Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học: gs.ts nguyễn quang thạch
hà nội - 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn mọi sự giúp đỡ
đều đ2 đ−ợc cám ơn và các trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lê Duy Thăng
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Quang Thạch người đ2 tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Công nghệ sinh học Khoa Nông học Tập thể cán bộ phòng Hoá sinh ứng dụng – Viện Sinh học nông nghiệp - trường Đại học Nông nghiệp I đ2 nhiệt tình giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban l2nh đạo, tập thể cán
bộ ở Sở Khoa học công nghệ tỉnh Bắc Giang, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang, Trạm giống cây ăn quả - cây Lâm nghiệp Lạng Giang - Bắc Giang đ2 góp ý, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh em, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn
Tác giả
Lê Duy Thăng
Trang 4MụC LụC
2.3 Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng vải 14
3 Vật liệu, đối tượng địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 31
4.1 Điều kiện khí hậu, đất đai và hiện trạng trồng vải ở vùng thí nghiệm 38
4.3 ảnh hưởng của phân bón Kỳ nhân tố đến khả năng đậu quả, tạo năng suất
Trang 54.3.1 ảnh hưởng của nồng độ phân bón Kỳ nhân tố đến khả năng đậu quả,
4.3.2 ảnh hưởng của thời kỳ phun phân bón Kỳ nhân tố đến khả năng đậu
4.3.3 ảnh hưởng của số lần phun phân bón Kỳ nhân tố đến khả năng đậu quả,
4.3.4 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón kỳ nhân tố 82
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t B§
CT
NS
§/C
§HNNI FAO KHKT NXB
TP TNHH
Ban ®Çu C«ng thøc N¨ng suÊt
§èi chøng
§¹i häc N«ng nghiÖp I
Tæ chøc n«ng l−¬ng thÕ giíi Khoa häc kü thuËt
Nhµ xuÊt b¶n Thµnh phè Tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Giống vải chính của một số nước trên thế giới 7
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới 9
Bảng 2.3: Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam 10
Bảng 2.4: Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai 13
Bảng 2.5: Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây 20
Bảng 3.1: Thành phần hoá học của phân bón Kỳ nhân tố 31
Bảng 3.2: Thời gian và liều lượng phân bón 35
Bảng 4.1: Một số đặc trưng về khí hậu của vùng nghiên cứu 39
Bảng 4.2: Thành phần hóa học của đất tại vùng nghiên cứu 41
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất và sản lượng của tỉnh Bắc Giang qua một số năm 42 Bảng 4.4: Diện tích, năng suất và sản lượng vải của các huyện trong tỉnh 43
Bảng 4.5: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến động thái đậu quả 46 Bảng 4.6: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến thời gian chín của quả 48
Bảng 4.7: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến các yếu tố cấu thành năng suất 50 Bảng 4.8: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến thành phần cơ giới quả 53
Bảng 4.9: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến phẩm chất quả 54
Bảng 4.10: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến dư lượng kim loại nặng 56
Bảng 4.11: ảnh hưởng của nồng độ phân Kỳ nhân tố đến sâu hại và mầu sắc qủa 57
Bảng 4.12: ảnh hưởng của thời kỳ phun phân Kỳ nhân tố đến động thái đậu quả 59 Bảng 4.13: ảnh hưởng của thời kỳ phun phân Kỳ nhân tố đến thời gian
Trang 8Bảng 4.14: ảnh hưởng của thời kỳ phun phân Kỳ nhân tố đến các yếu tố
tượng sâu hại chính và mầu sắc qủa 69 Bảng 4.19: ảnh hưởng của số lần phun phân Kỳ nhân tố đến động thái
Bảng 4.20: ảnh hưởng của số lần phun phân Kỳ nhân tố đến thời
gian chín và mẫu m2 quả 74 Bảng 4.21: ảnh hưởng của số lần phun phân Kỳ nhân tố đến các yếu tố cấu
đối tượng sâu hại chính và mầu sắc qủa 81 Bảng 4.26: Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón Kỳ nhân tố 82
Trang 9Danh mục các hình
Hình 4.1: ảnh hưởng của nồng độ phun phân Kỳ nhân tố đến khả năng đậu quả 47 Hình 4.2: ảnh hưởng của nồng độ phun phân Kỳ nhân tố đến năng suất vải 50 Hình 4.3: ảnh hưởng của thời kỳ phun phân Kỳ nhân tố đến khả năng đậu quả 60 Hình 4.4: ảnh hưởng của thời kỳ phun phân Kỳ nhân tố đến năng suất 63 Hình 4.5: ảnh hưởng của số lần phun phân Kỳ nhân tố đến khả năng đậu quả 72 Hình 4.3: ảnh hưởng của số lần phun phân Kỳ nhân tố đến năng suất vải 76
Trang 101 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Trong những năm gần đây diện tích cây ăn quả đ2 được mở rộng một cách nhanh chóng, nhất là đối với cây vải thiều là một trong những thế mạnh phát triển kinh tế của nông dân vùng đồi núi và trung du phía Bắc
Cây vải (Litchi sinensis Sonn), là một trong những cây ăn quả á nhiệt đới
đặc sản của Việt Nam Trong thành phần của quả vải có chứa các chất có giá trị kinh tế cao như: đường dễ tiêu, vitamin B, C, phốt pho, sắt, canxi Trên thị trường thế giới, quả vải được xếp sau dứa, chuối, cam quýt, xoài, bơ Về chất lượng vải là cây ăn quả được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, giàu chất bổ
được nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng Quả vải ngoài ăn tươi còn được chế biến như sấy khô, làm rượu vang, đồ hộp, nước giải khát Ngoài ra hoa vải còn chứa một nguồn mật rất tốt, cây vải có tán lá xum xuê quanh năm có thể dùng làm cây cảnh, cây bóng mát, cây chắn gió, chống xói mòn
Quả vải có tính cạnh tranh lớn là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ cao
đối với nhiều nước Với ưu thế là loại cây có tính thích ứng mạnh, dễ trồng có thể chịu được hạn nên có thể sinh trưởng tốt trên đất đồi Nhiều tỉnh như: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây đ2 và đang có kế hoạch
đẩy nhanh việc trồng vải với diện tích rất lớn Một số tỉnh như Sơn La, Lạng Sơn, Hòa Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang đ2 trồng hàng ngàn ha vải
Trong những năm 1990 cây vải được xem là một trong những loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao nhất được đưa vào sản xuất ở vùng đồng bằng Bắc bộ, trung du và miền núi phía Bắc Năm 1997 diện tích trồng vải đạt 21.114 ha Đến năm 2002 diện tích trồng vải đạt 65.545 ha với sản lượng 118.000 tấn Tính đến năm 2005, tổng diện tích vải của cả nước 102.300 ha, sản lượng 305.000 tấn (chiếm 13,69% diện tích và 16,62% sản lượng cây ăn quả của cả nước) Trong đó trên 95% diện tích và sản lượng là giống vải thiều Thanh Hà [53]
Trang 11Diện tích cây ăn quả của tỉnh Bắc Giang đến nay đ2 tăng lên 51.803ha, trong đó riêng vải là 40.629ha, có 36.000ha cho thu hoạch, sản lượng tăng không ngừng năm 2006 đạt xấp xỉ 70.000 tấn Cây vải thiều là loại cây ăn quả chiếm diện tích lớn nhất trong cơ cấu cây ăn quả của tỉnh hiện nay Do đặc tính của cây vải có khả năng chịu hạn tốt, trồng được trên nhiều loại đất, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh, cho năng suất, chất lượng tốt Cây vải đ2 mang lại hiệu quả kinh tế cao trong nhiều năm góp phần rất lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế ở tỉnh Bắc Giang nói chung và các huyện miền núi nói riêng Do vậy, cây vải đ2 được xác định là một trong những cây trồng chính trong cơ cấu cây ăn quả hiện nay
Tuy nhiên, diện tích cây vải của tỉnh Bắc Giang chủ yếu trên đất gò đồi,
đất Feralit đỏ vàng, đất bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng, mặc dù hàng năm vẫn được bù một lượng phân đáng kể, song năng suất và chất lượng quả vải ở nước ta vẫn thấp so với các nước trong khu vực Điều này liên quan đến một
số nguyên nhân như giống, quy trình chăm sóc và đáng chú ý là việc sử dụng
đất và phân chưa được xem xét cân đối và phù hợp với điều kiện cụ thể về đặc
điểm thổ nhưỡng và cảnh quan của từng vùng Trong tự nhiên việc thiếu hụt các nguyên tố vi lượng để tạo ra các enzim trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật là điều khó tránh khỏi
Phân bón Kỳ nhân tố là loại dinh dưỡng thực vật do Công ty Trách nhiệm hữu hạn phát triển khoa học kỹ thuật Ưu Thắng - Trùng Khánh vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật cao mới nhất để triển khai sản xuất Đ2
được thế giới công nhận là phân bón có chứa chất điều tiết tăng trưởng thực vật mới nhất (loại thứ 6) Đây là một loại kích thích tố tự nhiên thuần khiết
được chiết xuất trực tiếp từ thực vật, với 3 ưu điểm chính là: tính hiệu quả, tính phổ biến và tính không độc hại
Phân bón kỳ nhân đ2 được ứng dụng rộng r2i trên nhiều loại cây trồng nông nghiệp như cây có dầu, cây rau, lúa ngô, khoai tây, thuốc lá đ2 cho
Trang 12hiệu quả rất khả quan, sản lượng lúa mỗi mẫu tăng từ 16,7 - 22,5%, rau xanh tăng từ 25 - 39%, đậu tượng tăng từ 15 - 27,7%, dưa hấu tăng từ 30% trở lên, các loại cây ăn quả tăng từ 23 - 60% Do phân bón Kỳ nhân tố có tác dụng lớn như vậy nên hầu hết các vùng sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc đều sử dụng loại phân bón này ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng đ2 có một số công trình nghiên cứu ứng dụng loại phân bón này trong sản xuất nông nghiệp đ2 cho kết quả rất khả quan Tuy nhiên trên đối tượng cây ăn quả và
đặc biệt là cây vải chưa được nghiên cứu
Chính vì vậy, việc tiến hành đề tài “ảnh hưởng của phân bón Kỳ nhân
tố đến năng suất và phẩm chất vải thiều tại Bắc Giang” là việc làm cần thiết tạo cơ sở cho việc xây dựng quy trình cụ thể về cách sử dụng phân bón
Kỳ nhân tố trên cây vải một cây ăn quả quan trọng hàng đầu của Bắc Giang 1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Thăm dò, đánh giá ảnh hưởng của phân bón Kỳ nhân tố đến sự hình thành năng suất và phẩm chất vải thiều tại Bắc Giang từ đó làm cơ sở đề xuất hướng sử dụng cho các vùng vải khác và trên các loại cây ăn quả khác
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón Kỳ nhân tố đến sinh trưởng, phát triển và năng suất vải
- Xác định được nồng độ xử lý thích hợp nhất trên cây vải
- Xác định được thời kỳ xử lý thích hợp nhất trên cây vải
- Xác định được số lần xử lý thích hợp nhất trên cây vải
- Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón Kỳ nhân tố đến phẩm chất vải
Trang 131.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về
ảnh hưởng của phân bón lá thích hợp đến sự hình thành năng suất và phẩm chất của quả vải thiều
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về cây ăn quả và đặc biệt là cây vải
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về quy trình kỹ thuật thâm canh cây vải và kỹ thuật ứng dụng phân bón Kỳ nhân tố trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 142 tổng quan tài liệu 2.1 giới thiệu chung vê cây vải
2.1.1 Cây vải
Cây vải có tên khoa học là Nephelium litchi, Litchi chinensis Sonn; Chi: Vải Litchi; Họ: Bồ hòn Sapindaceae; Bộ: Bồ hòn Sapindales; Phân lớp: Hoa hồng Rosidae; Lớp: Ngọc lan Dicotyledoneae (Magnoliopsida); Ngành: Ngọc lan Magnoliophyta (Angiospermae)
Theo Menzel (2002) [63,Tr.8-13] và Hoàng Thị Sản (2003) [32, 151] thì họ Bồ hòn có 150 chi với trên 2000 loài ở Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nh2n, chôm chôm [40] Về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh, lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt
Tr.150-2.1.2 Nguồn gốc và phân bố
Theo FAO (1989) [59] theo tài liệu này viết về cây vải đ2 ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đ2 đem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Inđônêxia
Theo Trần Thế Tục (2004) [47, Tr.6-7] nguồn gốc cây vải có ở giữa miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malai Người ta thấy vải dại mọc trong rừng 4 tỉnh phía nam Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo Hải Nam và có nơi vải dại mọc thành rừng trên diện rộng và theo
điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tinh Quảng Tây đều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [30, Tr.5-6] [49]
Trang 15ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân
bố từ 18-190 vĩ Bắc trở ra nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ [46] Theo các tài liệu lịch
sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuộc vải là một trong những cống vật hằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa [23,Tr.431], [47,Tr.12] Cây vải dại cũng đ2 được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây
và nhiều nơi khác Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải [23,Tr.430- 431]
Ngày nay, trên thế giới khoảng trên 20 nước trồng vải [30] [47] Châu á có: Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanka, Nhật Bản, Ixrael
Châu Mỹ: Hundurat, Panama, Cuba, Tsinidat, Brazil, Jamaca…
Châu Phi: Nam Phi, Madagatca, Rêunyniong, Gabông, Cônggô…
Châu Đại Dương: Austraylia, Newzilan…
ở Việt Nam, cây vải được Nhà nước cũng như người sản xuất rất quan tâm, cây vải đ2 và đang được phát triển mạnh và đ2 hình thành một số vùng trồng tập trung như Lục Ngạn -Lục Nam - Yên Thế (Bắc Giang), Thanh Hà - Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ - Phú Lương (Thái Nguyên) Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù Yên- Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây nguyên như
Trang 16ở ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các bang khác nhau ở Bang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của ấn Độ Những giống cho năng suất và phẩm chất tốt ở ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China, Bedana [58, Tr.559-560]
ở Austraylia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển từ Cairrus, Atherton Tablelands Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbour với các giống chính là Fay Zee Siu, Tai So, Bengal,… (G.W Vallanace, 1986) [63, Tr.5-9], S.K Mitra [65, Tr.6] ở bảng 2.1 là các giống vải chính được trồng ở một số nước trên thế giới
Bảng 2.1 Giống vải chính của một số nước trên thế giới
1 ấn Độ Shahi, Rose Seented, Calcuttia, Bedana, Longia, China
6 Thái Lan Taiso, Waichee, Baidum, Chacapat, Kom
7 Trung Quốc Fay Zee Siu, Bahlwp, No mai chee, Souey Tung, Taiso Nguồn: Menzel (1995, 2002)
2.1.3.2 ở Việt Nam
ở Việt Nam sự phân chia các giống còn mang tính chất tương đối, xét theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sớm, chính vụ, chín muộn
- Nhóm vải chua (hay còn gọi là tu hú): cây cao lớn (khoảng 20 m) lá
to, phiến lá mỏng Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đều phủ một
Trang 17lớp lông đen Quả thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Khi chín vỏ quả mầu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất chua, tỷ lệ cùi chiếm 60 - 65% trọng lượng quả ở nước ta hiện còn ở các tỉnh trung du và miền núi nhu Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang,…
- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường cao 5 - 10 m, dạng trứng, lá thường to, cây sinh trưởng khoẻ, chùm hoa không có lông đen, nhưng hoa mọc thưa hơn vải chua quả chín muộn hơn nhóm vải chua nhưng sớm hơn nhóm vải thiều Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34 g [46], [2]
- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm xôi cao từ 10 - 15m, lá nhỏ, phiến lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi ra hoa chùm hoa không phủ lớp lông đen mà có màu trắng vàng, chín chính vụ (tháng 6) Trọng lượng trung bình của quả 18 - 25 g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên [46], [2] 2.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và ở trong nước 2.1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng 251.000 tấn [47, Tr.9] Năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1.95 triệu tấn Trong đó các nước Đông Nam á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng 1,75 triệu tấn [53], (chiếm 78% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới) Trung Quốc được coi là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu
về diện tích và sản lượng Năm 2001, diện tích trồng vải ở Trung Quốc là 584.000 ha và sản lượng là 958.700 tấn [61]
Sau Trung Quốc thì ấn Độ là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích và sản lượng vải Theo Ghosh (2000) [60, Tr.5-6], đến năm 2000, diện tích là 56.200 ha và sản lượng đạt 428.900 tấn các vùng trồng vải chủ yếu của ấn Độ là West Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn), Bihar (310.000 tấn) Uttar Pradesh (14.000 tấn)
Trang 18Châu Phi có một số nước trồng vải theo hướng sản xuất hàng hóa là Nam Phi, Madagatca, Moritiuyt, Renyniong trong đó Madagatca có sản lượng lớn nhất khoảng 35.000 tấn [48, Tr.11-12] Theo số liệu của Tổ chức Lương thực thế giới- FAO (2002) [63] [65] và báo cáo của X Huang, L Zeng H.B Huang [79] R J Knigh (2000) [62]
Diện tích và sản lượng của một số nước trên thế giới được thể hiện trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng vải của một số nước trên thế giới
là các giống vải tốt đều tập trung ở nơi đây Thị trường tiêu thụ vải lớn trên thế giới phải kể đến đó là Hồng Kông, Singapore, hai thị trường này nhập vải chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan
2.1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trong nước
ở Việt Nam cây vải được trồng cách đây khoảng 2000 năm Vùng phân
bố tự nhiên của cây vải ở Việt Nam từ 18 - 190 vĩ Bắc trở ra Vải được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, qua nhiều năm đ2 hình thành các vùng trồng vải
có diện tích tương đối lớn Năm 2000, diện tích vải của Việt Nam đạt trên 20.000 ha, trong đó có 13.5000 ha đang cho thu hoạch với năng suất 2 tấn/ha Sản lượng khoảng 25.000 - 27.000 tấn quả tươi [4]
Trang 19Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến năm 2004 diện tích trồng vải của cả nước đạt 102.300 ha, sản lượng 305.000 tấn (chiếm 13.69% diện tích và 16.62% sản lượng các loại quả trong cả nước) Giống trồng phổ biến
là giống vải thiều Thanh Hà (chiếm 95% diện tích) [18] Tập trung nhiều ở các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Tây,… Diện tích và sản lượng vải ở một số tỉnh nước ta được thể hiện trong bảng 1.2
Bảng 2.3 Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam
TT Địa phương
Tổng diện tích
Diện tích cho sản phẩm
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
Trang 20Khoảng 70% sản lượng vải của nước ta hiện nay được tiêu thụ ngay trong thị trường nội địa Phần còn lại được xuất khẩu chủ yếu là sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, ngoài ra một lượng vải nhỏ còn xuất khẩu sang một số nước trong khu vực và thị trường Châu Âu Đại đa số vải được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, một số ít được sấy khô hay đóng hộp, chế biến nước giải khát [63]
2.2 CáC NGHIÊN CứU Về YÊU CầU SINH THáI CủA CÂY VảI
Sự ra hoa đậu quả của vải được quyết định bởi đặc tính của giống, song chúng cũng chịu sự chi phối nhiều của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ,
ẩm độ, ánh sáng, đất đai
2.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 260C [2, Tr.58-60] thì có phản ứng tốt Giống chín sớm là ở 40C, giống chín muộn là ở 00C thì ngừng sinh trưởng dinh dưỡng Khi nhiệt độ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, nhiệt độ từ 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 210C cây sinh trưởng tốt, ở nhiệt độ 23 - 260C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất
Vì thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, do vậy nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hóa cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thủy của lá, thiên hướng về sinh thực
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải ở Trung Quốc qua phân tích liên tục từ 1978 - 1985 về quan hệ giữa nhiệt độ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đ2 phát hiện giữa chúng
có mối tương quan nghịch R= - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao [30,Tr.93 - 96]
Trang 21Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ và cành lá vải Khi nhiệt độ đất từ 10 - 200C, rễ hoạt động mạnh, từ 23 - 260C, rễ hoạt động thích hợp nhất Cành lá vải họat động mạnh từ 24 - 320C Nhiệt độ quá cáo hoặc quá thấp đều không có lợi cho mầm cành [48]
2.2.2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 -1700
mm, lượng mưa thích hợp nhất là 1.500 mm mỗi năm Độ ẩm không khí là 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Cây vải yêu cầu lượng mưa khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng, trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt Vải kém chịu úng hơn các cây ăn quả khác như nh2n, xoài… nhưng có khă năng chịu hạn tốt hơn Tháng 11-12 cây vải cần
75-có thời tiết khô và rét để phân hóa mầm hoa [13]
Theo tác giả Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần [29], nhân tố mưa ảnh hưởng đến hoa vải chủ yếu trong giai đoạn phân hóa trục chùm hoa, thời kỳ phân hóa hoa, đủ nước thì tổng số hoa/chùm và số hoa đực/chùm giảm nhưng
số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa cái tăng Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫn
đến mất mùa
Theo Trần Thế Tục cây vải yêu cầu nước qua các thời kỳ như sau: Thời kỳ phân hoa mầm hoa: yêu cầu đất khô, không có mưa để ức chế sinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng sinh thực
Thời kỳ ra hoa: đất đủ ẩm, gặp hạn thời gian ra hoa chậm, nếu gặp hạn thì phải tưới
Thời kỳ tăng trưởng quả: cung cấp đủ nước, nếu gặp hạn phải tưới 2.2.3 Yêu cầu về ánh sáng
Cây vải là cây ưa sáng, cần có ánh sáng quanh năm Tổng số giờ chiếu sáng thích hợp cho vải cả năm là 1800 - 2100 giờ Theo Trần Thế Tục(1997),
Trang 22cây vải phải được trồng ở nơi có ánh sáng trực xạ ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa của cây, xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa làm tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất của quả Không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày sẽ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, ra hoa, đậu quả của cây [49]
Người Trung Quốc nói “Đương nhật Lệ chi, bối nhật long nh2” tức là nh2n quay lưng lại với mặt trời (ở chỗ râm mát một chút), còn vải thì phải ở chỗ
đối diện với mặt trời (ở nơi có ánh sáng toàn phần) Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ hình thành phân hóa mầm hoa, hoa nở và quả phát triển [42]
2.2.4 Yêu cầu về đất đai
Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, cây vải có thể trồng trên nhiều loại đất, kể cả đất chua, độ phì nhiêu kén vải vẫn sinh trưởng và phát triển tốt vì vải có thể cộng sinh với một loại vi khuẩn rễ (Mycorthize) sống ở đất chua gọi là “khuẩn căn” có thể phấn giải dinh dưỡng khoáng trong đất để rễ hút nuôi cây [34]
Đánh giá về mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với các loại đất
được thể hiện ở bảng 1.4
Bảng 2.4 Mức độ thích nghi của vải thiều đối với đất đai
Mức độ thích nghiChỉ tiêu
Rất thích hợp
Thích hợp ít thích
hợp
Không thích hợp N
Trang 23Ghi chú: N1: Rất thích hợp; N2: Thích hợp; N3: ít thích hợp; P: Đất phù sa; Pa: Đất đỏ vàng trên đá mac ma axít; Fs: Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và biến chất; Fp: Đất nâu vàng trên phù sa cổ; Fq: Đất vàng trên đá cát; Fk: Đất nâu
đỏ trên mac ma bazơ và trung tính; Fv: Đất nâu đỏ trên đá vôi
Theo Trần Thế Tục và Vũ Thiện Chính (1997) [49,Tr.9-12] Cây vải có tính thích nghi cao với điều kiện đất đai có thể trồng vải trên nhiều loại đất
Đất b2i ven sông là loại đất phù sa tính có lý hóa thích hợp với vải, độ ẩm tốt, nên ở đây cây vải sinh trưởng phát triển tốt, sản lượng cao, chất lượng tốt Độ
pH thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải là 5,5 - 6,5
2.2.5 Gió
Gió có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí, nâng cao hiệu suất quang hợp, giảm bớt sâu bệnh Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp, gió có tác dụng hỗ trợ cho truyền phấn thụ tinh, mùa hoa kị gió tây bắc và gió nam qua đêm, gió tây
sẽ làm cho đầu nhị khô ảnh hưởng đến thụ phấn, gió nam qua đêm oi nóng, ẩm
ướt dễ làm cho hoa héo dẫn đến rụng hoa
2.3 NHữNG NGHIÊN CứU Về CáC BIệN PHáP Kỹ THUậT NÂNG CAO NĂNG SUấT Và CHấT LƯợNG CÂY VảI
2.3.1 Những nghiên cứu về các chất điều hòa sinh trưởng trên cây vải
Các chất điều hoà sinh trưởng là những chất có thể điều khiển quá trình sinh trưởng của cây như: kích thích, ức chế qua trình ra lá, ra hoa, đậu quả, ra rễ Để nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất người ta có thể phun trực tiếp lên từng
bộ phận của cây trồng các chất riêng biệt ở nồng độ và thời gian khác nhau 2.3.1.1 Các chất kích thích sinh trưởng
Các chất sinh trưởng bao gồm các nhóm chất Auxin, Gibberellin và Xytokinin được sản sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi non, quả non… Chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây ở nồng độ thấp và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan sinh dưỡng [13]
Trang 24Auxin tổng hợp đ2 được sử dụng để điều khiển sinh trưởng và ra hoa vải
ở Florida và Hawai (Mỹ) vào những năm 1950 - 1960 [63] Khan và cộng sự (1976) đ2 dùng GA3 100 ppm NAA 20ppm, 2,4,5 TP 10 ppm phun lên giống vải Rose Scente vào giai đoạn quả bằng hạt đậu làm giảm rụng quả [57, Tr.186] Trên giống Early, GA3 50 ppm có tác động giữ quả tốt và GA3 100 ppm làm tăng kích thước của quả [68, Tr.186-187]
Để làm giảm kích thước hạt hay sản xuất quả không hạt, Kadman và Gzit (1970) sử dụng 2, 4, 5 - Trichlorophenoxy propionic acid (2,4,5 - TP) đ2 ngăn ngừa rụng quả ở mức độ cao Ngoài ra nó còn làm cho hơn 75% quả vải
có hạt nhỏ Tuy nhiên, khi hoa nở, xử lý 2, 4, 5- TP lần thứ nhất sau đó phun phối hợp 2, 4, 5 - TP và GA3 thì 50 - 100% quả lớn hơn khi chỉ xử lý 1 lần trước đó, và 90-100% quả không có hạt [68, Tr.187]
Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004) [34, Tr.1711-1713] trong việc nghiên cứu làm tăng tỷ lệ đậu quả và rải vụ thu hoạch đ2 phun 4 lần GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với nồng độ 15, 30, 75 ppm hoặc 20, 40, 100 ppm (vào các thời điểm hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) đ2 làm tỷ lệ đậu quả tăng từ 2,78% lên 4,92 - 5,05% quả to hơn m2 đẹp hơn, tỷ lệ nứt vỏ giảm tỷ lệ phần ăn được tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85% năng suất tăng từ 51% - 59%
Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [25] về việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản quả tươi bước đầu cho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng có tên là Kiviva làm tăng tỷ lệ đậu quả (tăng 10% so với đối chứng) Thấy rụng quả (nếu phun 2 lần lúc hoa nở rộ và sau đó 10 ngày) Làm tăng kích thước quả vải và cải thiện tình trạng vỏ quả (Phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày) Làm chậm chín 10 ngày
so với đối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả đạt tối đa và đang bước vào giai đoạn chín)
Trang 25Theo Đỗ Phương Chi (2005) [9] khi xử lý GA3 khi xử lý GA3 4 lần trong quá trình phát triển của quả cho két quả tốt nhất Tỷ lệ đậu quả tăng 20,28%, khối lượng trung bình quả tăng 12,18%, tỷ lệ ăn được tăng 19,19% và năng suất tăng 21,76% so với đối chứng
2.3.1.2 Những nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng
Sự sinh trưởng phát triển của cây được bảo đảm bởi hai tác nhân có tác dụng sinh lý đối lập nhau: tác nhân kích thích và tác nhân ức chế Sự cân bằng giữa các chất kích thích sinh trưởng và các chất ưc chế sinh trưởng có một ý nghĩa rất quyết định trong việc điều hòa sinh trưởng gồm axít abxixic (ABA), Ethylen, các phenol…
Phun Ethrel cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Nồng độ Ethrel thích hợp là 1000 ppm Phun kết hợp Ethrel với GA3 và Oxyclorua đồng ở diện rộng tăng năng suất 12% Phun chất điều hòa sinh trưởng đơn lẻ hay phối hợp đều làm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả dẫn đến nâng cao năng suất cây vải [13]
Trong các chất ức chế sinh trưởng, Ethrel có tác dụng diệt lộc đông, khống chế việc ra lộc đông của cây vải, kìm k2m sinh trưởng, xúc tiến phân hóa mầm hoa giúp cây vải ra hoa đậu quả tốt hơn Theo Phạm Mình Cương, 2005 [15] Phun Ethrel ngoài tác dụng ức chế sinh trưởng, kích thích phân hóa mầm hoa vải
nó còn làm tăng tỷ lệ hoa cái chống nứt quả làm cho quả chín sớm [28, Tr.73]
ở Trung Quốc một trong các biện pháp để khắc phục những nhân tố hạn chế trong việc sản xuất là sử dụng Ethrel, Paclobutrazol và B9 để ức chế sinh trưởng và thúc đẩy phân hóa mầm hoa (Zhuiyuab Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong Cai và YunLi) (2000) [71] Theo Nivimala Ramburn khi phun Paclobutazol 5000 ppm+ Ethrel 1000 ppm có thể làm tăng khả năng ra hoa của giống Taiso trồng ở Mauritius [69]
Trang 26Năm 1984 Khâu Tự Đức (Trung Quốc) dùng Malein hydrazit (MH) 1000-1500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày đ2 làm cho quả vải Hoài Chi bé lại hiệu quả đạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả [30, Tr.91]
Điều này giống như kết luận của Đào Quang Nghị (2005) [29] Xử lý Malein hydrazit bằng cách phun lên tán cây ở thời điểm sau khi tắt hoa 10 ngày có xu hướng làm giảm khối lượng quả, nhưng khối lượng hạt nhỏ đi nhiều và tỷ lệ ăn
được cũng tăng lên so với đối chứng
Các chất điều hòa sinh trưởng hiện nay có rất nhiều loại cùng một tác dụng kích thích hoặc ức chế nhưng đối với từng loại cây trồng, từng giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau không phải lúc nào cũng cho tác dụng như nhau [29] Ta có thể sử dụng đơn lẻ hay phối hợp để kích thích hay ức chế quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho con người
2.3.1.3 Những nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây vải
Những nghiên cứu về sinh lý và dinh dưỡng của cây vải cho đến nay có thể nói là còn ít, nhiều vấn đề chưa được làm rõ ví dụ muốn có 100 kg quả thì cần bón bao nhiêu đạm, lân, kali,… tỷ lệ ra sao, bón vào thời kỳ nào,… chưa
có công trình khoa học nào công bố đầy đủ Chỉ thông qua việc phân tích thành phần dinh dưỡng trong quả trong lá rồi từ đó suy luận ra Qua phân tích quả và lá cho thấy cây vải cần nhiều K, sau đó đến đạm và lân ở lá cây cần nhiều N sau đó đến Mg và K Tỷ lệ N: P2O5: K2O: CaO: MgO ở trong lá là 7,8: 1: 4,6: 2,3: 2,5 còn ở trong quả là 1,6; 1,9: 5,3: 1,3: 1 nhìn chung cây vải cần nhiều N và K [47]
Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao năng suất, phẩm chất quả Bón dủ đạm cành quả phát triển nhiều, là cơ sở để đạt năng suất cao Nhưng nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cành lá phát triển quả
Trang 27mạnh, ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa, gây nên rụng hoa, rụng quả, sản lượng thấp và phẩm chất kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm Nếu thiếu đạm các đợt lộc phát sinh không đúng lúc mọc yếu, lá cành bé, có màu vàng, rụng hoa và rụng quả nhiều
Lân thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thành thục của hạt, thúc đẩy ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút tăng cường khả năng chống hạn, chống rét cho cây, nâng cao phẩm chất quả, hạn chế tác hại của bón thừa đạm
Kali trong các mô thực vật tồn tại dưới dạng ion ngậm nước giúp cho cấu tạo các mô thêm cứng cáp Việc vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các tổ chức của cây được thuận lợi Kali làm tăng tính đề kháng của cây như chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp quả lớn nhanh và thành thục, tăng phẩm chất, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả
Theo nguyễn Văn Dũng, phun B 0,1% + urê (46%)0,50% tăng cường được khả năng giữ quả, tăng hàm lượng đường tổng số, giảm tỷ lệ axít do đó nâng cao phẩm chất quả vải Để tránh hiện tượng quả vải ra cách năm thì cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây qua 2 con đường (qua đất và qua lá) là hết sức quan trọng
2.3.2 Những nghiên cứu về tạo hình cắt tỉa và tác động cơ giới
Cắt tỉa cành ngoài việc tạo cho tán cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại, thuận lợi chăm sóc còn nhằm mục đích điều hoà sự sinh trưởng ra hoa và kết quả của cây Theo Phạm Văn Côn (2005) [47] ở cây vải thì có 3 lần cắt tỉa tạo cành đó là tạo cành cấp 1, tạo cành cấp 2 và tạo cành cấp 3, cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau, các cành này không
được giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau để cây quang hợp được tốt Ngoài cắt tỉa cành cắt tỉa hoa có ý nghĩa rất lớn đối với năng suất chất lượng quả Theo Phùng Quốc Hưng (2006) [24] cắt tỉa để lại 15 nhánh hoa/chùm đ2 làm tăng năng suất của giống vải thiều 4,83%
Trang 28Theo Phạm Minh Cương và cộng sự [15, Tr.73-76] thì tỷ lệ ra hoa cao ở phương pháp khoanh xoắn ốc với tỷ lệ 92%, đồng thời với số quả đậu cao nhất
đạt tỷ lệ 86% trong khi đó khoanh vòng tròn chỉ đạt 42% và so với đối chứng
là 26% Do vậy khoanh vỏ có tác dụng làm tăng số cây ra hoa đồng thời tăng
số cây có quả đậu
Theo Đỗ Xuân Bình (2003) [7] khoanh thân kết hợp với phun Ronstar
va Ethrel có hiệu quả cao trong việc xử lý những cây vải không ra hoa vào vụ xuân, làm cho 100% số cây ra lộc đông đều ra hoa và đậu quả, có số quả đậu tăng 2,6quả/chùm và năng suất tăngtừ 15,8 - 20,5kg/cây
Theo kết quả nghiên cứu của C.M.Menzel (1998) [64] ở Austraylia cho biết cắt khoanh vỏ một đường rộng 0,3 cm trên cây vải 3 - 10 tuổi làm tăng năng suất 15 - 40kg/cây ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) năm 1994 người
ta tiến hành cắt khoanh vỏ theo hình xoắn ốc trên gốc cây của 2 giống vải có tính ra hoa rất chậm (cây dưới 10 năm chưa bói quả) đ2 làm cho chúng ra hoa sớm
2.3.3 Những nghiên cứu về phân bón
2.3.3.1 Những nghiên cứu về phân bón qua đất
Cây vải cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng để tạo nên sản phẩm qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm sút năng suất và phẩm chất sản phẩm Nhưng nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm và đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí [13, Tr.107]
Theo Trần Thế Tục (2004) [47] bón phân cho vải những năm trước lúc
ra hoa rất quan trọng và sau khi trồng 1 tháng lúc cây đ2 bén rễ hồi xanh là đ2
có thể bón cho cây Lúc này cây còn nhỏ, nên bộ rễ chưa phát triển khả năng hấp thụ của cây còn yếu có nhiều đợt lộc trong năm nên cần bón ít, nồng độ lo2ng và cần chia làm nhiều lần
Trang 29ở thời kỳ cây cho quả lượng phân bón và thời kỳ bón cho vải là hết sức quan trọng vì đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để nâng cao năng suất của vải
Bảng 2.5 Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ mang quả tính theo tuổi cây
Lượng phân bón (kg cây/năm) Tuổi cây
phát triển chè và cây ăn quả
Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần chính trong năm
Lần 1: Bón thúc hoa và nuôi lộc xuân (6/1-20/1) bón 25% đạm urê, 25% kaliclorua và 30% lân supe
Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả khi quả
có đường kính bằng viên bi (đường kính khoảng 0,4 cm) bón 25% đạm urê, 50% kaliclorua và 30% lân supe
Lần 3: Bón sau thu hoạch 15 ngày nhằm thúc cành thu lúc này kết hợp với tỉa cành giúp cây phục hồi sinh trưởng bón 50% đạm urê, 25% kaliclorua 40% lân Supe và toàn bộ phân chuồng
Trang 302.3.3.2 Những nghiên cứu về phân bón qua lá
Ngoài khả năng hút dinh dưỡng từ đất qua rễ cây trồng còn có khả năng hút dinh dưỡng qua lá Cây tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15- 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ Chất dinh dưỡng được bón qua lá chỉ có thể vào mô lá qua các lỗ khí khổng Như vậy bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng mở rộng hoàn toàn thì hiệu quả đạt cao nhất [11]
Ngoài ra, phân bón lá dưới hình thức hỗn hợp chất lân còn giúp cho cây chịu đựng được một số vấn đề như hạn hán, bệnh tật và mật độ cây cao Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như đạm, lân, và các chất vi lượng như Fe, Zn, Cu, Bo, Mn, Mg và cả các chất kích thích tố Sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi nhuận kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80% so với 20 -50% phân bón
được hấp thụ ở rễ
Mặt khác, bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt là con
đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng hồi phục Phun phân bón lá không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà nó còn có tác dụng làm tăng phẩm chất nông sản
đối với cây vải khi hoa tàn là lúc cây huy động rất nhiều chất dinh dưỡng, sau khi hoa tàn lúc này cây đang khủng hoảng về dinh dưỡng vì vậy việc bổ sung kịp thời dinh dưỡng là việc làm cần thiết Vào thời điểm này bộ
rễ hoạt động kém vì bị ức chế do hoa nở rộ đất thiếu nước vì thế khi bón phân
rễ chưa có điều kiện hấp thu ngay được việc phun dinh dưỡng lên lá lúc này là nhằm bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây để giảm bớt rụng quả sinh lý
Theo Phạm Văn Côn (2005) [13] đ2 tiến hành trên vải Phú Hộ thì phun
Bo và phun phối hợp Bo + Zn đều làm tăng số quả cao nhất so với đối chứng (tăng 50,4-92,8%) ở giống Phú Hộ phân vi lượng làm tăng hàm lượng đường (2,0-17,0% so với đối chứng), tăng hàm lượng vitamin (từ 17,0-22,7% so với
Trang 31đối chứng), giảm lượng axít (25% so với đối chứng), còn đối với vải Thanh Hà các chỉ tiêu thay đổi rất ít Cũng với giống vải thiều Thanh Hà ở Lục Ngạn (Bắc Giang) Bo+Cu và Bo + Zn làm tăng số quả thu hoạch tới 90,3 - 109,5% Khối lượng quả tăng 5,9 - 8,5% tăng năng suất 101,3-127,3% Chất lượng quả cũng tăng: độ Brix tăng 4,5-7,3% đường tổng số tăng 4,5-12,1% axít giảm 33,4% vitamin C giảm 3,7-3,1%
Theo kết luận của Đỗ Văn ái (2004) [1] khi sử dụng chế phẩm phân bón lá VACVINA-KB1 cho cây vải đ2 làm tăng khả năng tích lũy các nguyên
tố dinh dưỡng giúp cây phát triển nhanh, nhưng không gây độc hai cho cây hệ
số hấp phụ sinh học cao hơn và làm tăng năng suất tới 13% Quả tròn, màu đỏ,
vị thơm ngon và đặc biệt là cùi vải dày hơn, trong hơn
Đỗ Phương Chi (2005) [9] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm
đậu quả và chế phẩm KIVIVA trên vải có kết luận:
Đối với chế phẩm đậu quả có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng khối lượng trung bình quả, bệnh nớt vỏ quả và sâu đục quả không xuất hiện, tăng tỷ
lệ phần ăn được và tăng năng suất 26,42%
Đối với chế phẩm KIVIVA phun cả 4 giai đoạn phát triển của quả tăng tỷ
lệ đậu quả, tăng tỷ lệ phần ăn được và năng suất tăng 28,5% Ngoài ra làm cho thời gian chín của quả chậm hơn 7 ngày, mẫu m2 quả đẹp, quả không bị nứt
Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2005) [35] Khi phun vân đài tố cho vải làm tăng tỷ lệ đậu quả và khối lượng quả dẫn đến năng suất vải tăng từ 19 - 34% Phun hai lần Vân đài tố 0,01% vào lúc tàn hoa và trước lúc thu hoạch 1 tháng cho hiệu quả cao nhất, và phun Vân đài tố đại trà 2 lần cho vải ở nồng
độ 0,03% cho vải đ2 làm tăng năng suất lên 28%
Như vậy khi sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá ngoài tác dụng làn tăng khả năng đậu quả tăng khối lượng và năng suất quả, còn có tác dụng làm tăng đường tổng số, vitamin C, chất khô, bộ Brix, giảm tỷ
lệ axít do đó nâng cao được phẩm chất của quả vải
Trang 322.4 Những nghiên cứu về phân bón Kỳ nhân tố
2.4.1 Nguồn gốc ra đời của phân bón Kỳ nhân tố
Năm 1978, các nhà khoa học Mỹ đ2 có một phát hiện kinh ngạc về một loại kích thích tố được chiết suất từ hoa cây cải dầu có tên tiếng Anh là Brassinolide Chất Brassinolide này có khả năng làm tăng năng suất của cây
đậu lên gấp 10 lần Phát hiện này đ2 khiến cho giới khoa học chú ý và đ2 nỗ lực tập chung vào nghiên cứu sản xuất chất kích thích tố trên Song vì khối lượng chiết suất được trong tự nhiên quá ít, trong khi vốn đầu tư về người và của lại quá lớn nên chất này không đưa vào sản xuất đại trà được do đó hầu như chất kích thích tố này không được ứng dụng trong thực tế (trích theo Đàm Phú Xuân) [55].
Năm 1989, trên cơ sở phát triển đề tài của các nhà khoa học Mỹ, hai nhà khoa học Trung Quốc là Hoàng Chí Quế và Triệu Minh Tiệp đ2 thành công trong việc ứng dụng “phương pháp chiết suất hiệu quả cao” để chiết xuất chất Brassinolide từ nguyên liệu là b2 của các cây đ2 được ép lấy dầu như cây cải dầu, đậu tương, lạc, cây tía tô, cây nguyệt kiện bằng công nghệ tập hợp
CO2 thể lỏng siêu giới hạn đ2 tạo ra chế phẩm có tác dụng tương tự như Brassinolide và được ứng dụng rộng r2i trong sản xuất nông nghiệp
Năm 1995 phân bón Kỳ nhân tố một loại phân bón chứa chất điều tiết sinh trưởng trên đ2 được đưa vào sản xuất với quy mô lớn, cho đến năm 1999 Trung Quốc đ2 tiến hành thử nghiệm chất này tại hơn 1000 huyện nông nghiệp với trên
100 đối tượng cây trồng khác nhau, mức tăng sản lượng đều đạt từ 10 - 150% tuỳ thuộc vào từng loại cây trồng khác nhau(trích theo Đàm Phú Xuân) [55].
Năm 2000, Công ty TNHH phát triển khoa học kỹ thuật Ưu Thắng- Trùng Khánh (do Hoàng Chí Quế và Triệu Minh Tiệp lập ra) đ2 sản xuất phân bón Kỳ nhân tố với các thành phần cơ bản sau:
Axit salixilic (HOC6H4CO2H)
Trang 33- Tính hiệu quả: tại Trung Quốc, phân bón Kỳ nhân tố đ2 được ứng dụng tại hơn 30 tỉnh thành đối với hơn 100 đối tượng cây trồng khác nhau, tuỳ thuộc vào từng loại cây trồng mức tăng sản lượng đạt từ 10 - 150%
- Tính phổ biến:
Phân bón Kỳ nhân tố thích ứng và có hiệu quả đối với hầu hết các loại cây trồng, đây là điểm khác biệt giữa phân bón Kỳ nhân tố với tất cả các loại phân bón lá đang lưu hành trên thị trường Việt Nam Các loại phân bón lá khác được sản xuất riêng cho từng loại cây trồng, thường được chia theo các nhóm: cây hoa, cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp Mỗi một nhóm cây, phân bón lá lại được sản xuất riêng cho từng loại cây trồng
- Tính không độc hại:
Phân bón Kỳ nhân tố được tổng hợp từ các chất được chiết xuất từ tự nhiên nên không độc hại đối với cây trồng, nông sản, môi trường và con người [39]
Trang 34Đặc điểm này đ2 được Trung tâm dự phòng khống chế bệnh Trùng Khánh (Trung Quốc), Viện kiểm nghiệm Quốc gia và Viện Bảo vệ Thực vật, Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng 1 (Việt Nam) xác nhận
2.4.3 Công dụng chính của Phân bón Kỳ nhân tố
- Phân bón Kỳ nhân tố là loại phân bón thế hệ mới, công nghệ cao được chiết xuất từ thực vật, không độc hại đối với người và động vật, không ô nhiễm môi trường
- Nâng cao sản lượng và chất lượng: có tác dụng kích hoạt nhiều loại enzym trong thực vật và hạt giống, tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng nước của bộ rễ và hiệu suất quang hợp của bộ phận cây trên mặt đất, cân bằng
điều tiết sự sinh trưởng phát triển, giúp cây trồng tăng trưởng mạnh, nâng cao chất lượng cảm quan, màu sắc sáng đẹp, hạt mẩy thành phần dinh dưỡng tăng
Thực vật từ khi bén rễ nảy mầm, sinh trưởng thân lá, khi nở hoa kết trái cho đến khi ngủ nghỉ, toàn bộ quá trình cần các loại gen như gen hoạt động tổng hợp albumin, gen dự trữ albumin, gen chuyển hoá tinh bột thành đường
đậm, ăn ngon [45]
Theo kết quả phân tích của Trung tâm đo kiểm chất lượng gạo, Sở nghiên cứu lúa nước Trung Quốc, tỷ lệ gạo lựt, gạo trắng nguyên hạt, độ trong, trị số kiềm, hàm lượng dextrin (amidon) mạch thẳng, hàm lượng anbumin của lúa có dùng phân bón Kỳ nhân tố đều đạt tiêu chuẩn cấp I, đặc biệt hàm lượng anbumin tăng 3,42%
Trang 35- Giảm sự rụng của nụ, hoa và quả non, giúp cho quả khỏe mạnh và
đẹp, điều khiển khống chế cành đua
- Đề kháng bệnh: nâng cao khả năng kháng bệnh của thực vật, nâng cao năng lực miễn dịch của cây trồng, có tác dụng phòng ngừa nhiều bệnh hại, khi bệnh hại nghiêm trọng có thể sử dụng phân bón Kỳ nhân tố phối hợp với các thuốc nông dược một cách phù hợp sẽ đem lại hiệu quả cao
Kết quả thử nghiệm của Dương Gia Thư, Học viện bảo vệ thực vật trường Đại học nông nghiệp Thẩm Dương cho thấy khi dùng phân bón Kỳ nhân tố với tỷ lệ1/1000 phun cho con giống và cây cà chua, sau 2- 4 giờ kiểm tra thấy phân bón Kỳ nhân có thể dắt dẫn hệ thống tín hiệu của cây, kích hoạt gen chống bệnh của cây, khởi động hệ thống enzym miễn dịch của cây, khiến hoạt tính của men PAL, PPO, PO, SOD nâng cao, do đó nâng cao tính kháng bệnh của cây một cách rõ rệt
Dùng phân bón Kỳ nhân tố cây trồng tăng cường khả năng chịu được nhiệt độ cao (nhiệt hại, gió nóng khô) Phân bón Kỳ nhân tó có thể tham dự vào việc truyền tín hiệu khô hạn trong nội thân thực vật, nâng cao tính thẩm thấu của hệ rễ, tăng cường tính nhạy cảm của hệ rễ đối với sự thay đổi hàm lượng nước trong môi trường xung quanh hệ rễ, làm tế bào dự trữ trong lá của cây lạc to ra, giảm thoát hơi nước, hàm lượng axit amin tăng, do đó nâng cao
được tính chống hạn
Báo cáo của Thiểm Tây, Sơn Đông, Hà Bắc [6], cho biết phân bón Kỳ nhân tố giúp lạc sinh trưởng mạnh thân lá trong điều kiện nắng nóng gắt, quá trình nở hoa vẫn bình thường và cho năng suất đảm bảo
Dùng phân bón Kỳ nhân tố nâng cao tính năng chống rét, chống mặn của thực vật Sau khi cây trồng hấp thụ phân bón Kỳ nhân tố ở nhiệt độ thấp (1- 50 C), tác dụng thẩm thấu của nó giảm đi, hoạt tính của enzim SOD giảm, hàm lượng ATP và axitamin tăng, tính năng chống rét tăng rõ rệt Cây nho và cây hồng có phun phân bón Kỳ nhân tố khi ra hoa gặp tuyết rơi, nhiệt độ xuống 00C vẫn sai
Trang 36quả, còn hồng không phun phân bón Kỳ nhân tố hầu như không cho năng suất Cây nh2n và cây cam quýt ở Phúc kiến, các cành non gặp rét phần lớn
bị cóng chết, còn các cây phun phân bón Kỳ nhân tố vẫn sinh trưởng phát triển bình thường [45]
Thực vật sau khi hấp thụ phân bón Kỳ nhân tố, hàm lượng đường hoà tan nằm trong tế bào tăng, có lợi cho việc bảo vệ nguyên sinh chất trong tế bào không bị nhiệt độ thấp xâm hại, giảm tính thấm của màng tế bào, ion thấm ra ngoài giảm, do đó giảm tác hại của lạnh trên cây [40]
Dùng phân bón Kỳ nhân tố làm giảm quả tách nứt, phục hồi tổn thương mầm giống, trong trường hợp giống bị phủ màng đất và cháy giống do thời tiết lạnh gây ra, giúp cho cây giống khôi phục sinh trưởng đều, có hiệu quả tốt
- Giải trừ tác hại của thuốc bảo vệ thực vật: giải trừ dược hại do thuốc bảo vệ thực vật, nhất là thuốc trừ cỏ gây ra, giảm trừ tác hại do dùng phân bón hoá học quá nhiều, giúp cây trồng khôi phục sinh trưởng
Qua thí nghiệm của chuyên gia trừ cỏ, ông Đỗ Hạc Linh, Giám đốc Sở bảo vệ thực vật Viện khoa học nông lâm tỉnh Thanh Hải -Trung Quốc cho thấy, mỗi mẫu lúa mì dùng 100g và 150g chất 2,4D đều bị hại ở các mức độ khác nhau, sau khi phun phân bón Kỳ nhân tố, giải độc dược hại, sinh trưởng bình thường [40]
Mười hai hộ nông dân trồng thuốc lá ở làng Lục Đường, huyện Thạch Trụ- Trùng Khánh dùng nhầm thuốc Triazophod làm cho 63,8 mẫu thuốc lá bị tác hại, sau khi phun phân bón Kỳ nhân tố giải được tác hại, sinh trưởng bình thường, lá thuốc lại mọc vừa to vừa dày, sắc lá vàng, hương thơm đậm, lá thuốc loại I tăng lên nhiều [40]
Khi so sánh hiệu quả tăng sản lượng của phân bón kỳ nhân với 4 loại chất điều tiết sinh trưởng trên cây dưa chuột kết quả cho thấy:dưa chuột có phun phân bón Kỳ nhân tố quả có kích thước đều nhau, màu sắc đẹp, ít hạt, vị ngọt, phẩm chất tốt, hiệu quả kinh tế cao [27]
Trang 372.4.4 Tình hình sử dụng phân bón Kỳ nhân tố
Sau khi được Nhà nước Trung Quốc công nhận, đến cuối tháng 5 năm
1995 phân bón Kỳ nhân tố đ2 được đưa ra bán tại thị trường Trung Quốc, các
địa phương đầu tiên sử dụng chất này gồm: Tân Cương, Hà Bắc, Quảng Đông, Hải Nam và Nam Ninh
Qua ứng dụng gần 3 năm trên 10 triệu mẫu lương thực cây có dầu, rau, quả, thuốc lá, chè, hoa tại trên 20 tỉnh trong cả nước cho thấy, phân bón Kỳ nhân tố không những tăng sức miễn dịch, nâng cao năng lực chống hạn, nhiệt
độ cao, thấp, úng của thực vật và năng lực giảm dược hại do nông dược, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật mà còn nâng cao sản lượng cây trồng, bình quân tăng 20% trở lên, cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao tính thương mại của sản phẩm Trong gần 3 năm sử dụng từ (2000 - 2003) đ2 đem lại hiệu quả kinh tế 4,3 tỷ NDT cho nông dân [8]
Ngoài ra, hiện có một số nước trên Thế giới đ2 và đang sử dụng Phân bón Kỳ nhân tố gồm: Australia, ấn Độ, Băngladet và Nam Phi
2.4.5 Khả năng sử dụng phân bón Kỳ nhân tố ở Việt Nam
Việt Nam về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp, một số mặt hàng nông nghiệp Việt Nam là các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu trên thị trường quốc tế Trong quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật là điều quan trọng và hết sức cần thiết Vấn đề tăng năng suất cây trồng đang là vấn đề được quan tâm không chỉ của Nhà nước
mà cả của người dân làm nông nghiệp Với thực trạng của ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay, rõ ràng nhu cầu về các sản phẩm phục vụ cho phát triển nông nghiệp như phân bón Kỳ nhân tố là rất lớn
ở Việt Nam sản phẩm của Trung Quốc đ2 và đang được người dân sử dụng rộng r2i Tuy nhiên các chất tăng năng suất vật nuôi và cây trồng hiện
Trang 38đang được sử dụng chủ yếu là các chất hoá học, xu hướng sử dụng các sản phẩm có chất kích thích tăng trưởng hoá học hiện không được thịnh hành nhiều và đang có xu hướng phát phát triển chăn nuôi trồng trọt theo hướng truyền thống - sử dụng các nguồn nguyên liệu hữu cơ tự nhiên
Điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng ở Trung Quốc khá giống với Việt Nam Bởi vậy, các kết quả thử nghiệm, sử dụng phân bón Kỳ nhân tố ở Trung Quốc có thể cho ta có được đánh giá sơ bộ kết quả việc sử dụng phân bón Kỳ nhân tố ở Việt Nam
Mặc dù, phân bón Kỳ nhân tố chưa được lưu thông trên thị trường Việt Nam nhưng đ2 được đưa vào khảo nghiệm trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau như (cây lương thực, cây rau, cây hoa, cây công nghiệp và cây ăn quả) Kết quả đều cho phân bón Kỳ nhân tố là loại phân có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển cây trồng, tăng năng suất và phẩm chất cây trồng một cách rõ rệt Năng suất lúa tăng 11,6%, năng suất khoai tây tăng 35,6%, cây vải tăng 34%, nho tăng từ 16 - 24%, bông tăng 22,5% (kết quả khảo nghiệm của Viện sinh học nông nghiệp)
Đàm Phú Xuân khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón Kỳ nhân tố lên cây khoai tây và cây hoa đồng tiền đ2 có kết luận [54]:
Phân bón Kỳ nhân tố có tác động kích cực đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất khoai tây, phân bón Kỳ nhân tố đ2 làm tăng năng suất kể cả về khối lượng lẫn số củ, làm tăng số củ từ 10%- 36,5%
Phân bón Kỳ nhân tố có tác động tích cực đến sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất cây hoa hoa đồng tiền, chiều cao cây tăng 27,8%, số lá tăng 17,5%, năng suất hoa tăng 55%, phẩm chất tăng rõ rệt về màu sắc
Lê Thị Đức (2006) [20] khi nghiên cứu về phân bón Kỳ nhân tố đ2 kết luận Phân bón Kỳ nhân tố an toàn, không có tính độc hại và ảnh hưởng tích cực của phân bón Kỳ nhân tố đối với cây ngô, rau cải ngọt, rau xà lách như sau:
Trang 39Đối với ngô phun phân bón Kỳ nhân tố ở giai đoạn cây được 3 - 5 lá với nồng độ 2000ppm, năng suất tăng 27,2% Phân bón Kỳ nhân tố có tác dụng tốt đối với quá trình tổng hợp đường, tinh bột và protein, không làm ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp dầu
Đối với rau cải ngọt phun phân bón Kỳ nhân tố 3lần/vụ ở nồng độ là 1000ppm - 1500ppm năng suất tăng 74,02% phân bón Kỳ nhân tố có tác dụng tốt đối với việc nâng cao chất lượng rau cải ngọt, đặc biệt làm giảm tích luỹ nitrat trong rau
Đối với rau xà lách phun phân bón Kỳ nhân tố 3lần/vụ ở nồng độ 1000ppm, năng suất tăng78,5% so với đối chứng sử dụng phân bón Kỳ nhân
tố có tác dụng tốt đối với chất lượng dinh dưỡng của rau xà lách
Trang 403 Vật liệu, Đối tượng, địa điểm nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 vật liệu, đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Phân bón Kỳ nhân tố của công ty TNHH phát triển khoa học kỹ thuật
Ưu Thắng - Trùng Khánh - Trung Quốc Do công ty ứng dụng Công nghệ mới
và Du lịch (NEWTATCO) - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cung cấp
TC 010/QĐ - TN
TC 010/QĐ-TN EPA 3050.B & TCVN –96 AOAC 964.1
EPA 3050B & VA 123/2 EPA 3050B & VA 231/1 APHA 3500.Cu.B
APHA 3500.Mo.B APHA 3500.Bo.B TCVN 175 – 95 EPA 3050.B & VA 96
% mg/kg mg/kg mg/kg
%
%
% mg/kg
25,1
3 16,8 9,9 23,7
1120
<0,01
<1
530 5.05 0.008 0.038 0.33 KPH