ðà ñiểu Châu Phi (Ostrich) là loài chim nuôi có khả năng thích nghi rộng và sử dụng nguồn thức ăn ña dạng. ðặc biệt, chúng có thể sử dụng ñược hàm lượng xơ khá cao trong khẩu phần. Sản phẩm của chúng khá phong phú và có giá trị kinh tế cao; thịt ñà ñiểu giàu protein (21-22%) song hàm lượng mỡ và colesteron rất thấp ( 0,2%; 58-60mg/100 gam thịt). Ngoài ra, các sản phẩm khác như da, lông, vỏ trứng ñều ñược dùng ñể sản xuất các vật dụng cao cấp, ñồ trang sức ñắt tiền, trang phục thời thượng và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN XUÂN ANH TUẤN
XÁC ðỊNH MỨC LYSINE THÍCH HỢP
TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN NUÔI ðÀ ðIỂU
GIAI ðOẠN 0-6 THÁNG TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học : TS PHÙNG ðỨC TIẾN
HÀ NỘI −−−− 2008
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ bất kỳ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2008
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Anh Tuấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện ựề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp hoàn thành luận văn tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kắnh trọng sâu sắc tới:
Ban giám ựốc Trung tâm NC gia cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn nuôi, Ban lãnh ựạo Trạm NC đà ựiểu Ba Vì và tập thể CBCNV của Trạm
Ban giám hiệu, Khoa sau ựại học, Khoa Chăn nuôi & Nuôi trồng thuỷ sản, Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn Ờ Trường đại học Nông Nghiệp
Hà Nội
đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến Thầy hướng dẫn: TS
Phùng đức Tiến, người hướng dẫn khoa học ựã giành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp ựỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi ựã nhận ựược sự quan tâm, ựộng viên, tạo ựiều kiện và giúp ựỡ tận tình của gia ựình, của các nhà khoa học và bạn bè ựồng nghiệp
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước những sự giúp ñỡ quý báu ñó
Ba vì, ngày 30 tháng 10 năm 2008 Tác giả
Nguyễn Xuân Anh Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các ảnh, hình và sơ ñồ viii
Danh mục các biểu ñồ, ñồ thị ix
1 Mở ñầu 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục ñích của ñề tài 2
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 3
2 Tổng quan tài liệu 4
2.1.Nguồn gốc, và phân loại ñà ñiểu 4
2.2 ðặc ñiểm tiêu hoá và trao ñổi chất của ñà ñiểu 6
2 3 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng 10
2.4 Axít amin trong dinh dưỡng gia cầm 15
2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26
3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 35
3.1 ðối tượng, vật liệu nghiên cứu 35
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 35
3.3 Nội dung nghiên cứu 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu 35
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 48
4.1 Tỷ lệ nuôi sống của ñà ñiểu thí nghiệm 48
4.2 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu từ 0 - 6 tháng tuổi 51
4.3 Sinh trưởng tuyệt ñối và tương ñối của ñà ñiểu 60
4.4 Lượng thức ăn thu nhận của ñà ñiểu từ 0 - 6 tháng tuổi 69
Trang 64.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu từ 0 - 6 tháng tuổi 75
4.6 Hiệu quả sử dụng protein của ñà ñiểu từ 0 - 6 tháng tuổi 81
4.7 Hiệu quả sử dụng lysine của ñà ñiểu từ 0 - 6 tháng tuổi 86
4.8 Chi phí thức ăn của ñà ñiểu từ 0 - 6 tháng tuổi 90
4.9 Hiệu quả sử dụng các mức lysine khác nhau 92
5 Kết luận và ñề nghị 95
5.1 Kết luận 95
5.2 ðề nghị 95
6.Tài liệu tham khảo 96
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Ctv : Cộng tác viên
Cs : Cộng sự ðVT : ðơn vị tính HQSD : Hiệu quả sử dụng
KL : Khối lượng
ME : Năng lượng trao ñổi
TB : Trung bình TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
TĂ : Thức ăn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cân bằng lý tưởng axít amin cho gà theo lysine (Rose, 1997) 18
Bảng 3.1 Kết quả phân tích thành phần hoá học của nguyên liệu thức ăn thí nghiệm 36 Bảng 3.2 Công thức thức ăn cho ñà ñiểu thí nghiệm (giai ñoạn 0 – 3 tháng tuổi) 37
Bảng 3.3 Công thức thức ăn cho ñà ñiểu thí nghiệm (giai ñoạn 4 – 6 tháng tuổi) 38
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của ñà ñiểu giai ñoạn 0 – 3 tháng tuổi 48
Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của ñà ñiểu giai ñoạn 4 – 6 tháng tuổi 49
Bảng 4.3 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 52
Bảng 4.4 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 54
Bảng 4.5 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 55
Bảng 4.6 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 57
Bảng 4.7 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu 0 – 6 tháng tuổi (Trung bình 2 lần thí nghiệm) 58
Bảng 4.8 Sinh trưởng tuyệt ñối của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi 61
Bảng 4.9 Sinh trưởng tuyệt ñối của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi 62
Bảng 4.10 Sinh trưởng tương ñối của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi 65
Bảng 4.11 Sinh trưởng tương ñối của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi 66
Bảng 4.12 Hệ số tốc ñộ sinh trưởng của ñà ñiểu từ 0 – 6 tháng tuổi 68
Bảng 4.13 Lượng thức ăn thu nhận của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 70
Bảng 4.14 Lượng thức ăn thu nhận của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 71
Bảng 4.15 Lượng thức ăn thu nhận của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 72
Bảng 4.16 Lượng thức ăn thu nhận của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 73 Bảng 4.17 Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1)76 Bảng 4.18 Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2)77 Bảng 4.19 Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1)78 Bảng 4.20 Hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2)80 Bảng 4.21 Hiệu quả sử dụng protein của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 82 Bảng 4.22 Hiệu quả sử dụng protein của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 83 Bảng 4.23 Hiệu quả sử dụng protein của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 84
Trang 9Bảng 4.24 Hiệu quả sử dụng protein của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 86 Bảng 4.25 Hiệu quả sử dụng Lysine của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 87 Bảng 4.26 Hiệu quả sử dụng Lysine của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 88 Bảng 4.27 Hiệu quả sử dụng Lysine của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 89 Bảng 4.28 Hiệu quả sử dụng Lysine của ñà ñiểu 4 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 90 Bảng 4.29 Chi phí thức ăn nuôi ñà ñiểu giai ñoạn 0 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 1) 91 Bảng 4.30 Chi phí thức ăn nuôi ñà ñiểu giai ñoạn 0 – 6 tháng tuổi (Thí nghiệm lần 2) 92 Bảng 4.31 Hiệu quả của việc sử dụng các mức lysine khác nhau trong khẩu phần nuôi
ñà ñiểu 0 – 6 tháng 93
Trang 10DANH MỤC CÁC ẢNH, HÌNH VÀ SƠ ðỒ
¶nh 1 §µ ®iÓu chuÈn bÞ vµo thÝ nghiÖm (1 ngµy tuæi ) 44
¶nh 2 §µ ®iÓu thÝ nghiÖm 1 th¸ng tuæi (L«1) 44
¶nh 3 §µ ®iÓu thÝ nghiÖm 1 th¸ng tuæi (L«2) 45
¶nh 4 §µ ®iÓu thÝ nghiÖm 1 th¸ng tuæi (L« 3) 45
¶nh 5 §µ ®iÓu thÝ nghiÖm 5 th¸ng tuæi (L« 1) 46
¶nh 6 §µ ®iÓu thÝ nghiÖm 5 th¸ng tuæi (L« 2) 46
¶nh 7 §µ ®iÓu thÝ nghiÖm 5 th¸ng tuæi (L« 3) 47
Hình 2.1 Dạ dày tuyến và dạ dày cơ ostrich 7
Hình 2.2 Khoang bụng ostrich 9
Hình 2.3 Mô hình cân bằng axít amin 22
Hình 2.4 Mô hình axít amin giới hạn 24
Sơ ñồ 3.1 Bố trí thí nghiệm 1 39
Sơ ñồ 3.2 Bố trí thí nghiệm 2 39
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ðỒ, ðỒ THỊ
Biểu ñồ 4.1 Sinh trưởng tuyệt ñối của ñà ñiểu 0 – 6 tháng tuổi 64
ðồ thị 2.1 Hàm lượng axít amin hạn chế trong huyết tương 26
ðồ thị 2.2 Mối quan hệ giữa các phương pháp xác ñịnh trình tự giới hạn các axít amin……… 24
ðồ thị 4.1 Khối lượng cơ thể ñà ñiểu 0 – 6 tháng tuổi 60
ðồ thị 4.2 Sinh trưởng tương ñối của ñà ñiểu 0 – 6 tháng tuổi 67
Trang 121 MỞ đẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA đỀ TÀI
đà ựiểu Châu Phi (Ostrich) là loài chim nuôi có khả năng thắch nghi rộng và sử dụng nguồn thức ăn ựa dạng đặc biệt, chúng có thể sử dụng ựược hàm lượng xơ khá cao trong khẩu phần Sản phẩm của chúng khá phong phú
và có giá trị kinh tế cao; thịt ựà ựiểu giàu protein (21-22%) song hàm lượng
mỡ và colesteron rất thấp ( 0,2%; 58-60mg/100 gam thịt) Ngoài ra, các sản phẩm khác như da, lông, vỏ trứng ựều ựược dùng ựể sản xuất các vật dụng cao cấp, ựồ trang sức ựắt tiền, trang phục thời thượng và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị
để phát triển chăn nuôi ựà ựiểu có hiệu quả thì kỹ thuật nuôi là vấn ựề then chốt Mỗi giai ựoạn nuôi có tầm quan trọng và yêu cầu kỹ thuật khác nhau Trong chăn nuôi ựà ựiểu, giai ựoạn 0 Ờ 6 tháng tuổi có vai trò ựặc biệt quan trọng Giai ựoạn này ựà ựiểu có cường ựộ sinh trưởng cao nhưng sức ựề kháng lại kém nhất trong cả quá trình sinh trưởng và phát triển; do ựó, tỷ lệ hao hụt cũng lớn nhất Vì thế, thành công với việc nuôi ựà ựiểu giai ựoạn này ựồng nghĩa với việc ựem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi để ựạt ựược ựiều
ựó có rất nhiều vấn ựề cần ựược giải quyết Một trong những vấn ựề kỹ thuật quan trọng mang tắnh quyết ựịnh là chế ựộ dinh dưỡng hợp lý Trong dinh dưỡng thì dinh dưỡng protein là một trụ cột quan trọng ựược nhiều nhà khoa học quan tâm Hiệu quả sử dụng protein sẽ ựạt ựược tối ựa khi tỷ lệ các axắt amin trong thức ăn gần với tỷ lệ axắt amin theo nhu cầu Nói cách khác, dinh dưỡng protein thực chất là dinh dưỡng axắt amin Bởi vì axắt amin là thành phần cấu tạo cơ bản của các loại protein khác nhau Cân bằng lý tưởng axắt amin cho gia cầm thường lấy lysine làm chuẩn vì thế việc xác ựịnh ựược tỷ lệ
Trang 13lysine thích hợp trong thức ăn cho ñà ñiểu là vấn ñề cần thiết Cilliers và Van Schalkwyk, (1994)[38] ñã gợi ý mức lysine tối thiểu trong khẩu phần nuôi ñà ñiểu ở các giai ñoạn tiền khởi ñộng, khởi ñộng, sinh trưởng và kết thúc sinh trưởng tương ứng là: 1,13%; 0,96%; 0,81%; 0,76% Theo các tác giả Kreibich
và Sommer (1995)[52] ñể ñà ñiểu phát triển tốt ngoài việc cân bằng các thành phần dinh dưỡng khác thì mức lysine trong khẩu phần từ 1,2-1,0 và 0,84% tương ứng với các giai ñoạn 0-1; 1-2 và 2-5 tháng tuổi Khẩu phần nuôi ñà ñiểu của hãng Clark and Butcher sử dụng mức lysine cho các giai ñoạn 0-5 tuần tuổi, 5tuần tuổi ñến 5 tháng tuổi tương ứng là 1,28 và 0,97% (Horbánczuk, 2002)[49]
Ở Việt Nam, sau 10 năm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi ñà ñiểu,
ñã có kết quả khả quan, ñặt tiền ñề cho một ngành chăn nuôi mới Từ 4 dòng
ñà ñiểu nhập nội: Zim, Blue, Black, Aust ñã ñã sản xuất ra trên 5 nghìn con giống, chuyển giao gần 40 tỉnh thành trong cả nước và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Tuy nhiên các nghiên cứu về dinh dưỡng nuôi ñà ñiểu trong giai ñoạn 0-6 tháng tuổi mới chỉ dừng lại ở mức năng lượng và protein thích hợp Trần Công Xuân và cộng sự (2003)[21] ðể xác lập ñược khẩu phần ăn cân ñối về các chất dinh dưỡng với các mức axít amin thích hợp nuôi
ñà ñiểu giai ñoạn 0 – 6 tháng tuổi ñạt hiệu quả, trước hết cần phải cân bằng ñược một số axít amin quan trọng Do vậy, chúng tôi triển khai nghiên cứu ñề
tài: “Xác ñịnh mức Lysine thích hợp trong khẩu phần thức ăn nuôi ñà ñiểu
giai ñoạn 0-6 tháng tuổi’’
1.2 MỤC ðÍCH CỦA ðỀ TÀI
- Xác ñịnh ñược mức lysine thích hợp trong thức ăn nuôi ñà ñiểu giai ñoạn 0 - 3 và 4 - 6 tháng tuổi
Trang 14- Cung cấp thêm một số thông số kỹ thuật góp phần hoàn thiện quy trình nuôi ñà ñiểu ở nước ta
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI
ðây là một trong những nghiên cứu ñầu tiên xác ñịnh mức lysine thích hợp trong khẩu phần thức ăn nuôi ñà ñiểu từ 0 – 6 tháng tuổi
Kết quả thí nghiệm ñã ñưa ra ñược mức lysine thích hợp trong thức ăn nuôi ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi là 1,25% với hàm lượng protein là 21%; giai ñoan 4 – 6 tháng tuổi là 0,80% với hàm lượng protein là 18%
Cung cấp thêm một số thông số kỹ thuật về ảnh hưởng của các mức lysine khác nhau trong thức ăn ñến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu 0 – 6 tháng tuổi
Kết quả thí nghiệm góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi ñà ñiểu
từ 0 – 6 tháng tuổi và là những tư liệu cần thiết cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học ngành chăn nuôi – thú y
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.NGUỒN GỐC, VÀ PHÂN LOẠI đÀ đIỂU
Thông qua các mẫu hoá thạch người ta ựã khẳng ựịnh rằng Ostrich bắt nguồn từ loài chim chạy (Horbánczuk, 2002)[49] Có năm loài ựà ựiểu hoá thạch ựã ựược phát hiện, loài sớm nhất xuất hiện cách ựây từ 50 Ờ 60 triệu năm Từ dấu tắch các bộ xương và mảnh vỏ trứng có thể thấy các loài ựà ựiểu này lớn hơn so với các loài hiện nay (Shanawany và John, 1999)[25] Quá trình tiến hoá của dạng tiền sử này ựã dẫn tới hình dạng chúng trong suốt kỷ Plioxen (12 triệu năm trước) thuộc dòng chim to lớn, cao khoảng 4 m phân
bố phắa Bắc tới Mông Cổ, phắa Tây tới Châu Âu và phắa nam tới Châu Á Sau ựợt tiến hoá này kắch thước cơ thể của chúng giảm dần so với hai triệu năm trước và ựã giống với loài ựà ựiểu ngày nay Cracraft (1974) dẫn theo Horbánczuk (2002)[49] cho rằng loài ựà ựiểu có nguồn gốc từ ựại lục ựịa trước khi bị ựứt gãy Theo giả thuyết của ông thì trung tâm phát tán chắnh ở Nam Mỹ; tổ tiên loài Kiwi và Moa di chuyển qua vùng mà ngày nay chắnh là Nam cực vào New Zealand rồi sau ựó New Zealand bắt ựầu tách khỏi Nam cực Aepyornithidae, loài chim quái bạc (gần ựây mới bị tuyệt chủng) ựã di chuyển qua Châu Phi rồi vào vùng mà nay chắnh là Madagasca sau ựó mới tách ra khỏi Châu Phi vào nửa sau kỷ Phấn trắng Các mẫu hóa thạch của các loài liên quan ựã ựược tìm thấy tại quần ựảo Canary càng làm phong phú hơn
ý tưởng trung tâm phát tán từ Nam Mỹ Tổ tiên loài Emu và Cassowary di chuyển qua Bắc Nam cực (mà nay là đông) vào Australia ở thời ựiểm cuối thời kỳ Eocene khi Australia tách rời khỏi Nam cực Cuối cùng, sau khi Nam
Mỹ và Châu Phi rạn nứt vào cuối kỷ Phấn trắng (Turonian) thì loài ựà ựiểu phân thành Rhea ở Nam Mỹ và Ostrich ở Châu Phi
Trang 16Khoảng vài nghìn năm trước ostrich sinh sống tại các vùng ựồng cỏ bán
sa mạc vùng Cận đông và Châu Phi ựến sát các nước Châu Âu xung quanh vùng địa Trung Hải Tuy nhiên, các loài này lại là nạn nhân của hiện tượng thay ựổi về thời tiết mà khoảng sáu nghìn năm trước ựã biến vùng Sahara thành sa mạc (Shanawany,1999)[70] Sau thập niên 40 Ờ 50 của thế kỷ 20, Ostrich Arabian (S.c syriacus) bị tuyệt chủng, con cuối cùng bị giết chết và
ăn thịt gần ựường ống dẫn dầu phắa bắc Bahrein khoảng năm 1945 Hiện nay gia ựình Ostrich chỉ còn lại duy nhất 1 loài Struthio camelus và ựược chia làm
4 phân loài chắnh gồm ựà ựiểu Bắc Phi, ựà ựiểu Massai, ựà ựiểu Nam Phi và
ựà ựiểu Somali
đà ựiểu Bắc Phi (Struthio camelus camelus) - trải dài phắa Nam dãy Atlas bao gồm Senegal, Nigeria, Sudan và Ethiopia Trên ựầu có lông tơ bao phủ, tròng mắt nâu Cổ có 1 ắt lông phủ phắa dưới và màu ựỏ tươi Bắp ựùi con trống có màu ựỏ tươi ựến hồng xẫm với bộ lông màu ựen xẫm
đà ựiểu Massai (Struthio camelus massaicus) - trải dài từ Kenya và một phần Tanzania đầu có lông màu trắng, tròng mắt nâu Cổ có lông tơ mọc ngược màu hồng nhạt hơn, lông con trống có màu nâu ựen
đà ựiểu Nam Phi (Struthio camelus Australis) - trải dài từ phắa Nam sông Zambezi bao gồm Namibia, Botswana, Zimbabwe đỉnh ựầu thường có nhiều lông hơn, tròng mắt nâu, mỏ thường không có vành ựỏ, từ cẳng chân xuống ngón cái có màu ựỏ phắa trước, cổ và ựùi có màu xám tro nhạt (Kreibich, Sommer, 1995)[52]
đà ựiểu Somali (Struthio camelus molybdophanes) - trải dài ở đông Phi chủ yếu ở Somali và Ethiopia Loài này nhỏ hơn so với loài Nam Phi, trên ựầu
có mảng trụi cứng, da màu xám với tròng mắt nâu, mỏ có viền màu ựỏ sáng, ựùi và cổ con trống màu xanh xám (Holtzhausen A., Koetze M., 1995)[47]
Trang 17Do sự lai tạp giữa các phân loài trên, hình thành loài thứ năm ựược gọi là
ựà ựiểu nhà (Struthio camelus Domesticus) hiện ựược nuôi rất rộng ở Nam phi (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2003)[6]
Như vậy, trong hệ thống phân loại ựộng vật vị trắ phân loại của ựà ựiểu (Ostrich) thuộc lớp chim (Aves), bộ Struthioniformes, phụ bộ Struthiones, họ Struthionidae, chủng Struthio, loài Struthio Camelus và có 4 phân loài gồm ựà ựiểu Bắc Phi (Struthio Camelus Camelus); ựà ựiểu Somali (Struthio Camelus Molybdophanes); ựà ựiểu đông Phi (Struthio Camelus Masaicus) và ựà ựiểu Nam Phi (Struthio Camelus Autralis)
Sau nhiều năm thuần hóa, ựà ựiểu ngày nay không còn là ựộng vật hoang dã nữa Sau khoảng 150 năm phát triển chăn nuôi ựà ựiểu những sản phẩm của ngành chăn nuôi này ựã ựược ựánh giá cao bởi ngày càng nhiều người ưa chuộng Các sản phẩm như da, thịt, lông, trứng, mỡ và xương ựà ựiểu có thể ựược sử dụng sản xuất ra hàng trăm loại sản phẩm khác nhau
2.2 đẶC đIỂM TIÊU HOÁ VÀ TRAO đỔI CHẤT CỦA đÀ đIỂU
Theo Horbánczuk (2002) [49] ựà ựiểu thuộc lớp chim vì thế về mặt giải phẫu học của hệ thống tiêu hoá của chúng có những ựặc ựiểm chung của gia cầm nhưng vẫn có những nét ựặc trưng riêng
đà ựiểu thuộc loài dạ dày ựơn, chúng không có diều mà chỉ có thực quản phình to Thành thực quản có hệ thống cơ vòng rất chắc, biểu mô có rất nhiều tuyến Dạ dày của ựà ựiểu bao gồm phần dạ dày tuyến và phần dạ dày cơ Khác với hầu hết các loài chim, chức năng tiêu hoá của men hay dịch vị nằm trong giới hạn một vùng ở trên bờ cong lớn của mề Diện tắch vùng này là 1 ừ
5 ừ 24 cm, chiếm 25% diện tắch bên trong Vùng dạ dày tuyến có chứa 300 ống tuyến, tuyến này tiết ra axắt clohydric và men pepxin Trong phần tuyến, tiêu hoá thức ăn phụ thuộc vào hoạt ựộng của các enzyme tiêu hoá (pH = 2,8
Trang 18trong cơ quan này) trong khi ựó ở dạ dày cơ thức ăn ăn vào ựã bị tiêu hoá một phần, tiếp tục ựược nghiền nhờ áp lực khá lớn do sự co bóp của dạ dày cơ cùng với các viên sỏi mà chúng ựã nuốt vào Dạ dày của ựà ựiểu trưởng thành
có thể chứa ựược 1,5 kg sỏi (Horbánczuk , 2002)[49] Dạ dày cơ của ựà ựiểu
có ựộ dày tới 92mm, gồm chủ yếu là các cơ dạ dày và ựược bao bọc bởi lớp biểu mô có các nếp gấp sâu (Kreibich, 1995)[52]
Tá tràng gồm 2 ựoạn, ựoạn cuộn tròn có tuyến tuỵ nằm ở giữa, ựoạn còn lại gấp khúc nằm phắa bên trái (từ giữa bụng tới phần cuối bụng) đà ựiểu có ựôi manh tràng khá dài (mỗi chiếc dài 50 - 100 cm), gấp xoáy trôn ốc, niêm mạc có nhiều nếp gấp khiến cho quá trình nhào trộn chất chứa ựược thực hiện tốt, ựồng thời kắch thắch quá trình lên men
Ruột già của ựà ựiểu cuộn thành nhiều ựoạn gấp khúc nằm ở phần bên phải của phần dưới bụng (gần ựuôi) dài khoảng 10 - 12 m Ngoài chức năng
Hình 2.1 Dạ dày tuyến và dạ dày cơ ostrich
Dạ dày tuyến
Dạ dày cơThực quản
Tá tràng
Trang 19hấp thụ nước thì còn xảy ra quá trình lên men tương tự như ở manh tràng Nhờ sự có mặt của các vi sinh vật nên chất xơ cũng ñược tiêu hoá và hình thành nên các axít béo không no (chủ yếu là acetic, propionic, butyric và valeric) Các axít béo này có thể cung cấp khoảng 76% nhu cầu năng lượng duy trì cho ñà ñiểu (Horbánczuk , 2002)[49]
Chiều dài ñường tiêu hoá của ñà ñiểu khá dài Trung bình ở ñà ñiểu trưởng thành có khối lượng từ 105 – 131 kg, chiều dài ñường tiêu hoá lên tới 24m (tính
cả chiều dài thực quản và hai phần của manh tràng) Ở ñà ñiểu non, chiều dài ñường tiêu hoá ngắn hơn rất nhiều và khác nhau theo tuổi cũng như khối lượng
cơ thể Chiều dài ñường tiêu hoá (không có thực quản) của ñà ñiểu có khối lượng
cơ thể 7kg là 1.090 cm; 21 kg là 1.236 cm và 46 kg là 1.562 cm (Horbánczuk , 2002) [49]
Trang 20Hình 2.2 Khoang bụng ostrich
Ruột non là phần dài nhất chiếm khoảng 50% tổng chiều dài ựường tiêu hoá Angel và cs (1995)[29] ựã so sánh tỷ lệ phần trăm của chiều dài ruột già tắnh cả ựôi manh tràng với chiều dài ựường tiêu hoá chỉ tắnh từ ruột non ở ựà ựiểu, Emu và gà tương ứng là 64%, 11,5% và 10% đà ựiểu 45kg có chiều dài ruột non là 5,4m, ruột già là 8,6m, chiều dài ựôi manh tràng là 1,29m Chắnh vì chiều dài của ruột già ở ựà ựiểu Châu Phi dài hơn so với các loài gia cầm khác,
Tụy
Tá tràng
Ruột già
Ruột non Nếp gấp rốn
Dạ dày tuyến
Dạ dày cơ
Trang 21cùng với quá trình lên men nhờ hệ vi sinh vật ở ruột già nên thời gian thoát qua ựường tiêu hoá của thức ăn chậm hơn ở Emu và gà từ 4 Ờ 6 giờ
Theo Hastings (1991) [45], sinh lý tiêu hoá của ựà ựiểu dường như không giống với các loài gia cầm khác Do ựó, việc nghiên cứu sâu hơn các nhu cầu dinh dưỡng cho ựà ựiểu nuôi theo phương thức công nghiệp là quan trọng và cần thiết Mức axắt amin trong khẩu phần là một tỷ số quan trọng, nó ảnh hưởng ựến khả năng tiêu hoá, hấp thu protein từ ựó ảnh hưởng ựến sức khoẻ, sức sản xuất và chất lượng của sản phẩm Người ta cho rằng 20 - 25% sức sản xuất của gia cầm ựược xác ựịnh bởi mức ựộ dinh dưỡng protein, mà thực chất là dinh dưỡng axắt amin Nếu trong khẩu phần mất cân bằng axắt amin sẽ gây ra sự thiếu hụt protein ảnh hưởng xấu ựến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sản xuất của chúng Giá trị dinh dưỡng protein phụ thuộc vào hàm lượng các axắt amin Khi khẩu phần ăn không cân ựối về thành phần axắt amin sẽ làm rối loạn trao ựổi chất, giảm tốc ựộ sinh trưởng và làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm
đà ựiểu có thể tiêu hoá tới 60% chất xơ trong khẩu phần Khả năng tiêu hóa xơ phụ thuộc phần lớn vào tỷ lệ và thành phần chất xơ trong thức ăn Mặc
dù ựường tiêu hóa của ựà ựiểu không tự sản sinh ra các enzyme tiêu hóa chất
xơ nhưng chúng có khả năng tiêu hóa tốt thành phần này là do quá trình lên men vi sinh vật trong ruột già, chủ yếu là manh tràng
Theo Cilliers và cộng sự (1997)[40] thì hiệu quả sử dụng protein của
ựà ựiểu tốt hơn ở gà broiler Các tác giả cũng cho biết ựà ựiểu trưởng thành có khả năng tiêu hoá mỡ cao hơn ở con non
2 3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ SINH TRƯỞNG
Trang 22Theo Trần đình Miên, Vũ Kắnh Trực (1977) (Dẫn theo Phùng đức Tiến, 1996) [15] ỘSinh trưởng là một quá tình tắch luỹ các chất hữu cơ do ựồng hoá
và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, thể tắch, khối lượng các
bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tắnh chất di truyền từ ựời trướcỢ Mozan (1977) (dẫn theo Chambers, 1990)[34] ựịnh nghĩa sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như: thịt, xương, da Về mặt sinh học, sinh trưởng ựược xem như quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu ựánh giá quá trình sinh trưởng Sự sinh trưởng của các mô và cơ ựược diễn ra theo trình tự sau: hệ thống tiêu hoá, nội tiết, hệ thống xương, hệ thống cơ bắp, mỡ
Sinh trưởng là một quá trình ựộng, gắn liền với quá trình phát dục, tuân theo các quy luật nhất ựịnh, ựó là quy luật sinh trưởng phát dục theo giai ựoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không ựồng ựều và quy luật theo chu kỳ
Sinh trưởng của gia cầm chịu ảnhhưởng của rất nhiều các yếu tố khác nhau như dòng, giống, giới tắnh, lứa tuổi, tốc ựộ mọc lông, chế ựộ dinh dưỡng
- Ảnh hưởng của dòng giống
Tốc ựộ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào giống, dòng và bản thân
cá thể Theo Chanetzler (1936)[35], Jaap và Morris (1937)[51], Lerner và cộng sự (1938)[54] ở các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, giống gà thịt có tốc ựộ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng thịt-trứng và giống gà chuyên trứng
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy đạt và cộng sự (1996)[2], Nguyễn Mạnh Hùng (1994)[7], Nguyễn đức Hưng và cộng sự (1994)[8], Phùng đức Tiến (1996)[15] cũng ựã khẳng ựịnh các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau
Trang 23Nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự sai khác nhau về khối lượng cơ thể và tốc
ñộ sinh trưởng của các dòng, giống gia cầm là do yếu tố di truyền Man (1935); Golothey (1953) (dẫn theo Nguyễn Huy ðạt, 1991)[1] cho rằng có nhiều ñôi gen khác nhau cùng ảnh hưởng tới sinh trưởng và cho rằng có nhiều nhiễm sắc thể thường mang những ñôi gen này Những nghiên cứu sau này cho rằng có thể có nhiều hơn 15 ñôi gen, quy ñịnh tốc ñộ tăng trưởng Mặc dù chưa thật chính xác nhưng các nghiên cứu cũng cho thấy rõ sự khác nhau về sinh trưởng là do di truyền và cơ sở là sự di truyền ña gen; trong ñó có ít nhất
1 ñôi gen về sinh trưởng liên kết với giới tính Ưu thế lai có thể có sự ñặc biệt ñối với tính trạng khối lượng cơ thể ở giai ñoạn gia cầm non và tốc ñộ sinh trưởng có thể thay ñổi do chọn lọc di truyền
Marco (1982) [56] cho biết hệ số di truyền của tốc ñộ sinh trưởng là từ 0,4 - 0,5 Theo tài liệu của Chambers (1990)[34] thì Sirgel và Kiney ñã tổng kết một cách hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc ñộ sinh trưởng Kết quả tính toán qua phân tích phương sai dựa trên thành phần con bố từ 0,4 - 0,6 Theo Phùng ðức Tiến (1996)[15] thì hệ số di truyền về tốc ñộ sinh trưởng của gia cầm ở giai ñoạn 3 tháng tuổi là 0,26-0,5 Theo Nguyễn Huy ðạt (1991)[1] thì
hệ số di truyền về khối lượng ở 6 tuần tuổi là 0,4 ðối với ñà ñiểu hệ số di truyền về khối lượng cơ thể từ 0,2-0,6 (Horbánczuk, 2002)[49] Thông thường người ta tiến hành cân thường xuyên ñà ñiểu vào ngày tuổi thứ 1, 30,
60 và 90, sau ñó cân 20% vào ngày tuổi thứ 120, 150, 180 và 360
- Ảnh hưởng của giới tính
Ở gia cầm, có sự khác nhau về khả năng sinh trưởng giữa con trống và con mái Theo Jull (dẫn theo Phùng ðức Tiến, 1996) [15] thì khối lượng gà trống trưởng thành thường cao hơn gà mái 24-32% Các tác giả này cũng cho biết, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt ñộng mạnh hơn ở gà mái (1 nhiễm sắc thể) Sự
Trang 24sai khác về mặt sinh trưởng do giới tính ñối với các dòng gà có tốc ñộ sinh trưởng nhanh thể hiện rõ hơn so với các dòng gà sinh trưởng chậm (Champers, 1990)[34]
North (1990) (dẫn theo Phùng ðức Tiến, 1996)[15] cho biết khối lượng
gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống ñưa vào ấp, song không ảnh hưởng tới cường ñộ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi và khối lượng
gà lúc thành thục Tuổi càng tăng lên thì sự khác nhau về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái càng rõ rệt Khi mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%
* Ảnh hưởng của tốc ñộ mọc lông
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ñã xác ñịnh trong cùng 1 giống, cùng tính biệt, ở gà có tốc ñộ mọc lông nhanh cũng có tốc ñộ sinh trưởng, phát triển tốt hơn
Brandsch và Biichel (1978)[22] cho biết tốc ñộ mọc lông cũng là 1 ñặc tính di truyền ðây là tính trạng có liên quan ñến ñặc ñiểm trao ñổi chất và là chỉ tiêu ñể ñánh giá sự thành thục sinh dục Kurhner (1974)[24], cho rằng tốc
ñộ mọc lông có liên quan chặt chẽ tới tốc ñộ sinh trưởng; thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và ñều hơn ở gà chậm lớn Hayer và cộng sự (1970) (Dẫn theo Phùng ðức Tiến, 1996)[15] ñã xác ñịnh trong cùng một giống thì gà mái mọc lông ñều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy ñịnh tốc ñộ mọc lông
* Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm bảo ñảm các nhu cầu duy trì cơ thể và sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng) Năng lượng và protein là 2 yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần ăn của gia cầm (Rose, 1997) [68]
Trang 25Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như axắt béo, khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu ựược
Gia cầm có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbon hydrate ựơn giản, một vài carbon hydrate phức tạp, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì hầu hết các loài gia cầm không thể sử dụng ựược Riêng ựà ựiểu, khả năng tiêu hoá xơ là khá cao nhờ cấu trúc ựặc biệt của cơ quan tiêu hoá Nhu cầu về năng lượng cho các mục ựắch thay ựổi chất rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng hầu hết ựến quá trình sản xuất Theo Rose (1997)[68] nếu nồng ựộ năng lượng trong khẩu phần thay ựổi thì gia cầm ựiều chỉnh sự cân bằng năng lượng bằng cách thay ựổi lượng thức ăn tiêu thụ
Trong protein thức ăn chứa khoảng 22 axắt amin, trong ựó có một số axắt amin cần thiết mà gia cầm không thể tự tổng hợp ựược Khẩu phần ăn của gia cầm ựòi hỏi phải có sự cân bằng các axắt amin cần thiết mới ựáp ứng ựược yêu cầu dinh dưỡng Bên cạnh việc ựưa ra hàm lượng protein và mức năng lượng thắch hợp, người ta còn phải tắnh ựến mối cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng giưa năng lượng với các axắt amin và các chất dinh dưỡng khác Nếu năng lượng trong khẩu phần quá cao, gây tình trạng tắch luỹ mỡ trong cơ thể, làm giảm chất lượng thịt
- Ảnh hưởng của cấu trúc cơ thể
Trong chăn nuôi mỗi loại gia súc gia cầm với hưởng sản xuất khác nhau ựều có những ựặc ựiểm về ngoại hình, thể chất khác nhau đánh giá con vật qua ngoại hình phối hợp với kắch thước các chiều ựo là một nội dung quan trọng trong công tác giống
Ở gia cầm kắch thước và khối lượng của xương có tương quan chặt chẽ ựối với khối lượng và hình dạng cơ thể Có mối quan hệ giữa khối lượng cơ
Trang 26thể với ñộ lớn và chiều dài ñùi cũng như chiều dài, chiều rộng xương ngực Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[7] cho biết kích thước các chiều ño có liên quan rõ rệt ñến khối lượng cơ thể
Ngoài các yếu tố trên, các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng, mật ñộ nuôi có ảnh hưởng ñáng kể tới khả năng sinh trưởng của gia cầm Các yếu tố ngoại cảnh trên có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp thông qua việc thu nhận thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá hấp thụ các chất dinh dưỡng và bệnh tật từ ñó ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.4 AXÍT AMIN TRONG DINH DƯỠNG GIA CẦM
2.4.1 Phân loại axít amin
Các axít amin có thể ñược phân loại theo quan ñiểm hoá học và sinh lý học
- Phân lo ại theo quan ñiểm hoá học:
Dựa vào cấu tạo và tính chất lý, hoá học mà người ta chia axít amin thành các loại axít amin mạch thẳng và axít amin mạch vòng
+ Axít amin mạch thẳng gồm các axít amin mạch thẳng trung tính (glyxerine, alanine, serine, cysteine, threonine, methionine, asparagine ) mạch thẳng tính axít (Axít glutamic, axít aspartic), mạch thẳng tính kiềm (lysine, arginine)
+ Axít amin mạch vòng gồm vòng ñồng nhất như phenylalanine, tyroxine và dị vòng như hystidine, tryptophane, proline
- Phân lo ại theo quan ñiểm sinh lý học:
Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của ñộng vật, người ta chia axít amin thành các loại axít amin thay thế ñược và axít amin không thay thế ñược
+ Axít amin thay thế ñược là các axít amin mà cơ thể tự tổng hợp ñược
từ các sản phẩm chuyển hoá trung gian khác
Trang 27+ Axít amin không thay thế là những axít amin rất cần cho sự phát triển bình thường của cơ thể ñộng vật nhưng cơ thể ñộng vật không tự tổng hợp ñược mà phải thường xuyên cung cấp từ thức ăn Ở gia cầm có 10 axít amin không thay thế ñược là valine, leucine, Izoleucine, lysine, histidine, threonine, methionine, phenylalanine, tryptophane, arginine Ngoài ra với gia cầm non còn cần cả glycine và proline, gia cầm sinh sản cần glutamic
2.4.2 Nhu cầu về axít amin của gia cầm
2.4.2.1 Phương pháp biểu thị nhu cầu axít amin trong khẩu phần
Trong dinh dưỡng gia cầm, nhu cầu về axít amin chủ yếu là nhu cầu về các axít amin không thay thế Khi thiếu bất kỳ một axít amin không thay thế nào trong thức ăn thì quá trình tổng hợp protein bị rối loạn, thậm chí còn làm phá huỷ trao ñổi chất của cơ thể ðiều ñó làm giảm khả năng sinh trưởng cũng như sức sản xuất của gia cầm Vì vậy, cần cung cấp ñầy ñủ các axít amin không thay thế theo ñúng nhu cầu của mỗi loại gia cầm Theo Scott và cộng
sự (1982)[69] có 4 cách thông thường biểu thị nhu cầu axít amin của gia cầm:
- Số gam axít amin cho một gà một ngày
- Số gam axít amin cho 1000 Kcal ME của khẩu phần
- Tỷ lệ phần trăm axít amin tính theo khẩu phần
- Tỷ lệ phần trăm axít amin tính theo protein
Cách tính thứ nhất là cách chính xác nhất ñể thể hiện nhu cầu về axít amin nhưng rất khó áp dụng trong sản xuất
Cách thứ hai rất có ưu thế vì nó gắn nhu cầu axít amin với nồng ñộ năng lượng trong khẩu phần Phương pháp này rất tiện lợi trong thực tế lập khẩu phần ăn cho gà
Hiện nay, cách thứ ba và cách thứ tư vẫn ñang ñược sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên phương pháp này có nhược ñiểm là lượng thức ăn thu nhận của gia
Trang 28cầm phụ thuộc rất lớn vào nồng ñộ năng lượng của khẩu phần Vì vậy không chú ý ñến yếu tố này thì không thể ñảm bảo cung cấp ñủ axít amin cho gia cầm Ngay cả nhu cầu protein, nguồn cung cấp chính axít amin cho gia cầm cũng phải ñược xác ñịnh trong mối tương quan hợp lý vơí nồng ñộ năng lượng của khẩu phần ðể có những khẩu phần tối ưu cho mỗi loại gia cầm, cần phải nghiên cứu ñược những tỷ lệ thích hợp giữa nồng ñộ năng lượng của khẩu phần với hàm lượng protein thô và các axít amin ðặc biệt cần phải xác ñịnh ñược tỷ lệ năng lượng trao ñổi và các axít amin quan trọng nhất (Grigorev, 1981)(dẫn theo Nguyễn Thị Mai, 2007)[13]
2.4.2.2 Xác ñịnh nhu cầu axít amin cho gia cầm
Có nhiều phương pháp ñể xác ñịnh nhu cầu axít amin cho gia cầm như: Xác ñịnh nhu cầu axít amin theo tốc ñộ sinh trưởng, theo cân bằng nitơ, ngoài
ra còn xác ñịnh nhu cầu axít amin dựa theo sự phân tích thành phần protein của cơ thể Khi xác ñịnh nhu cầu axít amin cho gia cầm cần chú ý ñến các nhu cầu sau:
- Nhu cầu cho tăng trọng tối ña
- Nhu cầu cho hiệu quả chuyển hoá thức ăn tối ưu
- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt xẻ tối ña
- Nhu cầu cho thành phần hoá học thịt thân tối ưu
- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt lườn (cơ ngực) cao nhất
Thí nghiệm của Moral và Bilgili (1990)[57] cho biết: Khi bổ sung L.lysine vào khẩu phần cho gà broiler 4-6 tuần tuổi ở 2 mức 0,95 và 1,05% ñã không ảnh hưởng ñến tốc ñộ tăng trọng, nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn khi tăng hàm lượng lysine trong khẩu phần
Sibald và Wolynetz (1986)[71] cho biết nhu cầu axít amin không thay thế cho năng suất thịt ngực cao nhất thường lớn hơn nhu cầu cho sinh trưởng tối ña
Trang 29Richard và cộng sự (1998)[66] ñã ñưa ra tỷ lệ lý tưởng axít amin và nhu cầu axít amin tiêu hoá cho gà trống và gà mái broiler từ 0-42 ngày tuổi Baker (1993)[30] và NRC (1994)[59] cũng ñề xuất tỷ lệ các loại axít amin với lysine trong khẩu phần của gà broiler Theo các tác giả, nếu lấy lysine là 100% thì arginine từ 105 – 110%; Iso leusine từ 72 – 78%; leusine từ 114 – 125%; methionine + cysteine là 75 – 86%; threonine từ 63 – 69% và tryptophane từ 18 – 24% Rose (1997)[68] ñã ñưa ra cân bằng lý tưởng axít amin cho gà theo lysine (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Cân bằng lý tưởng axít amin cho gà theo lysine (Rose, 1997)
Axít Amin Gà sinh trưởng Gà ñẻ trứng
sẽ làm tăng khối lượng cơ thể, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng tỷ lệ thịt nạc và giảm tỷ lệ mỡ nội tạng
Trang 30Morris và cộng sự (1999)[46]ñã thiết lập ñược công thức tính nhu cầu một số axít amin ñể ñảm bảo cho sinh trưởng tối ña và hiệu quả sử dụng thức
ăn tối ưu
Trong ñó :
L : Nhu cầu lysine tính bằng g/kg thức ăn
T : Nhu cầu tryptophane tính bằng g/kg thức ăn
M : Nhu cầu methionine tính bằng g/kg thức ăn
CP : Hàm lượng protein thô của khẩu phần ( g/kg thức ăn )
2.4.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến nhu cầu axít amin của gia cầm
- Giống: Mỗi giống gia cầm có một kiểu di truyền riêng, quyết ñịnh tầm
vóc cơ thể, tốc ñộ sinh trưởng và sức sản xuất khác nhau Vì vậy nhu cầu axít amin cũng khác nhau giữa các dòng, giống, thậm chí ñến cá thể Những giống
có khối lượng lớn thì nhu cầu axít amin sẽ cao hơn những giống có khối lượng nhỏ, trong cùng một giống, những cá thể nào có khối lượng lớn thì nhu cầu axít amin cũng lớn hơn
- Gi ới tính: Giới tính cũng ảnh hưởng ñến nhu cầu axít amin của gia
cầm, nhu cầu dinh dưỡng của gà mái thấp hơn gà trống Sở dĩ như vậy là vì gà trống luôn có tốc ñộ sinh trưởng cao hơn gà mái cùng lứa tuổi nên nhu cầu về protein và axít amin ở gà trống luôn cao hơn ñể ñáp ứng cho quá trình tổng hợp của cơ thể
- Lứa tuổi: Tuổi khác nhau thì nhu cầu axít amin cũng khác nhau Tuổi
càng tăng lên thì nhu cầu lysine tính theo phần trăm trong khẩu phần càng giảm thấp
L ≥ 0,057 CP
T ≥ 0,012 CP
M ≥ 0,025 CP
Trang 31- Mức năng lượng trong khẩu phần: Nếu hàm lượng axít amin trong
khẩu phần là như nhau thì khẩu phần có mức năng lượng thấp gia cầm sẽ thu nhận ñược nhiều axít amin hơn Khi mức năng lượng trong khẩu phần tăng lên thì nhu cầu về axít amin tính theo phần trăm trong khẩu phần cũng tăng lên (Nguyễn Thị Mai, 2007)[13]
- Hàm lượng protein thô trong khẩu phần: Nhu cầu về axít amin tính
theo phần trăm protein thô của khẩu phần sẽ giảm khi hàm lượng protein trong khẩu phần tăng lên Mối tương quan quan này rất chặt chẽ với lysine và các axít amin chứa lưu huỳnh Sự tương quan này có thể áp dụng cho các axít amin không thay thế khác Mối quan hệ này ñược biểu diễn bằng phương trình
Y = 7,23 - 0,131X
Trong ñó:
Y: % Lysine trong khẩu phần
X : % protein thô trong khẩu phần
- Nhiệt ñộ môi trường: ðối với gà 7 tuần tuổi, nếu ở 21°C lượng nước
tiêu thụ là 0,212 lít thì ở 27°C, 32°C và 38°C lượng nước tiêu thụ tương ứng
Tỷ lệ tiêu hoá của lysine ở nhiệt ñộ 21°C là 83% thì ở 31°C là 80%
Tỷ lệ tiêu hoá của methionine ở 21°C là 92% còn ở 31°C là 87%
Tỷ lệ tiêu hoá của Izoleucine tương ứng là 87 và 80%
Trang 32- Ảnh hưởng của Vitamin: Nhu cầu axít amin của gia cầm còn chịu ảnh
hưởng bởi thành phần các chất dinh dưỡng có trong khẩu phần, nhất là các chất có ñặc tính sinh học cao như vitamin
+ Vitamin B12 có quan hệ với methionine Vitamin B12 có trong thành phần coenzim của enzim methiltransferaza Enzym này chuyển homocysteine thành methionine (Shimada,1984)[77]
+ Mối quan hệ giữa tryptophane và axít nicotinic
Nếu trong khẩu phần thiếu axít nicotinic sẽ làm tăng nhu cầu về tryptophane Sở dĩ như vậy là cơ thể gia cầm có thể tổng hợp axít nicotinic từ tryptophane ðể tổng hợp ñược axít nicotinic phải cần có nhiều tryptophane bởi vì cứ 50-60 phân tử tryptophane mới tổng hợp ñược một phân tử axít nicotinic
+ Mối quan hệ giữa methionine và choline
methionine là nguồn cung cấp nhóm methyl cho việc tổng hợp choline
2.4.3 Vấn ñề cân bằng Axít amin trong khẩu phần ăn cho gia cầm
2.4.3.1 Ý nghĩa của việc cân bằng axít amin trong khẩu phần
Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo một
“mẫu” cân ñối về axít amin, những axít amin nằm ngoài “mẫu” cân ñối
sẽ bị ôxy hoá cho năng lượng Do vậy, khi sử dụng các khẩu phần ñược cân ñối phù hợp với nhu cầu axít amin của gia cầm thì sự sinh trưởng và sức sản xuất cao hơn, hiệu quả lợi dụng protein tốt, do ñó tiết kiệm ñược protein thức ăn Hơn nữa trạng thaí sinh lý của gia cầm cũng tốt hơn, các quá trình ñồng hoá và dị hoá trong cơ thể diễn ra tích cực hơn Nhiều kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả sử dụng protein sẽ ñạt mức tối ña nếu tỷ các axít amin của các protein ñó gần với tỷ lệ giưã các axít amin mà nhu cầu của con vật ñòi hỏi Hiệu quả này còn phụ thuộc vào
Trang 33các axít amin thay thế và không thay thế của protein (Harper, 1964)[44] Khái niệm cân bằng axít amin có ý nghĩa ñặc biệt quan trọng trong cân bằng các chất dinh dưỡng bởi vì:
- Thứ nhất:Tất cả các axít amin cần thiết cho gia cầm ñều ñược lấy từ thức ăn
- Thứ hai: Ngoại trừ một lượng nhỏ axít amin dùng cho mục ñích ñặc biệt, còn lại tất cả các axít amin ñược dùng chủ yếu ñể tổng hợp protein của cơ thể
- Thứ ba, và là ñiều quan trọng nhất là không có sự dự trữ các axít amin trong cơ thể Sự vắng mặt của một axít amin không thay thế trong khẩu phần
sẽ ngăn cản việc sử dụng các axít amin khác ñể tổng hợp protein Khi ñó, các axít amin ñược sử dụng như một nguồn cung cấp năng lượng ðiều ñó làm giảm tính ngon miệng, giảm sinh trưởng, cân bằng nitơ âm nghiêm trọng tức
là mất protein cơ thể (Rose, 1997)[68] Cân bằng axít amin bị phá vỡ sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và khả năng tăng trọng (Herper,1964)[44]
Về phương diện tế bào thì tất cả các axít amin ñều ñược coi là quan trọng, bởi vì tổng hơp protein bao gồm cả việc sử dụng các axít amin thay thế
và không thay thế khi sao chép ARN (Shimada,1984)[77] Ngay trong tế bào, cũng có sự tồn tại nồng ñộ tối ưu các axít amin thay thế Nếu cung cấp các axít amin thay thế với hàm lượng tối ưu trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm sự dị hoá các axít amin không thay thế cho tổng hợp các axít amin thay thế Thêm vào ñó, nếu tất cả các axít amin ñược cung cấp với cùng tỷ lệ theo nhu cầu thì
cơ hội của sự mất cân bằng axít amin sẽ ñược hạn chế tối ña Trong ñiều kiện như vậy, protein sẽ ñược sử dụng với hiệu quả tốt nhất Chính vì vậy, nếu cân bằng axít amin trong khẩu phần càng tốt thì nhu cầu protein của gia cầm càng thấp (Bornstein và Lipstein,1975)[33] Hàm lượng các axít amin không thay
Trang 34thế và sự cân ñối giữa chúng còn có ảnh hưởng ñến lượng thức ăn thu nhận và
do ñó có ảnh hưởng ñến khả năng tăng trọng và thành phần thân thịt
Nhiều tác giả thí nghiệm trên gà cũng rút ra kết luận nếu tính theo lý thuyết thì ñể tạo một quả trứng gà cần cung cấp 6,3 – 6,7 gam protein tiêu hoá cho tạo trứng và duy trì là 3,3 gam protein tiêu hoá Nhưng thực tế ñể tạo ra một quả trứng cần cung cấp tới 10 - 20 gam protein tiêu hoá Nguyên nhân là mất sự cân ñối axít amin khẩu phần
2.4.3.2 Axít amin giới hạn
* Khái ni ệm về axít amin giới hạn
Sự tổng hợp protein là quá trình “Tất cả hoặc không có gì” Nếu bất kỳ một axít amin không thay thế nào cần thiết cho sự tổng hợp protein của cơ thể
bị thiêú trong khẩu phần thì protein sẽ không ñược tổng hợp
Sự thiếu hụt axít amin trong thức ăn và trong khẩu phần ăn thường dược phản ánh ngay ở sự sinh trưởng và sức sản xuất cũng như ở hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm Khi ñó thường sự suy giảm sinh trưởng và sức sản xuất tỷ lệ với mức thiếu hụt của axít amin nào thiếu hụt nhiều nhất trong số các axít amin không thay thế của khẩu phần Người ta gọi các axít amin thiếu trong khẩu phần là axít amin giới hạn hay là yếu tố hạn chế Như vậy axít amin giới hạn là axít amin mà số lượng của nó thường thiếu so với nhu cầu, từ
ñó làm giảm hiệu suất sử dụng protein trong khẩu phần (Shimada, 1984)[77] Axít amin nào thiếu nhiều nhất và làm giảm hiệu suất lợi dụng protein lớn nhất thì gọi là axít amin giới hạn thứ nhất (yếu tố số 1), và theo cách lý giải như vậy những axít amin tiếp theo ñó, ít thiếu hơn so với nhu cầu và với mức axít amin khác ñược gọi là axít amin giới hạn thứ hai Không gì giải thích ñược cho khái niệm về axít amin giới hạn tốt hơn sự minh hoạ kinh ñiển qua
“lý thuyết thùng gỗ” (Hình 2.3 và 2.4)
Trang 35Hình 2.3 Mô hình cân bằng axít amin Hình 2.4 Mô hình axít amin giới hạn
Người ta so sánh nhu cầu về các axít amin ñể tổng hợp protein của gia cầm với một thùng gỗ chứa nước ñược ghép bằng các mảnh gỗ mà mỗi mảnh
gỗ là một axít amin không thay thế Nếu tất cả các mảnh gỗ ñều có kích thước ñầy ñủ sẽ tương ứng với việc thoả mãn nhu cầu axít amin của con vật và hiệu quả sử dụng protein ñạt tối ña Người ta coi thùng nước ñược chứa ñầy tương ứng với hiệu quả sử dụng protein là 100% (Hình 2.3) Trong trường hợp kích thước các mảnh gỗ không như nhau, chỉ cần một mảnh gỗ (1 axít amin không thay thế) (Hình 2.4) bị thiếu hụt thì sức chứa nước trong thùng (hiệu quả sử dụng protein) bị giảm tỷ lệ với mức thiếu hụt của mảnh gỗ nào thiếu nhất Hình ảnh này tương tự như khi thiếu một axít amin giới hạn
Với khẩu phần dùng ñỗ tương, khô ñỗ tương là nguồn protein chủ yếu thì thường axít amin giới hạn thứ nhất là methyonin, với khô dầu bông thì lysine là axít amin giới hạn thứ nhất, bột cá thì tryptophan là axít amin giới hạn thứ nhất
ðể loại trừ sự thiếu hụt các axít amin trong khẩu phần, trước hết người
ta bổ sung vào nó các axít amin giới hạn thứ nhất ñến mức nhu cầu của gia cầm, sau ñó bổ sung các axít amin giới hạn thứ hai, thứ ba… Nếu bổ sung không hợp lý như bổ sung các axít amin giới hạn thứ hai, thứ ba vào trước thì
Trang 36không những không tốt mà còn có hại cho cơ thể gia cầm Sở dĩ như vậy là vì ñối với mỗi loại protein khác nhau, cơ thể tổng hợp theo một “mẫu” cân ñối nhất ñịnh Những axít amin nào nằm ngoài “mẫu” ñều bị ñốt cháy gây lãng phí protein và gây căng thẳng quá trình trao ñổi chất Nếu cung cấp axít amin cho con vật theo ñúng “mẫu” cân ñối của chúng thì hiệu quả sử dụng Protein
sẽ cao Mục ñích của việc sử dụng axít amin giới hạn (hay axít amin hạn chế)
là nhằm cung cấp cho con vật ñúng “mẫu” cân ñối Vì nếu không tuân theo nguyên tắc bổ sung yếu tố giới hạn một rồi mới bổ sung yếu tố giới hạn thứ hai thì việc bổ sung axít amin không ñảm bảo ñược “mẫu” cân ñối, thậm chí còn gây nên tình trạng vẫn thiếu axít amin này mà lại thừa axít amin khác ðiều ñó càng làm giảm hiệu suất lợi dụng protein, gây lãng phí protein và axít amin Hơn nữa thừa axít amin còn gây hậu quả không tốt ñối với con vật Trước hết sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và giảm sức sản xuất Thứ hai khi thừa axít amin còn làm thay ñổi quan hệ cân bằng axít amin, tạo ra “yếu tố giới hạn mới”, nếu thừa nhiều axít amin nào ñó còn gây ngộ ñộc cho con vật
Vì thế khi bổ sung các axít amin giới hạn phải hết sức thận trọng và theo ñúng nguyên tắc Muốn như vậy phải xác ñịnh ñúng axít amin giới hạn 1, 2 thì việc
bổ sung mới có hiệu quả
Trên thực tế, việc xác ñịnh trình tự giới hạn các axít amin khá phức tạp bởi vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hiện nay, người ta ñã xác ñịnh ñược trình tự của các axít amin trong thức ăn hoặc trong khẩu phần, dựa vào hiệu quả sinh học của việc bổ sung axít amin thiếu hụt khác nhau ñến khả năng sinh trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn Ngoài ra cũng có thể xác ñịnh trình tự giới hạn của các axít amin trong thức ăn hoặc trong khẩu phần theo hàm lượng các axít amin tự do có trong huyết tương (Shimada, 1984)[77]
* Xác ñịnh nhu cầu axít amin giới hạn theo hàm lượng axít amin trong
huy ết thanh
Trang 37Khi cho ñộng vật ăn một loại protein thiếu 1 axít amin hạn chế thì hàm lượng axít amin ñó trong huyết tương sẽ ở mức thấp Khi cho thêm axít amin ñó ñến mức ñủ nhu cầu thì sẽ tăng dần hàm lượng của nó trong huyết tương và ổn ñịnh (ðồ thị 2.1)
ðồ thị 2.1 Hàm lượng axít amin hạn chế trong huyết tương Mối quan hệ giữa các phương pháp xác ñịnh trình tự giới hạn của các axít
amin nhằm ñánh giá chất lượng của protein ñược minh hoạ bằng ñồ thị 2.2 (Shimada, 1984)[77]
ðồ thị 2.2 Mối quan hệ giữa các phương pháp xác ñịnh trình tự giới hạn
các axít amin
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Axít amin trong huyết tương
Hàm lượng axít uric trong huyết tương hay nước tiểu
Trang 38Hiện nay ở các nước Châu Phi như Nam Phi, Zimbabuwe, NamibiaẦ
là những nước phát triển mạnh ngành chăn nuôi ựà ựiểu với số lượng ựầu con lớn nhất Trong ựó Nam Phi là nước dẫn ựầu trong ngành sản xuất ựà ựiểu Với hơn 150 năm hình thành và phát triển, nghề chăn nuôi ựà ựiểu, nhu cầu về sản phẩm của chúng trên thị trường thế giới cũng không ngừng tăng lên Tuy nhiên, mỗi giai ựoạn ựều có sự phát triển khác nhau về số lượng ựà ựiểu và mục ựắch khai thác sản phẩm Smith (1963)[72], Osterhoff (1979) [62] và Horbánczuk (2002)[49] ựã thống kê ựược số lượng ựà ựiểu nuôi trên thế giới qua các năm Theo các tác giả năm 1865 mới chỉ có 80 con ựà ựiểu thì ựến năm 1900 ựã có 300.000 nghìn con Năm 2000 là 1.200.000 con, năm 2002 có 2.000.000 con đến nay số lượng ựà ựiểu trên thế giới có trên 2,5 triệu con
Số lượng các trang trại chăn nuôi ựà ựiểu cũng liên tục tăng thêm
Các nước Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Ba Lan, Hà Lan, Hungari, Bungari, Issaen, Trung Quốc, Malaixia là những nước có ngành chăn nuôi ựà ựiểu phát triển khá mạnh đà ựiểu du nhập lần ựầu tiên vào Trung Quốc năm 1992, sau hơn 10 năm phát triển ựã có trên 20.000 con Hiện nay, Trung Quốc là một trong những nước có ngành công nghiệp ựà ựiểu phát triển nhanh, ựứng hàng thứ 5 trên thế giới
Theo tắnh toán của các chuyên gia Mỹ, những năm gần ựây thị trường quốc tế cần khoảng 10 triệu con ựà ựiểu một năm Trong ựó thị trường Mỹ cần hơn 3 triệu con ựưa vào giết mổ Nếu như thịt ựà ựiểu chỉ cần chiếm 1% trong số 200 triệu tấn thịt các loại tiêu thụ trên thế giới sẽ là hơn 2 triệu tấn tương ứng với 40 triệu ựà ựiểu ựưa vào giết mổ một năm đây là một thị trường rất hấp dẫn với ngành chăn nuôi
ựà ựiểu
để phát triển ngành chăn nuôi ựà ựiểu một cách vững chắc, rất nhiều công trình nghiên cứu về ựà ựiểu ựã ựược tiến hành trong những thập niên
Trang 39qua Sinh trưởng và dinh dưỡng thức ăn ñược coi là vấn ñề trọng tâm trong chăn nuôi ñà ñiểu Vấn ñề này ñã ñược nhiều nhà khoa học qua tâm
Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của ñà ñiểu, cũng còn nhiều ý kiến khác nhau Cilliers và cộng sự (1997) [40] ñã xác ñịnh ñược ñường cong sinh trưởng của ñà ñiểu Châu Phi Tác giả cho biết ñà ñiểu ñạt khối lượng trưởng thành (120 kg/con) ở 520 ngày tuổi, tốc ñộ tăng khối lượng cao nhất ở ñộ tuổi
181 ngày ñối với con trống và 175 ngày ñối với con mái Theo Du Preez và cộng sự (1992) [42] thì tốc ñộ tăng khối lượng ñạt cao nhất sau 163 ngày ñối với con trống và sau 175 ngày ñối với con mái
Cilliers (1995)[37] khi nghiên cứu về hiệu quả sử dụng thức ăn ñã cho biết, cũng như các loại gia cầm khác hiệu quả sử dụng thức ăn của ñà ñiểu giảm dần theo tuổi Hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng ñà ñiểu giảm dần theo tuổi Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng
ñà ñiểu 1 tháng là 2,1kg, thì ở 6 tháng tuổi là 3,55kg và ñến 12 tháng tuổi là 18,44kg Tác giả còn cho biết lượng thức ăn thu nhận của ñà ñiểu cũng tăng dần từ 1 - 12 tháng tuổi (từ 220 – 2210g) Theo Angel (1994)[27] khối lượng
cơ thể của ñà ñiểu 30 ngày tuổi ñạt khoảng 3 kg, ñến 60 ngày tuổi ñạt > 7 kg Sinh trưởng tương ñối của ñà ñiểu từ 0-30 ngày tuổi vào khoảng 74gam/con/ngày và từ 30-60 ngày khoảng 150gam/con/ngày Trung bình, trong 3 tháng ñầu, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của con non vào
khoảng 3 kg với sinh trưởng tuyệt ñối trên 100gam/con/ngày
ðồ thị biểu diễn hướng sử dụng năng lượng của ñà ñiểu ñã ñược Cilliers
và Hayers (1996) [39] chia ra làm hai phần: phần cho duy trì tăng dần theo khối lượng cơ thể và tuổi của ñà ñiểu Phần cho sinh trưởng tăng nhanh trong vòng 180 ngày tuổi ñầu tiên cho ñến khi khối lượng cơ thể ñạt 80 kg, sau ñó giảm nhanh Do vậy, việc thay ñổi, cân ñối lại khẩu phần thích hợp cho ñà
Trang 40ñiểu ở các giai ñoạn khác nhau là rất cần thiết, giúp cho chăn nuôi ñà ñiểu ñạt hiệu quả cao
Nghiên cứu về các mức lysine trong khẩu phần thức ăn, Cilliers và Van Schalkwyk (1994)[38] cho biết mức lysine tối thiểu trong khẩu phần nuôi ñà ñiểu ở các giai ñoạn tiền khởi ñộng, khởi ñộng, sinh trưởng và kết thúc sinh trưởng tương ứng là: 1,13; 0,96; 0,81 và 0,76% Theo Kreibich và Sommer (1995)[53] ñể ñà ñiểu phát triển tốt, ngoài việc cân bằng các thành phần dinh dưỡng khác thì mức lysine trong khẩu phần giảm dần từ 1,2 xuống 1,0 và 0,84% tương ứng với các giai ñoạn nuôi là 0-1; 1-2 và 2-5 tháng tuổi Theo Horbánczuk (2002)[49] khẩu phần nuôi ñà ñiểu của hãng Clark and Butcher
sử dụng mức lysine cho các giai ñoạn 0-5 tuần tuổi, 5 tuần tuổi - 5 tháng tuổi là 1,28 và 0,97% Cũng theo Cilliers và Van Schalkwyk, (1994)[38] thì mức methionine trong khẩu phần nuôi ñà ñiểu thịt ở các giai ñoạn tiền khởi ñộng, khởi ñộng, sinh trưởng và kết thúc sinh trưởng là: 0,32 %; 0,29%; 0,24% và 0,23% Còn các tác giả Kreibich và Sommer, (1995)[53] cho rằng mức methionine từ 0,45%; 0,36%; 0,30% và 0,22% tương ứng với các giai ñoạn 0-1; 1-2; 2-5 và 6-14 tháng tuổi là hợp lý Hãng Clark and Butcher sử dụng mức methionine trong khẩu phần nuôi ñà ñiểu thịt ở các giai ñoạn 0-5 tuần tuổi, 5 tuần tuổi ñến 5 tháng tuổi và 5 - 12 tháng tuổi là 0,46; 0,35 và 0,32% (Horbánczuk, 2002)[49] Như vậy rõ ràng là kết quả rất khác nhau giữa các nghiên cứu ðiều ñó có nghĩa là với các ñiều kiện nuôi dưỡng khác nhau, ñiều kiện khí hậu khác nhau thì nhu cầu các chất dinh dưỡng nói chung và nhu cầu về lysine và methionine cũng khác nhau Vì thế cần phải nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của ñà ñiểu trong ñiều kiện cụ thể của mỗi vùng, ñịa phương khác nhau Theo kết quả nghiên cứu của Mackie (1987)[55], Swart (1987)[73] thì ñà ñiểu có khả năng sử dụng cỏ cho việc cung cấp năng lượng tốt hơn các loài gia cầm khác Tuy nhiên, lượng cỏ ăn vào quá nhiều sẽ làm hạn chế lượng thức ăn