là Lân (P2O5)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thi và Nguyễn Văn Bộ (1999) [32], trên đất bạc màu bón kali đạt hiệu lực với ngô rất cao Hiệu quả
sử dụng kali đạt trung bình 15- 20kg ngô hạt/kg K2O Cũng theo tác giả trên, trên đất bạc màu nghèo kali, trên nền không bón phân chuồng, nếu chỉ bón
NP trồng ngô hoàn toàn không cho thu hoạch Liều lượng thích hợp bón cho ngô đông trên nền đất phù sa sông Hồng khoảng 60 - 90 kg K2O/ha và trên đất bạc màu vào khoảng 90 - 10kg K2O/ha
Bón kali ở mức 30 - 210 kg K2O/ha không làm gia tăng năng suất ở vùng Tây Sông Hậu
Theo Tạ Văn Sơn (1995) [29], trên đất phù sa sông Hồng bón phân kali
đã làm tăng năng suất ngô rõ rệt và đặc biệt trên nền N cao Phân lân có hiệu lực rõ rệt đối với ngô trên đất phù sa sông Hồng trên nền đầu tư: 180 N - 120 K2O có thể bón tới 150 P2O5
Theo Trần Văn Minh (1995) [18] bón lân có khả năng rút ngắn thời gian sinh trưởng của ngô, làm tăng năng suất một cách rõ rệt Lân Supe có hiệu quả trên hầu hết các loại đất, lân nung chảy có hiệu lực cao hơn trên đất đồi núi Theo Phạm Kim Môn (1991) [21] với ngô Đông trên đất phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 - 180kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60
kg K2O/ha
Trang 34Theo Trần Hữu Miện (1987) [17] thì trên đất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là:
120 N - 90 P2O5 - 60K2O kg/ha cho năng suất 40 - 45 tạ/ ha
150 N - 90 P2O5 - 100K2O kg/ha cho năng suất 50 - 55 tạ/ha
180 N - 90 P2O5 - 150K2O Kg/ha cho năng suất 65 - 75 tạ/ha
Theo Viện Nghiên Cứu Ngô [10] đối với giống thụ phấn tự do (TPTD) nên bón với lượng: 80 - 100kg P2O5; 80kg K2O Còn đối với các giống ngô lai thì liều lượng bón cao hơn: 160 kg N - 100kg P2O5 - 80kg K2O/ha Ngoài ra còn bón thêm phân chuồng với liều lượng từ 7 - 10 tấn/ha
Ở phía Nam, theo các tác giả Trương Công Tín và CS (Cây màu, 1997) [11] lượng phân bón phù hợp cho ngô lai DK - 888 đạt năng suất cao là: 100kg N - 40kg P2O5 - 30kg K2O/ha
Theo Nguyễn Văn Bộ, (1999) [8] thì lượng phân bón cho ngô tuỳ thuộc vào đất và giống ngô:
+ Đối với giống chín sớm lượng phân bón cho một ha là (kg/ha):
• Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150kg N; 70 - 90 kg P2O5; 60 - 90kg K2O
• Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 100 - 120kg P2O5; 60 - 90 kg K2O
+ Đối với giống chín trung bình và chín muộn lượng phân bón cho 1 ha là (kg/ha):
• Trên đất phù sa: 8 -10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg P2O5; 80 - 100 kg K2O
• Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg P2O5; 120 - 150kg K2O
Bón phân cân đối và hợp lý cho cây ngô đem lại hiệu quả kinh tế rất cao đặc biệt là trên đất bạc màu Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bộ và
CS (Nguyễn Văn Bộ, 1999) [7] bón phân cân đối cho ngô hiệu suất phân bón
Trang 35đạt cao 12,6 kg ngô hạt/1kg NPK trên đất bạc màu và 11 kg ngô hạt/1kg NPK trên đất phù sa sông Hồng
Trên các loại đất khác nhau thì liều lượng và tỷ lệ phân bón cho ngô cũng khác nhau Theo Vũ Cao Thái: Trên đất phù sa, tỷ lệ N: P2O5: K2O là 1: 0,5: 0,75 (120 N - 60 P2O5 - 90K2O) Trên đất xám bạc màu, tỷ lệ N: P2O5: K2O là 1: 1: 1,5 (100 N - 100 P2O5 - 150 K2O) (Nguyễn Thị Quý Mùi, 1995) [22] Theo Nguyễn Thế Hùng (1997) [15] trên đất bạc màu vùng Đông Anh -
Hà Nội, giống ngô lai LVN - 10 có phản ứng rất rõ với phân bón ở công thức bón 120 kg N - 120 kg P2O5 - 120kg K2O/ha và cho năng suấtt hạt gấp hai lần
so với công thức đối chứng không bón phân Cũng theo tác giả trên thì trên đất bạc màu, hiệu suất của 1 kg NPK là 8,7 kg; 1 kg N là 11,3 kg; 1kg P2O5 là 4,9 kg; 1 kg K2O là 8,5 kg
Phân bón ngoài việc tăng năng suất cây ngô còn làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt Theo Trần Hữu Miện nếu liều lượng phân bón tăng từ 120 kg
N - 60 kg P2O5 - 60 kg K2O/ha lên 240 kg N - 120 kg P2O5 - 120kg K2O/ha thì hàm lượng đạm trong hạt tăng từ 1,89 % lên 2,16 % (Trần Hữu Miện, 1987) [17] Ngoài các nguyên tố đa lượng khi sử dụng phân bón có chứa lưu huỳnh (S) thì năng suất và hàm lượng protein cao hơn đối chứng (Ngô Xuân Hiền, 1998) [13]
Theo Vũ Kim Bảng [3] xử lý NAA; 2,4 D; ZnSO4 không chỉ ảnh hưởng đến năng suất hạt mà còn làm thay đổi chất lượng dinh dưỡng của hạt ngô, hàm lượng các axit amin không thay thế như Lysine, Triptophan ở các công thức có xử lý đều cao hơn đối chứng không xử lý
Theo Hoàng Hà (1996) [12] khi xử lý Zn và Mn cho ngô bằng cách ngâm hạt và phun bổ sung dung dịch lên lá đều đạt hiệu quả cao, hàm lượng diệp lục tổng số tăng 10 - 16%, chỉ số diện tích lá (LAI) tăng từ 10 - 32%, năng suất ngô tăng từ 6 - 13 % so với đối chứng không xử lý
Theo Vũ Kim Bảng (1991) [3] phun dung dịch ZnSO4 lên lá đã làm tăng
Trang 36diện tích là và chỉ số diện tích lá (LAI) ở thời kỳ chín sữa, hàm lượng Potein
ở các công thức xử lý đều cao hơn đối chứng tăng từ 3,6 -8,9 %, hàm lượng đường tăng từ 2,54 - 4,89%
Theo Lê Thành Ý (2000) [42] những thành tựu mà ngô lai đem lại đã là
cơ sở đánh giá tốc độ phát triển ngô lai Việt Nam so với thế giới Mười năm trở lại đây tăng trưởng ngô bình quân hàng năm đạt 3,7% diện tích, 5,5% năng suất, 9,2% sản lượng trong khi tỷ lệ tương ứng trên thế giới là 0,7% diện tích, 2,4% năng suất, 3,1% sản lượng
Theo Võ Thị Gương, Trịnh Thị Thu Trang, Karl H Diekmann [11] cung cấp phân N, P, K giúp thời gian sinh trưởng của ngô ngắn hơn khoảng 10 ngày
so với trồng ngô trong độ phì tự nhiên (96 ngày so với 106 ngày) Kết quả cho thấy N là yếu tố giúp tăng năng suất quan trọng nhất so vớ P và K, cũng là yếu
tố giới hạn năng suất ngô về mặt dinh dưỡng Hiệu quả của phân P và K chỉ thể hiện khi cung cấp đầy đủ N Trong cùng lượng N, khi bón P và K tăng cao 120
kg P2O5 năng suất ngô thu được không khác biệt có ý nghĩa so với bón lượng thấp hơn là 90 kg P2O5 và 60 kg K2O Tổ hợp phân bón đạt năng suất cao trong
vụ đông xuân là 250 - 90 - 60 và vụ xuân hè là 200 - 90 - 60 Sau mỗi vụ canh tác cây trồng đã lấy đi một lượng dưỡng chất từ phân bón và trong đất để sinh trưởng và phát triển Sự hấp thu dưỡng chất NPK trong hạt ngô biến thiên theo mức gia tăng lượng phân bón Dưỡng chất được tích lũy trong hạt với năng suất 5,9 tấn/ha là 82,3 kg N, 39,5 kg P2O5 và 36,1 kg K2O
Trên tất cả các loại đất của các vùng trồng ngô phân đạm, lân và kali đều có tác động đến sinh trưởng phát triển và năng suất ngô Tuy nhiên hiệu quả bón phân cho ngô của ta còn thấp so với thế giới Ở Đồng bằng sông Hồng để được 01 tấn hạt ngô ta cần bón 33,9 kg N, 14.5kg P2O5 và 17,2kg K2O Hiệu lực của các loại phân thay đổi theo từng vùng sinh thái
Tỷ lệ bón phân hiệu quả ở đồng bằng sông Hồng 50N - 20P2O5 - 30K2O
và liều lượng cho năng suất cao là: 180N - 60P2O5 và 120K2O; ở Duyên hải
Trang 37miền Trung là: 120N - 90P2O5 - 60K2O; ở miền Đông Nam Bộ là: 90N - 90P2O5 - 30K2O và ở Đồng bằng sông Cửu Long mức bón phân có hiệu quả cao là: 150N - 50P2O5 - 0K2O (Ngô Hữu Tình, 1991-1995) [34]
Thời gian sinh trưởng của cây ngô chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh, trong đó nhiệt độ không khí giữ vai trò quan trọng trong việc rút ngắn hay kéo dài thời gian sinh trưởng của hầu hết các giai đoạn trong đời sống cây ngô Nhu cầu về nhiệt được thể hiện bằng nhiệt độ tối thấp sinh vật học và tổng nhiệt độ hữu hiệu Các yếu tố khí tượng: Nhiệt độ, độ ẩm, số giờ nắng gây ảnh hưởng thuận chiều với quá trình sinh trưởng chiều cao cây, diện tích lá, tích luỹ chất khô Nhiệt độ trung bình ngày và số giờ nắng có tương quan thuận và chặt chẽ với năng suất ngô (Văn Tất Tuyên 1991 - 1995) [40]
2.2.2.2 Các kết quả nghiên cứu mật độ gieo trồng đối với cây ngô ở Việt Nam
Ở Miền nam Việt Nam trước ngày giải phóng mật độ gieo phù hợp cho ngô thường từ 30.000 đến 80.000 cây/ha, khoảng cách giữa các hàng từ 0,6 - 1m, khoảng cách giữa các cây từ 0,25 - 0,4 m (Vo Đinh Long, 1968) [57] Theo các tác giả Tran Hong Uy, Jean Pierre Marathee (1966) [71] đối với sản xuất ngô Đông trên nền đất ướt làm bầu đặt ra ruộng mật độ 50.000 - 55.000 cây/ha với khoảng cách 70 x 25 cm là thích hợp nhất để cây ngô nhận được nhiều ánh sáng
Theo Ngô Hữu Tình (1991 - 1995) [33] thí nghiệm được thực hiện với giống ngô thụ phấn tự do TSB2 từ mật độ 4 vạn cây - 8 vạn cây/ha cho thấy mật độ cho năng suất cao là từ 5,7 - 7 vạn cây/ha Ứng với khoảng cách 70
cm x 25 cm x 1 cây và 70 cm x 20 cm x 1 cây
Theo hai tác giả Nguyễn Công Thành - Dương Văn Chín (1994) [30] giữ số cây/ha cố định (50.000cây/ha) nhưng thay đổi khoảng cách giữa hàng, tạo không gian thuận lợi cho trồng xen, ảnh hưởng đến năng suất bắp Trồng hàng kép (10 cm - 150 cm) làm giảm năng suất bắp so với đối chứng trồng hàng đơn (80 cm - 80 cm) Hai mức hàng kép (30 cm - 130 cm) và (50 cm -
Trang 38110 cm) không làm giảm năng suất so với trồng hàng đơn
2.2.3 Sản xuất ngô ở huyên Cư Jút – Đăk Nông
Bảng 2.6 Diện tích các loại cây trồng của huyện Cư Jut
II Cây lâu năm 2.013 2.469 3.002 3.745 4.140
1 Cây C nghiệp lâu năm 1.968 1.917 2.414 3.032 3.431
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006 - huyện Cư Jút [24 ]
Theo Phạm Thị Rịnh - Nguyễn Thế Hùng (1992 - 1995) [26] mật độ
trồng thích hợp cho các giống ngô ngắn ngày là từ 57.000 - 61.000 cây /ha
các giống trung và dài ngày là từ 45.000 - 55.000 cây/ha Ở điều kiện nông
dân trồng ngô thuần DK - 888 với mật độ thích hợp 53.000 cây/ha đầy đủ
điều kiện thâm canh cho hiệu quả kinh tế cao hơn trồng thưa 37.000 cây/ha,
năng suất cao hơn từ 9 - 20%/ ha
Trên địa bàn huyện Cư Jút, cây ngô có vị trí đứng thứ 2 sau cây công
nghiệp ngắn ngày hàng năm, song với năng xuất và sản lượng hiện nay là một
trong những loại cây trồng ổn định và hàng năm thì năng xuất và sản lượng đều
tăng, qua theo dõi 10 năm trở lại đây cho thấy năm 1996 toàn huyện có 855,6
Trang 39tấn, bình quân năng suất đạt 61,04 ta/ ha Là địa phương có năng xuất ngô bình quân rất cao trong vùng (so sánh kể cả các huyện của Đăk Lăk và Đăk Nông)
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất ngô ở huyện Cư Jút giai đoạn 1996 - 2006
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, huyện Cư Jút [24]
Như vậy, có thể nói cây ngô đang từng bước khẳng định được vị trí trong
hệ thống cơ cấu cây trồng của huyện, đặc biệt là cây ngô lai, qua nhiều năm theo dõi thực tế sản xuất cho thấy ngô lai trên địa bàn huyện cho năng xuất rất cao bình quân hiện đạt trên 60 tạ/ha, để cây ngô lai tiếp tục phát triển về diện tích và sản lượng trên địa bàn huyện rất cần có những đề tài nghiên cứu cụ thể để xác định mặt độ phù hợp và các tổ hợp phân bón nhằm mang lại hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất ngô lai trên địa bàn huyện Cư Jút nói riêng và của tỉnh Đăk Nông nói chung góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế và xã hội trên địa bàn
Trang 40III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
- Chọn 2 nền đất: đất đỏ bazan và đất đen lẫn sỏi đá bề mặt
- Giống ngô lai DK-888
- Phân bón các loại: đạm Urê, Super lân, Kali clorua
3.2 Nội dung nghiên cứu
Thí nghiệm 2 yếu tố: phân bón và mật độ
- Mật độ: gồm 2 mức
* Mật độ 1(M1): 70 x 25 cm, 57.000 cây/ha (mật độ thông thường)
* Mật độ 2(M2): 70 x 20 cm, 71.000 cây/ha (mật độ dày)
- Phân bón: gồm các mức
* N1: N - P - K Liều lượng 0 kg N- 90 kg P2O5 - 60 kg K2O
* N2: N - P - K Liều lượng 90 kg N- 90 kg P2O5 - 60 kg K2O
* N3: N - P - K Liều lượng 120 kg N- 90 kg P2O5 - 60 kg K2O
* N4: N - P - K Liều lượng 150 kg N- 90 kg P2O5 - 60 kg K2O
* N5: N - P - K Liều lượng 180 kg N- 90 kg P2O5 - 60 kg K2O