Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà nội
-o0o -
TRƯƠNG ANH TUấN
ảnh hưởng của tuổi ấu trùng và thế đàn tạo chúa theo phương pháp cấp tạo tới
số lượng, chất lượng của ong chúa
giống nội (apis cerana)
Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
X W
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
X W
TRƯƠNG ANH TUẤN
ảnh hưởng của tuổi ấu trùng và thế đàn tạo chúa theo phương pháp cấp tạo tới số lượng,
chất lượng của ong chúa giống nội
(apis cerana)
Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Chuyên ngành: Chăn nuôi Mã số: 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS Đặng Vũ Bình, Trường ĐHNN I
TS Phùng Hữu Chính, Trung tâm Nghiên cứu ong
Hà Nội - 2005
Trang 3Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Ký tên
Trương Anh Tuấn
Trang 4Lời cảm ơn
Để hoàn thành bản luận văn, với sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sư giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của hai thầy:
GS TS Đặng Vũ Bình, Hiệu trưởng trường Đại học Nông nghiêp I
TS Phùng Hữu Chính, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ong
Cùng với sự giúp đỡ của cô, chú, anh, chị đồng nghiệp ở Trung tâm nghiên cứu ong, phòng Quỹ gen, phòng Thụ tinh nhân tạo
Tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự chỉ dẫn tận tình của hai thầy hướng dẫn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm, phòng Quỹ gen, phòng Thụ tinh nhân tạo Trung tâm Nghiên cứu ong đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên và tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, tháng 8-2005
Trang 5Nh÷ng tõ viÕt t¾t trong luËn v¨n
Trang 6ATT Êu trïng tói
KHKT Khoa häc kü thuËt TATCA Thèi Êu trïng ch©u ¢u T1 Tuæi 1
T2 Tuæi 2
T3 Tuæi 3
TB Trung b×nh
Trang 71 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề:
Nuôi ong lấy mật là nghề có từ lâu đời ở nước ta Giống ong nội (Apis cerana) được nhân dân ta bắt từ rừng, qua quá trình nuôi dưỡng chúng phù hợp với điều kiện nuôi ong trong gia đình Ong nội được phân bố rộng rãi trên
toàn lãnh thổ Việt Nam và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái ở các vùng khác nhau
Theo Wongsiri, 1986 [71], ong nội (Apis cerana) thường đi thu hoạch lâu hơn ong Apis melifera nhập nội mỗi ngày 2-3 giờ, có thể khai thác tốt hơn các
nguồn hoa rải rác và có thể chống chịu khá hơn trong vụ hè nóng nực thiếu thức ăn Ngoài các sản phẩm thu được từ nghề nuôi ong, ong còn giúp thụ phấn cho cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân trong nông nghiệp
Từ những đặc điểm trên, ta thấy ong nội (Apis cerana) là một giống ong
có ý nghĩa kinh tế lớn ở cả mọi vùng của đất nước và cần được chú trọng phát triển Tuy nhiên ong nội còn có nhiều nhược điểm như tính tụ đàn nhỏ, hay chia đàn, bốc bay, bệnh thối ấu trùng nên người nuôi ong còn gặp nhiều khó khăn
Trong đàn ong, ong chúa có vai trò rất quan trọng là đẻ trứng và tiết ra chất chúa để điều hoà hoạt động của cả đàn Ong chúa tốt thì sức đẻ trứng cao,
đàn ong sẽ đông quân và cho năng suất mật cao Việc tạo ra các ong chúa tốt
đáp ứng được mong muốn của người người nuôi ong là một vấn đề rất cần thiết của sản xuất
Hiện nay ở nước ta có trên 20.000 người nuôi ong nội, trong số đó chỉ có khoảng năm trăm người nuôi chuyên nghiệp là nắm vững kỹ thuật tạo chúa công nghiệp bằng phương pháp di trùng Tuy nhiên để tạo chúa theo phương pháp di trùng này đòi hỏi người nuôi ong phải còn trẻ, tinh mắt, có kỹ năng
Trang 8cao, có số lượng đàn ong lớn (trên 15 đàn) Số còn lại chỉ biết tạo chúa bằng việc sử dụng các mũ chúa chia đàn tự nhiên, để đàn ong tự thay chúa hoặc bằng phương pháp cấp tạo
Việc sử dụng các loại mũ chúa chia đàn, cấp tạo do không nắm vững cơ sở khoa học của việc tạo chúa nên chất lượng ong chúa tạo ra kém: khối lượng chúa nhỏ, sức đẻ trứng thấp dẫn đến các đàn ong có tính tụ đàn nhỏ, năng suất mật thấp, dễ chia đàn, bốc bay, làm cho hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong không cao
Để giúp phần lớn số hộ nuôi ong gia đình có phương pháp tạo chúa đơn giản, dễ làm mà thu được ong chúa có chất lượng tốt phục vụ cho sản xuất cùng với mong muốn góp phần vào công việc nghiên cứu dựa trên những đặc
điểm tự nhiên của đàn ong để đánh giá được chất lượng của ong chúa được tạo
ra theo phương pháp đơn giản (tạo chúa cấp tạo), chúng tôi tiến hành thực hiện
* Xác định được tuổi ấu trùng phù hợp cho việc tạo chúa cấp tạo
* Đưa ra được tiêu chuẩn thế đàn tạo chúa cấp tạo để tạo được số lượng
chúa nhiều và chất lượng chúa tốt
* Đưa ra được quy trình kỹ thuật tạo chúa cấp tạo phù hợp phục vụ cho
nguời nuôi ong có quy mô nhỏ và áp dụng cả cho người nuôi ong có quy mô lớn
Trang 91.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được chiều dài của trứng, ấu trùng 1, 2 và 3 ngày tuổi
- Xác định khối lượng ong thợ ở các thế đàn tạo chúa cấp tạo khác nhau
- Xác định số lượng mũ chúa tiếp thu, mũ chúa nở theo phương pháp cấp
tạo
- Xác định khối lượng và số lượng ống trứng của từng ong chúa
- Xây dựng được quy trình tạo chúa cấp tạo
Trang 102 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1 Sơ lược về lịch sử nghề nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam
Trong suốt quá trình lịch sử của mình, con người đã săn ong lấy mật Tập quán lấy mật ong rừng còn duy trì tới ngày nay, việc khai thác mật ong được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Những tổ ong mà người ta thường
săn lấy mật là thuộc giống ong Apis, mật ong được coi là một sản phẩm quý
hiếm của tự nhiên ban tặng cho con người Từ việc quan sát và khai thác mật ong tự nhiên, dần dần con người đã biết sử dụng đõ để nuôi ong, việc sử dụng
đõ bắt đầu ít nhất 4500 năm nay Crane, (1990) [13]
Hiểu biết về lịch sử săn ong và nuôi ong của chúng ta đã tăng lên rất nhiều trong mấy thập kỷ qua nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu khảo cổ, ngôn ngữ, qua những văn bản lưu trữ và nhờ giao thông thuận lợi cho phép
người ta đi đến khắp nơi trên trái đất Crane (1983) [37] Đối với ong Apis mellifera, 5000 năm trước công nguyên, người Ai Cập đã có nghề nuôi ong
Vào khoảng năm 2500 trước công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đã thực sự hình thành một nghề nuôi ong thịnh vượng Những tư liệu sớm nhất ghi chép về nuôi ong trong đõ được ra đời khoảng 1.500 năm trước công nguyên Đó là một phần của bộ luật Hittite ghi trên những phiến đá sét, tìm thấy ở cao nguyên Anatoli không cây cối, cách Ai cập 100km về phía Bắc Ong được nuôi trong các đõ bằng đất nung, bằng gỗ, đất bùn, sành… Những đõ ong ra
đời sớm nhất vào năm 2450 trước công nguyên được thể hiện trong cảnh lấy mật ong, một phần của bức hội hoạ tại một ngôi đền thờ mặt trời Ai Cập, gần vùng hạ sông Nil Có 4 bức tranh tương tự đã được phát hiện, mô tả mật ong
được cất trong những bình chứa, những trại ong cổ truyền có hàng trăm đõ ong với cảnh lấy mật y như ngày nay còn phổ biến ở Ai cập Crane (1983,
1990, 1992a) [ 37, 13, 40]
Lịch sử nuôi ong Apis cerana ở châu á cũng lâu đời như lịch sử nuôi ong
Trang 11Apis mellifera ở châu Âu, như ở Trung Quốc là hơn 3000 năm, ấn Độ 2000
năm ( Fang, 1984; Mishra 1987) [44, 53] Nghề nuôi ong cổ truyền vẫn được tồn tại ở các nước và hầu như không thay đổi so với được miêu tả trong các tài liệu cũ Tất cả các loại đõ được làm do con người bắt chước tập tính làm tổ tự nhiên trong các hốc cây, hốc đá Các loại đõ đều giống nhau ở chỗ ong xây các bánh tổ gắn chặt vào phía trên của đõ nên người ta gọi là đõ có bánh tổ cố
định Các đõ thường được đặt xung quanh nhà, dưới gốc cây, trên giá đỡ, trong rừng hoặc trên các chãng của các cành cây to
Tuy nhiên các đõ ong nuôi cổ truyền có nhược điểm lớn là con người khó kiểm tra tình trạng đàn ong cũng như tình hình phát triển của đàn ong, dịch bệnh, khi lấy mật phải phá bỏ các bánh tổ nhộng làm đàn ong bị suy giảm nhanh hoặc dẫn tới bốc bay sau khi lấy mật Mật được vắt bằng tay đôi khi lẫn
ấu trùng, sáp, phấn nên thường kém chất lượng, năng suất mật thấp bình quân chỉ 2-5kg/đàn Tuy nhiên nuôi ong trong thùng đõ trên có ưu điểm là rẻ tiền,
dễ kiếm, tận dung được nguyên liệu địa phương, không tốn thời gian chăm sóc, một năm có thể khai thác 1-3 lần
Năm 1851, giáo sĩ người Mỹ Langstroth đã sáng tạo ra kiểu thùng có khung cầu di động nhờ phát hiện ra khoảng cách con ong Với kiểu thùng này
rất thuận tiện cho việc nuôi ong, nhờ áp dụng nó mà nghề nuôi ong Apis mellifera được phát triển rất nhanh ở châu Âu và Bắc Mỹ, sau đó phát triển tới
các châu khác trên thế giới Crane (1990) [13] Kiểu thùng này cho phép người nuôi ong kiểm tra tình hình đàn ong, từ đó tác động những biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng, cho phép trao đổi giữa các đàn ong với nhau và giữa người nuôi ong khác Ngày nay, kiểu thùng này vẫn đang được áp dụng phổ biến ở khắp nơi và được cải tiến tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng
Năm 1863, Charles Dadant đã xuất bản sách về những cải tiến và sáng kiến của ông Nhờ đó, nhiều sáng kiến khác được nẩy sinh ra từ nước Mỹ, trong đó quan trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ ong hay
Trang 12còn gọi là tầng chân, theo đó là các khung cầu được căng dây thép có gắn tầng chân (1857), có khả năng chịu được sức văng khi quay mật ở thùng ly tâm (1865) trích: Pham Đức Hạnh (2000) [20]
Đối với ong châu á Apis cerana, từ năm 1880, Father Niutơn đã bắt đầu
thử nghiệm kiểu thùng có khung cần di động mô phỏng theo Langstroth nhưng kích thước nhỏ hơn nhiều Suốt 50 năm sau, kiểu thùng Niutơn chỉ áp dụng rải rác ở miền Nam ấn Độ Do kích thước quá nhỏ nên ong thường chia
đàn nên năng suất mật thấp, không phù hợp với chủng ong miền Bắc Verma, (1990) [65] Từ những năm 1950 nghề nuôi ong có khung cầu mới được phát triển mạnh ở ấn Độ Thùng ong được tiêu chuẩn hoá dựa theo kiểu thùng Niutơn và kiểu thùng làng Joclikote do Muttoo sáng chế ra năm 1944
Trung Quốc bắt đầu thử nghiệm nuôi ong Apis cerana trong thùng có cầu
di động từ đầu những năm 1930, nhưng việc áp dụng kiểu thùng này một cách rộng rãi là vào những năm 1950 Việc ứng dụng kỹ thuật tạo chúa nhân tạo
của ong Apis mellifera cho ong Apis cerana thành công, do vậy số lượng đàn
ong tăng lên nhanh chóng Liu (1984) [52]
Hiện nay Trung Quốc vẫn là nước nuôi ong Apis cerana thành công nhất
với số lượng đàn lớn nhất, theo thống kê ở tỉnh Quảng Đông, miền Nam Trung
Quốc, ong Apis cerana chiếm khoảng 90% tổng số đàn ong theo: Crane
(1990) Các nước khác ở Nam và Đông Nam á như Nepan, Banglađes, Sri Lanca, Thái Lan, Malaysia, Inđônesia… đang thay thế các kiểu thùng cổ truyền bằng kiểu thùng có khung cầu di động
ở Việt Nam, nghề nuôi ong đã được khai thác và nuôi từ lâu đời Ngay từ thế kỷ thứ 8, thượng thư phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đã viết tài liệu bằng chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong Faraut, A, (1909) Trích: Phùng Hữu Chính và Vũ Văn Luyện, (1999) [12]
Lê Quý Đôn thế kỷ 18 đã có một số nhận xét về đặc điểm sinh học của
Trang 13đàn ong Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm và cải tiến kỹ thuật, nghề nuôi ong Việt Nam đã dần dần được cải tiến từ đơn giản đến hoàn thiện như ngày nay
Người Việt Nam đã có thói quen đi lấy mật từ rất lâu dựa vào kinh nghiệm qua nhiều đời được truyền lại, họ khai thác từ những loại ong mật khác nhau
như ong ruồi Apis florea, ong nội Apis cerana, ong khoái Apis dorsata, ong đá Apis Laboriosa Trong đó chủ yếu họ tìm kiếm tổ ong Apis cerana do ở tự
nhiên giống ong này rất phổ biến, có ở khắp đất nước, thường làm tổ ở nơi kín như trong hốc cây, hốc đá, trong các hang, đôi khi cả trong các tổ mối Người
đi săn lùng mật ong dựa vào việc quan sát ong đi làm, quan sát hướng bay, sự bài tiết cũng như âm thanh của ong để tìm được tổ, khi tìm được tổ họ tiến hành mở rộng cửa tổ, dùng khói thổi nhẹ vào đàn, cắt lấy các bánh tổ có cả mật và con
Với những người chuyên đi săn ong họ nhận thấy những đàn ong hay quay lại làm tổ ở những hang hốc mà họ đã khai thác lần trước, từ đó những người săn ong có quy định với nhau là nếu ai tìm thấy đầu tiên tổ ong và đánh dấu
ký hiệu của mình vào đó thì tổ đó thuộc quyền sở hữu của mình Dựa vào những kinh nghiệm thực tế và đặc điểm tự nhiên của ong nội, các kiểu nuôi ong dần được hình thành và không ngừng được cải tiến từ kiểu đõ nằm ngang chuyển sang kiểu đõ đứng rồi đõ đứng có thanh xà di động và cuối cùng là các kiểu thùng cải tiến có khung cầu di động như ngày nay Việc lấy mật cũng dần được cải tiến từ việc cắt toàn bộ bánh tổ nay chuyển sang chỉ cắt phần mật giữ lại phần con buộc lại vào các thanh xà giúp đàn ong ổn định lại và tiếp tục phát triển, cho năng suất mật cao hơn Khi áp dụng nuôi ong trong thùng cải tiến có khung cầu di động cho phép sử dụng thùng quay và dùng tầng chân nhân tạo gắn vào khung cầu, làm nền để ong xây nên các bánh tổ đã làm năng suất mật tăng lên đáng kể Việc áp dụng những tiến bộ khoa học đã làm cho năng suất mật trung bình/đàn/năm được tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 2-
Trang 145kg/đàn/năm đến nay đã đạt 15kg/đàn/năm Vũ Văn Luyện, Ngô Đắc Thắng, (1990) [23] Các biện pháp kỹ thuật như tạo chúa chủ động, chia đàn nhân tạo
đã được áp dụng rộng rãi, số đàn ong tăng lên rất nhanh Tuy nhiên, vào những năm 1974-1980, đàn ong bị bệnh thối ấu trùng, bệnh ấu trùng túi nên
số lượng đàn bị giảm sút nghiêm trọng Từ năm 1981 đến nay, đàn ong được khôi phục dần trở lại Vũ Văn Luyện, Ngô Đắc Thắng, (1990) [23] Bệnh ấu trùng túi xuất hiện và lan rộng trên khắp các tỉnh miền Bắc và gây thiệt hại lớn
cho đàn ong Apis cerana nước ta, do nhập ong từ Viện ong Bắc Kinh, bệnh
kéo dài năm nay qua năm khác và tới nay vẫn còn là một vấn đề nan giải Trong thời điểm đó, các nhà lãnh đạo trong ngành ong có chủ trương nhập
giống ong Apis mellifera từ Liên Xô (cũ), Cu Ba và đưa giống ong ý trong Nam ra Bắc thay thế cho ong Apis cerana Ong nội được đưa về các địa
phương và chủ yếu nuôi ở các hộ gia đình
Hiện nay Việt Nam đã hình thành những vùng nuôi ong rõ rệt Miền Bắc
có nghề nuôi ong nội Apis cerana phát triển, thích hợp với điều kiện nguồn hoa tập trung và phân tán, miền Nam phù hợp với nuôi ong ý Apis mellifera
với quy mô lớn do điều kiện thuận lợi có nhiều cây nguồn mật, nguồn hoa tập trung
2.2 Tình hình nghiên cứu ong Apis cerana trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ong Apis cerana trên thế giới
Phân bố của ong Apis cerana
Apis cerana là ong bản địa ở nhiều vùng rộng lớn của châu á (được gọi là ong châu á hay ong phương đông), có vị trí như ong Apis mellifera ở châu Âu
và châu Phi Nó sống ở độ cao bằng với mặt biển cho đến độ cao 3333 mét so với mặt nước biển Rahman, (1945) [58] Càng lên vĩ độ cao hơn thì kích
thước cơ thể cũng như số quân của đàn ong càng tăng lên Ong Apis cerana
Trang 15được phân bố từ Sri Lanka và ấn Độ tới Trung Quốc, Nhật Bản và theo hướng
đông nam tới vùng Moluccas (Ruttner, 1971, 1985; Michener,1974) Theo
Peng và cộng sự (1988) [57] So với ong Apis dorsata và ong Apis florea thì phân bố của ong Apis cerana rộng hơn rất nhiều về phía Bắc Vùng phân bố tự nhiên của hai giống ong Apis cerana và Apis mellifera cách nhau bởi giải sa
mạc nằm giữa Iran ở phía Tây và Afghanistan, Pakistan ở phía Đông Lên phía
Bắc, ong Apis cerana phát triển tới Ussuri của Liên Xô (cũ) Ruttner, (1988)
[61] Miền bắc Trung Quốc và các vùng núi cao của dãy Himalaya Koeniger,
(1976) [47], ven Thái Bình Dương, Nhật bản, sang phía Đông, ong Apis cerana phát triển tới toàn bộ vùng nhiệt đới châu á, tới phía đông Philippin,
Borneo, Indonesia; năm 1987 đã phát triển tới Papua New Guinea theo Crane, (1990) [13]
Nghiên cứu về phân loài ong Apis cerana
Nhìn chung, càng lên vĩ tuyến và độ cao so với mặt nước biển thì cơ thể
ong Apis cerana càng lớn hơn Dựa vào các chỉ tiêu hình thái, qua kết quả phân tích mẫu ong Apis cerana thu được từ các vùng khác nhau của châu á, Ruttner (1988) [61] Đã chia ong Apis cerana ra thành 4 phân loài như sau: Apis cerana cerana: xuất hiện ở vùng Tây Bắc ấn Độ, Bắc Pakistant và
Afganistan, Trung Quốc, viễn Đông Liên Xô (cũ) và miền Bắc của Việt Nam
Loài này có kích thước cơ thể và tính tụ đàn khá lớn Ong Apis cerana cerana
ở Cashmir Bắc ấn Độ có kích thước cơ thể lớn nhất trong loài Apis cerana, có tính tụ đàn lớn, cho năng suất mật như ong Apis mellifera
Apis cerana himalaya: Phân bố ở phía Đông dãy núi Himalaya từ Nepan
đến Bắc Thái Lan và cả miền Tây Nam của Trung Quốc, có kích thước cơ thể
là trung gian của 2 phân loài Apis cerana cerana và Apis cerana indica
Apis cerana indica: Phân bố ở Bali, Java, Sumatra, Malaysia, Indonesia,
Trang 16Philipin, Srilanca, miền Nam Việt Nam và ở miền Nam ấn Độ, đây là phân
loài ong có kích thước cơ thể nhỏ nhất trong loài Apis cerana
Apis cerana japonica: Phân bố ở Nhật Bản, kể cả vùng Tsushima ở giữa
Honshu và Triều Tiên, phân loài này thích nghi tốt với khí hậu ôn đới của Nhật trừ vùng đảo Hokkaido
Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis cerana
Đối với ong châu Âu Apis mellifera việc chon lọc và nhân giống được tiến
hành trên 100 năm và đã thu được nhiều kết quả, là cơ sở giúp cho việc nghiên cứu về giống ong châu á được thuận lợi hơn rất nhiều
Cuối những năm 1950, ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, người ta đã thí
nghiệm và so sánh giữa hai loài ong Apis cerana và ong Apis mellifera Sau vài năm theo dõi, người nuôi ong đã đưa ra kết luận ong Apis mellifera không
thích hợp với điều kiện tự nhiên ở tỉnh Quảng Đông Từ đó về sau, những
người nuôi ong đã tập trung vào việc chọn lọc giống ong nội Apis cerana theo
hướng năng suất mật cao Năm 1963, ở Chonghus đã nuôi được 6000 đàn với năng suất mật bình quân là 50kg/đàn/năm Liu, (1984) [52] Vào đầu những
năm 1970, bệnh ấu trùng túi dã xuất hiện ở ong Apis cerana ở miền Nam
Trung Quốc làm chết rất nhiều đàn ong Từ năm 1991-1995, các nhà khoa học
Trung Quốc đã tiến hành chọn lọc và nhân giống ong Apis cerana cerana và
đã đạt được những kết quả bước đầu như: Tỷ lệ bệnh ấu trùng túi giảm từ 7% xuống còn 3%, năng suất bình quân tăng 10% so với các đàn ong địa phương Yang (1996) [76]
ở ấn Độ, chương trình chọn lọc giống ong Apis cerana được tiến hành ở Mahabaleshwa và Poona vào năm 1955-1956 Deodika và Thaka, (1966 ) [41] Hai ông đi sâu vào theo dõi hai đặc điểm là số lượng và chất lượng, trong đó
số lượng thể hiện qua khả năng đẻ trứng, hiệu quả nuôi ấu trùng, chiều dài vòi hút, kích thước, khối lượng cơ thể, số lượng móc cánh Về chất lượng thể hiện
Trang 17qua sự phân bố màu ở ong chúa, ong đực, ong thợ, vít nắp nhộng phẳng hay lỗ chỗ, xu hướng chia đàn, bốc bay, tính hung dữ, khả năng thu hoạch…
Kết quả chọn lọc cho thấy chiều dài vòi hút tăng lên vượt giá trị trung bình của quần thể chọn lọc từ 2,07-6,83%
2700m so với mặt nước biển Kết quả nghiên cứu cho thấy ong chúa dòng Kashmir là mắn đẻ nhất với tỉ lệ đẻ trứng là 312,7 ± 38,6 trứng/ngày đêm Đàn ong duy trì được cầu con và ong trưởng thành ở tất cả các mùa Ong chúa dòng Himachal đẻ trứng đạt tỷ lệ 245,6 ±33,2 trứng/ngày đêm và 1458,3
±191,5 cm2 diện tích lỗ tổ chứa ấu trùng, nhộng trong một năm, Dòng Garwal
đạt tỷ lệ đẻ trứng 169,3 ±22,7 trứng/ngày đêm và có diện tích lỗ tổ chứa trùng nhộng là 1142,8 ±179,2 cm2 Verma, Kumar, (1998) [67]
ở Thái Lan, Wongsiri và cộng sự (1992) [73] với phương pháp thụ tinh
nhân tạo đã tạo gia giống lai F1 từ dòng Apis cerana cerana với Apis cerana indica Với cặp lai này con lai tạo ra có sức đẻ trứng tăng hơn so với các đàn
bố và mẹ 964,05 ± 238,85 so với 793,7 ±174,96 (bố) và 761,38 ± 84,23 (mẹ) trứng/ ngày đêm
Nghiên cứu về tạo chúa ong Apis cerana
Như chúng ta đã biết, Ong chúa là cá thể quan trọng nhất trong đàn ong
Nó quyết định sự tồn tại và phát triển cũng như năng suất mật của đàn ong Chính vì vậy, việc tạo ra được ong chúa tốt là một vấn đế rất quan trọng và
được nhiều người quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ thuật tạo
Trang 18chúa đang được ứng dụng rộng rãi
Theo Laidlaw và Eckert (1962) [48], vào năm 1863, ở Mỹ, ông Robinson
đã sản xuất chúa bằng phương pháp cấp tạo nhưng chưa thấy nêu cách thức tạo chúa cấp tạo, chất lượng của chúa cấp tạo Năm 1771, ông Schirach đã nêu lên rằng ong chúa có thể tạo ra từ các ấu trùng ong thợ, và chính ông cũng là người đầu tiên sử dụng thùng ong nhỏ làm thùng giao phối Năm 1973, Johansson đã giới thiệu phương pháp tạo chúa đơn giản là dùng mũ chúa đã vít nắp trong một đàn ong sắp chia đàn hay thay thế do ong chúa cũ có khuyết tật Lensky (1971) và Forster (1972) và nhiều tác giả khác nêu lên nhiều phương pháp có hệ thống hơn về tạo chúa để thay thế chúa cho đàn ong Năm
1889, Doolitle đã làm ra mũ chúa nhân tạo bằng sáp và tạo chúa theo phương pháp di trùng Laidlaw và Eckert (1962) [48] Trong suốt hơn một thế kỷ qua,
phương pháp tạo chúa ong Apis mellifera đã được hoàn thiện Woyke (1971) [74] cho biết ong chúa Apis mellifera được tạo từ trứng lấy ra từ lỗ tổ ong thợ
có chất lượng tốt nhất Tuổi ấu trùng ong thợ đem tạo chúa càng tăng trong phạm vi 1- 4 ngày tuổi thì khối lượng chúa tơ và số ống trứng càng giảm Weaver (1957) [69] thấy rằng ấu trùng ong thợ trên 3 ngày tuổi di vào các mũ chúa cho những ong chúa có những đặc tính, hình thái gần giống ong thợ Weiss (1983) [70] khẳng định (theo phân tích thống kê ấu trùng dưới 1,5 ngày tuổi mang di trùng cho chúa có chất lượng tốt như là di từ trứng)
Với ong Apis cerana, những kết quả nghiên cứu về tạo chúa còn rất ít Nhiều tác giả cho rằng ong Apis cerana không có khả năng tạo chúa cấp tạo
Crane, (1990) [39] Một số lại cho rằng không có phương pháp tạo chúa ong
Apis cerana Wongsiri và Tangkanasing (1986) [71] Tuy nhiên ở Trung Quốc
và ấn Độ, người ta đã xây dựng hoàn hảo được phương pháp tạo chúa cho ong
Apis cerana tương tự như là với ong Apis mellifera (Wongsiri, 1988; Thakar, 1976) Qua nghiên cứu cho thấy đường kính mũ chúa nhân tạo của ong Apis
cerana (7,5 mm) nhỏ hơn so với ong Apis mellifera (9 mm)
Trang 19Năm 1980, Woyke đã khái quát việc tạo chúa rằng mỗi ong chúa cần phải trải qua một số hoặc cả 5 môi trường sau trong quá trình tạo ra ong chúa: Đàn giống cung cấp trứng thụ tinh, đàn tiếp thu, đàn nuôi dưỡng, tủ ấm, đàn giao phối Crane, (1990) [13]
ở ấn Độ, đã có những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới kỹ thuật
tạo chúa cho ong Apis cerana như: Kích cỡ chén sáp, vật liệu làm chén sáp,
tuổi ấu trùng, số ấu trùng/lượt, mùa vụ làm chúa Kết quả cho thấy chén sáp
có đường kính 6,4 mm đáy và 8,8 mm miệng với chiều sâu là 8,9 mm là phù hợp (tỉ lệ tiếp thu 62,5%) Chén sáp được làm bằng sáp ong nguyên chất có tỷ
lệ tiếp thu cao hơn cả (80,95%) so với làm bằng Parafin ấu trùng di trùng ở tuổi 12-24 giờ là phù hợp hơn so với ấu trùng lớn tuổi hơn
Di trùng trên nền sữa chúa hoặc sữa chúa hoà tan với nước có tỷ lệ tiếp thu cao hơn di khô Về số lượng mũ chúa di trùng/ một cầu chúa cho thấy: Di trùng một lượt 6-12 chén sáp có hiệu quả hơn di trùng 18-24 chén sáp Về mùa vụ làm chúa tốt nhất là vào mùa xuân (tháng 3-4); mùa hè, mùa thu phù hợp tạo chúa nhân tạo tại khu vực Shimla Verma và Sharma (1998) [68]
Theo Muid (1994) [54] Số mũ chúa thích hợp trên một cầu làm chúa Apis cerana indica ở Malaysia là 8-12 mũ ở Thái Lan, mỗi một cầu chúa người ta
chỉ di 10-20 mũ, di ướt trên nền mũ chúa loãng thì tỷ lệ tiếp thu cao hơn là di khô, đường kính mũ chúa là 6 mm Phương pháp di kép cho ra đời những ong chúa có khối lượng nặng hơn một chút so với di đơn Tạo chúa vào mùa chia
đàn có tỷ lệ tiếp thu cao hơn (70%) so với mùa thiếu thức ăn (30%), Wongsiri, (1988) [72]
Nghiên cứu về bệnh ong Apis cerana
Đối với ong Apis cerana, bệnh luôn là vấn đề đáng lo ngại cho đàn ong
cũng như người nuôi ong, thường bị nhiễm một số dịch bệnh như bệnh thối ấu trùng châu Âu (Faulbroood) và bệnh ấu trùng túi (Sacbrood), ngoài ra còn bị
Trang 20một số kẻ thù và ký sinh gây hại đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới đàn ong như sâu ăn sáp, ong rừng, cóc, thằn lằn Các loại sâu bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới
sự phát triển của đàn ong, làm số lượng đàn cũng như năng suất mật giảm xuống Do vậy việc nghiên cứu các loại bệnh nhằm tìm ra các biện pháp phòng, trị có hiệu quả cho đàn ong là vấn đề rất cần thiết
Bệnh thối ấu trùng châu Âu (TATCA):
Do Cheshire và Cheyne công bố lần đầu tiên vào năm 1885 Hiện nay
bệnh có mặt ở khắp nơi nuôi ong Apis mellifera và hầu như toàn bộ cả những nơi nuôi ong Apis cerana Bệnh xuất hiện sớm trên ong Apis cerana ở những
nước nhập ong Apis mellifera vào, như ở ấn Độ, bệnh xuất hiện nhiều trên
ong Apis cerana vào những năm 1957-1961 khi nhập ong Apis mellifera vào
(Thaka, 1976 Verma, 1990) [64, 65] Bệnh thối ấu trùng châu Âu còn được gọi là bệnh thối ấu trùng mở nắp hay thối ấu trùng tuổi nhỏ do bệnh hay gây chết ấu trùng từ 2-4 ngày tuổi Theo Poltrep (1977), Bailey (1981), tác nhân
gây bệnh TATCA là do liên cấu khuẩn Melissococcus pluton và một số vi khuẩn thứ phát như Bacillus alvei, Streptococcus apis Phùng Hữu Chính,
(1990) [6]
Bệnh ấu trùng túi (ATT):
Bệnh ấu trùng túi: Còn gọi là bệnh nhọn đầu, bệnh nhộng bọc, bệnh này
được White mô tả lần đầu tiên vào năm 1917 [42] do virut gây nên, ở ong
châu Âu Apis mellifera, bệnh có mặt ở khắp nơi nhưng gây thiệt hại không
đáng kể, các đàn ong có thể tự khỏi bệnh và được coi là bệnh không nguy hiểm (Borchert, 1966; Poltrep, 1972) Phùng Hữu Chính (1996) [11]
Với ong châu á, bệnh xuất hiện thành dịch lần đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 1970 và đã tiêu diệt rất nhiều đàn ong theo Gong (1983) [45] ở Thái Lan, bệnh xuất hiện vào năm 1976 theo Aemprapa, Wongsiri, (1998) [32] Năm 1981, Bailey (1982) [33] đã phân lập được chủng virus gây bệnh trên
Trang 21ong Apis cerana ở Thái Lan, có các đặc điểm sinh lý sinh hoá khác với chủng vius Sacbrood gây bệnh trên ong Apis mellifera và ông đặt tên là virus Thai
(Thai-sacbrood)
ở ấn Độ dịch bệnh ấu trùng túi do virus Thái gây ra lần đầu tiên ở Nagaland 1978 và Meghalay 1979 (miền Bắc ấn Độ) Từ năm 1991 đến nay, dịch bệnh đang bùng nổ ở các bang miền Nam ấn Độ Tamil Nadu, Karnataka
và Kerala làm chết 95% số đàn ong Reddy, (1994) [59]
Các nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm bệnh của các tuổi ấu trùng khác nhau trên
ong Apis cerana indica ở ấn Độ đã chỉ ra rằng tất cả các ấu trùng từ 1-4 ngày
tuổi đều nhạy cảm với bệnh Thai sacbrood ấu trùng một ngày tuổi có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất có thể dẫn tới 100% tỷ lệ chết, tương tự ấu trùng 2-3 ngày tuổi có tỷ lệ chết 84-92% và 82-96%, 4 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm từ 70-74% Devanesan, Jacob, (1999) [42]
10 là thời điểm phù hợp nhất để diệt sâu phá bánh tổ bằng cách dọn vệ sinh thùng ong, thay cầu cũ bằng cầu mới Sáp loại ra được nấu và cất trữ cẩn thận Kết quả cho thấy tỷ lệ sâu phá bánh tổ giảm 84%
Trang 22Nghiên cứu về giải phẫu cơ quan sinh sản của ong chúa
Đối với ong Apis mellifera nghiên cứu về giải phẫu cho ong chúa đã được
mô tả rất rõ ràng Theo tài liệu của R E Snodgras(1984) [62] cho thấy, cơ quan sinh sản của ong chúa bao gồm:
Có hai buồng trứng có dạng khối hình quả lê, trong đó có các ống trứng
nhỏ, số lượng đối với ong Apis mellifera khoảng 160-180 ống trứng, đối với ong Apis cerana khoảng 80-100 ống trứng, ống trứng xuất hiện từ phần cuối
phía trước của cặp vòi trứng bên và chạy dọc theo những sợi chỉ mỏng cuối cùng tập hợp lại trong mỗi buồng trứng trong một bộ phận treo đơn gắn bên dưới thành bụng của tim
Một ống trứng trông giống như một chuỗi hạt to dần về vòi trứng, những chỗ phồng ra như chuỗi hạt là do chứa đựng trứng trong những giai đoan phát triển liên tiếp cùng với những tế bào dinh dưỡng đi kèm Phần phía trên cùng nhỏ hơn sợi chỉ của một ống trứng chỉ chứa một khối chất nguyên sinh, có cấu tạo đa hạt nhân, trong đó những tế bào ranh giới không rõ ràng, nhưng đi xuống dưới ống một chút ranh giới tế bào phân biệt rõ ràng, ống trứng ở đây là một dãy các tế bào nhỏ đặc, những tế bào này gọi là ogonia sơ cấp Đi dọc tiếp bên trong ống ogonia tách ra thành một khối các tế bào đa giác bị phân tán không đều, và đường kính ống trứng đó tăng lên để điều tiết khối lớn bổ sung phần chứa bên trong nó và sự lớn lên của trứng
Tiếp theo là 2 ống dẫn trứng (hay còn gọi là vòi trứng đôi ở 2 bên), hội tụ ở phía sau từ những buồng trứng để nối với một vòi trứng ngắn chung, vòi trứng chung mở vào phần cuối phía trước vùng âm đạo và ống của túi chứa tinh Túi chứa tinh của ong chúa là một túi hình cầu tương đối lớn nằm trên âm đạo,
được nối bởi một ống ngắn vào khoang âm đạo Âm đạo là một túi hình ô-van, nhưng nó thay đổi hình dạng bên ngoài theo sự căng phồng của nó, tiếp theo
âm đạo là khe sinh dục (hay còn gọi là khoang sinh dục cái) nằm ở giữa đốt bụng thứ 8 và 9 Khoang sinh dục được phát triển thành túi giao phối mở ở
đáy ngòi, phần kết của cơ quan sinh sản
Trang 23Giải phẫu cơ quan sinh sản của ong chúa theo Snodgras [62] đ−ợc thể hiện qua hình sau:
Hình 1 : Cơ quan sinh sản của ong chúa
Agld: Tuyến nọc của ngòi đốt Spt: Túi chứa tinh
Bepx: Âm đạo Ov: Buồng trứng
BGld: Tuyến phụ của ngòi đốt Ovl: ống trứng
Spt Gld: ống dẫn của túi chứa tinh Odl: ống dẫn chứng đơn Stn: Ngòi đốt PsnSc: Tuyến phụ
Trang 242.2.2 Tình hình nghiên cứu ong Apis cerana ở Việt Nam
Nghề nuôi ong cổ truyền ở nước ta đã có từ rất lâu, măc dù chưa có những bằng chứng khảo cổ học để khẳng định chính xác Vào thế kỷ thứ 8, thượng thư phụ trách về nông nghiệp là Phạm Lê đã có bài viết bằng tiếng Trung Quốc về một số
đặc điểm sinh học và cách nuôi ong nội địa Phùng Hữu Chính (1996 ) [11]
Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis cerana
Việc nghiên cứu ong Apis cerana bắt đầu từ những năm 1960, phòng ong
thuộc Bộ Nông nghiệp (cũ) nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
tập trung nghiên cứu thành công phương pháp chuyển giống ong Apis cerana
đang nuôi trong đõ cổ truyền ở vùng rừng núi sang thùng cải tiến nuôi ở đồng bằng, xác định được nhiều vùng giống ong nội địa ở miền Bắc như Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Bắc Giang, Hoà Bình, Thanh Hoá, và hình thành tập đoàn giống ong nội Qua quá trình theo dõi đã nhận thấy giống ong Tuyên Quang có nhiều ưu điểm hơn các vùng khác Tuy nhiên tập đoàn giống ong nội này đã bị mất đi khi dịch bệnh ấu trùng xẩy ra năm
1974 theo Trần Đức Hà (1989) [18] Năm 1970, đã tiến hành thu thập các giống ong nội từ các tỉnh miền núi để bổ sung nguồn gen cho ong khu vực
đồng bằng Phạm Xuân Dũng (1994) [14]
Từ những năm 1978-1980 Bác sĩ thú y Mai Anh cùng với công ty ong Thái Bình đã tiến hành chọn lọc một số đàn sống sót qua đợt dịch bệnh ấu trùng tuổi lớn để tạo chúa thay thế cho các đàn ong bệnh Tác giả thấy rằng tính chống chịu bệnh giảm đi ở thế hệ thứ hai và mất hẳn ở thế hệ thứ ba Mai Anh, (1983) [1]
Trong quá trình nuôi ong, để sản xuất và nhân giống, nhiều người chưa chú trọng tới việc chọn lọc mà thường chỉ sử dụng mũ chúa chia đàn tự nhiên, thậm chí cả ở những đàn nhỏ, đàn kém chất lượng, nên đã vô tình chọn lọc giống hay chia đàn tự nhiên, chính vì điều đó đã làm cho tính tụ đàn có xu hướng nhỏ đi Theo Mai Anh và Chu Văn Đang (1984) [2], từ năm 1965-1966
Trang 25bình quân đàn ong nội có 6 cầu, nhiều đàn 10-12 cầu, nhưng cho tới những năm 1980 bình quân chỉ còn lại từ 3-4 cầu, hiếm đàn có từ 5-6 cầu
Đề tài “Chọn lọc và giữ giống ong nội theo phương pháp quần thể khép kín” của Page và Laidlaw (1982) [56] đã được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu ong từ 1990-1993 đã thu được những kết quả sau: Năng suất mật tăng 20% Tỷ lệ nhiễm bệnh Sacbrood 7,67% (so với đối chứng 11,02%), tỷ lệ bệnh thối ấu trùng châu Âu 17,59% so với đối chứng 23,05%, tỷ lệ ong bốc bay 3,35% (đối chứng 6,25%), tỷ lệ chia đàn tự nhiên 6,50% (đối chứng 10,95%) Phạm Đức Hạnh (2000) [20]
Nghiên cứu về hình thái ong Apis cerana
Từ năm 1976 đã có nhiều nghiên cứu về hình thái ong Apis cerana trên
các địa phương khác nhau của Việt Nam Theo nghiên cứu của Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm (1980) [26] và Nguyễn Văn Niệm Trần Đức Hà, (1992)
[55] Cho thấy: ong nội địa (Apis cerana) là loài phân bố rộng rãi trên toàn
lãnh thổ Việt Nam và có sự chênh lệch rất rõ rệt giữa ong ở vùng cực bắc với ong ở vùng cực nam Từ việc phân tích về chỉ tiêu hình thái ong Apis cerana, các tác giả đều đi đến kết luận: theo sự giảm dần về vĩ độ thì kích thước cơ thể
ong nhỏ đi Ong Apis cerana ở miền Bắc có kích thước cơ thể lớn hơn ong Apis cerana ở miền Nam Theo Ruttner (1988) [61] , ở Việt Nam có hai phân loài ong Apis cerana cerana ở miền Bắc và Apis cerana indica ở miền Nam Ong nội Apis cerana ở miền Nam có kích thước nhỏ hơn ong Apis cerana ở
miền Bắc
Theo Phạm Văn Lập, Phùng Hữu Chính và cộng sự (1992) [51] thì khối
lượng chúa tơ, số lượng ống trứng của ong Apis cerana cerana lớn hơn so với ong Apis cerana indica tương ứng là 150 mg so với 124 mg và 99 ống trứng so với 86 ống trứng Kích thước lỗ tổ, khoảng cách giữa hai bánh tổ của ong Apis cerana ở miền Bắc cũng khác ong Apis cerana cerana ở miền Nam Đường kính lỗ tổ của ong Apis cerana ở miền Bắc là 4,6 mm ở miền nam là 4,3 mm,
do đó khi ta dùng tầng chân của ong Apis cerana cerana cho vào đàn ong Apis cerana indica thì ong sẽ xây nhiều lỗ tổ ong đực hoặc toàn bộ lỗ tổ ong đực
Trang 26Nghiên cứu về tạo chúa cho ong nội ( Apis cerana)
Các nghiên cứu về tạo chúa cho ong Apis cerana ở nước ta còn ít, việc có
được ong chúa cho đàn ong nội trước đây chỉ dựa vào kinh nghiệm nuôi ong lâu ngày và được coi là những bí quyết của nhiều người nuôi ong cổ truyền
Họ sử dụng các mũ chúa chia đàn tự nhiên, mũ chúa thay thế, mũ chúa cấp tạo
để sử dụng tuy nhiên họ chưa chú trọng tới chất lượng của ong chúa Với đàn ong mất chúa, ong thợ sẽ lựa chọn cả trứng và ấu trùng tuổi nhỏ để nuôi dưỡng thành ong chúa, với mũ chúa được cấp tạo từ ấu trùng 2,5-3 ngày tuổi
sẽ nở sớm và phá bỏ các mũ chúa khác nên chúa còn lại thường có kích thườc nhỏ, kém chất lượng Việc đánh giá chất lượng của ong chúa chia đàn, cấp tạo, thay thế ở các thời điểm khác nhau cần phải có những nghiên cứu sâu hơn
để đưa ra những kết luận chính xác
Vào những năm 1960, kỹ thuật tạo chúa nhân tạo cho ong Apis cerana ở
nước ta được các chuyên gia Trung Quốc như Vương Cộng Hoà, Lâm Thuỵ Căn giới thiệu bằng cách tạo các mũ chúa có đường kính 7,5 mm, tiến hành di trùng vào các mũ chúa bằng phương pháp di ướt trên nền mật hoặc nền sữa chúa pha loãng, sử dụng phương pháp di trùng kép Lấy ấu trùng 1-2 ngày tuổi
để di đơn Sau 38- 48 giờ múc ấu trùng đó ra rồi di lại ấu trùng tuổi 1 vào, với việc di kép thì theo các chuyên gia sẽ giúp cho các ấu trùng có sẵn thức ăn dư thừa sẽ phát triển thành những ong chúa có chất lượng tốt hơn Mỗi một cầu chúa di trùng 30 mũ chúa Lâm Thụy Căn, (1968) [5]
Phương pháp tạo chúa hàng loạt cho ong Apis mellifera và Apis cerana
được các chuyên gia Liên Xô (cũ) giới thiệu vào nước ta năm 1978 Trần Đức
Hà, Phạm Xuân Dũng, (1978) [16] Theo đó ong cũng giới thiệu các kiểu
thùng giao phối có cầu 1/4 và cầu 1/2 để thành lập trại giao phối cho ong Apis cerana nhưng tỷ lệ giao phối thành công thấp Kết qủa thí nghiệm tại trại
nghiên cứu ong Đốc Tín cho thấy thùng giao phối có cầu 1/4 cho tỷ lệ chúa đẻ 36,2%, thùng giao phối có cầu 1/2 cho tỷ lệ chúa đẻ là 50,9%, Thùng ong nhỏ
Trang 27cầu nguyên là 55,1%, thùng ong bình thường là 64,9% Theo (Nguyễn Thông
Đáp, 1980) [15]
Kết quả nghiên cứu về tạo chúa cho Apis cerana khu vực phía bắc của
Phạm Văn Lập, Phùng Hữu Chính và các cộng sự (1992) [51] cho biết tạo chúa bằng phương pháp di đơn cho chúa tơ có khối lượng không sai khác so
với tạo chúa bằng phương pháp di kép, khối lượng chúa tơ ong Apis cerana là
150 mg (dao động 130-190 mg), khối lượng chúa đẻ 200 mg (dao động
150-240 mg)
Tuổi ấu trùng mang di trùng cũng có ảnh hưởng tới khối lượng, số lượng chúa tơ Theo Phùng Hữu Chính và Nguyễn Ngọc Hương, (1993) [9] cho thấy
tuổi ấu trùng ong Apis cerana đem di trùng tốt nhất là dưới 1 ngày tuổi
Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Hữu Chính, (1996) [8], tuổi ấu trùng
di trùng cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ tiếp thu của ong chúa, tỷ lệ tiếp thu cao nhất khi di ấu trùng 24giờ tuổi: 79,2%, rồi đến ấu trùng 36giờ tuổi: 75% Tỷ lệ tiếp thu chúa thấp nhất khi di ấu trùng 72 giờ tuổi: 6,9%, ấu trùng ở 3giờ tuổi cũng cho tỷ lệ thấp: 33,3%
ấu trùng di ở 3 giờ tuổi có khối lượng lớn nhất 166,5 ± 2,71 mg, rồi đến các ấu trùng ở tuổi 24 giờ 163,81 ±1,6 mg, ấu trùng di ở tuổi 72 giờ cho khối lượng ong chúa nhỏ nhất 121 ± 2,2 mg rồi đến ong chúa tạo từ ấu trùng 60 giờ tuổi 139,39 ± 2,4 mg Số ống trứng trong một buồng trứng ở ong chúa di từ ấu trùng 24 giờ tuổi cao nhất: 94,51 ống trứng, rồi đến di ở 12 giờ tuổi: 92,78 ống trứng Số ống trứng trong một buồng trứng thấp nhất ở ong chúa di ở 72 giờ tuổi và 36 giờ tuổi: 81,6 và 81,03 ống trứng
Tuy nhiên việc tạo chúa di trùng cho ong Apis cerana thường chỉ áp dụng
cho các trại nuôi ong của nhà nước, các trại ong tư nhân chuyên nghiệp có quy mô đàn lớn Còn đa phần những người nuôi ong tư nhân có quy mô nhỏ, nuôi ong gia đình thường không áp dụng phương pháp tạo chúa nhân tạo mà họ chỉ
sử dụng mũ chúa chia đàn tự nhiên hoặc cấp tạo đột ngột Việc sử dụng mũ
Trang 28chúa chia đàn tự nhiên hoặc cấp tạo đột ngột không có sự chọn lọc từ đầu nên chất lượng ong chúa nhiều lúc chưa tốt do người nuôi ong chưa chú trọng tới
đàn mẹ, nhiều khi sử dụng những mũ chúa từ những đàn có nhiều đặc điểm không tốt với người nuôi ong nên chất lượng chúa không cao
Nghiên cứu về bệnh ong
Bệnh thối ấu trùng châu Âu
Bệnh thối ấu trùng châu Âu có mặt ở Việt Nam từ tháng 12/1967 có thể do
ta nhập một số đàn ong Apis cerana ở Trung Quốc vào Việt Nam theo Nguyễn
Kim Lan (1994) [21] Cho tới nay bệnh này vẫn phổ biến, và gây hại lớn cho
đàn ong, bệnh gây chết ấu trùng tuổi nhỏ, đàn ong bị tổn hao quân nhanh, dễ dẫn tới đàn ong bỏ tổ bốc bay Các thuốc kháng sinh có hiệu quả là Pyenicilin, Streptomycin, Kanamicin, Oxytetracilin, Erytrmicin… Các vi khuẩn gây bệnh thối ấu trùng châu Âu đã được phân lập trên nhiều mẫu bệnh phẩm của ong nội Theo (Trần Minh Tứ 1981, Mai Anh 1983, Phạm Ngọc Viễn 1983) [28,
1, 30] đã phân lập được các vi khuẩn Melissococcus pluton, Bacillus alvei, Bacillus orpheus, Bacillus pluton, Streptococcus apis , Streptococcus pluton
gây bệnh cho ong nội
Bệnh ấu trùng túi (Sacbrood)
Bệnh ấu trùng túi do vi rút gây nên, xuất hiện ở nước ta vào năm 1974 do nhập một số đàn ong cao sản của Viện Bắc Kinh Qua triệu chứng lâm sàng, các chuyên gia ong trong nước và quốc tế đã cho rằng tập hợp bệnh thối ấu trùng ong nội có mặt bệnh ấu trùng túi Tới năm 1989, Trung tâm nghiên cứu ong đã gửi mẫu bệnh Sacbrood sang phân tích tại Anh và đã xác định sự có mặt của virus Thái- Sacbrood trên các đàn ong nội nước ta Phùng Hữu Chính, (1989) [35] Theo kết quả công bố của Phùng Hữu Chính, (1996) [11] đã nghiên cứu điều trị bệnh ấu trùng túi bằng biện pháp sinh học là nhốt chúa và thay thế chúa đẻ đàn bệnh bằng mũ chúa hoặc chúa tơ kết hợp với loại bớt cầu
đều cho kết quả tốt, hiệu quả điều trị cao đặt 80-90%
Trang 293 địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong Láng Hạ-Đống Đa-Hà Nội
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Nguồn giống ong
Được lấy từ giống ong của TTNCO được thu thập và lưu giữ trong chương
trình chọn lọc và giữ giống ong nội Apis cerana Qua kết quả nghiên cứu và phân tích mẫu cho thấy giống ong trên thuộc phân loài Apis cerana cerana là
giống có nhiều ưu điểm tốt 45 đàn ong được chọn lọc để phục vụ cho nghiên cứu đã được nuôi dưỡng và chăm sóc tại nhà ông Đạt (Tản Lĩnh-Ba Vì-Hà Tây) Việc tạo chúa được tiến hành vào tháng 11/2004 Từ 45 đàn nền được chọn từ những đàn đủ tiêu chuẩn, có các cầu tương đương nhau được làm cùng thời điểm, cùng đợt Tiến hành tạo chúa đồng loạt bằng phương pháp di trùng (chúa được tạo ra cùng một đàn mẹ)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn đàn tạo chúa
36 đàn giao phối thành công được đánh dấu và chăm sóc như nhau để phục vụ cho 3 đợt thí nghiệm
Tiến hành thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành trên 3 đợt, mỗi đợt chọn
12 đàn, chia làm 3 lô tương ứng với thế đàn ong khác nhau lần lượt là: lô 1 có
3 cầu tương ứng với 0,6 kg ong thợ/đàn, lô 2 có 4 cầu loại 1 cầu để lại 3 cầu tương ứng với 0,8 kg ong thợ/đàn, lô 3 có 5 cầu loại 2 cầu để lại 3 cầu tương ứng với 1 kg ong thợ/đàn Như vậy trong mỗi đàn chỉ còn lại 3 cầu con tương
đương nhau Để có được khối lượng ong thợ/đàn ở 3 mức khác nhau ngoài việc loại cầu chúng tôi còn phải tiến hành cân khối lượng ong của từng đàn, từ
Trang 30đó có thể bổ sung thêm ong hoặc tách bớt ong cho phù hợp Các đợt sau được tiến hành tương tự
Đàn tạo chúa là những đàn khoẻ mạnh, không bệnh, trước khi bắt chúa một tuần tiến hành cắt bớt phần đáy của bánh tổ, tạo điều kiện cho ong cơi nới xây lỗ tổ mới để ong chúa đẻ trứng
Những đàn tạo chúa đều được cho ăn bổ sung trước khi tạo chúa 3 ngày và
được cho ăn liên tục cho tới khi vít nắp
3.3.2 Xác định trứng, tuổi ấu trùng
Trước khi tiến hành tạo chúa cấp tạo, chúng ta cần phải xác định được tuổi của ấu trùng bao gồm: (trứng, ấu trùng tuổi1, 2, 3) Từ đó là cơ sở cho việc
đánh giá tuổi ấu trùng trên các cầu tạo chúa
Xác định trứng bằng cách lấy cầu không, đặt trong lồng cách ly, cho vào
đàn ong giới thiệu chúa đẻ vào, sau khoảng 4 giờ nhấc cầu ra múc lấy1/2 số trứng tiến hành đo chiều dài, chiều rộng của trứng, số còn lại cho vào đàn không chúa sau khoảng 48-50 giờ múc trứng ra để đo lại lần hai Tiến hành đo nhiều lần trên kính lúp nổi, kết quả là trung bình của các đợt đo
Xác định tuổi ấu trùng bằng cách chọn một đàn ong 4 cầu, có chúa đẻ khoẻ, loại đi 3 cầu chỉ để lại một cầu nhộng, cho vào đàn 1 cầu chỉ chứa mật
và phấn, bắt chúa vào đặt trong lồng cách ly để chúa chỉ đẻ trong cầu mật, phấn, (lồng cách ly có tác dụng ngăn chúa nhưng ong thợ vẫn đi lại bình thường) Xác định chúa đẻ bằng cách 20 phút kiểm tra Sau khi chúa đẻ được
3 giờ nhấc cầu ra khỏi lồng đặt luôn trong đàn, tiếp tục cho cầu mật và phấn khác giới thiệu chúa cho vào lồng cách ly Sử dụng các cầu chúa đẻ để xác
định tuổi ấu trùng bằng cách:
Sau 3 ngày (đối với cầu đầu tiên) lần lượt lấy các ấu trùng theo thời gian 0 – 4 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ để đo chiều dài của ấu trùng (việc đo chiều dài của ấu trùng được tiến hành trên máy đo hệ thống hình thái, sử dụng phần mềm CIAS 4 0 của phòng Quỹ gen Trung tâm Nghiên cứu ong) Qua đó xác
Trang 31định được tuổi của ấu trùng tương ứng Những ấu trùng có chiều dài nhỏ hơn chiều dài đo được lúc 24 giờ được coi là ấu trùng tuổi 1, ấu trùng có chiều dài nhỏ hơn chiều dài đo lúc 48 giờ nhưng lớn hơn lúc 24 giờ được coi là ấu trùng tuổi 2, còn lại ấu trùng có chiều dài nhỏ hơn chiều dài đo lúc 72 giờ nhưng lớn hơn lúc 48 giờ được coi là ấu trùng tuổi 3
Phương pháp này được lập lại 6 lần với các thời điểm khác nhau, kết quả
đo được chiều dài của ấu trùng tương ứng với các giờ trên là trung bình của 6 lần đo
3.3.3 Kiểm tra mũ chúa ong thợ cấp tạo trên bánh tổ
Sau buổi chiều bắt chúa gửi đi các đàn khác, ngày hôm sau ta tiến hành kiểm tra số lượng mũ chúa cấp tạo từ trứng, tuổi ấu trùng cấp tạo và đánh dấu lên xà dưới và hai xà bên của khung cầu
Việc kiểm tra được tiến hành trong 7 ngày (số lượng mũ chúa tăng lên và mất đi được ghi chép đầy đủ) Mỗi ngày tiến hành kiểm tra 5 lần vào các thời
điểm: 5h, 10h, 15h, 20h, 24h trong ngày Sau 9 ngày tiến hành cắt mũ chúa cho vào tủ ấm (các mũ chúa được cho vào từng lồng riêng cùng với ong thợ, trên các lồng có ghi số hiệu đàn cùng với trứng và tuổi ấu trùng kèm theo)
3.3.4 Cân khối lượng chúa tơ
Các mũ chúa cắt cho vào tủ ấm được kiểm tra 3 giờ một lần, chúa nở được cân bằng cân điện tử với độ chính xác ±1 mg Tiến hành cân mỗi ong chúa 3 lần, lấy kết quả là trung bình của 3 lần cân
3.3.5 Ngâm chúa trong dung dịch định hình theo
Sau khi cân xong, chúa được giết bằng nước nóng (70-90°C) Các ong chúa sau khi giết được đánh dấu sau đó được ngâm ngay vào dung dịch định hình đã được pha sẵn bao gồm (axit picric bão hoà 15 phần, formalin nguyên chất 5 phần, axit axetic 1 phần) Sau 20-24 giờ nhấc ong chúa ra, rửa bằng cồn 70° khoảng 3 - 4 lần Chuyển chúa vào lọ ngâm trong cồn 70-90° Sau thời gian 6h có thể tiến hành giải phẫu ong chúa để đếm ống trứng
Trang 323.3.6 Đếm số lượng ống trứng
Tiến hành giải phẫu ong chúa được ngâm trong cồn bằng cách mở lớp vỏ phần bụng phía lưng của ong chúa, nhẹ nhàng dùng kim giải phẫu cho côn trùng cùng với phanh nhỏ tách lấy hai buồng trứng, đặt lên lam kính (tiến hành tách riêng từng buồng để đếm) Mỗi buồng được cắt làm ba phần, dùng kim nhỏ tách từng đoạn ống trứng (phần giữa của buồng trứng đã được cắt),
đếm ống trứng trên kính lúp nổi Số lượng ống trứng là trung bình của hai buồng trứng
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Chiều dài của trứng: được đo trên kính lúp có thước đo hiển vi thị
kính
3.4.2 Chiều dài ấu trùng: đươc đo dưới máy đo hệ thống hình thái
3.4.3 Số mũ chúa cấp tạo: là số lượng mũ chúa đếm được sau 7 ngày theo
dõi ở các tuổi khác nhau
3.4.4 Số mũ chúa nở: Là số mũ chúa được cắt vào tủ ấm nở thành ong
chúa
Số chúa tơ
3.4.5 Tỷ lệ mũ chúa nở (%) = - ì100
Số mũ chúa cấp tạo
3.4.6 Khối lượng chúa tơ: Cân khối lượng chúa tơ sau khi nở 0-3 giờ (cân
Trang 334 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Chiều dài trứng và ấu trùng tuổi 1, 2, 3 của ong nội Apis cerana
Đối với ong chúa Apis cerana việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương
pháp tạo chúa di trùng Số ngày từ trứng tới lúc nở ra chúa tơ của ong nội nước
ta chưa được công bố
Qua kết quả theo dõi của chúng tôi cho thấy quá trình hình thành và phát triển của ong chúa từ trứng tới trưởng thành dao động trong khoảng 15,5 -16 ngày, trong đó giai đoạn trứng 2,8 - 3 ngày, ấu trùng 5 ngày và nhộng 7,5-8 ngày (sự dao động phụ thuộc vào phụ thuộc vào mùa vụ, thức ăn và chế độ chăm sóc) Ngoài ra một số kết quả về thời gian giao phối, số ngày đẻ trứng, sức đẻ trứng, khối lượng chúa tơ, chúa đẻ và số lượng ống trứng trong buồng trứng theo phương pháp tạo chúa nhân tạo cũng đã được công bố
Để phục vụ cho việc cho việc xác đinh các mũ chúa cấp tạo trên đàn ong, trước hết chúng tôi cần phải tiến hành xác định trứng, tuổi ấu trùng trong các khoảng thời gian khác nhau, đó là cơ sở cho việc theo dõi thí nghiệm được chính xác và thuận lơi
4.1.1 Chiều dài và chiều rộng của trứng
Xác định trứng:
Trứng ong có màu trắng đục hình dạng hơi cong Theo Koeniger (1992) mặt lồi của trứng tương ứng với mặt lưng của phôi, chiều dài và rộng của trứng
ong Apis mellifera là 1,60mm và 0,32mm Còn của ong Apis cerana là
1,71mm và 0,406mm Giai đoạn trứng kéo dài khoảng 3 ngày đêm Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [12]
Qua bảng1 cho thấy:
Kết quả đo được chiều dài và rộng của trứng ong Apis cerana phía bắc
Trang 34Việt Nam của chúng tôi thấy có sự thay đổi trong các khoảng thời gian khác nhau, với khoảng thời gian từ 0-6 giờ (chiều dài của trứng đo được trung bình 1,80 ± 0,03mm, chiều rộng trung bình 0,41 ±0,04mm), với khoảng thời gian
từ 48 - 54 giờ (chiều dài của trứng đo được trung bình 1,76 ±0,02mm, chiều rộng trung bình 0,38 ± 0,02mm)
Trong khoảng thời gian từ 0 – 54 giờ, chiều dài và chiều rộng trung bình tương ứng là: 1,78 ± 0,04 mm và 0,40 ± 0,03mm
Kết quả đo được của Woyke (1975) với khoảng thời gian từ 2 – 18 giờ
trứng ong Apis cerana có chiều dài 1,767mm, chiều rộng 0,406mm, với
khoảng thời gian 48 – 54 giờ trứng có chiều dài 1,685mm, chiều rộng 0,373mm
Trong khoảng thời gian từ 0 – 54 giờ, chiều dài và chiều rộng trung bình tương ứng là: 1,73mm và 0,39mm
Hình 2: Trứng ong nội Apis cerana khu vực phía Bắc
Trang 35Như vậy so với kết quả đo được của chúng tôi với Woyke và Koeniger thì
trứng ong Apis cerana của khu vực phía bắc Việt Nam có chiều dài lớn hơn
tương ứng là:.1,78mm so với 1,73mm và 1,71mm Với chiều rộng sự chênh lệch là không đáng kể 0,40mm so với 0,39mm và 0,41mm
Đối với ong ngoại Apis mellifera chiều dài và rộng tương ứng 1,60mm và 0,32mm, nhỏ hơn hẳn so với ong Apis cerana
Bảng1: Chiều dài và chiều rộng của trứng ong nội (Apis cerana)
Trứng (0-54 giờ) (mm) Chỉ tiêu theo dõi
Chiều dài Chiều rộng
X ± mx 1,78 ± 0,04 0,40 ± 0,03 Min 1,62 0,35 Max 1,85 0,45
n 198 198
4.1.2 Chiều dài của ấu trùng
Xác định chiều dài ấu trùng:
Với sự chăm sóc của ong thợ, ấu trùng lớn lên rất nhanh, trong quá trình
biến đổi ấu trùng có sự lột xác để dần hoàn thiện mình theo nghiên cứu của
Woyke (1975) cho thấy ấu trùng được ong thợ nuôi dưỡng cho ăn bình quân
mỗi ngày là 1300 lần và ấu trùng tiến hành lột xác mỗi ngày một lần (Crane
1990) [13]
Qua bảng 2 cho thấy:
Chiều dài của ấu trùng khác nhau tương ứng với khoảng thời gian như sau:
ấu trùng nở ra trong khoảng 0-4giờ có chiều dài trung bình 1,72 ± 0,02mm
24 giờ sau ấu trùng dài trung bình 2,65 ± 0,05mm (tương ứng với 1 ngàytuổi)
48 giờ sau ấu trùng dài trung bình 6 ± 0,19mm (tương ứng với 2 ngày tuổi)
Trang 3672 giờ sau ấu trùng dài trung bình 8,2 ± 0,22mm (tương ứng với 3 ngày tuổi) Quan sát trong lỗ tổ ong thợ thấy cuối ngày thứ ba ấu trùng hầu như chiếm
hoàn toàn đáy lỗ tổ
Hình 3: ấ u trùng ở các tuổi khác nhau tương ứng với các giờ khác nhau
Bảng 2 Chiều dài của ấu trùng ở các tuổi khác nhau
Trang 374.2 ảnh hưởng của tuổi ấu trùng tới số lượng, chất lượng ong chúa được tạo ra theo phương pháp cấp tạo
Khi mất chúa đàn ong sẽ tạo ra nhiều mũ chúa với nhiều tuổi khác nhau trong đàn để đảm bảo cho việc tồn tại và phát triển của nòi giống
4.2.1 ảnh hưởng của tuổi ấu trùng tới số mũ cấp tạo
Qua bảng 4 cho thấy:
Với các tuổi trùng khác nhau thì số lượng mũ chúa cấp tạo cũng khác nhau, số lượng mũ chúa cấp tạo cao nhất từ ấu trùng T1, thấp nhất là mũ chúa được cấp tạo
từ ấu trùng T3 Mũ chúa cấp tạo từ trứng, ấu trùng T1, T2, T3 trung bình trên đàn tương ứng là: 2,78 ±1,03 mũ; 4,89 ±1,94 mũ; 3,92 ±1,69 mũ; 2,67 ± 1,73 mũ Qua phân tích thống kê cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa T1 với trứng và T3 với mức ý nghĩa (P= 0,05)
Với T2 sự sai khác giữa các tuổi còn lại không rõ ràng
Hình 4: Mũ chúa mới cấp tạo
Trang 38Hình 5: Các mũ chúa vít nắp
Bảng 3 ảnh hưởng của tuổi ấu trùng tới số lượng mũ chúa theo dõi được
Đơn vị tính: (mũ/đàn) Tuổi ấu trùng
Chỉ tiêu theo dõi
Trang 394.2.2 ảnh hưởng của tuổi ấu trùng tới số lượng chúa tơ
Qua bảng 4 cho thấy:
Tuổi ấu trùng khác nhau đã ảnh hưởng tới số lượng chúa tơ được tạo ra Số lượng chúa tơ được tạo ra từ các tuổi khác nhau trung bình trên đàn lần lượt là: Trứng là 1,19 ± 0,53, ấu trùng T1: 4,39 ± 1,67, ấu trùng T2: 3,56 ± 1,63, ấu trùng T3: 2,03 ± 1,32 con
Số lượng chúa tơ được tạo ra cao nhất ở ấu trùng T1 tiếp đó là tới ấu trùng T2, T3, số lượng chúa tơ tạo ra thấp nhất từ trứng
Khi phân tích thống kê với cho thấy ấu trùng T1 so với trứng và ấu trùng T3 sự sai khác thể hiện rõ ràng với mức ý nghĩa (P = 0,05)
Số lượng chúa được tạo ra từ ấu trùng T1 và T2 không sai khác, giữa trứng
và ấu trùng T3 cũng không có sự sai khác ở mức ý nghĩa (P = 0,05)
Việc mũ chúa được cấp tạo từ trứng bị mất nhiều có thể được giải thích như sau:
Những mũ chúa cấp tạo từ trứng việc chọn lọc còn gặp nhiều khó khăn do trứng chưa tạo ra mùi (pheromon) để ong thợ có thể chọn lọc và phân biệt Đôi khi có sự nhầm lẫn với những quả trứng không được thụ tinh ( trứng ong đực), khi trứng nở trong thời gian ấu trùng hoặc mới vít nắp ong thợ có thể nhận biết
sự khác biệt từ mùi của ấu trùng liền phá bỏ những mũ chúa đó
Mũ chúa được cấp tạo từ trứng mất thời gian dài khoảng (13 –16 ngày) tuỳ thuộc vào thời gian quả trứng được cấp tạo sau khi đẻ, trong khi đó đàn ong đang cần có chúa sớm để lãnh đạo đàn, giúp sớm ổn định để duy trì và phát triển đàn ong Việc thời gian kéo dài làm hẫng hụt thế hệ kế cận, đàn ong sẽ bị suy giảm nhanh, ong thợ nhàn rỗi mớm sữa cho nhau, kích thích buồng trứng phát triển, một số ong thợ đẻ trứng (do không được thụ tinh nên trứng ong thợ sẽ phát triển thành những ong đực còi, bất lợi cho đàn ong và cho thế hệ sau)
Trang 40Trong tự nhiên nếu đàn ong không muốn chia đàn nữa thì chúa tơ nở ra ngay sau đó sẽ phá toàn bộ mũ chúa còn lại Điều đó sẽ làm cho những mũ chúa từ trứng khó có cơ hội tồn tại
Với ấu trùng T1 và T2 có thể hiểu là giai đoạn được ăn sữa, sữa được ong thợ tiết ra từ tuyến họng và tuyến hàm trên Woyke (1975) có hàm lượng dinh dưỡng cao giàu protein và vitamin Điều đó sẽ giúp cho những ong chúa được cấp tạo từ ấu trùng T1 và T2 có chất lượng tốt do chưa phải ăn thức ăn có chất lượng thấp hơn (thức ăn có lẫn nhiều mật và phấn)
ấu trùng ong thợ sau 2,5 – 3 ngày thức ăn của ấu trùng được thay đổi có thêm mật ong và phấn hoa Crane (1990 ) làm cho hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn giảm, chất lượng ấu trùng ở giai đoạn này cũng giảm theo, điều đó ong thợ có thể nhận thấy nên việc chọn những ấu trùng ở giai đoạn này rất hạn chế, tuy nhiên với ấu trùng T3 trước 2,5 ngày tuổi vẫn có thể sử dụng được nhưng chất lượng ong chúa không cao
Bảng 4 ảnh hưởng của tuổi ấu trùng tới số lượng chúa tơ
Đơn vị tính: (con/đàn) Tuổi ấu trùng